Archive by Author | Việt Nam - Hồ Chí Minh

Khai quyển – Mở đầu tập nhật ký

KHAI QUYỂN

Lão phu nguyên bất ái ngâm thi,
Nhân vị tù trung vô sở vi;
Liêu tá ngâm thi tiêu vĩnh nhật,
Thả ngâm thả đãi tự do thì.

MỞ ĐẦU TẬP NHẬT KÝ

Già này vốn không thích ngâm thơ,
Nhân vì trong ngục không có gì làm;
Hãy mượn việc ngâm thơ cho qua ngày dài,
Vừa ngâm vừa đợi ngày tự do.

——————————

Ngâm thơ ta vốn không ham,
Nhưng vì trong ngục biết làm chi đây;
Ngày dài ngâm ngợi cho khuây,
Vừa ngâm vừa đợi đến ngày tự do.

NAM TRÂN dịch
cpv.org.vn

Tại Túc Vinh nhai bị khấu lưu – Bị bắt giữ ở phố Túc Vinh

TẠI TÚC VINH NHAI BỊ KHẨU LƯU

Túc Vinh khước sử dư mông nhục,
Cố ý trì diên ngã khứ trình;
Gián điệp hiềm nghi không niết tạo,
Bả nhân danh dự bạch hy sinh.

BỊ BẮT GIỮ Ở PHỐ TÚC VINH)

Phố tên Túc Vinh mà khiến ta mang nhục ,
Cố ý làm chậm trễ hành trình của ta;
Bày đặt ra trò tình nghi gián điệp,
Không dưng làm mất danh dự của người.

————————

Túc Vinh mà để ta mang nhục,
Cố ý dằng dai, chậm bước mình;
Bịa chuyện tình nghi là gián điệp,
Cho người vô cớ mất thanh danh.

HUỆ CHI dịch
cpv.org.vn

Nhập Tĩnh Tây huyện ngục – Vào nhà ngục huyện Tĩnh Tây

NHẬP TĨNH TÂY HUYỆN NGỤC

Ngục trung cựu phạm nghênh tân phạm,
Thiên thượng tình vân trục vũ vân;
Tình, vũ, phù vân phi khứ liễu,
Ngục trung lưu trú tự do nhân.

VÀO NHÀ NGỤC HUYỆN TĨNH TÂY1)

Trong ngục tù cũ đón tù mới,
Trên trời mây tạnh đuổi mây mưa;
Mây tạnh, mây mưa, mấy đám mây nổi bay đi hết,
Chỉ còn lại người tự do trong ngục.

————————-

Trong lao tù cũ đón tù mới,
Trên trời mây tạnh đuổi mây mưa;
Tạnh, mưa, mây nổi bay đi hết,
Còn lại trong tù khách tự do.

NAM TRÂN dịch
cpv.org.vn

Thế lộ nan – Đường đời hiểm trở

THẾ LỘ NAN

I

Tẩu biến cao sơn dữ tuấn nham,
Na tri bình lộ cách nan kham;
Cao sơn ngộ hổ chung vô dạng ,
Bình lộ phùng nhân khước bị giam.

II

Dư nguyên đại biểu Việt Nam dân,
Nghĩ đáo Trung Hoa kiến yếu nhân;
Vô nại phong ba bình địa khởi,
Tống dư nhập ngục tác gia tân.

III

Trung thành, ngã bản vô tâm cứu,
Khước bị hiềm nghi tố Hán gian;
Xử thế nguyên lai phi dị dị,
Nhi kim xử thế cánh nan nan!

ĐƯỜNG ĐỜI HIỂM TRỞ

I

Đi khắp non cao và núi hiểm,
Nào ngờ đường phẳng lại khó qua;
Núi cao gặp hổ rút cục vẫn không việc gì,
Đường phẳng gặp người lại bị bắt!

II

Ta vốn là đại biểu của dân Việt Nam,
Định đến Trung Hoa gặp nhân vật trọng yếu;
Không dưng đất bằng nổi sóng gió,
Đưa ta vào làm “khách quý” trong tù.

III

Vốn trung thực thành thật, ta không có
điều gì thẹn với lòng,
Thế mà bị tình nghi là Hán gian;
Việc xử thế vốn không phải là dễ,
Lúc này, xử thế càng khó khǎn hơn.

—————————–

I

Đi khắp đèo cao, khắp núi cao,
Ngờ đâu đường phẳng lại lao đao!
Núi cao gặp hổ mà vô sự,
Đường phẳng gặp người bị tống lao.

II

Ta là đại biểu dân Việt Nam,
Tìm đến Trung Hoa để hội đàm;
Ai ngỡ đất bằng gây sóng gió,
Phải làm “khách quý” tại nhà giam!

III

Ta người ngay thẳng, lòng trong trắng,
Lại bị tình nghi là Hán gian;
Xử thế từ xưa không phải dễ,
Mà nay, xử thế khó khǎn hơn.

NAM TRÂN dịch
cpv.org.vn

Tảo – Buổi sớm

TẢO

I

Thái dương mỗi tảo tòng tường thượng,
Chiếu trước lung môn, môn vị khai;
Lung lý hiện thời hoàn hắc ám,
Quang minh khước dĩ diện tiền lai.

II

Tảo khởi nhân nhân tranh liệp sắt,
Bát chung hưởng liễu, tảo xan khai;
Khuyến quân thả ngật nhất cá bão,
Bĩ cực chi thì tất thái lai.

BUỔI SỚM

I

Mỗi sớm, mặt trời vượt lên khỏi đầu tường,
Chiếu tới cửa nhà lao, cửa chưa mở;
Giờ đây trong lao còn đen tối,
Nhưng ánh sáng đã bừng lên phía trước mặt.

II

Sớm dậy, mọi người đua nhau bắt rận,
Chuông điểm tám giờ, bữa cơm sáng bắt đầu;
Khuyên anh hãy cứ ǎn no,
Khổ đến tột cùng, vui ắt tới.

NAM TRÂN dịch

I

Đầu tường sớm sớm vầng dương mọc,
Chiếu cửa nhà lao, cửa vẫn cài;
Trong ngục giờ đây còn tối mịt,
ánh hồng trước mặt đã bừng soi.

II

Sớm dậy, người người đua bắt rận,
Tám giờ chuông điểm, bữa ban mai;
Khuyên anh hãy gắng ǎn no bụng,
Bĩ cực rồi ra ắt thái lai.

NAM TRÂN – XUÂN THỦY dịch
cpv.org.vn

Ngọ – Buổi trưa

NGỌ

Ngục trung ngọ thụy chân thư phục,
Nhất thụy hôn hôn kỷ cú chung;
Mộng kiến thừa long thiên thượng khứ,
Tỉnh thì tài giác ngoạ lung trung.

BUỔI TRƯA

Trong nhà lao, giấc ngủ trưa thật khoan khoái,
Một giấc say sưa suốt mấy tiếng liền;
Mơ thấy cưỡi rồng bay lên trời,
Khi tỉnh dậy mới biết mình vẫn nằm trong ngục.

—————————–

Trong tù khoan khoái giấc ban trưa,
Một giấc miên man suốt mấy giờ;
Mơ thấy cưỡi rồng lên thượng giới,
Tỉnh ra trong ngục vẫn nằm trơ.

NAM TRÂN dịch
cpv.org.vn

Vấn thoại – Lời hỏi

VẬN THOẠI

Xã hội đích lưỡng cực,
Pháp quan dữ phạm nhân;
Quan viết: nhĩ hữu tội,
Phạm viết: ngã lương dân;
Quan viết: nhĩ thuyết giả,
Phạm viết: ngã ngôn chân;
Pháp quan tính bản thiện,
Giả trang ác ngân ngân;
Yếu nhập nhân ư tội,
Khước giả ý ân cần;
Giá lưỡng cực chi gian,
Lập trước công lý thần.

LỜI HỎI

Hai cực của xã hội,
Quan toà và phạm nhân;
Quan bảo: anh có tội,
Phạm nhân thưa: tôi dân lành;
Quan bảo: anh nói dối,
Phạm nhân thưa: tôi nói thật;
Quan toà tính vốn thiện,
Lại hầm hầm giả làm bộ ác;
Muốn khép người vào tội,
Lại ra vẻ ân cần;
Giữa hai cực này,
Có thần công lý đứng.

———————-

Hai cực trong xã hội,
Quan toà và phạm nhân;
Quan rằng: anh có tội,
Phạm thưa: tôi lương dân;
Quan rằng: anh nói dối,
Phạm thưa: thực trǎm phần;
Quan toà tính vốn thiện,
Vờ làm bộ dữ dằn;
Muốn khép người vào tội,
Lại ra vẻ ân cần;
ở giữa hai cực đó,
Công lý đứng làm thần.

HUỆ CHI – NGUYỄN SĨ LÂM dịch
cpv.org.vn

67 năm Cách Mạng tháng 8: Về khoảng “chân không chính trị” tháng 8.1945

Tháng 8.1945, khi toàn dân Việt Nam nổi dậy Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước, các lực lượng chính trị và cả các lực lượng quân sự tại đây vẫn còn nguyên và tiếp tục những cố gắng của mình.

Nhưng cuối cùng Hồ Chí Minh và Việt Minh đã thắng.

Tại Hội thảo khoa học quốc tế “Di sản Hồ Chí Minh trong thời đại ngày nay” tổ chức tại Hà Nội (ngày 12 và 13.5.2010), trong tham luận “Những bức ảnh biết nói” của mình, nhà nghiên cứu – nhà báo Mỹ Lady Borton viết: “Hồ Chí Minh và các nhà lãnh đạo Việt Minh đã nhanh chóng tận dụng khoảng chân không chính trị sau sự kiện Nhật Bản đầu hàng vào tháng 8.1945”. Tuy nhiên, khi trao đổi thêm với các nhà nghiên cứu Việt Nam, bà Lady Borton cũng thừa nhận rằng: Khi nhân dân Việt Nam nổi dậy giành chính quyền, các lực lượng chính trị và quân sự tại đây vẫn còn nguyên và tiếp tục những cố gắng của mình.

Sau khi Nhật đầu hàng Đồng minh, lực lượng Nhật ở Đông Dương vẫn còn khoảng 100.000 quân với đầy đủ vũ khí, trang bị. Các đơn vị quân Nhật vẫn đóng nguyên tại các vị trí phòng thủ của mình. Cho dù đã không còn ý chí chiến đấu nhưng hai quân đoàn Nhật chỉ tuân lệnh từ cấp trên của họ và là một đối thủ mạnh với bất cứ lực lượng nào định tấn công bằng vũ lực. Trong thời điểm nhạy cảm đó, quân Nhật vẫn có thể nổ súng vào lực lượng khởi nghĩa với nhiều lý do: để tự vệ, để giữ gìn trật tự tại nơi đóng quân chờ quân Đồng minh tới giải giáp…

Ở Hà Nội, sáng ngày 19.8.1945 khi lực lượng khởi nghĩa tới chiếm trại Bảo an binh và thu vũ khí của quân đội chính quyền Trần Trọng Kim ở đây, Bộ Chỉ huy quân Nhật đã đưa xe tăng và binh lính tới uy hiếp, đòi thu vũ khí của quân khởi nghĩa. Những người chỉ huy cuộc khởi nghĩa đã tiếp xúc với Bộ Chỉ huy quân Nhật và thương lượng thành công để giải tỏa cuộc bao vây, tránh được cuộc xung đột vũ trang có thể xảy ra. Việc tránh được xung đột với quân đội Nhật được đánh giá là một thắng lợi quan trọng của cuộc khởi nghĩa tại Hà Nội.

Nhà nghiên cứu, nhà báo Lady Borton phát biểu tại hội thảo Di sản Hồ Chí Minh trong thời đại ngày nay – Ảnh: Ngô Vương Anh

Nhân dân Hà Nội giành chính quyền trong ngày 19.8.1945 – Ảnh Tư liệu

Cho đến ngày 19.8.1945, chính phủ thân Nhật của người Việt Nam do ông Trần Trọng Kim đứng đầu (thành lập từ ngày 17.4.1945) vẫn tồn tại và hoạt động. Nhiều đảng phái và tổ chức chính trị khác cũng nhận thức được cơ hội đang đến và gấp rút chạy đua trong nỗ lực xúc tiến những hoạt động giành địa vị chính trị cho mình. Nhưng cuối cùng Hồ Chí Minh và Việt Minh đã thắng.

Việt Minh được thành lập theo sáng kiến của Hồ Chí Minh (5.1941) – từ khi Nhật còn chưa tham chiến – và liên tục phát triển trên địa bàn ngày càng rộng. Đây là tổ chức tập hợp được đông đảo quần chúng nhất, hơn bất cứ tổ chức nào khác ở Việt Nam khi đó, và đã tuyên bố (từ rất sớm) đứng về phía Đồng minh trong cuộc chiến đấu chống phát xít. Khi viết về thắng lợi của cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám 1945, nhà sử học Pháp Philippe Devillers, trong cuốn sách Lịch sử Việt Nam từ 1940 đến 1952 nhận định: “Nó còn là kết quả logic của Việt Minh trong mọi khu vực của đời sống đất nước”.

Để có được một cuộc tổng khởi nghĩa toàn dân giành chính quyền trọn vẹn, nhanh gọn và tổn thất ở mức tối thiểu về xương máu trong nửa cuối tháng 8.1945 tại Việt Nam, không thể không nhắc đến và nhấn mạnh vai trò của người lãnh đạo cao nhất và xuất sắc nhất: Hồ Chí Minh.

Một học giả nước ngoài đã bình luận về vai trò Hồ Chí Minh trong cuộc cách mạng này: “…những đánh giá như vậy (với xu hướng hạ thấp ý nghĩa của cuộc Cách mạng Tháng Tám 1945 – N.V.A) không thể che giấu sự thật rằng cuộc Cách mạng Tháng Tám là một thành tựu phi thường… trong khi những nhà lãnh đạo dân tộc chủ nghĩa khác bằng lòng ở lại nam Trung Quốc và đợi đến khi quân Nhật bị quân Đồng minh đánh bại, ông Hồ và các đồng sự của ông mới chứng tỏ khả năng có thể đối phó với thách thức và đặt cả thế giới trước sự đã rồi” (1). Trao đổi thêm với các nhà nghiên cứu Việt Nam tại hội thảo, bà Lady Borton cũng cho rằng: Hồ Chí Minh là người cách mạng Việt Nam nhận được thông tin sớm nhất về việc quân Nhật đầu hàng Đồng minh. Hồ Chí Minh nhận tin này qua radio và ông đã hành động rất kịp thời.

Những lời bình luận này cũng phần nào nói lên được những nỗ lực của nhân dân Việt Nam dưới sự tổ chức và lãnh đạo của Việt Minh, của Hồ Chí Minh trên con đường đấu tranh giành lại độc lập tự do cho dân tộc mình. Với lực lượng đông đảo được tập hợp và rèn luyện đấu tranh trong tổ chức Việt Minh, với một lãnh tụ dẫn đường xuất sắc, nhân dân Việt Nam đã đứng lên tự giải phóng mình chứ không hề ngồi yên trông mong, chờ đợi một “khoảng trống quyền lực” hay một khoảng “chân không chính trị” nào. Họ đã đón đúng và tận dụng triệt để thời cơ lịch sử ngàn năm có một để giành thắng lợi trọn vẹn.

Ngô Vương Anh
thanhnien.com.vn

(1) W.Duiker – Hồ Chí Minh – Hyperion, Newyork, 2000 – Bản dịch của Phòng Phiên dịch Bộ Ngoại giao, tr.332

>> Tổng khởi nghĩa tháng tám ở Sài Gòn – Nhớ Thanh niên Tiền phong
>> Nhiều hoạt động kỷ niệm ngày báo chí cách mạng
>> Khắp nơi mừng Ngày Báo chí cách mạng Việt Nam
>> Báo cáo hoạt động di tích cách mạng kháng chiến tại Hà Nội

Ngọ hậu- Quá trưa

NGỌ HẬU

Nhị điểm khai lung hoán không khí,
Nhân nhân ngưỡng khán tự do thiên;
Tự do thiên thượng thần tiên khách,
Tri phủ lung trung dã hữu tiên ?

QUÁ TRƯA

Hai giờ chiều, nhà lao mở cửa đổi không khí,
Mọi người ngẩng lên ngắm trời tự do;
Khách thần tiên trên trời tự do,
Biết chǎng trong tù cũng có tiên?

———————————

Hai giờ ngục mở thông hơi,
Tù nhân ngẩng mặt ngắm trời tự do;
Tự do tiên khách trên trời,
Biết chǎng trong ngục có người khách tiên.

NAM TRÂN dịch

Bản dịch khác:

Hai giờ ngục mở thay không khí,
Ai nấy nhìn lên: trời tự do!
Tiên khách tự do trên thượng giới,
Biết chǎng, tiên cũng ở trong tù ?

VŨ HUY ĐỘNG dịch
cpv.org.vn

Vãn – Chiều hôm

VÃN

Vãn xan ngật liễu, nhật tây trầm,
Xứ xứ sơn ca dữ nhạc âm;
U ám Tĩnh Tây cấm bế thất,
Hốt thành mỹ thuật tiểu hàn lâm

CHIỀU HÔM

Cơm chiều xong, mặt trời lặn về tây,
Khắp nơi, rộn tiếng ca dân dã và tiếng nhạc;
Nhà ngục u ám huyện Tĩnh Tây,
Bỗng thành một viện hàn lâm nghệ thuật nhỏ.

————————-

Cơm xong, bóng đã xuống trầm trầm,
Vang tiếng đàn ca, rộn tiếng ngâm;
Nhà ngục Tĩnh Tây mờ mịt tối,
Bỗng thành nhạc quán viện hàn lâm.

NAM TRÂN dịch
cpv.org.vn

Tù lương – Cơm tù

TÙ LƯƠNG

Mỗi xan nhất uyển hồng mễ phạn,
Vô diêm, vô thái, hựu vô thang;
Hữu nhân tống phạn, ngật đắc bão,
Một nhân tống phạn, hám gia nương.

CƠM TÙ

Mỗi bữa một bát cơm gạo đỏ,
Không muối, không rau cũng chẳng canh;
Có người đem cơm, được ǎn no,
Không người đem cơm, đói kêu cha kêu mẹ.

—————————-

Không rau, không muối, canh không có,
Mỗi bữa lưng cơm đỏ gọi là;
Có kẻ đem cơm còn chắc dạ,
Không người lo bữa đói kêu cha.

NAM TRÂN – BǍNG THANH dịch
cpv.org.vn

Nạn hữu xuy địch – Người bạn tù thổi sáo

NẠN HỮU XUY ĐỊCH

Ngục trung hốt thính tư hương khúc,
Thanh chuyển thê lương điệu chuyển sầu;
Thiên lý quan hà vô hạn cảm,
Khuê nhân cánh thướng nhất tằng lâu.

NGƯỜI BẠN TÙ THỔI SÁO

Trong tù bỗng nghe khúc nhạc nhớ quê hương,
Âm thanh trở nên thê lương, tình điệu trở nên sầu muộn;
Nước non xa cách nghìn trùng, cảm thương vô hạn,
Người chốn phòng khuê lại bước lên một tầng lầu.

—————————–

Bỗng nghe trong ngục sáo vi vu,
Khúc nhạc tình quê chuyển điệu sầu;
Muôn dặm quan hà, khôn xiết nỗi,
Lên lầu ai đó ngóng trông nhau.

NAM TRÂN dịch

Bản dịch khác:

Trong lao vẳng khúc nhạc tình quê,
Âm chuyển sầu thương, điệu tái tê;
Nghìn dặm quan hà, khôn xiết nỗi,
Lên lầu ai đó, chốn phòng khuê.

HUỆ CHI dịch
cpv.org.vn