Archive by Author | Việt Nam - Hồ Chí Minh

Động vật học – (1-5-1922)

“Càng học càng thấy mình dốt”, đó là câu ngạn ngữ châu á, câu ngạn ngữ đó trái với thông thường, không phải là một trò Tàu, mà là một chân lý chung rộng.

Ví như ông Giôdép Caiô, cựu Thủ tướng, một nhà lý tài ngoại ngạch, một nhà văn không phải tồi, không phải tương đối tồi như Anhxtanh nói, sau khi đã cai trị 40 triệu dân Pháp, đã rỡn với hàng triệu, hàng tỷ bạc, đã viết sách viết vở, rồi một buổi sáng nọ, bỗng gãi điên cuồng – không phải là gãi tóc, vì ông ta không có tóc – mà là gãi tai, đồng thời tự hỏi và hỏi người khác: châu Âu sẽ đi tới đâu đây? Nước Pháp sẽ đi tới đâu đây? Câu hỏi tuy có vẻ quá giản đơn, nhưng cho đến nay vẫn chưa được giải đáp. Và có thể còn phải chờ lâu mới giải đáp được, trừ phi…

Này, ngài Thủ tướng, xin ngài cho tôi biết chân của châu Âu và chân của nước Pháp ở chỗ nào, tôi sẽ nói ngài hay châu Âu và nước Pháp đi tới đâu!

Đácuyn, nhà cực thông thái Đácuyn, từng biết rằng con ngươi của ếch xứ Ôvécnhơ (1) tròn hơn con ngươi của ếch vùng Nốttinhham, và đuôi bồ câu Mêhicô có nhiều hơn đuôi bồ câu ở Thuỵ Điển ba cái lông tơ, nhưng ông lại hoàn toàn không biết gì đến một loài động vật rất đông đúc ngày nay được biết rất rõ ràng; cái loài động vật mà do số lượng, do chất lượng của nó, có thể liệt vào hàng đầu trong giới động vật. Vì hiện tượng này cũng khá thú vị, nên chúng tôi thử trình bày cùng bạn đọc báo Le Paria (17) .

Kết quả của những cuộc nghiên cứu kỹ, càng cho phép chúng tôi khẳng định rằng nguồn gốc loài động vật này cũng lâu đời như nguồn gốc loài người, nếu không phải là lâu đời hơn nữa. Cấu tạo thể chất của nó hết sức kỳ lạ: ở tất cả các loài động vật, sự sinh sản ra lông lá thường là ở đằng đuôi… ở loài động vật này… lại ở trên đầu. Chỉ ở trên đầu, chứ không ở cổ như bờm con ngựa. Lông lá này mịn như len và hung hung, hoặc cứng và đen, tuỳ theo khí hậu nơi nó sống. Khí hậu có ảnh hưởng rất nhiều đến nước da nó, màu da đó đi từ vàng đến đen, chứ ít khi trắng. Dù có những sự kỳ quặc đó, diện mạo của nó đôi khi cũng khá dễ thương. Nó đi hai chân. Nhưng, theo tài liệu quan sát được tại những vùng châu á, thì nhiều khi nó lại được coi như loài bốn chân () . Nói chung, có thể liệt nó vào loài hai tay. Điều làm cho loài động vật này rất đông đúc và có thể sống ở một địa bàn rất rộng trên trái đất, chính là ở chỗ nó rất dễ dàng thích nghi với nhiều thứ đồ ăn hết sức khác nhau. Nó ăn thịt, ăn cỏ, ăn gạo và ăn cả ngân sách nữa. Cần chú ý rằng khi có thể đã tiến đến trình độ ăn ngân sách thì thường bị coi là thoái hoá, vì nó đã mất hết đặc tính tinh thần của nòi giống nó rồi.

óc bắt chước của nó rất phát triển và óc đó không phải nông cạn như ở loài khỉ hay loài vẹt, vì người ta nhận thấy rằng tài bắt chước của nó thường đạt tới chỗ tuyệt khéo và đôi khi còn hơn cả cái mà nó bắt chước nữa.

Một vài đức tính thực dụng của nó còn cao hơn cả những đức tính thực dụng của các loài gia súc của chúng ta nữa kia. Một khi thuần dưỡng rồi, thì nó tự để cho người ta hớt lông như con cừu, chất đồ lên lưng như con lừa, và đưa vào lò sát sinh như con bê. Nó rất dễ thôi miên. Nếu bắt ra một con, to nhất hay mạnh nhất trong bầy, và đeo vào cổ nó một vật gì lóng lánh, một đồng vàng hay một thập ác chẳng hạn, thì nó liền trở thành hoàn toàn ngoan ngoãn, lúc đó có thể sai nó làm bất cứ việc gì, bảo nó đi bất cứ đâu cũng được, và các con khác cứ việc theo nó một cách ngu đần như loài thú vật – nếu có thể nói như thế được.

Các nhà bác học của B.I.Z.A (British Imperial Zoological Association) (1) vừa cho biết rằng loài thỏ trước bên bờ ấn Độ Dương và Bờ biển Libi (2) vùng Biển Đỏ, bắt đầu tỏ ra có những tiến hoá rõ rệt: nó không chịu để người ta bắt một cách dễ dàng nữa và trốn tránh cảnh làm gia súc. Hiện tượng mới đó không khỏi gây lo ngại cho các giới công nghiệp – khoa học trên thế giới, và đặc biệt là cho những giới đó ở đô thị, vì tuy thịt loài vật này không ăn được vì không ướp lạnh được, nhưng máu và mồ hôi của nó lại đã trở thành những thứ không thể thiếu để làm béo những cái máy làm dồi thịt.

Để tóm tắt bản trình bày ngắn này, chúng tôi xin nói rằng tên chủng loại của cái giống vật dị kỳ đó là Dân bản xứ thuộc địa (Colonial Indigéna) (3) nhưng tuỳ theo từng vùng mà nó có tên gọi khác nhau: người An Nam, người Mangát, người Angiêri, người ấn Độ, v.v..

Nguyễn Ái Quốc

T.B. – Chúng tôi vừa nhận được của một đồng nghiệp của chúng tôi là nhà bác học về tự nhiên học Đờ Páctu (1) một tiêu bản hiếm có của loài này, hình như cũng có họ hàng thân thuộc gì đó với loài mà chúng tôi vừa nghiên cứu. Loài đó, theo bạn đồng nghiệp của chúng tôi, thì tên nó là: Vô sản. Một ngày gần đây, chúng tôi sẽ nghiên cứu giống với hiện tượng mới này: Vô sản Đờ Páctu (2) .

Báo Le Paria, số 2, ngày 1-5-1922.
cpv.org.vn

Mấy ý nghĩ về vấn đề thuộc địa – (25-5-1922)

Từ khi Đảng Cộng sản Pháp đã thừa nhận 21 điều kiện của Mátxcơva và gia nhập Quốc tế thứ ba , Đảng đã tự đặt cho mình một nhiệm vụ đặc biệt khó khăn trong số các nhiệm vụ khác: chính sách thuộc địa. Đảng không thể thoả mãn với những bản tuyên ngôn chỉ thuần là bằng tình cảm và không có kết quả gì như thời Quốc tế thứ nhất và Quốc tế thứ hai nữa, mà cần phải có một kế hoạch hoạt động chính xác, một chính sách có hiệu quả và thiết thực.

Trong vấn đề này, Đảng gặp nhiều khó khăn hơn mọi vấn đề khác, và đây là những khó khăn chủ yếu:

1. Diện tích các thuộc địa rất rộng. – Không kể những “khu vực uỷ trị” mới, lấy được từ sau chiến tranh, nước Pháp có:

ở châu á, 450.000 km2 ; ở châu Phi, 3.541.000km2 ; ở châu Mỹ,108.000 km 2 ; ở châu Đại Dương, 21.600km2 . Tổng cộng: 4.120.000 km2 (gần gấp tám lần diện tích nước Pháp) với một dân số là 47.000.000 người. Số dân đó nói hơn 20 thứ tiếng khác nhau. Tình trạng có nhiều tiếng nói khác nhau như vậy làm khó khăn cho công tác tuyên truyền, bởi vì trừ mấy thuộc địa cũ ra, thì một tuyên truyền viên người Pháp chỉ có thể nói chuyện với quần chúng bản xứ qua người phiên dịch mà thôi. Mà phiên dịch thì khó nói lên được hết ý, vả lại trong những xứ bị cai trị một cách độc đoán ấy, thật khó mà tìm ra được một người phiên dịch những lời lẽ cách mạng.

Lại còn những trở ngại khác nữa. Tuy người dân bản xứ ở tất cả các thuộc địa đều là những người bị áp bức và bóc lột như nhau, nhưng trình độ văn hoá, kinh tế và chính trị giữa xứ này với xứ khác lại rất khác nhau. Giữa An Nam với Cônggô, Máctiních hay Tân Đảo, hoàn toàn không giống nhau chút nào, trừ sự cùng khổ.

2. Tình trạng thờ ơ của giai cấp vô sản chính quốc đối với các thuộc địa. – Trong những luận cương về vấn đề thuộc địa , Lênin đã tuyên bố rõ rệt rằng “nhiệm vụ của công nhân ở các nước đi chiếm thuộc địa là phải giúp đỡ một cách tích cực nhất phong trào giải phóng của các nước phụ thuộc”. Muốn thế, công nhân ở chính quốc cần phải biết rõ thuộc địa là cái gì, phải biết những việc gì đã xảy ra ở thuộc địa, biết rõ nỗi đau khổ – hàng nghìn lần đau khổ hơn công nhân ở chính quốc – những người anh em của họ, những người vô sản thuộc địa phải chịu đựng. Tóm lại là công nhân ở chính quốc phải quan tâm đến vấn đề thuộc địa.

Tiếc thay, một số đông chiến sĩ vẫn còn tưởng rằng, một thuộc địa chẳng qua chỉ là một xứ dưới đầy cát và trên là mặt trời, vài cây dừa xanh với mấy người khác màu da, thế thôi. Và họ hoàn toàn không để ý gì đến.

3. Tình trạng dốt nát của người dân bản xứ. – Trong tất cả các nước thuộc địa, ở cái xứ Đông Dương già cỗi kia cũng như ở xứ Đahômây trẻ trung này, người ta không hiểu đấu tranh giai cấp là gì, lực lượng giai cấp vô sản là gì cả, vì một lẽ đơn giản là ở đó không có nền kinh doanh lớn về thương nghiệp hay công nghiệp, cũng không có tổ chức công nhân. Trước con mắt người dân bản xứ, chủ nghĩa bônsêvích – danh từ này vì thường được giai cấp tư sản dùng đến luôn, nên đặc sắc hơn và mạnh nghĩa hơn – có nghĩa là: hoặc sự phá hoại tất cả, hoặc sự giải phóng khỏi ách nước ngoài. Nghĩa thứ nhất gán cho danh từ ấy làm cho quần chúng vô học và nhút nhát xa lánh chúng ta; nghĩa thứ hai thì dẫn họ đến chủ nghĩa quốc gia. Cả hai điều đó đều nguy hiểm cả. Chỉ có một số ít người trong nhân dân hiểu được thế nào là chủ nghĩa cộng sản. Nhưng số người thượng lưu ấy,- thuộc giai cấp tư sản bản xứ và là cột trụ của giai cấp tư sản thực dân, – cũng không thích thú gì việc chủ nghĩa cộng sản được người ta hiểu và được truyền bá rộng rãi cả. Trái lại, giống như con chó trong chuyện ngụ ngôn, họ lại thích đeo cái vòng cổ để kiếm miếng xương của chủ. Nói chung, quần chúng căn bản là có tinh thần nổi dậy, nhưng còn rất dốt nát. Họ muốn giải phóng, nhưng họ chưa biết làm cách nào để đạt được mục đích ấy.

4. Những thành kiến. – Vì giai cấp vô sản ở cả hai đằng đều không hiểu biết lẫn nhau, nên đã nảy ra những thành kiến. Đối với công nhân Pháp, thì người bản xứ là một hạng người thấp kém, không đáng kể, không có khả năng để hiểu biết được và lại càng không có khả năng hoạt động. Đối với người bản xứ, những người Pháp – mặc dầu họ là hạng người nào cũng đều là những kẻ bóc lột độc ác. Chủ nghĩa đế quốc và chủ nghĩa tư bản không bỏ lỡ dịp lợi dụng sự nghi kỵ lẫn nhau đó và sự phân biệt đẳng hạng giả tạo về nòi giống đó để ngăn cản việc tuyên truyền và để chia rẽ những lực lượng đáng phải đoàn kết lại.

5. Đàn áp dã man. – Nếu bọn thực dân Pháp rất vụng về trong việc phát triển nền kinh tế ở thuộc địa, thì họ lại là những tay lão luyện trong nghề đàn áp dã man và trong việc chế tạo ra cái lòng trung thành bắt buộc. Những người như ông Găngđi và ông Đờ Valơra có lẽ đã lên thiên đàng từ lâu rồi nếu các ông ấy sinh ở một trong những thuộc địa của Pháp. Bị tất cả mọi thứ thủ đoạn thâm hiểm của các toà án quân sự và toà án đặc biệt vây xung quanh, một người chiến sĩ ở bản xứ khó lòng tiến hành việc giáo dục đồng bào bị áp bức và dốt nát của mình mà không sa vào nanh vuốt của các nhà đi khai hoá cho họ.

Trước những khó khăn ấy, Đảng phải làm gì?
Tăng cường công tác tuyên truyền của Đảng để khắc phục.

Nguyễn Ái Quốc

Báo L’Humanité, ngày 25-5-1922.
cpv.org.vn

Dưới cuộc “khai hoá cao cả” – (30-5-1922)

Ông Anbe Xarô đã tuyên bố với nhóm thuộc địa trong Hạ nghị viện rằng: “Trung thành với sứ mệnh cao cả đã làm rạng danh nước Pháp trên thế giới và lịch sử, nước Pháp đầy lòng bác ái đang theo đuổi tại hải ngoại một sự nghiệp tiến bộ, chính nghĩa, sự nghiệp dìu dắt các chủng tộc, sự nghiệp khai hoá cao cả; tính chất cao quý của sự nghiệp đó làm cho truyền thống rực rỡ lâu đời của nước Pháp ngày càng thêm phần rực rỡ”.

Thế mà người ta đã đem thực hiện cái sự nghiệp tiến bộ, chính nghĩa, v. v. đó như thế này:

Mượn cớ bài trừ nạn du đãng, người ta thi hành một chế độ khổ sai với dân bản xứ ở Mađagátxca. Như là: trên mặt trái một tờ giấy trong thẻ căn cước của người bản xứ, có dành riêng vài ô nhỏ để người chủ ghi chú. Trong ô thứ nhất, có in những điều ghi chú chủ yếu, người chủ phải ký nhận ở dưới.

Làm thuê cho ông

Tại

Từ đến

Người chủ:

Người bản xứ nào mà thẻ căn cước không hợp lệ như đã chỉ dẫn trên đây đều bị coi là du đãng, sẽ bị phạt tù từ 3 tháng đến một năm, và sau khi mãn hạn tù, có thể còn bị đày biệt xứ từ 5 đến 10 năm.

Bây giờ ta hãy xem các ông chủ đi khai hoá ấy đối xử với công nhân bản xứ như thế nào.

Có một bác cai đến hỏi tiền công cho một người thợ của mình, thì một ông chủ nọ đã viết giấy trả lời như sau: “Bảo cái con lợn ấy lấy c… (1) mà ăn, chỉ có món ấy là hợp với nó thôi”.

Một ông chủ khác, khi thấy nhà bị mất trộm 1.000 phrăng, liền lôi tám người bản xứ làm thuê cho mình ra tra điện để bắt họ thú nhận. Về sau, người ta tìm ra kẻ trộm chính là cậu ấm con ông chủ. Nhà khai hoá – con, đã ăn chơi thoả thích. Nhà khai hoá – bố, thì không bị lôi thôi gì cả. Và những người có phúc được nước Pháp bảo hộ thì còn nằm trong nhà thương ở Tananarivơ.

Nguyễn Ái Quốc

Báo La Vie Ouvrière, ngày 29-5-1922.
cpv.org.vn

Pari (30-5-1922)

(Trích “Những bức thư gửi cô em họ” do tác giả dịch từ tiếng An Nam (1) )

Ở Pari (23) có một vùng, cô em họ thân mến của tôi ạ, tự một mình nó nó trình diễn ra được đủ bộ mặt và đủ tâm lý của cả Pari, cả nước Pháp, cả vũ trụ. Ai muốn nghiên cứu tình hình xã hội thời buổi ta ngày nay, thì chỉ cứ đi ngang vùng này mà thôi là đáng giá cả một pho sách lớn cỡ bách khoa toàn thư vậy.

Vùng gồm ba xóm chính, là Êtoan, Batinhon, Êpinét. Cô vốn có trí tưởng tượng phong phú, nên tôi chắc thế, chỉ cần đọc tên mấy xóm đó là cô đã đoán ra được thứ bậc xã hội của những nhóm này rồi. Tôi ở đây như đang nghe thấy cô tự thì thầm với mình: Êpinét, Êpinét – Những cái Gai con! cuộc sống ở đây hẳn phải chật vật lắm, gai góc lắm. Còn Êtoan – Ngôi sao, cái đó hẳn phải là nơi cư ngụ của những kẻ diễm phúc, có đặc quyền đặc lợi; một Bồng Lai tiên cảnh chứ gì nữa.

Vâng, cô em họ nhỏ của tôi ơi, cô đoán đã gần gần đúng thế đấy, ấy nhưng tôi vẫn cứ phải tả cho cô thấy cái sang trọng của bên này và cái đau khổ của phía kia, sang trọng ra sao, đau khổ ra sao thì cái đầu óc xinh xắn của cô chẳng thấy nổi nó mênh mang đến thế nào đâu. Xóm Êtoan thì bắt đầu với Khải hoàn môn. ấy là một đài kỷ niệm nguy nga dựng lên để ghi nhớ tài danh quân phiệt của Napôlêông. Bây giờ thì nó dùng làm mồ chôn một người lính không tên tuổi chết trong đại chiến.

Sự đời sao nó mỉa mai thế, cô nhỉ! Người ta đem thu lại để cùng một chỗ cả cái hư vinh của tác giả bao cuộc giết chóc kinh khủng ở châu Âu và cả nắm di hài của nạn nhân cuộc tàn sát thế giới!

Cái đài này là nơi lưu tồn tượng trưng những nguyên nhân của mọi cuộc chiến tranh trước kia và sau này; cũng như người lính không tên tuổi này là hiện thân tượng trưng của tất cả những ai bị giết hại để thoả mãn cái tham vọng và cái kiêu kỳ của bọn tướng lãnh. Bởi vì ai mà đã đọc tên những chiến trận đầy tràn lịch sử từ đầu đến cuối, ai mà đã đọc bấy nhiêu tên khắc lên riêng một đài kỷ niệm này thôi (1) , thì phải kinh hoàng thấy, biết bao nhiêu là nông dân, bao nhiêu là công nhân đáng thương đã ngã xuống không tên tuổi, như kẻ đang nằm đây!

Để một chuyến thư sau, tôi sẽ kể cho cô nghe về anh lính tội nghiệp này, khi còn sống đã phải đương đầu với những tràng súng đại bác liên thanh như thế nào, nay vẫn phải đương đầu như thế nào với những tràng diễn văn ngoại giao và tỏ tình thân thiết vờ vịt của các vị sứ thần và của các cụ Phị (2) . Hôm nay, hãy trở lại câu chuyện vùng này đã.

Vậy, tôi đang nói với cô rằng Êtoan là xóm các phủ đệ thênh thang, các vườn cây hoa nở sum suê, các cỗ ngựa xe vương giả. Đó là một ổ xa hoa, tứ xứ, thừa thãi tràn trề và biếng lười loè loẹt. Đó là thiên đường bọn ăn bám đủ các cỡ và đủ các xứ. Sang trọng là sang trọng cho đến cả con vật. Chả nói làm gì đến cái giá ngông cuồng thả ra bao một con mèo hảo hạng hay một con ngựa loại khoái (3) , nó đủ để nuôi sống toàn bộ dân cư một tỉnh nước ta, cứ cái con khuyển xóm này là cũng được sống lộng lẫy và tốn kém hơn người đi làm thợ nhiều.

Rời chính lộ Vagơram và đại lộ Cuốcxen, là vào xóm Batinhon. Xóm này là xóm kiểu con dơi, nghĩa là dân bản địa nơi này thuộc một giai cấp trung gian. Họ không giàu sụ để bay nhảy như bọn cừ khôi trong giới tư bản, mà cũng chẳng đủ nghèo để phải vất vả giống đám thợ thuyền. Phong vũ biểu đo mức giàu có của họ cứ là theo sự thăng trầm kinh tế hằng ngày mà lên xuống; họ có thể hôm nay thì thư thái trồng bắp cải, để rồi hôm sau là phải bán đứt vườn tược đi. Dân đây là tiểu thương, là ông xếp phòng giấy, là ông cò về hưu. Bà đi đâu là có một con chồn (1) to quấn quanh cổ và một con chó con bồng trên tay. Ông thì bao giờ cũng có cái gì chểnh mảng cài khuyết ve áo, một củ kiệu Công huân Nông nghiệp hoặc là bông hoa tím của vị chức sắc Học chính (2) . Bà canh cửa thì sáng sáng chăm chút tưới những chậu hoa thu hải đường cổ truyền của bà bày trên cửa sổ, sáng sáng giũ cái thảm trải cầu thang chính – tấm thảm này bướng bỉnh nhất định không chịu leo cao hơn tầng gác ba (3) . Cứ suy quy luật vận hành của vạn vật thì dân cư xóm này có nhiều khả năng vô sản hoá hơn là sản sinh ra những đức ngài tư bản chủ nghĩa.

Xóm Êpinét là phía chân của cái thang. Nó là người bà con khốn khó, kẻ thừa kế bị gạt bỏ của hai xóm kia. Nó gần như là thuộc một giống người khác, ra vẻ bẽn lẽn, khiêm nhường, bị cái khốn cùng nó đè bẹp. Này cô, hãy xem ông bác mình ép mía lấy đường theo cái kiểu nghìn năm xưa cũ của dân ta, thì cô nghĩ ra được cái cảnh xã hội ở đây nó thế nào. Có bao nhiêu nước ép ngon ngọt thì cứ tuôn cả ra một bên cối, còn bên kia thì chỉ có bã, bẹt ra, quắt lại. Đây cũng thế. Một bên là giàu sang và nhàn rỗi, một bên là cần cù và thiếu thốn. Lôi thôi và gầy guộc như ngón tay khoằm khoằm của con mụ phù thuỷ già, ống lò sưởi ở Êpinét mùa hè thì um khói và mùa đông thì lại như tắt ngấm. Trông xa, nhà cửa khẳng khiu trong xóm giống y mặt người vậy, những bộ mặt người ngơ ngác mà cái bề mặt tiệm của một bác buôn giẻ rách hay của một hiệu thịt ướp lạnh thì làm ra dáng cái miệng móm, còn cửa sổ đã toác toạc thì dùng làm những con mắt nhẻm những dử lại cận thị. Xóm những con người làm lụng, sản xuất và đói meo. Xóm người làm thợ, xóm người nghèo, xóm người cùng khốn.

Giữa xóm, có một mẩu phố dài chừng dăm chục mét. Quanh phố thấy tề tựu một ngôi trường tiểu học, một nhà máy và một quán cháo bình dân. Có phải thế không nào, cô em họ thân mến, cả cái bộ sậu ấy thế là rất mực tiêu biểu? Khi còn bé, thì trẻ con đi học để mà biết tôn trọng quyền thiêng liêng của các ông chủ. Lớn lên, anh thợ rời nhà trường đi góp phần làm giàu cho giới chủ nhân ông mà mình đã được học tập sùng bái cái uy nghi. Già rồi yếu đi, thì ông lão được, vẫn giới chủ nhân ông đó, mà cụ đã làm giàu cho, tống cụ ra ngoài đường để nhờ chẩn bần mà sống nốt cuộc đời hay lam hay làm của mình!

Mỗi sáng, tôi phải đi ngang quán cháo bình dân để đến xưởng làm việc của tôi. Trời đẹp hay xấu, nắng ấm hay tuyết rơi, thì tôi cũng cứ thấy tụm lại trước cửa ngôi nhà công này lối ba chục các cụ. Các cụ ăn bận thật không tưởng tượng được. Người thì khoác cái chăn trên lưng, người thì lại mặc cái áo dài bó của hầu bàn trưởng – đầu đội cái mũ rơm đã vàng úa, người khác nữa tả tơi đụp vá muôn màu sắc. Giày các cụ, mõm há ra như hộp thư cả, cười nhạo với mọi khách qua đường. Trong lúc đợi cửa mở và để giết thời giờ, các cụ xem mấy mẩu báo Le Matin (24) hay tờ Le Petit Parisien (25) nhặt được chẳng biết ở đâu nữa. Trời có lạnh quá thì các cụ thổi thổi lên ngón tay hoặc là giở điệu nhất bộ ra nhảy (1) để tự sưởi ấm. Một cụ nhìn tôi cả cười: “Chú xem, sưởi kiểu trung tâm (2) của bọn này đấy!”.

Dáng các cụ tồi tàn thế, nhưng ai nấy đều thật dễ thương, và các cụ trông thấy tôi mãi rồi, thì cuối cùng ấy cũng là có quen biết. Một thứ tình bằng hữu thế là nảy ra giữa chúng tôi và hai bên chào nhau khi đi qua.

Tôi đặc biệt để ý một cụ già trong số đó. Ông cụ sạch sẽ, tươm tất, và bộ dạng biểu lộ một nỗi buồn phiền được nén xuống, một niềm tự trọng chẳng chịu để ngã khuỵu, ngay trong cơn quẫn bách. Cụ có đeo một dải huy chương thưởng công cứu nạn. Cụ bao giờ cũng cứ đứng đằng sau người khác.

Một hôm, tôi đến bắt tay cụ và nói với cụ: “Cố ơi, cố có vui lòng cho phép được mời cùng dùng một bữa lót dạ, chủ nhật tới, được không?”. Cụ đáp: “Ông tử tế quá, thưa ông, thế cho nên tôi từ chối thì hoá ra phụ lòng tốt của ông, vậy xin nhận”.

Chúng tôi cùng đến một quán ăn nhỏ. Đặt xong món ăn, chúng tôi chuyện trò, và ông cụ bảo tôi: “Tôi không dám tự tiện ngỏ lời trước với ông, bởi vì trước hết ông là người nước ngoài, thế rồi tôi lại ngại làm phật lòng ông, thanh niên dễ tự ái thấy có người đến bắt chuyện lại như tôi, một lão già nghèo khổ, chẳng khác đứa ăn mày vậy. Nhưng mà cứ mỗi lần ông đi qua trước mặt tôi, là lòng tôi lại tràn ngập một niềm đau đớn khôn cùng, tôi chỉ muốn khóc. Tôi rất hiểu ông lấy thế làm lạ, nhưng ấy là tại thế này: thấy ông, là tôi lại nhớ thằng con thứ của tôi, tôi đã mất nó trong trận giặc. Nó cũng khoảng tuổi ông đấy. Chắc ông hăm nhăm, hăm sáu chứ gì? – Hăm sáu, cố ạ, tôi trả lời. – Đúng rồi, nó kém ông một tuổi. Ông không chán tai thì để tôi kể chuyện nó ông nghe, chuyện nó mà thật ra là chuyện tôi. – Xin mời cố, nghe chuyện cố sẽ thích thú lắm. – Thời tôi còn ít tuổi, ông bạn cùng bàn đáng kính của tôi kể, tôi làm nghề hàng hải đăng bạ (1) . Tôi đã có đi vòng quanh thế giới nhiều lần. Tôi cũng có lần đến xứ ông, đến Sài Gòn, đến Hải Phòng. Sau tôi tằn tiện cưới một cô gái nông thôn hiền lành. Vợ chồng đến lập nghiệp ở vùng Bắc. Nhà tôi mở một cửa hàng nhỏ bán gia vị vặt vãnh, còn tôi thì vào làm một nhà máy. Vợ chồng tôi có hai trai, một gái, ba cháu thật là của trời cho ông ạ! Nhà tôi với tôi, bọn tôi chịu khó kham khổ cũng nhiều, nuôi được các cháu ăn học, nó giỏi giang lắm. Bà con lối xóm đều lấy làm thèm thuồng, vì các cháu nết na, thật là ngoan ngoãn, chăm làm, lại có học. Cháu Môrixơ là cháu lớn, làm nghề thợ vẽ. Cháu Anbe thì làm thợ máy. Em gái các cháu, là cháu Yvon, nó là một bông hoa xinh xinh mười tám cái xuân xanh- như ở xứ tôi người ta hay nói văn hoa thế – hoa làm si ngây lứa trai khắp vùng, cháu nó đánh máy chữ. Mỗi đứa kiếm được đồng tiền cũng kha khá, đủ cho mình và cho vợ chồng chúng tôi. Ban ngày thì các cháu đi làm, tối đến cả mấy cháu mải mê học hành. Chủ nhật nào cũng cả ngày bàn luận với nhau những cái học được trong tuần. Nói thật tình để ông hay, cứ nghe các cháu nó bàn nó nói là sướng lạ sướng lùng; ấy chính các cháu đã dạy chúng tôi, mẹ các cháu với tôi, biết được không biết bao nhiêu thứ. Vậy là vợ chồng chúng tôi thật là đôi bố mẹ sướng nhất trần đời.

“Chiến tranh bùng nổ. Cháu Môrixơ bị thương nặng từ đầu, ít lâu sau thì chết. Cháu Anbe thì bị ghi là mất tích, sau ba tháng chiến trận. Cứ thế là nhà tôi và cháu gái hoá điên lên, điên vì đau đớn. Làng tôi là cái đích cho pháo nã, đạn Pháp đến với chúng tôi cũng nhiều ngang đạn Đức; đạn nó không có quốc tịch, nên đạn bên này hay bên kia thì cũng đều phá phách đồ đạc, cũng đều giết hại người ta, dửng dưng như nhau, tàn khốc như nhau.

“Một hôm nọ, trong gian nhà chúng tôi ở đã đổ vỡ đến nửa, vợ tôi cùng cháu gái tôi đang nấu nướng, thì một cái nồi (1) – chẳng phải loại nồi Na Uy nổi tiếng của Lui Phorextơ đâu, mà là cái loại nồi nó giập be giập bét tuốt – nó bổ xuống.

“Một tiếng nổ kinh hồn, rồi tất cả hất tung lên. Tôi thoát thân vì đang xuống tầng hầm lấy cái gì đó. Đến khi lại người, từ dưới hầm lên, thì lên hết cầu thang, tôi chẳng còn thấy nhà, thấy cửa, thấy vợ, thấy con đâu cả nữa, mà chỉ thấy một khoảng trống không, một khoảng trống không khủng khiếp, hãi hùng, một khoảng trống không nó lấp đặc không trung bằng cái não nuột, cái tận cùng, cái chết chóc, cái tan hoang. Tôi quá sững sờ để còn hoảng hốt… Nhưng hãy chờ đấy, đã hết đâu! Cái lúc ghê gớm nhất trong cả đời tôi, là lúc mà tôi nhận ra trong đống nhà cửa vụn nát, một cái bàn tay máu me của cháu Yvon tội nghiệp của tôi, rồi cách mấy bước, là một cái chân còn giày tất y nguyên của người vợ đáng thương của tôi. ấy bấy giờ, ấy bấy giờ…”.

Đến đây, ông già tái nhợt. Tôi đọc thấy trong đôi mắt cụ, bỗng dại đi, một nỗi niềm đau xót và căm hờn không sao tả xiết. Một cơn co giật làm cụ toàn thân run rẩy. Cụ tỳ hai bàn tay đang quắp lại lên mép bàn. Hai chân cụ di di đều nhịp, như phát sốt, trên sàn nhà, mà căng gân cốt ra như vậy, thì là khi nào con người ta đang cố kìm lại một niềm xúc động đang muốn bùng ra. Tôi nhỏ nhẹ bảo cụ: “Thôi vừa rồi, cố ơi! Xin để hôm khác cố kể cho nghe. Cố xơi củ khoai rán, cố nhé!”. Ông cụ như không nghe thấy tôi nói; cụ thở dài một hơi, nói tiếp: “Đấy ông xem, ông thân mến, chiến tranh, cuộc chiến tranh trời tru đất diệt này tôi có cái gì thì nó đã giết sạch cả, nào là hạnh phúc, nào là nhà cửa, nào người vợ quý, nào bầy con yêu. Còn tôi, thì bây giờ tôi nhờ thiên hạ bố thí để sống qua ngày, sau bấy nhiêu năm trời làm ăn, cực nhọc. Biết đâu, vâng, biết đâu chẳng phải chính cháu Anbe đáng thương của tôi là người bây giờ đây đang nằm đó dưới Khải hoàn môn!”.

Cụ gạt một giọt nước mắt thật to, tay run run nâng cái cốc mà tôi vừa rót rượu vào, miệng nói: “Nào, chúc sức khoẻ ông!”.

—————————————–

Báo L’Humanité, ngày 30 và 31-5-1922.
cpv.org.vn

(1) Ngay sau khi Nguyễn Ái Quốc gửi bản Yêu sách của nhân dân An Nam tới trưởng đoàn các nước dự Hội nghị Vécxây, bọn bồi bút thực dân lồng lộn. Trên tờ Courrier Colonial ra ngày 27-6 có một bài nhan đề Giờ phút nghiêm trọng chỉ trích bản yêu sách : Làm sao một người dân thuộc địa lại có thể dùng bản yêu sách của nhân dân để công kích Chính phủ Pháp. Thật là quá quắt. Cứ theo đà này thì bọn dân thuộc địa sẽ lên ngang hàng với người Pháp chúng ta và sớm trở thành ông chủ của chúng ta. Không được, phải kìm giữ chúng mãi mãi trong vòng nô lệ. Nguyễn Ái Quốc viết bài này là để trả lời bài báo sặc mùi thực dân trên.

(2) Bản Yêu sách của nhân dân An Nam: Năm 1918, Chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc. Ngày 18-1-1919, đại biểu các nước đế quốc tham gia chiến tranh họp hội nghị ở Vécxây (Pháp). Hội nghị này (còn gọi là Hội nghị hoà bình Pari) nhằm xác định sự thất bại của Đức và các nước đồng minh của Đức, chia lại thị trường thế giới cho các nước đế quốc thắng trận, chủ yếu là Mỹ, Anh, Pháp.Nhân danh nhóm người yêu nước Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc đã gửi đến Hội nghị bản Yêu sách của nhân dân An Nam. Nguyễn Ái Quốc còn thuê in thành truyền đơn, đăng trên các báo, gửi đến các nhà hoạt động chính trị có tên tuổi, phân phát trong các buổi hội họp, mít tinh, gửi cho Việt kiều ở Pháp và gửi về nước.

(3) Báo Le Courrier d\’Hai Phong: Báo xuất bản hằng ngày ở Hải Phòng, năm 1887, do Toà đốc lý của chính quyền thuộc địa phụ trách.

(23) Pari : Thủ đô lâu đời của nước Pháp, một trong những thành phố lớn trên thế giới. Trước đây, Pari vốn nổi tiếng là một trung tâm văn hoá nghệ thuật. Từ cuối thế kỷ XVIII và trong thế kỷ XIX, Pari còn là một trung tâm cách mạng của châu Âu. Cuộc cách mạng tư sản Pháp năm 1789 và cuộc cách mạng vô sản Pháp chống tư bản năm 1871 lập lên Công xã Pari, là hai điển hình cách mạng của nhân dân thành phố này. Nguyễn Ái Quốc đến nước Pháp cuối năm 1917 và đã ở Pari khoảng 6 năm. Tại đây, Người đã hoà mình trong đời sống lao động và đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân Pari, Người đã tìm đến chủ nghĩa Mác – Lênin, tin theo Lênin và Quốc tế thứ ba, trở thành một trong những người tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp (1920). Người đã sáng lập Hội những người An Nam yêu nước, gửi đến Hội nghị Vécxây bản yêu sách của nhân dân An Nam, tham gia sáng lập Hội Liên hiệp thuộc địa và báo Le Paria, đề xướng báo Việt Nam hồn cùng nhiều hoạt động cách mạng khác. Người đã tìm thấy con đường cách mạng đúng đắn nhất để giải phóng dân tộc. Tháng 6-1923, Nguyễn Ái Quốc rời Pari đi Mátxcơva (Liên Xô) để họp Đại hội lần thứ V Quốc tế Cộng sản và sau đó về Trung Quốc để chỉ đạo phong trào cách mạng trong nước. Tr.67.

(24) Báo Le Matin : Báo xuất bản ở Pari từ tháng 2-1884. Tr. 71.

(25) Báo Le Petit Parisien : Báo xuất bản hằng ngày ở Pari từ ngày 15-10-1876. Tr.71.

Bộ mặt thật của các “nhà dân chủ”

LTS: Sau một thời gian điều tra, thu thập chứng cứ, ngày 2-3-2007, Cơ quan An ninh điều tra, Công an thành phố Hà Nội đã khởi tố vụ án “Tuyên truyền chống phá Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam” theo Điều 88, Bộ Luật Hình sự. Ngày 6-3-2007, Cơ quan An ninh đã ra lệnh bắt, tạm giam đối với Nguyễn Văn Đài, nguyên trưởng văn phòng luật sư Thiên Ân, nguyên giám đốc Công ty TNHH tư vấn Luật Việt và Lê Thị Công Nhân, nhân viên văn phòng luật sư Thiên Ân, có trụ sở tại số 10 Đoàn Trần Nghiệp, Hà Nội để điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật. Báo Quân đội nhândân cung cấp một số thông tin để bạn đọc nhận rõ bộ mặt thật của Nguyễn Văn Đài, Lê Thị Công Nhân cùng đồng bọn lợi dụng tự do, dân chủ, tôn giáo tổ chức các hoạt động chống phá nhà nước ta.

Kẻ chủ mưu đội lốt “nhà lý luận”

Đội lốt là “nhà lý luận” của cái gọi là “phong trào dân chủ Việt Nam”, Nguyễn Văn Đài đã viết một loạt bài với nhan đề: “Quyền tự do thành lập đảng”, “Dân trí và dân chủ”, “Xã hội dân sự ở Việt Nam”… đăng trên trang web của một số phương tiện thông tin phương Tây. Mục đích để Đài chuẩn bị dư luận và thông qua đó, móc nối với một số tổ chức phản động người Việt lưu vong ở nước ngoài nhằm thực hiện ý đồ hình thành và công khai hóa các tổ chức chính trị đối lập ở Việt Nam. Đặc biệt, Đài còn là người trực tiếp soạn thảo điều lệ của cái gọi là “đảng dân chủ 21” gồm 3 chương, 10 điều với nội dung hết sức sơ sài và khá nực cười. Ví dụ, tại “điều 4” của “điều lệ” trên, Đài viết: “Bất kỳ ai có đủ độ tuổi (15 tuổi trở lên), thừa nhận cương lĩnh chính trị, điều lệ đảng thì tự tuyên thệ là đảng viên đảng dân chủ. Nếu sinh hoạt một mình thì tự ký thẻ đảng”. Hoặc ở “điều 5″ Đài viết: “Khi đảng viên cao tuổi, sức yếu không còn thừa nhận cương lĩnh chính trị, điều lệ đảng thì tự tuyên bố ra khỏi đảng…”. Những nội dung trên cho thấy sự “ra, vào” cái gọi là “đảng dân chủ 21” của Đài còn dễ hơn ra vào một… cái chợ. Đặc biệt, theo những điều mà Đài liệt kê trong cái gọi là “Điều lệ đảng dân chủ 21”, Đài không hề giấu giếm ý đồ muốn giành chính quyền ở Việt Nam khi tính đến khả năng “đảng dân chủ 21” giành thắng lợi trong cuộc bầu cử toàn quốc, chủ tịch đảng sẽ là người đứng đầu chính phủ, hoặc chủ tịch đảng là ứng cử viên đương nhiên và duy nhất của cái gọi là “đảng dân chủ 21” trong cuộc bầu cử toàn quốc để lựa chọn ra người đứng đầu nhà nước Việt Nam. Như vậy, với cái mác là “nhà lý luận”, Nguyễn Văn Đài đã lộ rõ là kẻ lợi dụng quyền dân chủ để thực hiện mưu đồ chính trị của cá nhân.

Nguyễn Văn Đài, sinh ngày 6-5-1969, quê ở Dạ Trạch, Châu Giang (nay là huyện Khoái Châu), Hưng Yên, trú tại phòng 302, Z8, phường Bách Khoa, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội. Đài được bố mẹ nuôi cho ăn học và thừa hưởng nhiều ưu đãi của cơ quan nơi bố đẻ công tác, được ưu tiên cho đi đào tạo nghề ở nước ngoài. Sau khi về nước, Đài lại được cơ quan của bố tạo điều kiện thuận lợi để theo học đại học Luật. Đáp lại sự ưu ái và kỳ vọng của không ít người trong gia đình và tập thể, Đài “đền ơn” bằng cách sử dụng những kiến thức đã học, núp bóng dưới danh nghĩa luật sư và công ty hỗ trợ pháp lý để lôi kéo, tụ tập, móc nối với các phần tử phản động trong và ngoài nước, tiến hành nhiều hoạt động chống phá Nhà nước Việt Nam.

Không chỉ lợi dụng quyền tự do ngôn luận mà pháp luật Nhà nước ta cho phép để thực hiện mưu đồ chính trị của mình, Đài còn liên hệ với Hoàng Minh Chính, thống nhất kế hoạch tuyên bố khôi phục hoạt động cái gọi là “đảng dân chủ 21″ và vận động một số phần tử bất mãn trong nước tham gia. Đài còn là người chủ trò trong việc liên hệ và bố trí cho Trần Khuê với danh nghĩa là “phó tổng thư ký đảng dân chủ 21” lén lút gặp một số nhân viên ngoại giao nước ngoài tại Hà Nội để tuyên bố công khai tổ chức này trong nước vào ngày 30-5-2006. Không chỉ “tích cực” lôi kéo các phần tử bất mãn trong nước tham gia cái gọi là “đảng dân chủ 21”, Đài còn cấu kết với Trần Ngọc Thành là “phân bộ trưởng tập hợp dân chủ đa nguyên” và chủ bút báo “Đàn chim Việt” ở nước ngoài thành lập tổ chức có tên là: “Công đoàn độc lập Việt Nam”. Để thực hiện ý đồ này, ngày 20-9-2006, Đài cử Trần Văn Hoà ở Quảng Ninh đi nước ngoài trực tiếp gặp Trần Ngọc Thành để bàn bạc việc thành lập cái gọi là “Công đoàn độc lập Việt Nam” ở trong nước, đồng thời hứa trả 1000USD/tháng cho Hoà nếu tham gia tổ chức này. Tuy nhiên sau khi bị bắt, nhận thấy âm mưu đen tối của Đài, Trần Văn Hoà đã tỏ rõ thái độ ăn năn. Hoà khai nhận: “… việc thành lập “công đoàn” là trái pháp luật Việt Nam, việc đi nước ngoài để gặp Trần Ngọc Thành là vô tình tiếp tay cho những hành động sai trái không đúng với quy định của pháp luật Việt Nam…”. Do không thực hiện được ý đồ cử Trần Văn Hoà đi nước ngoài để gặp Trần Ngọc Thành, ngày 26-10-2006, Đài lại có ý định cử Lê Thị Công Nhân ra nước ngoài để công khai hoá tổ chức cái gọi là “Công đoàn độc lập Việt Nam”, đồng thời phối hợp với Thành vận động các công đoàn trên thế giới thành lập tổ chức “Ủy ban yểm trợ công đoàn độc lập Việt Nam” từ bên ngoài.

Nhằm tránh sự phát hiện của cơ quan chức năng, Đài đã thống nhất với Trần Ngọc Thành để Nguyễn Khắc Toàn đứng tên làm “chủ tịch” tổ chức cái gọi là “Công đoàn độc lập Việt Nam”, nhưng thực chất mọi hoạt động đều do Đài trực tiếp điều hành và chỉ đạo. Với bản thân mình, Đài chỉ đề xuất trong vai trò luật sư của cái gọi là “đảng dân chủ 21” và các tổ chức do Đài và đồng bọn dựng lên. Tuy nhiên, khi cần ra nước ngoài, Đài lại chủ động “đặt vấn đề” với ban tổ chức các cuộc hội thảo do một số tổ chức phi chính phủ chủ trì mời Đài sang với tư cách là “đại diện đảng dân chủ Việt Nam”. Dù “hoạt động” tinh vi tới mức nào và núp dưới vỏ bọc gì thì những thủ đoạn của Đài và đồng bọn cũng không thể qua mắt được quần chúng nhân dân và các cơ quan bảo vệ pháp luật.

Cùng thời gian trên, theo sự “chỉ đạo” của một số cá nhân phản động lưu vong ở nước ngoài như: Vũ Quốc Dụng, Phạm Nam Định, Đoàn Viết Hoạt… và các tổ chức phản động như: “Mạng lưới nhân quyền Việt Nam”, “Họp mặt dân chủ”… để thành lập cái gọi là “Uỷ ban nhân quyền Việt Nam” do Đài đứng đầu, với sự tham gia của Phạm Văn Trội, Bạch Ngọc Dương, Lương Duy Phương. Đài giao cho Lương Duy Phương phụ trách trực tiếp việc liên lạc, tiếp xúc với một số nhân viên cơ quan ngoại giao và tổ chức quốc tế tại Hà Nội. Công việc cụ thể được Đài giao cho nhóm của Trội, Phương và Dương là: Hằng ngày thu thập những thông tin mà chúng coi là “bằng chứng Việt Nam đàn áp dân chủ, nhân quyền” để “tổng hợp” đưa lên cái gọi là “hãng tin tự do” (FNA) trên mạng internet và hằng tháng gửi “báo cáo” cho các đối tượng phản động lưu vong người Việt. Thực chất, thông qua những “hoạt động” trên, Đài yêu cầu một số đối tượng phản động lưu vong tài trợ cho cái gọi là “Uỷ ban nhân quyền Việt Nam” hằng tháng là 850USD, trong đó Đài và Phạm Văn Trội được hưởng 200USD/người; Lương Duy Phương và Bạch Ngọc Dương: 150USD/người, chi phí văn phòng: 150USD. Như vậy, dù “tiến hành” dưới hình thức nào, kẻ chủ mưu đội lốt “nhà lý luận” cũng không quên lợi ích cá nhân. Đặc biệt, Đài lợi dụng sự bất mãn của một số đối tượng, cũng như lòng tốt của một số người nhẹ dạ để tuyên truyền, xuyên tạc tình hình đất nước, lôi kéo, kích động hòng hướng họ đi ngược lại lợi ích của dân tộc.

Không chỉ lợi dụng danh nghĩa luật sư, mặc dù gia đình không ai theo đạo, nhưng riêng Đài xin làm tín đồ đạo Tin lành. Đây là quyền tự do tín ngưỡng, hoặc không tín ngưỡng của mỗi công dân Việt Nam đã được pháp luật Nhà nước ta thừa nhận. Khi trở thành tín đồ đạo Tin lành, do có kiến thức về luật, nên Đài được giao giữ chức Uỷ viên pháp chế Hội đồng quản trị sản nghiệp Hội thánh Tin lành Việt Nam miền Bắc. Tuy nhiên, do có những hoạt động khuất tất, đi ngược lại những điều răn dạy của giáo hội, mặc dù đã được Hội thánh Tin lành Việt Nam miền Bắc nhiều lần nhắc nhở, thuyết phục, nhưng bất thành, nên tại phiên họp toàn thể ngày 13-6-2006, Ban trị sự Tổng hội đã quyết định miễn nhiệm chức ủy viên pháp chế Hội đồng quản trị sản nghiệp Hội thánh Tin lành Việt Nam miền Bắc đối với Nguyễn Văn Đài.

Lợi dụng, lôi kéo sinh viên nhẹ dạ

Hòng che đậy những hoạt động đen tối của mình, thực hiện sự “chỉ đạo” của bọn phản động lưu vong người Việt, Đài đã xúc tiến thành lập văn phòng luật sư Thiên Ân. Không giống như các văn phòng luật sư khác, kể từ khi thành lập (2003) cho đến lúc bị bắt, Đài không tham gia bào chữa cho bất kỳ một thân chủ nào. Tuy vậy, Đài vẫn có tiền để hưởng thụ, trả lương nhân viên, chi phí các hoạt động văn phòng và mua sắm trang thiết bị. Thực chất, Đài núp dưới danh nghĩa trưởng văn phòng luật sư Thiên Ân và giám đốc Công ty TNHH tư vấn Việt Luật, để lôi kéo người tham gia vào các hoạt động tuyên truyền chống phá Nhà nước. Các tổ chức phản động lưu vong đã tài trợ cho hắn triển khai cái gọi là “dự án vì công lý”, hỗ trợ pháp lý cho những người khiếu kiện trong nước. Đài dùng số tiền “kiếm được” từ các tổ chức phản động lưu vong thông qua hình thức hỗ trợ học bổng, tuyên truyền, lôi kéo một số sinh viên ngành luật, nhằm “phát triển lực lượng” đấu tranh lâu dài. Thông qua hình thức này, Đài xúc tiến việc “tuyển chọn” với ý định gửi ra nước ngoài “đào tạo” một số sinh viên, để sau này Đài sẽ dùng làm “hạt nhân” cho việc chống phá ở trong nước. Theo dự định, Đài cùng đồng bọn mỗi năm “mở” từ 3 đến 4 lớp, mỗi lớp khoảng từ 5 đến 7 người. Nội dung “giảng dạy” được Đài và đồng bọn xác định: tập trung giảng dạy cái gọi là “lý luận về dân chủ hoá”, phương pháp lôi kéo, kích động quần chúng, phát triển lực lượng và cách thức phối hợp giữa số chống đối ở trong nước và bọn phản động lưu vong ở nước ngoài. Toàn bộ các nội dung “giảng dạy”, Đài giao cho một số nhân viên thuộc văn phòng luật sư Thiên Ân soạn thảo, đồng thời có sự “chỉ đạo” và “kiểm duyệt” trực tiếp của Nguyễn Đình Thắng-đối tượng phản động đang sống lưu vong ở nước ngoài-thông qua mạng internet.

Trong đơn tố cáo những hành động dụ dỗ, lôi kéo của Đài và đồng bọn, Đồng Thị G, sinh viên Trường cao đẳng Phát thanh-Truyền hình 1, gửi cơ quan chức năng đã viết: “Tháng 5-2006, tôi quen Phạm Văn Trội qua internet. Sau đó Trội giới thiệu tôi với Đài. Qua tiếp xúc với Đài, tôi thấy: Đó là một người hay “giảng giải” về dân chủ, nhân quyền; nói xấu chế độ XHCN. Đặc biệt, Đài dùng nhiều lời lẽ hứa hẹn về những chuyến đi học ngắn hạn và dài hạn ở nước ngoài có tài trợ cho sinh viên chúng tôi để nâng cao trình độ. Do nhận thức còn hạn chế, hơn nữa những tưởng lời nói của Đài là sự thật, tôi đã rủ thêm một số bạn đến văn phòng luật sư Thiên Ân. Những lần Đài “thảo luận”, “trao đổi” với chúng tôi thực chất là những buổi rao giảng, xuyên tạc tình hình dân chủ và nhân quyền ở Việt Nam”.

Để phục vụ cho mục đích của mình, Đài còn xúi giục một số sinh viên về các địa phương tìm thêm người, vào dịp cuối tuần, tập trung ở văn phòng luật sư Thiên Ân để “bàn thảo” những vấn đề liên quan đến “dân chủ và nhân quyền ở Việt Nam”. Hành động trên cho thấy, Đài và đồng bọn đã lợi dụng lòng tốt và sự nhiệt tình của một số sinh viên, bằng những lời hứa mỹ miều như: tài trợ đi du học ở nước ngoài; tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ; tạo cơ hội tìm việc làm ổn định, có thu nhập cao trong các tổ chức nước ngoài… để lôi kéo và tổ chức “đào tạo” ngay tại văn phòng luật sư Thiên Ân. Các hoạt động này có sự tham gia tích cực của Trần Thanh, Phan Sỹ Nguyên, Lê Thị Công Nhân và Vũ Quốc Dụng… Đối tượng mà Đài cùng đồng bọn “ưu tiên” tuyển chọn là các sinh viên ngành luật, truyền thông, báo chí. Kinh phí để Đài “mở lớp đào tạo” do một số nhóm phản động lưu vong ở nước ngoài hỗ trợ thông qua cái gọi là “Quỹ quốc gia hỗ trợ dân chủ”.

Chống phá, bôi nhọ để nhận tiền

Không chỉ tổ chức kích động, lôi kéo sinh viên và một số người nhẹ dạ, Đài còn nhiều lần “cử” nhân viên văn phòng luật sư Thiên Ân gồm: Trần Thanh, Phan Sỹ Nguyên, Nguyễn Xuân Đệ… đi các tỉnh thuộc Tây Bắc, Tây Nguyên, Nam Bộ gặp gỡ một số chức sắc, tín đồ Tin lành cực đoan thu thập “tài liệu” về những cái được chúng gọi là “bằng chứng Việt Nam đàn áp đạo Tin lành” chuyển cho Ngô Thị Hiền-một đối tượng phản động đang sống lưu vong ở nước ngoài và nhân viên một số đại sứ quán nước ngoài tại Hà Nội sử dụng vào mục đích tuyên truyền, chống phá Nhà nước Việt Nam. Từ các tài liệu mà Cơ quan an ninh thu được cho thấy, Đài khá hào phóng cho việc trả công cho những người đi thu thập “tin tức” hoặc cung cấp “thông tin”. Chỉ tính riêng việc chi trả cho Trần Thanh trong chuyến đi thụ tin ở các tỉnh phía Nam (từ 9 đến 16-11-2006), Đài đã chi hơn 6,3 triệu đồng. Đài cũng nhiều lần trả cho đối tượng có tên là Phùng Quang Lâm mỗi lần 500.000 đồng. Ngoài việc chỉ đạo và tổ chức cho nhân viên văn phòng luật sư Thiên Ân thu thập, tài liệu, móc nối với các phần tử phản động lưu vong, bản thân Đài có mối quan hệ thường xuyên với nhân viên một số đại sứ quán nước ngoài tại Hà Nội. Mọi thông tin mà Đài cho là có liên quan đến vi phạm “dân chủ, nhân quyền” ở Việt Nam đều được Đài cung cấp ngay cho số nhân viên đại sứ quán này.

Đài còn chỉ đạo các đối tượng như Bạch Ngọc Dương, Nguyễn Phương Anh, Phạm Văn Trội, Lê Thị Công Nhân và một số đối tượng khiếu kiện cực đoan thu thập thông tin, đơn, thư khiếu nại của quần chúng, phát tán lên mạng internet và chuyển cho các tổ chức phản động lưu vong người Việt sử dụng vào mục đích chống phá Nhà nước Việt Nam. Đài chi trả cho một số đối tượng khiếu kiện như: Dương Đại Dương, Nguyễn Thị Huần… mỗi lần “cung cấp” thông tin và phát tán thông tin lên mạng internet từ 200.000 đồng đến 300.000 đồng. Với tư cách “nhà lý luận”, trưởng văn phòng luật sư Thiên Ân Nguyễn Văn Đài đã trả lời phỏng vấn nhiều hãng tin nước ngoài, tham gia “hội thảo” trên mạng internet do bọn phản động lưu vong người Việt ở nước ngoài tổ chức. Nội dung các bài viết, trả lời phỏng vấn, tham gia “hội thảo” đều nhằm tuyên truyền xuyên tạc tình hình tự do, dân chủ ở Việt Nam; phê phán chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước ta; kêu gọi cộng đồng người Việt ở nước ngoài và người nước ngoài tẩy chay hàng hoá Việt Nam; kêu gọi không cho Việt Nam gia nhập WTO và hưởng quy chế thương mại bình thường vĩnh viễn với Hoa Kỳ, nếu “không cải thiện về nhân quyền và dân chủ”.

Để duy trì các “hoạt động” tuyên truyền chống phá Nhà nước, Đài thường xuyên nhận sự hỗ trợ về vật chất và lên dây cót về mặt tinh thần của bọn phản động lưu vong và các thế lực thù địch với Việt Nam từ nước ngoài. Đài được nhiều nhóm phản động lưu vong ở nước ngoài tâng bốc đánh giá rằng: “Hoàng Minh Chính chỉ là… viên gạch lát đường, cốt lõi sẽ là thành phần trẻ như Đài”. Đặc biệt, bọn chúng còn cho rằng: “Hoạt động của Đài nằm trong “kế hoạch rộng lớn của phía Tin lành…”. Chúng chỉ đạo Đài xây dựng cái gọi là “ủy ban nhân quyền”, hoạt động cả bề nổi lẫn bề chìm. Theo đó, những đối tượng đã lộ diện tiếp tục hoạt động công khai thách thức với chính quyền; phần chìm là thu thập thông tin, hình ảnh về cái gọi là “vi phạm nhân quyền và dân quyền” chuyển ra nước ngoài. Để thực hiện sự chỉ đạo trên, các tổ chức phản động tài trợ khá nhiều tiền cho các hoạt động chống đối của Đài.

Theo số liệu thống kê chưa đầy đủ, Đài đã nhận được hơn 60.000 USD tiền tài trợ của nhóm Phạm Nam Định và Nguyễn Đình Thắng. Đơn cử như Đài đã được Nguyễn Đình Thắng tài trợ 1819,39USD/tháng bao gồm: Lương của Đài: 700USD/tháng; lương cho nhân viên văn phòng luật sư Thiên Ân: 700 USD/tháng, thiết bị, chi phí văn phòng: 299,39USD/tháng; tài trợ học bổng cho 4 sinh viên luật tổng cộng 120USD/tháng… Sau khi bị bắt, tại Cơ quan An ninh, Đài thừa nhận: “Hằng tháng, trung bình “bên ngoài” gửi cho tôi hơn 1000 USD. Tôi giữ lại phục vụ mục đích tiêu xài cá nhân từ 600 đến 700 USD, số còn lại chi trả lương cho nhân viên văn phòng luật sư Thiên Ân và hỗ trợ một số hoạt động khác”.

Như vậy, trước đây, bọn phản động lưu vong tập trung tung hô Hoàng Minh Chính, coi đây là “con bài chiến lược”, người “đại diện” cho nền dân chủ và bảo vệ nhân quyền ở Việt Nam, thì nay, chúng lại tập trung cho Đài. Thực chất, chiêu bài này cho thấy khi cần, chúng sẵn sàng chi trả và hậu thuẫn ra vẻ hào phóng, nhưng khi không còn phát huy “tác dụng” Đài sẽ lại chỉ là “những viên gạch lát đường” mà thôi. Rõ ràng, Đài chỉ là con bài trong những toan tính vụ lợi của bọn phản động lưu vong. Căn cứ vào những chứng cứ mà cơ quan chức năng thu giữ cho thấy, phần lớn số tiền có được từ sự “tài trợ” của các tổ chức phản động lưu vong ở nước ngoài, Đài đã dành chi tiêu cá nhân. Việc chi trả lương cho các nhân viên của văn phòng luật sư Thiên Ân, cùng các khoản chi phí hỗ trợ cho các đối tượng khác chỉ chiếm một phần nhỏ.

“Buộc án, gán tội” để lừa gạt

Trong số đồng bọn của Nguyễn Văn Đài thì Trần Khải Thanh Thủy là một trong những trợ thủ đắc lực nhất. Ngày 21-4-2007, sau khi có đầy đủ chứng cứ về hành vi phạm tội tuyên truyền chống phá Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, theo điều 88-Bộ luật Hình sự, Công an thành phố Hà Nội đã ra lệnh bắt khẩn cấp đối với Trần Khải Thanh Thủy. Đúng thời điểm bị các chiến sĩ an ninh bắt giữ, Thủy đang phát tán 30 bài viết có nội dung chống Đảng, chống Nhà nước, xuyên tạc, vu cáo các cán bộ cao cấp của Đảng, Nhà nước ta. Thủy là đối tượng chuyên sử dụng “kỹ năng” của mình vào việc lừa gạt, vụ lợi. Những năm qua, đã có không ít người dân nhẹ dạ vô tình đã trở thành nạn nhân của nữ quái Trần Khải Thanh Thủy. Sinh năm 1960 tại Hà Tây, trú tại số 16, ngách 670/25 Ngô Gia Tự, phường Đức Giang, Long Biên, Hà Nội, Thủy đã từng là giáo viên, rồi phóng viên một số tờ báo, nhưng do thiếu đạo đức nghề nghiệp, vi phạm kỷ luật công tác nên đã bị các cơ quan kỷ luật và sa thải.

Sau nhiều lần bị kỷ luật và buộc thôi việc, Thuỷ đã bộc lộ tư tưởng bất mãn, tỏ thái độ đồng tình với một số cá nhân có quan điểm sai trái, đi ngược lại đường lối, chính sách của Đảng, lợi ích nhân dân. Thuỷ cấu kết với một số đối tượng như Hoàng Minh Chính, Nguyễn Thanh Giang, Hoàng Tiến, Dương Thu Hương… sưu tầm, phát tán nhiều tài liệu chống phá Nhà nước ta. Ngày 21-10-2002, Cơ quan An ninh đã bắt quả tang Thuỷ đang phát tán 90 trang tài liệu có nội dung phản động. Khám nhà đối tượng, Cơ quan An ninh còn phát hiện và thu giữ 89 đầu tài liệu gồm hơn 2500 trang đều mang nội dung phản động.

Mặc dù đã nhiều lần được cấp ủy, chính quyền địa phương và nhân dân gặp gỡ, giáo dục, răn đe, nhưng với bản chất ngông cuồng, ngoan cố, lại được sự tiếp tay, cổ vũ của các đối tượng phản động trong và ngoài nước, núp dưới danh nghĩa “nhà báo”, Thuỷ đã sử dụng nhiều bút danh khác nhau như: Nguyễn Thái Hoàng, Võ Quế Dương, Phạm Xuân Mai… để “soạn thảo” khoảng 190 bài viết có nội dung xuyên tạc tình hình kinh tế, chính trị, xã hội ở trong nước, vu cáo Việt Nam vi phạm dân chủ và nhân quyền phát tán lên mạng Internet và chuyển cho bọn phản động người Việt lưu vong. Để có được những “tư liệu” phục vụ cho mục đích của mình, Thuỷ đã mạo danh phóng viên báo Phụ nữ, lợi dụng sự cả tin, tính thật thà của một số người dân đang gặp phải những vướng mắc trong cuộc sống chưa được chính quyền cơ sở giải quyết kịp thời để lừa gạt họ cung cấp thông tin. Từ những thông tin thu được, Thuỷ viết bài bôi nhọ bản chất của chế độ xã hội ta. Trong đơn tố cáo, nhiều người dân cùng ký tên gửi Cơ quan An ninh viết: “… Do biết một số người có những vấn đề bức xúc chưa được chính quyền cơ sở giải quyết, nên khoảng đầu tháng 4-2005, một phụ nữ đến gặp chúng tôi và tự giới thiệu là “nhà văn, nhà báo” có tên là Trần Khải Thanh Thuỷ, ở Đức Giang, Gia Lâm, Hà Nội. Thuỷ còn cho chúng tôi số điện thoại, địa chỉ nhà riêng và mời bà con ai muốn viết bài kêu oan thì đến nhà riêng Thuỷ sẽ giúp. Chúng tôi nghĩ đây là “người tốt”, muốn giúp đỡ bà con, đâu ngờ, những bài Thủy viết, mỗi sự việc cụ thể mà chúng tôi cung cấp đều bị lợi dụng, để vu khống, bịa đặt, “buộc án, gán tội”. Trong các bài viết đó, Thuỷ dùng những câu từ phản động để nói xấu Đảng, Nhà nước ta. Nội dung các bài viết của Thuỷ hoàn toàn sai sự thật. Chúng tôi cho rằng, đó là hành vi vi phạm pháp luật Nhà nước Cộng hoà XHCN Việt Nam, phải nghiêm trị thích đáng. Cùng là phụ nữ Việt Nam, cùng nòi giống con Lạc cháu Hồng, nhưng Thuỷ táng tận lương tâm, lừa gạt bà con. Chúng tôi vô cùng phẫn nộ trước những hành vi sai trái của Thuỷ, đã lợi dụng sự đau khổ để vu khống, gán ghép, chà đạp nhân phẩm của chúng tôi…”.

Đặc biệt, Thuỷ đã lợi dụng danh nghĩa của nhiều người dân, viết bài xuyên tạc tình hình đất nước, phát tán lên mạng Internet, kích động người dân khiếu kiện, gây rối, biểu tình chống chính quyền để nhận tiền “tài trợ” của các tổ chức phản động lưu vong. Theo số liệu thống kê chưa đầy đủ, từ cuối năm 2005 đến khi bị bắt, Thuỷ đã nhận được 12.350 USD, 200EUR và 400 đô-la Ô-xtrây-li-a từ các cá nhân, tổ chức phản động người Việt lưu vong. Thuỷ luôn mồm rêu rao: Dùng số tiền trên để “hỗ trợ” cho một số người dân đi khiếu kiện và cung cấp “thông tin” cho các bài viết của mình, nhưng thực chất sử dụng phần lớn để tiêu xài cá nhân. Điều này cũng được thể hiện rõ trong đơn tố cáo mà nhiều người dân gửi đến Cơ quan An ninh: “… Chúng tôi được biết, sau mỗi lần “bán mình cho quỷ dữ”, Thủy kiếm được khá nhiều tiền. Trước khi “moi” tin từ chúng tôi, Thuỷ luôn nói: Nhận được tiền “tài trợ” sẽ hỗ trợ cho bà con đi khiếu kiện, đòi lại “công bằng” cho chính mình. Tuy nhiên, trên thực tế, chỉ có khoảng vài chục người được Thuỷ cho tiền, mỗi lần từ 50.000 đồng đến 100.000 đồng…”.

Được sự “cổ vũ”, kích động của các cá nhân, tổ chức phản động người Việt lưu vong, Thuỷ ngày càng hoạt động trắng trợn, bộc lộ rõ thái độ chống đối, phủ nhận những thành tựu đổi mới của đất nước do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo. Để trở thành kẻ “nổi tiếng”, Thủy còn ngang nhiên thách thức chính quyền bắt và xử lý. Thủy ảo tưởng rằng, càng bị cơ quan chức năng bắt và xử lý thì càng nhận được nhiều tiền từ các cá nhân, tổ chức phản động.

Không chỉ viết bài xuyên tạc tình hình đất nước, Thuỷ còn đứng ra thành lập cái gọi là “Hội dân oan Việt Nam”. Thực chất đây chỉ là cách để Thuỷ nhận được nhiều tiền từ các nhóm phản động, thu lợi cá nhân. Theo tài liệu mà Cơ quan An ninh thu được, Thuỷ đã nhận được 1.600USD và 400 đô-la Ô-xtrây-li-a tiền “tài trợ” của các cá nhân, tổ chức phản động gửi về nhằm “duy trì hoạt động” cái gọi là “Hội dân oan Việt Nam”. Để tránh sự phát hiện của Cơ quan An ninh, Thủy “đề nghị” các nhóm phản động gửi tiền về qua địa chỉ trung gian của một số người thân. Khi những người từng bị Thủy lừa gạt tỏ thái độ nghi ngờ, phản đối hành động ăn chặn, ngay lập tức bị Thuỷ lăng mạ, khủng bố, thậm chí đe dọa, hành hung. Ngay cả đối tượng cơ hội chính trị như Nguyễn Khắc Toàn cũng cho rằng: “Hội dân oan” của Thuỷ là “hội” ảo được thành lập để trục lợi cá nhân và đề nghị các cá nhân, tổ chức bên ngoài không tiếp tục gửi tiền cho Thủy…

Từ tháng 9-2006, Thủy còn “tích cực tham gia” các diễn đàn chống phá Nhà nước ta trên mạng Internet theo sự chỉ dẫn của Nguyễn Văn Đài. Hàng chục lần trả lời phỏng vấn các phương tiện thông tin của bọn phản động lưu vong và các thế lực thù địch bên ngoài, Thuỷ đều bộc lộ rõ quan điểm, tư tưởng chống đối, vu cáo Việt Nam đàn áp những người được chúng gọi là “nhà dân chủ” ở trong nước, kêu gọi tẩy chay cuộc bầu cử Đại biểu Quốc hội khóa XII. Điển hình là ngày 11-3-2007, trong khi một số đối tượng của cái gọi là “đảng Việt tân” và các tổ chức phản động lưu vong khác tổ chức biểu tình trước Đại sứ quán Việt Nam tại Ca-na-đa, Thuỷ đã điện thoại đến cổ vũ, kêu gọi người Việt ở nước ngoài “đoàn kết” với cái gọi là “phong trào dân chủ” ở trong nước để “lật đổ Đảng Cộng sản Việt Nam”, kêu gọi biểu tình, gây áp lực cao hơn nữa…

“Thiêu thân” mù quáng

Sinh ngày 23-7-1979 tại Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang, năm 2 tuổi Lê Thị Công Nhân không may phải chịu cảnh bố mẹ chia tay. Lên 5 tuổi, Nhân theo mẹ ra Hà Nội sinh sống. Mặc dù kinh tế gia đình lúc bấy giờ còn nhiều khó khăn, nhưng với ý chí và nghị lực, Nhân đã tu chí học hành và thi đỗ vào Trường đại học Luật Hà Nội. Ra trường năm 2001, Nhân tiếp tục theo học và được cấp bằng luật sư. Chỉ sau thời gian ngắn Nhân đã trở thành nữ thư ký của bộ phận quan hệ quốc tế thuộc Văn phòng Luật sư Hà Nội. Do chạy theo những ảo tưởng viển vông, cùng sự lôi kéo, dụ dỗ của Đài, Lê Thị Công Nhân đã trở thành phần tử nòng cốt, giúp sức đắc lực cho số đối tượng cầm đầu chống đối Nhà nước ta, đi ngược lại lợi ích dân tộc như Nguyễn Văn Lý (đối tượng lợi dụng tôn giáo ở Huế hoạt động vi phạm pháp luật, vừa bị TAND tỉnh Thừa Thiên-Huế tuyên phạt 8 năm tù giam) và Nguyễn Văn Đài.

Tài liệu của Cơ quan An ninh thu được cho thấy: Lê Thị Công Nhân là một trong những kẻ đầu tiên ký tên ủng hộ cái gọi là “Tuyên ngôn tự do dân chủ cho Việt Nam 2006” và tham gia “khối 8406” do Nguyễn Văn Lý cầm đầu. Tiếp đó, Nhân còn xin đăng ký gia nhập cái gọi là “Đảng thăng tiến Việt Nam” và xung phong làm người phát ngôn của đảng này. Trước khi cái gọi là “Đảng thăng tiến Việt Nam” được “công bố thành lập” trên mạng Internet, theo chỉ đạo của Nguyễn Văn Lý và Nguyễn Văn Đài, Nhân đã trực tiếp vào Huế gặp Nguyễn Phong, Nguyễn Bình Thành, Hoàng Thị Anh Đào để họp “thảo luận”, “chỉnh sửa” nội dung bản “dự thảo cương lĩnh tạm thời” và đưa ra “quyết định” tuyên bố công khai tổ chức này trên mạng Internet vào ngày 8-9-2006. Tại “cuộc họp” trên, nhóm phản động đã thống nhất phân công chính thức cho Lê Thị Công Nhân là “phát ngôn viên” của cái gọi là “Đảng thăng tiến Việt Nam”. Ngoài ra, thị còn tự nguyện tham gia cái gọi là “liên minh dân chủ nhân quyền Việt Nam” (tổ chức do bọn phản động lưu vong người Việt và các phần tử chống đối trong nước móc nối thành lập trên mạng Internet). Nhân cũng có tên trong “ban cố vấn” của cái gọi là “Hội oan dân Việt Nam” do Trần Khải Thanh Thủy đứng đầu.

Với vai trò của mình, bằng những kiến thức đã học được và ảo vọng viển vông, Nhân mù quáng lao vào các hoạt động chống phá Nhà nước Việt Nam XHCN. Cũng như Nguyễn Văn Đài, Nhân trực tiếp viết nhiều bài xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta; lôi kéo, dụ dỗ một số sinh viên và những kẻ khiếu kiện cực đoan để “phát triển lực lượng”; soạn thảo tài liệu và trực tiếp “giảng dạy” ngay tại văn phòng luật sư Thiên Ân. Từ tháng 12-2006 đến tháng 2-2007, Nhân cùng Đài đã lôi kéo một số thanh niên, sinh viên, trí thức trẻ và những người khiếu kiện nhiều lần tụ tập tại văn phòng luật sư Thiên Ân để tuyên truyền cái gọi là “giá trị tự do, dân chủ, nhân quyền” theo kiểu phương Tây, xuyên tạc, vu cáo Đảng, Nhà nước ta “đàn áp dân chủ, nhân quyền”; đòi “phải sớm thực hiện chế độ đa nguyên chính trị, đa đảng ở nước ta…”. Những hoạt động này thực chất là một bước cụ thể hóa cái gọi là “dự án thúc đẩy, gây men dân chủ” của bọn phản động lưu vong người Việt… Không dừng lại, Nhân còn thường xuyên liên lạc trực tuyến và trả lời phỏng vấn nhiều tờ báo điện tử, đài phát thanh có thái độ thù địch với Việt Nam ở nước ngoài; tập trung tuyên truyền mục tiêu, cương lĩnh, phương thức đấu tranh, điều lệ hoạt động của cái gọi là “Đảng thăng tiến Việt Nam”; cung cấp thông tin xuyên tạc tình hình đất nước; vu khống Nhà nước Việt Nam “vi phạm dân chủ, nhân quyền”, “đàn áp những người bất đồng chính kiến”. Nguy hiểm hơn, Nhân cùng đồng bọn dự định kêu gọi một số phần tử chống đối trong nước, thực hiện cái gọi là “Ngày toàn dân mặc áo trắng ủng hộ dân chủ” vào các ngày 1 và 15 hằng tháng; tẩy chay cuộc bầu cử Đại biểu Quốc hội khóa XII…

Ngày 3-2-2007, Lê Thị Công Nhân đã bị Cơ quan An ninh phát hiện và bắt quả tang khi đang tuyên truyền xuyên tạc tình hình đất nước cho một số thanh niên, sinh viên, tại văn phòng luật sư Thiên Ân. Tại Cơ quan An ninh, Nhân đã thừa nhận những việc làm vi phạm pháp luật theo sự chỉ đạo của Đài và các phần tử phản động người Việt lưu vong ở nước ngoài. Nhân đã mở lớp và trực tiếp đứng ra tuyên truyền về cái gọi là “giá trị tự do, dân chủ, nhân quyền” theo kiểu phương Tây tại văn phòng luật sư Thiên Ân. Hành động này của Nhân không ngoài mục đích đánh lừa những người nhẹ dạ, cả tin, lôi kéo họ vào những hoạt động chống phá Nhà nước.

Vạch rõ bộ mặt thật

Trước hành động trắng trợn xâm phạm lợi ích quốc gia, đi ngược lại lợi ích của cộng đồng dân tộc mà Nguyễn Văn Đài, Lê Thị Công Nhân và đồng bọn đã thực hiện, dư luận nhân dân hết sức phẫn nộ. Tối 8-2-2007, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phường Bách Khoa (quận Hai Bà Trưng, Hà Nội) và nhân dân trong phường đã tổ chức hội nghị nhân dân để đấu tranh với những quan điểm sai trái, những hành động có tính chất phản động của Nguyễn Văn Đài và đồng bọn. Hội nghị có sự tham dự của đại diện các đoàn thể chính trị-xã hội và đông đảo nhân dân trong phường. Theo ông Lý Văn Tiến, đại diện Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phường Bách Khoa và cũng là người chủ trì hội nghị, thì đây là một cuộc họp công khai, với mục đích rất rõ ràng, nhằm chỉ ra những hành động sai trái của Nguyễn Văn Đài, để Đài thấy được lỗi lầm của mình mà thành tâm hối cải. Thế nhưng, Đài đến hội nghị với thái độ hết sức ngạo mạn, tỏ ý coi thường những người có mặt. Trong khi đó nhiều người trong hội nghị đều đáng tuổi ông bà, tuổi cha mẹ của Đài.

Đã có hàng chục ý kiến phát biểu trong hội nghị, tập trung phân tích những hành động sai trái của Đài cùng đồng bọn như Lê Thị Công Nhân, Phạm Văn Trội, Nguyễn Phương Anh, Trần Khải Thanh Thuỷ… Nhưng tất cả những ý kiến nêu ra, Đài đều phủ nhận với thái độ thách thức, hỗn láo. Qua cuộc họp cũng cho thấy, nhân dân không hề mơ hồ trước âm mưu cơ hội chính trị và đều nhận rõ chân tướng của Đài và đồng bọn.

Chiều 18-4-2007, chúng tôi có mặt tại phường Bách Khoa và một lần nữa được chứng kiến thái độ bất bình của nhân dân trước hành động vi phạm pháp luật của Đài cùng đồng bọn. Bác Nguyễn Hồng Ba, trú tại tổ 12, cụm 3, phường Bách Khoa cho biết:

– Tôi đã ngoài 70 tuổi, Đài chỉ là bậc con cháu. Mặc dù không ở sát nhà Đài, nhưng tôi biết, Đài được sinh ra trong một gia đình cán bộ công chức, bố mẹ cũng đã có những cống hiến nhất định. Bản thân Đài được hưởng những thành quả mà Đảng, cách mạng đã mang lại. Lẽ ra với những gì được hưởng, Đài phải biết ơn, trân trọng và cống hiến sức lực, trí tuệ góp phần xây dựng đất nước. Nhưng ngược lại, Đài đã cấu kết với những phần tử xấu, có tư tưởng phản động, lợi dụng kêu gọi “thực hiện quyền dân chủ” để mưu toan phá hoại sự nghiệp cách mạng của Đảng, của nhân dân. Hành động này của Đài và những kẻ a dua không chỉ vi phạm pháp luật mà còn đi ngược lại lợi ích của dân tộc.

Trong các thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ cũng đã có không ít kẻ “liếm gót ngoại bang”, cam chịu làm tay sai cho đế quốc. Những tên “Việt gian” ấy đã bị nhân dân và pháp luật trừng trị thích đáng. Đó là bài học cho những kẻ như Đài cần phải thấu hiểu. Tuy nhiên, Đài và đồng bọn đã cố tình “đi theo vết xe đổ”. Chúng tôi không bao giờ tin những kẻ như Đài lại có đủ trình độ để “lãnh đạo” mấy cái “tổ chức” mà tự anh ta cùng những kẻ a dua nặn ra, chứ đừng nói là làm lợi cho dân, cho nước. Tôi nghĩ, Đài chỉ như một con rối trong tay những kẻ lưu vong, nhưng lại mang trong mình tham vọng đến mức ngông cuồng về mưu đồ chính trị. Những kẻ như Đài cần phải nghiêm trị bằng pháp luật, chứ không thể dừng ở mức giáo dục thuyết phục”.

Bác Lê Thị Hồng Hảo, trú tại nhà K9, cụm 7, phường Bách Khoa cũng tham dự hội nghị nhân dân phường tổ chức ngày 8-2-2007. Khi gặp chúng tôi, nhắc lại chuyện đó, bác vẫn chưa hết bất bình: “Tôi là một người dân trong phường, không có hiềm khích cá nhân gì với Đài. Vì thế trong hội nghị, tôi cũng như nhiều người khác đã phân tích cho Đài hiểu tính ưu việt của chế độ xã hội ta và quyền dân chủ mà Đảng, Nhà nước đã đem lại cho nhân dân, trong đó có cả gia đình Đài. Thế nhưng, thái độ của Đài trong hội nghị nhân dân hôm ấy là thái độ của một kẻ vô văn hoá, thậm chí là vô học. Đài vừa ngông cuồng, vừa cơ hội, không xứng đáng là thành viên của Hội luật sư Hà Nội nói riêng và các tổ chức khác của xã hội ta nói chung. Tôi cũng hiểu rằng, với mưu đồ đen tối và bản chất của một kẻ cơ hội như Đài cùng đồng bọn thì chúng không bao giờ nhận ra, hoặc là chúng sẽ cố tình không nhận ra những tiến bộ về dân chủ mà Đảng, Nhà nước ta đã và đang đem lại cho nhân dân. Đài đã lợi dụng một vài vụ việc mang tính đơn lẻ để quy kết thành những vấn đề mang tính tổng thể, rồi nói vống lên rằng “xã hội mất dân chủ, mất công bằng”.

Bác Hảo cũng như nhiều bà con khu dân cư cho rằng, việc Đài đã lừa phỉnh, dụ dỗ một số học sinh, sinh viên đến văn phòng của mình để truyền bá, tiêm nhiễm những quan điểm mang tính phản động là một hành vi nguy hiểm cần phải nghiêm trị. Việc cơ quan chức năng bắt giữ, khởi tố Đài và những kẻ tòng phạm như Lê Thị Công Nhân là việc làm đúng, được nhân dân rất ủng hộ. “Quốc có quốc pháp, gia có gia phong”, ở bất kỳ đất nước nào cũng thế, kẻ nào đi ngược lại lợi ích cộng đồng, lợi ích dân tộc thì nhất định phải bị nghiêm trị.

Trong cuộc trao đổi với chúng tôi, bác Võ Ngọc Tặng ở tổ 14, cụm 3, phường Bách Khoa cũng cho rằng: Hành động của Nguyễn Văn Đài cho thấy, hắn đã cấu kết khá chặt chẽ với những đối tượng có tư tưởng phản động trong và ngoài nước, để làm những việc có hại cho đất nước, nhân dân. Tôi cho rằng, khi nhận tiền tài trợ của nước ngoài, chắc chắn Đài cũng hiểu được những việc mình đang làm. Thế nhưng, một phần vì tham tiền, phần vì có những tham vọng chính trị ngông cuồng, nên ngày càng lún sâu vào con đường tội lỗi. Thật tiếc cho những người không nhận ra chân tướng của Đài, đã a dua theo hắn, xuyên tạc sự thật, phủ nhận thành quả mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã hy sinh bao xương máu mới xây đắp được.

Bác Lý Văn Tiến, người chủ trì hội nghị nhân dân ngày 8-2-2007 cho biết:

– Đài được nuôi ăn, học tử tế, lại được hưởng nhiều ưu ái mà xã hội, gia đình đem lại như tiêu chuẩn ưu tiên trong học tập, đi nước ngoài… Thế nhưng Đài đã không đền đáp những ưu ái ấy mà ngược lại, đã tráo trở “lấy ân làm oán”, tìm mọi phương cách nói xấu Đảng, chế độ, xuyên tạc, bôi nhọ sự thật. Xem xét hành vi của Đài, tôi thấy anh ta đã phạm tội một cách cố ý, thường xuyên, liên tục và có hệ thống. Không thể coi Đài là một kẻ “trẻ người non dạ”, bởi Đài đã gần 40 tuổi, hiểu cặn kẽ và làm chủ được những hành vi của mình. Những hành động của Đài như: tuyên truyền xuyên tạc, bôi xấu chế độ, lôi kéo, dụ dỗ người khác cùng phạm tội, cấu kết, móc nối với các tổ chức phản động trong và ngoài nước… đều đã được Đài tính toán kỹ lưỡng và còn hy vọng lên làm “thủ lĩnh”. Bản chất những hành động của Đài là cơ hội chính trị đã đến mức phản động, không thể áp dụng biện pháp giáo dục, xử lý thông thường mà phải nghiêm trị bằng pháp luật…

Trả giá và kết cục tất yếu

Sắp tới, Nguyễn Văn Đài và Lê Thị Công Nhân cùng đồng bọn sẽ bị đưa ra xét xử công khai trước pháp luật với bản án thích đáng dành cho những kẻ cố tình tuyên truyền chống phá Nhà nước Cộng hoà XHCN Việt Nam và lợi dụng quyền tự do dân chủ, xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích hợp pháp của công dân. Với những tham vọng ngông cuồng, lại được xúi bẩy, kích động từ những kẻ có dã tâm phản động, nên đầu óc chúng đã u mê, mờ mắt vì tiền bạc và ảo ảnh quyền lực. Nhà nước ta là nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Những kẻ xâm phạm lợi ích của Nhà nước cũng chính là chống lại lợi ích của nhân dân, tất yếu sẽ bị nhân dân lên án và pháp luật trừng trị. Đó là cái giá, là kết cục tất yếu mà những kẻ ngông cuồng, mù quáng, vị kỷ như Nguyễn Văn Đài, Lê Thị Công Nhân, Trần Khải Thanh Thủy… và đồng bọn phải gánh chịu.

Lê Ngọc Long và Trần Anh Tuấn
qdnd.vn

This entry was posted on Tháng Mười 8, 2012, in Chính luận.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hoá, văn nghệ

Bác Hồ tiếp đại biểu Hội Văn nghệ giải phóng miền Nam Việt Nam, năm 1966, tại Phủ Chủ tịch.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt chú ý đến vai trò của nghệ sĩ. Theo Người, trên mặt trận này, những người làm công tác văn hóa, văn nghệ phải thấm nhuần quan điểm: Nghệ thuật – vũ khí, nghệ sĩ – chiến sĩ. Muốn nghệ thuật trở thành vũ khí và người nghệ sĩ đồng thời là chiến sĩ thì người nghệ sĩ phải đi thực tế, phải “ba cùng” với nhân dân.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hoá, nghệ thuật được coi là một di sản phi vật thể quý báu của dân tộc Việt Nam. Thế giới suy tôn Người là danh nhân văn hóa bởi Người là một nhà văn hóa hành động theo đúng nghĩa “nếu văn hoá là nhu cầu của sự sinh tồn của loài người thì văn hoá ấy phải phục vụ cho chính con người”. Trong tư tưởng của Người, văn hoá được đề cập đến hết sức bình dị mà sâu sắc, bao hàm cả văn hoá vật chất và văn hoá tinh thần: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá. Văn hoá là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người sản sinh ra nhằm thích ứng nhu cầu của đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”.

Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, văn học, nghệ thuật là một trong những cách thể hiện đặc biệt và hiệu quả trên mặt trận văn hoá mà Người đề cập đến. Mặt trận văn hóa cũng như các mặt trận chính trị, quân sự, kinh tế… Xem văn hóa, nghệ thuật là một mặt trận nhằm nhấn mạnh đến tính chất quyết liệt của cuộc đấu tranh trên mặt trận này. Tuy không có tiếng súng, kẻ thù không trực tiếp, nhưng tính chất phức tạp và quyết liệt của mặt trận này đã được thực tiễn lịch sử chứng minh. Quan điểm này từng được Người phát biểu từ thời kỳ trước cách mạng và những năm đầu của cuộc kháng chiến.

Ngược dòng lịch sử, chúng ta thấy văn học, nghệ thuật là một thứ vũ khí đấu tranh có hiệu quả. Từ những câu ca dao, tục ngữ mang nội dung phản phong châm biếm, đả kích giai cấp thống trị đến các loại truyện cổ tích, truyện cười có nội dung đấu tranh xã hội cao. Những áng văn chương lớn trong văn học như “Bình Ngô đại cáo” của Nguyễn Trãi, “Truyền Kiều” của Nguyễn Du, thơ Hồ Xuân Hương, thơ Đồ Chiểu đều có giá trị về tư tưởng và có tinh thần đấu tranh mạnh mẽ. Nguyễn Đình Chiểu đã từng đề xướng quan điểm tiến bộ về văn học nghệ thuật: “Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm/ Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà”. Á Nam Trần Tuấn Khải cũng xem văn chương thực sự có khí phách và linh hồn khi gắn với hồn thiêng đất nước: “Đời không duyên nợ thà không sống/ Văn có non sông mới có hồn”. Năm Đinh Mão 1927, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết cuốn “Đường cách mệnh”. Thông qua tác phẩm, Người muốn thay đổi quan niệm phong kiến trước đây bằng cách tạo ra một thế giới quan mới cho thế hệ thanh niên yêu nước. Đó là thế giới quan hiện thực về người chiến sĩ cách mạng có tư cách, dũng khí, có phẩm chất đạo đức cần thiết với mình, với người và với công việc, có tinh thần quốc tế trong sáng. Bác viết tác phẩm này với mục đích thiết thực: Sách này chỉ ước ao sao đồng bào xem rồi thì nghĩ lại, nghĩ rồi thì tỉnh dậy, tỉnh rồi thì đứng lên đoàn kết với nhau mà làm cách mệnh. Còn trong bài thơ “Cảm tưởng đọc Thiên gia thi”, Người cũng khẳng định: “Nay ở trong thơ nên có thép/ Nhà thơ cũng phải biết xung phong”. Chất thép là tính chiến đấu, là nội dung đấu tranh xã hội của thơ ca. Đây có thể được coi là tuyên ngôn nghệ thuật của Người và đó cũng là đường lối văn hóa văn nghệ của Đảng. Đề cương văn hóa Việt Nam năm 1943 cũng nhấn mạnh tính chiến đấu của văn hóa, văn nghệ trên lập trường giai cấp vô sản theo phương châm “dân tộc, khoa học và đại chúng”.

Trong Thư gửi các họa sĩ nhân dịp triển lãm hội họa năm 1951, Người căn dặn: “Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận. Anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy. Cũng như các chiến sĩ khác, chiến sĩ nghệ thuật có nhiệm vụ nhất định, tức là phụng sự kháng chiến, phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân, trước hết là công, nông, binh… Văn hóa, nghệ thuật cũng như mọi hoạt động khác không thể đứng ngoài, mà phải ở trong kinh tế và chính trị”.

Quan điểm “văn học, nghệ thuật cũng là một mặt trận” thấm sâu trong nhận thức của các nhà văn, nhà thơ đi theo Đảng suốt những năm tháng kháng chiến cũng như những năm xây dựng chủ nghĩa xã hội. Nhà thơ Sóng Hồng đã lên tiếng khẳng định: “Dùng bút làm đòn chuyển xoay chế độ/ Mỗi vần thơ bom đạn phá cường quyền”. Nhà thơ Tố Hữu bộc lộ quan điểm nhân sinh và nghệ thuật của mình qua bài thơ “Từ ấy”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt chú ý đến vai trò của nghệ sĩ. Theo Người, trên mặt trận này, những người làm công tác văn hóa văn nghệ phải thấm nhuần quan điểm: Nghệ thuật – vũ khí, nghệ sĩ – chiến sĩ. Muốn nghệ thuật trở thành vũ khí và người nghệ sĩ đồng thời là chiến sĩ thì người nghệ sĩ phải đi thực tế, phải “ba cùng” với nhân dân. Đây cũng chính là quan điểm của Người trong thư gửi các họa sĩ trong năm Tân Mão 1951: “Về sáng tác, thì cần hiểu thấu, liên hệ và đi sâu vào đời sống của nhân dân. Như thế mới bày tỏ được tinh thần anh dũng và kiên quyết của quân và dân ta, đồng thời để giúp phát triển và nâng cao cho tinh thần ấy”. Có thể thấy, Bác quan tâm đến hầu hết các vấn đề của văn nghệ: từ chức năng, tính chất của nghệ thuật đến vai trò của văn nghệ, từ nguồn gốc của nghệ thuật đến đối tượng phục vụ, phạm vi phản ánh; mối quan hệ giữa nghệ sĩ, tác phẩm và công chúng; sự thống nhất giữa nội dung và hình thức của tác phẩm; mối quan hệ giữa truyền thống và hiện đại, dân tộc và quốc tế, chính trị và văn học, tư tưởng và nghệ thuật, tự do sáng tạo và những nguyên tắc cần tôn trọng; từ mối quan hệ giữa bảo tồn và phát triển, phổ cập và nâng cao đến làm thế nào cho tác phẩm có tính hấp dẫn, có sức cuốn hút thông qua cách viết, cách thể hiện…

Trong bài phát biểu tai Hội nghị cán bộ văn hóa năm 1958, Người thân mật căn dặn anh chị em rằng: “Cơ quan trong Bộ Văn hoá, các cơ quan các ngành, các ty văn hoá thì cần xuống nông thôn, vào nhà máy, vào bộ đội nhiều hơn nữa, mà đi vào như thế thì phải cùng làm, cùng ăn, cùng ở với nhân dân. Chứ nếu đi xuống nông thôn mà lại lao động phất phơ, ở riêng thì cảm thông sao cho được, gần gũi sao cho được với công nông, với bộ đội. Muốn thật sự gần gũi quần chúng thì phải cùng ăn, cùng ở, cùng làm, mới biết sinh hoạt của quần chúng như thế nào, mới biết khó khăn, biết chí khí của quần chúng như thế nào, mới biết nguyện vọng của quần chúng như thế nào”.

Học tập và làm theo lời Bác dạy, trong đời sống văn nghệ đã hình thành lớp lớp nhà văn chiến sĩ, những nhà văn hăng hái tham gia vào sự nghiệp cách mạng, dùng ngòi bút của mình phục vụ cho cách mạng một cách tận tụy, hết mình. Nhiều nhà văn trong kháng chiến chống Pháp đã lăn lộn ở chiến trường, tham gia các chiến dịch Thu đông, Việt Bắc, Biên giới, Điện Biên Phủ… Trong số đó có nhiều người đã hi sinh anh dũng như các nhà văn – chiến sĩ Nam Cao, Trần Đăng, Trần Mai Ninh… Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, hàng chục ngàn văn nghệ sĩ đã “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước” đến với tiền tuyến lớn và có những đóng góp quan trọng cho sự nghiệp thống nhất nước nhà, như các nhà văn Anh Đức, Nguyễn Thi, Nguyễn Sáng, Phan Tứ, Nguyễn Trung Thành, Trần Hiếu Minh, Lê Anh Xuân, Dương Thị Xuân Quý v.v. trong số họ có nhiều người đã ngã xuống trong cuộc chiến dành lại độc lập, tự do cho non sông, đất nước.

Lời dạy văn nghệ sỹ của Bác Hồ nhằm nâng cao tinh thần cảnh giác, mài sắc ý chí chiến đấu cho những người cầm bút bởi kẻ thù luôn tìm cách tiến công trên mặt trận văn hóa, gieo rắc nọc độc tư tưởng, làm lung lay tinh thần chúng ta trên mặt trận không có tiếng súng này. Với tư cách là người đặt nền móng cho nền văn nghệ cách mạng, Bác Hồ kính yêu đã có công gây dựng một nền văn nghệ mới, đồng thời có những lời chỉ bảo tận tình, cần thiết cho đội ngũ những người làm công tác văn hóa văn nghệ, đặc biệt là các anh chị em nghệ sĩ. Tư tưởng đó của Người chính là ánh sáng soi đường cho sự phát triển của nền văn hóa nghệ thuật của nước ta. Hơn 60 năm trôi qua, nhưng đội ngũ văn nghệ sĩ chúng ta vẫn luôn khắc nhớ, đinh ninh lời Bắc căn dặn ngày nào: “Văn hóa, văn nghệ cũng như mọi hoạt động khác, không thể ở ngoài, mà phải ở trong kinh tế và chính trị”; “Văn hóa, nghệ thuật cũng là một mặt trận. Anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy”…

Nguyễn Thị Thọ
Trường CĐSP, 123 Nguyễn Huệ, TP. Huế.
qdnd.vn

————————

Tài liệu tham khảo:
1. Vì độc lập tự do, vì chủ nghĩa xã hội, NXB Sự thật, H.1970
2. Danh nhân Hồ Chí Minh, NXB Lao động, H.2000.

Cả nhà cùng học theo Bác

Đến xã Quỳnh Thạch (Quỳnh Lưu), hỏi nhà thầy giáo Đậu Xuân Tiêu, từ em bé cho đến cụ già đều nhiệt tình dẫn đường, ai cũng nói “Nhà thầy Tiêu có thư viện sách và ảnh về Bác Hồ, cả xã ai cũng biết”.

Học Bác ngay từ khi còn nhỏ

Năm 1930, do quá nghèo khổ, gia đình cậu bé Tiêu phải bỏ làng ra đi. Để cầm cự, người mẹ đã phải nhai châu chấu nuôi con. Nhờ có cách mạng, có Đảng và Bác Hồ, cuộc đời của gia đình cậu bé Tiêu đã bước sang trang mới. Với những gì người mẹ kể lại, hình ảnh Bác Hồ trở thành ông Tiên trong suy nghĩ của cậu bé Tiêu. Theo lời dạy của Bác “tuổi nhỏ làm việc nhỏ”, “diệt giặc đói và giặc dốt”, ngoài việc giúp mẹ công việc đồng áng, cậu bé Tiêu còn ra sức thi đua học tập với các bạn cùng trang lứa.

Nhờ chăm chỉ học hành, năm 1954, Đậu Xuân Tiêu được cử đi học tại khu học xá Trung ương ở Nam Ninh (Quảng Tây – Trung Quốc). Trở về nước, theo tiếng gọi của Đảng, chàng trai trẻ xứ Nghệ xung phong lên huyện miền núi Lục Ngạn (Bắc Giang) để đem cái chữ đến cho những người nghèo. Lương của một thầy giáo mới ra trường không cao, nhưng hàng tháng thầy Tiêu vẫn dành một khoản tiền để xuống tận hiệu sách huyện tìm mua các loại sách báo. Qua sách báo, nghe đài, thầy giáo trẻ Đậu Xuân Tiêu càng khâm phục tài năng, đức độ, lòng yêu nước, thương dân của Bác và từ đó anh sưu tầm các bài viết, tranh ảnh về Bác để cất giữ làm tài liệu nghiên cứu và giảng dạy. Cảm mến đức tính đó của “thầy đồ Nghệ”, cô gái xứ Kinh Bắc Nguyễn Thị Dinh đã kết tóc se duyên và trở thành “người giúp việc tận tụy” cho thầy Tiêu trong việc sưu tầm, lưu giữ các tài liệu về Bác Hồ.

Lập thư viện cho mọi người cùng học

Năm 1971, về dạy học tại huyện nhà, từ tủ sách, báo của mình, thầy Tiêu đã dành hẳn một gian nhà để hình thành nên thư viện “Sách và ảnh về Bác Hồ” phục vụ các bạn đồng nghiệp, các em học sinh và hàng xóm láng giềng. Theo thầy Tiêu thì đây là gia tài quý nhất mà ông đã tích cóp từ thời trai trẻ với hàng nghìn tờ báo, hàng trăm quyển sách, tài liệu quý và trên 400 bức ảnh về Bác Hồ được xuất bản trong và ngoài nước qua các thời kỳ như: Bài Điếu văn của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô, ảnh Bác Hồ đăng trên Tờ Họa báo Liên Xô năm 1969, tập hợp các bài báo của Bác Hồ đăng trên Báo Nhân Dân… Tất cả các tư liệu, hình ảnh đều đã úa màu thời gian nhưng được sắp xếp rất ngăn nắp và khoa học theo từng thể loại, từng thời kỳ, rất dễ cho người đọc lựa chọn.

hoc theo Bac 1
Bức ảnh Lời Điếu văn của Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô
đăng trên họa báo Liên Xô khi Bác mất, được thầy Tiêu lưu giữ cẩn thận.

Thầy Tiêu tâm sự: “Họ đi nước ngoài thường mua cái nọ, cái kia, nhưng tôi thì mang về toàn sách là sách, trong đó có rất nhiều bài báo, tranh ảnh viết về Bác. Tôi rất thích đọc sách, báo, nhất là các tác phẩm của Bác Hồ. Cuốn “Nhật ký trong tù” của Bác tôi thuộc từ lúc còn trẻ. Thấm thía những lời dạy của Bác, tôi càng nghĩ càng thấy hay và mong muốn chia sẻ với mọi người, trước hết là truyền thụ cho học sinh, đó cũng là lý do mà tôi lập nên thư viện này”.

Thấm vào nếp sống thường ngày

Tâm đắc với lời dạy của Bác: Có đạo đức cách mạng thì trong hoàn cảnh nào cũng kiên quyết đấu tranh, chống mọi kẻ thù; ra sức học tập, cải tiến công tác. Có lần thấy những sai phạm trong công tác giáo dục ở huyện nhà, thầy Tiêu đã viết bài đăng báo phản ánh. Mặc dù bị trù dập nhưng ông vẫn đấu tranh và tìm ra lẽ phải để cuối cùng đã chấn chỉnh được tình trạng đó. Trong những năm tháng dạy học, từ những lời dạy của Bác, vợ chồng thầy Tiêu đã ra sức thi đua “dạy tốt, học tốt”, những bài giảng văn của thầy Tiêu được các đồng nghiệp nhận xét là “làm sống dậy từng con chữ, từng nhân vật”.

Học tập tinh thần “tăng gia sản xuất” của Bác, tuy làm nghề giáo nhưng thầy Tiêu vẫn là một “gương làm kinh tế giỏi”. Để có đồng ra, đồng vào nuôi con ăn học, trước đây, vợ chồng thầy còn tranh thủ nuôi thêm bò, hươu, đào ao nuôi cá, trồng rau, những khoản này cho thu nhập mỗi năm hàng trăm triệu đồng.

Từ tấm gương, sự chỉ bảo của bố mẹ, 4 người con của thầy Tiêu (2 trai, 2 gái) đều học tập và làm theo lời Bác từ những việc nhỏ hàng ngày. Đến nay, họ đều trở thành những công dân có ích cho đất nước. Vợ chồng anh con trai đầu đều tốt nghiệp thạc sỹ ở nước ngoài, hiện là Trung tá đang công tác ở Bộ Quốc phòng, người con trai thứ hai là Hiệu trưởng Trường cấp 1 Quỳnh Thắng. Hai cô con gái, một người là Hiệu phó Trường cấp 1, một người là giáo viên dạy văn cấp 2. Các cháu nội ngoại mỗi lúc rảnh rỗi đều về “thư viện” để được nghe ông kể chuyện về Bác Hồ.

Về hưu, có thời gian, thầy Tiêu theo dõi khá kỹ tình hình thời sự trong nước và quốc tế cũng như đời sống của người dân trong tỉnh. Từ những kiến thức học được qua sách báo, thầy đã dành thời gian nghiên cứu kỹ các văn kiện từ tỉnh đến Trung ương rồi viết thư góp ý. Nhiều ý kiến đóng góp của thầy Tiêu đã được Đảng, Nhà nước ghi nhận. Về lĩnh vực giáo dục, ông cũng nhiều lần gửi thư đóng góp ý kiến. Trong thư Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Nghệ An gửi ông ngày 4/12/1996, có đoạn viết: “Thay mặt lãnh đạo ngành xin chân thành cảm ơn những ý kiến tâm huyết góp ý xây dựng Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII và xin ghi nhận những ý kiến đó trong việc chỉ đạo sự nghiệp Giáo dục và Đào tạo trên địa bàn tỉnh, đồng thời báo cáo lên cấp trên tham khảo. Chúng tôi kính mong ông với kinh nghiệm đã tích lũy được đóng góp thêm nhiều ý kiến, góp phần đưa sự nghiệp Giáo dục và Đào tạo có thêm những bước phát triển mới đáp ứng sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa”.

Đến nay thầy Tiêu đã có hẳn một quyển sách dày trên 200 trang A4 lưu giữ 63 bài viết, góp ý cho các cấp từ huyện đến Trung ương về những vấn đề xã hội, những ý kiến phê bình khuyết điểm của các cấp. Thầy Tiêu cho biết, đó cũng là một cách để xây dựng đất nước, bảo vệ thành quả cách mạng của Đảng, của Bác Hồ.

Năm nay thầy giáo Tiêu đã bước sang tuổi 84, nhưng mỗi sáng mai, trước bàn thờ gia tiên có đặt tượng Bác Hồ ở vị trí trang trọng, hai bên treo những lời dạy của Bác, thầy Tiêu lại cùng con cháu bật tivi làm lễ chào cờ (lễ chào cờ vào lúc 6 giờ sáng hàng ngày được phát trên VTV1), để được ngắm lá cờ Tổ quốc tung bay trên Quảng trường Ba Đình – nơi Bác Hồ đọc Bản Tuyên ngôn Độc lập.

Có người nói: Thầy Tiêu làm như vậy là lẩm cẩm, nhưng với thầy, tấm gương đạo đức của Bác, những báu vật mà thầy gom góp lưu giữ và truyền bá, phổ biến hàng chục năm nay, cả việc chào cờ, tưởng niệm Bác mỗi buổi sáng đã thấm vào máu thịt, trở thành nếp sống như cơm ăn, nước uống thường ngày.

Tạm biệt quê hương Quỳnh Thạch, tôi thầm nghĩ, tấm gương học tập và làm theo đạo đức của Bác Hồ của thầy Tiêu còn ít người biết đến, như là ngọc ở trong đá vậy!

Đức Dũng
Theo http://baonghean.vn
Thu Hiền (st)

bqllang.gov.vn

Bình đẳng (1-6-1922)

Để che đậy sự xấu xa của chế độ bóc lột giết người, chủ nghĩa tư bản thực dân luôn luôn điểm trang cho cái huy chương mục nát của nó bằng những châm ngôn lý tưởng: Bác ái, Bình đẳng, v.v..

Nhưng, hãy xem tay chiến sĩ về bình đẳng ấy đã thực hiện bình đẳng như thế nào.

Cùng làm một việc trong cùng một xưởng, người thợ da trắng vẫn được trả lương hậu hơn nhiều so với bạn đồng nghiệp khác màu da.

Trong các công sở, những người bản xứ mặc dầu đã làm việc lâu nǎm và mặc dầu rất thành thạo công việc, vẫn chỉ lĩnh một khoản tiền công chết đói, trong khi một người da trắng mới được vào, làm công việc ít hơn, thì lại lĩnh lương bổng nhiều hơn.

Có những thanh niên bản xứ đã học qua các trường đại học của chính quốc và đậu bằng tiến sĩ y khoa hoặc luật khoa, vẫn không thể làm được nghề nghiệp của mình trong nước mình nếu họ không vào quốc tịch Pháp. (Mọi người đã biết, một người bản xứ muốn được vào quốc tịch Pháp như vậy thì khó khǎn và nhục nhã như thế nào rồi).

Phải bỏ ruộng nương và nhà cửa đǎng vào lính “tình nguyện”, những người dân bản xứ ra lính đã được nếm mùi ngay ý nghĩa mỹ miều của cái thứ “công bằng” quái gở mà họ đang phải bảo vệ này.

Cùng một cấp bậc, nhưng người da trắng gần như bao giờ cũng được xem là cấp trên của người bản xứ. Người sĩ quan bản xứ phải chào và tuân lệnh sĩ quan da trắng. Cái chế độ đẳng cấp phân biệt “nhân chủng – quân sự” ấy lại còn rõ rệt hơn nữa khi những người lính da trắng và lính khác màu da cùng đi chung trên một chuyến xe lửa hoặc tầu thuỷ. Ví dụ như việc mới nhất gần đây:

Hồi tháng nǎm, chiếc tàu Ligiê chở 600 lính người Mangát từ Pháp sang Mađagátxca. Các hạ sĩ quan người bản xứ thì chen chúc dưới hầm tàu, còn đồng nghiệp của họ, những hạ sĩ quan da trắng, thì được đường hoàng nằm trong các buồng dành riêng.

Hẳn những người anh em khác màu da chúng ta, nóng sôi lên vì các nồi súpde nếu không phải vì lý tưởng, và tỉnh dậy vì tiếng động ầm ầm của chân vịt quay hay vì tiếng gọi của lương tri, có thể suy nghĩ và hiểu rằng cái chủ nghĩa tư bản tốt đẹp kia vẫn coi họ và bao giờ cũng chỉ coi họ như những kẻ ôlô malôtô (1) mà thôi.

N.A.Q

Báo L’Humanité, ngày 1-6-1922.
cpv.org.vn

———————————

(1) Ngay sau khi Nguyễn Ái Quốc gửi bản Yêu sách của nhân dân An Nam tới trưởng đoàn các nước dự Hội nghị Vécxây, bọn bồi bút thực dân lồng lộn. Trên tờ Courrier Colonial ra ngày 27-6 có một bài nhan đề Giờ phút nghiêm trọng chỉ trích bản yêu sách : Làm sao một người dân thuộc địa lại có thể dùng bản yêu sách của nhân dân để công kích Chính phủ Pháp. Thật là quá quắt. Cứ theo đà này thì bọn dân thuộc địa sẽ lên ngang hàng với người Pháp chúng ta và sớm trở thành ông chủ của chúng ta. Không được, phải kìm giữ chúng mãi mãi trong vòng nô lệ. Nguyễn Ái Quốc viết bài này là để trả lời bài báo sặc mùi thực dân trên.

Lời than vãn của Bà Trưng Trắc (24-6-1922)

Quốc vương nước Nam sắp làm “khách của nước Pháp”. Gọi là có lời chào mừng tí ti, chúng tôi kính dâng ngài giấc mộng này của đồng chí Nguyễn ái Quốc của chúng tôi, người bầy tôi trung thành của ngài.

Đêm tối quằn quại dưới làn mưa nhỏ hạt dầm dề. Mảnh trăng vàng vọt cố bíu trên những mái lều tranh. Cây đẫm ướt đầm đìa nước mắt tuôn rơi. Gió thổi qua những cụm lá mệt mỏi va nhau thành tiếng kinh rợn. Cành cây vặn vẹo như những cánh tay ma quái, và những đám nước bị từng cơn gió đột ngột quất, cứ nức nở. Cảnh vật nước Nam, lồng trong cây cỏ um tùm, vốn tươi vui và thơ mộng thế dưới ánh trăng, nay buồn thảm lạ lùng. Cơn hấp hối đang chơi vơi khắp. Tai ương lảng vảng đâu đây.

ánh sáng lừ đừ của những cây nến thơm chấp chới đầu ngọn bấc cong queo, hắt lên những cây cột sơn mài nhẵn bóng trong cung điện những bóng đen lung lay và những con mắt hấp háy. Bọn quan hoạn lim dim uể oải trên chiếc chiếu trải dưới đất ở một góc nhà. Như cảm thấy được có im lặng đang bò lê.

Trống canh vừa điểm ba tiếng. Tùng, tùng, tùng! Các anh là người phương Tây, các anh chẳng hiểu thế là thế nào cả, hử? Tùng, tùng, tùng! Nhân nó lên năm thế là ba giờ của các anh đấy. Đây là thời khắc ban đêm lúc lương tri cất cao tiếng. Lúc các đống mả khạc ra những kẻ nằm bên trong, họ lìa khỏi những tấm liệm he hé mở, để ra ngoài đi dò đi dẫm, cất lên tiếng rú hoan lạc. Lúc đầu óc con người đầy rẫy những bóng hình, mộng mị. Tùng, tùng, tùng! Nhân nó lên ba, thì ấy là con số chín, con số tận cùng trong những con số chẳng thể chia cũng chẳng thể nhân, mà theo vua Phục Hi thì nó biểu hiện sự suy đốn của một sinh linh được coi như cùng tột (dương cửu) (1) .

Đó chính là lúc Thiên tử nằm mơ. Ngài mơ thấy những con rồng chạm trên tủ, bàn bỗng biến động, hoá thành những con rắn gớm ghiếc, mở thao láo những con mắt đỏ ngầu tia máu. Còn những con phụng hoàng (2) , giống chim tượng trưng cho uy quyền vua chúa, thì vươn chiếc cổ dài ngoẵng tua tủa lông, quệt mỏ xoè cánh, y hệt đám gà trống cáu kỉnh, đáng ghét. Mọi vật bằng ngọc thạch, bằng châu báu, đều xỉn đi, xám xịt lại. Tất cả cứ từ từ quay tròn, và tan dần, tan dần. Rồi một bóng ma trùm khăn, trăng trắng hiện lên. Nhà vua kinh hoàng run lên lập cập, vì không phải vua chúa nào cũng đều can đảm như Hămlét (3) , và thông minh như thế thì lại càng không. Ngài muốn kéo chiếu che mặt mà không được.

Đường bệ và giận dữ, bóng ma nói với vị chủ hoàng cung thế này:

– Mi có nhận ra ta không, đứa con khốn khổ kia ơi! Ta là một trong những người khai sáng nước Nam tươi đẹp này đây. Ta là Trưng Trắc, năm 39 (1) đã cùng em gái ta là Trưng Nhị và đồng bào đánh đuổi bọn xâm lăng, trả thù chồng, giải thoát quê hương. Đừng có run lên như thế, con ơi! Mà phải lắng nghe lấy lời mẹ bảo! Chẳng hay mi có biết rằng, theo tập tục nghìn năm của nước Nam ta xưa cũ thì Hoàng đế là chịu mệnh trời để trị dân, vì thế mà được coi là con của trời, cha mẹ của dân?

“Vua muốn xứng với lòng trời và làm tròn nhiệm vụ chí tôn của mình thì phải chịu khổ trước dân và chia sướng sau dân. Vua phải tuân lệnh trời, mà tiếng dân chính là truyền lại ý trời. Bằng không thì ấy là trời đoạn tuyệt, tổ tiên từ bỏ, nhân dân ruồng rẫy.

“Giở sử đất nước ra mà xem, mi sẽ thấy tổ tiên đã treo bao tấm gương đạo đức và dũng cảm, chí khí và tự tôn. Lý Bôn (544) (2), với một nhúm nghĩa sĩ, đã nổi dậy và bẻ gãy ách đô hộ của Hán tộc. Ngô Quyền (938) đã phá tan đạo quân nước ngoài kéo vào đánh chiếm đất đai Tổ quốc ta.

“Dân ta sống trong hạnh phúc và thịnh vượng dưới triều nhà Đinh. Năm 980 (3) , Lê Đại Hành đã dũng cảm không chịu khuất phục trước yêu sách của láng giềng hùng mạnh hơn mình gấp bội, ông đã đánh thắng địch, giết chết tướng địch. Do đó đã giải thoát được đồng bào khỏi nạn nô dịch.

“Quân Mông Cổ đi đến đâu phá sạch đấy, đã bị nhà Trần vẻ vang của chúng ta đánh bại (1225) (4) . Lê Lợi đã hùng dũng đứng ra lãnh đạo cuộc cách mạng nước Nam, đập tan chế độ tàn bạo và hạch sách mà những kẻ tự xưng là bảo hộ ta bắt ta chịu.

…..

“Thật là nhục nhã thậm tệ, thật là chán ngán ghê gớm, thật là cay đắng ê chề xiết bao cho các vị, nếu từ những tầng mây, tổ tiên mi phải trông thấy dân tộc mà các vị đã giành được tự do nay chịu phận nô lệ, đất nước đã được các vị giải thoát nay lâm vào cảnh nô dịch, kẻ kế tục ngai vàng của các vị nay sống trong ươn hèn.

“Mặc dầu lễ nghi không cho phép các vị nguyên thủ nước ta rời khỏi cung cấm, thế nhưng chúng ta vẫn phải đau buồn nhận thấy rằng vẫn có những bậc quân trưởng phải lưu vong.

“Năm 1407 (1) , Tầu (phong kiến) đánh nhau với ta; nhờ ý chí độc lập và lòng khát khao tự do hơn là nhờ quân đông sức mạnh, nước Nam đã thắng. Chinh chiến lúc đó thế là lại bắt đầu. Giặc biết rằng không khuất phục được ta bằng uy lực, đã dùng chiến tranh hao mòn. Trần Đế Quỹ đã lãnh đạo dân Nam đoạt được thắng lợi, sau thấy dân cùng kiệt, đói khát, máu đổ xương rơi. Ông biết rằng giặc chỉ muốn hại mình ông, và chúng bắt được ông rồi thì dân Nam sẽ được yên ổn. Vì vậy ông ra nộp mình; ông nộp mình để dân ông đỡ hao tổn sinh linh, xương máu. Bị cầm tù giải đi, ông nhảy xuống sông tự tử. Ông thà chết vinh chứ không sống nhục. Ngày nay, mỗi buổi mặt trời mọc lên lặn xuống, muôn nghìn ánh hào quang vàng óng quây trên dòng sông trong nước bạc long lanh, tạo nên đài kỷ niệm vĩnh cửu cho linh hồn bất diệt của con người chiến bại vĩ đại đó…

“Tiếp đó là Hàm Nghi, Thành Thái và Duy Tân – người ở ngôi ngay trước mi. Chính những kẻ xưng xưng là tôn trọng phong tục, luật lệ nước ta đã đày ải ba vị và mai đây sẽ dùng mi làm món đồ rao hàng thuộc địa, cổ động đế quốc. Có thấy không, con! Chẳng thể bao giờ trong niên giám nước mi lại có một vua Nam nào chịu làm tôi tớ đến như mi, lại có một cuộc ngự giá tuần du nào thảm hại đến mức này. Trước đây, mi đã từng phạm tội báng bổ là bệ lên bàn thờ linh thiêng của ông vải hình ảnh ghê tởm của thằng da trắng ngái ngủ và bụng phệ nọ, nó sặc lên mùi tỏi, ớn mùi thây ma. Tại sao, ừ, tại sao mi lại làm thế? Nay mi lại sắp lẩn xa tôn miếu. Tay mi sẽ không thắp hương vào những tiết đầu xuân, đầu thu nữa. Mi sẽ không tự tay mở hương án dâng hoa quả đầu mùa và cúng cơm mới nữa. Vẫn hay, con ạ! rằng tất cả những cái ấy chẳng qua đều là nghi lễ cổ hủ ! nhưng mi cũng thừa biết rằng chỉ còn độc nghĩa vụ đó là mi còn làm được với tổ tiên và mi cũng chỉ còn độc cái uy tín đó mà thôi trước mắt thần dân.

“Giờ thì mi lại sắp làm tệ hại hơn nữa. Mi sắp ca ngợi công đức của những đứa bóc lột và hiếp đáp dân mi. Mi sắp phô trương sự thịnh vượng của đất nước mi, cái thịnh vượng được sắp đặt đâu ra đấy trong trí tưởng tượng quá giàu của bọn bóc lột. Mi sắp tâng bốc công ơn vô ngần và tưởng tượng của nền văn minh đã thâm nhập sơn hà xã tắc của mi bằng mũi nhọn của lưỡi lê và bằng họng súng ca-nông.

“Ôi, nhìn, hãy nhìn nào, đứa con thảm thương kia ơi! Hãy nhìn quanh mi! Thấy chăng Trung Hoa đang thức tỉnh, Nhật Bản đang duy tân…? Thấy chăng toàn cầu đang tiến, chỉ có dân mi là, nhờ mi và lũ quan thượng của mi, cứ phải chìm ngập mãi trong vũng lầy dốt nát và tôi đòi khốn nạn?

“Hãy nhìn Triều Tiên, Ai Cập và ấn Độ, tất cả các nước đó đều đang đứng lên đòi hỏi quyền lợi, công lý và tự do!

“Chính giữa lúc đó thì mi… Im… Nghe kìa! Nghe thấy chăng… Nghe thấy chăng những tiếng kêu gào…? A! Người ta đến kia kìa, đông quá, tất cả những người dân nước Nam đã bị thiệt mạng cho cuộc chiến tranh ở châu Âu. Người ta đến đòi những gì mà bọn quan thầy mi đã cùng mi hứa hẹn với người ta, anh em người ta. Trả lời người ta đi nào! A! Người ta giận dữ, người ta bỏ đi.

“Bây giờ thì người ta quay lưng đi rồi, người ta đang đi đến phía đằng kia. Có thấy người ta không? Đằng kia ấy, nơi mặt trời đang mọc huy hoàng khôn xiết, nơi tung bay kiêu hãnh lá cờ Nhân đạo và Lao động. Đấy! Chính đấy là nơi yên nghỉ tâm linh những người đã khuất, là tương lai của dân tộc mà mi đã phụng sự chẳng ra gì!

“Gà sắp gáy sáng. Sao Bắc đẩu tiến ngang trời. Nhạc tiên đang giục giã ta. Thôi, chào!”.

Mồ hôi nhớp nháp đẫm trán vị chúa thượng đang ngủ. Ngài muốn kêu lên. Nhưng không kêu được. Lưỡi ngài líu lại vì sợ.

Một quan hoạn bước vào, khom khom cái lưng ba lần, rồi the thé cái giọng đàn bà:

– Ngai dưới (1) ! Đã có lệnh lên đường của Tòa Khâm truyền sang rồi đấy ạ!

NGUYỄN ÁI QUỐC

Báo L’Humanité, ngày 24-6-1922.

(1) Ngay sau khi Nguyễn Ái Quốc gửi bản Yêu sách của nhân dân An Nam tới trưởng đoàn các nước dự Hội nghị Vécxây, bọn bồi bút thực dân lồng lộn. Trên tờ Courrier Colonial ra ngày 27-6 có một bài nhan đề Giờ phút nghiêm trọng chỉ trích bản yêu sách : Làm sao một người dân thuộc địa lại có thể dùng bản yêu sách của nhân dân để công kích Chính phủ Pháp. Thật là quá quắt. Cứ theo đà này thì bọn dân thuộc địa sẽ lên ngang hàng với người Pháp chúng ta và sớm trở thành ông chủ của chúng ta. Không được, phải kìm giữ chúng mãi mãi trong vòng nô lệ. Nguyễn Ái Quốc viết bài này là để trả lời bài báo sặc mùi thực dân trên.

(2) Bản Yêu sách của nhân dân An Nam: Năm 1918, Chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc. Ngày 18-1-1919, đại biểu các nước đế quốc tham gia chiến tranh họp hội nghị ở Vécxây (Pháp). Hội nghị này (còn gọi là Hội nghị hoà bình Pari) nhằm xác định sự thất bại của Đức và các nước đồng minh của Đức, chia lại thị trường thế giới cho các nước đế quốc thắng trận, chủ yếu là Mỹ, Anh, Pháp.Nhân danh nhóm người yêu nước Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc đã gửi đến Hội nghị bản Yêu sách của nhân dân An Nam. Nguyễn Ái Quốc còn thuê in thành truyền đơn, đăng trên các báo, gửi đến các nhà hoạt động chính trị có tên tuổi, phân phát trong các buổi hội họp, mít tinh, gửi cho Việt kiều ở Pháp và gửi về nước.

(3) Báo Le Courrier d\’Hai Phong: Báo xuất bản hằng ngày ở Hải Phòng, năm 1887, do Toà đốc lý của chính quyền thuộc địa phụ trách.

(4) Báo L\’Humanité: Tờ báo hằng ngày của Đảng Xã hội Pháp do Giǎng Giôrét sáng lập nǎm 1904. Sau Đại hội lần thứ XVIII (Đại hội Tua), Đảng Cộng sản Pháp thành lập, báo L\’Humanité trở thành cơ quan ngôn luận chính thức của Đảng Cộng sản Pháp.

NGUYỄN ÁI QUỐC

Báo L’Humanité, ngày 24-6-1922.
cpv.org.vn

————————————–

(1) Ngay sau khi Nguyễn Ái Quốc gửi bản Yêu sách của nhân dân An Nam tới trưởng đoàn các nước dự Hội nghị Vécxây, bọn bồi bút thực dân lồng lộn. Trên tờ Courrier Colonial ra ngày 27-6 có một bài nhan đề Giờ phút nghiêm trọng chỉ trích bản yêu sách : Làm sao một người dân thuộc địa lại có thể dùng bản yêu sách của nhân dân để công kích Chính phủ Pháp. Thật là quá quắt. Cứ theo đà này thì bọn dân thuộc địa sẽ lên ngang hàng với người Pháp chúng ta và sớm trở thành ông chủ của chúng ta. Không được, phải kìm giữ chúng mãi mãi trong vòng nô lệ. Nguyễn Ái Quốc viết bài này là để trả lời bài báo sặc mùi thực dân trên.

(2) Bản Yêu sách của nhân dân An Nam: Năm 1918, Chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc. Ngày 18-1-1919, đại biểu các nước đế quốc tham gia chiến tranh họp hội nghị ở Vécxây (Pháp). Hội nghị này (còn gọi là Hội nghị hoà bình Pari) nhằm xác định sự thất bại của Đức và các nước đồng minh của Đức, chia lại thị trường thế giới cho các nước đế quốc thắng trận, chủ yếu là Mỹ, Anh, Pháp.Nhân danh nhóm người yêu nước Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc đã gửi đến Hội nghị bản Yêu sách của nhân dân An Nam. Nguyễn Ái Quốc còn thuê in thành truyền đơn, đăng trên các báo, gửi đến các nhà hoạt động chính trị có tên tuổi, phân phát trong các buổi hội họp, mít tinh, gửi cho Việt kiều ở Pháp và gửi về nước.

(3) Báo Le Courrier d\’Hai Phong: Báo xuất bản hằng ngày ở Hải Phòng, năm 1887, do Toà đốc lý của chính quyền thuộc địa phụ trách.

(4) Báo L\’Humanité: Tờ báo hằng ngày của Đảng Xã hội Pháp do Giǎng Giôrét sáng lập nǎm 1904. Sau Đại hội lần thứ XVIII (Đại hội Tua), Đảng Cộng sản Pháp thành lập, báo L\’Humanité trở thành cơ quan ngôn luận chính thức của Đảng Cộng sản Pháp.

Những kẻ đi khai hoá (1-7-1922)

Dưới đầu đề “Bọn kẻ cướp ở thuộc địa”, đồng chí Víchto Mêrích đã thuật lại cho chúng ta nghe sự độc ác không thể tưởng tượng được của một viên quan cai trị thuộc địa nọ đã đổ nhựa cao su vào bộ phận sinh dục của một người phụ nữ da đen khốn khổ. Sau đó, hắn bắt chị phải đội một tảng đá lớn đứng phơi nắng cho đến chết.

Tên công chức dâm bạo đó hiện đang tiếp tục những thành tích của hắn trong một tỉnh khác với chức vị cũ.

Khốn thay, những việc bỉ ổi như vậy lại không hiếm gì ở cái nơi mà báo chí của các nhà cầm quyền thường gọi là “nước Pháp hải ngoại”.

Hồi tháng 3 nǎm 1922, một nhân viên nhà đoan Bà Rịa (Nam Kỳ) đã đánh gần chết một phụ nữ An Nam làm nghề gánh muối, lấy cớ rằng người này đã làm mất giấc ngủ trưa của hắn, vì làm ồn ào ngoài hiên nhà hắn ở.

Hay ho nữa là người đàn bà này còn bị doạ đuổi khỏi nơi làm việc nếu bà thưa kiện gì.

Hồi tháng 4, một nhân viên nhà đoan khác đến thay cũng thật xứng đáng với tên trước về những hành động tàn ác của hắn.

Một bà cụ người An Nam, cũng làm nghề gánh muối, vì bị khấu lương nên cãi nhau với mụ cai. Mụ cai đến thưa với viên đoan. Viên này chẳng xét xử gì cả, tát bà cụ thợ muối hai cái thật mạnh và khi bà cụ già đáng thương cúi xuống nhặt nón, thì nhà khai hoá ấy, chưa vừa lòng với trận đòn mà hắn vừa trừng phạt bà cụ, liền đá một cái rất mạnh vào bụng bà cụ khiến cho máu ộc ngay ra lênh láng.

Khi bà cụ người An Nam đáng thương bị ngã quay xuống đất, đáng lẽ phải cấp cứu cho bà, thì người cộng tác viên của ông Xarô ấy lại cho gọi lý trưởng đến và ra lệnh cho lý trưởng đem người bị thương đi nơi khác. Lý trưởng từ chối không làm. Viên đoan liền cho gọi chồng người bị nạn đến, – ông này bị mù, – ra lệnh bắt ông phải đem vợ đi. Hiện nay, bà cụ già khốn khổ đó đang nằm nhà thương.

Bạn có muốn đánh cuộc rằng hai ông đoan của chúng ta ở Nam Kỳ, cũng như bạn đồng nghiệp của họ là vị quan cai trị nọ ở châu Phi, có bị làm rầy rà gì không ? Họ hẳn đã được thǎng chức nữa kia đấy.

NGUYỄN ÁI QUỐC

Báo Le Paria, số 4, ngày 1-7-1922.
cpv.org.vn

Thù ghét chủng tộc (1-7-1922)

Vì nói đến đấu tranh giai cấp và quyền bình đẳng giữa con người mà đồng chí Ludông của chúng ta đã bị kết án là đã tuyên truyền thù ghét chủng tộc. Vậy ta hãy xem tình yêu thương giữa các chủng tộc đã được quan niệm và thực hiện ở Đông Dương như thế nào trong thời gian gần đây.

Hôm nay, chúng ta sẽ không nói đến tội ác của chính quyền thực dân là dùng rượu và thuốc phiện để đầu độc quần chúng và làm cho họ ngu muội đi. Việc ấy các đồng chí chúng ta trong đảng đoàn nghị sĩ tất sẽ có ngày bàn đến.

Mọi người đều biết rõ những thành tích lớn lao của tên quan cai trị sát nhân Đáclơ. Tuy nhiên đâu có phải chỉ mình hắn mới có những thủ đoạn tàn ác đối với người bản xứ như thế.

Một gã Puốcxinhông nào đó, đã hùng hổ nhảy ra đánh một người An Nam chỉ vì người này dám tò mò và cả gan nhìn ngôi nhà của người Âu trong mấy giây đồng hồ. Hắn đánh anh và cuối cùng giết anh bằng một phát súng lục bắn vào đầu.

Một nhân viên sở hoả xa, đã dùng roi mây đánh một người lý trưởng Bắc Kỳ.

Ông Béc đấm vỡ sọ người lái xe cho ông ta.

Ông thầu khoán Brét, sau khi cho chó cắn một người An Nam đã trói tay người này lại, đá cho đến chết.

Ông Đépphi, chủ sở thuế đã giết chết người đầy tớ An Nam của ông ta bằng một cái đá hết sức mạnh vào mạng mỡ.

Ông Hǎngri, thợ máy ở Hải Phòng, nghe ngoài phố có tiếng ồn ào; cửa nhà ông vừa mở thì một người đàn bà An Nam chạy xộc vào, sau lưng có một người đàn ông đuổi theo. Hǎngri tưởng là một người bản xứ đang đuổi một Con gái (1) , liền vớ lấy khẩu súng sǎn nổ một phát. Người đàn ông ngã vật xuống chết ngay. Đó là một người Âu. Hỏi thì Hǎngri trả lời: “Tôi tưởng đây là một thằng bản xứ”.

Một người Pháp buộc ngựa của mình vào một cái chuồng trong đó đã có sẵn con ngựa cái của một người bản xứ. Con ngựa đực nhảy chồm lên, làm cho người Pháp tức điên ruột. Ông ta đánh người bản xứ hộc cả máu mồm, máu mũi, rồi đem trói lại treo lên cầu thang.

Một nhà truyền giáo (Vâng! một vị linh mục nhân từ) nghi một học sinh trường thầy dòng người bản xứ ǎn cắp của mình 1.000 đồng, ông ta trói người học sinh này lại, treo lên xà nhà, tra khảo. Người học sinh đáng thương ấy ngất đi. Họ hạ anh xuống. Khi anh hồi tỉnh, họ lại treo lên tra khảo. Anh đã gần chết. Có lẽ hôm nay thì chết rồi.

Vân vân và vân vân.

Toà án có trừng phạt những tên đó, những con người đi khai hoá đó hay không ?

Có tên thì trắng án, có tên thì không ai đụng đến lông chân. Sự tình là như vậy. ấy thế mà bây giờ thì:

– Bị cáo Ludông, đến lượt anh nói đi!

NGUYỄN ÁI QUỐC

Báo Le Paria, số 4, ngày 1-7-1922.
cpv.org.vn

——————————

(1) Ngay sau khi Nguyễn Ái Quốc gửi bản Yêu sách của nhân dân An Nam tới trưởng đoàn các nước dự Hội nghị Vécxây, bọn bồi bút thực dân lồng lộn. Trên tờ Courrier Colonial ra ngày 27-6 có một bài nhan đề Giờ phút nghiêm trọng chỉ trích bản yêu sách : Làm sao một người dân thuộc địa lại có thể dùng bản yêu sách của nhân dân để công kích Chính phủ Pháp. Thật là quá quắt. Cứ theo đà này thì bọn dân thuộc địa sẽ lên ngang hàng với người Pháp chúng ta và sớm trở thành ông chủ của chúng ta. Không được, phải kìm giữ chúng mãi mãi trong vòng nô lệ. Nguyễn Ái Quốc viết bài này là để trả lời bài báo sặc mùi thực dân trên.

Con người biết mùi hun khói (20-7-1922)

Xin tặng Nahông (1) , người đã bị quân phiệt thực dân ám hại, bài ký này.

“Chính cuộc chinh phục hệ thống thuộc địa đã rèn luyện tài nǎng chiến đấu của số đông những nhà chỉ huy quân sự lớn của ta, những con người đã đưa ta đến chiến thắng, đã được dư luận Pháp ca ngợi vinh quang và chiến công ngay khi mang lá cờ nước ta đến dưới những bầu trời châu Phi hay châu Á”.

Anbe Xarô
Bộ trưởng Bộ Thuộc địa

Haútxa (2) , tháng 1 nǎm 1998.

Thành phố Haútxa cờ xí tưng bừng. Tưởng đâu như một vị chúa xuân đã gõ cây đũa thần lên gỗ ván khô khốc ở các bao lơn và các cửa sổ, làm mọc ra muôn vàn tấm lá đỏ phấp phới yêu kiều trước gió. Đây là lễ kỷ niệm lần thứ nǎm mươi ngày thành lập Cộng hoà liên hiệp Phi. Chưa bao giờ dân chúng lại tham gia với mức độ ấy những hội hè loại này. Từ sáng sớm, các đường phố, các quảng trường y như một dòng sông người. Từng đoàn học sinh, giương cờ đi đầu, vừa diễu qua các phố vừa hát Quốc tế ca, được dân chúng vỗ tay hoan nghênh. Trên quảng trường Xôviết, một cụ già hô hào đám đông. Đó là cố Kimengô, mệnh danh là Con người biết mùi hun khói.

Cụ Kimengô, tuổi đã chín mươi, là một cựu chiến sĩ của quân đội cách mạng, một trong những người sáng lập Cộng hoà da đen. Được phú bẩm một trí thông minh đặc biệt sắc sảo, lại am hiểu tường tận mọi sự kiện chính trị và xã hội của thời đại, cụ Kimengô không những đã ra sức thức tỉnh anh em cùng màu da ra khỏi giấc ngủ mê say của con người nô lệ, mà còn cố gắng phá tan mọi thành kiến dân tộc và chủng tộc, tập hợp những người bị bóc lột thuộc các màu da trong cuộc đấu tranh chung. Cụ đã thành công. Kimengô là một trong số hiếm những người đã chịu gian khổ lớn để gieo hạt và được hưởng hạnh phúc lớn gặt vụ mùa thắng lợi. Mái tóc cụ bạc phơ như tuyết khuôn rực rỡ bộ mặt màu mun. Đôi mắt cụ hiền dịu và nhìn sâu thẳm. Miệng cụ luôn tươi cười, dù trước những nguy nan nghiêm trọng nhất hay trong những giờ phút đen tối nhất. Từ toàn bộ con người cụ toát ra nhân từ và cao quý. Cụ đáng tôn kính và được tôn kính.

Chúng tôi đến nơi thì cụ đã nói được nửa chừng, và đây là những lời mà chúng tôi nghe được:

“… Có những từ ngữ mà người già các bác trước kia thường nghe thường nói, thì nay không còn trong từ ngữ của các cháu nữa. Và như thế là tốt. Bây giờ các bác nói đến toà án, cảnh sát, quân đội, nhà tù, thuế khoá, thì các cháu chẳng mấy người hiểu những cái đó là cái gì.

“Thời bác thì nước Cộng hoà của chúng ta là thuộc địa Pháp. Trong nước, có người giàu và người nghèo. Người giàu là những kẻ hưởng tất cả, tuy gì cũng chẳng làm. Người nghèo là những kẻ gì

cũng làm, mà chẳng được hưởng gì cả. Người nghèo phải chịu chết chóc cho người giàu khi nào bọn này bất hoà với nhau: cái đó gọi là thuế máu. Người nghèo làm ra được cái gì đều phải nộp cho người giàu: cái đó gọi là thuế tiền.

“Vậy nhé, bọn tư bản da trắng lấy nước ta làm thuộc địa xong, nó bắt các bác phải nộp các thứ thuế, mặc dầu các bác nào có của nả gì đâu. Nộp thì không có gì để nộp; để khỏi bị hành hạ, các bác phải bỏ trốn vào rừng. Chúng nó đem chó và đem súng đuổi theo, các bác đành phải ẩn vào một cái hang, ngày nay gọi là hang Tuẫn nạn.

“Bọn bác hơn hai trǎm mạng, đàn ông có, đàn bà có, trẻ em có. Cứ tưởng rằng như thế là tạm yên thân, nên mặc dầu phải chịu ẩm, chịu tối, chịu đói, cực lắm, các bác có ý định cứ nán lại đó càng lâu càng hay, vì biết rằng bọn nó vẫn rình ở ngoài hang với súng ống. Hang tối như bưng ngày cũng như đêm, bác chẳng biết ở trong đó bao lâu.

“Chẳng trông thấy gì hết, chẳng nghe thấy gì hết, trừ tiếng chó sủa dữ dội, xa xǎm, nhắc nhở rằng tình thế vẫn hiểm nghèo.

“Một ngày nọ, nói đúng hơn là một đêm nọ, các bác ngửi thấy có cái mùi khét lẹt tràn vào chỗ náu trong lòng đất. Mùi khét nặng lên nhanh và trở thành không thể chịu nổi. Gì thế? Chẳng ai biết… Trẻ nhỏ thì khóc, đàn bà thì la, đàn ông thì chửi. Hoảng loạn! Chạy đi ư? Nhưng chạy đâu chứ? Khủng khiếp quá! Tiếng rǎng lập cập, tiếng thét xé tai, tiếng nấc, tiếng thân người đổ xuống, tiếng khóc điên rồ, làm cho cái xó tối ám khói đó hệt như là một địa ngục.

“Bấy giờ bác ở tận cuối hang. Bác theo bản nǎng nhắm mắt, ngậm miệng, áp mặt vào vách hang. Như thế cảm thấy dễ thở hơn và ngủ đi lúc nào không biết. Tỉnh dậy thì thấy có tia sáng chiếu chếch vào mặt, đấy là một kẽ hở qua đất, nhờ đó mà bác thở được và thoát chết. Bác nhằm đào một lối ra phía đó, nhưng chỉ mệt xác vô ích. Bác bèn quyết định thôi đành liều mạng cứ phía cửa hang mà ra. Quờ quạng và dẫm qua hai trǎm xác chết hun mới trở lại được với khoảng trời tự do.

“Bác ǎn cỏ, ǎn rễ cây, đi lang thang hết làng này sang làng nọ; cuối cùng thì được bố của đồng chí người da trắng này đây thu nhận về nuôi như con. Ông đã dạy dỗ bác theo những nguyên tắc của tình hữu ái và của chủ nghĩa cộng sản; ông cũng đã cho bác biết tên thằng da trắng vì muốn thu thuế mà đã hun các bác chết ngạt một cách man rợ như vậy.

“Thằng hun khói, tên nó là Bruye, là đại diện của nước Pháp và là công sứ ở Haútxa”.

NGUYỄN ÁI QUỐC

Báo L’Humanité, ngày 20-7-1922.
cpv.org.vn

——————————

(1) Ngay sau khi Nguyễn Ái Quốc gửi bản Yêu sách của nhân dân An Nam tới trưởng đoàn các nước dự Hội nghị Vécxây, bọn bồi bút thực dân lồng lộn. Trên tờ Courrier Colonial ra ngày 27-6 có một bài nhan đề Giờ phút nghiêm trọng chỉ trích bản yêu sách : Làm sao một người dân thuộc địa lại có thể dùng bản yêu sách của nhân dân để công kích Chính phủ Pháp. Thật là quá quắt. Cứ theo đà này thì bọn dân thuộc địa sẽ lên ngang hàng với người Pháp chúng ta và sớm trở thành ông chủ của chúng ta. Không được, phải kìm giữ chúng mãi mãi trong vòng nô lệ. Nguyễn Ái Quốc viết bài này là để trả lời bài báo sặc mùi thực dân trên.

(2) Bản Yêu sách của nhân dân An Nam: Năm 1918, Chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc. Ngày 18-1-1919, đại biểu các nước đế quốc tham gia chiến tranh họp hội nghị ở Vécxây (Pháp). Hội nghị này (còn gọi là Hội nghị hoà bình Pari) nhằm xác định sự thất bại của Đức và các nước đồng minh của Đức, chia lại thị trường thế giới cho các nước đế quốc thắng trận, chủ yếu là Mỹ, Anh, Pháp.Nhân danh nhóm người yêu nước Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc đã gửi đến Hội nghị bản Yêu sách của nhân dân An Nam. Nguyễn Ái Quốc còn thuê in thành truyền đơn, đăng trên các báo, gửi đến các nhà hoạt động chính trị có tên tuổi, phân phát trong các buổi hội họp, mít tinh, gửi cho Việt kiều ở Pháp và gửi về nước.