Archive | 2012

Phong trào nông dân tỉnh Quảng Đông (16-10-1925)

1. Phong trào Hội nông dân bắt đầu từ huyện Hải Phong vào tháng 5-1922. Nông dân vốn bị tầng lớp quý tộc nhỏ, bọn địa chủ, bọn quan lại và bọn quân phiệt áp bức và bóc lột. Nhưng chưa bao giờ họ bị bóp nặn nặng nề như bị Trần Quýnh Minh bóp nặn hiện nay.

Thoạt đầu, nông dân Hải Phong nghĩ rằng Trần là người quê quán ở huyện này, có lẽ ông ta sẽ theo cái truyền thống “một người con quý, cả huyện hạnh phúc”. Nhưng hoá ra lại không phải thế. Những kẻ đi theo Trần đã đem tiền cướp được trong các cuộc phiêu lưu quân phiệt của chúng – mua ruộng và trở thành địa chủ mới. Chúng có nhiều phương pháp để có ruộng. 1/ Chúng làm cho Trần đánh thuế ruộng rất nặng. Những địa chủ nhỏ không thể nộp thuế được nên phải bán ruộng với giá rẻ. 2/ Trần yêu cầu tất cả các chủ đất phải đem giấy tờ để kiểm tra, nếu ai không có giấy tờ thì ruộng đất của người ấy sẽ bị tịch thu. Các gia đình nông dân đều sống chết ở đất này từ bao thế kỷ, nên đại đa số họ biết rất rõ ruộng nào là của mình, nhưng không biết giấy tờ ở đâu. Vì lẽ đó, một số lớn nông dân đã bị Trần cướp đoạt.

Ruộng đất đã đổi chủ nên hoàn cảnh của nông dân, tất nhiên, bị xáo trộn. Và những người chủ mới, có lực lượng vũ trang trong tay tha hồ bóp nặn nông dân. Toàn bộ đội quân những người chủ nhỏ bị tước đoạt đã làm tǎng đội ngũ nông dân nghèo. Vì thế đời sống trở nên khó khǎn không thể chịu được và sự nghèo khổ ngự trị khắp nơi.

Nhiều nông dân nghèo bị dồn ra khỏi làng để đi tìm việc ở Hương Cảng.

Rồi nổ ra cuộc bãi công thắng lợi của thuỷ thủ. Những công nhân mới, khi về thǎm quê, lại là người đưa tin và người tuyên truyền.

Thế là con đường đi được chuẩn bị, chúng tôi liền thừa cơ đó phát động một cuộc vận động xây dựng Hội nông dân. Ngay lập tức 5.000 nông dân đã tham gia phong trào.

2. Hiện tại 11 Hội nông dân huyện đã chính thức được thành lập. Và 13 Hội nữa sắp được thành lập. Tổng số hội viên là 465.000 người (riêng Hải Phong đã có 200.000 hội viên).

16 Hội nông dân huyện đã có đội tự vệ (Hải Phong có 500 đội viên tự vệ nông dân).

Trước đại hội Hội nông dân tỉnh vào tháng 5 nǎm ngoái đã có 20 huyện có Hội nông dân. Hiện nay, các Hội nông dân đã được thành lập ở 32 huyện.

Tháng 2-1923, Hải Phong có một vụ kiện giữa địa chủ và nông dân. Nông dân được kiện. Bọn địa chủ tung tin đồn rằng Hội nông dân sẽ thực hiện chủ nghĩa cộng sản và rằng bọn địa chủ phải tự tổ chức nhau lại để bảo vệ tài sản của mình. Một hiệp hội đã được thành lập với hơn 100 địa chủ tham gia, dưới sự lãnh đạo của một người chú của Trần. Rồi chúng buộc viên quan toà phải xét lại vụ án. Trong lúc xét xử, bọn địa chủ đến dự phiên toà rất đông. Sợ hãi, viên quan toà đã ra lệnh bắt giam 6 nông dân. Lập tức 6000 nông dân đã họp mít tinh, sau đó là một cuộc diễu hành. Càng sợ hơn, viên quan toà phải thả mấy người tù đó. Những người nông dân chiến thắng đã hân hoan đón các đồng chí của mình, họ vừa hoan hô vừa hô lớn: “Đả đảo bọn địa chủ!”.

Từ đó sự phân cách giữa địa chủ và nông dân càng rộng thêm. Vào tháng 7-1923, do tai họa về bão, 20.000 nông dân đã xuống đường tuần hành, đòi giảm 70% tô. Được lực lượng của Trần Quýnh Minh che chở, bọn địa chủ đã thu tô và không giảm chút nào. Một cuộc chiến đấu đã xảy ra và 3 nông dân đã bị bắt.

Bọn quân phiệt, bọn quý tộc, bọn quan lại và bọn hiến binh đứng về phía bọn địa chủ. Hội nông dân đã kêu gọi nông dân tiến hành một cuộc mít tinh, và 30.000 người đã hưởng ứng lời kêu gọi. Bọn địa chủ và chiến hữu của chúng đào hào, dựng chiến luỹ, tiến hành việc chuẩn bị tựa hồ như để đương đầu với cả một đội quân lớn.

Sau cuộc mít tinh, hiến binh bắt thêm 25 nông dân nữa. Nông dân muốn tiến công nhà tù, nhưng các thủ lĩnh của họ thấy rằng kẻ thù được trang bị vũ khí đầy đủ trong khi nông dân không có gì ngoài nắm tay không, nên đã ngǎn họ lại.

Sáu tháng sau 28 nông dân bị bắt mới được thả.

Từ tháng 7-1923 đến tháng 2-1924, Hội nông dân hoạt động bất hợp pháp. Sau tháng 2, Hội nông dân thử mở cửa trở lại, nhưng đã bị bọn quân phiệt đóng cửa. Chẳng bao lâu sau quân đội Quốc dân đảng đã đánh bật Trần Quýnh Minh và Hội nông dân xuất hiện trở lại một cách hợp pháp.

Với quân đội Quốc dân đảng và những thuỷ thủ bãi công ở Hương Cảng.

Trong cuộc chiến đấu giữa Trần và Quốc dân đảng (tháng 4) nông dân Hải Phong đã dành cho quân đội của Đảng mọi sự giúp đỡ dẫn đường, vận tải, giao liên, v.v.. Một vài nông dân đã nhập ngũ ra hoả tuyến.

Khi cuộc bãi công nổ ra, nông dân đã tiến hành nhiều cuộc biểu tình đoàn kết, họ đã quyên góp nhiều nghìn đôla vào quỹ bãi công; họ giúp đỡ đội bảo vệ của những người bãi công ngǎn chặn việc tuồn thực phẩm vào Hương Cảng.

Tháng 9, khi quân đội của Trần lại trở về Hải Phong, đội tự vệ nông dân đã chiến đấu rất dũng cảm và chỉ rút lui khi họ bị quân thù đông hơn về số lượng đè bẹp, 50 nông dân bị giết.

Huyện Quảng Ninh.

Bọn địa chủ được vũ trang mạnh. Nông dân chỉ được hưởng 30% sản phẩm, còn 70% thì rơi vào bọn địa chủ.

Một vài người quê quán ở huyện này làm việc ở các xưởng dầu tại Quảng Châu. Chính họ là những người thúc đẩy Hội nông dân. Lúc đầu bọn địa chủ coi khinh nông dân, công nhân và không chú ý đến tổ chức của họ. Nhưng khi Hội nông dân đã thành lập và nông dân đã biểu lộ nhiệt tình và có ưu thế về số lượng thì bọn địa chủ liên kết lực lượng của chúng với lực lượng của bọn quân phiệt. Chúng đốt phá các trụ sở của Hội nông dân, giết và làm bị thương nhiều hội viên. Hành động tàn ác đó của bọn địa chủ khiến cho nông dân càng thêm trung thành với tổ chức của mình và càng kiên quyết đấu tranh. Vì bọn địa chủ tập trung lực lượng của chúng vào 3 làng nên nông dân đã rút sang những làng khác và bí mật tổ chức đội tự vệ của mình.

Mùa đông nǎm ngoái, họ bắt đầu tiến hành phong trào giảm tô. Bọn địa chủ đã thuê bọn phỉ dùng vũ lực để thu tô.

Đó là một cuộc chiến tranh thật sự. Mỗi bên tham chiến đều có lãnh thổ và sở chỉ huy của mình. Để thúc giục Chính phủ giúp đỡ, nông dân đã tiến hành một cuộc mít tinh với 10.000 người tham dự. Phụ nữ và trẻ em cũng tham gia cuộc biểu tình. Chính phủ đã phái đội vệ sĩ và đội xe bọc thép đến giúp nông dân.

Viên chỉ huy đội vệ sĩ đã ǎn hối lộ của bọn địa chủ và đề nghị nông dân ký một bản hoà ước với điều kiện là 7 địa chủ cầm đầu cuộc gây rối sẽ bị trừng phạt. Một tên cầm đầu khác được quan toà che chở thì muốn đánh lừa mọi người bỏ qua tội lỗi của mình nên mời các thủ lĩnh nông dân và các sĩ quan đội xe bọc thép đến dự một tiệc lớn. Các khách đã đến dự và khi tiệc tan họ đã bắt giữ y.

Trước khi hội nghị hoà bình có thể diễn ra, 5 nông dân ở những làng khác đã bị bọn địa chủ giết hại. Lập tức, cuộc chiến đấu lại tiếp diễn. Viên chỉ huy vệ sĩ ǎn hối lộ đã bị thải hồi và một sĩ quan khác lên chỉ huy, nhưng đó mới chỉ là biện pháp đầu tiên. Quân thù cố thủ trong pháo đài, song pháo đài cũng bị nông dân vây hãm. Khi nước tiếp tế của chúng đã hết, bọn địa chủ đã phải quy phục.

Cuộc xung đột kéo dài 3 tháng, kết thúc bằng thắng lợi của nông dân.

Huyện Hoa Yên.

Bọn địa chủ ở đây không những chống lại Hội nông dân mà còn âm mưu lật đổ chính quyền. Vụ âm mưu này đã bị Chủ tịch Hội nông dân phát giác và đã báo cho nhân dân biết. Sau khi bị thất bại trong vụ này, bọn địa chủ đã chi một số tiền lớn để lo lót cho viên quan ở toà án huyện. Nhưng khi đã ngồi vào cương vị của mình rồi, viên quan toà mới vì thiếu can đảm nên đã chẳng làm gì để chống lại Hội nông dân.

Thấy mọi mưu toan của mình bị thất bại, bọn địa chủ đã dùng đến hành động trực tiếp. Chúng thuê phỉ giết hại các chiến sĩ và phá hoại Hội nông dân. Trong thời gian có những biến động chính trị ở Quảng Châu, bọn địa chủ đã tấn công. Đây đó đã diễn ra cuộc chiến đấu nhỏ, bởi vì nông dân tuy không được vũ trang, nhưng đã không từ bỏ cuộc chiến đấu. Chủ tịch Hội đã bị giết trong một cuộc chiến đấu, và kẻ thù đã chặt chân tay, cắt tai và mổ bụng ông.

Khi cuộc bạo loạn của bọn quân phiệt thất bại và những phần tử phản cách mạng đã bị Chính phủ Quốc dân đảng diệt sạch thì bọn địa chủ vì đã mất chỗ dựa, nên chấp nhận tất cả các yêu sách của nông dân.

Huyện Vệ Hoa.

Trong cuộc chiến tranh mới đây giữa Chính phủ Quốc dân đảng và Trần Quýnh Minh, nông dân huyện Vệ Hoa giống như các đồng chí của họ ở các huyện khác, đã dành cho binh lính của Đảng bất kỳ sự giúp đỡ nào mà họ có thể làm được. Vì lẽ đó, Trần đã trả thù, khi quay lại vùng này. Y đã giải tán các Hội nông dân bằng lực lượng quân sự. Y đã đánh thuế nặng. Hội nông dân đã kêu gọi 2.000 hội viên và tiến hành một trận chiến đấu công khai chống tên quân phiệt này. Nông dân có 120 người bị giết và bị thương. Sau trận chiến đấu, mặc dù bị thất bại, nông dân vẫn tập trung lực lượng của mình, tiến hành phòng ngự và loan tin rằng họ đang chờ quân đội của Đảng. Họ đã giữ vững được trận địa của mình trong một thời gian. Về sau, khi phát hiện quân tiếp viện của Đảng

không tới, quân địch đã đánh bật nông dân ra khỏi sở chỉ huy của họ, đốt cháy 50 ngôi nhà, cướp đi 410 con trâu, đấy là chưa nói đến việc cướp bóc tiền bạc và các thứ khác.

Các huyện khác cũng ở vào một hoàn cảnh gần như thế về mặt tổ chức, hoạt động và chiến đấu.

Bọn địa chủ: Chúng không có tổ chức vững chắc. Việc chúng lên hay xuống liên quan đến sự lên xuống của những phần tử phản cách mạng. Trong thời gian xảy ra vụ Thương Hô, cuộc bạo loạn của Lưu và Dương, sự ổn định của Trần Quýnh Minh và việc để cho bọn quân phiệt nhỏ nhập ngũ phục vụ Chính phủ làm cho bọn địa chủ lên đến mây xanh. Một khi bọn bè bạn phản cách mạng của chúng bị đè bẹp thì chúng lại rơi sụp xuống đất và trở thành những “người bạn tốt” của nông dân.

Thanh niên và phụ nữ. Khoảng 1/3 hội viên Hội nông dân là thanh niên. Nhiều người trong số họ là cán bộ của Hội nông dân. Cũng có phụ nữ và nữ thanh niên, nhưng rất ít. Thuận Đức và Hải Phong có câu lạc bộ thanh niên nông dân. ở Hải Phong có một nhóm thiếu niên tiền phong, song tiếc thay nhóm này tổ chức chưa hoàn chỉnh.

Trao đổi tin tức. Sẽ là một điều rất lý thú nếu thiết lập được sự trao đổi tin tức giữa thanh niên nông dân với Ban thanh niên của Quốc tế Nông dân. Nhưng hiện nay việc này không thực hiện được vì có khó khǎn về giao thông liên lạc cũng như khó khǎn về ngôn ngữ.

Ngày 16-10-1925. NILỐPXKI

————————-

Tài liệu tiếng Anh, lưu tại Viện Hồ Chí Minh
cpv.org.vn

Phong trào nông dân tỉnh Quảng Đông

Những câu hỏi sau đây đã được gửi đi tất cả các Hội nông dân huyện.

1/ Nguồn gốc của Hội nông dân và tình hình hiện nay của nó.

2/ Kinh nghiệm.

3/ Hội viên.

4/ Đội tự vệ nông dân.

5/ Quan hệ giữa Hội nông dân và các tổ chức khác.

6/ Thanh niên nông dân và giáo dục của họ.

7/ Tuyên truyền chính trị.

8/ Tiếng vang chính trị từ Quảng Châu.

9/ Quan hệ với công nhân công nghiệp.

10/ ảnh hưởng của đạo Cơ đốc.

11/ Những yêu sách trước mắt của nông dân.

A) TRẢ LỜI CỦA HYUYỆN T HANH VIỄN

1/ Phong trào có cùng một nguồn gốc như nhau đối với tất cả các huyện, không trừ một huyện nào. Đó là sự áp bức về kinh tế và chính trị.

ở tất cả các nơi, phong trào vấp phải sự chống đối mạnh mẽ của bọn địa chủ và bọn kỳ hào bằng các thủ đoạn từ tung tin nhảm đến ám hại những người đấu tranh. Nông dân hǎng hái tổ chức nhau lại. Nhưng vì chưa giác ngộ về lực lượng của chính mình, họ

vẫn giữ thói quen tin vào Chính phủ.

2/ Khi thành lập, Hội nông dân Thanh Viễn đã trải qua những cuộc đấu tranh dưới đây:

a/ Có một cường hào độc ác quen thói áp bức nông dân đã ngǎn cản họ tham gia Hội nông dân. Ngay khi được tổ chức, phong trào nông dân đã bắt và giải y đến huyện trưởng, người này đã nhận được thư của ông Lưu Trọng Khải, đã quá cố, nên đã giam tên cường hào một thời gian dài. Thắng lợi này đã tǎng cường ảnh hưởng và tiếng tǎm của Hội nông dân; và nông dân đã nhanh chóng tham gia tổ chức.

b/ Có hai làng ở gần nhau, làng A và làng B cách nhau một quả đồi và quả đồi đó là của làng A. Có một tục lệ là nông dân cả hai làng đều có thể lên đồi cắt cỏ và kiếm củi khô trừ những cây do làng A trồng. Có một lần nông dân làng B (đã có Hội nông dân của mình) đi cắt cỏ trên đồi, nhưng họ bị bọn kỳ hào làng A (làng này không có Hội nông dân) đuổi đánh. Phong trào nông dân làng B đã tới để bảo vệ dân làng mình và bắt giữ những viên kỳ hào xúc phạm. Những viên kỳ hào đã thừa nhận lỗi lầm của họ và trả 800 đôla để bồi thường thiệt hại. Nhưng về sau người ta đã tuyên bố tình trạng chiến tranh giữa hai làng và tình trạng chiến tranh kéo dài đến 3 tháng.

Làng A nhận thấy Hội nông dân các nơi khác mỗi ngày một mạnh thêm, nên đã phải chịu trả 300 đôla tiền phạt và ký một hiệp nghị có lợi cho làng B.

c/ Một tuyên truyền viên của Hội nông dân bị tiến công. Nông dân yêu cầu viên huyện trưởng trừng trị những kẻ cầm đầu cuộc tiến công. Bọn này đều là kỳ hào. Quan toà xử phạt bọn kỳ hào phải trả cho Hội nông dân 150 đôla.

3/ Hội viên. 40 làng có 2303 hội viên. 8 làng nữa sẽ chính thức thành lập Hội nông dân của mình trong tương lai gần đây nhất.

4/ Đội tự vệ nông dân. 684 người với 563 súng trường (do địa phương chế tạo).

5/ Đội hương dũng. Lúc đầu được thành lập để bảo vệ dân làng chống lại bọn kẻ cướp, giờ đây đã trở thành công cụ của bọn kỳ hào chống lại nông dân. Mỗi nǎm mỗi người nông dân phải nộp cho tổ chức này:

Thuế đầu người 15 cân thóc

Thuế nhà 15 cân thóc mỗi gia đình

Thuế trâu 15 cân thóc mỗi gia súc

Thuế thu hoạch mùa màng 50% sản lượng thóc.

Đội hiến binh hương lý. Nông dân phải nộp cho tổ chức này:

Thuế gia đình 0,20 đôla

Thuế trâu 0,20 đôla mỗi con

Thuế thu hoạch mùa màng 5% sản lượng.

Những tổ chức này nói chung đều chống lại Hội nông dân.

Bọn kẻ cướp. Chúng chống lại Hội nông dân khi chúng bị bọn địa chủ, bọn kỳ hào thuê. Nếu không thì chúng trung lập, thậm chí đôi khi có cảm tình với chúng ta.

Binh lính. Thái độ của họ tuỳ thuộc thái độ các sĩ quan của họ. Một số thì ủng hộ Hội nông dân; một số khác – bị bọn địa chủ mua chuộc – thì chống lại Hội nông dân.

6/ Thanh niên nông dân. Hoàn toàn thất học: trên 30% số còn lại chỉ được đi học một hoặc hai nǎm, và chỉ có học vấn hoàn toàn sơ đẳng và rất lạc hậu. Làm việc rất vất vả. Sống rất nghèo túng. Số người thất nghiệp tǎng, không có sự vui chơi giải trí nào. Trình độ học vấn rất thấp. Nhiều người tham gia Hội nông dân.

7/ Tuyên truyền chính trị. Lúc đầu nông dân rất sợ chủ nghĩa cộng sản, vì họ nghe nói (do bọn địa chủ nói) rằng những người cộng sản xã hội hoá phụ nữ. Bây giờ họ đã hiểu chút ít rằng chủ nghĩa cộng sản thật ra là cái gì và họ tin rằng Đảng cộng sản là đảng duy nhất có thể giải thoát họ khỏi sự khốn cùng hiện tại của họ.

8/ Chúng ta có 8 đảng viên cộng sản và 5 đoàn viên thanh niên cộng sản hoạt động trong nông dân ở huyện này.

9/ Nông dân có tổ chức vốn đứng về phía Chính phủ dân tộc chủ nghĩa. Nhưng khi chúng tôi trình bày trong báo cáo này, vì chưa giác ngộ về sức mạnh của chính mình, họ cảm thấy bǎn khoǎn và nghi ngờ trước mỗi thay đổi về chính trị ở Quảng Châu. Bọn địa chủ đã lợi dụng mọi cơ hội – cuộc nổi dậy của Lưu và Dương, vụ ám hại Liêu Trọng Khải, v.v., để tung tin đồn nhảm nhằm làm cho nông dân lo sợ. Nhưng lần nào cũng vậy, chúng ta đều nhanh chóng chống lại bằng cách tǎng cường công tác tuyên truyền và giờ đây nông dân đã hiểu hoàn toàn rõ tình hình chính trị.

10/ Một số ít công nhân trong huyện này còn chưa được tổ chức, vì thế giữa Hội nông dân với họ không có mối liên hệ.

Từ khi có cuộc bãi công chống đế quốc, những người bãi công quê quán ở huyện này đã trở về làng và thành lập ra Hiệp hội những người bãi công. Giữa Hội nông dân và Hiệp hội những người bãi công có mối liên hệ rất chặt chẽ.

11/ Có 3 trường truyền giáo nhưng có rất ít học viên. Những trường này không có ảnh hưởng đối với nông dân là những người phản đối đạo Cơ đốc, không phải vì coi đạo Cơ đốc là công cụ của chủ nghĩa đế quốc (họ còn chưa hiểu), mà vì coi đạo Cơ đốc là một tôn giáo ngoại quốc và phản tổ tiên. Một trong những trường đó gần đây đã bị đóng cửa.

12/ Những yêu sách trước mắt:

Xoá bỏ đội hương dũng

Xoá bỏ thuế nặng nề

Súng giá rẻ (nhà nước phải bán cho họ)

Tổ chức hợp tác xã

ấn định chuẩn mực thuế.

B) TRẢ LỜI CỦA HOA UYÊN

1/ Hội nông dân được thành lập vào tháng 10-1924. Tuy còn non trẻ nhưng Hội đã dạy cho các hội viên biết dựa vào sức mình hơn là dựa vào người khác. Trong thời kỳ đầy những tin đồn đại về chính trị, một số làng đã không ngần ngại chính thức hành động mở màn. Đó là một tiến bộ lớn. Trở ngại chủ yếu trên con đường phát triển đầy đủ của Hội nông dân là những khó khǎn về tài chính.

2/ Những trận chiến đấu lớn đã diễn ra giữa nông dân và địa chủ, chúng phá hoại các trụ sở của nông dân và giết hại những người lãnh đạo của họ. Cuối cùng địa chủ đã thất bại và buộc phải ký những hiệp định dưới đây:

a/ Trừng phạt những kẻ chịu trách nhiệm về việc gây ra xung đột

b/ Bồi thường 1000 đôla cho Hội nông dân

c/ Bồi thường 2000 đôla cho người bị giết

d/ Phải trả 800 đôla phí mai táng

e/ Cam kết sau này không gây rắc rối cho Hội nông dân nữa.

3/ Hội viên. 19 làng có 2100 hội viên.

4/ Chỉ có một làng đã tổ chức phong trào nông dân với 15 hội viên.

5/ Trước kia, đội hương dũng có hơn 10.000 đội viên và 4000 khẩu súng. Nhưng hiện nay nó đang teo dần đi đến tan rã.

Một vài bǎng cướp muốn lợi dụng phong trào nông dân, một số khác chống lại phong trào nông dân, nhưng chỉ trên lời nói.

Binh lính đóng ở huyện thì trung lập.

6/ Thanh niên. Trình độ tri thức cao hơn một chút so với trình độ tri thức của thanh niên Thanh Viễn. Có nhiều trường học hơn. Đại đa số thanh niên phụ thuộc vào gia đình của họ. Nhiều người đã tham gia Hội nông dân.

7/ Trình độ hiểu biết chính trị cũng giống như trình độ hiểu biết chính trị ở Thanh Viễn. Thoạt đầu, nông dân cũng sợ chủ nghĩa cộng sản. Giờ đây họ mong mỏi thực hiện chế độ cộng sản. Họ nghĩ rằng Quốc dân đảng và Hội nông dân cũng giống nhau thôi.

8/ Chúng ta có 13 đảng viên cộng sản hoạt động trong phong trào; 4 người trong số đó là nông dân ở địa phương.

9/ Tiếng vang chính trị. Bất chấp sự tuyên truyền của bọn địa chủ, nông dân rất ít bị kích động bởi những lời đồn nhảm về chính trị.

10/ Công nhân dầu mỏ ở Quảng Châu, người quê ở huyện này, đã giúp đỡ Hội nông dân rất nhiều trong việc tuyên truyền cũng như trong việc tổ chức hoạt động. Nhưng bản thân công nhân sống ở trong huyện thì chưa được tổ chức, vì vậy không có mối liên hệ giữa họ với Hội nông dân.

11/ Có 4 trường truyền giáo, nhiều học viên. Nhưng chỉ có khoảng 1 hoặc 2% học viên trở thành người theo đạo.

12/ Những yêu sách trước mắt :

Dẹp yên bọn cướp

Cấm trò cờ bạc và chơi bời, do bọn kỳ hào bảo trợ vì trò cờ bạc và chơi bời này gây tai hại trong gia đình nông dân

Thống nhất Quảng Đông

Xoá bỏ thuế khoá nặng nề.

C) THUẬN ĐỨC

1/ Hội nông dân ở đây bắt đầu hoạt động nǎm 1921. Do cánh hữu của Quốc dân đảng khởi xướng, nhằm tǎng cường lực lượng của họ. Cuối nǎm 1922, chúng tôi bắt đầu công tác tuyên truyền của mình. Nǎm 1923, hai Hội nông dân làng được thành lập, với 300 hội viên. Từ tháng 7 đến tháng 10 lại có thêm 18 Hội nông dân nữa được thành lập bởi 5 học viên Trường nông dân. Tháng 3-1925 số hội viên đã lên tới 1400 người.

2/ Đấu tranh. Có một làng bị bọn lính của Lý Phúc Lâm đốt trụi và 30 nông dân bị chúng giết hại. Một kỳ hào ở làng bên vì xung đột cá nhân với làng bị triệt hạ, nên đã dẫn bọn lính đến đốt phá.

Một vài chiến sĩ đã bị giết hại và một số khác bị bọn kỳ hào bắt giữ. Những sự áp bức đó khiến cho nông dân vô cùng phẫn nộ và hiểu rằng phải tự tổ chức nhau lại để bảo vệ lợi ích và an ninh của mình.

3/ Hội viên. 48 Hội nông dân làng với 4000 hội viên.

4/ Đội tự vệ nông dân chưa được tổ chức.

5/ Một vài đội hương dũng vẫn giữ trung lập, và một số khác chống lại chúng tôi. Bọn này đã giết hại một chiến sĩ của chúng tôi, chúng đã cướp bóc và bắt giữ nhiều người trong số các chiến sĩ của chúng tôi.

Dù bọn kẻ cướp rất mạnh nhưng chúng chưa phạm một điều gì chống lại Hội nông dân.

Bề ngoài binh lính đồn trú có thái độ trung lập, nhưng trong thực tế chúng chống lại chúng tôi, việc giết chóc kể trên đã cho thấy rõ điều này.

6/ Thanh niên. Trình độ học vấn rất thấp. Điều kiện sinh sống khá hơn ở các huyện khác. 40% hội viên Hội nông dân là thanh niên nông dân. Có một “Câu lạc bộ thanh niên nông dân và công dân” mới được thành lập trong thời gian gần đây.

7/ Một vài nông dân rất muốn biết về chủ nghĩa cộng sản. Họ yêu cầu chúng tôi cung cấp nhiều sách báo của Đảng hơn nữa và tài liệu để đọc khác. Nhiều người khác chǎm chú nghe chúng tôi dù rằng họ chưa xác định lập trường.

8/ Chúng tôi có 6 đảng viên cộng sản hoạt động tại đây.

9/ Nông dân vẫn còn lo sợ khi có biến động chính trị nào đó ở Quảng Châu.

10/ Có quan hệ tốt giữa Hội nông dân và các tổ chức công nhân.

11/ Đạo Cơ đốc. Chưa nghiên cứu, không thể báo cáo được.

12/ Trong huyện có 20 phân bộ Quốc dân đảng.

13/ Những yêu sách trước mắt:

Xoá bỏ thuế cây dâu

Trừng trị những hào lý gây thiệt hại cho Hội nông dân.

D) KHÚC GIANG

1/ Hội nông dân này bắt đầu hoạt động tháng 5-1925.

2/ Đấu tranh. Có một chiếc cầu, muốn đi qua nông dân phải trả 1 xu trong lúc binh lính hoặc người ǎn mặc sang trọng không phải trả gì hết. Một lần, một hội viên nông dân muốn đi qua cầu mà không trả tiền; người gác cầu không để cho anh ta qua cầu như vậy. Tiếp đó đã gây ra một trận đánh nhau. Hiến binh đã bắt người hội viên nông dân. Hội nông dân can thiệp và thứ thuế này bị bãi bỏ. Nông dân coi đó là một thắng lợi lớn về tinh thần.

b/ Hiến binh không phải là bạn tốt của nông dân và nông dân cǎm ghét chúng đến xương tuỷ. Có một lần, một tên hiến binh bị mấy người nông dân giết ở trên núi. Pháp luật không thể buộc tội được vì không tìm được bằng chứng.

c/ Một cuộc biểu tình của nông dân đã nổ ra. Khẩu hiệu là “Đả đảo việc bắt bớ phu phen!”. Thông thường, chính hiến binh là kẻ tiến hành việc bắt bớ, nên nông dân coi họ là những kẻ phải chịu trách nhiệm. Trên đường tuần hành, họ gặp một viên trưởng hiến binh. Họ đã nện cho y một trận đòn nên thân rồi giải tới huyện. Mặc dù họ phải bồi thường 42 đôla cho gã hiến binh, nhưng lại hài lòng vì đã cho hiến binh một bài học.

3/ Hội viên – 120 làng có 6.740 hội viên.

4/ Đội tự vệ còn chưa được tổ chức.

5/ Giữa bọn hương dũng và Hội nông dân chưa có xung đột, mặc dù bọn hương dũng bí mật giúp đỡ bọn địa chủ chống chúng ta.

Một vài toán cướp vẫn còn có thái độ trung lập. Một số khác có thái độ thân thiện.

6/ Trước khi Hội nông dân được thành lập, quân đồn trú thường phá hoại các cây quả trong vườn của nông dân. Nhưng hiện nay chúng không dám đụng đến nữa. Chúng cũng tôn trọng nông dân hơn trước.

Phải vạch rõ rằng viên huyện trưởng hiện nay rất thân thiện với Hội nông dân.

7/ Thanh niên: 80% thất học. Trong 120 làng đã có Hội nông dân không có một người nào đọc được báo. Trong những làng này, chúng tôi thấy chỉ có 15 trường nhỏ với 280 học sinh.

Thanh niên nông dân ở đây cùng khổ hơn ở bất kỳ huyện nào khác. Bên cạnh công việc nặng nhọc hằng ngày, họ còn phải làm những công việc mà người lớn tuổi không muốn làm, như canh sông ban đêm chẳng hạn.

Có chừng 2400 thanh niên nông dân đã tham gia Hội nông dân.

8/ Nông dân tán thành cương lĩnh của Đảng cộng sản. Nhiều người trong nông dân đã tham gia Quốc dân đảng.

Một phân đoàn của “Liên đoàn đấu tranh giải phóng phụ nữ” mới được thành lập gần đây, do một đồng chí nữ của chúng ta tổ chức, 20 hội viên, tất cả đều là nông dân nữ.

Chúng ta có 13 đảng viên cộng sản hoạt động trong phong trào, trong số đó 6 người là nông dân địa phương.

9/ Tiếng vang chính trị – Nông dân ở đây đau khổ rất nhiều vì thuế quân sự và vì việc bắt phu phen. Vì thế họ lo ngại trước bất kỳ biến động nào về chính trị hay quân sự ở Quảng Châu.

Họ rất lo ngại về cái chết của Liêu Chung Khải. Nhưng khi Chính phủ xét xử nghiêm khắc những phần tử phản cách mạng và bọn lính ngoan cố và khi chúng ta giải thích cho họ biết ý nghĩa của sự kiện thì họ hoàn toàn hiểu rõ tình hình. Trong cuộc trường chinh sông Đông hiện nay, 300 nông dân đã tình nguyện giúp đỡ quân đội cách mạng.

10/ Mặc dù giữa các tổ chức của công nhân và Hội nông dân chưa có quan hệ với nhau, nhưng nông dân hoàn toàn hiểu đúng sự cần thiết phải hợp tác và đoàn kết giữa các tổ chức của công nhân và Hội nông dân.

11/ Có 7 trường truyền giáo (Anh, Pháp, Mỹ và Đức) ở huyện lỵ với khoảng 1000 học sinh. Sinh viên và nhà buôn có vẻ rất ngả theo ảnh hưởng của đạo Cơ đốc, trong khi nông dân triệt để chống lại ảnh hưởng của đạo Cơ đốc.

Không thấy có nông dân nào theo đạo.

12/ Những yêu sách trước mắt:

Giảm thuế

Cung cấp vũ khí để tổ chức đội tự vệ nông dân.

E) PHÙ NGUYÊN (GẦN HƯƠNG CẢNG)

1/ Huyện này có 2 địa chủ lớn có hơn 500 mẫu ruộng; 10 địa chủ có từ 200 đến 500 mẫu; 50 địa chủ có từ 100 đến 200 mẫu; 200 địa chủ có từ 50 đến 100 mẫu; 1.000 địa chủ có từ 30 đến 50 mẫu; 3.000 địa chủ có dưới 30 mẫu.

Một người làm mướn cho nông trại mỗi nǎm được từ 20 đến 100 đôla.

Phong trào bắt đầu bùng nổ vào đầu nǎm nay – nổ ra là do sự bóc lột của bọn quân phiệt, bọn hào lý và bọn hiến binh.

Tình hình của Hội nông dân là tốt.

2/ Đấu tranh. Hội nông dân đã thành công trong việc tước vũ khí một vài đội hương dũng, đã làm cho một hiến binh trưởng bị cách chức, đã chống lại quân đồn trú (6 nông dân đã bị giết).

3/ Hội viên. 55 làng với 7635 hội viên và 300 hội viên dự bị.

4/ Đội tự vệ nông dân có 1500 người có súng, nhưng chưa được huấn luyện, 2 chi đội thường trực, mỗi chi đội có 30 người.

5/ Hội nông dân đã giúp đỡ đội bảo vệ cuộc bãi công ngǎn chặn trộm cắp. Điều này làm cho bọn kẻ cướp tức tối; để trả thù, chúng đã ủng hộ bọn quân phiệt chống lại chúng ta. Một vài đội hương dũng đã bị Hội nông dân thu hút, một số khác còn trung lập, trong khi đó có một số chống lại chúng ta.

6/ Thanh niên. Mỗi làng có 1 hay 2 trường tư. Rất mê tín (một phong tục kỳ lạ: khi cô dâu mới cưới về thǎm bố mẹ mình ba ngày sau khi cưới, cô ta phải kêu khóc khi về đến gần làng). 10% hội viên Hội nông dân là những nông dân trẻ dưới 28 tuổi.

7/ Khoảng 150 nông dân ở huyện này là đảng viên Quốc dân đảng.

8/ Khác với nông dân các huyện khác, nông dân Phù Nguyên không dễ dàng bị xao xuyến bởi những sự kiện chính trị xảy ra ở Quảng Châu.

9/ Quan hệ giữa nông dân và công nhân rất chặt chẽ và có hiệu quả, như việc nông dân tham gia ngǎn ngừa trộm cắp để tiếp tế cho Hương Cảng đã cho thấy rõ điều này.

10/ Yêu sách trước mắt:

Giảm thuế.

F) TÂN HỘI

1/ Nông dân ở đây rất khổ vì bị bọn phỉ, bọn quan lại, bọn quân phiệt và tầng lớp quý tộc cũ cướp bóc. ở một vài nơi thậm chí còn tồn tại chế độ nô lệ. Nét đặc trưng của huyện này là phỉ lại đẻ thêm ra phỉ, và có những người nông dân lương thiện trở thành phỉ không phải để cướp bóc, mà là để tự vệ. Trong xã Lý ắc, một xã lớn, 3.000 trong số 10.000 dân đã trở thành phỉ, vì nếu một gia đình nào đó không có một người tham gia bǎng phỉ thì gia đình đó sẽ bị những tên phỉ khác áp bức. Nhiều người trong bọn phỉ đó là những người kiên quyết ủng hộ Hội nông dân.

2/ Đấu tranh. Có một tài chủ nào đó có 10.000 đôla công trái. Viên huyện trưởng tịch thu thuyền (20 chiếc) của nông dân trong làng gã tài chủ kia với ý định đem bán để trả nợ. Những nông dân nghèo không biết phải làm gì ngoài việc nguyền rủa cho chúng gặp những điều khốn khổ. Hội nông dân và Liên đoàn lao động đã đến cứu họ. Được công luận tạo cho sức mạnh – công luận phản đối hành động độc đoán của viên huyện trưởng -, các đại biểu của Hội nông dân và của Liên đoàn lao động gửi một tối hậu thư cho viên chánh án yêu cầu trả lại các thuyền đó trong 24 giờ. Việc đó được thực hiện đúng như vậy và thắng lợi này đã đem lại uy tín cho Hội nông dân. Từ đó nông dân hiểu rằng Hội nông dân hoạt động vì lợi ích của họ.

b/ Có một địa chủ lớn muốn sử dụng sức nước của một con sông bằng cách đắp một cái đập chặn nửa dòng sông lại. Việc đó gây ra nhiều bất tiện cho những nông dân sống ở bờ sông. Hội nông dân đã can thiệp và đã làm cho cái đập bị phá. Thắng lợi thứ hai này đã đem lại cho Hội nông dân thêm nhiều hội viên nữa.

3/ Hội viên. 14 làng. Việc điều tra số lượng hội viên chưa tiến hành được.

4/ Đội tự vệ nông dân: chỉ có 40 người và rất ít súng.

5/ Đội hương dũng. Mặc dù có 5.000 người nhưng không nguy hiểm vì tổ chức kém.

ở huyện này ít nhất có 30.000 tên phỉ; nhưng chúng rất thân thiện với Hội nông dân. Nhiều tên phỉ còn tham gia Hội nông dân.

Binh lính đồn trú trước kia rất tàn ác đối với nông dân; từ khi chúng bị Chính phủ Quốc dân đảng giải tán, toán quân mới có quan hệ với Hội nông dân.

6/ Thanh niên. Trình độ học vấn rất thấp. Làm việc rất vất vả.

7/ Do tuyên truyền phản cách mạng của bọn hào lý và bọn địa chủ, nông dân sợ hãi Quốc dân đảng. Nhưng hiện nay Hội nông dân đã thành công trong việc làm cho họ hiểu đảng này thực sự là cái gì.

8/ Trước mỗi sự kiện chính trị xảy ra ở Quảng Châu, bọn hào lý ở đây, giống như anh em chúng ở các huyện khác, đã tung tin đồn nhảm để làm cho nông dân lo sợ. ở đây chúng ta chỉ có 1 đảng viên cộng sản và hai học viên Trường nông dân để chống lại sự tuyên truyền phản cách mạng đó. Kết quả là nông dân tin những điều bọn hào lý nói với họ và do đó làm cho công tác của chúng ta trở nên khó khǎn.

9/ Quan hệ giữa công nhân và nông dân rất tốt.

10/ Những yêu sách trước mắt:

Giảm thuế,

Dẹp yên bọn phỉ.

G) TÙNG SƠN (NƠI SINH CỦA BÁC SĨ TÔN)

1/ Kẻ thù lớn nhất của Hội nông dân là đội hương dũng. Một lần trong khi Hội nông dân đang họp, đội hương dũng đã vây nhà, giết chết một hội viên Hội nông dân và làm bị thương một người khác. Tên hào lý chỉ huy cuộc tấn công ấy về sau đã bị trừng trị.

Một đội hương dũng khác đã cấm hội viên của Hội nông dân không được đi qua làng của mình. Trong một vài trường hợp, Hội nông dân đã thành công trong việc tước vũ khí của đội hương dũng.

Tình hình Hội nông dân là tốt, nhưng chúng ta còn phải phấn đấu để đuổi ra khỏi Hội bọn hào lý cơ hội chủ nghĩa đã gia nhập Hội nông dân nhằm củng cố vị trí của chúng hơn là hoạt động vì lợi ích của nông dân nghèo.

2/ Hội viên. 120 làng; 15.600 hội viên.

3/ Một vài toán phỉ chống lại chúng ta; một số khác muốn giúp đỡ chúng ta. Nông dân đã hợp tác với Chính phủ Quốc dân đảng tước vũ khí quân phản cách mạng.

Quân đồn trú hiện nay rất thân thiện với Hội nông dân. Hiến binh chống lại chúng ta.

4/ Thanh niên. Trình độ học vấn hầu như là số không. Trong một số làng có 1000 gia đình, chỉ có một hoặc 2 trường với 50 hoặc 60 học sinh, tất cả đều là con cái phú nông và trung nông. Chưa có cái gì để phục vụ con em nông dân nghèo.

5/ Khi nông dân nghe nói về cương lĩnh của Đảng cộng sản thì họ đã tán thành. Tiếc thay, bản thân các đồng chí của chúng ta không hiểu thật sâu sắc chủ nghĩa Mác – Lênin để tuyên truyền rộng hơn, và để tìm kiếm đảng viên cho Đảng từ trong hàng ngũ nông dân.

6/ ở đây chúng ta có 9 đảng viên cộng sản và 4 đảng viên dự bị.

7/ Bọn hào lý cũng rất khôn ngoan, chúng lợi dụng mọi cơ hội để tung tin đồn nhảm hòng làm cho nông dân sợ hãi. Nhưng chúng tôi đã chống lại có hiệu quả sự tuyên truyền của chúng. Sau khi Liêu Chung Khải bị giết hại, bọn hào lý vô cùng mừng rỡ. Chúng nói với nông dân: “các người thấy đấy, họ đã giết vị thủ lĩnh đầy sức mạnh của các người rồi đấy; sắp đến lượt các người nếu các người không rời bỏ Hội nông dân ngay lập tức!”. Nhưng khi chúng tôi đã tǎng cường công tác tuyên truyền – liên tục từ làng này sang làng khác – giải thích cho mọi người hiểu rõ ý nghĩa của việc đó thì nông dân chẳng những không sợ nữa, mà còn nôn nóng muốn trả thù cho người bạn bị giết hại của mình là ông Liêu.

Hiện nay, đội hương dũng hợp tác với bọn địa chủ để tung tin đồn nhảm. Chúng nói rằng Quảng Châu chẳng bao lâu nữa sẽ bị Trần Quýnh Minh chiếm và ông này sẽ đem bắn tất cả các hội viên của Hội nông dân, v.v..

8/ Với công nhân. Nông dân ở huyện này, những người sản xuất nhiều rau cho thị trường Hương Cảng và thị trường Ma Cao, bị đụng chạm nặng nề do việc phong toả những cảng này. Thoạt tiên họ rất phản đối những người bãi công. Nhưng khi nghe chúng tôi giải thích, họ không những quên tất cả những sự phẫn nộ đối với những người bãi công mà còn quyên góp rất hào phóng vào quỹ bãi công. Sự bực bội của họ đối với người công nhân một phần đã biến thành lòng yêu nước, mến thương những người bãi công yêu nước và phần khác biến thành sự cǎm ghét bọn đế quốc.

9/ Có nhiều trường truyền giáo. Các trường đó đã cố gắng rất nhiều để làm cho người ta chuyển sang theo đạo, nhưng kết quả rất bé nhỏ. Tuy vậy, ở một làng chúng tôi thấy một số lớn nông dân đã theo đạo Cơ đốc. Những người theo tôn giáo này nói với chúng tôi: “Chúng tôi không biết và không quan tâm xem đạo Cơ đốc là cái gì, chúng tôi tin theo vì cần sự giúp đỡ của họ. Bây giờ chúng tôi có Hội nông dân để bảo vệ lợi ích của mình, chúng tôi có thể cáo biệt nhà thờ!”.

10/ Những yêu sách trước mắt:

a. Giải tán đội hương dũng.

b. Nông dân kiểm soát bãi cát.

c. Giảm thuế.

————————

Tài liệu tiếng Anh, lưu tại Viện Hồ Chí Minh
cpv.org.vn

Gửi Đoàn Chủ tịch Quốc tế nông dân (27-10-1925)

Các đồng chí thân mến,

Những thư của các đồng chí đề các ngày 1, 2, 13, 17, 18, 30 tháng 8 và các ngày 1, 2, 5, 7, 9 tháng 9 đến tôi cùng vào một ngày: ngày 14 tháng 10.

1/ Số tiền các đồng chí gửi cho sẽ do đồng chí Bôrôđin xử lý theo sự chỉ dẫn của các đồng chí. Bản thanh toán về số tiền đó sẽ được gửi đến các đồng chí sau. Việc xuất bản các tài liệu, việc cử người đi tuyên truyền, và việc gửi đều đặn các tin tức cho các đồng chí sẽ được thực hiện. Song việc cử người trong số các đồng chí đi Mátxcơva – theo ý kiến của tôi – thì chưa được vì tất cả các đồng chí chúng ta bây giờ đang cần ở đây. Không có ai trong số họ biết tiếng nước ngoài.

2/ Ban Chấp hành Trung ương Quốc dân đảng không hề cử một đoàn đại biểu nông dân nào. Không ai biết ông Cho-ngao là ai.

3/ Tôi gửi đến các đồng chí một báo cáo về công tác nông dân ở tỉnh Quảng Đông. Bản báo cáo đó trả lời những vấn đề trong thư của các đồng chí đề ngày 5-9-25.

4/ Thư gửi Quốc tế thứ hai 36 đǎng ở tờ “Dân quốc nhật báo”, cơ quan của Quốc dân đảng; và báo “Con đường công nhân”.

5/ Tôi yêu cầu các đồng chí gửi cho chúng tôi những tài liệu bằng tiếng Pháp hoặc tiếng Anh, nhưng không bằng tiếng Đức bởi vì chúng tôi không hiểu tiếng Đức.

Xin gửi các đồng chí lời chào cộng sản .

Quảng Châu, ngày 17-10 NILỐPXKI

———————–

Tài liệu tiếng Anh, lưu tại Viện Hồ Chí Minh
cpv.org.vn

Gửi Đoàn Chủ tịch Quốc tế nông dân (5-11-1925)

Các đồng chí thân mến,

Những báo cáo và nghị quyết sau đây của Phân bộ Quốc dân đảng Quảng Đông sẽ cho thấy rằng:

1/ Nông dân bị sự áp bức của bọn kỳ hào, bọn kẻ cướp, bọn tham quan ô lại, bọn hương dũng, bọn quân phiệt, bọn địa chủ, bọn cho vay nợ, bọn độc quyền.

2/ Những yêu sách mà họ nhất trí đưa ra là giảm thuế, dẹp yên bọn cướp, giải tán hương dũng.

3/ Học vấn của họ nói chung là rất thấp.

4/ Do truyền thống gia trưởng, người đại diện cho tất cả các thành viên trong gia đình mình, nên người phụ nữ nông dân không- hoặc không được phép – tham gia hoạt động của tổ chức.

5/ Họ tán thành cương lĩnh của Đảng Cộng sản (1) khi nỗi lo của họ về “xã hội hoá phụ nữ” được xua tan.

6/ Họ có thể chịu sự hy sinh to lớn để bảo vệ giai cấp của họ hoặc để ủng hộ Chính phủ cách mạng.

7/ Phong trào đang được tổ chức và được lãnh đạo bởi các đồng chí cộng sản của chúng ta dưới danh nghĩa Quốc dân đảng.

8/ Bức thư của đồng chí gửi cho tôi (ngày 17 tháng 8) chỉ rõ rằng: “Hiện thời sự tham gia của Hội nông dân Trung Quốc vào Quốc tế Nông dân chỉ thuần tuý mang tính chất tuyên cáo. Chúng ta sẽ phải làm gì để cho sự tham gia đó trở thành thực sự ?

9/ Tôi chưa chính thức liên lạc được với Ban Chấp hành Trung ương Quốc dân đảng 1 như đồng chí đã chỉ thị, tôi sẽ hỏi các đồng chí của chúng ta ở đấy xem tôi được giới thiệu chính thức thì hơn hay làm việc thông qua các đồng chí Trung Quốc của chúng ta thì hơn. Trong thư sau, tôi sẽ báo cáo về vấn đề đó.

10/ Tôi không nhận được một tuyên ngôn nào từ đồng chí Hanlơ.

11/ Tôi không nhận được một đề cương nào về vấn đề nông dân Trung Quốc như đồng chí nói là đã gửi cho tôi.

12/ Cùng với bản báo cáo này, tôi gửi tới đồng chí một vài tấm ảnh và một vài tập sách mỏng do Phân bộ nông dân Quốc dân đảng xuất bản.

Xin gửi lời chào cộng sản.

Quảng Châu, ngày 5-11-1925. NILỐPXKI (NAQ)

————————–

Tài liệu tiếng Anh, lưu tại Viện Hồ Chí Minh
cpv.org.vn

Thư gửi Đoàn Chủ tịch Quốc tế nông dân (3-12-1925)

Kính gửi Đoàn Chủ tịch Quốc tế Nông dân,

Các đồng chí thân mến,

1/ Tôi đã hỏi ý kiến C.E.C 1 của C.C.P 2 vấn đề về những quan hệ trực tiếp của tôi với C.E.C của Quốc dân đảng với tư cách là đại diện chính thức của các đồng chí. Các đồng chí của chúng ta nói rằng điều đó là không cần thiết, bởi vì tôi có thể có tất cả mọi thông tin liên quan tới vấn đề nông dân thông qua các đồng chí đảng viên cộng sản Trung Quốc của chúng ta. (Mặc dù Chủ tịch Nông hội ở trong Quốc dân đảng, tất cả mọi công việc – tổ chức cũng như tuyên truyền đều do các đồng chí của chúng ta làm).

2/ Quốc dân đảng đang xuất bản tạp chí “Nông dân” bán nguyệt san, bắt đầu từ tháng này. Số đầu tiên sẽ ra mắt trong vài ngày tới. Tôi sẽ gửi tới các đồng chí.

3/ Tiếp theo là phong trào nông dân diễn ra hằng ngày (trên Nhật báo Quảng Châu) 3 và tranh ảnh đã được xuất bản trong cuộc họp nông dân tháng 5 vừa qua.

4/ Xin gửi cho tôi tư liệu về phong trào nông dân quốc tế (bằng tiếng Pháp hoặc tiếng Anh) để dịch và đǎng tải trên tạp chí Quốc dân đảng.

Gửi các đồng chí lời chào cộng sản.

Quảng Châu, ngày 3-12-25. Nilốpxki (naq)

—————————

Tài liệu tiếng Anh, lưu tại Viện Hồ Chí Minh
cpv.org.vn

Lênin và các dân tộc thuộc địa (1925)

Cho tới ngày Lênin mất, vẫn còn có nhiều dân tộc thuộc các màu da chưa hiểu rõ Lênin là ai và nước Nga ở đâu. Bởi vì chủ nghĩa đế quốc thực dân cố ý không cho họ biết điều đó. Nhưng tại những nơi xa xǎm hẻo lánh ở Đông Dương, người ta cũng đã nghe nói có một dân tộc ở miền Bắc xa xôi đã đánh đuổi được bọn áp bức và tự quản lý lấy mình. ở các nơi xa xǎm hẻo lánh nhất, người ta cũng biết rằng nước đó là nước Nga, và Lênin là người ưu tú nhất của nước đó.

Không phải là không có lý do khi Trường đại học Bắc Kinh tổ chức thǎm dò ý kiến xem ai là người ưu tú nhất trên thế giới, thì ai cũng trả lời: người ưu tú nhất trên thế giới là Lênin.

Từ lâu, nhân dân bị áp bức ở phương Đông đã được biết rằng con người vĩ đại đó, sau khi đã giải phóng nước Nga, còn muốn giải phóng tất cả các dân tộc khác nữa. Điều này cũng đủ để kích thích lòng ngưỡng mộ sâu sắc và phấn khởi đối với lãnh tụ Lênin. Các dân tộc da đen và da vàng biết rằng Lênin vĩ đại đã kêu gọi những người da trắng đấu tranh để giải phóng các dân tộc thuộc các màu da bị áp bức thoát khỏi bọn bóc lột.

Thật dĩ nhiên là tất cả những hy vọng của người nô lệ bị áp bức ở các nước thuộc địa vào một tương lai tốt đẹp đều gắn liền với tên tuổi của Lênin – một con người đặc biệt mà trong thời gian đầu, thậm chí còn có nhiều người chưa tin là có. Rất dễ hiểu rằng tin Lênin mất cách đây một nǎm đã gây cho quần chúng các nước thuộc địa một ấn tượng không sao tả nổi, không sao diễn tả được.

Nhưng dần dần những người bị áp bức sống trong cảnh tǎm tối

đó được biết tin về Đảng Cộng sản, về tổ chức gọi là Quốc tế Cộng sản. Nhất là họ càng ngạc nhiên khi được tin rằng Đảng và tổ chức này đều do Lênin sáng lập ra, và mặc dù Lênin đã mất, nhưng còn có Đảng Cộng sản và Quốc tế Cộng sản tiếp tục sự nghiệp của Người.

Các dân tộc da đen và da vàng kém phát triển chưa phải đã nhận ra ngay rằng Lênin và Đảng Cộng sản chỉ là một. Nhưng khi họ biết điều đó thì họ sung sướng vô hạn. Họ bắt đầu hiểu rằng sự nghiệp của Lênin không bao giờ mất, và họ vẫn hy vọng được giải phóng vì vẫn còn Đảng của Lênin.

Vì vậy, nǎm vừa qua, kể từ ngày Lênin mất, ảnh hưởng của Đảng Cộng sản được lan rộng trong nhân dân các nước thuộc địa và nhân dân những nước đó hết sức chú ý đến Đảng Cộng sản.

Khi Lênin còn sống, nhân dân bị áp bức coi Người là người giải phóng mình. Khi Người mất đi, họ tự hỏi nhau: “Lênin đã mất rồi, chúng ta biết làm sao bây giờ?”. Họ hỏi nhau: “Tìm đâu ra những người có đủ tinh thần dũng cảm và nhân từ như Lênin để chǎm lo đến việc giải phóng những người nô lệ ở các nước thuộc địa?”.

Trong nǎm qua, nhân dân bị áp bức ở các nước phương Đông đã nhận ra rằng, họ đã tìm thấy một Đảng lớn mạnh lấy tên là Đảng Lênin để thay thế cho một vài cá nhân. Và bây giờ, nhân dân các nước thuộc địa đều đặt hy vọng được giải phóng vào Đảng này cũng như một nǎm trước đây đã đặt hy vọng vào Lênin.

Khi còn sống, Lênin là người thầy, người cha của nhân dân bị áp bức. Sau khi mất, Người là ngôi sao chỉ đường tiến tới sự nghiệp giải phóng vĩ đại của nhân dân bị áp bức.

Lênin sống mãi trong lòng mọi người dân nô lệ ở các nước thuộc địa!

NGUYỄN ÁI QUỐC Đại diện Đông Dương ở Quốc tế Cộng sản

—————————

Báo Công nhân Bacu (Liên Xô), số 16, nǎm 1925
cpv.org.vn

Việt Nam vững bước tiến cùng thời đại

(VOV) – Chính phủ và nhân dân Việt Nam đang nỗ lực, sáng tạo để vượt qua khó khăn, thách thức, tiếp tục xây dựng và bảo vệ đất nước.

Tối 31/8 tại Trung tâm Hội nghị quốc tế 11 Lê Hồng Phong, Hà Nội, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cùng phu nhân chủ trì Tiệc chiêu đãi Đoàn Ngoại giao nhân dịp kỷ niệm 67 năm Quốc khánh 2/9.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng phát biểu tại Tiệc chiêu đãi

Tham dự có các Phó Thủ tướng: Nguyễn Xuân Phúc và Vũ Văn Ninh; lãnh đạo các bộ, ban, ngành, đoàn thể Trung ương và Hà Nội. Về phía Đoàn Ngoại giao có Ngài Jorge Rondon Uzcategui, Đại sứ Cộng hòa Bolivar Venezuela, quyền Trưởng Đoàn Ngoại giao cùng đông đảo các vị Đại sứ, Đại biện, Trưởng Đại diện các Tổ chức quốc tế tại Hà Nội….

Thay mặt Chính phủ và nhân dân Việt Nam, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nhiệt liệt chào mừng các vị Đại sứ, Đại biện, Trưởng Đại diện các Tổ chức quốc tế đến dự cuộc gặp thân mật kỷ niệm 67 năm Quốc khánh nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nhấn mạnh: Ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã long trọng đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, mở ra một kỷ nguyên mới của dân tộc Việt Nam – kỷ nguyên của độc lập, tự do và tiến bộ xã hội.

Thủ tướng nhấn mạnh: Trong 67 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh, nhân dân Việt Nam đã anh dũng, kiên cường vượt qua muôn vàn khó khăn gian khổ để giành độc lập, tự do, thống nhất Tổ quốc, xây dựng đất nước ngày càng phát triển, giàu mạnh, hội nhập quốc tế thành công và đoàn kết, chung sức, vững tin, vững bước tiến cùng thời đại, xây dựng một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Ngài Jorge Rondon Uzcategui, Đại sứ Cộng hòa Bolivar Venezuela, quyền Trưởng Đoàn Ngoại giao phát biểu

Chính phủ và nhân dân Việt Nam đang nỗ lực, sáng tạo để vượt qua những khó khăn, thách thức, tiếp tục xây dựng và bảo vệ đất nước, trong đó ưu tiên ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát, duy trì mức tăng trưởng hợp lý, bảo đảm an sinh và phúc lợi xã hội, giữ vững quốc phòng an ninh, chủ quyền quốc gia và trật tự, an toàn xã hội.

Thủ tướng bày tỏ vui mừng trước quan hệ giữa Việt Nam và cộng đồng quốc tế có bước phát triển mới, tiếp tục được củng cố, phát triển và đi vào chiều sâu.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cho rằng: Với phương châm “là bạn, là đối tác tin cậy, là thành viên có trách nhiệm của Cộng đồng quốc tế”, Việt Nam đang chủ động, tích cực hội nhập toàn diện với thế giới và khu vực, có nhiều đóng góp tại các diễn đàn quốc tế như: ASEAN, Diễn đàn Cấp cao Đông Á (EAS), Phong trào không liên kết, các diễn đàn trong khuôn khổ Liên Hợp Quốc. Việt Nam tiếp tục thực hiện những cam kết gia nhập WTO, thúc đẩy hợp tác kinh tế khu vực, tham gia đàm phán Hiệp định đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP)…

Thủ tướng gửi lời cảm ơn chân thành tới Chính phủ và nhân dân các nước trên thế giới, các vị Đại sứ, Đại biện và Trưởng đại diện các Tổ chức Quốc tế về những tình cảm tốt đẹp, sự ủng hộ quý báu, sự hợp tác có hiệu quả đã dành cho nhân dân và đất nước Việt Nam trong thời gian qua. Trên con đường phát triển và hội nhập, cùng với những nỗ lực phát huy tối đa nguồn lực trong nước, Việt Nam mong muốn tiếp tục nhận được sự ủng hộ, giúp đỡ và hợp tác nhiều hơn nữa của bạn bè quốc tế.

Thủ tướng khẳng định: “Chúng tôi tin tưởng chắc rằng hợp tác, hỗ trợ và giúp đỡ lẫn nhau, coi trọng lợi ích của nhau là nền tảng, là phương cách căn bản, quan trọng và hiệu quả nhất để chúng ta cùng nhau vượt qua khó khăn vì mục tiêu hòa bình và phát triển”.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và phu nhân chúc tiệc các vị khách

Thay mặt Đoàn Ngoại giao, Ngài Jorge Rondon Uzcategui, Đại sứ Cộng hòa Bolivar Venezuela, quyền Trưởng Đoàn Ngoại giao đã gửi lời chúc mừng nồng nhiệt nhất tới Nhà nước và nhân dân Việt Nam nhân dịp kỷ niệm 67 năm ngày Quốc khánh nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam; bày tỏ chia sẻ niềm tự hào dân tộc với nhân dân và Chính phủ Việt Nam về khoảnh khắc Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc lời Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam…

Ngài Jorge Rondon Uzcategui tin tưởng Việt Nam tiếp tục giành chiến thắng trong công cuộc đưa đất nước ngày càng thịnh vượng, trở thành một nước phát triển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa; khẳng định rất nhiều các quốc gia khác cùng hợp tác với Việt Nam để cùng phát triển.

Ngài Jorge Rondon Uzcategui bày tỏ: “Chúng tôi nhận thấy quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam với các nước đang phát triển từng ngày. Nhiều Đại sứ quán mới được mở ra tại Hà Nội và Việt Nam cũng đã thiết lập các cơ quan ngoại giao mới trên toàn thế giới. Đồng thời Việt Nam đã xây dựng những nhịp cầu hữu nghị bền chặt, đoàn kết và hợp tác với nhiều khu vực. Có được chính sách ngoại giao chủ động như vậy là nhờ vị thế của Việt nam với tư cách là một đối tác đáng tin cậy, một thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, với những cam kết hội nhập quốc tế, hòa bình, hợp tác, phát triển và đa phương hóa.

Chúng tôi sẽ làm hết sức mình vì sự thịnh vượng và phát triển của nhân dân Việt Nam. Đây chính là sự tiếp nối cần thiết để thực hiện Tuyên ngôn trí tuệ của Chủ tịch Hồ Chí Minh và cũng là mong muốn của tất cả chúng ta: Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng, có quyền được sống, được mưu cầu hạnh phúc và tự do…/.

Thành Chung/VOVTV
vov.vn

Hồn Việt, bản sắc Việt trong “Tuyên ngôn Độc lập”

Một sự kiện cách đây 67 năm, không những đi vào lịch sử nước ta mà còn hiện diện vinh danh trong lịch sử thế giới. Đó là ngày 2-9-1945, tại Quảng trường Ba Đình, (Hà Nội), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn Độc lập(TNĐL), khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á.

Bản Tuyên ngôn Độc lập là áng văn bất hủ, sánh vai cùng nhiều áng “thiên cổ hùng văn” mà ông cha ta đã để lại trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước, sau “áng thơ thần bên sông Như Nguyệt”: Nam quốc sơn hà Nam đế cư… gắn với cuộc kháng chiến chống giắc Tống xâm lược của Lý Thường Kiệt, như Hịch tướng sĩ của Trần Hưng Đạo thống lĩnh toàn dân ba lần đánh bại giặc Nguyên – Mông, hay Đại cáo Bình Ngô của Nguyễn Trãi “Tuyên cáo” về chiến thắng vẻ vang của cuộc kháng chiến trường kỳ đánh đuổi giặc Minh đô hộ dưới ngọn cờ của minh quân Lê Lợi…

Tuyên ngôn Độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định về mặt pháp lý quyền làm chủ của nhân dân ta, từ địa vị nô lệ đứng lên giành độc lập, tự tổ chức ra nhà nước của mình. Áng hùng văn bất hủ này thực sự là một Di sản văn hóa và tư tưởng Việt Nam để khẳng định quyền tự chủ của dân tộc. Đọc TNĐL của Bác Hồ, chúng ta nhận ra qua từng lời văn với ngôn ngữ rất chắt lọc của Bác, không những mang tính pháp lý hiện đại, có tầm quốc tế về nội dung, mà còn mang đậm hồn Việt, bản sắc văn hóa dân tộc Việt.

Trong Tuyên ngôn Độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhắc lại cuộc kháng chiến giành độc lập của Hoa Kỳ, do Thô-mat Giê-phe-son soạn thảo. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ thay đổi một ý so với bản tuyên ngôn của Thô-mat Giê-phe-son. Câu “Chúng tôi ủng hộ một sự thật hiển nhiên rằng mọi người đều sinh ra bình đẳng” thì Chủ tịch Hồ Chí Minh viết ngắn gọn, dễ hiểu hơn:“Mọi dân tộc sinh ra đều bình đẳng”. Quả là một sự thay đổi khéo léo và sáng suốt theo văn phong Việt, phong cách Việt, tính quần chúng hóa rất cao.

Từ chỗ mọi người, Bác đã đưa ra khái niệm lớn hơn, bao quát hơn: Mọi dân tộc, mang đầy đủ ý nghĩa quốc tế vô sản. Đó là một sự suy rộng mang đậm nét Tư tưởng Hồ Chí Minh. Nguyên văn trong TNĐL, Bác Hồ dùng cách diễn đạt “Suy rộng ra, câu ấy có nghĩa là: Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”.

Tuyên ngôn Độc lập không chỉ là giấy khai sinh cho một Nhà nước Việt Nam theo thể chế Dân chủ vì mục tiêu Độc lập – Tự do – Hạnh phúc mà còn đóng góp cho sự nghiệp giải phóng nhân loại bằng sự suy rộng ra thành chân lý mang tầm thời đại. Cũng theo quan điểm, tư tưởng quốc tế vô sản, từ cách nhìn “toàn cầu hóa”, tháng 5-1969, trong Di chúc để lại cho muôn đời con cháu mai sau, Người đã viết: “… Tôi mong rằng Đảng ta sẽ ra sức hoạt động, góp phần đắc lực vào việc khôi phục lại khối đoàn kết giữa các đảng anh em trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản, có lý, có tình. Tôi tin chắc rằng các đảng anh em và các nước anh em nhất định sẽ phải đoàn kết lại”.

Nhà sử học Dương Trung Quốc đã dẫn biện: Cũng bình luận về đoạn trích dẫn này, một nhà nghiên cứu văn hóa Việt Nam người Hoa Kỳ, bà La-dy Bo-rơ-ton, còn đưa ra nhận xét rằng khi dịch chữ “all men” trong văn bản của Thô-mat Giê-phe-son vào thời được viết, thế kỷ XVIII, chỉ bao hàm những người đàn ông (đương nhiên là da trắng và có tài sản) đã được Chủ tịch của nước Việt Nam độc lập diễn dịch thành “Tất cả mọi người” mà trên thực tế được thể hiện trong Hiến pháp Việt Nam bao gồm tất thảy các công dân không phân biệt giới tính, tôn giáo, sắc tộc hay chính kiến. Đó chính là một sự “suy rộng” nữa mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đem lại cho TNĐL năm 1776 của nuớc Mỹ những tiến bộ của nhân loại gần 2 thế kỷ sau đó.

Giá trị rất quan trọng của TNĐL là một văn bản pháp lý rất hiện đại phù hợp với sự phát triển của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của tất cả các dân tộc bị áp bức, bị nô dịch trên thế giới. Nó khẳng định địa vị pháp lý của nền độc lập và chủ quyền một quốc gia với toàn thế giới, nhất là cộng đồng các quốc gia, các dân tộc đang vươn tới giành tự do, độc lập. Đánh giá về quá trình khởi thảo bản TNĐL, một sĩ quan tình báo Hoa Kỳ, ông A-Pat-ti, phụ trách đơn vị OSS cộng tác với Việt Minh trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp, cho rằng: Ngay sau khi nhận được tin phát xít Nhật đầu hàng, nhận thấy thời cơ đã tới, Hồ Chí Minh “đã hành động một cách kiên quyết và nhanh chóng, vì ông phải bảo đảm chiếm được một chỗ đứng vững chắc ở Hà Nội, Huế, Sài Gòn. Ông Hồ biết rằng, ông phải làm cho mọi người thấy rõ cả tính hợp pháp lẫn sức mạnh để giữ vai trò lãnh đạo và phát triển phong trào…”.

Để nâng cao giá trị của bản TNĐL vừa mang tính hiện đại, khoa học, dân tộc và đại chúng, sau khi soạn thảo, Bác đã đem bản thảo trao đổi để lấy ý kiến không chỉ đối với các đồng chí trong đoàn thể của mình mà còn đọc cho những người dân bình thường nghe, với lòng mong muốn nó đến được với mọi đồng bào của mình để làm cho họ có ý thức về một biến cố lịch sử rất to lớn đối với vận mệnh của cả dân tộc.“Tôi nói đồng bào nghe rõ không?”… Riêng câu nói đó trước khi chính thức đọc bản TNĐL tại Quảng trường Ba Đình đã toát lên tính dân tộc, tính đại chúng trong cách nói và viết của Người. Nó thực sự gần gũi với vận mệnh của mỗi con người, nay đã được gọi là công dân của một nước độc lập theo mục tiêu của một thể chế ưu việt: Độc lập, Tự do, Hạnh phúc.

Trích dẫn những câu chữ rất chọn lọc trong Tuyên ngôn Độc lập của nước Mỹ và bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp, Bác Hồ muốn mọi công dân Việt Nam và các dân tộc trên thế giới hiểu rằng: Hai nước thực dân, đế quốc to trên thế giới “tuyên bố” như thế, nhưng lại đi xâm lược, tước đoạt quyền tự do, độc lập của các dân tộc khác. Từ đó, lên án thực dân Pháp, đứng sau là quan thầy Mỹ, đã lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái để cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta trong 80 năm, trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa. Sử dụng những trích dẫn ấy, vị Chủ tịch của Nhà nước Việt Nam độc lập còn muốn khẳng định rằng ngay cách mạng Việt Nam cũng là sự nối tiếp trên con đường phát triển tất yếu của nhân loại. Những gì đã diễn ra sau cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã minh chứng một sự thực về nguyện vọng giải phóng của các nước nhỏ khỏi sự đè nén của các nước lớn.

Để chứng minh cái quyền tất yếu của dân tộc ta: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được. Đó là “quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Đây là một Tuyên bố Nhà nước, một văn bản Quốc gia chính thức. Vì thế, theo thông lệ của các chuẩn mực, người viết đã chọn dùng ngôn ngữ luật pháp chứ không phải ngôn ngữ hành chính để thể hiện. Theo đó, tác giả đã không xuất phát từ cái ý chủ quan của riêng mình mà bắt đầu văn bản bằng việc nêu lên một chân lý khách quan, vốn đã thấy trên chính trường quốc tế.

Cách mạng Tháng Tám thành công đã khai sinh ra một nước Việt Nam độc lập. Nước Việt Nam độc lập thì tiếng Việt cũng được độc lập. Độc lập là tiếng nói và chữ viết trở thành chính danh. Mệnh đề ấy rất đơn giản nhưng lại hoàn toàn không đơn giản chút nào trong sự nghiệp đấu tranh cho văn hoá của dân tộc Việt Nam.

Tiếng Việt “là thứ của cải vô cùng lâu đời, vô cùng quý báu của dân tộc” (Hồ Chí Minh, 1962), là công cụ hữu hiệu trong phát triển và giữ gìn văn hoá Việt Nam suốt chiều dài lịch sử. Nhưng tiếng Việt, cho đến ngày Cách mạng Tháng Tám, mới thật sự là thứ ngôn ngữ chính danh. Bản Tuyên ngôn Độc lập mà Hồ Chủ tịch đọc ngày 2 -9-1945 là một minh chứng cho điều tiếng ta đã thật sự trở thành một tiếng độc lập.

Theo GS.TS. Đinh Văn Đức: Các văn kiện nổi tiếng về nền độc lập dân tộc như bài thơ “Nam quốc sơn hà”, hay “Bình Ngô Đại cáo”… đều được viết bằng chữ Hán. Phải đến “Tuyên ngôn Độc lập” (1945) của Chủ tịch Hồ Chí Minh mới có một văn kiện chính thức đầu tiên về nền Độc lập dân tộc được viết bằng tiếng Việt, chữ Việt một cách chính danh. Ngôn ngữ “Tuyên ngôn Độc lập” là một tuyệt phẩm của tiếng Việt chuẩn mực và hiện đại – Một hòn ngọc văn hoá có giá trị rất quý báu và trường tồn lâu dài, như chính hồn Việt, dân tộc Việt, con người Việt.

Ngôn ngữ “Tuyên ngôn Độc lập” là ngôn ngữ chính luận của một áng hùng văn đầy cảm xúc và của một ý chí sắt đá. Thành công của ngôn ngữ trong văn bản này có thể nhận thấy trên nhiều phương diện. Bản TNĐL có ba nội dung quan trọng, vừa mang tính khẳng định, vừa là lời hiệu triệu hùng hồn, với những tu từ học và ngắt câu, chốt câu rất độc đáo:

“… Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được.

Thế mà hơn 80 năm nay, bọn thực dân Pháp lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái, đến cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta.

Hành động của chúng trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa.

… Nhật tước khí giới của quân đội Pháp.

Bọn thực dân Pháp hoặc là bỏ chạy, hoặc là đầu hàng.

Thế là chẳng những chúng không “bảo hộ” được ta, trái lại, trong 5 năm, chúng đã bán nước ta hai lần cho Nhật”.

Đã là tuyên ngôn thì phải nói ngay được cái chân lý, cái cốt lõi. Các phân tích ngôn từ triển khai tiếp theo sẽ bám vào đó mà thể hiện các lập luận. Ngôn ngữ văn bản này được viết rất giản dị nhưng tổ chức cực kỳ chặt chẽ. Các liên kết lô gích và liên kết mạch lạc làm nòng cốt cho việc triển khai các lập luận cơ bản. Đó liên tục là một chuỗi của các lập luận: Lập luận về quyền dân tộc, lập luận về việc thực dân Pháp vi phạm các quyền đó, lập luận về thời cơ của vận nước, lập luận về quyền và trách nhiệm của dân tộc Việt Nam, lập luận về quyết tâm của chính phủ và nhân dân Việt Nam trong việc giữ gìn quyền độc lập và tự do. Một đặc trưng khác là cùng với lập luận chặt chẽ, lời văn của Tuyên ngôn hết sức trang trọng.

Ngôn ngữ của Tuyên ngôn Độc lập là ngôn ngữ của một văn kiện chính trị lớn, hướng đến một công chúng lớn mà đối tượng đích là “Quốc dân và Thế giới”. Nội dung truyền thông trong bản bố cáo rất lớn lao, có ý nghĩa vận mệnh của Quốc gia và Dân tộc. Dễ dàng nhận ra là tác giả đã viết văn bản trong một sự hào sảng cao độ, các cảm xúc như trào lên ngọn bút quanh hai từ Độc lập và Tự do. Ngôn ngữ luật pháp được vận dụng triệt để, các phát ngôn đầy tính nhân văn và lịch lãm, nhưng không màu mè và giả tạo, không lên gân mà rất tự nhiên, trung thực. Quan điểm của người nói khi phát ngôn rất chân thành và tha thiết nhưng cũng rất kiên định và cương quyết.

Sự súc tích của câu văn và từ ngữ cũng là một nét nổi trội. Có những nội dung rất lớn nhưng tác giả chỉ cần gói gọn trong một dòng với những ngắt đoạn cực ngắn, như khi nói về tình thế của cách mạng ta lúc đó, Tuyên ngôn đã viết: “Pháp chạy. Nhật hàng. Vua Bảo Đại thoái vị… Chúng ta lấy lại đất nước ta từ trong tay Nhật chứ không phải trong tay Pháp”. Thế là rõ: Đối ngoại thì Pháp không có lý do gì để trở lại Việt Nam, đối nội thì chính quyền cũ đã hạ cờ. Lịch sử đã sang trang. Mấy ngày sau, khi Quân đồng minh vào nước Việt thì họ chỉ là khách đến làm nhiệm vụ trong một đất nước có chủ quyền.

Chúng ta thấy lời văn ở đây là kết tinh một thứ tiếng Việt rất mới mẻ và hiện đại. Tính dân tộc và tính đại chúng trong TNĐL thể hiện rõ nét ở những câu, từ vừa mang tính chính luận sắc bén, vừa dễ hiểu để mọi tầng lớp trí-công-nông-binh đều hiểu rõ. Các từ như “thẳng tay”, “tắm”, “nòi giống ta”, “tận xương tủy”, “giết nốt”, “gan góc” hoàn toàn là Việt ngữ, không hề vay mượn, pha tạp chút nào. Ví dụ như: “Chúng đã thẳng tay chém giết”… “tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu… Chúng dùng thuốc phiện, rượu cồn để làm cho nòi giống ta suy nhược… Chúng bóc lột dân ta đến xương tuỷ… Chúng còn nhẫn tâm giết nốt số đông tù chính trị ở Yên Bái và Cao Bằng…”

Đã 66 năm, từ Bản “Tuyên ngôn Độc lập” do Bác Hồ kính yêu của chúng ta soạn thảo và đã đọc tại Quảng trường Ba Đình, dân tộc ta đã trải qua hai cuộc kháng chiến trường kỳ, gian khổ với biết bao hy sinh mất mát, nhưng đã “đánh thắng hai để quốc to là Pháp và Mỹ”, mọi người dân Việt Nam đều thấm nhuần sâu sắc và luôn luôn mang bên mình như một thứ hành trang không thể thiếu được. Đó là lời hiệu triệu của Bác: “Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do độc lập ấy”. Giá trị của Tuyên ngôn Độc lập cùng lời hiệu triệu đanh thép và trường tồn ấy vẫn luôn luôn tươi rói trong sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Bùi Văn Bồng

xaydungdang.org.vn

Thời đại Hồ Chí Minh sinh ra trước hết từ chủ nghĩa yêu nước

“Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập”.

Lời tuyên bố trịnh trọng vang lên giữa Quảng trường Ba Đình, Hà Nội ngày 2-9-1945 của Chủ tịch Hồ Chí Minh, thay mặt Chính phủ lâm thời, thay mặt toàn bộ dân nước, không chỉ là lời tuyên bố trước toàn thể thế giới về sự có mặt của một dân tộc anh hùng, về sự khai sinh Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Nhà nước dân chủ đầu tiên ở Châu Á mà còn thể hiện một sự tự nhận thức về những giá trị nhân văn, giá trị tiến bộ của một dân tộc hàng nghìn năm chìm đắm trong nô lệ và nghèo nàn, lạc hậu; là tuyên ngôn của lòng quyết tâm thực thi các giá trị tiến bộ đó trên đất nước mình.

Bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 được coi là áng thiên cổ hùng văn của Việt Nam, bên cạnh bài thơ Nam quốc sơn hà của Lý Thường Kiệt, Hịch tướng sĩ văn của Trần Quốc Tuấn, Đại cáo bình Ngô của Nguyễn Trãi.

Với 1.009 chữ, Tuyên ngôn Độc lập Nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa còn được thế giới coi là tác phẩm tuyên ngôn mẫu mực, chặt chẽ về luật pháp, giàu hình ảnh văn học, thể hiện rõ được ý chí nguyện vọng của dân tộc, của thời đại ; mang tính lịch sử và nhân văn, tính đặc thù và phổ quát.

Thượng nghị sĩ Hoa Kỳ Mc Govern năm 2005 đã đánh giá: Trong Tuyên ngôn Độc lập của Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viện dẫn Thomas Jefferson và suy luận một cách sáng suốt.

Mở đầu bản tuyên ngôn là một chân lý hiển nhiên: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng.Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”; “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi, và phải luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”.

Tạo hóa, Đấng Tối cao trong quan niệm Phương Tây, cũng như Trời, Đạo Trời trong cách nghĩ của người Phương Đông đều thể hiện một quyền lực, một chân lý tuyệt đối, không ai chống lại được, không phải bàn cãi.

Đoạn trích đầu từ Tuyên ngôn Độc lập của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ , bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên trên thế giới được soạn thảo bởi Luật sư danh tiếng bang Virginia, ông Thomas Jefferson(1743-1826), sau này là Tổng thống Hoa Kỳ (1801-1809), được tuyên đọc ngày 4-7-1776, chấm dứt sự phụ thuộc của Mỹ đối với Anh. “Trong tiến trình phát triển của nhân loại, khi một dân tộc nào đó cần thiết phải xóa bỏ những mối liên kết chính trị giữa họ với một dân tộc khác và khẳng định trước các lực lượng trên toàn trái đất vị thế độc lập và bình đẳng mà các quy luật của tự nhiên và Thượng đế đã ban cho họ thì sự tôn trọng đầy đủ với các quan điểm của nhân loại đòi hỏi họ phải tuyên bố những nguyên do dẫn họ đến sự độc lập đó”.

Đoạn trích thứ hai từ Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp 1789.

Mở đầu Tuyên ngôn của Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, không chỉ thể hiện tính hợp pháp, hợp lý của nó ở tầm quốc tế; không chỉ là một “đòn đánh chặn” đối với thực dân Pháp và đế quốc can thiệp Mỹ lúc đó, mà còn thể hiện tính hội nhập vào tiến trình dân chủ thế giới trong những khái niệm tự do, bình đẳng, quyền sống, quyền mưu cầu hạnh phúc mà nền tảng là độc lập dân tộc.

Tội to nhất mà Tuyên ngôn khẳng định là tội cướp nước, áp bức; trái nhân đạo, chính nghĩa; bóp nghẹt tự do, dân chủ. Những điều đó đến nay và muôn sau vẫn còn mang ý nghĩa thời sự, vẫn khích lệ con người đấu tranh để xóa bỏ.

Tổng kết phong trào đấu tranh cứu nước suốt nửa cuối thế kỷ 19, nửa đầu thế kỷ 20, mà đỉnh cao là Cách mạng Tháng Tám, Tuyên ngôn viết: Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị. Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần một trăm năm nay để gây dựng nên nước Việt Nam độc lập Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên chế độ dân chủ cộng hòa.

Đoạn văn chính luận mẫu mực ấy không chỉ cho ta thấy kết quả to lớn, vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám, còn cho thấy tính nhân văn của dân tộc, của cách mạng vô sản nước ta. Đành rằng trong lịch sử, trong bão táp cách mạng, có nhiều hy sinh, nhiều oan khuất nhưng trong so sánh chung, không ít những cuộc chiến tranh, cách mạng trên thế giới đẫm máu hơn nhiều.

Truyền thống hiếu sinh từ Nguyễn Trãi, đến tư tưởng nhân nghĩa Hồ Chí Minh là nguồn gốc của sức mạnh văn hóa, của tinh thần đại đoàn kết toàn dân, đoàn kết quốc tế. Bác Hồ từng nói:

“Cách mạng ở đâu thành công cũng phải đổ máu, có nước phải chặt đầu vua… Nước ta, vua tự thoái vị, các đảng phái không có mấy. Trong một thời gian ngắn, các giai cấp đoàn kết thành một khối, muôn dân đoàn kết để mưu hạnh phúc chung là nước được hoàn toàn độc lập và chống giặc xâm lăng, đuổi bọn thực dân tham ác ra khỏi bờ cõi”. Ngày nay, đọc lại Tuyên ngôn Độc lập và bình tĩnh suy xét lịch sử, thì cái kết quả mà cách mạng tạo ra nước độc lập, dân tự do cũng là khát vọng nghìn đời, mong mỏi của mọi người dân yêu nước, dù ở hoàn cảnh nào, phương trời nào.

Như trên đã nói, điều cốt lõi nhất mà chúng ta, mà tất cả các quốc gia trên thế giới đều hướng tới là độc lập dân tộc. Nhưng độc lập sẽ không có ý nghĩa gì nếu người dân không đủ cơm ăn , áo mặc, không được thực hiện quyền làm chủ của mình một cách đầy đủ. Ba quyền của mỗi con người, mỗi dân tộc mà Tuyên ngôn nhấn mạnh, đó là quyền sống, quyền sung sướng, quyền tự do.

Ba quyền ấy, dưới chế độ thực dân, phong kiến; dưới sự lệ thuộc kinh tế, chính trị vào nước khác, đã bị tước đoạt.

Dưới chế độ ta, ba quyền ấy cần phải được đảm bảo ngày một tốt hơn. Đó là ý nghĩa thời sự, là mục tiêu không thể xa rời của sự nghiệp cách mạng.

Và không chỉ vào năm 1945, không chỉ vào những ngày đất nước bị giày xéo dưới gót giày xâm lược; ngày nay, toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập phải là tuyên ngôn hùng hồn của mỗi chúng ta, của mọi thời đại.

Nguyễn Sĩ Đại
dvt.vn

Thư gửi đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Quốc dân đảng Trung Quốc (1926)

Kính gửi Đoàn Chủ tịch Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II Quốc dân đảng Trung Quốc,

Xin thưa, tệ nhân (2) là một người An Nam mất nước phải lưu vong bôn ba đến chốn này. May thay gặp lúc quý Hội họp Đại hội, tuyên bố viện trợ cho công cuộc giải phóng các dân tộc bị áp bức trên thế giới, không nén nổi sự vui mừng. Song “muốn bốc thuốc, trước hết phải biết bệnh”. Cho nên, tệ nhân yêu cầu quý Hội cho phép đến Hội nghị để bộc bạch tình cảnh đau khổ của đất nước kém cỏi chúng tôi, mong những người muốn giúp chúng tôi tiện nghiên cứu để tìm phương châm. Nước tôi sẽ may mắn biết bao! Cách mạng sẽ may mắn biết bao! Trước khi ngừng lời, xin kính chúc:

Cách mạng Trung Quốc muôn nǎm!

Quốc dân đảng Trung Quốc muôn nǎm! (1)

Ngày 6 tháng 1 Trung Hoa dân quốc nǎm thứ 15
Lý THỤY

Địa chỉ liên lạc: Sứ quán Bôrôđin, ngài Trương Xuân Mộc 2 chuyển.

————————

Hoàng Tranh: Hồ Chí Minh và Trung Quốc, tiếng Trung Quốc, Nxb. Giải phóng quân, Bắc Kinh, 1987, tr.35
cpv.org.vn

Gửi đoàn chủ tịch quốc tế nông dân (13-1-1926)

Các đồng chí thân mến,

Tôi đã viết thư nhiều lần cho các đồng chí để xin các đồng chí tài liệu về nông dân bằng tiếng Pháp hay tiếng Anh cho tập san nông dân chúng tôi. Nhưng cho đến nay tôi không nhận được gì cả.

Tôi sẽ rất cảm ơn các đồng chí nếu gửi cho tôi nhật báo của Quốc tế Nông dân từ số 1 cho tới số hiện nay bằng tiếng Pháp hay tiếng Anh, để tôi có thể dịch sang tiếng Trung Quốc cho việc tuyên truyền của chúng tôi.

Cùng một chuyến thư, các đồng chí sẽ nhận được 2 tấm ảnh to của phong trào nông dân Hải Phòng, và những bài cắt ở báo.

Các đồng chí thân mến, xin nhận những lời chào cộng sản của tôi.

Quảng Châu 13-1-1926 NILỐPXKI
N.A.Q

———————–

Tài liệu tiếng Pháp, lưu tại Viện Hồ Chí Minh
cpv.org.vn

Bài phát biểu tại đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II Quốc dân đảng Trung Quốc (14-1-1926)

Thưa các đồng chí, thưa các anh em,

Chúng tôi vui mừng được gặp mặt và nói chuyện với các vị, đồng thời cũng rất cảm tạ chư vị đã chân thành hoan nghênh. Qua đó, chúng tôi hiểu rằng tư tưởng cách mạng đã thâm nhập vào toàn thể dân chúng, và đặc biệt là Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II này càng phát huy chủ nghĩa vĩ đại, chính sách vĩ đại của Tôn Tổng lý, để cùng với các dân tộc bị áp bức phấn đấu. (Vỗ tay).

Các đồng chí, chúng tôi muốn nói rằng, cách mạng cũng giống như khám bệnh vậy, trước hết phải biết cǎn nguyên của bệnh. Tất cả các dân tộc bị áp bức làm cách mạng là do mong muốn thoát khỏi nỗi thống khổ của dân tộc bị áp bức, cho nên tôi muốn trình bày về những nỗi thống khổ mà dân tộc An Nam đã phải chịu đựng.

Thưa các đồng chí,

Dân tộc An Nam chịu đau khổ đã sáu mươi nǎm, dân tộc An Nam bị xâm lược và áp bức đã sáu mươi nǎm. Chúng nó thường rêu rao rằng người Pháp chúng tôi đem vǎn hoá phương Tây đến, chúng tôi đối xử hoà bình với người An Nam các anh là vì chúng tôi muốn làm cho các anh được sung sướng. Nhưng sự thật là sáu mươi nǎm nay, chúng nó chỉ càng ngày càng áp bức thậm tệ nhân dân An Nam. Bây giờ xin nói qua một chút nhân dân An Nam đã cực khổ như thế nào trong sáu mươi nǎm qua để các đồng chí cách mạng ta được rõ.

Nỗi thống khổ thứ nhất mà người Pháp mang đến cho nhân dân An Nam chính là thuế thân. Bất cứ ai, từ mười tám tuổi trở lên, đều phải đóng thứ thuế này. Sau khi đóng thuế, Chính phủ phát cho một tấm thẻ để làm bằng chứng, không được để mất; nếu mất thì bị chúng bắt, đến khi nào nộp tiền lần thứ hai mới được tha. Chúng cho cảnh binh đi khám thẻ khắp mọi nơi mọi lúc, hầu như cứ một giờ khám xét một lần, vì thế dân chúng khổ không kể xiết. Đó là một kiểu người Pháp áp bức dân An Nam. Ngoài thuế thân ra, còn thuế nhà, thuế hàng hoá, v.v.. Không những nguồn lực kinh tế của người An Nam hoàn toàn bị người Pháp nắm giữ là chuyện đương nhiên, mà còn làm tǎng thêm gánh nặng cho người An Nam, khiến nhân dân An Nam không còn khả nǎng sinh tồn về kinh tế nữa. Tất cả đất đai của An Nam, đại bộ phận cũng bị người Pháp chiếm làm tài sản, người An Nam không được quyền lập nghiệp. Đại thể, một bộ phận là sở hữu Chính phủ, một bộ phận là đất đồn binh của người Pháp, một bộ phận là đất các giáo sĩ chiếm cứ. Chỉ có một phần rất nhỏ là đất thổ cư của người An Nam thì lại phải đóng thuế nhà.

Tôi có thể nêu một ví dụ để chứng minh sự tàn ác của ách áp bức của người Pháp. Như thuế thân, nǎm 1914, mỗi tháng tôi đóng mười phrǎng, nhưng đến nǎm ngoái, nǎm 1924, đã tǎng lên đến một trǎm phrǎng. Đủ thấy sự tàn ác của bọn xâm lược Pháp là thế nào. ấy là chưa kể ngoài công trái như ở nước Pháp, chúng còn bắt nhân dân An Nam phải mua hàng của Pháp như một thứ thuế hàng hoá. Hàng hoá đó là gì? Nhiều nhất là rượu do Pháp sản xuất. Chúng làm ra thứ rượu tồi tệ nhất rồi bắt dân An Nam mua. Dù anh là chính khách, nhà buôn, thợ thuyền hay dân cày gì gì, ít nhất mỗi người một chai. Không thể không mua. Ngoài rượu ra, còn một thứ tệ hại hơn, độc hơn, đó là phải mua thuốc phiện. Thuốc phiện có lẽ là một khoản lớn trong dự toán thu nhập của nước Pháp, chiếm đến một phần tư dự toán. Tính thành con số, mỗi nǎm là bốn trǎm triệu phrǎng, đủ thấy nỗi khổ của người An Nam. Nhưng sự

xâm lược của đế quốc Pháp không chỉ có thế. Chiến tranh lại là một chuyện lớn nữa. Hồi chiến tranh Âu châu, người Pháp bắt dân An Nam đi lính, tổng số trên mười vạn. Họ phải bỏ xác ngoài mặt trận chẳng được nhìn thấy quê hương. Cho nên, quả thật là nhân dân An Nam chẳng những phải nộp tiền mà còn phải nộp mạng cho chúng.

Còn một điểm nữa. Đế quốc Pháp một mặt áp bức dân tộc An Nam, mặt khác lại cấm những người anh em chống áp bức. Bởi vì chúng còn sang Trung Quốc dùng súng gươm giết những người anh em Trung Quốc của chúng tôi. Quả thật, đế quốc Pháp chưa bao giờ vừa lòng với sự áp bức của chúng, đã phải nộp thuế thân, còn bắt đóng thuế hàng hoá, đã mua rượu, còn bắt mua thuốc phiện, đã hy sinh tính mạng cho chúng mà chúng chẳng hề mảy may thương xót. Vậy mà người Pháp lại còn có một cách nữa làm khổ nhân dân An Nam, đó là làm thuê. Mỗi nǎm chúng bắt hàng mấy chục vạn người An Nam vào làm thuê trong các xưởng máy của Pháp. Hoàn toàn là làm trâu ngựa nô lệ cho chúng, không được một chút lợi lộc gì.

Thứ hai, người An Nam ở trên đất nước mình mà tuyệt đối không có quyền tự do ngôn luận, tự do xuất bản, ngay cả đi lại cũng chẳng được tự do, trong nước mình mà mình cũng không được tuỳ ý đi lại. Thí dụ, từ tỉnh này sang tỉnh khác phải có giấy thông hành mới được. Đi ra nước ngoài tất nhiên càng khỏi phải nói. Nếu làm trái thì phải xử tội rất nặng. Theo báo cáo của Chính phủ Pháp, mỗi xã hầu như tháng nào cũng có mấy trǎm người bị xử tội như vậy.

Về giáo dục, trước kia người An Nam học sách Trung Quốc, chịu ảnh hưởng vǎn hoá Trung Quốc. Từ ngày người Pháp chiếm An Nam, thấy người An Nam cũng giống người Trung Quốc, cho nên cũng ra lệnh học sách Trung Quốc. Không ngờ từ sau Cách mạng Tân Hợi 37 của Trung Quốc, thấy rằng cho tiếp tục học sách Trung Quốc thì không ổn, cho nên chúng đã không cho phép người An Nam đọc sách Trung Quốc và học chữ Trung Quốc nữa. Chẳng những thế, chúng càng không muốn để cho người An Nam biết tình hình gần đây của Trung Quốc, bởi vì điều khiến bọn đế quốc không vui hơn cả là ý thức dân tộc của nhân dân bị áp bức.

Các đồng chí! Cách xâm lược của bọn đế quốc chúng nó, về vật chất là dùng đủ loại thuế má và các chất độc như thuốc phiện, về tinh thần là chính sách ngu dân; đó là những âm mưu thâm độc của chúng để xâm lược An Nam.

Thưa các đồng chí,

Bọn đế quốc cố nhiên là áp bức người An Nam, nhưng đồng thời chúng cũng áp bức cả người Trung Quốc. Điều đó, các đồng chí có mặt trong Đại hội đại biểu lần thứ II này chắc chắn đều biết. Vì người Trung Quốc cũng bị đối xử như vậy. Họ cũng phải đóng thuế thân. Và tất nhiên, dù là gái trai già trẻ, họ cũng không được tự do đi lại, muốn đi lại cũng phải có thẻ thông hành. Đồng thời, chúng còn cấm cả tổ chức hội họp, trục xuất các đồng chí Quốc dân đảng. Vì chúng cho rằng, phàm là người của đảng cách mạng thì đều nguy hiểm, cho nên không đuổi không được. Có điều, cách chúng làm thật là hiểm độc, bởi vì chúng đã lợi dụng những phần tử xấu trong người Trung Quốc để chống lại các đồng chí cách mạng, chống lại Chính phủ cách mạng Quảng Châu. Tôi có thể nêu một ví dụ, như lúc Tôn Trung Sơn tiên sinh tạ thế, toàn Trung Quốc cố nhiên đều truy điệu, mà các nước trên thế giới cũng rầm rộ truy điệu. Nhân dân An Nam chúng tôi đương nhiên cũng muốn làm lễ truy điệu như người Trung Quốc, nhưng bọn Pháp cấm không cho phép làm. Tôi có thể nói rằng, ở An Nam bọn đế quốc chẳng những dùng mọi cách để chống lại cách mạng, mà đồng thời còn tìm mọi cách công kích Quốc dân đảng, công kích Chính phủ Quảng Châu.

Chúng ta biết rằng, các dân tộc bị áp bức trên thế giới hiện nay có Ai Cập, Marốc, Xyri, An Nam, Trung Quốc và rất nhiều nước khác. Cho nên, chúng ta cần phải liên hiệp lại, cùng nhau chống chủ nghĩa đế quốc. (Vỗ tay).

Đế quốc Pháp chẳng những thấy cách mạng thì sợ, mà đặc biệt thấy cách mạng Trung Quốc lại càng sợ. Cho nên, chúng không ngần ngại dốc toàn lực ra để giúp bọn phản cách mạng, giúp vũ khí cho bọn Trương Tác Lâm, hòng can thiệp vào phong trào cách mạng quốc dân của chúng ta.

Thưa các đồng chí, như đồng chí Uông Tinh Vệ nói, cách mạng

không có biên giới quốc gia. Dù là Ai Cập, Marốc hay tất cả các dân tộc bị áp bức nào, hễ cùng bị chủ nghĩa đế quốc áp bức, thì phải cùng nhau liên hiệp lại. Đả đảo đế quốc Pháp! Đả đảo chủ nghĩa đế quốc trên thế giới! Quốc dân đảng nhất định giúp chúng tôi giải phóng, giúp tất cả các dân tộc bị áp bức giải phóng. Không phân biệt nước nào, dân tộc nào, tất cả hãy đứng lên chống kẻ thù chung của chúng ta. (Vỗ tay).

Hôm nay tôi rất vui mừng, bởi vì Quốc dân đảng có được Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II này, sắp tới nhất định sẽ giúp nhiều cho người cách mạng. Vì thế tôi xin chúc: Quốc dân đảng Trung Quốc muôn nǎm! Cách mạng Trung Quốc thành công muôn nǎm! Cách mạng An Nam thành công muôn nǎm! Cách mạng thế giới thành công muôn nǎm!

(Chủ tịch: Đề nghị mọi người cùng hô to: Cách mạng An Nam thành công muôn nǎm!).

———————————

Tài liệu Trung vǎn, lưu tại Bảo tàng cách mạng Quảng Châu, bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh
cpv.org.vn