Archive | 2012

“Lối cai trị của người Anh” (8-4-1925)

Trung Quốc, Ấn Độ, Xuđǎng

Những người bảo thủ trở lại nắm quyền, việc đó đã làm cho chủ nghĩa đế quốc Anh thêm sức mạnh. Chủ nghĩa đế quốc Anh muốn thi hành ở Trung Quốc một chính sách tích cực và “mạnh mẽ”. Để bắt đầu, người ta đã đề nghị với Hội nghị Luân Đôn ngày 24 tháng 11 vừa rồi rằng những đường sắt ở Trung Quốc phải do các lực lượng quân sự Mỹ, Nhật, Bỉ, Pháp và Anh kiểm soát và giám sát. Nước Anh bỏ nhiều vốn nhất vào những đường sắt ấy và sẽ đóng một vai trò quyết định trong việc kiểm soát và chiếm giữ những hệ thống đường sắt đó. Dự án tốt đẹp ấy chưa được thông qua.

Đầu nǎm nay, thủ đô chính thức của ấn Độ thuộc Anh bỗng nhiên thấy buộc phải áp dụng “Đạo luật phòng thủ ấn Độ” 2 nǎm 1918, tức là đạo luật bất thường thiết lập tình trạng giới nghiêm tǎng cường. Dưới chế độ ấy, tất cả những viên chức và cảnh sát người Anh, từ cấp thanh tra trở lên, đều có quyền bắt bớ và giam giữ những người ấn Độ bị tình nghi, không làm thủ tục cũng chẳng cần xét xử gì cả. Chỉ trong một buổi sáng mà các trường trung học, các ký túc xá của sinh viên và khoảng 100 toà nhà đã bị khám xét. Hàng trǎm vụ bắt bớ đã xảy ra. Trong số những người bị bắt giam, có: S. Sunđe Rôdơ, lãnh tụ trong Ban Chấp hành Đảng Quốc đại ấn Độ 32 ; Baran Roy, bí thư tỉnh uỷ của đảng này; S.Míttrơ, bí thư của

Đảng Svaragít; và nhiều người Svaragít khác có tiếng tǎm và được tôn trọng. Vǎn phòng các công ty của người ấn Độ đều bị quân đội và cảnh sát chiếm đóng. Các nhà cầm quyền Anh ở Bengan lại định giải quyết bằng vũ lực tất cả những khó khǎn về chính trị.

ở đây, chúng tôi sẽ không nhắc lại những sự biến xảy ra ở Nhật Bản và Ai Cập mà mọi người còn nhớ. Điều mà người ta ít biết đến là đã từ lâu các nhà công nghiệp Anh hằng ôm ấp cái mộng thi hành một cách kiên quyết một “chính sách bông” ở châu Phi. Họ đã biến Xuđǎng thành một đồn điền rộng lớn, và để thực hiện mục đích đó, họ sẽ chuyển hướng dòng sông Nin ở miền thượng lưu. Đồn điền được tưới nước như vậy sẽ đem lại một nǎng suất kỳ diệu; nhưng… nông nghiệp miền hạ lưu sông Nin sẽ bị thiệt hại nghiêm trọng; vì dòng nước màu mỡ tốt tươi đã bị đổi đi hướng khác. Vì vậy, người Ai Cập đã phản đối việc thực hiện kế hoạch đó. Việc ngài Lixtếch, tổng tư lệnh người Anh trong quân đội Ai Cập bị ám sát được người Anh dùng làm cớ để hoàn toàn tự do hành động ở Xuđǎng; từ nay họ là những người chủ duy nhất ở đấy. Máu đổ ở Xuđǎng và Ai Cập có lẽ sẽ chỉ để tǎng thêm màu mỡ cho đồn điền của họ ở Xuđǎng mà thôi…

NGUYỄN ÁI QUỐC

—————————-

Tập san Inprekorr, tiếng Pháp, số 33, ngày 8-4-1925
cpv.org.vn

Kỷ niệm 67 năm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2/9: Tương lai đang thúc giục chúng ta viết lên những trang sử mới

Nhân kỷ niệm 67 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9, đồng chí TRƯƠNG TẤN SANG, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam có bài viết với tựa đề Tương lai đang thúc giục chúng ta viết nên những trang sử mới. Bài viết khẳng định, thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám và sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1945 là thắng lợi của bản lĩnh, trí tuệ, quật cường của dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng. Bài viết thẳng thắn nhìn nhận những khó khăn, thách thức, khuyết điểm trong quá trình bảo vệ và xây dựng đất nước từ những ngày đầu đến nay; qua đó khẳng định, bằng những bài học kinh nghiệm trong suốt chiều dài lịch sử, Đảng, Nhà nước và nhân dân luôn cùng đi trên một con thuyền, cùng cập bến và vượt qua thử thách. Bài viết cũng nêu bật, vấn đề đoàn kết – hòa hợp – thống nhất cần được giữ gìn, phát huy, tạo thành sức mạnh tổng hợp giúp đất nước vượt qua khó khăn, thách thức hiện nay và mai sau… Báo SGGP xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc bài viết Tương lai đang thúc giục chúng ta viết nên những trang sử mới.

Ngày Quốc khánh bao giờ cũng đem lại cho mỗi người chúng ta những cảm xúc thật đặc biệt.

Tôi nhớ lại cảm xúc của mình vào những ngày kỷ niệm này trong nhiều năm đã qua, cho dù lúc đó tôi đang ở thành phố hay nông thôn, vào buổi trưa hay vào lúc nửa đêm khi vạn vật đã chìm vào giấc ngủ. Tràn ngập trong tâm khảm tôi lúc đó là cảm xúc thiêng liêng và lắng đọng về ý nghĩa vĩ đại của Ngày Độc lập với non sông và dân tộc Việt Nam ta. Một câu hỏi da diết xuất hiện trong những khoảnh khắc ấy: những gương mặt mà ta đã gặp, những ngôi nhà, góc phố, hàng cây, mỗi ngôi làng, hay thậm chí một tiếng chuông chùa trong đêm, sẽ như thế nào, sẽ ra sao, nếu như không có Ngày Độc lập ấy?

Đã có rất nhiều cuốn sách, những bài diễn văn của các học giả, các nhà lãnh đạo trong và ngoài nước, trong suốt 67 năm qua, đề cập từng khía cạnh, thậm chí nhỏ nhất về ý nghĩa vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9, không chỉ với đất nước và nhân dân Việt Nam, mà với sự tiến bộ của nhân loại nói chung. Trong thời đại thông tin ngày nay, việc kiếm tìm những thông tin như vậy trở nên thật dễ dàng…

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang tiếp xúc cử tri quận 4, TPHCM tháng 6-2012

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc ta với hình ảnh biểu tượng cách đây 67 năm, ngày 2-9 tại quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn Độc lập trịnh trọng tuyên bố với toàn thể quốc dân và thế giới sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước CHXHCN Việt Nam). Ngày 2-9 đã trở thành mốc lịch sử trọng đại của đất nước, mở ra trang sử mới rạng rỡ trong quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, một cuộc đổi đời chưa từng có đối với mỗi người dân Việt Nam. Lần đầu tiên trong lịch sử dân tộc, một Nhà nước kiểu mới – Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân được xây dựng. Việt Nam từ một nước nô lệ bị sự thống trị hà khắc của chính quyền thực dân – phong kiến, đã xuất hiện trên bản đồ thế giới với tư cách là một nước tự do và độc lập. Nhân dân ta từ thân phận nô lệ, đã trở thành người chủ đất nước, làm chủ vận mệnh của mình… Hơn ai hết, mỗi một người dân Việt Nam – những hậu duệ của rất nhiều thế hệ trước đó từng trải qua biết bao thiên tai, binh lửa, bao biến cố thăng trầm, những tiếp biến “vật đổi sao dời” ngàn năm, hết đời này sang đời khác – bằng máu huyết, thanh danh, vận mệnh của dân tộc và của chính mình, đều ý thức rõ ràng giá trị sâu sắc thiêng liêng và ý nghĩa lịch sử vĩ đại của Ngày Độc lập này. Không ai có thể phủ nhận điều đó!

Cũng không ai có thể phủ nhận một sự thực lịch sử: thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám và sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là thắng lợi của bản lĩnh, trí tuệ và tinh thần đấu tranh quật cường của toàn thể dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo đúng đắn, sáng tạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đứng đầu là lãnh tụ Hồ Chí Minh. Với những giá trị lịch sử to lớn và những bài học thực tiễn phong phú, suốt 67 năm qua kể từ ngày thành lập nước, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đưa dân tộc và nhân dân Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, từ thắng lợi “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” ở Điện Biên Phủ, đến thắng lợi vĩ đại mùa xuân năm 1975, thống nhất đất nước, thu non sông về một mối; đến những thắng lợi to lớn, có ý nghĩa lịch sử của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN…

Đến bất cứ nơi đâu trên đất nước Việt Nam hôm nay, ta cũng bắt gặp những đổi thay theo hướng tiến bộ, khắp nơi đều là những công trường xây dựng, diện mạo thành thị, nông thôn bao trùm một sức sống mới… Những vật dụng quen thuộc xưa kia trong đời sống lam lũ của người dân như cái khố rách, cái cối xay, đôi guốc mộc, hay là chiếc xe đạp Thống Nhất mới chỉ vài chục năm trước còn là một phương tiện “sang trọng” thời bao cấp… thì nay chỉ còn là ký ức hay vật trưng bày trong các viện bảo tàng.

Sau hàng ngàn năm lịch sử, đất nước đã bao giờ đẹp như hôm nay?

Nhưng phải chăng không còn điều gì bất cập, không có vấn nạn gì mà mỗi khi nghĩ đến ta thấy nhức nhối trong lòng?

Hàng ngày lật giở các trang báo, gặp gỡ các cán bộ, đảng viên và nhân dân, ai cũng có một điều gì đó, một bức xúc hoặc không đồng tình nào đó động chạm đến bản thân hoặc do chính sách, do tổ chức thực hiện. Thậm chí, nhiều khi ta bắt gặp sự phản ứng đến mức phẫn nộ. Đã có những chính sách được về mặt chính trị, an ninh thì lại chưa ổn về mặt xã hội, dẫn đến những tranh luận nhiều khi gay gắt, thậm chí xung đột. Giá cả các mặt hàng leo thang kéo theo nhiều hệ lụy; chuẩn mực giá trị bị đảo lộn và xem thường dẫn đến pháp luật kỷ cương, đạo đức xã hội bị xói mòn nghiêm trọng. Kinh tế thị trường ngày càng phát triển thì mặt trái tiêu cực của nó càng có môi trường nảy sinh. Ai cũng đồng tình từ bỏ cơ chế quan liêu bao cấp, cào bằng, bình quân chủ nghĩa làm triệt tiêu mọi động lực phát triển, duy trì nghèo đói, nhưng chuyển sang cơ chế thị trường thì những mặt trái của nó đã giáng vào đời sống xã hội những “đòn” không kém phần khốc liệt. Có những việc tưởng như đơn giản, tưởng như dễ giải quyết, không phải là khó khăn, nhưng khi thực hiện thì đụng đâu cũng vướng vì nó không phải là một bài toán trên lý thuyết đơn thuần mà là xã hội với đủ sắc màu, với những cách nghĩ, những quyền lợi, những ứng xử khác nhau, chằng chịt, cái này níu bám và kìm giữ cái kia; cái “chăn ấm” vô tình kéo sang bên này thì bên kia bị “lạnh”… Xuất hiện những người có tư tưởng xa lạ, chỉ luôn luôn rình rập mọi sơ hở để chống đối, để “chọc gậy bánh xe”, thậm chí để “cõng rắn cắn gà nhà”…

Nhìn nhận những khó khăn, thách thức này phải bằng con mắt biện chứng lịch sử. Trên thực tế, cách mạng Việt Nam cũng như mọi nơi khác trên thế giới, chưa bao giờ hết khó khăn, thử thách. Ngay sau Cách mạng Tháng Tám thành công, cách mạng Việt Nam lúc đó lâm vào tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”, thù trong giặc ngoài đe dọa, hậu quả của chế độ phong kiến – thuộc địa để lại rất nặng nề. Khó khăn chồng chất, nhưng Đảng, Nhà nước và toàn dân ta đã làm nên những điều kỳ diệu, tổng tuyển cử trên phạm vi cả nước, bầu Quốc hội, thành lập Chính phủ, ban hành Hiến pháp, xây dựng và củng cố chính quyền từ Trung ương đến địa phương, tạo điều kiện để Nhà nước Việt Nam vượt qua vô vàn gian khổ, bảo vệ thành quả Cách mạng Tháng Tám, giành thắng lợi vẻ vang trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp mà đỉnh cao là chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ. Cũng như vậy, giai đoạn kháng chiến chống đế quốc Mỹ, khó khăn nào bằng? Nhưng cả nước đều ra trận, quyết chiến, quyết thắng, và đã chiến thắng vang dội, Việt Nam trở thành “lương tâm của thời đại” như nhiều người trên thế giới đã tôn vinh. Sau khi đất nước thống nhất, khó khăn chồng chất, hậu quả nặng nề của chiến tranh chưa được khắc phục thì lại vừa phải tiến hành cuộc chiến đấu mới để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, vừa phải chống lại sự bao vây cấm vận của các thế lực thù địch, phải tìm tòi khảo nghiệm con đường phát triển phù hợp với điều kiện thực tế của Việt Nam. Cũng có không ít những sai lầm, khuyết điểm, phải sửa sai như trong cải cách ruộng đất, sửa sai những khuyết điểm chủ quan duy ý chí trong lãnh đạo, quản lý và cơ chế chính sách khiến cho kinh tế – xã hội lâm vào khủng hoảng trầm trọng thời điểm trước Đại hội VI (1986).

Công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo hơn hai thập kỷ qua, giống như một cỗ xe còn chưa hoàn thiện nhưng đang chạy với tốc độ nhanh, thành công nhiều mà khó khăn cũng lắm. Hiện nay, những khó khăn mà chúng ta phải đối mặt là việc xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN còn nhiều hạn chế, có nguyên nhân khách quan nhưng chủ yếu do nguyên nhân chủ quan. Nền kinh tế đất nước phát triển chưa bền vững, chất lượng tăng trưởng, năng suất, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp, các cân đối kinh tế vĩ mô chưa thật vững chắc. Huy động và hiệu quả sử dụng các nguồn lực cho phát triển còn hạn chế. Tăng trưởng kinh tế chủ yếu còn dựa vào các yếu tố phát triển theo chiều rộng, chậm đi vào chiều sâu. Các lĩnh vực văn hóa, xã hội còn nhiều bất cập, một số mặt còn bức xúc. Môi trường bị ô nhiễm. Thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN chưa hoàn thiện, những hạn chế về chất lượng nguồn nhân lực, kết cấu hạ tầng là những nhân tố cản trở sự phát triển. Vẫn tiềm ẩn nhiều yếu tố gây mất ổn định chính trị – xã hội và đe dọa chủ quyền quốc gia…

Ngoài xã hội và trong bộ máy Nhà nước, cái tích cực với cái tiêu cực xen lẫn, nhiều vấn đề giải quyết chậm, để lỡ mất cơ hội. Phải làm sao đây để phát triển đất nước giữa một thế giới cạnh tranh không chấp nhận sự trì trệ? Nếu chỉ cố gắng như những năm vừa qua không còn đủ nữa, mà phải đổi mới quyết liệt để theo kịp bước tiến thời đại, phải tiến hành những giải pháp đồng bộ trong mọi lĩnh vực. Trước những bất cập về quản trị kinh tế, chúng ta chủ trương đổi mới mô hình tăng trưởng, tái cơ cấu nền kinh tế, nhưng đó đâu phải việc ngày một ngày hai. Thậm chí có những việc như chống lạm phát đã hé lộ khả năng giải quyết được cơ bản, nhưng nếu không cẩn thận thì có nguy cơ chuyển sang căn bệnh mới tác hại không kém đó là giảm phát. Sốt ruột thật, nhưng công việc đòi hỏi chúng ta phải điềm tĩnh, tỉnh táo, kiên trì tìm giải pháp giải quyết căn cơ, không chỉ nhất thời. Trong khi tìm tòi, tháo gỡ, xã hội chúng ta vẫn phải đối mặt với những áp lực mới, gay gắt…

Mới đây thôi, những vấn đề đặt ra từ Tiên Lãng – Hải Phòng, Văn Giang – Hưng Yên, Vụ Bản – Nam Định… đòi hỏi chúng ta phải nhìn nhận lại các cơ sở pháp lý về đất đai. Hoặc, những đổ vỡ, kém hiệu quả của DNNN; những suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và cả trong nhân dân, đòi hỏi phải chỉnh đốn, phải tăng cường thực hiện nghiêm các quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước; những khoảng cách giữa mong muốn và hiện thực đòi hỏi phải rút ngắn; những mục tiêu đòi hỏi phải đạt được nếu không muốn dẫn đến tụt hậu và bất ổn; ngân sách Nhà nước thì còn rất eo hẹp, nợ công tăng lên, hàng loạt doanh nghiệp phá sản, hàng hóa tồn đọng nhiều, lạm phát đang ăn vào thu nhập của phần đông người lao động… Đó thực sự là những áp lực không nhỏ, không chỉ với bộ máy Đảng, Nhà nước mà với toàn xã hội. Khó có thể nói những khó khăn thời kháng chiến chống thực dân, đế quốc xâm lược và những khó khăn hiện nay thì cái nào lớn hơn, khốc liệt hơn?

Nhưng, Việt Nam là một đất nước, một dân tộc luôn vượt qua được mọi khó khăn và thực hiện được những mục tiêu tưởng như là không thể.

Nhân kỷ niệm 67 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9, cần nhắc lại những bài học kinh nghiệm đã giúp Việt Nam vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách. Đó là bài học về nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, bài học về sự nghiệp cách mạng là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân – chính nhân dân là người làm nên những thắng lợi lịch sử, cội nguồn sức mạnh của Đảng chính là từ sự gắn bó máu thịt với nhân dân. Đó là bài học về tăng cường củng cố đoàn kết – đoàn kết toàn Đảng, toàn dân tộc, đoàn kết quốc tế, đoàn kết là truyền thống quý báu và nguồn sức mạnh to lớn của cách mạng nước ta. Đó là bài học về sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam… Những bài học này, nếu được toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta, ai cũng quán triệt thực hiện trên thực tế, không phải chỉ là những khẩu hiệu suông, thì bất cứ khó khăn nào chúng ta đều có thể vượt qua!

Niềm tin “kháng chiến nhất định thắng lợi” trong hai cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc năm xưa, phải được thể hiện bằng niềm tin mới “sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN nhất định thành công” trong giai đoạn hiện nay!

Suốt 67 năm qua, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã cố kết chặt chẽ, như cùng đi trên một con thuyền, cùng cập bến, cùng vượt qua thử thách hay nguy cơ chìm thuyền. Đảng, Nhà nước thì cũng từ nhân dân mà ra. Trong mọi lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, trong muôn mặt của đời sống, dân tộc và cách mạng có hòa nhập với nhau, chính trị và xã hội có ổn định thì mới tồn tại và phát triển. Đó là đặc trưng của Việt Nam. Đối lập và chia rẽ, định kiến và bất ổn là con đường ngắn nhất phá hoại mọi thành tựu, đưa đất nước đến bờ vực thẳm hoặc sẽ bị các thế lực không muốn nhìn thấy một Việt Nam phát triển lôi kéo và lợi dụng.

Làm sao để chính trị xã hội ổn định? Mỗi người chúng ta đang sống trong cơ chế kinh tế thị trường, sử dụng có hiệu quả những mặt tích cực và hạn chế những mặt trái của nó không hề dễ dàng, nhất là với nước ta, vốn xuất phát từ một trình độ thấp, thu nhập quốc dân trên đầu người mới chỉ bắt đầu bước vào mức thấp của ngưỡng trung bình, với biết bao những khó khăn, thách thức và mâu thuẫn nhiều khi không lường hết được. Tôi xin nhấn mạnh: Đứng trước chúng ta là những nhiệm vụ kinh tế – xã hội mới phức tạp hơn trước kia rất nhiều.

Đoàn kết, hòa hợp, thống nhất từng là bài học và nguyên nhân thắng lợi trong mọi giai đoạn lịch sử của dân tộc Việt Nam trong quá khứ, tiếp tục phải là một trong những giải pháp quan trọng nhất của đất nước để vượt lên những khó khăn, thách thức hiện nay và mai sau. Trong giai đoạn mới, đoàn kết – hòa hợp – thống nhất cần được giữ gìn, phát huy và bổ sung thêm những giá trị mới nhằm thu hẹp những khác biệt, tất cả phải nhằm vào mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”…

Kinh nghiệm thực tiễn đã cho thấy, tất cả những ai nỗ lực học tập, làm việc, cố gắng làm việc trong khả năng của mình phải có được cơ hội, cuộc sống và thu nhập tốt hơn, chỉ như thế mới khuyến khích và tạo môi trường, khát vọng cho mọi người nỗ lực vươn lên, vượt qua khó khăn. Chúng ta không khuyến khích bình quân chủ nghĩa. Chúng ta chấp nhận sự cạnh tranh, lên án lòng ganh ghét đố kỵ bởi nó kìm hãm phát triển. Không có đất nước nào có thể lớn lên được từ lòng đố kỵ. Đồng thời, chúng ta tôn vinh lòng nhân ái, chia sẻ, yêu thương và cùng đấu tranh để chấm dứt nghèo đói, dốt nát và bệnh tật… Tôi tin, bất cứ ai, nếu có một nhu cầu tự thân như vậy và với tinh thần xây dựng, sẽ đều có trách nhiệm với đất nước và phải có thái độ như thế nào trong hoàn cảnh cụ thể của mình. Đối diện với những khó khăn trong kháng chiến, mọi cán bộ, đảng viên đều biết phải làm tốt công tác dân vận và phải làm gương ra sao, và mỗi người dân từng đem cả nhà mình lót đường cho xe ra trận, kể cả tính mạng của mình khi cần, sẽ biết phải thể hiện lòng yêu nước thế nào khi đối chiếu vào hoàn cảnh mới hiện nay… Những kinh nghiệm ấy vẫn còn nguyên giá trị và phải được phát huy trong lúc này. Trách nhiệm của Đảng, Nhà nước là phải hình thành các điều kiện để làm xuất hiện những hành vi tích cực của toàn Đảng, toàn dân cho đất nước, cho việc củng cố và xây dựng Nhà nước ta ngày càng trong sạch, vững mạnh hơn.

Việt Nam đã chứng tỏ không chỉ một lần về khả năng có thể vượt qua những khó khăn tưởng chừng không thể, chúng ta sẽ tiếp tục vượt qua mọi thử thách để thực hiện những mục tiêu lớn lao. Để làm được như vậy, đoàn kết, đồng thuận là một yêu cầu không thể thiếu.

Những gì đi ngược lại yêu cầu ấy phải dần bị triệt tiêu!

Chúng ta phấn đấu để trong một tương lai gần, năm 2020, đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại, có trình độ phát triển trung bình; chính trị – xã hội ổn định, dân chủ, kỷ cương; đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân tiếp tục được cải thiện; độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc được giữ vững; vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao; tạo tiền đề vững chắc để phát triển cao hơn, nhanh hơn, vững chắc hơn trong các giai đoạn sau.

Tiếp tục con đường của Cách mạng Tháng Tám trong giai đoạn này đòi hỏi chúng ta phải thực hiện bằng được mục tiêu đó! Nếu đất nước, dân tộc đã từng hun đúc ngọn lửa để chúng ta hy sinh xương máu, vượt qua biết bao “bão giông”, “nắng lửa” trong thiên tai và địch họa của “một thời đạn bom”, chúng ta phải làm mọi cách để giữ gìn những giá trị đó và làm cho đất nước trở nên tươi đẹp trong “một thời hòa bình”. Chúng ta hãy chứng tỏ niềm tin và tình yêu đất nước của mình bằng cách làm việc để xây dựng đất nước ta ngày càng đàng hoàng hơn, to đẹp hơn như lúc sinh thời Bác Hồ hằng mong ước. Không có gì chưa hoàn thiện mà chúng ta lại không có thể làm cho nó ngày càng hoàn thiện hơn bằng lòng yêu nước chân chính…

Dù còn những khiếm khuyết, chưa hoàn thiện trên cơ thể đất nước, nhưng phải khẳng định rằng: công cuộc đổi mới đã đạt được những thành tựu vô cùng to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Tất cả những điều đó đã được chúng ta cùng nhau thực hiện và là bằng chứng về khát khao vươn lên của chúng ta. Đất nước chưa có bao giờ đẹp như hôm nay. Nhiều vùng của đất nước còn chậm phát triển, nhưng cũng đã có rất nhiều nơi công trình mới mọc lên to lớn, tráng lệ; còn đó những bộ phận dân cư đời sống rất khó khăn, cực nhọc, nhưng đại bộ phận đã vượt qua sự đói khổ, bần cùng, rất nhiều gia đình đã trở nên khá giả, giàu có, và chúng ta đang phấn đấu rút ngắn khoảng cách giàu nghèo; đất nước đang ngày càng được thế giới chú ý, trân trọng, đang tiếp tục vươn lên với sức mạnh Phù Đổng…

Hôm nay, chúng ta không thể quên rằng chúng ta là những thế hệ đang kế thừa thành quả của cuộc Cách mạng Tháng Tám vĩ đại. Vào thời điểm này, chúng ta thành kính tưởng nhớ Chủ tịch Hồ Chí Minh – vị lãnh tụ thiên tài, Anh hùng giải phóng dân tộc vĩ đại và nhà văn hóa kiệt xuất, Người đã dẫn dắt chúng ta đi theo con đường cách mạng đúng đắn, làm rạng rỡ dân tộc ta, non sông đất nước ta. Chúng ta tự hào về dân tộc Việt Nam – một dân tộc Anh hùng, thông minh, hòa hiếu, đầy lòng nhân ái, cần cù, sáng tạo, yêu nước nồng nàn, có khát vọng vươn lên mạnh mẽ, luôn đoàn kết nhất trí một lòng đi theo Đảng, xây dựng quốc gia độc lập, tự do, phồn vinh, tiến bộ. Chúng ta đời đời khắc ghi công ơn to lớn của hàng triệu người con ưu tú đã hy sinh vì nền độc lập, tự do của Tổ quốc, biết ơn các bậc lão thành cách mạng, Bà mẹ Việt Nam anh hùng, thân nhân các liệt sĩ và những người đã hiến dâng tất cả tuổi xuân, xương máu, tài năng và của cải cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam thân yêu của chúng ta.

Biết ơn những thế hệ đi trước, chúng ta phải làm mọi điều có thể để đất nước phát triển. Tự hào với những gì đã làm được, nhưng chúng ta cũng cần phải biết hổ thẹn với tiền nhân, với những bậc tiên liệt về những yếu kém, khuyết điểm của mình đã cản trở bước đi lên của dân tộc. Hổ thẹn không phải để bạc nhược, mất ý chí, mà để vươn lên gấp hai, gấp ba, để tiếp tục đi tới với tư thế vững vàng, khí phách hiên ngang vốn là truyền thống dân tộc, góp phần làm cho đất nước ta phát triển và trường tồn mãi mãi.

Tương lai đang vẫy gọi và thúc giục chúng ta viết nên những trang sử mới!

Theo sggp.org.vn
bqllang.gov.vn

Bài 3: Diễn biến Tổng khởi nghĩa Tháng Tám 1945 ở Hà Nội

Bài 1: Cách mạng Tháng Tám – ý nghĩa lịch sử và hiện thực
Bài 2: Cách mạng Tháng Tám – bài học lớn về nắm bắt thời cơ

Có thể nói, thời gian xa đi càng làm tỏa sáng sự kiện ngày 19 tháng 8 năm 1945. Cuộc khởi nghĩa có tiếng vang lớn không chỉ riêng đối với Hà Nội mà thắng lợi của nó còn ảnh hưởng tích cực tới cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền của nhiều địa phương trong cả nước, mở ra một kỷ nguyên mới của một nước Việt Nam độc lập.

Ngày 19.8.1945, hơn 10 vạn quần chúng thủ đô Hà Nội đã tham gia mít tinh mở đầu cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền. Ảnh: T.L

Tháng 8.1945, chỉ trong vòng không đầy một tuần, quân đội Xô Viết đánh tan gần 1 triệu quân Quan Đông của Nhật tại Mãn Châu (Trung Quốc), buộc phát xít Nhật đầu hàng Liên Xô và Đồng minh vô điều kiện. Tin Nhật đầu hàng vô điều kiện đã nhanh chóng thổi bùng lên ngọn lửa cách mạng trong toàn quốc, từ thành thị đến nông thôn, từ đồng bằng đến miền núi, khắp cả Bắc, Trung, Nam. Lúc này, các tầng lớp trung gian đã ngả hẳn về cách mạng, hàng ngũ địch hoang mang, khủng hoảng, do dự, chia rẽ đến cực điểm, quần chúng sẵn sàng hy sinh cho mục tiêu cuối cùng của cách mạng.

Từ xuất phát điểm ấy, ngày 15.8.1945 khi nhận được tin phát xít Nhật chính thức đầu hàng Đồng Minh vô điều kiện, Xứ ủy Bắc Kỳ đã triệu tập ngay một hội nghị tại làng Vạn Phúc (Hà Đông) bàn kế hoạch chuẩn bị tiến hành khởi nghĩa. Hội nghị đã quyết định thành lập Ủy ban Quân sự cách mạng Hà Nội (tức Ủy ban khởi nghĩa Hà Nội).

Ngày 16.8, Ủy ban khởi nghĩa Hà Nội đã quyết định triệu tập hội nghị mở rộng gấp rút công tác chuẩn bị Tổng khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân. Hội nghị kiểm điểm lại tình hình, phân công cán bộ phụ trách các hướng, đồng thời quyết định kế hoạch phá cuộc mít tinh). Hội nghị chủ trương biến cuộc mít tinh của Tổng hội công chức (sẽ diễn ra ngày hôm sau, là cuộc mít tinh của lực lượng thân Nhật nhằm mục đích ủng hộ Chính phủ bù nhìn Trần Trọng Kim) thành cuộc mít tinh của quần chúng ủng hộ cách mạng và nếu có điều kiện thuận lợi sẽ biến thành cuộc biểu tình tuần hành ủng hộ Việt Minh.

Đến chiều ngày 17.8, cuộc mít tinh vừa mới bắt đầu, Việt Minh bất ngờ giương cờ đỏ sao vàng, xông lên chiếm lấy diễn đàn, kêu gọi nhân dân vùng dậy trước con mắt kinh hoàng của phát xít Nhật và bọn tay sai. Các đội tự vệ chiến đấu xuất hiện với vũ khí trong tay bảo vệ cho đội Tuyên truyền xung phong diễn thuyết, hô hào quần chúng ủng hộ Việt Minh.

Trưa ngày 18.8, khoảng 3000 công nhân các xưởng sửa chữa ôtô, các xí nghiệp lớn tổ chức biểu tình trước phủ Khâm sai, ủng hộ cách mạng. Tối ngày 18.8, không khí chuẩn bị khởi nghĩa bùng lên khắp thành phố. Đội Xung phong đột nhập nhà in báo “Tin mới” hướng dẫn công nhân in thêm những khẩu hiệu truyên truyền, hô hào quần chúng khởi nghĩa.

Sáng ngày 19.8, Hà Nội bừng lên không khí đấu tranh, hàng vạn nông dân, công nhân ngoại thành và các huyện Thanh Trì, Thường Tín, Phú Xuyên, Hoài Đức, Đan Phượng (Hà Đông), Gia Lâm (Bắc Ninh) mang theo cờ Việt Minh cùng gậy gộc, mã tấu, dao phạt bờ, câu liêm và súng từ khắp các cửa ô dồn dập tiến vào thành phố. Quảng trường Nhà hát Lớn chưa bao giờ đông đến thế, trên quảng trường là cả một rừng cờ đỏ giữa biển người. Trưa 19.8, cuộc mít tinh bắt đầu, sau phút mặc niệm để tưởng nhớ các chiến sỹ đã hy sinh, nhạc “Tiến quân ca” vang lên hùng tráng, tất cả hướng về lá cờ đỏ sao vàng…

Du kích đánh địch trên đường 191. Ảnh: T.L

Ngay sau đó, dưới sự chỉ đạo của Ủy ban quân sự cách mạng, cuộc mít tinh chuyển thành biểu tình vũ trang, đi đánh chiếm các vị trí đầu não quan trọng của địch. Một nửa quần chúng phía trước tiến về phủ Khâm sai, nổ súng thị uy, hô vang khẩu hiệu ủng hộ cách mạng. Trước khí thế hùng hậu của quần chúng, đoàn quân cách mạng tiến về phủ Khâm sai mà không gặp sức kháng cự nào đáng kể, các đội lính bảo an ngay sau đó chất khí giới nộp cho quân cách mạng. Chiếm xong phủ Khâm sai, đội Xung phong, Tự vệ và quần chúng tiến sang Tòa thị chính, tại đây Thị trưởng chính quyền bù nhìn Trần Văn Lai đã giao chính quyền lại cho nhân dân. Tại Sở cảnh sát, do được vận động từ trước nên anh em cảnh sát đã ngả về cách mạng nhanh chóng. Việc chiếm trại Bảo an binh gặp nhiều khó khăn hơn, có lúc tưởng chừng như đổ máu vì quân Nhật quyết tâm giữ lấy kho vũ khí, nhưng bằng mưu trí, sự khéo léo của ta, đến 4 giờ chiều quân Nhật đã rút lui.

Chiều ngày 19.8, cả Hà Nội ngập tràn trong niềm vui cuộc khởi nghĩa giành chính quyền đã thành công, chính quyền đã nằm trong tay nhân dân. Trong không khí thắng lợi, ngày 20.8.1945 chính quyền cách mạng ra mắt quốc dân trong tiếng vỗ tay vang dội. Hà Nội từ ngày hôm ấy lại trở về với tư cách là người chủ của nước Việt Nam anh hùng.

Thắng lợi ngày 19.8.1945 của nhân dân Hà Nội là thắng lợi của trí tuệ và lòng quả cảm, ngày này đi vào lịch sử dân tộc như một biểu tượng cho thắng lợi chung của cách mạng Tháng Tám trong cả nước.

Cuộc khởi nghĩa thắng lợi ở Hà Nội vào ngày 19.8.1945 đã góp phần quan trọng quyết định kết thúc nhanh chóng quá trình tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước.

  • Phúc Trần

baobinhdinh.com.vn

Tuyên ngôn độc lập “Là hoa quả của sự đổ máu và hy sinh tính mạng”!

Đó là kết luận được tác giả Trần Dân Tiên viết ra trong tác phẩm “Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch (Nxb Văn học 1970, trang 110) như một lời nhắn nhủ đến mỗi thế hệ người con Việt Nam luôn biết trân trọng giá trị của độc lập tự do, biết hy sinh lợi ích riêng tư để quyết bảo vệ, giữ gìn độc lập tự do của Tổ quốc trong bất kỳ hoàn cảnh nào.

Và một điều hiển nhiên là, sẽ yêu quý độc lập tự do hơn, khi chúng ta thấu hiểu sự hy sinh xương máu của bao thế hệ ông cha ta đã ngã xuống qua mấy ngàn năm lịch sử, từ đánh đuổi giặc ngoại xâm phương Bắc đến đánh thắng đế quốc Âu – Mỹ và tên phát xít Nhật ở phương Đông cũng vì để đổi lấy nền độc lập tự do cho dân tộc Việt Nam hôm nay! Một dân tộc nhỏ bé, đất không rộng người không đông như Việt Nam nhưng đã gan góc, kiên cường đến lạ thường, trở thành một điều hiếm thấy trong lịch sử nhân loại từ cổ tới kim.

Trên thực tế, để có bản Tuyên ngôn độc lập tuyên bố với thế giới ngày 2/9/1945 tại Ba Đình (Hà Nội), toàn thể dân tộc ta phải chiến đấu kiên cường suốt 87 năm trời, kể từ khi liên quân Pháp – Tây Ban Nha nổ súng tấn công đánh chiếm bán đảo Sơn Trà (Đà Nẵng) ngày 01/9/1858. Ngay từ khi Pháp đánh chiếm Đà Nẵng, các tầng lớp từ nhân dân đến nho sĩ và quan lại đã vùng lên đấu tranh quyết liệt để giữ nền độc lập cho dân tộc.

Trước hết phải kể đến cha con Trương Định – Trương Quyền, rồi Nguyễn Trung Trực, Võ Duy Dương, Nguyễn Hữu Huân, hai anh em Phan Tôn – Phan Liêm…rồi một số quan lại yêu nước như đốc học Phạm Văn Nghị đem 300 quân tình nguyện từ Bắc vào kinh đô Huế xin được lên đường giết giặc, Tổng đốc Nguyễn Tri Phương cùng con trai đã anh dũng hi sinh khi bảo vệ thành Hà Nội năm 1873, đến Tổng đốc Hoàng Diệu kiên cường đánh Pháp giữ thành Hà Nội năm 1882. Nhiều tri thức nho sỹ còn dùng ngòi bút làm vũ khí đánh giặc như Nguyễn Đình Chiểu, Phan Văn Trị…

Tiếp đến là các phong trào đấu tranh để đòi lại nền độc lập cuối thế kỷ XIX, trong đó phải kể đến phong trào Cần vương dưới sự chỉ huy của Tôn Thất Thuyết, khởi nghĩa Ba Đình, Hùng Lĩnh, Hương Khê ở Trung kỳ; khởi nghĩa Sông Đà, Bãi Sậy ở Bắc kỳ… diễn ra rầm rộ nhưng cuối cùng trước sau đều kết thúc thất bại. Sang đầu thế kỷ XX, các phong trào yêu nước và cách mạng theo khuynh hướng dân chủ diễn ra rầm rộ, tiêu biểu là cụ Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh. Đến lượt Bác Hồ với những hoạt động không biết mệt mỏi cùng với sức mạnh tổng lực của nhân dân theo con đường chủ nghĩa Mác – Lênin, thành lập một chính đảng của giai cấp vô sản, kinh qua 15 năm chiến đấu, cuối cùng đã làm nên thắng lợi Cách mạng tháng Tám năm 1945 vĩ đại, độc lập tự do đã về với Tổ quốc Việt Nam sau 61 năm rơi vào tay giặc (1884 -1945).

Khi cuộc Cách mạng tháng Tám đang tiến đến những thắng lợi cuối cùng thì cũng là lúc Bác Hồ viết ra những dòng đầu tiên trong bản Tuyên ngôn độc lập nhằm khẩn trương tuyên bố với đồng bào và thế giới sự ra đời nước Việt Nam dân chủ cộng hoà – Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á. Bác Hồ viết Tuyên ngôn trong bối cảnh lịch sử hết sức đặc biệt, ở thời khắc gấp rút của cách mạng, trong thời gian chỉ 3 ngày, tại phòng ăn ở số 48 Hàng Ngang, dưới thân phận bí mật…, nhưng nó được coi là “áng thiên cổ hùng văn” và được đưa vào chương trình dạy học phổ thông từ mấy năm nay.

Ngày 27/7/1945, Thường vụ Trung ương họp, rồi Hội đồng chính phủ lâm thời họp, bàn nhiều việc quan trọng, trong đó có việc tổ chức lễ tuyên bố độc lập vào ngày 2/9/1945, Bác Hồ phụ trách soạn thảo Tuyên ngôn độc lập. Từ ngày 28/8/1945, tức là ngày 21/7/Ất Dậu (1) – khi mà nhân dân ở Hà Tiên và Đồng Nai giành được chính quyền về tay nhân dân, Bác Hồ bắt đầu viết Tuyên ngôn. Bác Hồ viết Tuyên ngôn độc lập tại tầng 2, nhà ông Trịnh Văn Bô, bà Hoàng Thị Minh Hồ ở số 48 phố Hàng Ngang – một gia đình doanh nhân giàu lòng yêu nước.

Suốt 3 ngày, với tâm lực, trí tuệ và bản lĩnh của một vị lãnh tụ cách mạng luôn canh cánh nỗi lòng vì độc lập cho dân tộc, vì hạnh phúc ấm no cho nhân dân; từng trải nghiệm hoạt động cách mạng từ Đông sang Tây với chiếc máy đánh chữ đã sử dụng hồi ở căn cứ địa Việt Bắc, Bác Hồ đã viết xong bản Tuyên ngôn độc lập vào ngày 30/8 – ngày mà vua Bảo Đại đọc chiếu thoái vị trước đông đảo nhân dân tại Ngọ Môn kinh đô Huế và nộp ấn kiếm cho Chính phủ cách mạng lâm thời. Viết xong, Bác mời một số đồng chí để trao đổi, góp ý kiến cho bản dự thảo Tuyên Ngôn độc lập này rồi ngày hôm sau, tức 31/8 Bác bổ sung, chỉnh sửa một số điểm và chỉ còn chờ ngày được tuyên bố.

2 giờ chiều ngày 2/9/1945 tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Hồ Chí Minh trịnh trọng đọc Tuyên ngôn độc lập, khai sinh nền dân chủ cộng hoà trước đông đảo nhân dân trong và ngoài nước rằng:

“..Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do…Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay,…đứng về phe Đồng minh chống phát xít. Dân tộc ấy phải được tự do,…phải được độc lập!…Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy” (2).

Những câu chữ chứa đựng hồn non sông nước Việt ấy là nỗi lòng hoạt động cách mạng suốt 35 năm của Bác. Chính vì vậy mà ngày 30/8/1945, sau khi đọc bản thảo cho những người công tác thân cận nghe và hỏi ý kiến họ, Bác Hồ đã không dấu nổi sự sung sướng nói rằng: “Trong đời tôi, tôi đã viết nhiều, nhưng đến bây giờ mới viết được một bản Tuyên ngôn như vậy”. Sung sướng vì đây là “kết quả của những bản yêu cầu gửi cho hội nghị Véc-xây mà Bác Hồ đã viết năm 1919 và chương trình Việt Minh Bác viết năm 1941. Hơn nữa, bản Tuyên ngôn độc lập là kết quả của những bản tuyên ngôn khác và tinh hoa của tiền bối như các cụ Thủ Khoa Huân, Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, Phan Bội Châu và của nhiều người khác, của bao nhiêu sách báo truyền đơn bí mật viết bằng máu và nước mắt của những nhà yêu nước từ hơn 80 năm trước”. Nó còn “là hoa là quả của bao nhiêu máu đã đổ và bao nhiêu tính mạng đã hy sinh của những người con anh dũng của Việt Nam trong nhà tù, trong trại tập trung, trong những hải đảo xa xôi, trên máy chém, trên chiến trường,… là kết quả của bao nhiêu hy vọng, gắng sức và tin tưởng của hơn 20 triệu nhân dân Việt Nam”(3).

Bản tuyên ngôn đó có tính dân tộc, lại có tính quốc tế, vừa có ý nghĩa lịch sử lại có ý nghĩa thời đại sâu sắc. Nó có tác động trực tiếp đến sự thắng lợi trong 2 cuộc kháng chiến chống Pháp, Mỹ và công cuộc xây dựng CNXH hiện nay. Giành – giữ và củng cố độc lập dân tộc không chỉ là nhiệm vụ của thời chiến mà còn là nhiệm vụ quan trọng của toàn dân tộc ta ở thời kỳ xây dựng và phát triển đất nước trên con đường CNXH. Trong bối cảnh thế giới ngày nay, khi mà sự hội nhập để phát triển đã trở thành tất yếu thì vấn đề giữ vững nền độc lập để không bị phụ thuộc vào các nước lớn về nhiều mặt, đặc biệt là kinh tế và văn hoá luôn đặt ra cho chúng ta những thách thức không nhỏ./.
_________________

Chú thích:
(1), Theo Vũ Kỳ, Thư ký Bác Hồ kể chuyện, Nxb Chính trị Quốc gia, H. 2005, tr.17.
(2), Hồ Chí Minh toàn tập, t.3, Nxb Chính trị Quốc gia, H. 2000, tr.555-557.
(3) Trần Dân Tiên, Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb Văn học 1970, tr.110.

Theo Lê Đức Hoàng
Huyền Trang (st)
bqllang.gov.vn

Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2-9

Công việc đầu tiên của chính phủ đầu tiên

Chủ tịch Hồ Chí Minh và các thành viên Chính phủ lâm thời sau phiên họp chính phủ đầu tiên 3-9-1945 (ông Vũ Đình Hòe đứng cạnh Bác Hồ bên trái) – Ảnh tư liệu

TT – Bất ngờ, chúng tôi được biết ông Vũ Đình Hòe – người từng giữ chức vụ bộ trưởng Bộ Quốc gia giáo dục trong Chính phủ lâm thời đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa – vẫn còn sống và hiện ở một căn nhà nhỏ tại phường Hiệp Phú, quận 9, TP.HCM.

Đã bước vào tuổi 93 nhưng ông Hòe vẫn còn minh mẫn và rất xúc động khi kể về những ngày đầu lập quốc 60 năm trước mà ông được vinh dự tham gia trực tiếp với tư cách là một bộ trưởng.

Nhiệm vụ đè nặng trên vai bộ trưởng

Ngay sau ngày lịch sử 2-9-1945, ngày 3-9 Bác triệu tập cuộc họp phiên đầu tiên của Chính phủ.

Trong tình hình đất nước vừa thoát ra khỏi kiếp nô lệ, nạn đói lịch sử còn hoành hành khắp nông thôn miền Bắc, quân xâm lược vẫn còn uy hiếp, Bác đã đưa ra sáu vấn đề cấp bách mà Chính phủ cần thảo luận và thực thi khẩn cấp.

Nhiệm vụ đầu tiên là mở ngay những cuộc lạc quyên, tăng gia sản xuất để cứu đồng bào khỏi nạn đói và nhiệm vụ thứ hai ngay sau cứu đói là mở chiến dịch chống mù chữ trong toàn quốc…

“Tôi biết trách nhiệm đang đè nặng trên vai bộ trưởng giáo dục khi Bác nhắc tới vấn đề quan trọng thứ hai và nhìn về phía tôi…” – ông Vũ Đình Hòe nhớ lại. Trong suốt quá trình Pháp thuộc, hơn 90% dân Việt bị mù chữ, chính nạn thất học là một quốc nạn ngày ấy.

Ngày 8-9, Bác Hồ ký ngay sắc lệnh thành lập Nha Bình dân học vụ để phụ trách việc chống mù chữ trong cả nước – một trong những sắc lệnh đầu tiên của nhà nước non trẻ.

Ông Vũ Đình Hòe kể: “Ngay những ngày đầu Chính phủ hoạt động, Hồ Chủ tịch dành hẳn một giờ để tiếp đoàn cán bộ cao cấp của Bộ Giáo dục sang Phủ chủ tịch làm việc. Biết rõ tác phong ngắn gọn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tôi đi ngay vào vấn đề: “Thưa Cụ chủ tịch, chúng tôi xin phép trình bày ba việc để xin Cụ chỉ giáo”.

Ông Vũ Đình Hòe tại nhà riêng ở phường Hiệp Phú, Q.9, TP.HCM – Ảnh: Vũ Bình – “Ông Vũ Đình Hòe sinh năm 1912, tốt nghiệp Đại học Luật khoa Đông Dương của Pháp mở tại Hà Nội, phó chủ tịch Hội truyền bá quốc ngữ (do cụ Nguyễn Văn Tố làm chủ tịch). Ông gia nhập Đảng Xã hội Pháp (SFIO). Năm 1941, ông cùng những trí thức trẻ ra tờ báo Thanh Nghị trước ngày tổng khởi nghĩa. Ông hoạt động trong Đảng Dân chủ VN với tư cách ủy viên Trung ương Đảng Dân chủ, tham gia Mặt trận Việt Minh và được cử đi dự đại hội Tân Trào…”

Bác nói ngắn gọn và hỏi: “Tôi nghe. Việc thứ nhất?”. “Xin trình Cụ hai dự thảo sắc lệnh, một là thanh toán nạn mù chữ trong vòng một năm và hai là sắc lệnh thành lập Nha Bình dân học vụ”.

Hồ Chủ tịch sau khi hỏi thăm về cơ sở vật chất cho nha bình dân học vụ đã nhanh chóng tán thành. Chúng tôi đề nghị cho Bộ Giáo dục chỉ thị ngay trong niên học tới đây, tất cả các trường, kể cả đại học, chỉ được dùng tiếng Việt khi học, khi dạy và trong mọi kỳ thi… Hồ Chủ tịch bảo: “Hay đấy nhưng có vội quá không? Các ông đã chuẩn bị đủ chưa?”.

Theo sự phân công trong đoàn, hai anh Nguyễn Văn Huyên và Ngụy Như Kontum, tổng giám đốc các nha đại học vụ và trung học vụ, trả lời Cụ Hồ: “Thưa Cụ chủ tịch, ông Hoàng Xuân Hãn – bộ trưởng trong chính phủ cũ trước đây – đã bắt đầu làm thử ở Trung bộ, xem ra khá trơn tru…

Hồ Chủ tịch nghe xong thì nói ngay: “Ông Hoàng Xuân Hãn tôi có biết hồi còn ở bên Pháp, người này có tâm, thế thì bộ quyết định đi…”.

Sau đó, Bộ Quốc gia giáo dục đã tổ chức hội nghị toàn quốc bình dân học vụ để bàn kế hoạch triển khai sắc lệnh của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xóa nạn mù chữ trong một năm.

Đi liền với hội nghị là khai mạc lớp đào tạo giáo viên bình dân học vụ đầu tiên cho toàn quốc, mang tên “Khóa Hồ Chí Minh” được vinh dự đón Hồ Chủ tịch đích thân đến dự”.

“Xã hội hóa giáo dục” từ ngày lập quốc

Ông Vũ Đình Hòe nhớ lại: Thật ra lúc đó không ai tin rằng chỉ một năm là có thể làm được việc xóa mù chữ, vì nếu chỉ dựa vào ngân sách nhà nước thì phải ít nhất 30, 40 năm nữa mới kết thúc được phong trào.

Sao không biết dựa vào sức dân? Có sức dân thì mọi việc sẽ được hoàn thành. Ông Hòe lên diễn đàn và đưa ra bài toán của mình: “Cứ dạy cho một người biết đọc, biết viết trong ba tháng phải tốn ít ra là 6 đồng. Dạy cho 10 triệu người trong một năm phải tiêu hơn 60 triệu đồng tiền sách vở, giấy bút. Nếu trả lương giáo viên thì phải thêm 10 triệu đồng nữa vì phải cần đến 10 vạn giáo viên, mỗi giáo viên có thể dạy 100 học sinh trong một năm”.

Cả hội nghị cùng bàn bạc, góp ý và đi đến thống nhất: về khoản chi cho giáo viên thì không phải tốn vì phong trào sẽ không ai nhận tiền lương. Còn về con số 10 vạn giáo viên thì tính ra cả nước có 57 tỉnh, mỗi tỉnh phải tự tổ chức 2.000 giáo viên, mỗi tỉnh có khoảng 800 làng, mỗi làng phải tự túc lo bảy giáo viên…

Một lớp bình dân học vụ xóa mù chữ sau khi giành được chính quyền về tay nhân dân – Ảnh tư liệu – “Chiến dịch diệt “giặc dốt”, chống nạn mù chữ từ ấy bừng lên. Khắp mọi nơi hừng hừng khí thế thi đua học văn hóa cùng với việc gia tăng sản xuất diệt “giặc đói”. Người chưa biết chữ thì cố gắng học nhanh cho đỡ phí tổn, người biết chữ thì chồng dạy vợ, con dạy cha, anh dạy em. Học mọi lúc, mọi nơi, trẻ chăn trâu thì ra đồng tranh thủ học trên lưng trâu, các chiến sĩ đi hành quân thì người đi sau kề lên lưng người đi trước mà học.”

Căng nhất vẫn là khoản chi 60 triệu đồng để mua sách vở, ông Hòe đề nghị: “Trong lúc ngân sách còn eo hẹp, các lớp bình dân học vụ có thể dùng phấn hay gạch để viết xuống đất, chi phí sẽ rút xuống còn 2 đồng chứ không phải 6 đồng như trước đây, vậy Chính phủ có thể trả 5 triệu đồng cho khoản đó không?”.

Bộ trưởng Tài chính Phạm Văn Đồng đang ngồi bên dưới trả lời ngay: “được!”. Cả hội trường vỗ tay hoan nghênh. Ông Hòe thừa thắng xông lên: “Còn 15 triệu nữa, chi phí này ta không nhờ Chính phủ mà sẽ trông vào nhân dân, mỗi làng tự lo 1.000 đồng một năm có được không?”.

Các đại biểu từ khắp nơi về dự đều hô to: được… được và vang rền tiếng vỗ tay. Cô huấn luyện viên lớp đào tạo giáo viên Trương Thị Giáo mang sổ vàng lên xin chữ ký Bác Hồ và các bộ trưởng.

Bác Hồ nói: “Tôi khen sáng kiến của ông bộ trưởng. Ông khéo thu xếp để ta làm được việc lớn mà không phải tiêu pha lớn…”.

Tính đến cuối năm 1945, sau hơn ba tháng phát động, theo báo cáo chưa đầy đủ của các tỉnh Bắc bộ gửi về Bộ Quốc gia giáo dục thì đã mở được 22.156 lớp học với 29.960 giáo viên và đã dạy biết chữ cho 519.250 học viên mà tổng chi phí xuất từ ngân sách trung ương là 815,68 đồng, còn lại đều do các địa phương và tư nhân chi trả.

Trung bộ, Nam bộ cũng có những con số tương tự. Không chỉ xóa nạn mù chữ, Bộ Quốc gia giáo dục bấy giờ cũng đã xây dựng được 14 trường trung học, trường kỹ nghệ cao cấp và sơ cấp với tổng số gần 6.000 học sinh trung học.

Ngày 15-11-1945, mặc dù tình thế rất khó khăn nhưng Trường đại học Việt Nam cũng đã khai giảng. Trong tờ trình Quốc dân đại hội (Quốc hội) của Bộ Quốc gia giáo dục sáu tháng sau do ông Vũ Đình Hòe đọc: “Thành công lớn nhất của chính quyền lâm thời trong việc xây dựng nền giáo dục cho đất nước chính là đặt nền tảng cho một nền giáo dục có tính cách duy nhất, chung cho tất cả các giai cấp xã hội, lấy tôn chỉ bình đẳng làm căn bản, là nền giáo dục cách mạng, khác với nền giáo dục Pháp thuộc trước đây”.

Ông Vũ Đình Hòe nói: “Tôi chỉ làm việc ở Bộ Quốc gia giáo dục sáu tháng, sau đó thì chuyển sang làm bộ trưởng Bộ Tư pháp. Nhưng đó là sáu tháng đầy kỷ niệm và ấn tượng không thể nào quên được trong cả cuộc đời”.

VŨ BÌNH

tuoitre.vn

Tinh thần Quốc khánh 2/9 bất diệt

(ĐCSVN) – Cách đây vừa tròn 67 năm, ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời, đã long trọng đọc bản Tuyên ngôn Độc lập bất hủ, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập ngày 2/9 tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội
(Ảnh: Bảo tàng Hồ Chí Minh)

Năm 1945, tình hình thế giới và trong nước biến chuyển rất nhanh. Tháng 8/1945, Nhật đầu hàng Đồng minh. Quân Đồng minh sắp kéo vào nước ta để giải giáp vũ khí của Nhật. Thực dân Pháp cũng ráo riết chuẩn bị quay trở lại xâm lược nước ta lần nữa. Tình thế lúc này là vô cùng nguy nan, tuy nhiên, lại là thời cơ ngàn năm có một để tổng khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân. Với nhãn quan cách mạng nhạy bén và sáng suốt, Hồ Chí Minh đã khẳng định: Lúc này, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn, cũng quyết giành cho bằng được độc lập cho Tổ quốc.
Với quyết tâm đó, trong các ngày 16 và 17/8/1945, Tổng bộ Việt Minh đã tổ chức Quốc dân Đại hội Tân Trào, thông qua chủ trương phát động Tổng khởi nghĩa trong toàn quốc; đồng thời, thành lập Uỷ ban Dân tộc giải phóng Việt Nam, do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch.

Ngày 19/8/1945, hàng chục vạn người dân ở Hà Nội và các tỉnh lân cận theo các ngả đường đã kéo về chật kín Quảng trường Nhà hát Lớn Hà Nội. Lúc gần 10 giờ rưỡi, cuộc mít tinh lớn chưa từng có trong lịch sử của nhân dân cách mạng, với sự bảo vệ của Tổ chức Thanh niên tự vệ và Thành đoàn Việt Minh Hoàng Diệu Hà Nội đã diễn ra. Trên diễn đàn, Đại diện Việt Minh dõng dạc phát lệnh Tổng khởi nghĩa. Ngay sau đó, lực lượng nhân dân cách mạng đã tiến thẳng tới Phủ Khâm Sai, cơ quan đầu não của chính phủ bù nhìn. Trước khí thế cách mạng cao ngất của nhân dân, tất cả binh lính bảo vệ Phủ Khâm sai đã hạ vũ khí đầu hàng vô điều kiện, để cho nhân dân làm chủ toàn bộ khu vực. Cũng trong thời gian này, một cánh biểu tình tới chiếm Trại Bảo an binh, đã vấp phải sự can thiệp của quân đội Nhật. Tuy nhiên, trước sức mạnh của cách mạng, quân Nhật đã phải rút lui, nhường Trại Bảo an Binh cho nhân dân làm chủ. Ngay trong đêm 19 tháng 8, Uỷ ban Nhân dân cách mạng Bắc bộ và Uỷ ban Nhân dân cách mạng Hà Nội đã được thành lập. Ngày 20 tháng 8, Ủy ban Nhân dân cách mạng Bắc Bộ, đại diện cho chính quyền cách mạng lâm thời đã chính thức ra mắt toàn thể quốc dân đồng bào tại Bắc Bộ phủ.

Thắng lợi của cách mạng tại Hà Nội như tiếng súng lệnh báo hiệu cho cuộc cách mạng của cả nước. Nhân dân ở tất cả các địa phương đã lần lượt nổi dậy, nhanh chóng phá tan cả hệ thống chính quyền bù nhìn trong cả nước.

Ngày 2-9-1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Hồ Chủ tịch đã long trọng đọc bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á; mở ra một kỷ nguyên mới, một thời đại mới của dân tộc Việt Nam.

Bản Tuyên ngôn lịch sử nhấn mạnh: Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do.

Đặc biệt, Tuyên ngôn đã khẳng định: Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy.

Hơn sáu thập kỷ đã trôi qua, Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân cả nước giành được nhiều thắng lợi quan trọng trong công cuộc bảo vệ và xây dựng Tổ quốc. Hiện nay, cục diện trên thế giới đang có nhiều thay đổi, có thuận lợi và có cả khó khăn, phức tạp, nhưng đất nước ta đã lớn mạnh hơn rất nhiều và trở thành một quốc gia có uy tín trên trường quốc tế, là thành viên của nhiều tổ chức trên thế giới như: Liên hiệp quốc, Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN)… và có quan hệ với hầu hết các nước và khu vực trên thế giới. Vừa qua, Đại hội XI của Đảng đã đưa ra những quyết sách chiến lược, nhằm phấn đấu đưa nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020. Toàn Đảng, toàn dân đang đoàn kết phấn đấu, quyết tâm xây dựng thành công nước Việt Nam thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.

Kỷ niệm 66 năm ngày Quốc khánh 2-9 năm nay, chúng ta – những người con nước Việt, dù đang ở trong nước hoặc ở xa Tổ quốc, chắc chắn không khỏi xúc động bồi hồi khi nhớ về những năm tháng hào hùng và sôi sục khí thế của những ngày đầu cách mạng. Chúng ta sẽ không thể nào quên những giây phút lịch sử của ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trịnh trọng tuyên bố với thế giới về sự ra đời của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Dù cho năm tháng qua đi, nhưng tinh thần của Tuyên ngôn độc lập 2/9 vẫn đời đời bất diệt trong tâm hồn mỗi người dân nước Việt Nam hôm nay và mai sau.

Đào Nguyên Lan
cpv.org.vn

Bài 2: Cách mạng Tháng Tám – Bài học lớn về nắm bắt thời cơ

Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã lãnh đạo thành công cuộc Tổng khởi nghĩa “long trời, lở đất” ngày 19.8.1945 một cách nhanh gọn, ít tổn thất nhất, nhưng thành quả đạt được vô cùng to lớn. Cho đến nay, sau 65 năm nhìn lại, bài học về lựa chọn thời cơ của Cách mạng Tháng Tám vẫn còn nguyên giá trị…

Ngày 19.8.1945, hơn 10 vạn quần chúng thủ đô Hà Nội đã tham gia mít tinh mở đầu cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền. Ảnh: T.L

Thời cơ là tình thế xuất hiện trong thời điểm nhất định có lợi nhất cho việc chủ động phát huy mọi sức mạnh để giành thắng lợi. Ngày Tổng khởi nghĩa 19.8.1945 làm nên cuộc Cách mạng Tháng Tám kỳ diệu, chính là do chúng ta đã kịp thời chớp lấy thời cơ và giành thắng lợi trọn vẹn…

Tháng 10.1944, Chủ tịch Hồ Chí Minh, từ Trung Quốc về Cao Bằng. Người quyết định hoãn cuộc khởi nghĩa của các tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn vì thời cơ chưa đến, kẻ thù vẫn còn mạnh. Đến ngày 12.3.1945, Chỉ thị “Nhật – Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” là một văn kiện lịch sử có ý nghĩa chỉ đạo hành động, chuẩn bị mọi lực lượng để đón thời cơ khởi nghĩa một cách chủ động đã được Đảng ta sớm đề ra, phù hợp với tình hình lúc đó. Ngày 14.8.1945, Hội nghị toàn quốc của Đảng họp tại Tân Trào (Tuyên Quang) nhận định thời cơ đã đến, quyết định Tổng khởi nghĩa trong toàn quốc, giành chính quyền trước khi quân Đồng minh vào Đông Dương. Trước đó, trong đêm 13.8.1945, khi Ủy ban Khởi nghĩa ra Quân lệnh số 1, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: Lúc này, thời cơ thắng lợi đã tới, dù phải hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn, cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập.

Ngày 16 và 17.8.1945, Quốc dân Đại hội họp tại Tân Trào, tán thành chủ trương Tổng khởi nghĩa của Đảng Cộng sản Đông Dương, thông qua 10 chính sách lớn của Việt Minh, thành lập Ủy ban Dân tộc Giải phóng do Chủ tịch Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Trong thư kêu gọi đồng bào cả nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”. Người cũng khẳng định: “Chúng ta không thể chậm trễ”.

Ngày 19.8.1945, Tổng khởi nghĩa thắng lợi ở Hà Nội. Chỉ trong vòng 15 ngày, cuộc Tổng khởi nghĩa đã thành công trong cả nước.

Đồng chí Võ Nguyên Giáp duyệt các đơn vị vũ trang vừa ở chiến khu về tham gia giành chính quyền ở thủ đô. Ảnh: T.L

Những dấu mốc lịch sử của cuộc cách mạng vĩ đại Tháng 8.1945 đã chứng tỏ nghệ thuật chỉ đạo tài tình của Đảng ta và của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong việc chọn đúng thời cơ, ra quyết định Tổng khởi nghĩa đúng lúc. Thể hiện cụ thể việc này là trong chỉ thị của Thường vụ Trung ương Đảng tháng 3 năm 1945 “Nhật – Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” và bản Quân lệnh số 1 của Ủy ban Khởi nghĩa toàn quốc phát đi lúc 23h30 ngày 13.8.1945 hiệu triệu toàn dân đứng lên Tổng khởi nghĩa giành chính quyền. Chọn thời điểm 13 tháng 8 để phát động Tổng khởi nghĩa là vô cùng sáng suốt, bởi vào thời điểm đó, cách mạng đã lên tới cao trào, lực lượng cách mạng đã lôi kéo được những tầng lớp trung gian, lừng chừng. Có thể thấy, bằng tầm nhìn chiến lược, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng đã tận dụng triệt để những thuận lợi cơ bản: Phát xít Nhật hoang mang; Chính phủ Trần Trọng Kim yếu thế; quân Đồng minh chưa vào nước ta; quân Pháp có tham vọng quay trở lại Việt Nam song chưa có lực lượng… Thời cơ khởi nghĩa ngàn năm có một đã được chọn một cách chính xác trong khoảng 15 ngày trước khi quân Tưởng và quân Anh đổ bộ vào Đông Dương. Nếu phát động Tổng khởi nghĩa sớm hơn, nhân dân ta sẽ tổn hại nhiều xương máu. Nếu phát động Tổng khởi nghĩa muộn hơn, khi quân Đồng minh đã vào Đông Dương thì Cách mạng Việt Nam sẽ mất đi thế chủ động của mình và sẽ gặp nhiều khó khăn khác. Cũng nhờ chọn đúng thời cơ mà sức mạnh của nhân dân ta trong Cách mạng Tháng Tám đã được nhân lên gấp bội, đã tiến hành Tổng khởi nghĩa thành công trong phạm vi cả nước trong thời gian ngắn…

Những bài học lịch sử về Cách mạng Tháng Tám còn rất nhiều nhưng 3 bài học về nắm bắt thời cơ, tập hợp lực lượng và xây dựng niềm tin vừa nêu vẫn là những bài học nóng hổi, mang tính thời sự trong công cuộc phát triển đất nước hôm nay. Chúng ta đã ra khỏi chiến tranh, ra khỏi sự kiệt quệ kinh tế và đang trở thành một trong những quốc gia phát triển nhanh trên thế giới. Một nước có diện tích và dân số thuộc vào những nước nhóm đầu, tiềm năng rất lớn chưa được khai thác như nước ta là một thực thể không thể bỏ qua, không thể không xây dựng mối quan hệ hai bên cùng có lợi. Một đất nước ổn định về chính trị, an ninh quốc phòng ngày càng được củng cố… tạo ra nhiều lợi thế đối nội và đối ngoại. Đó là cơ sở xuất hiện những thời cơ để vươn lên dân giàu nước mạnh.

  • L.C.N.T

baobinhdinh.com.vn

Bài 1: Cách mạng Tháng Tám – ý nghĩa lịch sử và hiện thực

Ngày 2.9.1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc “Tuyên ngôn độc lập”, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa. Ảnh: Tư liệu

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám 1945 dẫn tới việc khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có ý nghĩa to lớn đối với dân tộc ta và có ý nghĩa quốc tế sâu sắc.

Cách mạng Tháng Tám là một trong những trang sử vẻ vang nhất, chói lọi nhất của lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc. Bằng thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, nhân dân ta đã đập tan ách phát-xít Nhật, lật đổ ách thống trị của thực dân Pháp gần 100 năm, xóa bỏ chế độ phong kiến hàng nghìn năm, đưa dân tộc Việt Nam bước sang kỷ nguyên mới – kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Nhân dân ta từ thân phận nô lệ đã trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ vận mệnh của mình. Đảng ta từ khi ra đời bị khủng bố dã man, đã trở thành đảng lãnh đạo chính quyền, lãnh đạo xã hội.

Từ cuối thế kỷ 19, sau khi xâm lược nước ta, thực dân Pháp đã thi hành chính sách thống trị vô cùng tàn bạo. Chúng chia cắt đất nước ta, xóa tên nước Việt Nam trên bản đồ thế giới, thẳng tay chém giết những người yêu nước, cướp đoạt ruộng đất, tài nguyên, bóc lột dân ta đến tận xương tủy, thực hiện chính sách ngu dân, dùng thuốc phiện, rượu cồn làm cho nòi giống ta suy nhược.

Khi phát-xít Nhật xâm lăng Đông Dương, thực dân Pháp quỳ gối đầu hàng, dân ta chịu hai tầng áp bức: quân phiệt Nhật và thực dân Pháp. Cuối năm 1944, đầu năm 1945, hơn hai triệu đồng bào ta bị chết đói thảm thương.

Tiếp nối truyền thống bất khuất chống ngoại xâm của dân tộc, biết bao bậc trung nghĩa đứng lên chống thực dân Pháp giành độc lập, nhưng đều thất bại vì không có một đường lối cứu nước đúng đắn. Chủ tịch Hồ Chí Minh là người Việt Nam đầu tiên tiếp thu chủ nghĩa Mác – Lê-nin – lý luận cách mạng tiên tiến của thời đại – đã tìm thấy con đường cứu nước đúng đắn và sáng lập ra Đảng Cộng sản Việt Nam.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đã tiến hành các cao trào cách mạng, vượt qua bao hy sinh, tổn thất để giành thắng lợi trong Cách mạng Tháng Tám, đem lại cuộc biến đổi xã hội chưa từng có và tạo ra bước ngoặt vĩ đại của lịch sử dân tộc.

Cách mạng Tháng Tám đã để lại cho chúng ta những kinh nghiệm lịch sử quý báu, mãi mãi soi sáng các chặng đường cách mạng Việt Nam. Ðó là bài học giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; xác định và kết hợp đúng đắn các nhiệm vụ chiến lược trong từng thời kỳ cách mạng; bài học về phát động sức mạnh toàn dân tộc, lấy sức mạnh của đội quân chủ lực công – nông làm nòng cốt; bài học thực hiện triệt để phương châm “thêm bạn bớt thù”; bài học về nghệ thuật khởi nghĩa, nghệ thuật tạo thời cơ và nắm bắt thời cơ; bài học về xây dựng một đảng Mác – Lê-nin có bản lĩnh chính trị vững vàng, có trí tuệ sáng suốt, thường xuyên vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, gắn bó mật thiết với nhân dân, có đội ngũ cán bộ, đảng viên tiên phong, gương mẫu, chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân, cùng nhiều bài học khác.

65 năm qua, tiếp nối truyền thống và phát huy thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, Ðảng ta đã lãnh đạo toàn dân, toàn quân giành thắng lợi vẻ vang trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược cũng như trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Nhìn lại những thắng lợi đã qua, chúng ta càng thấy tầm vóc vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám.

Ngày 19.8.1945, tổng khởi nghĩa ở Hà Nội, các lực lượng quần chúng cách mạng đánh chiếm Bắc Bộ Phủ. Ảnh: T.L

 

Cách mạng Tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, đem lại niềm tin tự giải phóng, cổ vũ mạnh mẽ cuộc đấu tranh của các dân tộc bị áp bức chống ách nô dịch của chủ nghĩa đế quốc, mở ra thời kỳ tan rã của chủ nghĩa thực dân trên toàn thế giới. Ðánh giá ý nghĩa lịch sử của Cách mạng Tháng Tám, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Chẳng những giai cấp lao động và nhân dân Việt Nam ta có thể tự hào, mà giai cấp lao động và những dân tộc bị áp bức nơi khác cũng có thể tự hào rằng: Lần này là lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, một Ðảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc”.

Cách mạng Tháng Tám thành công là thắng lợi của đường lối giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Ngọn cờ đó đã dẫn dắt nhân dân ta giành thắng lợi suốt 60 năm qua. Tiếp bước con đường của Cách mạng Tháng Tám, trước yêu cầu phát triển đất nước và trước những thời cơ và nguy cơ, Đảng ta và nhân dân ta xác định hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam hiện nay là xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Hiện nay, nhiệm vụ trước hết phải chăm lo xây dựng đất nước mạnh lên về mọi mặt, ngăn ngừa mọi sự chống phá của các thế lực thù địch. Vì vậy, nhiệm vụ phát triển kinh tế, đẩy mạnh CNH, HĐH được Đảng xác định là nhiệm vụ trung tâm.

65 năm trước đây, Cách mạng Tháng Tám đã giải phóng các tầng lớp nhân dân khỏi ách thống trị, bóc lột của chế độ thực dân phong kiến, đem lại cho mọi người dân Việt Nam quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc. Độc lập, tự do, hạnh phúc luôn là mục tiêu nhất quán của chế độ mới. Ngày nay, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta cũng đang tiếp tục phấn đấu theo mục tiêu nhân văn cao cả đó.

Phát huy bản sắc truyền thống “Cả nước một lòng, toàn dân đánh giặc” của dân tộc, Cách mạng Tháng Tám là biểu tượng sáng ngời của ý chí quật khởi của cả dân tộc. Thấm nhuần sâu sắc kinh nghiệm đại đoàn kết dân tộc của Cách mạng Tháng Tám, hơn lúc nào hết, ngày nay chúng ta phải phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết các dân tộc, các tôn giáo, các giai cấp, tầng lớp, mọi thành phần kinh tế, mọi giới, mọi thành viên trong đại gia đình dân tộc Việt Nam dù sống trong nước hay ở nước ngoài, hướng sức mạnh đó vào mục tiêu giữ vững độc lập, thống nhất, vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Vào thời điểm Cách mạng Tháng Tám 1945, vị thế nước ta trên trường quốc tế còn thấp, nhưng Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nắm chắc và dự đoán đúng tình hình thế giới, tận dụng thời cơ, phối hợp hành động, làm chuyển hóa so sánh thế và lực giữa ta và địch, tạo nên sức mạnh tổng hợp áp đảo kẻ thù. Ngày nay, chúng ta có thời cơ hơn để kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, lấy tự lập tự cường, dựa vào sức mình là chính, đồng thời tranh thủ tối đa những điều kiện quốc tế thuận lợi để bồi bổ sức mạnh dân tộc và kết hợp với sức mạnh quốc tế thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Lãnh đạo toàn dân làm Tổng khởi nghĩa Tháng Tám, Đảng ta lúc đó chỉ có 5.000 đảng viên và phải hoạt động bí mật, điều kiện thông tin liên lạc để lãnh đạo, chỉ đạo phong trào toàn quốc hết sức khó khăn. Nhưng nhờ có đường lối đúng đắn của Đảng và Bác Hồ, sự chủ động, sáng tạo của tổ chức đảng, đoàn thể quần chúng và nhân dân ở các địa phương nên khởi nghĩa đã nổ ra đồng loạt và có sự phối hợp từng vùng, từng miền và trên phạm vi cả nước. Ðó là một bài học hết sức quý báu về sự lãnh đạo của Ðảng và xây dựng Ðảng trong bất cứ thời kỳ cách mạng nào.

Nắm bắt thời cơ, vượt qua thách thức, thực hiện có kết quả hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng là vấn đề có ý nghĩa sống còn của nước ta hiện nay. Chúng ta vững tin rằng, dưới sự lãnh đạo của Ðảng một dân tộc đã rửa được nỗi nhục mất nước, một dân tộc đi tiên phong chống chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa đế quốc, thì dân tộc ấy nhất định có đủ nghị lực và sức mạnh chiến thắng nghèo nàn, lạc hậu, tiến lên sánh vai cùng các dân tộc trên thế giới.

  • L.C.N.T

baobinhdinh.com.vn

Thư trả lời ông H. (Thượng Huyền) (9-4-1925)

Tôi xin cảm ơn ông đã gửi cho tôi hai tập viết của ông: Cách mệnh (1). Tôi đã đọc cả hai tập ấy. Ông còn yêu cầu tôi góp ý kiến nhận xét. Vâng, xin chiều theo ý ông!

Đứng về mặt phê bình, nghĩ như thế nào tôi xin nói thẳng với ông như thế ấy. Tôi không chắc rằng tất cả những nhận xét của tôi đều sai cả; nhưng xin ông cứ bác bỏ những nhận xét nào ông cho là khó hiểu. Việc trao đổi này sẽ có lợi cho cả hai chúng ta.

Trước hết tôi xin nói rằng tôi rất phấn khởi thấy ông đã dũng cảm và thiện ý viết hai tập này. Dũng cảm là vì ông đã viết bằng quốc ngữ 2 về một đề tài khá rộng mà từ trước đến nay chưa ai dám đề cập đến. Còn tinh thần thiện ý thì đã thể hiện rõ ở trên 32 trang giấy mà ông đã viết. Tất nhiên là 32 trang ấy chưa đủ để in thành sách. Nhưng nếu viết để đǎng báo, thì cũng đã khá tốt rồi!

Bài viết của ông có nhiều điển tích và dẫn chứng lịch sử. Điều đó chứng tỏ rằng ông rất thích đọc sách.

Bây giờ tôi xin bắt đầu nhận xét. Tôi luôn luôn nhớ rằng phê bình thì dễ, còn sáng tác nghệ thuật thì khó. Ví như, khi xem một bức tranh vẽ, chỉ ra được những sai sót hoặc nêu lên được những ưu điểm này nọ, thì dễ. Khi nghe một người khác dạo một bản nhạc, tôi có thể nhận xét anh ta chơi có hay hay không. Còn nếu ông bảo tôi hãy cầm bút vẽ bức tranh ấy hoặc cầm lấy nhạc cụ có dây kéo cho ra tiếng, thì tôi chịu…

Trên đây tôi có nói rằng, bài viết của ông có nhiều điển tích, nhưng tôi ngại điển tích ông nêu ra quá nhiều. Dùng điển tích là tốt, nhưng nếu lạm dụng sẽ làm cho độc giả khó chịu. Bởi vì tính chất cao xa, thâm thuý của các điển tích thường cũng hay bao hàm những ý nghĩa mơ hồ có thể làm cho người ta hiểu lầm. Một câu tục ngữ Pháp có nói: “Hứa hẹn nhiều bơ hơn là bánh mì”. Tôi nghĩ rằng một tác phẩm vǎn chương không cứ dài mới hay. Khi nào tác phẩm ấy chỉ diễn đạt vừa đủ những điều đáng nói, khi nó được trình bày sao cho mọi người ai cũng hiểu được, và khi đọc xong độc giả phải suy ngẫm, thì tác phẩm ấy mới xem như là một tác phẩm hay và biên soạn tốt. ý kiến của tôi dựa vào hai câu trích dẫn sau làm bằng chứng:

Trong sách Luận ngữ, chúng tôi dẫn câu này: Tǎng Tử trả lời “Tất nhiên”. Câu ấy chỉ gồm có một từ. Một từ mà cũng đã rất đủ để thể hiện cả nghị lực và toàn bộ kiến thức của Tǎng Tử. Khi đọc từ ấy, lẽ nào người ta không hình dung được niềm vui sáng lên trong cái nhìn của Khổng Tử và tâm trạng vui của vị sư phụ đang đàm đạo với môn đệ.

Tôi thách ai có thể thêm, bớt một chữ nào trong câu ấy. Đó là lối hành vǎn thật sự trong sáng và cao xa.

Có một lần, một vị tướng của Napôlêông đệ nhất bị bao vây ở Oatéclô. Kẻ địch ra lệnh cho ông ta đầu hàng; ông đáp cộc lốc: “Cứt”. Câu nói ấy chỉ có một từ, lại là một từ tục tĩu. Nhưng trong tình thế nguy kịch nghiêm trọng ấy của vị tướng, nghìn lời nói khác cũng không thể nào thể hiện được hơn lòng dũng cảm và sự khinh bỉ của ông đối với kẻ thù. Và chỉ một lời đáp ấy cũng đủ để vị tướng củng cố được đội ngũ của mình. Chỉ câu nói ấy cũng đủ làm cho tên ông vang dội khắp châu Âu. Nó còn được ghi vào biên niên sử cho đến ngày nay và người Pháp ai cũng biết đến lời đáp ấy.

Vì vậy, một lối hành vǎn giản dị, chính xác hơn hẳn cái lối hành vǎn rườm rà, hoa mỹ.

Ngôn ngữ của ta còn nghèo. Khi nói, chúng ta phải vay mượn nhiều từ ngữ nước ngoài, nhất là từ ngữ Trung Quốc. Tôi nghĩ rằng lạm dụng từ ngữ Trung Quốc chỉ làm cho vǎn thêm khó hiểu, trừ những từ thông dụng mà ai cũng đã biết và trừ những từ mới, như người bônsêvích, chủ nghĩa bônsêvích, tài chính… Ông nói, chúng ta phải giúp cho đồng bào ta làm quen với những từ mà nay họ chưa hiểu, lâu rồi họ cũng sẽ hiểu. Có thể làm như vậy được, nếu ông chỉ nghĩ đến viết cho họ tác phẩm vǎn học… Còn nếu tác phẩm của ông lại định dùng để tuyên truyền thì đó phải là một tác phẩm ai đọc cũng hiểu được. Một tác phẩm hành vǎn hay mà khó hiểu thì chẳng có ích gì. Ví như, bảo đồng bào chúng ta hãy lắng nghe một người Pháp hay một người Trung Quốc hát: dù cho những ca sĩ ấy là những nghệ sĩ tuyệt vời đi nữa thì họ cũng không lôi cuốn được đồng bào ta.

Tôi xin chia những điều phê bình của tôi thành hai phần: phần thứ nhất nói về hình thức bài viết của ông, và phần thứ hai nói về nội dung.

cpv.org.vn

Đại hội công nhân và nông dân (2-5-1925)

Đây là Đại hội lần thứ nhất của nông dân tỉnh Quảng Đông và là Đại hội lần thứ hai của công nhân toàn Trung Quốc, cả hai Đại hội cùng họp chung.

Đại hội lần thứ nhất của công nhân Trung Quốc họp nǎm 1922 ở Quảng Châu. Lúc đó cũng đã quyết định sẽ họp Đại hội lần thứ hai vào nǎm sau. Nhưng bọn quân phiệt áp bức đã giết hại và bắt giam các chiến sĩ, buộc các tổ chức công nhân miền Bắc phải đi vào hoạt động bất hợp pháp. Vì vậy, các đại biểu những tổ chức ấy không thể họp đại hội vào thời điểm đã ấn định.

Khi Ngô Bội Phu và đồng bọn bị đánh đổ, hoạt động của vô sản mới lại xuất hiện trở lại ở Hoa Bắc.

Điều cần chú ý là trong khi các tổ chức công nhân phía Bắc bị bọn quân phiệt giải tán thì các tổ chức công nhân phía Nam dựa vào Chính phủ cách mạng Quốc dân đảng lại phát triển nhanh chóng.

Sau khi tập hợp được lực lượng và chấn chỉnh lại đội ngũ ở phía Bắc, vô sản trong toàn Trung Quốc mới triệu tập Đại hội lần thứ hai ở Quảng Châu ngày 1 tháng 5.

Những người cách mạng Quảng Đông, trong khi giúp đỡ vô sản ở thành phố cũng không quên vô sản ở nông thôn. Trong hai nǎm, họ đã tập hợp được hơn 200.000 bần nông và công nhân nông nghiệp vào tổ chức.

Để có một sự lãnh đạo thống nhất về công tác và đấu tranh, nông dân có tổ chức ở các huyện quyết định họp Đại hội tỉnh lần thứ nhất.

Do đã nhất trí với nhau và nhằm thực hiện một mặt trận thống

nhất giữa những người bị bóc lột ở các thành phố với những người bị bóc lột ở nông thôn, những người lãnh đạo đã triệu tập đồng thời vào một lúc hai Đại hội họp ở cùng một địa điểm.

Khai mạc Đại hội – Cổng chính và đại lễ đường Trường đại học Quảng Châu trang trí rất đẹp bằng cờ đỏ và cờ đuôi nheo. ở ngay cửa vào có treo một tấm bảng lớn kết toàn bằng hoa, trên có câu “Vô sản và nông dân đoàn kết” (tất nhiên là bằng chữ Trung Quốc). Trên lễ đài có chân dung bác sĩ Tôn Dật Tiên, chân dung Các Mác, Lênin, Lipnếch và Rôda Lucxǎmbua. ở hai bên phòng họp, có treo ảnh các chiến sĩ đã hy sinh vì sự nghiệp của vô sản Trung Quốc, có tranh vẽ và khẩu hiệu cách mạng, những lời chúc mừng của các tổ chức công nhân, binh lính và nông dân.

Trước giờ, phòng họp đã chật ních. Lễ khai mạc mở đầu bằng bản nhạc và bài Quốc tế ca. Những người đại diện của Quốc dân đảng và trong ban tổ chức đọc diễn vǎn chào mừng các đại biểu. Đại diện Quốc tế Công hội đỏ 33 được nhiệt liệt hoan nghênh; diễn từ của vị đại diện ấy bị ngắt quãng bằng những tràng vỗ tay vang lên như sấm.

Lễ kết thúc, các đại biểu ra tham dự cuộc biểu tình do nhân dân Quảng Châu chuẩn bị. Binh lính, sinh viên, nông dân từ các xã đến, công nhân, học sinh các trường quân sự, tất cả thanh niên cách mạng và lao động đều có mặt. Có hơn 100.000 người tham gia biểu tình. Các báo đều thừa nhận chưa khi nào có một cuộc tập trung đông đảo và phấn chấn như vậy.

Cờ đỏ dẫn đầu, đoàn biểu tình kéo đi qua các đường phố lớn, vừa đi vừa hát những bài ca cách mạng. Lời hô “Đả đảo chủ nghĩa đế quốc!”, “Cách mạng muôn nǎm!” vang đến tận các tô giới nước ngoài. Hàng nghìn thuyền bè trương cờ kéo đi trên sông, hưởng ứng lời hô của những người biểu tình bằng những lời hoan hô của những tràng pháo nổ. Thật là một cảnh tượng hùng vĩ. Những cụ già người Trung Quốc, thích cảnh phúng dụ, cho rằng rồng đỏ đã giáng trần trong thành phố. Đúng như vậy, những người biểu tình ai cũng cầm trong tay một lá cờ đỏ, hình nhỏ, có ghi một trong những khẩu hiệu sau đây:

a) Liên minh công nông muôn nǎm!

b) Trung Quốc giải phóng muôn nǎm!

c) Vô sản tất cả các nước, liên hiệp lại!

d) Đả đảo chủ nghĩa đế quốc!

đ) Đả đảo chủ nghĩa quân phiệt!

e) Vô sản Trung Quốc, chúng ta hãy đoàn kết!

g) Đả đảo bọn phản bội giai cấp công nhân!

h) Ngày làm 8 giờ muôn nǎm!

v.v. và v.v..

Không xảy ra một sự cố gì. Tôi phải nói đến điều này, bởi vì trừ ở nước Nga Xôviết và Quảng Châu cách mạng, giai cấp tư sản tất cả các nước đều có thói quen lợi dụng ngày 1 tháng Nǎm 34 để tàn sát công nhân.

Một bức điện tín. Sau cuộc lễ, Đại hội đã gửi bức điện sau đây cho Quốc tế Công hội đỏ:

“Kính gửi Quốc tế Công hội đỏ, nhờ chuyển cho các tổ chức công nhân và tổ chức cách mạng tất cả các nước.

“Bị nhiều tầng áp bức của chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa quân phiệt và chủ nghĩa tư bản, từ mấy nǎm nay, giai cấp vô sản Trung Quốc đã ra sức tổ chức nhau lại để chống bóc lột.

Trong ngày 1 tháng Nǎm này, ngày giai cấp vô sản quốc tế biểu tình chống kẻ tử thù của mình là chủ nghĩa tư bản, chúng tôi, đại biểu cho quần chúng nhân dân lao động Trung Quốc họp Đại hội toàn quốc lần thứ hai ở Quảng Châu.

“Đồng thời, chúng tôi đã có một cuộc họp chung với đại biểu của 300.000 nông dân đã có tổ chức. Chúng tôi sẽ cùng nhau hoạt động vì lợi ích của công nhân, nông dân nghèo Trung Quốc.

“Chúng tôi đều biết rằng giải phóng nhân dân lao động phải là sự nghiệp của bản thân những người lao động. Chúng tôi cũng biết rằng bọn đế quốc có mặt trận thống nhất của chúng, và rằng nếu vô sản nước Mỹ, vô sản châu Âu và vô sản Nhật Bản mà không cùng nhau tay nắm tay hành động cùng với các dân tộc bị áp bức

các nước thuộc địa và nửa thuộc địa thì không thể nào đánh đổ được chủ nghĩa đế quốc. Vì vậy, chúng ta phải xây dựng một tổ chức rộng lớn của những người vô sản toàn thế giới và của quần chúng bị áp bức bóc lột ở tất cả các nước. Có đoàn kết chúng ta mới chiến thắng được đế quốc, chiến thắng được bọn phản động và những tên phản bội Quốc tế vàng Amxtécđam 35 .

“Mặt trận thống nhất vô sản quốc tế muôn nǎm!

“Cách mạng vô sản muôn nǎm!”

Đó là ngày đầu tiên của hai cuộc Đại hội.

Việc gia nhập Quốc tế Công hội đỏ và gia nhập Hội đồng Quốc tế Nông dân ở Mátxcơva đã được ghi vào biên bản.

Sắp tới tôi sẽ gửi báo cáo chi tiết cho các đồng chí.

——————————–

Quảng Châu ngày 2-5-1925
HOWANG T.S
cpv.org.vn

Những trò lố hay là Varen và Phan Bội Châu (10-1925)

Do sức ép của công luận ở Pháp và ở Đông Dương, ông Varen đã nửa chính thức hứa sẽ chǎm sóc vụ Phan Bội Châu. Ông hứa thế; giả thử cứ cho rằng một vị toàn quyền Đông Dương mà lại biết giữ lời hứa đi chǎng nữa, thì chúng ta vẫn được phép tự hỏi liệu quan toàn quyền Varen sẽ “chǎm sóc” vụ ấy vào lúc nào và ra làm sao.

Trước hết, ngài chỉ muốn chǎm sóc đến khi nào yên vị thật xong xuôi ở bên ấy đã.

Nhưng ngài lại chỉ vừa mới xuống tàu, mà hành trình từ Mácxây đến Sài Gòn kéo chừng bốn tuần lễ cơ. Như vậy có nghĩa là trong bốn tuần lễ đó, Phan Bội Châu vẫn bị giam trong tù.

* * *

Đến Sài Gòn thì ông Varen, có gì mà không lường trước được, sẽ bị quấn quýt lấy, lôi kéo đi, giằng co, ru vỗ, ấp ủ trong mớ bòng bong những buổi chiêu đãi, những cuộc tiếp với rước, những lời chúc với tụng. Tiếp đấy là một cuộc tuần du linh đình qua khu phố bản xứ, giữa hàng nghìn người da vàng đã được nước Pháp hàng phục bằng sức mạnh của lưỡi lê, nay giao phó vận mệnh trong tay quan toàn quyền. Và đó cũng là lần đầu tiên trong đời mình, hai con mắt của ông Varen được thấy hiển hiện cái huyền diệu của một thành phố Đông Dương, dưới lòng đường, trên vỉa hè, trong cửa tiệm. Những cu li xe 1 kéo xe tay phóng cật lực, đôi bàn chân trần

giẫm lạch bạch trên mặt đường nóng bỏng; những quả dưa hấu bổ phanh đỏ lòm lòm; những xâu lạp xường lủng lẳng dưới mái hiên các hiệu cơm; cái rốn một chú khách trưng ra giữa trời; một viên quan uể oải bước qua, tay phe phẩy cái quạt, ngực đeo tấm bắc đẩu bội tinh 1 hình chữ thập. Thật là lộn xộn! Thật là nhốn nháo!

Bỗng dưng tất cả dừng lại, dưới cây đũa thần, hay đúng hơn dưới ngọn roi gân bò mà viên đội xếp Tây vừa vung lên vừa quát tháo: “Cái giống tởm nhà mày! Có cút đi không, cái giống tởm!”. Thế là cái đám đông lúc nhúc đứng sắp hàng, vừa yên lại vừa lặng, hai bên lề đường. Gì thế nhỉ ? Xe ô tô quan toàn quyền sắp đi qua đấy … Xe kia rồi! Lại cả ông Toàn quyền đây rồi!

– Quan có cái mũ hai sừng trên chóp sọ! Một chú bé con thầm thì.

– ồ! Cái áo dài đẹp chửa! Một chị con gái thốt ra.

– Ngài sắp diễn thuyết đấy! Một anh sinh viên kêu lên.

– Đôi bắp chân ngài bọc ủng! Một bác cu li xe thở dài.

– Rậm râu, sâu mắt 12 ! Một nhà nho lẩm bẩm.

Thế là ô tô ông Varen chạy qua giữa hai hàng rào con người, lưng khom lại khi ngài đến gần. Cùng lúc, một tiếng rào rào nổi lên: “Lạy quan lớn! Bẩm lạy quan lớn ạ!” 3 .

Trong khi đó thì Phan Bội Châu vẫn nằm tù.

* * *

Từ Sài Gòn ra Hà Nội, ông Varen sẽ dừng lại Huế. Triều đình An Nam, do hoàng đế hay hình bóng hoàng đế dẫn đầu sẽ tất tưởi đi nghênh tiếp hiện thân tôn nghiêm của nước Pháp. Đức kim thượng Khải Định sẽ thỉnh ông Varen thǎm hoàng cung, và ông Varen sẽ vào. Hoàng thượng Khải Định sẽ thỉnh ông Varen dự yến, và ông Varen sẽ ǎn. Đến lúc tráng miệng, hoàng thượng đứng dậy, ngài uy nghi tiến đến gần quan toàn quyền; đưa những ngón tay dài và mảnh, lấp lánh châu ngọc đỏ xanh, ngài cài lên ngực ông Varen loại tưởng lệ phong tặng cao quý nhất của hoàng triều: Nam long bội tinh, và thế là ông Varen được gắn mề đay.

Trong khi đó thì Phan Bội Châu vẫn nằm tù.

* * *

Nhưng chúng ta hãy theo dõi, theo dõi bằng đôi cánh của trí tưởng tượng, những trò lố chính thức của ông Varen. Hãy theo ông đến tận Hà Nội, tận cổng nhà lao chính, tận xà lim, nơi người đồng bào tôn kính của chúng ta đang rên xiết.

Ôi thật là một tấn kịch! Ôi thật là một cuộc chạm trán! Con người đã phản bội giai cấp vô sản Pháp, tên chính khách đã bị đồng bọn đuổi ra khỏi tập đoàn, kẻ đã ruồng bỏ quá khứ, ruồng bỏ lòng tin, ruồng bỏ giai cấp mình, lúc này mặt đối mặt với người kia, con người đã hy sinh cả gia đình và của cải để xa lánh khỏi thấy mặt bọn cướp nước mình, sống xa lìa quê hương, luôn luôn bị lũ này sǎn đuổi, bị chúng nhử vào muôn nghìn cạm bẫy, bị chúng kết án tử hình vắng mặt, và giờ đây đang bị, vẫn chúng, đeo gông lên vai, đày đoạ trong nhà giam, ngày đêm bị bóng dáng của máy chém như một bóng ma ám kề bên cổ.

Giữa kẻ phản bội nhục nhã và bậc anh hùng, vị thiên sứ, đấng xả thân vì độc lập, được 20 triệu con người trong vòng nô lệ tôn sùng, giữa hai con người đó xảy ra chuyện gì đây?

– Tôi đem tự do đến cho ông đây! Varen tuyên bố vậy, tay phải giơ ra bắt tay Phan Bội Châu, còn tay trái thì nâng cái gông to kệch đang xiết chặt Bội Châu trong nhà tù ảm đạm.

“Nhưng, có đi phải có lại, tôi yêu cầu ông lấy danh dự hứa với tôi là sẽ trung thành với nước Pháp, hãy cộng tác, hãy hợp lực với nước Pháp để tiến hành ở Đông Dương một sự nghiệp khai hoá và công lý.

“Ông Phan Bội Châu, tôi biết rõ tâm hồn cao thượng và cuộc đời đầy hy sinh, nhiều nguy nan của ông, và chính tôi, tôi xin là người đầu tiên, với tư cách là toàn quyền Đông Dương, được bày tỏ tấm lòng rất mực quý trọng ông. Song những ý tưởng hào hiệp nhất phải chǎng bao giờ cũng hay nhất? Phải chǎng bao giờ cũng thực hiện được? Than ôi, không đâu, ông ạ! Vả lại, trời ơi! Tại sao chúng ta lại cứ cố chấp cãi lộn nhau mãi thế này, trong lúc ông và tôi, tay nắm chặt tay, chúng ta có thể làm được biết bao công việc tốt đẹp cho xứ Đông Dương này? Chúng ta có thể cùng nhau làm cho nước ông trở thành một quốc gia tân tiến lớn, một xứ tự trị, một nước Pháp ở châu á!

“Ô! Ông nghe tôi, ông Phan Bội Châu này! Ông hãy để mặc đấy những ý nghĩ phục thù của ông, hãy từ bỏ đi những mưu đồ xưa cũ, và, thôi, chớ tìm cách xúi giục đồng bào ông nổi lên chống lại chúng tôi nữa; trái lại, ông hãy bảo họ cộng tác với người Pháp, và, làm như vậy là ông sẽ được tất cả, được cho đất nước ông, được cho bản thân ông!

“Về chuyện này, tôi có thể kể ông nghe gương của một trong những trợ thủ cũ của ông, là ông Nguyễn Bá Trác; ông biết đấy, ông này đã biết điều rồi và hiện nay thì đã đứng về phía chúng tôi. Nhưng nếu gương của người đồng bào ông, ông cho là chưa đủ, thì tôi xin kể gương đồng bào của chính tôi cho ông nghe, gương các bạn học của tôi từ hồi còn nhỏ, các chiến hữu của tôi, Guyxtavơ, Alếchxǎng, Arixtít, Anbe, Pôn và Lêông 11 . Những vị ấy, ngày nay lừng danh cả, đều đã lần lượt đốt cháy những cái mà mình đã tôn thờ và đang tôn thờ những cái mà mình đã đốt cháy. Như vậy các vị ấy có sao không ? Chẳng sao cả. Nền dân chủ của chúng tôi, nhờ Chúa! Rất là tốt! Thật thế, nền dân chủ hào hùng của nước Pháp, mà hôm nay tôi được vinh dự thay mặt giữa các ông, khoan dung với những người, như tôi, đã đoạn tuyệt với những lầm lạc của tuổi trẻ.

“Nhưng sao thế, ông hãy nhìn tôi này, ông Phan Bội Châu! Trước tôi là đảng viên xã hội đấy, và giờ đây thì tôi làm toàn quyền…!”.

ừ thì Phan Bội Châu nhìn Varen. Nhưng, lạ chưa! Những lời nói của Varen hình như lọt vào tai Bội Châu chẳng khác gì “nước đổ lá khoai” 1 , và cái im lặng dửng dưng của Bội Châu suốt buổi gặp gỡ hình như làm cho Varen sửng sốt cả người.

Không phải vì một bên nói tiếng Nam, một bên nói tiếng Tây: đã có một viên quan ở đấy làm thông ngôn cơ mà. Nhưng cứ xét binh tình, thì đó chỉ là vì Bội Châu không hiểu Varen cũng như Varen không hiểu Bội Châu

*

*      *

Cuộc gặp gỡ chấm dứt ở đấy, hay ít ra là không ai biết được gì hơn nữa. Chỉ có anh lính dõng An Nam bồng súng chào ở cửa ngục là cứ bảo rằng, nhìn qua chấn song, có thấy một sự thay đổi nhẹ trên nét mặt người tù lừng tiếng. Anh quả quyết – cái anh chàng ranh mãnh đó- rằng có thấy đôi ngọn râu mép người tù nhếch lên một chút rồi lại hạ xuống ngay, và cái đó chỉ diễn ra có một lần thôi.

Nếu quả thật thế, thì có thể là lúc ấy Bội Châu có mỉm cười, mỉm cười một cách kín đáo, vô hình và im lặng, như cánh ruồi lướt qua vậy 2 .

T.B. – Một nhân chứng thứ hai của cuộc hội kiến Varen – Phan Bội Châu (xin chẳng dám nêu tên nhân chứng này) lại quả quyết rằng Bội Châu 1 đã nhổ vào mặt Varen; cái đó thì cũng có thể.

NGUYỄN ÁI QUỐC

—————————–

Báo Le Paria, số 36 – 37,
tháng 9 và tháng 10 – 1925.
Nguyễn ái Quốc: Truyện và ký, Nhà xuất bản Vǎn học, Hà Nội, 1974, tr. 31-37.
Theo bài in trong sách Truyện và ký.
cpv.org.vn

Báo cáo gửi Quốc tế nông dân về nghị quyết của Đảng bộ Quốc dân Đảng Quảng Đông về vấn đề nông dân

Bản nghị quyết mở đầu rằng, cuộc cách mạng dân tộc không thể hoàn thành nếu không có sự ủng hộ của quần chúng; và rằng, ở Trung Quốc, 85% quần chúng là nông dân. Nhận thức rõ điều quan trọng đó, Quốc dân đảng – từ khi được cải tổ – đã chú ý đến mức tối đa vấn đề nông dân.

Lòng hǎng hái của nông dân. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nông dân rất muốn tự tổ chức nhau lại. Sau một nǎm kể từ tháng 5 nǎm ngoái, 22 Hội nông dân đã được thành lập.

Ngày 1 tháng 5, một hội nghị có 117 đại biểu dự – đại diện cho 210.000 nông dân đã tham gia tổ chức -, thành lập Hội nông dân tỉnh. Chưa đầy 6 tháng sau, đã có thêm 11 Hội nông dân huyện nữa được thành lập, nâng tổng số Hội nông dân huyện lên tới 33 hội với 450.000 hội viên.

Ngay cả những nông dân sống dưới sự áp bức của bọn quân phiệt Đặng Phù Ninh và bè lũ, cùng những anh em của họ ở Huệ Nam, Quảng Tây, Hà Nam, Hồ Nam và các tỉnh khác đều noi gương. Họ tổ chức một cách bí mật hoặc công khai, nhưng họ đã có tổ chức.

Tinh thần cách mạng của họ. Khi bác sĩ Tôn tiến hành cuộc khảo sát ở miền Bắc thì chính tự vệ nông dân cùng với tự vệ công nhân đã hộ vệ ông tới Thiều Châu. Trong thời gian xảy ra cuộc bạo động của bọn hổ thương, chính tự vệ nông dân đã hợp tác với tự vệ công nhân để bảo vệ Chính phủ cách mạng, trong khi nông dân

Đông San đã dùng vũ lực ngǎn chặn bọn lính tình nguyện của thương nhân huyện này không để chúng xuất quân đi đánh Quảng Châu. Trong cuộc chiến tranh sông Đông vừa qua, nông dân ở Đông Hoàn, Hải Phong, Lục Phong và Phù Nguyên đã làm tất cả mọi việc để giúp đỡ quân đội của Đảng. Trong thời gian cuộc phản loạn của Lưu và Dương, nông dân nhiều huyện đã nổi dậy và tiến công những đội quân phản loạn và giúp đỡ Chính phủ cách mạng tiêu diệt bọn quân phiệt phản loạn trong vòng mấy ngày. Gần đây, nông dân Đông Hoàn đã hỗ trợ một cách có hiệu quả binh lính của Chính phủ tước vũ khí khi bọn lính ngoan cố của Lam Sooyai và những tên khác. Lần này nông dân Hải Phong lại chịu đựng những sự hy sinh lớn để giúp đỡ quân đội của Đảng trong cuộc chinh phạt sông Đông hiện nay.

Sự đau khổ của họ. Thế nhưng những nông dân anh dũng đó lại là những người bị bóc lột và bị áp bức hơn ai hết! Trước hết, họ bị đội hương dũng áp bức. Tổ chức này do bọn địa chủ lớn và bọn hào lý xây dựng nên, chúng trang bị vũ khí cho những người nông dân để chống lại những người anh em cùng giai cấp của mình. Bọn địa chủ và bọn hào lý có ý định dùng đội hương dũng để bảo vệ nông dân chống lại bọn phỉ, nhưng trong thực tế tổ chức này còn tồi tệ hơn cả bọn phỉ.

ở một xã như Lisao, nông dân bị buộc phải nộp mỗi nǎm 100.000 đôla để duy trì đội hương dũng. ở một làng nhỏ như Huệ Đức người ta lột của nông dân mỗi nǎm hơn 20.000 đôla. ở Thuận Đức, viên chỉ huy đội hương dũng cứ mỗi nǎm kiếm lợi được 70.000 đôla. ở các huyện khác, nông dân cũng bị bóc lột như vậy. Để moi tiền của nông dân, đội hương dũng đã thu ít nhất là 20 loại thuế.

Những kẻ áp bức họ. Trước kia nông dân thụ động. Hiện nay, với tổ chức của mình, họ tự bảo vệ mình. Do đó những kẻ áp bức họ chỉ còn trông cậy vào những hành động tội ác.

Không có tháng nào mà không có một vài Hội nông dân bị triệt phá hoặc một vài chiến sĩ bị sát hại. Đây là bản tóm tắt một sổ đen: 1924 – tháng 5 – tháng 6, hai Hội nông dân ở Quảng Ninh bị triệt phá. Tháng 7 – tháng 8, Hội nông dân Nam Phố và Nam Hội bị triệt phá. Tháng 9 – tháng 10, Hội nông dân Đông Hoàn cũng cùng chung một số phận. Tháng 11 – tháng 12, thì Hội nông dân của vùng 2 thuộc Quảng Ninh, Hội nông dân Hoa huyện và Hội nông dân Phiên Ngung bị triệt phá. Bọn hào lý và bọn địa chủ thuê bọn phỉ cướp phá các vùng, đốt trụ sở của Hội nông dân và giết hại các hội viên của hội.

Chuỗi tội ác đó mỗi tháng một tiếp tục kéo dài thêm, tội ác của bọn hào lý Hồ Giang gây ra tháng 5 vừa qua đặc biệt dã man. Nhiều nhà cửa của nông dân bị đốt, các cán bộ của Hội nông dân bị giết hại, phụ nữ và nữ thanh niên trong làng bị hãm hiếp.

Mới gần đây thôi, bọn hào lý ở Thuận Đức, Phù Nguyên, Thông San đã phạm cùng một tội ác đáng xấu hổ như vậy đối với nông dân ở huyện của chúng.

Nghị quyết. Những sự thật đó cho thấy rõ ràng rằng đội hương dũng là công cụ áp bức nông dân. Hơn nữa, nhiều đội lại thường gồm những tên phỉ và những kẻ không thể chấp nhận được, trong khi một số khác không thể giữ gìn được an ninh và trật tự trong huyện của họ. Song tất cả những đội đó đều là những trở ngại cho chính sách nông dân của Đảng. Hơn nữa, sự thật đã được chứng thực đầy đủ là ở bất cứ nơi nào mà nông dân đã thành lập đội tự vệ của mình thì đội tự vệ đó chẳng những duy trì được an ninh và trật tự ở làng và huyện mà còn có thể ủng hộ Chính phủ cách mạng, tǎng cường cơ sở của Đảng.

Vì vậy đảng bộ Quảng Đông của Quốc dân đảng quyết định đề nghị Chính phủ giải tán các đội hương dũng ở những nơi có đội tự vệ nông dân và xoá bỏ – càng sớm càng tốt – cơ quan tổng chỉ huy các đội đó. Đồng thời yêu cầu Chính phủ tổ chức đội tự vệ nông dân để giữ gìn an ninh và trật tự ở các làng và các huyện, phù hợp với chương trình nông dân của Đảng.

Những sự áp bức khác. Bên cạnh đội hương dũng còn có bọn quan lại và bọn quân phiệt, bọn này tự gọi mình là đảng viên của Đảng, nhưng hành động hoàn toàn trái với các quy tắc của Đảng.

Mục đích duy nhất của chúng là kiếm tiền. Chính sách duy nhất của chúng là hợp tác với bọn hào lý xấu bóc lột nông dân và áp bức Hội nông dân.

Quân đoàn 3 đóng ở Quảng Ninh và huyện trưởng Tài đã nhúng tay vào vụ đổ máu ở huyện đó. Binh lính của Phúc ở Thuận Đức và viên huyện trưởng Tǎng phải chịu trách nhiệm trực tiếp về việc tàn sát đã xảy ra ở 6 làng. ở Đông San hiến binh trưởng Ngô, đại uý Yiép thuộc quân đoàn 2 và binh lính của Phúc – cùng với bọn hào lý – đã đốt phá và cướp bóc 30 làng.

Nơi nào có phong trào nông dân thì đều có tình hình như vậy. Những hành động đó của quân đội và của bọn quan lại không những làm cho nông dân xa lìa Đảng, mà còn phá hoại kế hoạch của Đảng.

Để gạt bỏ những trở ngại đó và để làm cho sự hợp tác giữa Đảng và nông dân trở thành một sự hợp tác thực sự, cần phải xử sự quyết liệt đối với bọn quân nhân phản bội và bọn quan lại cũng như bọn hào lý mục nát. Chỉ có bằng cách như vậy Hội nông dân mới có thể phát triển được, chương trình nông dân của Đảng mới có thể thực hiện được.

Bọn cho vay nặng lãi. Bọn cho vay tiền nặng lãi là những kẻ không thương xót gì nông dân cả. ở các huyện quanh Quảng Châu, chúng lấy lãi ít nhất là 36%. ở huyện Cao Yên chúng lấy lãi 73% và ở Lôi Châu 108%! Hơn nữa, nếu người cha không trả được nợ thì con anh ta bị buộc phải làm cái việc trả nợ đó.

Những cửa hiệu cầm đồ, những thương nhân vô lương tâm cũng chẳng nhân từ gì hơn. Thuế khoá nặng nề dồn thêm sức nặng lên gánh nặng của nông dân vốn đã quá nặng rồi!

Những sự khốn cùng của nông dân. Những người làm thuê cho nông trại được trả công thật thảm hại trong lúc con cái nông dân làm việc thật sự chẳng được gì.

Người lĩnh canh làm việc vất vả quanh nǎm mà chỉ được 35 hoặc 40% sản lượng. Ngay cả với cái phần còm cõi đó, mỗi vụ gặt họ vẫn phải biếu xén địa chủ. Thế vẫn chưa hết. Địa chủ có thể lấy lại ruộng, không cho người lĩnh canh thuê vào bất kỳ lúc nào y muốn. Địa chủ dùng hai thủ đoạn khác nhau: địa chủ nhỏ thì cho thuê, địa chủ lớn hơn thì tập hợp các khoản cho thuê.

Các công ty độc quyền ruộng đất giữ chặt nông dân nghèo dưới gót giày tàn bạo của chúng. Chúng cướp hết ruộng đất rồi sau đó cho thuê ruộng với mức lãi 80%.

Hoàn cảnh của những người sở hữu nhỏ thật quá xa với điều mong muốn. Họ bị buộc phải nộp 30 loại thuế. ở Hải Phong và Lôi Châu chẳng hạn, bọn quân phiệt đã thu thuế ruộng đến nǎm 1930.

Nghị quyết. Đảng bộ khẩn thiết yêu cầu:

Xoá bỏ sự nô dịch của nợ nần, các thứ thuế nặng và ngoại ngạch, sự độc quyền ruộng đất.

Cấm cho vay nặng lãi, cấm thu hồi ruộng đất, không cho nông dân thuê nữa mà không có đủ lý do; đòi ấn định địa tô tối đa, thống nhất đo lường, miễn thuế khi mất mùa.

Đòi thiết lập ngân hàng và các hợp tác xã nông dân, cải cách hệ thống nông nghiệp, hoàn thiện công trình tưới nước.

Về những người làm thuê cho các nông trại, Đảng bộ yêu cầu rút ngắn ngày lao động, tǎng lương, đối xử bình đẳng đối với công nhân nam nữ trẻ tuổi.

Đòi xoá bỏ đội hương dũng, đội hương vệ, cục bảo vệ bãi cát và các tổ chức ǎn bám khác. Các quỹ và các nguồn tiền của các tổ chức này phải được chuyển cho Hội nông dân để sử dụng vào việc cải thiện nông nghiệp.

Đòi chuẩn bị cho việc trồng rừng ở tất cả những đất công và đất chưa canh tác.

Ngoài ra Đảng bộ còn yêu cầu cấp ruộng cho những nông dân không có ruộng.

Giáo dục. Đại đa số nông dân bị thất học. Còn nữ thanh niên và phụ nữ nông dân thì trên thực tế bị tước mọi loại học vấn. Sự dốt nát đã khiến cho nông dân trở thành một công cụ dễ sai khiến trong tay thế lực phản cách mạng. Để khắc phục tình trạng đó, Đảng bộ yêu cầu:

Tổ chức lớp học buổi tối cho người lớn và trường không thu học phí cho trẻ con.

Để thực hiện chương trình này, Đảng bộ yêu cầu Chính phủ mở rộng hệ thống giáo dục không thu tiền đến tất cả các huyện và lập một ngân sách đặc biệt để dùng vào mục đích đó. Đảng bộ còn đề nghị thêm rằng tất cả các chùa chiền, đền đài, các quỹ và các nguồn của cải công phải được sử dụng cho công việc giáo dục.

———————

Tài liệu tiếng Anh, lưu tại Viện Hồ Chí Minh
cpv.org.vn