Archive | 2012

Chương III: Các quan thống đốc (A)

I- ÔNG PHUỐC

Ông Phuốc, thống đốc xứ Đahômây, cai trị giỏi đến nỗi người bản xứ nào ở thuộc địa ấy cũng kêu ca về ông ta. Để xoa dịu lòng công phẫn, người ta vờ phái sang đó một viên thanh tra. Viên thanh tra này kiểm tra giỏi đến nỗi chưa thèm xét gì đến đơn khiếu nại của nhân dân đã cuốn gói chuồn thẳng 1 .

Về việc này, chúng tôi có nhận được một bức thư của uỷ ban hành động Pháp – Hồi ở Poóctô – Nôvô 2 trong đó có những đoạn chính như sau:

“Trước lúc người Pháp đến Đahômây rất lâu, ở Poóctô – Nôvô đã có một thủ lĩnh Hồi giáo gọi là Imǎng có nhiệm vụ đại diện cho tập thể người Hồi ở bất cứ chỗ nào cần thiết, quản lý tài sản của tập thể Hồi giáo ấy và trông nom việc lễ bái.

“Theo tục lệ, Imǎng phải do một đoàn cử tri bầu lên, chọn trong những người Hồi giáo ngoan đạo, có tiếng là đức độ và đã từng làm phó Imǎng một thời gian lâu. Hơn nữa, trước khi chết, Imǎng đương quyền có ý kiến về vị phó nào có đủ tư cách để thay thế mình.

“ý kiến của Imǎng lúc đó là ý kiến không được sửa đổi.

“Trước khi qua đời, Imǎng Cátxumu đã chỉ định viên phó

Xarucu làm người kế vị mình. Đoàn cử tri và đa số người Hồi giáo cũng đã tán thành.

“Khi Cátxumu mất, đáng lẽ Xarucu phải được bầu lên, nhưng tên Inhaxiô Paredô dựa vào thế của thống đốc đã độc đoán cản trở, bắt ép người Hồi giáo phải nhận tên Lavani Cốtxôcô là bạn thân của y, làm Imǎng. Tên Cốtxôcô, cũng như y, chỉ theo đạo Hồi trên danh nghĩa.

“Thấy đoàn cử tri và đa số người Hồi giáo chống lại việc cử tên Cốtxôcô một cách bất hợp pháp, Paredô liền nhờ viên thủ lĩnh cao cấp là Hútgi can thiệp. Hútgi là tín đồ đạo bái vật, được chính phủ che chở, nên hắn cứ cử tên Lavani Cốtxôcô làm Imǎng, bất chấp nguyện vọng người Hồi giáo.

“Kể ra, nếu Lavani Cốtxôcô là một người Hồi giáo tốt và lương thiện thì chúng tôi cũng làm ngơ việc hắn được cử làm Imǎng, nhưng hắn lại là một tên bất lương chưa từng thấy trên đời này. Chúng tôi nói như thế là có bằng cứ:

“Lavani Cốtxôcô sinh ở Lagốt (xứ Nigiêria thuộc Anh). Hắn là dân thuộc địa Anh. Vì can nhiều tội giết người và nhiều tội ác khác ở Nigiêria thuộc Anh, nên bị nhà chức trách Anh truy nã.

“Ông thống đốc của chúng tôi hồi đó đã thu dụng tên dân thuộc địa Anh bất lương này và như để thưởng công cho hắn, đã cử hắn làm tù trưởng các xã ven hồ như ápphôtônu Aghêghê, áplǎngcǎngtǎng, v.v.. Toàn dân vùng ấy ngày nay đều ghê tởm những hành vi nhũng lạm, những tội ác của hắn, và kêu ca về hắn.

“Nguyên chúng tôi có một điện thờ ở khu phố Atpatxa tại Poóctô- Nôvô. Nhà đương cục Pháp đã phá huỷ điện thờ ấy với lý do vì lợi ích công cộng rồi bồi thường cho chúng tôi nǎm nghìn phrǎng.

“Tiền bồi thường không đủ để xây dựng một điện thờ mới. Chúng tôi đã mở một cuộc lạc quyên riêng, thu được 22.000 phrǎng.

“Paredô là người có chân trong tiểu ban mua sắm vật liệu và phát lương cho thợ.

“Khi viên phó Imǎng Bítxiriu – người nắm giữ chìa khóa két – chết, thì Paredô trở thành người giữ chìa khoá két. Hắn lợi dụng địa vị ấy để biển thủ số tiền 2.775 phrǎng. Tiểu ban bắt buộc phải khai trừ hắn ra khỏi tiểu ban.

“Inhaxiô Paredô cǎm tức, bèn bàn mưu tính kế với ông thống đốc. Thế là ông này cho thi hành những biện pháp độc đoán đối với chúng tôi, và làm trở ngại việc xây dựng điện thờ của chúng tôi.

“Giờ đây, do mưu mô của Inhaxiô Paredô được ông thống đốc tiếp tay cho trong việc cử một cách trái đạo tên Cốtxôcô làm Imǎng, dân Hồi giáo ở Poóctô – Nôvô đã chia thành hai phe. Tình trạng ấy làm tổn thương tình đoàn kết, hoà hợp của người Hồi giáo, làm hại cho việc tự do hành đạo của chúng tôi và gây ra những vụ lộn xộn lớn”.

cpv.org.vn

Chương IV : Các quan cai trị (C)

III- QUÝ NGÀI BUĐINÔ, BÔĐOANH VÀ NHỮNG NGÀI KHÁC

Mặc các cuộc triển lãm ồn ào, những bài diễn vǎn rùm beng, những cuộc kinh lý đế vương và những bài báo hoa mỹ, tình hình ở Đông Dương vẫn chẳng ổn chút nào.

Chiếc ghế bị cáo mà quan cai trị liêm chính Lanô vừa rời khỏi chưa kịp nguội thì người ta lại báo cho chúng tôi biết về những vụ xấu xa khác nữa.

Trước hết là vụ Buđinô. Ông Buđinô là một nhà khai hoá điển hình, một vị quan cai trị chuyên ǎn hối lộ. Trong số vụ ông ta bị tố cáo, chúng tôi xin kể vụ sau đây:

“Làng Tân An, nơi lỵ sở của tổng, đã lấy quỹ làng và vay tiền để xây dựng một nhà máy điện. Việc kinh doanh rất có lợi, vì thu vượt chi rất nhiều. Ngoài ra, các công sở và đường sá của làng còn được thắp đèn điện không mất tiền.

“Nhưng bỗng một quan cai trị khá xảo quyệt (ông Buđinô), đã khéo xoay sở thế nào mà làng Tân An phải chịu nhường không nhà máy điện cho một anh chàng thầu khoán, để được hưởng cái thú phải trả tiền đèn đường và đèn công sở. Ngày nay làng nhận thấy chuộc lại nhà máy nhượng không ấy là có lợi, và chuộc lại thì phải xuất ra hàng chục nghìn đồng. Câu chuyện này là cả một thiên tiểu thuyết trong đó tài nǎng hư cấu của một tên cựu tỉnh trưởng đã được tự do phát huy với một sự đểu cáng không thể tưởng tượng nổi”.

Vụ xấu xa thứ hai trước mắt là vụ Têa. Một bạn đồng nghiệp ở Đông Dương đã viết về vụ đó như sau:

“Chúng ta đang sống trong một bầu không khí thật là… không bình thường chút nào: chưa xong vụ Buđinô, vụ Lanô, lại đến vụ Têa.

“Ông Têa là một kỹ sư xuất sắc, giám đốc một hãng lớn của người Pháp ở Hải Phòng. Ông đã đến tìm ông Xcala, giám đốc thương chính, và tặng trước ông này số tiền chè lá một vạn đôla để ký kết một chuyến buôn thuốc phiện với cơ quan nhà nước. Chắc là ông Têa có những lý do rất đặc biệt để nghĩ rằng việc vận động như thế không có gì là bất thường cả. Như vậy có nghĩa là việc hối lộ là việc thông thường trong chính giới ở Đông Dương. Tất cả những kẻ nào có quyền thế như vậy đều lợi dụng để vơ vét cho đầy túi tham của mình và làm hại lớn cho xã hội”.

Nếu như ông Đáclơ, công sứ khát máu ở Thái Nguyên mà được cử làm uỷ viên hội đồng thành phố Sài Gòn, và ông Bôđoanh, người đang được quan toà Oaren nóng lòng chờ đợi, mà được cử giữ chức toàn quyền Đông Dương, thì các ông Têa và Buđinô ít ra cũng nên được gắn bội tinh mới phải.

—————————————

12. Một tổ chức dân chủ tư sản nhằm đấu tranh đòi bảo vệ những quyền tự do tư sản. Tổ chức này được thành lập nǎm 1898 ở Pháp do sáng kiến của nhà vǎn Pháp Trariơ (Ludovie Trarieu) nhân vụ nhà cầm quyền Pháp xử phạt nhà vǎn Emin Dôla (Emile Zola). Tr.48.

13. Tháng 8-1917, dưới sự lãnh đạo của Đội Cấn (tức Trịnh Vǎn Cấn) và Lương Ngọc Quyến, binh lính Việt Nam trong quân đội Pháp ở Thái Nguyên nổi dậy, chiếm thị xã. Sau 6 ngày cầm cự với quân Pháp kéo từ Hà Nội và nhiều nơi khác lên đàn áp, Lương Ngọc Quyến hy sinh, nghĩa quân rút khỏi tỉnh lỵ, chuyển về hoạt động ở vùng rừng núi các tỉnh Thái Nguyên, Vĩnh Yên, Phúc Yên, Hoà Bình, Sơn Tây. Tr.48.

cpv.org.vn

Chương IV : Các quan cai trị (B)

II- ÔNG ĐÁCLƠ

Tập Cahier des droits de l’Homme vừa mới đǎng một bức thư của ông Phécđinǎng Buytxông, chủ tịch Hội nhân quyền 12 , gửi ông Xarô, Bộ trưởng Bộ Thuộc địa, nói về cuộc khởi nghĩa ở Thái Nguyên 13 (Đông Dương) nǎm 1917 và việc đàn áp cuộc khởi nghĩa đó.

Bức thư vạch rõ trách nhiệm của viên công sứ tỉnh Thái Nguyên là ông Đáclơ: chính vì sự lạm quyền của ông Đáclơ mà cuộc khởi nghĩa bùng nổ. Toà án Sài Gòn cũng đã xác định tội của ông ta ngay từ nǎm 1917.

Thế nhưng, có ai ngờ rằng ông Đáclơ không hề bị một sự trừng phạt nào về mặt hành chính cả. Trái lại, ông ta lại được cử làm uỷ viên hội đồng thành phố Sài Gòn. Còn sự trừng phạt về mặt tư pháp thì thật là đáng buồn cười: nộp vẻn vẹn có 200 phrǎng tiền phạt!

Cái ông Đáclơ ấy quả là một nhà cai trị có tài. Khoa cai trị của ông ta, ông ta đã học được ở khu phố latinh khi ông còn là một anh hàng cháo.

Lúc ấy, ông Đáclơ không có một xu dính túi và mắc nợ như chúa chổm. Nhưng nhờ một chính khách có thế lực, ông ta được bổ nhiệm làm quan cai trị ở Đông Dương.

Chễm chệ đứng đầu một tỉnh có hàng vạn dân, và được giao cho quyền hành tuyệt đối, ông ta vừa là tỉnh trưởng, vừa là thị trưởng, vừa là quan toà, vừa là mõ toà, vừa là người đốc thuế; tóm lại, ông ta nắm trong tay tất cả mọi quyền hành: Toà án, thuế khoá, điền thổ, tính mạng và tài sản của người bản xứ, quyền lợi của viên chức, việc bầu cử lý trưởng và chánh tổng, tức là vận mạng của cả một tỉnh được đặt vào tay cái anh hàng cháo ngày xưa ấy.

ở Pari, không làm giàu nổi bằng cách bóc lột khách hàng, sang Bắc Kỳ ông ta gỡ gạc lại bằng cách bắt bớ, giam cầm, xử tội người An Nam một cách độc đoán, để bòn rút họ.

Đây là một vài việc làm rạng rỡ thời thống trị độc tài của vị quan cai trị dễ thương ấy mà nước mẹ cộng hoà đã có nhã ý gửi sang để khai hoá cho chúng tôi.

Một số lính tình nguyện (!) bản xứ, bị điệu về để sung vào lính khố đỏ và vì thế họ phải đi khám sức khoẻ. Đó là những người mù chữ, nhút nhát, khi hỏi thì trả lời chậm chạp, nên quan công sứ đã chửi bới, đấm đá và lấy gậy phang họ túi bụi.

Ba người lính khố xanh để xổng một người tù, đã bị ông Đáclơ đánh đập một cách rất tàn nhẫn, nắm tóc họ kéo lê dưới đất và đập đầu họ vào tường toà sứ.

Khi hỏi cung tù nhân, quan công sứ thường lấy thanh gươm đâm vào đùi họ. Có người khi về đến nhà lao thì lǎn ra bất tỉnh.

Một đoàn tù khốn khổ, gầy đói, quần áo tả tơi, bị lôi dậy từ tờ mờ sáng, cổ mang gông, chân buộc xiềng, người nọ bị xích vào người kia, cùng kéo một chiếc xe lu to tướng trên những lớp sỏi dày. Hoàn toàn kiệt sức, họ ỳ ạch kéo chiếc xe lu nặng nề dưới ánh nắng như thiêu như đốt. Bỗng quan công sứ đến. Như lệ thường, quan cầm theo một cái gậy to tướng, rồi bỗng dưng vô cớ, quan xông vào đám người khốn khổ ấy, như con thú dữ, đánh túi bụi, tàn nhẫn không tưởng tượng được, vừa đánh vừa chửi họ là đồ lười.

Một hôm nhà khai hoá của chúng ta vừa quở trách một nhân viên người Âu xong, không biết trút cơn giận lên đầu ai được, vớ cái thước sắt trên bàn giấy đập nát hai ngón tay của một viên thư ký người An Nam chẳng liên can gì đến việc kia cả.

Một hôm khác, ông ta vụt roi gân bò vào mặt một viên đội người bản xứ trước những người lính dưới quyền anh ta.

Lại một lần khác, có mấy người lính khố xanh làm trái ý ông ta, ông ta bèn cho đem chôn họ đến tận cổ, mãi đến khi họ ngắc ngoải mới cho moi lên.

Cứ mỗi khi ông ta đi xem xét các con đường có dân phu làm việc thì số chân người bị đánh què bằng lưỡi xẻng, cán cuốc, phải tính bằng đơn vị nửa tá. Những người dân phu làm đường ấy đều là những người bị ông ta bắt ép đi làm với tiền công mỗi ngày một, hai xu, sau khi họ đã phải nộp tiền chuộc phần tạp dịch của họ với giá mười lǎm xu mỗi ngày.

Một lần, ở một công trường, ông ta đã giật súng của một người lính coi tù để đánh một người tù. Người tù tránh được, quan công sứ quay lại đánh người lính, cũng bằng cây súng ấy. Bà công sứ, người vợ xứng đáng của quan lớn, cũng tham gia, bà đánh tù một cách tự nhiên và phạt lính lúc nào cũng được.

Người ta đã trông thấy quan công sứ dùng gậy đánh một viên đội lòi mắt. Quan còn làm nhiều việc cao cả khác nữa mà ở đây chúng tôi không thể nào kể xiết được.

Tất cả những việc kể trên, mọi người đều tai nghe, mắt thấy, kể cả cấp trên của ông ta là các quan toàn quyền, quan khâm sứ. Để khen thưởng tinh thần “cương quyết” và “đức độ rất cộng hoà” của ông ta, những vị này đã thẳng tay thǎng quan tiến chức cho ông ta.

cpv.org.vn

Chương IV : Các quan cai trị (A)

I- ÔNG XANH

Như các bạn đều biết, các thuộc địa vẫn được gọi là những nước Pháp hải ngoại, và người Pháp của những nước Pháp ấy là người An Nam, người Mađagátxca hoặc người…v.v.. Bởi thế, cái gì ở bên này là phải thì ở bên kia là trái, và cái gì ở bên kia được phép thì ở bên này bị cấm. Thí dụ: ở bên ấy, tất cả người Pháp đều được phép làm cho dân bản xứ ngu muội đi bằng thuốc phiện, họ càng bán được nhiều thuốc phiện, thì càng được quý trọng; nhưng ở bên này, nếu anh đem bán thứ thuốc độc ấy thì, anh sẽ bị tóm cổ ngay lập tức. Nếu ở bên Pháp, một viên chức cao cấp được phép vận quần áo lót để đi ra đường, thì ngược lại một ông hoàng bản xứ không có quyền mặc áo bản xứ, ngay cả khi ở nhà và đang ốm.

Vì đang ốm, nên cố quốc vương Tuynidi đã cứ mặc nguyên áo ngủ mà tiếp quan khâm sứ. Như thế đã là bậy rồi; nhưng còn bậy hơn nữa là cháu nội và cháu họ nhà vua lại quên chào quan khâm sứ nói trên. Thế là sau hai ngày, đúng vừa đủ thời gian để suy nghĩ, quan lớn khâm sứ bèn mặc nhung phục, kéo binh mã đến bắt nhà vua phải xin lỗi. Thế mới đúng chứ. Một khi anh là quốc vương và chịu sự bảo hộ của một ông thánh (ông Xanh) thì dù là thánh cha, thánh con hoặc thánh thần, anh cũng không có quyền được đau ốm. Còn các chú “nhóc con” bản xứ, các chú phải biết rằng, một khi đã sinh ra dưới đôi cánh mẹ hiền của nền dân chủ thì các chú không được nô đùa, reo cười, hò hét, mà phải học chào lạy.

ở Đông Dương cũng như ở các thuộc địa khác, đối với những người bản xứ không kịp lạy chào các “quan bảo hộ” thì nhiều quan cũng chỉ khiêm tốn “giã cho một trận” thôi, chứ chưa bao giờ lại huy động quân đội để bắt trẻ con phải lạy chào. Dĩ nhiên trong bọn họ không phải ai cũng đều là khâm sứ cả!

Mặc dầu: “sự việc nghiêm trọng” ấy đã bị vạch ra trên diễn đàn nghị viện và theo lời ông Poǎngcarê, nó có thể làm tổn thương đến ảnh hưởng của nước Pháp, chúng ta sẽ là những người vong ân đối với quan khâm sứ Xanh, nếu chúng ta buộc cho ông cái tội “thất bại chủ nghĩa”; bởi vì, nhờ có cuộc biểu diễn lực lượng thân thiện, trẻ con và hoà bình ấy mà từ đó người bản xứ biết cách nên lạy chào một “người anh em da trắng” như thế nào. Ai cũng còn nhớ khi ông Milơrǎng sang thǎm châu Phi, người bản xứ đã đón chào ông, và để tỏ lòng trung thành vô hạn và lòng tôn kính sâu sắc với vị quốc trưởng nước bảo hộ, họ đã kéo áo sơmi ra ngoài quần đấy.

cpv.org.vn

Bác Hồ trong tâm thức người Việt ở Pakse – Lào

Đã lâu nghe có đền thờ Bác Hồ tại Pakse – Lào nên khi đến đây tôi quyết tâm đến thăm ngay. Một bác Việt kiều nói: Chú cứ đến đầu xóm Tân Phước hỏi đền thờ Thánh Trần và Cụ Hồ, ai cũng biết. Quả thật tôi dễ dàng tìm đến nơi này. Đền thờ nằm trong một con hẻm nhỏ thuần người Việt, nhiều nhất là người gốc Hà Nội.

1
Chân dung của Chủ tịch Hồ Chí Minh được thờ
tại chùa Kim Sơn bên cạnh các vị vua yêu nước, bồ tát, cao tăng. Ảnh: N.T.D

Theo lời các cụ cao niên ở đây kể lại: Sau khi Bác mất hầu như nhà người Việt nào cũng thờ Bác. Song mọi người lại muốn có một nơi trang trọng hơn nên đã lập bàn thờ Bác ngay đền thờ Đức Thánh Trần. Bà con cho rằng Bác Hồ và Đức Thánh Trần là những bậc anh hùng lỗi lạc của dân tộc xứng đáng được tôn thờ.

Trong đền, gian thờ giữa dành thờ Đức Thánh Trần. Gian bên trong thờ tượng, chân dung Hưng Đạo Đại Vương, hai bên tả hữu thờ bà Liễu Hạnh.

Bàn thờ Bác Hồ đặt ở gian ngoài, song song với bàn thờ Đức Thánh Trần, ở giữa đặt tượng bán thân của Bác bằng thạch cao. Bức tượng này được bà con rước về thờ nhân kỷ niệm sinh nhật Bác lần thứ 115. Dưới chân tượng, đặt 5 bức ảnh về cuộc đời hoạt động cách mạng của Bác được lồng trong khung rất cung kính. Bên trên bàn thờ đề 2 dòng chữ “Không có gì quý hơn độc lập tự do” và “Đời đời nhớ ơn Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại”. Nhìn trên bàn thờ Bác, chúng tôi thấy nhang đèn, hoa tươi bày trang trọng, ấm cúng. Anh Nguyễn Văn Dũng- người giữ đền giải thích: Vào những ngày rằm, mùng một hàng tháng và các ngày lễ lớn trong năm, bà con Việt kiều đến viếng rất đông và tổ chức lễ cúng rất trang trọng.

2Anh Nguyễn Văn Dũng – người giữ đền Bác Hồ tại Pakse hiện nay. Ảnh: N.T.D

Đến thăm chùa Kim Sơn ở bản Khúa Ta Phan – Pakse, chúng tôi lại một lần nữa ngạc nhiên khi thấy chân dung của Bác Hồ được thờ trang trọng trong gian hậu tổ, nơi thờ những bậc bồ tát, cao tăng, vị khai sơn của chùa. Chân dung Bác Hồ được phóng to treo ngang hàng với chân dung của vua Thành Thái, một vị vua yêu nước, chống Pháp và cũng là thân phụ của vị khai sơn chùa Kim Sơn- Thích Minh Lý.

Một bức chân dung khác: Một người mặc áo cà sa màu vàng, cầm bình bát đang đi khất thực, dưới ảnh chú thích: “Chân dung Hồ Chí Minh năm 1919 (29 tuổi) là một nhà sư hành đạo (hoạt động cách mạng) tại Xiêm (Thái Lan) có tên THẦU CHÍN” đặt giữa bàn thờ bên cạnh chân dung các cao tăng như Tổ sư Minh Đăng Quang, Bồ tát Thích Quảng Đức, Ni cô Diệu Tĩnh, người ở chùa Kim Sơn cho biết: Gian thờ Cụ Hồ đã có lâu lắm rồi, khi mới về đây ni cô đã thấy (người viết bài này xin miễn bình luận về xuất xứ bức ảnh và thời gian được chú thích vì năm 1919 Bác Hồ ở Pháp, năm 1928 Bác đến Thái Lan và năm 1929 Bác rời Thái Lan).

Thăm hai nơi thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Pakse làm tôi xúc động, bồi hồi: Nhân dân ta thật sáng suốt và công bằng, tâm thức của họ luôn hướng vào những bậc anh linh hào kiệt của dân tộc với một niềm tin hết sức tự nhiên và có sức sống bền bỉ, sâu sắc. Trong đó hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh được xem như một bậc hiền nhân mà nhân dân Pakse nói riêng luôn tôn kính trong tâm thức của mình.

 Nguyễn Tiến Dũng
Theo http://baogialai.com.vn
Tâm Trang (st)

Nhớ ngày gặp Bác

Buổi chiều ngày 25/8/1958 đơn vị tôi được lệnh chuyển quân từ Phú Thọ về tham gia xây dựng công trường Đại thuỷ nông Bắc Hưng Hải. Trong lúc Ban Chỉ huy Đại đội chúng tôi đang phân công mỗi người một nhiệm vụ lo toan bố trí nơi ăn ở cho anh chị em, công việc đang bộn bề thì tôi tiếp nhận được giấy triệu tập họp. Không thể trì hoãn được, nên tôi bàn giao lại cho các đồng chí ở nhà lo liệu, còn tôi thu xếp đi họp gấp.

Từ nơi đóng quân đến chỗ họp phải đi bộ gần 2 km đường nông thôn. Đến nơi, tôi thấy có nhiều người, trong đó có cả các máy quay phim chụp ảnh đã tề tựu đông đủ. Vì công trường mới đang chuẩn bị cho ngày khởi công, hội trường chưa có nên phải tạm họp ở vạt cỏ ven đê. Đồng chí Vũ Yển – Đại tá, Phó ban Chỉ huy công trường tuyên bố nội quy Hội nghị, chúng tôi phải ngồi xếp hàng tại chỗ. Tôi thầm nghĩ: Đã qua nhiều công trường chưa thấy nơi nào lại khắt khe như vậy. Họp cán bộ thường thì rất thoải mái, cốt nhất là giữ gìn trật tự để lĩnh hội ý kiến chương trình, còn đây lại khác hẳn. Vì tôn trọng tổ chức, nên tôi ngồi theo mọi người, hơn nữa nhân lúc ấy có liên lạc đưa cho tôi công văn và tập báo, tôi tranh thủ mở ra xem. Trong lúc vừa nhìn vào tờ báo, thì thấy như nước vỡ bờ, tất cả mọi người đứng dậy. Như có một lực nào đó, tôi cũng bị cuốn theo. Khi ngước nhìn lên mặt đê thấy hai xe ô tô con đỗ từ lúc nào. Cửa xe mở, Bác Hồ với bộ quần áo lụa mầu gụ thẫm, tươi cười từ trên đê bước xuống, tay vẫy chúng tôi.

Giờ phút thiêng liêng ấy, không ai bảo ai, bỏ qua cả nội quy Hội nghị, tất cả đã ùa ra đón Bác. Nơi họp vẫn bãi cỏ xanh, vẫn ven đê dốc thoải, mới lúc nãy còn lặng lẽ, khi có Bác mọi cảnh vật nhộn nhịp hẳn lên, khuôn mặt mọi người tươi vui hớn hở.

Khi đã ổn định, Bác rút đồng hồ ở túi áo ngực ra xem. Bác bảo: “Hôm nay Bác nói chuyện với các cô, các chú 2 giờ”. Bác hỏi các đồng chí lãnh đạo công trường: “ Đây là cán bộ những đâu ?” Đồng chí Vũ Yển thưa: “Thưa Bác cán bộ ba tỉnh: Bắc Ninh, Hưng Yên, Hải Dương”. Thấy một chị miền Nam bế cháu bé đến dự họp, Bác tươi cười hỏi “Thế cô bé kia là cán bộ gì?” Câu hỏi bất ngờ của Bác làm vui cả Hội nghị. Thấy một số chị em nữ đứng cuối hàng, Bác hỏi: “Sao các cô đứng xa thế?”, có chị thưa: “Thưa Bác, các anh ấy chen chúng cháu”. Bác cười đôn hậu :

“Các chú thanh niên nên nhường  chị em nữ, còn chị em nữ cũng phải giành quyền bình đẳng”.

Bác nói vừa dứt, cả Hội nghị lại vang lên những tiếng cười vui vẻ. Bác cũng cười theo.

Lời đầu tiên vào đề, Bác nói: “Nước ta đến nay đã 13 năm độc lập, thì 9 năm hạn hán, 2 năm úng thuỷ”. Bác đã hướng cho mọi người hiểu rõ tầm quan trọng của hệ thống thuỷ nông phải gắn liền với đồng ruộng Việt Nam và sự cần thiết của việc xây dựng công trình, qua đó Bác đã chỉ rõ cảnh lầm than cực khổ của người nông dân vùng này, không những dưới sự thống trị của đế quốc phong kiến trước kia, cũng như trong thời kỳ địch tạm chiếm, người nông dân vô cùng vất vả, cảnh đồng trắng nước trong, chiêm treo, mùa mất, hai sương một nắng, đời sống vẫn không dứt nghèo đói xác xơ. Hoà bình lập lại, nhằm từng bước nâng cao mức sống nhân dân. Trung ương Đảng, Nhà nước quan tâm tập trung sức người, sức của tiến hành xây dựng công trình thuỷ lợi cỡ lớn, công trình xã hội chủ nghĩa đầu tiên của miền Bắc. Bác căn dặn mọi người: “Đảng, Chính phủ điều các cô, các chú về đây công tác phải hết lòng phục vụ nhân dân, phải chăm sóc sức khoẻ, phải chăm lo nơi ăn, chốn ở cho mọi người để hoàn  thành nhiệm vụ”. Bác vừa nói, vừa hỏi: “Thế ai là người gương mẫu đi trước ?”. Trong Hội nghị có người thưa : “Thưa Bác, cán bộ ạ”. Bác chỉ tay nhấn mạnh: “Là đảng viên, đoàn viên, phải xung phong trước để mọi người làm theo”.

Cả Hội nghị im phăng phắc. Lời huấn thị của Bác như tiếng kèn xung trận đã thấm sâu vào tâm can, mọi người đều thấy sức sống trào dâng như muốn thưa với Bác: Chúng cháu xin hứa quyết tâm thực hiện lời Bác dạy.

Niềm tin tuyệt đối biểu lộ trên gương mặt mọi người. Bác ôn tồn nói tiếp: “Từ đây sang Hà Nội không xa lắm. Bác biết chiều thứ Bảy, ngày Chủ Nhật các cô, các chú hay sang bên ấy, xin miễn đi”

Trước lúc ra về, Bác còn dặn lại: “Bác nói chuyện với các cô, các chú 2 giờ, về phải làm bù kẻo mang tiếng Bác”. Rồi Bác vẫy tay tạm biệt chúng tôi. Tất cả mọi người xô nhau đứng dậy, vây quanh Bác, ai cũng muốn đựợc gần Bác.

Bác lên xe rồi, nhiều chị em tiễn Bác, khóc nức nở. Chúng tôi cũng không sao cầm nổi nước mắt, nghẹn ngào theo hút xe đến khi mờ hẳn.

Hồi ấy chúng tôi – những người may mắn được gặp Bác, trải qua bao năm tháng, đến nay người còn, người khuất, đều được chứng kiến hàng vạn con người, với biết bao tấm lòng hy sinh dũng cảm, những gương lao động quên mình, những khối óc sáng tạo, những bàn tay diệu kỳ đã biến quãng đê trống vắng xa xưa để sừng sững mọc lên công trình đồ sộ với con kênh lưu chuyển nước từ sông Hồng đến gần Kiến An có độ dài trên 50 km là nguồn tưới tiêu cho những cánh đồng bao la, cho biết bao cây cối đơm hoa, kết trái, làm giầu đẹp cho đất nước ./.

Theo Phạm Quang Thăng/ Báo Nam Định
bqllang.gov.vn

Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh Bộ tư lệnh Bảo vệ Lăng tổ chức Đại hội lần thứ VIII

Thực hiện Chỉ thị của Quân ủy Trung ương, Hướng dẫn của Tổng cục Chính trị và Chỉ thị của Thường vụ Đảng ủy Đoàn 969 về tổ chức Đại hội Đoàn các cấp, trong hai ngày, 23/8 và 24/8/2012, tuổi trẻ Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tổ chức Đại hội đại biểu Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng lần thứ VIII (2012-2017). Tham dự Đại hội có 118 đại biểu được bầu từ đại hội cấp cơ sở và 2 đại biểu được chỉ định.

Dai hoi doan BTL vieng Bac
Đại biểu dự Đại hội Đoàn TNCS Hồ Chí Minh
Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng lần thứ VIII vào Lăng viếng Bác

   Tới dự, động viên tuổi trẻ đơn vị có Thiếu tướng Đặng Nam Điền, Bí thư Đảng ủy Đoàn 969, Chính ủy Bộ Tư lệnh; Thiếu tướng Nguyễn Văn Cương, Phó Bí thư Đảng ủy Đoàn 969, Tư lệnh kiêm Trưởng ban Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đồng chí trong Thường vụ Đảng ủy, Thủ trưởng Bộ Tư lệnh; Trung tá Nguyễn Trọng Tứ, Phó Trưởng ban Ban Thanh niên Quân đội và các đồng chí là Bí thư Đảng ủy, Chi bộ cơ sở; Trưởng ban Chính trị, Trợ lý Chính trị, Chủ tịch Công đoàn, Hội Phụ nữ các cơ quan, đơn vị.

Đại hội đại biểu Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng lần thứ VIII có nhiệm vụ: Kiểm điểm, đánh giá kết quả công tác Đoàn và phong trào thanh niên của đơn vị 5 năm (2007-2012); những tồn tại, khuyết điểm, nguyên nhân, rút ra những bài học kinh nghiệm trong công tác chỉ đạo của từng cấp trong thời gian qua, đồng thời quyết định mục tiêu, phương hướng nhiệm vụ công tác Đoàn và phong trào thanh niên của đơn vị 5 năm tới (2012-2017); tham gia ý kiến vào dự thảo văn kiện của Tổng cục Chính trị trình Đại hội Đại biểu Đoàn Thanh niên Cộn sản Hồ Chí Minh trong Quân đội lần thứ VIII và các văn kiện của Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ X; bầu đại biểu đi dự Đại hội Đại biểu Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh trong Quân đội lần thứ VIII.

5 năm qua, công tác đoàn và phong trào thanh niên đơn vị đã có những chuyển biến tích cực và đạt được nhiều kết quả quan trọng. Công tác đoàn và phong trào thanh niên đã thực hiện tốt nhiệm vụ trung tâm là giáo dục và rèn luyện đoàn viên có bản lĩnh chính trị vững vàng, tuyệt đối trung thành với nhiệm vụ giữ gìn lâu dài, bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh, giữ vững phẩm chất ‘‘Bộ đội Cụ Hồ”. Phong trào thanh niên đã bám sát vào nhiệm vụ chính trị của đơn vị và các phong trào thi đua để động viên, khích lệ đoàn viên thi đua xung kích thực hiện. Các tổ chức cơ sở đoàn được củng cố và kiện toàn kịp thời; nội dung, hình thức sinh hoạt và hoạt động được đổi mới, phong phú, đa dạng, sáng tạo, đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ của đơn vị, phù hợp với nhu cầu, nguyện vọng và tâm lý của thanh niên. Vận hành đồng bộ cơ chế tiến hành công tác thanh niên trong đơn vị, tạo sức mạnh tổng hợp tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra và bảo đảm điều kiện, phương tiện, cơ sở vật chất, kinh phí cho công tác thanh niên. Hoạt động phối kết hợp với các tổ chức đoàn trong và ngoài quân đội được mở rộng. Đồng thời, nghiêm túc đánh giá kiểm điểm thấy rằng công tác đoàn và phong trào thanh niên của đơn vị tuy có chuyển biến tiến bộ nhưng chưa đồng đều, chưa vững chắc. Công tác giáo dục đối với đoàn viên, thanh niên vẫn còn hạn chế. Việc chấp hành kỷ luật trong thanh niên có nơi chuyển biến, tiến bộ chậm.

Phát biểu chỉ đạo tại Đại hội, Thiếu tướng Đặng Nam Điền, Bí thư Đảng ủy Đoàn 969, Chính ủy Bộ Tư lệnh đã biểu dương những kết quả mà tuổi trẻ đơn vị đã đạt được trong thời gian qua góp phần quan trọng vào việc hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị của đơn vị, trong đó nhiệm vụ giữ gìn lâu dài, bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhiệm vụ bảo đảm an ninh nghi lễ, sẵn sàng chiến đấu và nhiệm vụ đón tiếp, tuyên truyền hoàn thành xuất sắc. Trong thời gian tới, đồng chí yêu cầu mỗi tổ chức cơ sở đoàn phải căn cứ vào nhiệm vụ, đặc điểm tình hình của đơn vị để xác định rõ nội dung, biện pháp tổ chức hoạt động của đoàn thanh niên có hiệu quả, chọn những một nội dung công việc để từng đoàn viên phấn đấu thực hiện tốt.

Tại Đại hội, nhiều ý kiến tham gia phát biểu phân tích làm rõ những ưu, khuyết điểm trong hoạt động công tác đoàn và phong trào thanh niên 5 năm qua và đóng góp bổ sung phương hướng, nhiệm vụ và những giải pháp hoạt động công tác đoàn và phong trào thanh niên 5 năm tới. Đại hội đã thống nhất xác định phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ của công tác đoàn và phong trào thanh niên của đơn vị 5 năm tới với những chỉ tiêu cụ thể. Trong đó, tập trung giáo dục chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý tưởng, đạo đức cách mạng, truyền thống, lịch sử dân tộc; bồi đắp niềm tin, văn hoá, đạo đức, lối sống, ý thức chấp hành pháp luật cho thanh niên; khơi dậy, phát huy mạnh mẽ trí tuệ, sức trẻ, tinh thần xung kích của thanh niên trong thực hiện nhiệm vụ giữ gìn lâu dài, bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh; xây dựng các tổ chức đoàn vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức; năng động, sáng tạo, xung kích trong tổ chức hoạt động thực tiễn, góp phần quan trọng vào hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị, xây dựng Đảng bộ trong sạch vững mạnh, trở thành Đảng bộ tiêu biểu xuất sắc trong Đảng bộ Quân đội, đơn vị vững mạnh toàn diện, là đơn vị tiêu biểu về điều lệnh và nghi lễ trong toàn quân.

Trước đó, để chào mừng Đại hội, tuổi trẻ đơn vị đã có nhiều hoạt động chào mừng hướng về Đại hội như: Làm báo tường, thi bình báo, thi cắm hoa nghệ thuật; tổ chức các hoạt động văn hóa văn nghệ ở cơ sở và phối hợp với tuổi trẻ Trường Đại học Chính trị, Học viện Kỹ thuật Quân sự, Đoàn Nghi lễ Quân đội và Đoàn Thanh niên Bộ Tư lệnh Cảnh vệ tổ chức Dạ hội thanh niên chào mừng kỷ niệm 37 năm ngày Truyền thống Bộ đội Bảo vệ Lăng (29/8/1975-29/8/2012) và chào mừng Đại hội Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng lần thứ VIII.

Dưới đây là một số hình ảnh hoạt động trước và trong Đại hội:

Dai hoi doan BTL1
̣i thi báo tường

Dai hoi doan BTL1 tang hoa cac luc luong
Thiê
́u tướng Đặng Nam Điền, Chính ủy Bộ Tư lệnh tặng hoa cho đại diện 
các đơn vị tham gia Dạ hội Thanh niên

Dai hoi doan BTL.dai hoc chinh tri2
Tiê
́t mục văn nghệ chào mừng Đại hội của Đại học Chính trị

Dai hoi doan BTL.QTBD
Tiê
́t mục văn nghệ chào mừng Đại hội 
của Chi đoàn Ban Quản lý Quảng trường Ba Đình

Dai hoi doan BTL.hoc vien KTQS

Tiết mục văn nghệ chào mừng Đại hội của Học viện Kỹ thuật Quân sự

Dai hoi doan BTL1. Canh ve
Tiê
́t mục văn nghệ chào mừng Đại hội của Bộ Tư lệnh Cảnh vệ

 Dai hoi doan BTL. TT Dien
Thiê
́u tướng Đặng Nam Điền, Chính ủy Bộ Tư lệnh phát biểu chỉ đạo Đại hội

Dai hoi doan BTL.nguyen trong tư
Trung tá Nguyễn Trọng Tứ,
Phó Trưởng ban Ban Thanh niên Quân đội phát biểu tại Đại hội

 Dai hoi doan BTL.tham quan bao tuong1
Ca
́c đại biểu tìm hiểu quá trình hoạt động 
của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng

Dai hoi doan BTL bo phieu
Đại biểu bỏ phiếu bầu đại biểu tham dự Đại hội Đoàn TNCS cấp trên

 Dai hoi doan BTL.doan dai bieu ra mat dai hoi
Đại biểu dự Đại hội Đoàn cấp trên ra mắt Đại hội

Duy Hưng, Ngọc Hà
bqllang.gov.vn

Thư Bác Hồ gửi quê hương sau Cách mạng Tháng Tám

Đúng ngày 19/5/1945, Ngày sinh Bác Hồ, Ban Vận động Việt Minh liên tỉnh Nghệ – Tĩnh ra đời tại Thành phố Vinh. Và đến ngày 8/8/1945, Việt Minh liên tỉnh tiến hành Đại hội đại biểu tại làng Châu Sơn, xã Phúc Mỹ (nay là xã Hưng Châu, huyện Hưng Nguyên), chuẩn bị cho Tổng khởi nghĩa, bầu ra Ban Chấp hành Chính phủ Việt Minh liên tỉnh.

Ngày 16 tháng 8, nhân dân xã Thanh Thủy của huyện Nam Đàn giành chính quyền. Tiếp theo là các làng xung quanh Vinh vào ngày 17 tháng 8 như Yên Dũng, Lộc Đa… Quỳnh Lưu là huyện đầu tiên của Nghệ An giành chính quyền cấp huyện thắng lợi vào ngày 18 tháng 8. Đúng 12 giờ trưa ngày 21 tháng 8, các lực lượng cách mạng kéo đến bao vây Dinh tỉnh trưởng. Tỉnh trưởng là Đặng Văn Hướng ra hàng. Đại diện Ủy ban cách mạng lâm thời Nghệ An, tuyên bố xóa bỏ chính quyền cũ, thiết lập chính quyền mới và cổ vũ quần chúng giúp đỡ giữ gìn an ninh thành phố, góp phần bảo vệ chính quyền còn non trẻ. Cuộc khởi nghĩa ở Vinh thắng lợi tạo đà thúc đẩy nhanh chóng việc giành chính quyền các huyện còn lại…Như vậy, chỉ trong vòng 9 ngày, từ ngày 18 đến ngày 26 tháng 8 năm 1945, cuộc khởi nghĩa ở Nghệ An đã đi tới thắng lợi hoàn toàn.

Ở Nghệ An, ngay sau cao trào cách mạng mùa Thu năm ấy, có một sự kiện không phải ai cũng biết tới: Với bút danh Hồ Chí Minh, Bác có “Thư gửi các đồng chí tỉnh nhà”. Bức thư chưa đầy 900 chữ, đề ngày 17/9/1945, viết tại Hà Nội, lấy danh nghĩa của một đồng chí già, mục đích là để san sẻ ít kinh nghiệm với các đồng chí quê mình. Thư gồm 4 mục nhỏ, đánh số rõ ràng nhằm chuyển tải 4 nội dung của người viết:

– Ý nghĩa rất to lớn của cuộc cách mạng dân tộc;

– Lý giải vì sao cuộc cách mạng thắng lợi;

– Sự nghiệp kiến thiết xây dựng xã hội mới sau khi giành chính quyền;

– Cuối thư, lại là phần dài nhất, đậm nhất Bác nêu những khó khăn cần giải quyết, phải “vừa làm vừa học, cái chính là theo cho đúng chính sách của Chính phủ ban hành. Được như thế thì khó khăn gì cũng sẽ vượt qua!”.

Chính sách của Chính phủ ngay sau giành chính quyền, theo Bác rút lại chỉ trong có 2 công việc: Củng cố đoàn kết và sửa chữa khuyết điểm. Sức mạnh đoàn kết dân tộc, ai cũng rõ rồi. Nhưng nêu rõ ra và yêu cầu sửa chữa những khuyết điểm trên nhiều phương diện của cán bộ, đảng viên, nhân dân lúc bấy giờ thì không phải ai cũng đều quán triệt. Những khuyết điểm đó, cụ thể ra là thói bao biện, hẹp hòi; lạm dụng hình phạt; kỷ luật không nghiêm; một số việc làm xấu xa như lên mặt làm quan cách mạng, độc đoán, dùng phép công để báo thù tư…

Tất cả khiến dân chúng hoang mang, nền đoàn kết bị lung lay, uy tín của Chính phủ và đoàn thể bị ảnh hưởng xấu. Giành được chính quyền đã khó, giữ chính quyền còn khó hơn nhiều. Nhận thức sâu sắc quy luật này, Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi đồng bào đồng chí ở tỉnh nhà phải lập tức sửa đổi ngay. Bác chỉ rõ, không sợ có khuyết điểm, chỉ sợ không có quyết tâm sửa đổi khuyết điểm, sợ không có tấm lòng chí công vô tư với dân với nước!

Như vậy, chỉ nửa tháng sau ngày 2/9/1945 Bác đọc Tuyên ngôn độc lập, nhân dân và cán bộ tỉnh Nghệ An quê Bác nhận được bức thư vừa giàu tình cảm, vừa chứa đựng những lời chỉ bảo thiết thực mà vô cùng hệ trọng của Người. Hơn 6 thập kỷ trôi qua, những ngày mùa Thu này, thông điệp trong “Thư gửi các đồng chí tỉnh nhà” vẫn còn giữ nguyên sức thuyết phục và tươi mới. Nên nhớ, ở cuối bức thư, Bác Hồ viết thêm một dòng này: “Trong công tác, có vấn đề gì khó giải quyết, các đồng chí cứ viết thư thảo luận với tôi, tôi rất sẵn sàng giúp ý kiến”. Bác như luôn chờ đón những hồi âm từ phía nỗ lực của chúng ta vậy?!

Theo Baonghean.vn
Tâm Trang (st)
bqllang.gov.vn

Chương V : Những nhà khai hoá (G)

Một gã Puốcxinhông nào đó thấy một người An Nam dám tò mò và cả gan nhìn vào nhà hắn trong vài giây, hắn đã nhảy xổ ra đánh và giết anh ta bằng một phát súng lục vào đầu.

*

*     *

Một nhân viên hoả xa người Pháp ở Bắc Kỳ, lấy roi mây quất một người lý trưởng, rồi bắt nhốt vào cũi chó.

Ông Bếc đấm vỡ sọ người lái xe cho ông ta.

Ông Brét thầu khoán, trói một người An Nam cho chó cắn, rồi đá anh ta cho đến chết.

Ông Đépphi, chủ sự thuế quan, đá vào hông người đày tớ một cái rất mạnh làm anh này chết tươi.

Ông Hǎngri, thợ máy, nghe có tiếng ồn ào ngoài phố; cửa nhà ông vừa mở; một chị người An Nam chạy xộc vào, có một người đàn ông bản xứ đuổi theo. Hǎngri tưởng người đàn ông kia ghẹo “con gái” 1 của mình, liền vớ ngay khẩu súng sǎn, bắn một phát, người kia ngã gục.

Một người Pháp đem ngựa của hắn buộc vào một tàu ngựa trong đó đã có con ngựa cái của một người dân bản xứ. Con ngựa đực lồng lên làm cho người Pháp tức điên đầu. Hắn liền đánh người bản xứ ấy hộc máu mồm máu mũi, rồi trói anh ta lại, treo lên cầu thang.

Một nhà truyền giáo (vâng, một tông đồ hiền lành của Chúa!) nghi cho một học sinh chủng viện bản xứ lấy cắp một nghìn đồng; hắn trói anh ta lại rút lên xà nhà mà đánh. Người học sinh tội nghiệp kia ngất đi. Hắn hạ anh ta xuống. Anh hồi tỉnh, hắn lại rút anh lên, tra khảo. Người bản xứ đó dở sống dở chết. Có lẽ hôm nay thì đã chết thật.

Vân vân và vân vân.

Toà án có trừng phạt những kẻ ấy, những nhà khai hoá ấy không?

Một số đã được tha bổng, còn một số thì chẳng hề bị động tới lông chân.

*

*     *

Một tên thực dân Pháp thấy ba người bản xứ thả cừu vào vườn ôliu của hắn. Hắn bảo vợ đem súng đạn ra; nấp vào bụi rậm, hắn bắn ba phát, làm bị thương nặng cả ba người.

Một tên thực dân Pháp khác có hai công nhân người bản xứ giúp việc là Amđuni và Ben Benkhia. Hai người này hình như có hái trộm vài chùm nho. Tên thực dân liền cho gọi họ đến, lấy roi gân bò quất xối xả vào họ cho đến chết ngất. Khi họ tỉnh lại thì quan lớn bảo hộ sai trói giật cánh khuỷu lại và treo lên. Mặc dù hai người khốn khổ kia đã mê man bất tỉnh, cuộc hành hạ ghê tởm đó vẫn cứ kéo dài suốt bốn tiếng đồng hồ cho đến khi có người láng giềng phản đối mới thôi.

Khiêng vào bệnh viện, mỗi người bị cưa mất một bàn tay. Còn bàn tay kia cũng không chắc gì cứu khỏi.

cpv.org.vn

Chương V : Những nhà khai hoá (F)

Chúng tôi xin trích trong nhật ký đi đường của một anh lính thuộc địa, sự việc sau đây:

– Trong khi “những người từng ở Bắc Kỳ” đang vui chơi nhởn nhơ trên tàu, thì dưới mạn tàu phía bên phải, có mấy chiếc xuồng bán hoa quả, ốc hến. Để đưa hàng đến tận tay chúng tôi, những người An Nam buộc giỏ đựng hàng vào đầu ngọn sào, rồi giơ lên. Chúng tôi chỉ có mất công chọn. Nhưng đáng lẽ trả tiền, thì người ta lại có nhã ý bỏ vào giỏ đủ thứ như sau: ống điếu, khuy quần, mẩu tàn thuốc (có lẽ họ làm như thế để giáo dục tính ngay thật trong việc mua bán cho người bản xứ chǎng!). Đôi khi để đùa vui, một anh sốp phơ hắt một thùng nước sôi xuống lưng những người bán hàng khốn khổ. Thế là, những tiếng kêu rú lên, mái chèo vung lên loạn xạ để bơi tránh, làm cho xuồng va chạm vào nhau lộc cộc.

“Ngay bên dưới tôi, một người An Nam bị giội nước sôi, bỏng từ đầu đến chân, phát điên lên muốn nhảy xuống biển. Người anh của anh ta, quên cả nguy hiểm, bỏ chèo, ôm lấy anh, bắt anh nằm xuống lòng thuyền. Cuộc vật lộn chớp nhoáng vừa chấm dứt thì một thùng nước sôi khác do một bàn tay thành thạo lại giội xuống; thế là đến lượt chính người đi cứu, bị luộc chín. Tôi trông thấy anh ta giẫy giụa trong thuyền, da bị lột ra tròi thịt đỏ rói gào rống lên như một con vật. Thế nhưng cảnh đó lại làm cho chúng tôi cười, chúng tôi cho là rất ngộ nghĩnh. Quả thật chúng tôi đã có tâm hồn thực dân!”.

ở một trang khác, anh lính viết:

– Trong thời kỳ tôi ở đây (ở Bắc Kỳ), không có tuần nào là tôi không thấy vài cái đầu rụng.

Trong những cảnh ấy, tôi chỉ còn ghi nhớ được một điều là chúng ta còn độc ác, còn dã man hơn cả bọn kẻ cướp nhà nghề. Tại sao lại có những hành vi quái ác đến thế đối với một con người tù sắp phải chết ? Tại sao lại dùng nhục hình, tại sao phải giải từng đoàn tù đi bêu khắp xóm làng ?

*

*     *

Ông Đume, cựu toàn quyền Đông Dương, đã trịnh trọng phát biểu tại Hạ nghị viện như sau: “Tôi hiểu rõ những cảnh binh ở thuộc địa. Tôi đã từng cho tǎng số đội cảnh binh lên, vì tôi đã nhận thấy rằng lực lượng cảnh binh bảo đảm cho người bản xứ tránh được những sự hà lạm có thể do một số tên thực dân gây ra. Cảnh binh rất được lòng người bản xứ”.

Chúng ta hãy xem các ông cảnh binh đã làm thế nào để “được lòng dân”. Phải nói ngay rằng, nhìn chung, các ông rất hiền từ đối với bọn côn đồ, đó là điều chắc chắn rồi. Nhưng đối với dân hiền lành thì lại là chuyện khác. Chúng ta chưa cần nói đến chuyện thương tâm xảy ra tại khám lớn Sài Gòn nǎm 1916, nǎm mà các ngài cảnh binh, do “nhiệt tình yêu nước”, đã bắt người bừa bãi, và những người vô tội bị bắt ấy đã bị kết án và hành hình. Dù máu người An Nam nhuộm đỏ “đồng Mả nguỵ” 14 có phai đi với thời gian chǎng nữa, thì vết thương lòng của những bà mẹ già, những người vợ goá, những đứa con côi không bao giờ hàn gắn được. Bọn thủ phạm gây ra vụ đó, mà cảnh binh là công cụ hèn mạt của chúng, không hề bị trừng trị, chúng cũng chưa hề bị truy tố. Bây giờ, chỉ xin nêu một vài trường hợp đặc biệt:

Một viên cẩm ở Bắc Kỳ suốt ngày đi dọc các cống rãnh, bảo là để giữ gìn vệ sinh. Hễ bắt gặp được dù chỉ một cuộng cỏ trên dòng nước, là tức khắc hắn trừng trị và phạt tiền những người dân nghèo khổ ở quanh đấy.

ở miền Tây Nam Kỳ, nhằm tránh tai nạn trong các kênh có thuyền bè đi lại, mỗi con kênh đều có một trạm cảnh binh làm nhiệm vụ kiểm soát không cho thuyền bè đi quá nhanh hoặc làm trở ngại giao thông. Nhưng với sự có mặt của bọn cảnh binh, thì đó là một cái “cửa cống” tuôn ra không biết bao nhiêu vụ phạt tiền, phạt vi cảnh. Hầu hết thuyền bè qua lại trên các kênh lạch có trạm cảnh binh ấy đều bị phạt từ một đến hai đồng. Như thế là ngoài các khoản thuế của nhà nước chồng chất lên ngập đầu, còn thêm thuế sông nước do các ngài cảnh binh “được lòng dân” đặt ra nữa; nên người dân An Nam thật là sung sướng, sung sướng lắm!

Ngoài việc thǎng thưởng dành cho những người đắc lực nhất, nghe đâu các ngài cảnh binh còn được hưởng món hoa hồng bằng 20% số tiền phạt nữa thì phải! Chế độ tốt đẹp thay!

Một tờ báo bản xứ viết: “Dân bản xứ không muốn có cảnh binh Pháp nữa vì đó thường là mối tai hoạ cho người lương thiện”.

cpv.org.vn

Chương V : Những nhà khai hoá (E)

Ông Vinhê Đốctông viết: “Trên thế giới không có dân tộc chiến bại nào bị đàn áp và hành hạ như người dân thuộc địa”.

Một nhà du lịch khác viết: “Đời sống ở thuộc địa chỉ làm cho tật xấu của cá nhân phát triển: những kẻ đã nếm mùi chiến tranh thì càng mất hết ý thức đạo đức, càng truỵ lạc, bất lương và độc ác; những bọn con buôn và bọn phiêu lưu khác thì càng quen mùi trộm cắp, cướp giật. ở bên Pháp ít có dịp để làm những việc đó, và người ta sợ cảnh sát hơn! ở đây, bọn nói trên, đôi khi chỉ có một mình với vài người bản xứ, trên một con thuyền hoặc trong một thôn xóm; vì vậy chúng cướp bóc trắng trợn hơn là người Âu trên thị trường, và đối xử tàn nhẫn hơn với những nông dân nào phản đối chúng”.

Một nhà du lịch thứ ba viết: khi đặt chân đến đây, tất cả những người Pháp đều nghĩ rằng người An Nam là hạng người thấp kém và phải làm nô lệ cho họ. Họ coi người An Nam như những súc vật phải điều khiển bằng roi vọt. Tất cả đều quen tự coi mình thuộc một đẳng cấp quý tộc mới, có đặc quyền đặc lợi. Binh sĩ hay là thực dân, họ đều cho rằng giữa họ và người bản xứ không có cách đối xử nào khác hơn là sự đối xử giữa chủ và tớ. Hình như đối với họ, người bồi là tiêu biểu của cả chủng tộc da vàng. Phải nghe một người Pháp ở Đông Dương nói về người da vàng mới thấy hết cái ngu xuẩn trong lối nói ngạo mạn của hắn. Phải nhìn một người Âu đối xử với người bản xứ mới thấy hết cái cục cằn thô lỗ của hắn.

Kẻ đi chinh phục rất quan tâm đến thái độ phục tùng và cung kính của người bị chinh phục. Người An Nam ở thành thị cũng như ở nông thôn đều bắt buộc phải ngả nón trước mặt người Âu.

Một tên mật thám Pháp đánh đập tàn nhẫn những người An Nam nào quên không gọi hắn ta bằng quan lớn. Một tên tham tá nhà đoan buộc những người bản xứ khi đi qua nhà hắn phải ngả mũ hoặc xuống xe, xuống ngựa. Một hôm, nhà khai hoá này đánh đập tàn nhẫn một chị người An Nam đang có mang, chỉ vì tuy chị có chào hắn, nhưng lại quên gọi hắn là quan lớn. Hắn đá một cái rất mạnh vào bụng chị làm chị truỵ thai, ít lâu sau thì người đàn bà khốn khổ ấy chết.

Các quan bảo hộ của chúng ta buộc người An Nam phải khúm núm, ngoan ngoãn, dễ bảo và lễ phép, nhưng ngược lại, về phía các quan, thì như một nhà vǎn sang thǎm Đông Dương đã viết: “Hình như họ chỉ làm những điều khiến cho sự có mặt của chúng ta trở thành một điều xấu xa bỉ ổi không ai chịu được”. Nhà vǎn ấy còn viết tiếp: “ở châu Âu người ta coi giống người da vàng chứa đựng tất cả những thói điêu ngoa, xảo trá. ấy thế mà, chính chúng ta thì lại rất ít chú ý tỏ ra là mình ngay thẳng, thành thật”.

Có những sĩ quan đã giật râu thầy cúng ngay trong lúc họ làm lễ. Một cậu ấm người Pháp đã đánh nhừ đòn một viên chức người An Nam, vì ông này đã ngồi trước trên một chiếc xe hàng mà không chịu nhường chỗ cho cậu.

Một viên toàn quyền vừa về tới Mácxây, người ta thết tiệc ông ta và đề nghị cho mấy viên quan Nam triều đang có mặt ở cảng đến cùng dự. Viên toàn quyền Đông Dương đáp: “Nếu các ông mời các tên quan lại ấy, thì tôi cũng sẽ đưa tên bồi của tôi đến”.

cpv.org.vn

Chương V : Những nhà khai hoá (D)

Bảy người An Nam đáng thương đang bơi một chiếc xuồng dài mỏng mảnh; đã xuôi dòng nước, lại có đến bảy tay chèo nên chiếc xuồng đi vùn vụt như một chiếc xuồng máy. Bỗng thuyền của một nhân viên nhà đoan khuất sau đám cây đước trong lạch hiện ra, với quốc kỳ Pháp cắm sau lái. Một thuỷ thủ trên thuyền nhà đoan gọi, bảo xuồng kia dừng lại; người trên xuồng vẫn chèo. Thuyền của viên tây đoan đi chậm không đuổi kịp. Viên đoan liền cầm súng oanhsitơ bắn theo. Đoàng! Đoàng! Một người đang chèo thét lên rồi ngã gục. Đoàng! Lại một người nữa ngã gục. Lúc ấy, một người Âu khác, làm nghề gạch ngói, vừa đi xuồng tới, cũng tham gia đột kích “bọn cướp” kia ở một khúc ngoẹo. Đoàng! Đoàng! Đoàng! Quả là tay súng cừ! Ba viên đạn, ba nạn nhân. Chiếc xuồng cùng hai người sống sót mất hút trong lạch …

Một hôm khác, cũng viên đoan ấy đi với sáu thuỷ thủ vũ trang, phát hiện được một người khốn khổ đang trốn dưới ao, ngâm mình dưới bùn, thở bằng một cái ống, một đầu ngậm ở miệng, một đầu để ló ra khỏi mặt nước; trên mặt nước lá sen che phủ một cách rất khéo. Viên tây đoan liền bắt và chặt đầu “tên cướp” ấy đem về toà sứ. Thật ra, đó chỉ là một nông dân bình thường khiếp sợ vì thấy có nhiều người lạ đến làng, mặt mày hung tợn, mang đầy súng lục, túi đạn, lǎm lǎm súng oanhsitơ trên tay. Số là bọn nhà đoan vào các túp lều trong làng đã tìm thấy ba chiếc vỏ đạn, mấy cái bánh tàu và một cái búa đi rừng. Vậy đích thị là một làng làm giặc và tiếp tế cho giặc rồi còn nghi ngờ gì nữa!

Một sĩ quan trẻ tuổi vừa ở Pháp sang, đến một làng nọ, thấy nhà cửa vắng vẻ, còn dân chúng thì tụ tập lại một chỗ. Tưởng đâu đã lọt vào ổ phục kích, hắn bắn xả vào đám đông vô tội. Thật ra thì dân chúng đương họp để cúng tế. Bị bắn, họ kinh hoảng bỏ chạy tán loạn. Tên sĩ quan đuổi theo và tàn sát họ.

Một người Pháp đã từng ở Bắc Kỳ lâu nǎm kể: Khi từ chiếc tàu của một nhà kinh doanh lớn, tôi đặt chân lên Bắc Kỳ, anh có biết mạng của một người An Nam đáng giá bao nhiêu không ? Không đáng một trinh! Thật đấy.

– Này nhé, tôi còn nhớ, khi chúng tôi ngược sông Hồng, người ta đã đem rượu ra đánh cuộc xem ai ngồi dưới tàu, bắn mười phát mà “hạ sát” được nhiều người An Nam nhất ở trên bờ.

Một đôi kẻ súng cầm tay đi lùng bắt dân làng, thuyền bè để đòi tiền chuộc.

Một đại đội thuỷ quân lục chiến hành quân đến Vĩnh Thượng. Theo phép lịch sự, viên quan địa phương dàn lính (bọn lính lệ) nghênh tiếp. Tên chỉ huy toán lính đi dò đường của đại đội thấy thế đã ra lệnh bắn vào họ, làm nhiều người chết.

Khi người ta không trừ nổi một nghĩa quân thì người ta đốt cả làng người ấy. Người ta đã triệt hạ cả một vùng chung quanh Hưng Hoá như vậy.

Một người An Nam đang đi lảo đảo trên một con đường nhỏ hẻo lánh, vai gánh hai thúng to đầy lạc. Chúng tôi tới gần, hắn ta không kịp tránh. Tức thời người ta bắt hắn và bắn chết.

Suốt ngày, người ta vác gậy hoặc sống gươm nện vào người An Nam để bắt họ làm việc.

Người An Nam rất hiền lành, rất ngoan ngoãn, nhưng người ta lại nói chuyện với họ chỉ bằng những cái đá đít thôi.

Chúng ta coi những người An Nam yêu nước là những tên cướp. Chẳng hạn như Đội Vǎn, một người yêu nước đã từng chiến đấu mấy nǎm trời chống lại sự thống trị của người nước ngoài, bị chém tại Hà Nội, bêu đầu ở Bắc Ninh, ném xác xuống sông Hồng.

Tống Duy Tân, sau mười nǎm ròng rã chiến đấu tuyệt vọng, đã bị bắt và bị chém.

Phan Đình Phùng, một vị quan to, kháng chiến trong mười nǎm trời rồi chết trong rừng sâu. Ông ta chết rồi mà chúng ta vẫn không tha; người ta vào rừng quật mộ ông lên, ném thi hài ông mỗi nơi một mảnh. Người ta báo thù ông ngay sau khi ông đã nằm sâu dưới mộ.

ở tỉnh Quảng Trị, một viên cai lục lộ người Pháp say rượu đã “hạ” một người bản xứ ngồi trên lưng voi, chỉ vì tội không nghe rõ hay là không hiểu lệnh của hắn.

Một viên tây đoan ở Bà Rịa (Nam Kỳ) cũng say rượu, phang một gậy trúng lá lách một thuỷ thủ An Nam thuộc quyền hắn, làm cho anh ta chết tươi.

Một viên thầu khoán người Pháp giết một lính khố xanh ở Đà Lạt. Cũng ở đấy, một nhà khai hoá khác đã đánh một người thợ mộc bản xứ đến chết.

Một viên thầu khoán bắt thợ làm việc ngày đêm dưới nước để đào một đường hầm. Một số đông thợ chết, những người còn sống sót bãi công. Viên thầu khoán đã tự tay đốt nhà những người bãi công để buộc họ phải đi làm trở lại. Cả một làng cháy rực giữa đêm tối.

Một viên chánh quản pháo binh nửa đêm vào nhà một bà vắng chồng. Bà ta không chịu tiếp hắn. Thế là hắn nổi lửa đốt nhà bà. Dĩ nhiên, người đàn bà đau khổ kia hết sức sợ hãi.

Một viên quan hai nhiều vợ, đã quật ngã một thiếu phụ, dùng gậy song đánh chị đến chết chỉ vì chị không chịu ǎn ở với hắn.

Một viên chức ở xưởng đóng tàu của hải quân giết một nhân viên hoả xa người An Nam bằng cách xô anh vào một đống than hồng sau khi đánh đập anh hết sức tàn nhẫn.

cpv.org.vn