Archive | 2012

Ngày mới ở “Làng Bác Hồ”

ngay moi o lang bh a1
Những quả đồi trọc của A Xây đã được phủ xanh bởi đồng mía.

Gần 10 năm trước, khi lần đầu tiên đặt chân đến làng A Xây, xã Khánh Nam (Khánh Vĩnh – Khánh Hòa), ấn tượng trong tôi là cái nghèo như kéo dài từ đầu đến cuối làng, với những quả đồi cằn cỗi, trơ trọi. Quãng đường hơn 40km từ Quốc lộ 1A vào làng lởm chởm đất đá, nhiều chỗ phải xắn quần cuốc bộ.

Vậy mà, đến A Xây những ngày đầu tháng 5 này, tôi không khỏi ngỡ ngàng trước một làng quê đổi thay kỳ diệu…

Nhớ mãi lời Bác dạy

Làng A Xây là nơi sinh sống của hơn 100 hộ dân, chủ yếu là đồng bào Raylay và Tày. Người dân A Xây nhiều đời nay vẫn tự hào gọi làng mình bằng một cái tên khác: Làng Bác Hồ. Nhắc lại mốc ra đời tên gọi này, ông Cao Dáng, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Khánh Nam tự hào kể: “Năm 1973, cuộc chiến tranh chống Mỹ bước vào giai đoạn ác liệt, A Xây trở thành nơi che chở và nuôi giấu cán bộ. Biết được điều này, địch liên tục càn quét A Xây. Lúc đó Đội trưởng du kích A Xây là A Ma Xanh nói với đồng bào: “Lời của Bác là sức mạnh, là lời của non sông, phải ghi nhớ và thực hiện”. Nói xong, Ma Xanh đứng trước ảnh Bác thề là sẽ đánh địch đến cùng. Ông đã dẫn Đội Du kích đi mai phục địch suốt 7 ngày đêm và sau đó đã bắn rơi máy bay Mỹ”. Từ đó, người dân trong làng đều tự coi mình là con cháu Bác Hồ, làng mình là làng Bác Hồ.

Nói thêm về quá khứ hào hùng của làng mình, già làng Pi Năng Thiên bồi hồi kể: “Hình tượng Bác đã trở thành sự linh thiêng đến kỳ lạ với người dân A Xây. Mỗi lần gặp hiểm nguy, khó khăn, chúng tôi lại gượng dậy vượt qua để xứng đáng với mong đợi của Bác. Vì vậy, trong kháng chiến, Đội Du kích A Xây bắn hạ được 7 máy bay Mỹ, tiêu diệt hàng trăm tên địch”.

Thật xúc động khi đi vào bất cứ nhà nào ở A Xây, tôi cũng thấy họ treo ảnh Bác Hồ ở vị trí trang trọng nhất, phía dưới là dòng chữ trích từ thư Bác gửi Đại hội các dân tộc thiểu số miền Nam: “Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia-rai hay Ê-đê, Xê-đăng hay Ba-na và các dân tộc thiểu số khác, đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt. Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau, no đói giúp nhau…”.

             ngya moi o lang BH a2
Một góc A Xây no ấm hôm nay.

Từng bước đẩy lùi đói nghèo

Già làng Pi Năng Chung đã bước qua 81 mùa rẫy tâm sự: “Mới ngày nào, cái nghèo, cái đói cứ bám A Xây dai dẳng, nay nhiều nhà đã có của ăn của để, có phương tiện nghe nhìn, đi lại. Đồng bào mình đã biết áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào trồng mía, thâm canh tăng vụ nên năng suất đạt khá cao. Cả cánh đồng mía xanh bạt ngàn này trước đây đều là sỏi đá. Ơn Đảng, Bác Hồ, làng A Xây bây giờ còn có hàng trăm con bò, trâu, hàng ngàn con lợn”.

Theo ông Cao Dáng, năm 2011, tỷ lệ trẻ em tiêm chủng phòng bệnh ở A Xây đạt 100%, tỷ suất sinh giảm còn 10%, tỷ lệ áp dụng biện pháp tránh thai đạt 90%, người dân đã bỏ hẳn tư tưởng “trời sinh voi, trời sinh cỏ”. Tỷ lệ học sinh đến trường đúng độ tuổi đạt 100%; thanh niên không còn uống rượu và quậy phá như trước mà thường xuyên đến Nhà Truyền thống của làng để sinh hoạt.

Ông Nguyễn Văn Tài, Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xã Khánh Nam tâm sự: “Mấy chục năm làm cán bộ Mặt trận, tôi nghiệm ra rằng, khi đã đoàn kết, đồng lòng thì chẳng khó khăn nào mà không vượt qua. Cái bụng của đồng bào A Xây tốt và chăm chỉ lắm nên làm cán bộ phải biết khơi dậy điều đó. Nhiều gia đình ở A Xây đã tạo được cơ ngơi tiền tỷ rồi đấy”.

Như để minh chứng cho lời nói của mình, rẽ băng qua cánh đồng khoai mỳ cao sản, ông Tài đưa tôi đến nhà chị Phùng Thị Mèn. Chị Mèn cho biết: “Ở đâu không biết chứ ở đây chúng tôi luôn nghĩ không chịu khó làm ăn để thoát nghèo là có tội với Bác Hồ. Không riêng gia đình tôi, nhiều gia đình khác ở A Xây đã có cơ ngơi tiền tỷ rồi. Nhà tôi năm nào cũng có thu nhập vài trăm triệu đồng nhờ mô hình VAC”.

Chia tay chị Mèn, mặt trời cũng vừa xuống núi, cả A Xây như một bức tranh yên bình và êm ả. Tiễn tôi ra quốc lộ, sau khi siết chặt tay và dặn dò “có điều kiện hãy trở lại làng Bác Hồ nữa nhé”, ông Tài đọc vang hai câu thơ của nhà thơ Lê Anh Xuân: “Điệu lục bát, khúc dân ca/Việt Nam là Bác, Bác là Việt Nam”…

Theo Hà Văn Đạo/baomoi.com
Kim Yến
(st)
bqllang.gov.vn

Bác Hồ với Tây Nguyên, Tây Nguyên với Bác Hồ

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành cho đồng bào các dân tộc Tây Nguyên tình cảm đặc biệt.

Sự kiện lịch sử đầu tiên ghi nhận mối quan tâm và tình cảm của Bác đối với Tây Nguyên là bức thư của Người gửi Hội nghị Các dân tộc thiểu số miền Nam được tổ chức tại Pleiku (Gia Lai) ngày 19/4/1946. Người Tây Nguyên mãi mãi không quên lời dạy của Bác: “Đồng bào Kinh hay Tày, Mường hay Mán, Gia Rai hay Êđê, Ba Na, Xê Đăng hay M’nông và các dân tộc thiểu số khác, đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt. Chúng ta sống chết có nhau, sướng, khổ, no, đói bên nhau…Sông có thể cạn, núi có thể mòn, nhưng lòng đoàn kết của chúng ta không bao giờ giảm bớt…”. Lời dạy của Người như truyền thêm sức mạnh cho đồng bào vững niềm tin vào Đảng, đoàn kết đứng lên làm cách mạng, đánh đuổi quân xâm lược, giữ lấy núi rừng Tây Nguyên thân yêu.

bác ho voi tay nguyenĐồng bào các dân tộc Tây Nguyên bên tượng đài Bác Hồ

Năm 1968, giữa lúc cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đang diễn ra ác liệt ở cả hai miền Nam Bắc, Bác Hồ lại gửi điện thăm hỏi đồng bào, chiến sỹ và cán bộ Tây Nguyên. Trên bức điện, Người ghi: “Kính nhờ cụ Y Bih Alêô, Phó Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, Chủ tịch Phong trào dân tộc tự trị Tây Nguyên, chuyển”. Người vui mừng được biết: “Quân và dân Tây Nguyên, già trẻ, gái trai, Kinh, Thượng đoàn kết một lòng, luôn luôn nêu cao truyền thống anh hùng, vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, thi đua diệt giặc, lập công, giữ gìn buôn rẫy, thu được những thành tích to lớn, cùng đồng bào cả nước đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”. Người căn dặn: “Đồng bào và chiến sỹ Tây Nguyên đã đoàn kết, càng phải đoàn kết chặt chẽ hơn nữa, cố gắng không ngừng, phát huy mạnh mẽ thắng lợi đã giành được, luôn luôn nêu cao cảnh giác, sẵn sàng đập tan mọi âm mưu của địch, ra sức củng cố và phát triển vùng giải phóng và phục vụ tiền tuyến”. Và tỏ lòng tin tưởng: “Tây Nguyên nhất định cùng cả nước tiến lên đánh thắng hoàn toàn giặc Mỹ xâm lược”. Thực hiện lời dạy của Người, quân và dân Tây Nguyên cùng với cả nước đã làm nên trận đánh lịch sử giải phóng Buôn Ma Thuột ngày 10/3/1975, mở đầu cho Đại thắng mùa Xuân năm 1975 giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

Trong hàng triệu đồng bào Tây Nguyên, có không ít người con ưu tú đã vinh dự được gặp Bác. Người đầu tiên có được niềm vinh dự ấy có lẽ là ông Y Ngông Niê Kđăm. Cách mạng Tháng Tám thành công, ông được bầu làm đại biểu Quốc hội khóa I và là Ủy viên dự khuyết Ban Thường trực Quốc hội. Trong buổi họp đầu tiên Quốc hội ra mắt ngày 2/3/1946, bác sỹ Y Ngông còn nhớ như in lời phát biểu của Bác Hồ trước Quốc hội của nước Việt Nam mới: “Ngày nay, nước Việt Nam là nước chung của người Kinh và người Thượng…”. Những năm sau đó, với cương vị công tác của mình, ông còn vinh dự được gặp Bác nhiều lần. Mỗi lần gặp Bác là một kỷ niệm sâu sắc trong cuộc đời làm cách mạng của ông.

Người con thứ hai của Tây Nguyên được gặp Bác là ông KSor Ní, nguyên Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Gia Lai – Kon Tum. Tháng 5 năm 1946, ông ra Hà Nội dự Đại hội Thanh niên các dân tộc Việt Nam và lần đầu tiên được gặp Bác Hồ. Đó là một ngày đầu tháng 6, ông và ông Y Ngông Niê Kđăm được vào gặp Bác. Bác ân cần hỏi thăm sức khỏe, hỏi thăm tình hình đồng bào Tây Nguyên. Bác nói chúng ta phải đoàn kết đánh Pháp mới bảo vệ được nền độc lập, Tây Nguyên là một bộ phận không thể tách rời của nước Việt Nam thống nhất. Bác xòe bàn tay và giải thích: “Một bàn tay hoàn chỉnh phải có năm ngón, thiếu một ngón là một bàn tay không hoàn chỉnh. Một ngón tay đau thì cả bàn tay cũng đau”. Những lời dạy đó của Người mãi mãi khắc ghi trong lòng các thế hệ con cháu Tây Nguyên.

Rất nhiều những người con ưu tú khác của Tây Nguyên cũng đã vinh dự được gặp Bác như Anh hùng Núp, cụ Thiếu tướng Y Blôk Êban, cụ Y Bih Alêô, ông Ksor Krơn, Nghệ sĩ nhân dân Y Brơm, Nhà giáo ưu tú Nay Hwin… Cụ Y Bih Alêô, nguyên là Phó Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, Ủy viên Hội đồng Cố vấn Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã khẳng định: “Tình cảm của Bác Hồ đối với các dân tộc Tây Nguyên là sức mạnh vô biên, luôn luôn tràn đầy như nước sông Ba và cao như ngọn núi Cư Yang Sin. Chúng tôi nhớ lời Bác Hồ và uống rượu cần thề với nhau sẽ mãi mãi đi theo con đường của Bác vạch ra để giải phóng quê hương”.

Hàng vạn đồng bào Tây Nguyên khác không có cái may mắn được trực tiếp gặp Bác, nhưng họ vẫn được Bác truyền thêm sức mạnh, ý chí và niềm tin trong cuộc chiến đấu một mất một còn với kẻ thù để giữ lấy từng tấc đất của buôn làng thân yêu. Với tấm lòng chân thật, đồng bào Tây Nguyên đáp lại ân tình của Bác bằng niềm tin yêu son sắt, lòng biết ơn và kính trọng sâu sắc đối với vị cha già của dân tộc.

Anh hùng lực lượng vũ trang A Vai kể câu chuyện về A Vân, một trai làng của dân tộc Pakô, bị địch bắt tra khảo, đánh đập rất dã man, đau đớn nhưng không hề kêu than lấy một lời. Trước khi hy sinh A Vân đã gọi A Vóoc Hồ 3 lần. Khi A Vai ra thăm miền Bắc, các già làng căn dặn mãi: “Nếu được gặp A Voóc Hồ, con không biết nói điều gì thì cứ kể chuyện A Vân và cây Tyo kia cho A Vóoc Hồ nghe là đủ, vì đó là tấm lòng của người Pakô chúng ta đối với A Vóoc Hồ”. Già làng Ama Ril là một du kích dũng cảm thời kháng chiến chống Mỹ cứu nước ở Buôn Ngô (huyện Krông Bông) đã giữ ảnh Bác Hồ và lá cờ Tổ quốc do cán bộ tặng như một báu vật. Mấy lần buôn làng bị cháy, bọn địch càn đi quét lại, nhưng Ama Ril vẫn giữ trọn tấm ảnh và lá cờ vì đó là niềm tin của ông, của Buôn Ngô đối với Bác Hồ và cách mạng.

Những câu chuyện như thế có rất nhiều ở các buôn làng kháng chiến thời chống Pháp cũng như chống Mỹ. Tình cảm của Bác đối với đồng bào các dân tộc Tây Nguyên quý hơn chiêng, đẹp hơn cả hoa ê pang. Và tình cảm của đồng bào đối với Bác cũng thật sâu sắc:

Người Êđê chưa gặp mặt Bác Hồ
Mà trong bụng thương hơn cha hơn mẹ

Bởi vì:

Người cứu dân tộc mình
Cho suối đánh đàn, cho hoa Gơ-ma nở
Cho nương đầy lúa, rẫy đầy khoai
Cho núi sông đầy cá nước hoa ngàn
Cho con gái cườm đeo quanh cổ

(Ca dao dân tộc Êđê)

Người đó là Hồ Chí Minh, là Bok Hồ của Tây Nguyên.

Nguyễn Duy Xuyên
Theo baodaklac.vn
Kim Yến
(st)
bqllang.gov.vn

“Viết về Bác là ước mơ, hạnh phúc của người cầm bút”

Thượng Luyến (tên thật là Nguyễn Đình Luyến, ở thị trấn Gia Bình, huyện Gia Bình) là tác giả của 4 vở kịch ngắn đã phát trong chuyên đề “Chuyện kể về Người” trên sóng VTV1 vào lúc 21 giờ 15 phút các ngày thứ 7 đầu tiên mỗi tháng năm 2010 và là “cha đẻ” của một số kịch bản cùng đề tài đang trong thời kỳ hoàn thiện bản thảo. Thượng Luyến tâm sự “Viết về Bác là ước mơ, hạnh phúc của người cầm bút”.

Viet ve bacTác giả Thượng Luyến.

Tác giả Thượng Luyến đã gần bước đến tuổi “thất thập”. Đam mê sân khấu từ khi còn rất trẻ song phải đến khi trải qua hai khóa đào tạo tại trường Nghệ thuật Sân khấu Việt Nam (nay là Trường Đại học Sân khấu Điện ảnh) và Đại học Văn hóa Hà Nội, ông mới thực sự có nền tảng và “duyên phận” với loại hình nghệ thuật này. Ở lĩnh vực, bình diện xã hội nào, Thượng Luyến cũng khai phá và có những thành công nhất định. Trong số ít các tác giả Bắc Ninh viết về Bác Hồ, Thượng Luyến đã khẳng định một tình yêu son sắc và hiện thực hóa việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh bằng chính ngòi bút của mình. Đó là đẩy mạnh tuyên truyền về tấm gương của Chủ tịch Hồ Chí Minh, giúp người xem hiểu được những bài học mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc về “Cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư” ẩn chứa trong từng lời nói và cử chỉ dù rất nhỏ của Người.

Viết ca ngợi Bác Hồ vốn không dễ bởi Người là nhân vật kiệt xuất, một hình tượng đẹp, Người vừa gần gũi, lại vừa cao xa. Thế nên Thượng Luyến luôn cảm thấy mình là người may mắn có được niềm vui qua những tác phẩm kịch ngắn về vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc với chuyên đề “Chuyện kể về Người” phát trên sóng VTV1.

Kể từ kịch ngắn đầu tiên “Tình Bác sáng lòng dân Đình Bảng”, phát sóng VTV1 tháng 8 năm 2010, đến nay, tác giả Thượng Luyến đã có thêm 6 sáng tác nữa cùng thể loại, trong đó có 3 tác phẩm khác đã lên sóng truyền hình là “Vọng vang bên khúc sông Cầu”, “Đón Bác ngày xuân” và “Mái trường ấm tình Bác”. Về khó khăn khi viết những kịch bản này, ông chia sẻ: Đối tượng và đặc trưng phản ánh của kịch là những mâu thuẫn xung đột trong đời sống xã hội và con người. Xung đột kịch tạo nên kịch tính, gây nên sự hấp dẫn của vở kịch. Nhưng với một vở về nhân vật vĩ đại như Bác Hồ thì xây dựng xung đột nào cho hợp lý thực sự là một thách thức. Thêm vào đó, để viết về Bác cần rất nhiều tư liệu, do vậy tôi phải nghiên cứu rất kỹ những cuốn sách, câu chuyện nói về Bác để có “tứ” cho vở kịch của mình.

Tìm được cốt truyện cho tác phẩm của mình đã khó, điều khó khăn hơn là làm thế nào để chuyển tải được tư tưởng, đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh đến với khán giả một cách nhẹ nhàng mà không máy móc, gượng ép bởi mục tiêu của chuyên đề “Chuyện kể về Người” là giúp cho khán giả thẩm thấu ý nghĩ nhân văn sâu sắc và những phẩm chất tốt đẹp của một huyền thoại trong lịch sử cách mạng Việt Nam. Bằng sự sáng tạo của người viết, Thượng Luyến đã bồi đắp thêm các tình huống, tình tiết xung quanh một sự kiện lịch sử và tư duy sâu để có được kết cấu hợp lý cho tác phẩm của mình. Ví như sự kiện Bác Hồ về Đình Bảng, hay chi tiết lịch sử Bác thăm đê sông Cầu, quãng đê Việt Thống (Quế Võ) làm cốt lõi, Thượng Luyến đã hư cấu thêm tình huống mâu thuẫn và tìm cách giải quyết hợp tình hợp lý mâu thuẫn đó, đồng thời làm sáng rõ sự dung dị trong nhân cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh qua những câu chuyện nhỏ giữa Bác với các nhân vật. Ca ngợi sự quan tâm của Người với các tầng lớp nhân dân, trong kịch ngắn “Mái trường ấm tình Bác” nói về sự kiện Bác thăm trường Trung cấp Thể dục thể thao Trung ương (nay là Đại học Thể dục thể thao Từ Sơn), tác giả tạo không khí thân mật khi Bác ân cần hỏi thăm mọi người, từ chị bếp trưởng đến anh công nhân đang xây dựng tại công trình của nhà trường… Thông thường để có mỗi vở kịch ngắn ra mắt công chúng, tác giả chỉ cần một tuần để hoàn thiện nhưng thời gian tiếp cận tư liệu để có cốt truyện thì có thể là 1, 2 hoặc 4, 5 tháng.

Những vở kịch ngắn nói trên đều nằm trong hệ thống những tác phẩm tuyên truyền về học tập tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Nhưng nếu chỉ viết về những chuyến đi thăm của Người rồi cũng có thể sẽ cạn đề tài, dẫn đến sự nhàm chán cho cả người viết và người xem. Vì thế, thời gian gần đây, Thượng Luyến chuyển hướng, ông bắt đầu chú trọng vào nội dung “làm theo”, trong đó hình thức thể hiện những tác phẩm này sẽ có những thay đổi nhất định. Hình tượng Bác Hồ có thể xuất hiện hoặc không xuất hiện mà vẫn thể hiện được sự tác động trong nhận thức và hành động của chính quyền, và nhân dân các địa phương khi một lòng theo Đảng, theo Bác.

Khi được hỏi, ông có dự định gì trong thời gian tiếp theo, tác giả của nhiều vở kịch về Bác Hồ mở lòng: Tôi dự định xuất bản tập sách, trong đó tập hợp 9 kịch bản kịch nói viết về Bác Hồ. Trong số 9 vở kịch ngắn này, đã có 4 phát sóng, 3 còn ở dạng bản thảo và tôi sẽ tiếp tục tư duy để sáng tác thêm 2 vở nữa, tất cả sẽ làm tỏa sáng nhân cách vĩ đại của Người. Cũng theo tác giả, tập sách sẽ chia làm 2 phần: Tình Bác ấm lòng dân, Tâm thành dâng kính Bác. Chúng tôi tin rằng tác giả sẽ thực hiện được dự định của mình, bởi ông vẫn đang nỗ lực không ngừng.

Theo Báo Bắc Ninh
Tâm Trang
(st)
bqllang.gov.vn

Chú tích (58 – 62)

58. Những cuộc biểu tình năm 1907: Phong trào cải cách bằng con đường hoà bình diễn ra sôi nổi khắp 3 kỳ trong năm 1907. Trung tâm của phong trào là các đô thị, nhất là Hà Nội. Những người cầm đầu phong trào này đều là các sĩ phu tiến bộ. Nội dung của phong trào chủ yếu là mở trường học, truyền bá tư tưởng mới, cổ động bỏ hủ tục và lồng vào đó là tư tưởng yêu nước, chống Pháp.

Tiêu biểu cho phong trào là Đông kinh nghĩa thục (từ tháng 3 đến tháng 11-1907) đứng đầu là Lương Văn Can, Nguyễn Quyền, Đào Nguyên Phổ.

Phong trào đã diễn ra sôi nổi ở khắp nơi. Thông qua các cuộc diễn thuyết, bình văn thơ, các sĩ phu tuyên truyền những tư tưởng mới, đề cao tinh thần dân tộc, kích động và phát triển mạnh mẽ lòng yêu nước của nhân dân ta. Tr.402.

59. Chủ nghĩa Uynxơn: Uynxơn là Tổng thống Mỹ từ năm 1913 đến 1921. Năm 1917, Uynxơn tuyên bố nước Mỹ tham gia Chiến tranh thế giới thứ nhất, đứng về phía Anh, Pháp để chống Đức. Khi chiến tranh sắp kết thúc, Uynxơn đưa ra “Chương trình 14 điểm” làm cơ sở cho Hội nghị Vécxây (1919). Nói chủ nghĩa Uynxơn là nói “Chương trình 14 điểm” đó. Thực chất của nó là chính sách đối ngoại ăn cướp của đế quốc Mỹ chống lại nước Nga Xôviết mới ra đời, lợi dụng sự suy yếu của các nước tư bản châu Âu để nâng cao địa vị quốc tế của Mỹ và tăng cường nô dịch các dân tộc bị áp bức. Nhưng nó lại được che giấu bằng những lời lẽ mị dân về “dân chủ” và “quyền dân tộc tự quyết”. Tr.416.

60. Ban nghiên cứu thuộc địa : Một tổ chức nghiên cứu những vấn đề thuộc địa của Đảng Cộng sản Pháp, thành lập tháng 6-1921. Nguyễn ái Quốc là uỷ viên của tổ chức này. Ban đã sưu tầm và phổ biến các tài liệu về tình cảnh các xứ thuộc địa và cuộc đấu tranh của nhân dân các nước thuộc địa; tiến hành công tác tuyên truyền trong nhân dân Pháp và nhân dân các thuộc địa về tinh thần đoàn kết quốc tế giữa giai cấp vô sản các nước đế quốc với các dân tộc bị áp bức trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân. Ban đã gửi nhiều bài đăng trên mục Thuộc địa của báo L’ Humanité và tìm cách gửi báo đến các thuộc địa. Hoạt động của Ban đã góp phần tích cực vào công tác tuyên truyền học thuyết của V.I.Lênin và đường lối của Quốc tế Cộng sản về vấn đề đấu tranh giải phóng dân tộc. Tr.440.

61. Bản báo cáo này nguyên văn bằng tiếng Pháp, không ký tên, lưu tại Viện Mác – Lênin, Mátxcơva (nay là kho lưu trữ nhà nước nước Cộng hoà Liên bang Nga). Bản vi phim lưu ở Thư viện mácxít, cuộn số 7, loại 70, Ban thuộc địa trực thuộc Ban Chấp hành trung ương Đảng Cộng sản Pháp.

Căn cứ vào nội dung và hoàn cảnh lịch sử đầu những năm 20, chúng tôi cho rằng tác giả của bản báo cáo trước hết phải là một người Việt Nam, một người am hiểu sâu sắc chủ nghĩa Mác và thực tế lịch sử Việt Nam trong quá khứ và hiện tại; một người có quan niệm về Việt Nam như một thực thể thống nhất chứ không phải Đông Dương một thực thể thuộc địa và người đó, theo chúng tôi, không thể là ai khác ngoài Nguyễn ái Quốc – Người Việt Nam duy nhất lúc đó sống ở Mátxcơva. Tr.464.

62. Báo La Tribune indigène: Báo của phái lập hiến Đông Dương, xuất bản ở Sài Gòn từ năm 1917 đến 1925, mỗi tuần 3 kỳ vào thứ 3, 5, 7. Tr.466.

cpv.org.vn

Chú tích (53 – 57)

53. Kế hoạch Đaoxơ : Kế hoạch bắt nước Đức bồi thường chiến tranh cho các nước Đồng minh thắng trận trong Chiến tranh thế giới thứ nhất. Kế hoạch này do Đaoxơ, giám đốc một ngân hàng lớn của Mỹ, lãnh đạo việc soạn thảo và được thông qua tại Hội nghị đại biểu các nước thắng trận họp ở Luân Đôn năm 1924.

Mục đích chủ yếu của kế hoạch này là dọn đường cho tư bản nước ngoài, trước hết là Mỹ, đầu tư vào nước Đức, đẩy mạnh việc khôi phục tiềm lực công nghiệp quân sự của chủ nghĩa đế quốc Đức nhằm hướng nước Đức vào con đường chiến tranh chống Liên Xô, đồng thời tăng cường chính sách bóc lột, áp bức và đàn áp phong trào cách mạng của giai cấp công nhân và nhân dân nước Đức. Tr.320.

54. Hội quốc liên: Tổ chức quốc tế, thành lập năm 1919 và tồn tại trong thời gian giữa Chiến tranh thế giới thứ nhất và thứ hai, với mục đích thực hiện những cam kết ký tại Hội nghị Hòa bình Pari (1919). Điều lệ của Hội nêu rõ mục đích đấu tranh cho hoà bình, chống chiến tranh. Tuy nhiên, trong thực tế, Hội quốc liên đã dung túng cho các thế lực đế quốc, cổ vũ chạy đua vũ trang và chuẩn bị chiến tranh thế giới. Tr.326.

55. Hội Nhân quyền và Công dân quyền : Một tổ chức dân chủ tư sản nhằm đấu tranh đòi bảo vệ những quyền tự do tư sản. Tổ chức này được thành lập năm 1898 ở Pháp do sáng kiến của nhà văn Pháp Tơrariơ nhân vụ nhà cầm quyền Pháp xử phạt nhà văn êmin Dôla. Tr.328.

56. Tác giả muốn nói về Cách mạng tư sản Pháp (1789-1794), cuộc cách mạng đã xoá bỏ chế độ phong kiến chuyên chế, mở đường cho sự phát triển chủ nghĩa tư bản ở Pháp và một số nước khác ở châu Âu.

Ngày 14-7-1789, quần chúng nhân dân Pari đã nổi dậy khởi nghĩa, chiếm ngục Baxti, nơi tượng trưng cho chế độ chuyên chế độc tài. Sự kiện đó đánh dấu sự sụp đổ của chế độ phong kiến ở Pháp.

Sau những cuộc đấu tranh quyết liệt trong nội bộ giai cấp thống trị, Hội nghị Quốc ước (Quốc hội) đã được bầu ra và phái Giacôbanh do M.Rôbexpie đứng đầu được sự ủng hộ của nhân dân đã lên nắm chính quyền (tháng 6-1793), nền chuyên chế dân chủ cách mạng được thiết lập. Đây là thời kỳ phát triển cao nhất của cách mạng.Tr.330.

57. Đây là nói cuộc hành hình những người lính khố đỏ tham gia vụ đầu độc binh lính Pháp ở Hà Nội, tháng 6-1908. Một số sĩ phu yêu nước cùng với nghĩa quân Hoàng Hoa Thám đã liên lạc với những người lính Việt Nam yêu nước trong quân đội Pháp, chủ trương đánh úp Hà Nội. Theo kế hoạch, đến bữa ăn tối ngày 27-6-1908, những người đầu bếp bỏ thuốc độc vào thức ăn để giết quan quân Pháp, sau đó binh sĩ sẽ cướp kho vũ khí, đánh chiếm các công sở, phối hợp với nghĩa quân Hoàng Hoa Thám từ ngoài đánh vào Hà Nội.

Kết quả là nhiều binh lính Pháp đã bị ngộ độc; nhưng kế hoạch bại lộ, thực dân Pháp tàn sát dã man những người tham gia vụ đầu độc này. Một số người bị chém và bêu đầu trên các đường phố lớn ở Hà Nội. Tr.354.

cpv.org.vn

Chú tích (47 – 52)

47. Đại hội Liông : Đại hội lần thứ III Đảng Cộng sản Pháp họp ở Liông (Pháp) tháng 1-1924. Vấn đề chủ yếu của Đại hội là đấu tranh để củng cố Đảng về mặt tổ chức và tư tưởng. Tr.279.

48. Những sự kiện xảy ra năm 1917: Trong Chiến tranh thế giới thứ nhất, Nga hoàng đã phái quân lính sang chiến đấu chống quân Đức ở mặt trận Pháp. Năm 1917, những binh lính này không chịu chiến đấu vì lợi ích của bọn tư bản, đã lập Xôviết và đòi trở về nước. Chính phủ Pháp sợ tư tưởng cách mạng của binh lính Nga lan sang quân đội Pháp, đã dồn họ vào trại tập trung có chăng dây thép gai, và cho quân lính thuộc địa canh giữ. Tr.280.

49. Tổng Liên đoàn lao động thống nhất : Một tổ chức liên hiệp các công đoàn Pháp tồn tại từ năm 1922 đến năm 1936, do các công đoàn cách mạng lập nên. Tổng Liên đoàn lao động thống nhất kiên quyết chủ trương khôi phục sự thống nhất của công đoàn, bảo vệ lợi ích thiết thân của giai cấp vô sản và đã cùng với Đảng Cộng sản Pháp tham gia đấu tranh chống chủ nghĩa phát xít và chiến tranh. Tr.281.

50. Quốc dân đảng: Tổ chức chính trị ở Trung Quốc, do Tôn Trung Sơn sáng lập năm 1905, ban đầu là Trung Quốc cách mạng đồng minh hội; sau Cách mạng Tân Hợi (1911), cải tổ thành Quốc dân đảng. Thời gian đầu, Quốc dân đảng là một tổ chức cách mạng. Năm 1927, người kế tục sự nghiệp của Tôn Trung Sơn là Tưởng Giới Thạch gây chính biến phản cách mạng, đàn áp những người cộng sản, dẫn đến cuộc nội chiến lần thứ nhất ở Trung Quốc. Năm 1937, trước sự xâm lược của phát xít Nhật, Quốc dân đảng buộc phải hợp tác với Đảng Cộng sản Trung Quốc đấu tranh chống kẻ thù chung. Năm 1946, Quốc dân đảng lại gây nội chiến lần thứ hai. Năm 1949, cách mạng Trung Quốc thành công, lực lượng Quốc dân đảng bỏ chạy ra đảo Đài Loan. Tr.295.

51. Đại hội Bacu: Đại hội họp từ ngày 1 đến ngày 7-9-1921 tại Bacu (Thủ đô Adécbaidăng). Tham dự Đại hội có 1.891 đại biểu của 37 dân tộc phương Đông, (trong đó có 1.273 đại biểu là đảng viên cộng sản). Đại hội họp nhằm biểu dương và tăng cường tình đoàn kết giữa các dân tộc phương Đông, giữa các dân tộc phương Đông với giai cấp vô sản Nga và giai cấp vô sản thế giới đặng đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc. Đại hội đã hoàn toàn nhất trí với nghị quyết về vấn đề dân tộc và thuộc địa của Đại hội II Quốc tế Cộng sản (1920). Tr.298.

52. Nghĩa hoà đoàn : Phong trào yêu nước của nông dân Trung Quốc những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX và có nguồn gốc từ phong trào Nghĩa hoà quyền giữa thế kỷ XIX.

Nét nổi bật của phong trào Nghĩa hoà đoàn là mang màu sắc mê tín, thần bí với những câu niệm chú bí ẩn, lối trang phục kỳ dị.

Sau cuộc chiến tranh Trung – Nhật, các nước đế quốc thi nhau xâu xé Trung Quốc. Nghĩa hoà đoàn đã tiến hành những cuộc tiến công các nhà thờ Kitô giáo, trục xuất các linh mục và phá huỷ các công trình, cơ sở kinh tế của người nước ngoài. Mùa hè năm 1900, các nước đế quốc Anh, Pháp, Mỹ, Nhật, Nga, Đức, áo, ý đã thành lập liên quân để chống lại Nghĩa hoà đoàn. Với sự phản bội của triều đình Mãn Thanh, các nước đế quốc đã dìm phong trào Nghĩa hoà đoàn trong biển máu. Tr.316.

cpv.org.vn

Chú tích (42 – 46)

42. Hiệp ước Xevơrơ: Hiệp ước ký kết giữa Thổ Nhĩ Kỳ và các nước Đồng minh ngày 10-8-1920 tại Xevơrơ (Pháp), chia cắt đất Thổ Nhĩ Kỳ ra làm nhiều nước và lập chế độ nửa thuộc địa ở đó. Nhân dân Thổ Nhĩ Kỳ nổi dậy đấu tranh chống lại hiệp ước này để bảo vệ độc lập dân tộc. Thổ Nhĩ Kỳ chiến thắng, buộc các nước đế quốc phải triệu tập Hội nghị Lôdannơ để xoá bỏ hiệp ước Xevơrơ. Tr.224.

43. Hoà ước Lôdannơ: Bản hoà ước được ký kết trong Hội nghị giữa các nước Đồng minh và Thổ Nhĩ Kỳ họp ở thành phố Lôdannơ, thuộc Thuỵ Sĩ (1922-1923). Bản hoà ước quy định chế độ sử dụng các eo biển Đácđanen, chế độ, quyền lợi của những người theo đạo Kitô trên đất Hồi giáo và xét lại Hiệp ước Xevơrơ. Tr.225.

44. Hội nghị Oasinhtơn: Hội nghị về việc hạn chế hải quân và các vấn đề thuộc Thái Bình Dương và Viễn Đông họp từ 12-11-1921 đến 6-2-1922 tại Oasinhtơn (Mỹ) có Mỹ, Anh, Pháp, Nhật, ý, Trung Quốc, Bỉ, Hà Lan, Bồ Đào Nha tham gia.

Mục đích của Hội nghị là nhằm chia lại thuộc địa và phạm vi ảnh hưởng giữa các nước đế quốc sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, cướp bóc, nô dịch các nước thuộc địa và chống lại nước Nga Xôviết.

Các giới cầm quyền Mỹ là kẻ khởi xướng của Hội nghị. Thông qua Hội nghị, Mỹ đã làm cho Anh phải từ bỏ quyền thống trị trên mặt biển, làm cho liên minh Anh – Nhật phải bị thủ tiêu, Nhật chấm dứt độc quyền kiểm soát Trung Quốc, tạo điều kiện cho tư bản Mỹ nô dịch Trung Quốc. Tr.247.

45. Trường đại học cộng sản phương Đông (tên gọi tắt của Trường đại học cộng sản của những người lao động phương Đông): Trường thành lập tại Mátxcơva (Liên Xô) năm 1921, theo quyết định của Quốc tế Cộng sản, để đào tạo cán bộ cách mạng ở các nước thuộc địa và phụ thuộc.

Tại đây, các học viên được trang bị những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin, phương pháp tổ chức và lãnh đạo quần chúng đấu tranh cách mạng. Trong thời gian học tập, học viên phải nắm vững các môn quan trọng như chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử, kinh tế chính trị, lịch sử phong trào công nhân quốc tế, lý luận về cách mạng giải phóng dân tộc, v.v..

Trong gần 20 năm tồn tại, Trường đại học phương Đông đã đào tạo cho các nước phương Đông hàng ngàn cán bộ, trong đó có những người về sau trở thành cán bộ lãnh đạo có uy tín của các đảng cộng sản ở các nước.

Sau khi về hoạt động ở Quảng Châu (Trung Quốc), Nguyễn ái Quốc đã lựa chọn và cử nhiều cán bộ Việt Nam và một số nước khác ở châu á sang học tại Trường đại học phương Đông. Tr.263.

46. Đại hội lần thứ V Quốc tế Cộng sản : Đại hội họp từ ngày 17-6 đến ngày 8-7-1924 tại Mátxcơva. Đại hội đã tổng kết, rút ra những bài học kinh nghiệm về đấu tranh giai cấp từ năm 1918 đến năm 1923 và đề ra chủ trương tăng cường công tác xây dựng các đảng cộng sản để lãnh đạo phong trào đấu tranh thực hiện những mục tiêu lâu dài của cách mạng và quyền lợi hằng ngày của quần chúng. Đại hội cũng chỉ rõ phương hướng, nhiệm vụ của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế là phải đấu tranh chống chủ nghĩa cải lương, cơ hội, chống những phần tử phái hữu và trốtxkít.

Nguyễn ái Quốc đã tham dự Đại hội và đã ba lần phát biểu ý kiến về vấn đề dân tộc và thuộc địa và những vấn đề khác. Tr.273.

cpv.org.vn

Chú tích (33 – 38)

33. Đahômây: Nay là Cộng hoà nhân dân Bênanh, là một nước ở phía Tây châu Phi, trên bờ Đại Tây Dương. Thủ đô là Poóctô Nôvô. Hồi thế kỷ XVI, Đahômây là một thị trường buôn bán nhiều nô lệ nên còn gọi là “Bờ biển nô lệ”.

Từ tháng 2-1890, thực dân Pháp bắt đầu xâm lược nước này, nhưng vấp phải sức kháng cự quyết liệt của nhân dân. Đến đầu năm 1894, quân Pháp mới đánh chiếm xong và 5 năm sau sáp nhập xứ này vào “Liên bang Tây Phi thuộc Pháp”.

Không chịu nổi ách thống trị tàn bạo đó, nhân dân Đahômây nhiều lần đứng dậy đấu tranh. Năm 1915, phong trào khởi nghĩa vũ trang lan ra nhiều tỉnh. Tr.169.

34. Hội Liên hiệp thuộc địa: Một tổ chức cách mạng của những người thuộc địa, do Nguyễn ái Quốc cùng một số người yêu nước của các nước thuộc địa Pháp sáng lập tháng 7-1921, tại Pari. Lúc đầu Hội có 200 hội viên và hai tổ chức người thuộc địa xin gia nhập là Hội những người An Nam yêu nước Hội đấu tranh cho quyền công dân của người Mađagátxca. Ban thường vụ của Hội gồm 7 người, đứng đầu là Nguyễn ái Quốc. Cơ quan tuyên truyền của Hội là báo Le Paria. Đến năm 1926, Hội ngừng hoạt động. Tr.191.

35. Đại hội lần thứ II Quốc tế Cộng sản họp vào tháng 8-1920. Tại Đại hội này, Lênin đã nhấn mạnh nhiệm vụ đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội trong phong trào công nhân để giữ vững nguyên tắc mácxít trong các đảng cộng sản. Đại hội đã thông qua 21 điều kiện gia nhập Quốc tế Cộng sản và thông qua bản Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa do Lênin dự thảo, nhằm vạch ra đường lối đấu tranh giải phóng dân tộc cho nhân dân các dân tộc bị áp bức. Tr.194.

36. Quốc tế Nông dân : Một tổ chức cách mạng hoạt động dưới sự chỉ đạo của Quốc tế Cộng sản nhằm đoàn kết rộng rãi giai cấp nông dân các nước trên thế giới trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc. Quốc tế Nông dân họp Hội nghị lần thứ nhất vào tháng 10-1923, tại Mátxcơva.

Với tư cách là đại biểu nông dân của các nước thuộc địa, Nguyễn ái Quốc đã tham dự Hội nghị và đã hai lần phát biểu ý kiến. Tại Hội nghị, Người được bầu làm Uỷ viên Đoàn Chủ tịch Hội đồng Quốc tế Nông dân. Tr.208.

37. Hương Cảng : Còn gọi là Hồng Kông, một bộ phận của lãnh thổ Trung Quốc. Trong cuộc “chiến tranh thuốc phiện”, năm 1842, đế quốc Anh buộc triều đình Mãn Thanh phải nhượng cho chúng Hương Cảng, một cửa biển ở phía đông nam bờ biển Trung Quốc. Đến năm 1860, chúng chiếm thêm bán đảo Cửu Long và một số đảo lân cận. Năm 1898, Anh lại chiếm thêm vùng nội địa Cửu Long rộng gần 1.000km. Những phần đất nói trên đều nằm trong khu vực Hương Cảng và biến thành thuộc địa của Anh. Đây là một vị trí quan trọng vì nó nằm trên đường giao thông quốc tế, một trung tâm công nghiệp, một thị trường thế giới, một căn cứ hải quân và thương mại lớn của Anh. Trước đây, Anh còn lấy Hương Cảng làm bàn đạp để lấn dần đất Trung Quốc, “mở rộng cửa ngõ” lãnh thổ Trung Quốc. Chúng chiếm vùng Tây Nam (Vân Nam, Tứ Xuyên…) làm “khu vực ảnh hưởng”, thực tế là nửa thuộc địa của chúng.

Trong bài Chính sách thực dân Anh viết năm 1923, Nguyễn ái Quốc đã tố cáo hành động lấn dần của đế quốc Anh đối với chủ quyền và lãnh thổ Trung Quốc. Tr.213.

cpv.org.vn

Chú tích (39 – 41)

38. Sự kiện Lâm Thành : Ngày 6-5-1923, đoàn tàu chở khách Tân Phố trên đường đi lên phía Bắc, qua Lâm Thành (thuộc tỉnh Sơn Đông), thì bọn thổ phỉ do Tôn Mỹ Diên cầm đầu, phá hỏng đường sắt và cướp tàu. Chúng lùa 300 hành khách người Trung Quốc và người nước ngoài vào núi.

Lợi dụng sự kiện đó, bọn đế quốc nêu ra đủ thứ yêu sách vô lý để khống chế Trung Quốc.

Bài viết của Nguyễn ái Quốc thể hiện sự căm phẫn mạnh mẽ đối với chính sách của thực dân Anh và bày tỏ sự đồng tình mạnh mẽ, sự ủng hộ kiên quyết đối với cuộc đấu tranh của nhân dân Trung Quốc. Tr.213.

39. Quốc tế Amxtécđam (Quốc tế của các công đoàn vàng) : Một tổ chức do các công đoàn cải lương chủ nghĩa của một số nước thành lập tại hội nghị ở Amxtécđam (Hà Lan) họp từ 26-7 đến 2-8-1919. Toàn bộ hoạt động của tổ chức này gắn liền với chính sách của các đảng cơ hội chủ nghĩa thuộc Quốc tế thứ hai. Quốc tế Amxtécđam chủ trương hợp tác giai cấp giữa vô sản với tư sản và bác bỏ các hình thức đấu tranh cách mạng của giai cấp công nhân, khai trừ ra khỏi tổ chức của mình những công đoàn tả, cự tuyệt mọi đề nghị của Quốc tế Công hội đỏ về việc cùng nhau đấu tranh chống sự tấn công của bọn tư bản, chống nguy cơ chiến tranh, chống thế lực phản động và chủ nghĩa phát xít, về việc thành lập một khối thống nhất các công đoàn thế giới. Các thủ lĩnh Quốc tế Amxtécđam ủng hộ chính sách thù địch với Liên Xô.

Sau khi Quốc tế Công hội đỏ ra đời (tháng 7-1921), ảnh hưởng của Quốc tế Amxtécđam trong phong trào công nhân dần dần bị đẩy lùi. Nó hoàn toàn ngừng hoạt động trong thời gian xảy ra Chiến tranh thế giới thứ hai. Tr.219.

40. Tổ chức liên hiệp quốc tế của các công đoàn cách mạng, được thành lập ngày 3-7-1921, tồn tại đến cuối năm 1937. Nó liên kết các trung tâm công đoàn không gia nhập tổ chức công đoàn cải lương là Quốc tế Amxtécđam, và liên kết các nhóm, các khuynh hướng đối lập tiến bộ trong nội bộ các tổ chức công đoàn cải lương ở các nước. Quốc tế Công hội đỏ đấu tranh để thiết lập sự thống nhất trong phong trào công đoàn trên cơ sở đấu tranh cách mạng nhằm bảo vệ những yêu sách của giai cấp công nhân, chống nguy cơ chiến tranh đế quốc, và đoàn kết với giai cấp công nhân nước Nga Xôviết.

Tại phiên họp 15, ngày 21-7-1924, Đại hội lần thứ III Quốc tế Công hội đỏ, với tư cách là đại biểu Đông Dương, Nguyễn ái Quốc đã đọc tham luận. Tr.290.

41. Thổ Nhĩ Kỳ: Một nước nằm ở phía Tây châu á, có vị trí quan trọng nối liền ba châu, lại giáp liền 3 vùng biển là Địa Trung Hải, Egiê và Hắc Hải. Trong cuộc Chiến tranh thế giới thứ nhất, Thổ Nhĩ Kỳ đứng về phía Đức bị thất bại. Các đế quốc giành lại những vùng đất phụ thuộc Thổ Nhĩ Kỳ và xâu xé ngay chính nước Thổ Nhĩ Kỳ (Hiệp ước Xevơrơ tháng 8-1920). Sự kiện đó làm bùng lên cuộc đấu tranh mạnh mẽ của giai cấp công nhân và nhân dân Thổ Nhĩ Kỳ đòi thành lập nhà nước cộng hoà thống nhất. Tháng 11 năm 1922, Kêman, thủ lĩnh đảng của giai cấp tư sản “Thổ Nhĩ Kỳ trẻ”, đã thủ tiêu chế độ phong kiến; tháng 10-1923, tuyên bố thành lập nước Cộng hoà; tháng 4-1924, ban hành hiến pháp tư sản. Đối với giai cấp tư sản, cuộc cách mạng được coi như đã hoàn thành. Nhưng quần chúng nhân dân lao động là lực lượng góp phần quyết định thắng lợi của cách mạng thì không được quyền lợi gì.

Phong trào đấu tranh của công nhân Thổ Nhĩ Kỳ đã phát triển mạnh mẽ ngay từ sau Chiến tranh thế giới thứ nhất. Tháng 9-1920, Đảng Cộng sản Thổ Nhĩ Kỳ thành lập, lãnh đạo cuộc đấu tranh. Trong nửa đầu những năm 20, phong trào bãi công lan rộng và rất rầm rộ, có nơi cuộc bãi công thu hút tới 50 vạn người tham gia. Tháng 11-1923, Đại hội công nhân ở Côngxtăngtinốp thành lập Liên minh công nhân Thổ Nhĩ Kỳ, đoàn kết đông đảo công nhân trong nước. Nhưng Chính phủ Kêman hạ lệnh cấm các hội công nhân hoạt động và đàn áp họ. Tr.224.

cpv.org.vn

Chú tích (24 – 32)

24. Báo Le Matin : Báo xuất bản ở Pari từ tháng 2-1884. Tr. 71.

25. Báo Le Petit Parisien : Báo xuất bản hằng ngày ở Pari từ ngày 15-10-1876. Tr.71.

26. Hai câu thơ này trước kia dùng để nói về một viên quan ở địa phương được nhân dân quý mến vì có lòng nhân ái, quan tâm đến đời sống của họ. Quạt lông và xe lăn là những đồ dùng của các viên quan khi đi kinh lý các địa phương.

ở đây, tác giả nhắc tới hai câu thơ này với dụng ý châm biếm sâu cay và đả kích những hành động mà bọn thực dân Pháp coi là “nhân ái”. Tr.91.

27. Hội chợ triển lãm thuộc địa Mácxây: Năm 1922, tại thành phố Mácxây (miền Nam nước Pháp), Chính phủ Pháp mở Hội chợ triển lãm thuộc địa, trưng bày các sản vật mang từ các thuộc địa của Pháp sang, để nói lên sự giàu có của thuộc địa và công lao “khai hoá” của người Pháp, đồng thời kêu gọi tư bản Pháp bỏ vốn kinh doanh và khai thác ở các thuộc địa. Tr.95.

28. Chỉ cuộc Chiến tranh thế giới thứ nhất, bắt đầu bùng nổ ở châu Âu từ tháng 8-1914 và kết thúc vào tháng 11-1918. Cuộc chiến tranh này nhanh chóng lan rộng khắp thế giới, lôi cuốn nhiều nước đế quốc và cả các nước thuộc địa và phụ thuộc. Thực chất nó là một cuộc xung đột ác liệt giữa các nước đế quốc lớn để giành giật quyền lợi, chia lại thị trường thế giới. Nhưng để che đậy ý đồ xấu xa đó, để lừa bịp nhân dân các nước tư bản và các thuộc địa, bọn đế quốc đã gọi cuộc chiến tranh đó là “vì nhân đạo”, “vì công lý”.

ở đây, chữ “vì công lý” được tác giả dùng với ý mỉa mai, châm biếm để vạch trần thực chất của cuộc chiến tranh tàn khốc này. Tr.119.

29. Báo La République Francaise: Báo xuất bản hằng ngày ở Pari từ ngày 7-11-1871 đến ngày 12-7-1924, do Lêông Gămbetta sáng lập. Tr.128.

30. Báo Le Rappel : Báo xuất bản hằng ngày ở Pari từ 1869 đến 1933, có khuynh hướng chống Giáo hội. Tr.136.

31. Journal officiel de la République Francaise : Công báo của nước Cộng hoà Pháp xuất bản từ tháng 9-1870. Tr.139.

32. Bộ sưu tập động vật (nguyên bản tiếng Pháp Ménagerie): Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914-1918), các nước đế quốc tham gia chiến tranh họp Hội nghị Vécxây. Mục đích chính của Hội nghị Vécxây là phân chia lại thuộc địa và quyền lợi của các nước đế quốc, chủ yếu là Anh, Pháp, Mỹ, và tăng cường áp bức, bóc lột nhân dân các nước thuộc địa. Pháp và Bỉ muốn tách vùng công nghiệp Ruya của Đức ra khỏi nước Đức. Các nước khác cũng tìm cách xâu xé lẫn nhau và tập trung lực lượng tấn công vào nước Nga Xôviết… Nguyễn ái Quốc viết bài Bộ sưu tập động vật với lối hành văn châm biếm sâu cay, luận tội đanh thép, đã lột tả bộ mặt ăn cướp của chủ nghĩa thực dân đế quốc. Đó là nguồn gốc gây nên sự hỗn loạn trong xã hội và bao nỗi bất hạnh cho con người. Tr.141.

cpv.org.vn

Chú tích (20 – 23)

20. Quốc tế thứ nhất : Tổ chức quốc tế đầu tiên của giai cấp vô sản, thành lập năm 1864 tại Hội nghị công nhân quốc tế ở Luân Đôn (Anh), do C.Mác và Ph. Ăngghen lãnh đạo.

Quốc tế thứ nhất đã lãnh đạo cuộc đấu tranh kinh tế và chính trị của công nhân ở các nước và củng cố sự đoàn kết quốc tế vô sản. Quốc tế thứ nhất đóng vai trò to lớn trong sự nghiệp truyền bá chủ nghĩa Mác và trong việc kết hợp chủ nghĩa xã hội với phong trào công nhân.

Sau khi Công xã Pari thất bại, một nhiệm vụ được đặt ra là thành lập các đảng cộng sản có tính chất quần chúng ở mỗi nước, trên cơ sở những nguyên tắc mà Quốc tế thứ nhất đã đề ra. Năm 1876, tại Hội nghị Philađenphia (Mỹ), Quốc tế thứ nhất chính thức giải tán. Tr.62.

21. Quốc tế thứ hai: Thành lập năm 1889 tại Đại hội Liên minh quốc tế các đảng xã hội chủ nghĩa khai mạc tại Pari (Pháp) theo sáng kiến của Ph. Ăngghen. Quốc tế thứ hai đã có tác dụng phổ biến chủ nghĩa Mác về bề rộng, đã đánh dấu thời kỳ chuẩn bị cơ sở để cho phong trào cách mạng phát triển rộng rãi trong nhân dân lao động ở nhiều nước.

Sau khi Ăngghen mất, cơ quan lãnh đạo của Quốc tế thứ hai rơi vào tay các phần tử cơ hội chủ nghĩa, bọn này đã xét lại học thuyết cách mạng của Mác và hoạt động chống phá phong trào công nhân các nước.

Về vấn đề dân tộc và thuộc địa, Quốc tế thứ hai ủng hộ chính sách đế quốc chủ nghĩa mà bọn tư bản thực hiện ở các nước thuộc địa. Tr.62.

22. ở đây Nguyễn ái Quốc muốn nói tới những luận điểm của V.I.Lênin trong Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa, do Người soạn thảo và trình bày tại Đại hội lần thứ II của Quốc tế Cộng sản họp từ ngày 19 tháng 7 đến ngày 7 tháng 8 năm 1920.

Trong Luận cương và trong Báo cáo của Tiểu ban về vấn đề dân tộc và thuộc địa trình bày tại Đại hội, V.I.Lênin đã đề cập tới những vấn đề hết sức quan trọng đối với phong trào giải phóng dân tộc. Người chỉ rõ: Trong thời đại đế quốc chủ nghĩa, cách mạng giải phóng dân tộc là một phạm trù của cuộc cách mạng vô sản, vì vậy những người cộng sản phải ủng hộ các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, và với sự giúp đỡ của giai cấp vô sản các nước tiên tiến, giai cấp vô sản ở các nước chậm tiến, sau khi hoàn thành nhiệm vụ dân tộc dân chủ có thể tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa. Tr.63.

23. Pari : Thủ đô lâu đời của nước Pháp, một trong những thành phố lớn trên thế giới. Trước đây, Pari vốn nổi tiếng là một trung tâm văn hoá nghệ thuật. Từ cuối thế kỷ XVIII và trong thế kỷ XIX, Pari còn là một trung tâm cách mạng của châu Âu. Cuộc cách mạng tư sản Pháp năm 1789 và cuộc cách mạng vô sản Pháp chống tư bản năm 1871 lập lên Công xã Pari, là hai điển hình cách mạng của nhân dân thành phố này.

Nguyễn ái Quốc đến nước Pháp cuối năm 1917 và đã ở Pari khoảng 6 năm. Tại đây, Người đã hoà mình trong đời sống lao động và đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân Pari, Người đã tìm đến chủ nghĩa Mác – Lênin, tin theo Lênin và Quốc tế thứ ba, trở thành một trong những người tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp (1920). Người đã sáng lập Hội những người An Nam yêu nước, gửi đến Hội nghị Vécxây bản yêu sách của nhân dân An Nam, tham gia sáng lập Hội Liên hiệp thuộc địa và báo Le Paria, đề xướng báoViệt Nam hồn cùng nhiều hoạt động cách mạng khác. Người đã tìm thấy con đường cách mạng đúng đắn nhất để giải phóng dân tộc.

Tháng 6-1923, Nguyễn ái Quốc rời Pari đi Mátxcơva (Liên Xô) để họp Đại hội lần thứ V Quốc tế Cộng sản và sau đó về Trung Quốc để chỉ đạo phong trào cách mạng trong nước. Tr.67.

cpv.org.vn

Chú tích (15 – 19)

16. Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền: Một văn kiện quan trọng và nổi tiếng của Cách mạng tư sản Pháp công bố ngày 26-8-1789. Tuyên ngôn nêu lên những quyền tự nhiên và không thể tước bỏ của con người và của người công dân. Nó mở đầu bằng nguyên tắc mọi người sinh ra đều tự do, bình đẳng, xác định chủ quyền quốc gia thuộc về nhân dân và ban hành nhiều quyền tự do dân chủ. Thực chất, nó quy định những nguyên tắc cơ bản của chế độ tư bản, mà nổi bật nhất là quyền tư hữu. So với chế độ phong kiến chuyên chế thì đây là một bước tiến bộ, phản ánh sức mạnh đấu tranh của quần chúng nhân dân Pháp. Nhưng trên thực tế, giai cấp tư sản không bao giờ chịu thực hiện đầy đủ các quyền kể trên mà thiết lập chế độ áp bức bóc lột tàn bạo đối với quần chúng lao động. Tr.46.

17. Báo Le Paria: Cơ quan tuyên truyền của Hội Liên hiệp thuộc địa, do Nguyễn ái Quốc và một số nhà cách mạng Angiêri, Tuynidi, Mangát, Máctiních, Marốc… sáng lập năm 1922, tại Pari. Báo xuất bản bằng tiếng Pháp, lúc đầu mỗi tháng ra một số, sau tăng lên hai số. Số 1 ra ngày 1-4-1922 với tiêu đề Diễn đàn của các dân tộc thuộc địa , đến tháng 1-1924 đổi thành Diễn đàn của vô sản thuộc địa.

Thời gian đầu Nguyễn ái Quốc vừa là chủ nhiệm kiêm chủ bút của tờ báo. Sau khi Nguyễn ái Quốc sang Liên Xô hoạt động (giữa năm 1923), báo không ra được đều nữa; và đến số 38 (tháng 4-1926) thì đình bản. Tr.59.

18. Những điều kiện kết nạp vào Quốc tế Cộng sản đã được Đại hội lần thứ II (năm 1920) của Quốc tế Cộng sản thông qua. Tinh thần cơ bản của nó là đòi hỏi các đảng vô sản các nước muốn được kết nạp vào Quốc tế Cộng sản phải có thái độ dứt khoát về đường lối và về tổ chức đối với Quốc tế thứ hai, phải đấu tranh kiên quyết về mặt tư tưởng cũng như về những biện pháp hoạt động cụ thể chống mọi hình thái của chủ nghĩa cơ hội và xét lại. Các đảng đó phải nghiêm chỉnh thực hiện và tuyên truyền giáo dục quần chúng đường lối và quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin; phải đổi tên là đảng cộng sản; phải có kỷ luật chặt chẽ và triệt để tuân theo những nghị quyết của Quốc tế Cộng sản.

Về vấn đề giải phóng dân tộc, điều 8 của văn kiện ghi rõ: “Đảng nào muốn ở trong Quốc tế thứ ba đều buộc phải thẳng tay vạch mặt những thủ đoạn xảo trá của bọn đế quốc “nước mình” trong các thuộc địa, ủng hộ trên thực tế chứ không phải bằng lời nói mọi phong trào giải phóng ở thuộc địa”. Tr.62.

19. Quốc tế thứ ba (Quốc tế Cộng sản): Một tổ chức cách mạng của giai cấp vô sản quốc tế, trung tâm lãnh đạo phong trào công nhân thế giới.

Tháng 3-1919, dưới sự lãnh đạo của Lênin, các đảng cộng sản, nhóm cộng sản của 30 nước đã tiến hành Đại hội thành lập Quốc tế Cộng sản tại Mátxcơva. Quốc tế Cộng sản có vai trò lịch sử và công lao to lớn đối với phong trào cộng sản và công nhân thế giới. Tại Đại hội lần thứ VII (1935), Quốc tế Cộng sản đã đề ra chủ trương lập Mặt trận nhân dân chống chủ nghĩa phát xít và nguy cơ chiến tranh. Quốc tế Cộng sản rất chú trọng đến vấn đề giải phóng dân tộc. Những Luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địacủa Lênin đã đặt nền tảng cho việc giải quyết đúng đắn những vấn đề phức tạp của công cuộc giải phóng dân tộc.

Tháng 5 năm 1943, căn cứ vào hoàn cảnh mới, Đoàn chủ tịch Quốc tế Cộng sản với sự tán thành của đại đa số các đảng cộng sản, đã thông qua nghị quyết tự giải tán. Tr.62.

cpv.org.vn