Archive | 2012

Bác Hồ ở bản Mạy

QĐND – Tháng Tư, đất nước Triệu Voi đã chớm mùa mưa. Trong tiết trời dìu dịu mát, từ Savanakhẹt, chúng tôi vượt sông Mê Kông đến Nakhon Phanom của Thái Lan thăm ngôi nhà Bác Hồ từng ở để hoạt động cách mạng trong những năm 1928-1929.

Bản Mạy đây rồi ư? Ngôi nhà Bác ở tại đất Thái mà tôi từng nghe, từng đọc từ thời học cấp một đây rồi ư? Cái tên Thầu Chín, bí danh của Bác thời ấy lại âm vang trong lòng chúng tôi. Chợt thấy xôn xao mảnh vườn xanh tốt chở che ngôi nhà bé nhỏ, vách gỗ ngói ta có chiếc rèm tre che nắng, che gió trước cửa chính ra vào. Ngôi nhà, mảnh vườn thuần Việt này còn lưu giữ những kỷ niệm về một thời hoạt động cách mạng bí mật của Bác Hồ kính yêu tại Thái Lan.

Nhà lưu niệm Bác Hồ ở Nakhon Phanom -Thái Lan. Ảnh: Đông Hà

Những nén hương thơm được thắp lên trên chiếc tủ thờ quá đơn sơ để tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh. Cảm xúc trong tôi mỗi lúc càng trào dâng khi tận mắt thấy những kỷ vật của Bác còn lưu giữ trong ngôi nhà. Vẫn thế! Một cuộc sống giản dị thanh cao, những tiện nghi bị lược bỏ đến tối thiểu, còn lại mênh mang tấm lòng yêu nước thương dân, còn lại chí khí phẩm chất của một bậc đại nhân, đại trí, đại dũng. Có thể kể ra ngay mấy đồ vật Bác dùng thuở ấy: Vài bộ áo quần vải thường xếp trong chiếc tủ cao chưa tới một mét, tấm phản gỗ Người từng ngả lưng sau những giờ làm việc miệt mài, mấy cái xoong nhỏ bằng đồng để bên cạnh chiếc kiềng ba chân. Danh mục đồ dùng nếu đếm chắc chỉ đủ một bàn tay.

Năm 39 tuổi, Bác đóng vai nhà sư Hạnh Đa để hoạt động cách mạng tại Thái Lan. Tôi dừng khá lâu trước bức ảnh Người trong tấm áo cà sa màu vàng đang đi khất thực thời ấy để hình dung thêm những gian lao, hiểm nguy mà Bác đã trải qua trên Đường Kách mệnh.

Những hình dung về Bác kính yêu càng sáng thêm qua những hồi ức của ông Võ Trọng Tiêu, người đang coi giữ ngôi nhà lịch sử này. Khi Bác về bản Mạy với cái tên Thầu Chín thì ông Tiêu mới 7 tuổi. ông sinh năm 1922 tại Thái Lan nhưng quê gốc ở Hưng Nguyên, Nghệ An. Gần chín mươi tuổi, ông mới được nhập quốc tịch Thái. Cũng lạ, gần chín thập kỷ qua con người mang dòng máu Việt này không thuộc quốc tịch nào cả nên dù đã có con trai là thiếu tướng công an và con gái là bác sĩ làm việc tại Việt Nam, ông vẫn chưa một lần thực hiện được khát vọng về thăm Tổ quốc, quê hương.

ông Tiêu kể: Những ngày đầu về bản Mạy, Bác ở chung nhà và ăn uống với gia đình ông. Sau đó, vì không muốn làm phiền gia đình, nên Bác cùng các đồng chí của mình xin phép được làm ngôi nhà riêng để ở và sinh hoạt. Đêm đêm, cậu bé Tiêu được Thầu Chín cho ngủ chung. Thường thì khi ngủ dậy Tiêu chẳng thấy Bác đâu nữa. Bác đi đâu, về đâu trong nhà không mấy ai biết. Trong hồi ức của ông Tiêu thì Bác thời ấy người gầy mảnh, da trắng, mặc quần vận. Bàn ghế, tủ đựng áo quần hiện còn lưu giữ ở đây là do tự tay Bác đóng. Vườn nhà có hai cây dừa và cây khế ngọt do Bác trồng. Hiện nay, ai đến đây cũng đều thích ăn khế Bác trồng và muốn chụp ảnh trước cây để làm kỷ niệm. Chiều chiều, khi thôi làm việc Bác cùng các đồng chí của mình đá bóng theo kiểu vòng tròn. Chú bé Tiêu là người xăng xái đi nhặt bóng. Có lúc Bác chơi trò kéo co với các cháu là con của các gia đình cách mạng Việt Kiều gửi vào học chữ quốc ngữ. Một bên là cậu bé Tiêu với ba em học trò, còn bên kia là Bác. Bác cười bảo: Tám chân đấu với hai chân, coi thử ai thua, ai thắng nào. Mùa mưa đến, Bác với mấy đồng chí của Người đi bắt cá. Bốn người lội bì bõm từ thửa ruộng này qua thửa ruộng khác, cá bắt được bỏ chung trong một chiếc giỏ. Về nhà, Bác cười hỏi: Đố mấy chú tôi bắt được bao nhiêu con cá? Tất cả, ngớ ra không ai trả lời được. Bác đổ cá từ giỏ ra, vui vẻ nói, con cá nào bị ngắt đuôi là do tôi bắt đó. Ai cũng bật cười trước cái mẹo của Bác. Cá bắt được, con nào chết thì kho ăn trước, con nào sống thì để lại làm nước mắm. Bác thích ăn những món dân dã đồng quê và hằng ngày nấu nước lá vằng để uống.

Không chỉ nhân dân Việt Nam yêu quý Bác Hồ mà nhiều người Thái Lan cũng rất kính trọng Bác. ông Tiêu cho biết, người Thái vẫn thường đến đây thắp hương cho Bác. Trong 76 tỉnh của Thái Lan đã có dân của 74 tỉnh về thăm ngôi nhà Bác từng ở tại bản Mạy và theo ông Tiêu kể thì một vị tổng chỉ huy quân đội Thái Lan khi đến đây thắp hương cho Bác đã giơ ngón tay cái lên rồi nói: Bác Hồ là người có một không hai trên thế giới này!

Ngôi nhà nhỏ Bác từng ở tại bản Mạy không chỉ là di tích lịch sử quý giá gắn với cuộc đời cách mạng sôi động của Hồ Chí Minh mà còn là nhịp cầu nối tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước Việt -Thái. Ngay cạnh ngôi nhà nhỏ này, có Làng hữu nghị Việt -Thái và nhà lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh. Anh Đường Quốc Hiệp, năm nay bốn mươi tuổi, nhân viên coi giữ giới thiệu nhà lưu niệm nói với chúng tôi: Bác Hồ là vĩ nhân của Việt Nam và thế giới nhưng rất giản dị. Dù Bác đã xa rời nơi này rất lâu nhưng người dân bản Mạy vẫn luôn luôn thấy hình bóng Người ở đây. Trong ngôi nhà nhỏ, trong hàng dừa cây khế, trong mỗi trái tim người dân bản Mạy luôn có hình ảnh Bác Hồ tỏa sáng.

Nguyễn Hữu Quý
qdnd.vn

Đô đốc Giáp Văn Cương trong ký ức của những người giữ biển

QĐND-Đô đốc Giáp Văn Cương, nguyên Tư lệnh Quân chủng Hải quân được các thế hệ cán bộ, chiến sĩ hải quân kính trọng, bởi ông là một vị tướng có tầm nhìn chiến lược với những quyết sách táo bạo, đúng đắn. Ông cũng là một tấm gương về lòng nhân ái, có lối sống trung thực, thẳng thắn, giản dị và tiết kiệm.

Vị Tư lệnh có tầm nhìn chiến lược

Đại tá Nguyễn Trương, nguyên Chánh Văn phòng Bộ tư lệnh Hải quân-kiêm Bí thư cho Đô đốc Giáp Văn Cương xúc động khi nhớ lại những ngày tháng được giúp việc cho Tư lệnh: “Dường như Tư lệnh không có ngày nghỉ. Ông luôn dành nhiều thời gian và tâm huyết theo dõi và nắm chắc tình hình biển, đảo để có cơ sở vững chắc hoạch định chính xác phương hướng xây dựng Quân chủng Hải quân vững mạnh toàn diện. Chính vì vậy, từ những ngày đầu làm Tư lệnh Quân chủng Hải quân, Đô đốc Giáp Văn Cương đã có những quyết sách đúng đắn, đề ra phương hướng xây dựng hải quân toàn diện, đồng bộ, có nhiều thành phần lực lượng, đủ sức hoàn thành nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo”.

Ngay từ khi nhận nhiệm vụ Tư lệnh Quân chủng Hải quân, Đô đốc Giáp Văn Cương chỉ đạo tập trung xây dựng lực lượng tàu mặt nước phù hợp với nền kinh tế của đất nước và điều kiện biển, đảo của Việt Nam, trong đó quan tâm đặc biệt đến việc đào tạo và sử dụng đội ngũ cán bộ thuyền. Xác định đất nước ta có bờ biển dài và có nhiều đảo xa bờ nên ông quan tâm đến lực lượng Hải quân đánh bộ, đặc công nước, pháo binh – tên lửa bờ biển. Các lực lượng này giữ vai trò quan trọng trong cấu thành lực lượng của hải quân hiện đại nói chung và Hải quân nhân dân Việt Nam nói riêng.

Đô đốc Giáp Văn Cương (ngoài cùng, bên trái) đón Đại tướng Lê Đức Anh thăm Trường Sa.

Trong tầm nhìn chiến lược của mình, Đô đốc Giáp Văn Cương cho rằng: Hải quân Việt Nam không thể thiếu các binh chủng không quân hải quân và tàu ngầm. Cùng với việc xây dựng các trung đoàn, lữ đoàn cơ động trực thuộc Quân chủng vững mạnh toàn diện, ông luôn quan tâm đến chất lượng các căn cứ, các vùng hải quân, các lữ đoàn thuộc vùng và các cơ sở bảo đảm kỹ thuật trên bờ để phục vụ các lực lượng của vùng, của Quân chủng thực hiện nhiệm vụ một cách tốt nhất.

Nhiều cán bộ cao cấp của hải quân làm việc cùng thời với Tư lệnh Giáp Văn Cương đều nói rằng: Những năm làm Tư lệnh Quân chủng Hải quân, ông đặc biệt quan tâm đến hoạt động tác chiến. Để các lực lượng tác chiến thực hiện nhiệm vụ có hiệu quả, xử lý nhanh nhạy các tình huống trên biển, ông chỉ đạo cơ quan, đơn vị chăm lo bổ sung, kiện toàn, mở rộng và nâng cấp lực lượng bảo đảm cho tác chiến như: Thông tin, ra-đa, quan sát biển, trinh sát, bảo đảm hàng hải, công binh chiến đấu… Trong điều kiện đất nước ta còn nghèo, vũ khí trang bị của hải quân còn nhiều mặt hạn chế, chưa theo kịp yêu cầu nhiệm vụ, phải phát huy sức mạnh tổng hợp của các lực lượng trong Quân chủng, đồng thời phải huy động sức mạnh tổng hợp của cả nước để bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc.

Vị tướng của Trường Sa, nhà giàn DK1

Ở Trường Sa và nhà giàn DK1 cuối những năm 80 của thế kỷ 20, không ai có thể quên hình ảnh vị tướng già mặc quần đùi đu lên nhà giàn quá đơn sơ lúc ấy để kiểm tra độ an toàn cho chiến sĩ, rồi vị Tư lệnh 68 tuổi chào cờ cùng anh em và xắn quần lặn lội để kiểm tra việc gia cố nhà giàn cho đảo chìm… Trong xây dựng lực lượng phòng thủ trên biển, điều ông rất quan tâm là bảo vệ thềm lục địa phía Nam. Theo đề nghị của ông, ngày 5-7-1989, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng ra chỉ thị về việc xây dựng Cụm Kinh tế – Khoa học – Dịch vụ, tiếp tục khẳng định quyền chủ quyền của Việt Nam đối với khu vực thềm lục địa của Tổ quốc. Chủ trương này có ý nghĩa vô cùng to lớn, cả trước mắt và lâu dài.

Thẳng thắn, giản dị và tiết kiệm

Đối với cấp trên cũng như cấp dưới, ông luôn thẳng thắn góp ý phê bình. Ông ghét những kẻ nịnh bợ, kéo bè, kéo cánh. Ông là người bao dung và độ lượng, hiểu thấu những khó khăn của cấp dưới, không trù dập những người mắc khuyết điểm.

Ông rất thích những người dám tranh luận phân biệt đúng sai, luôn lắng nghe ý kiến cấp dưới để giải quyết có tình, có lý.

Tư lệnh Giáp Văn Cương kiểm tra sẵn sàng chiến đấu tại Trường Sa, tháng 5-1988. Ảnh tư liệu.

Một hôm, Tư lệnh Giáp Văn Cương cùng một số cán bộ cơ quan Quân chủng xuống kiểm tra Tàu HQ-01. Khi phát hiện bệ tên lửa cải tiến han gỉ, ông nhắc anh em trên tàu: Lần sau tôi xuống kiểm tra các đồng chí còn để vũ khí han gỉ thế này sẽ bị kỷ luật. Nghe vậy, một đồng chí phó thuyền trưởng đã ý kiến: Báo cáo Tư lệnh, nếu cấp trên cung cấp đầy đủ vật tư, dầu mỡ cho chúng tôi mà Tư lệnh kiểm tra vẫn thấy han gỉ thì chúng tôi hoàn toàn chịu kỷ luật. Nhưng nếu cấp trên không cung cấp đầy đủ mà Tư lệnh kỷ luật thì oan cho chúng tôi quá.

Lúc này, ông quay sang hỏi đồng chí Chủ nhiệm Cục Kỹ thuật Hải quân: “Anh Phúc đã nghe rõ anh em nói gì chưa?”.

Là một Đô đốc nhưng Giáp Văn Cương luôn sống cuộc sống giản dị và tiết kiệm. Đại tá Nguyễn Trương kể: “Mỗi khi đi công tác xa, Đô đốc Giáp Văn Cương luôn nói với vợ chuẩn bị cơm nắm, tôm rang thịt, lọ muối lạc và bi đông nước sôi để nguội. Tôi chưa bao giờ thấy ông vào quán ăn khi đi công tác, dù lúc đó đến bữa hoặc quá bữa, ông đều về nhà hoặc đến đơn vị để ăn. Ông thường dặn lái xe khi nào đường vắng, có bóng cây mát đến giờ ăn dừng chân để cùng ăn, trong đó có tôi, y sĩ và lái xe”.

Năm 1986, khi đất nước chuyển sang cơ chế thị trường, Tư lệnh Giáp Văn Cương vẫn sống một cuộc đời bình dị. Ông vẫn sử dụng ti-vi đen trắng với những tiện nghi sinh hoạt hết sức bình thường.

Đô đốc Giáp Văn Cương sinh năm 1921 tại thôn Thép Thượng, xã Bảo Đài, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang. Ông giữ nhiều chức vụ quan trọng trong quân đội như: Cán bộ chỉ huy cấp sư đoàn, quân khu, Phó tư lệnh mặt trận Quảng Đà, Phó tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam. Tháng 3-1977, ông được cấp trên điều về làm Tư lệnh Quân chủng Hải quân. Năm 1988, ông được phong Đô đốc đầu tiên của Hải quân nhân dân Việt Nam. Ông mất năm 1990. Ngày 7-5-2010, ông được truy tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân.

Trịnh Văn Dũng
qdnd.vn

Hành hình kiểu Linsơ (1924)

Một phương diện ít người biết của nền văn minh Mỹ

Ai cũng biết giống người da đen là giống người bị áp bức và bóc lột nặng nề nhất trong loài người. Ai cũng biết sự bành trướng của chủ nghĩa tư bản và việc tìm ra Tân thế giới đã mang lại hậu quả trực tiếp là làm sống lại chế độ nô lệ, một chế độ, trải qua nhiều thế kỷ, đã là một tai hoạ thật sự đối với người da đen và là một bất hạnh đẫm máu đối với nhân loại. Điều mà mọi người có lẽ không biết là người da đen châu Mỹ, tiếng rằng đã được giải phóng 65 nǎm nay rồi, nhưng vẫn còn phải chịu đựng nhiều nỗi thống khổ ghê gớm về tinh thần và vật chất, mà tàn ác nhất và ghê tởm nhất là tục hành hình kiểu Linsơ.

Linsagiơ là do từ Linsơ mà ra. Linsơ là tên một chủ đồn điền ở bang Viếcgini vừa là địa chủ, vừa là quan toà. Lợi dụng tình hình rối ren trong cuộc chiến tranh giành độc lập, hắn thâu tóm toàn bộ quyền hành trong quận. Những người thuộc phái bảo hoàng và những người thuộc phái bảo thủ bị hắn trừng phạt rất dã man, không cần xét xử, không cần án từ gì cả. Nhờ bọn chủ nô, nhờ đảng Ku Klux Klan và những tổ chức bí mật khác, nên tục hành hình kiểu Linsơ, một tục không hợp pháp và man rợ trở thành phổ biến và kéo dài mãi ở các bang trong Liên bang Mỹ. Sau khi người da đen được giải phóng, tục đó càng trở nên vô nhân đạo, và đặc biệt chĩa vào người da đen.

Các bạn hãy tưởng tượng…

Các bạn hãy tưởng tượng một đám đông cuồng loạn. Quả đấm nắm chặt, mắt đỏ ngầu, miệng sùi bọt, la ó, chửi bới, nguyền rủa…, đám đông ấy đang bị lôi cuốn bởi cái thú cuồng loạn được phạm tội ác mà không phải lo sợ gì cả. Họ vũ trang bằng gậy gộc, đuốc, súng lục, thừng, dao, kéo, nước lưu toan, dùi. Tóm lại là bất cứ vật gì có thể dùng để giết hoặc làm bị thương được.

Các bạn hãy tưởng tượng giữa đám đông ấy, là một đống thịt đen bị xô đẩy, đánh đập, giày xéo, rạch da, róc thịt, chửi rủa, bị đá đi đá lại, đẫm máu, bất động.

Cái đám đông ấy, chính là những kẻ tham gia hành hình. Cái xác người rách nát kia, đó là người da đen, là nạn nhân.

Trong cơn sóng hằn thù và thú tính, những kẻ tham gia hành hình lôi người da đen đến một khu rừng hay một quảng trường công cộng nào đó. Họ trói người đó vào cây, tưới dầu lửa vào người đó, lấy những chất dễ cháy phủ lên người đó. Trước khi châm lửa, họ bẻ dần từng chiếc rǎng một của người đó. Rồi móc mắt người đó. Từng nhúm tóc xoǎn bị rứt khỏi đầu, mang theo từng mảng da, để lộ ra một sọ người đẫm máu. Nhiều miếng thịt nhỏ rời khỏi cái thân hình đã tím bầm vì bị đánh đập.

Người da đen không kêu được nữa: lưỡi đã sưng phồng lên vì một thanh sắt nung đỏ gí vào. Toàn thân người ấy quằn quại như một con rắn bị đánh, dở sống, dở chết. Một nhát dao, thế là rụng một tai. ái chà! Nó mới đen làm sao! Nó mới đáng tởm làm sao! Thế là bọn đàn bà rạch nát mặt người đó ra…

Có kẻ hét: “Châm lửa lên đi!”. Một kẻ khác góp thêm: “Đốt vừa đủ để thui nó từ từ thôi”.

Người da đen bị nướng chín, thui vàng, cháy thành than. Nhưng người đó phải chết hai lần mới đáng đời. Cho nên họ liền treo người đó lên, nói cho đúng là treo cái xác không còn là một cái xác nữa lên. Và bây giờ, tất cả những người không được tham dự cảnh thiêu sống ấy, vỗ tay. Hoan hô!

Khi ai nấy đã xem chán rồi, họ hạ cái xác xuống. Cái dây treo được chặt ra từng đoạn, bán mỗi đoạn 3 hay 5 đôla. Bọn đàn bà tranh nhau mua làm vật kỷ niệm và để lấy khước.

Thế là “Công lý nhân dân” – như ở đó, người ta vẫn gọi – đã được thực hiện. Đám đông dịu đi, khen ngợi những kẻ “hành sự” rồi tản dần đi, vui vẻ như vừa dự xong một bữa tiệc, và hẹn gặp nhau một bận khác.

Trong khi đó thì trên mặt đất nhày nhụa mỡ và khói, một đầu lâu đen, nát bét, bị thui cháy, không ra hình thù gì nữa, nhǎn nhó một cách đáng sợ và hình như muốn hỏi vầng dương đang lặn rằng: “Đó là vǎn minh ư?”.

Một chút thống kê

Từ 1889 đến 1919, đã có 2.600 người da đen bị hành hình kiểu Linsơ, trong đó có 51 phụ nữ và thiếu nữ, với 10 cựu binh trong đại chiến.

Trong số 78 người da đen bị hành hình kiểu Linsơ nǎm 1919, có 11 người bị thiêu sống, 3 người bị thiêu sau khi đã bị giết, 31 người bị bắn chết, 3 người bị hành hạ cho đến chết, 1 người bị chặt ra làm nhiều mảnh, 1 người bị dìm chết dưới nước, 11 người bị giết bằng nhiều cách khác.

Đứng đầu là bang Gioócgia với 22 nạn nhân, thứ đến bang Mítxixipi với con số 12. Trong cả bang thứ nhất và bang thứ hai đều có 3 binh sĩ trong số bị hành hình. Trong số 11 người bị thiêu sống, thì ở bang Gioócgia có 4 người và 2 người ở bang Mítxixipi. Trong 34 vụ hành hình có tính toán trước và có tổ chức hẳn hoi, thì bang Gioócgia cũng lại đứng đầu với 5 vụ. Thứ hai đến bang Mítxixipi với 3 vụ.

Cǎn cứ theo những tội trạng buộc cho những nạn nhân nǎm 1919, thì:

Một người có chân trong Liên đoàn những người không đảng phái (những chủ trại độc lập);

Một người đã truyền bá những sách báo cách mạng;

Một người đã dám quá tự do lên tiếng công kích những vụ hành hình kiểu Linsơ;

Một người đã bình luận về những vụ xô xát giữa một người da trắng và da đen ở Sicagô;

Một người mà người ta biết là lãnh tụ của phong trào đấu tranh cho lợi ích của người da đen;

Một người vì không kịp tránh sang bên đường nên đã làm cho một đứa bé da trắng ngồi trong ôtô hoảng sợ.

Nǎm 1920, có 50 vụ hành hình kiểu Linsơ và nǎm 1923, có 28 vụ.

Những tội ác đó bao giờ cũng là do ghen ghét về kinh tế mà ra, hoặc do thấy những người da đen ở địa phương làm ǎn khấm khá hơn người da trắng, hoặc do thấy công nhân da đen không chịu bị bóc lột đến xương tuỷ. Trong tất cả các vụ đó, những thủ phạm chính không bao giờ bị làm rầy rà, chỉ đơn giản là vì họ luôn luôn được bọn chính khách, bọn tài chính, bọn cầm quyền và nhất là báo chí phản động kích thích, khuyến khích, xúi bẩy, rồi lại bao che.

Mỗi khi sắp xảy ra hay đã xảy ra một vụ hành hình kiểu Linsơ thế là báo chí chớp ngay lấy, coi là dịp may hiếm có để tǎng số báo phát hành. Báo chí tường thuật sự việc với dụng tâm đưa ra rất nhiều chi tiết.

Không một lời trách móc hướng vào bọn giết người. Không một lời thương xót đối với những nạn nhân. Không một lời bình luận.

Báo New Orleans States ngày 26 tháng 6 nǎm 1919 đǎng nổi bật tin sau đây bằng cỡ chữ 25 phân suốt chiều ngang trang nhất: Hôm nay, một tên da đen sẽ bị 3.000 công dân thiêu chết. Và ngay dưới đó là một tin in bằng chữ nhỏ xíu: Được một đạo vệ binh lớn bảo vệ, Hoàng đế nước Đức đã cùng với Đông cung thái tử chạy trốn.

o Jackson Daily News ra cùng ngày đó, in trên hai cột đầu trang nhất và bằng cỡ chữ lớn:

Tên da đen J.M. sẽ bị dân chúng ở Enlisvinlơ thiêu chết, vào nǎm giờ chiều nay

Tờ báo chỉ quên thêm “khẩn khoản mời toàn thể dân chúng đến dự”, nhưng tinh thần là như vậy.

Vài chi tiết

“Hồi 7 giờ 40 phút tối nay, J.M. đã bị hành hạ bằng một thanh sắt nung đỏ, sau đó bị đem thiêu… Một đám đông khoảng 2.000 người (1),… có nhiều đàn bà và trẻ em đã tham dự vụ thiêu… Sau khi người da đen bị trói trước pháp trường, người ta liền đốt một đống lửa. Cách đó một quãng, một đống lửa khác cũng được đốt lên để nung một thanh sắt. Khi thanh sắt đã đỏ rực, một người cầm lấy và gí vào người da đen. Người này hoảng lên, vội nắm lấy thanh sắt. Thế là không khí sặc sụa mùi thịt cháy khét… Thanh sắt đỏ được gí vào nhiều nơi trên mình người da đen, tiếng kêu la và rên rỉ của người đó dội vào tận trong thành phố. Hành tội một hồi lâu, những người đeo mặt nạ tưới xǎng vào người da đen và đốt đống củi lên. Ngọn lửa bốc cao và liếm quanh người da đen đang van xin người ta làm phúc cho nó một phát đạn. Những lời nǎn nỉ của nó làm cho người ta lớn tiếng chế nhạo” – Báo Chatanocca Times, ngày 13 – 2 – 1918.

“Mười lǎm ngàn người vừa đàn ông, đàn bà và trẻ con hò reo như sấm khi người ta giội gadôlin (2) lên người tên da đen và châm lửa. Họ đấm đá nhau, la hét, và xô đẩy nhau để được đứng gần tên da đen hơn. Hai người trong bọn họ cắt tai tên da đen trong khi ngọn lửa bắt đầu thui nó.

Một người khác định cắt gót tên da đen… Đám đông nhấp nhô và di chuyển để ai nấy đều được nhìn thấy tên da đen bị đốt cháy. Khi thịt bị cháy hết, còn trơ xương ra và khi cái thân hình trước kia chỉ còn là một cái xác rách nát bốc khói, không ra hình thù gì nữa, chập chờn trong ngọn lửa, mọi người cũng vẫn còn mê mải đứng xem…” – Báo Mymphis Press, ngày 22-5-1917.

“… đàn ông thuộc đủ mọi hạng, đàn bà, trẻ con đều kéo đến xem. Nhiều bà trong giới thượng lưu đi theo đám đông từ cửa nhà tù đến đấy, những bà khác cũng từ các ngả gần đấy kéo đến… Khi xác tên da đen rơi xuống, người ta hǎng hái tranh nhau những mẩu dây thừng” – Báo Vicksburg Evening Post, ngày 4-5-1919.

“… một người cắt tai nó, một người khác xẻo bộ phận sinh dục của nó… Nó tìm cách bám lấy dây thừng, người ta liền chặt phǎng các ngón tay đi. Trong khi người ta treo nó lên cây, một gã to như hộ pháp lấy dao chém vào cổ nó: ít nhất nó cũng bị tới 25 vết thương… Nó bị kéo lên rồi hạ xuống đám lửa hồng, rồi lại bị kéo lên và hạ xuống, cứ thế mãi… Cuối cùng, một người ném dây thòng lọng tròng vào người nó, đầu kia thì buộc vào một con ngựa để lôi cái xác chạy khắp các phố Oacô. Cái cây treo xác tên da đen lại ở ngay dưới cửa sổ nhà viên thị trưởng. Ông này thản nhiên nhìn đám đông hành hình. Trên suốt chặng đường, tất cả mọi người đều tham gia bǎm vằm tên da đen. Nhiều người đập nó bằng xẻng, cuốc, gạch, gậy gộc. Khắp mình nó, từ đầu đến chân, chỗ nào cũng đầy thương tích. Hàng nghìn người cùng reo vui vang dội, khi ngọn lửa được châm lên… Một lúc sau, cái xác được kéo lên cao, để ai nấy đều có thể ngắm nhìn được, nên người ta vỗ tay như sấm dậy…” – Báo Crisis, tháng 7-1916.

Những người da trắng là nạn nhân của hành hình kiểu Linsơ

Chẳng cứ gì người da đen mà cả những người da trắng nào dám bênh vực người da đen cũng bị đối xử tàn nhẫn, như bà Hariét Bichơ Stao, tác giả cuốn “Cái lều của chú Tôm” chẳng hạn. Eligiát Lôvagiôi bị giết. Giôn Brao bị treo cổ, Tômát Bítsơ và Xtêphen Phôxtơ bị ngược đãi, bị đánh đập và bị bỏ tù. Trong nhà tù, Phôxtơ đã viết như sau: “Khi tôi nhìn tay chân tôi bị đánh nát nhừ, tôi nghĩ rằng, để giam giữ tôi, nhà tù sẽ chẳng còn cần thiết bao lâu nữa… 15 tháng vừa qua, nhà tù đã 4 lần mở cửa xàlim đón tôi, đồng bào tôi đã 24 lần lôi tôi ra khỏi nhà thờ của họ, họ đã hai lần ném tôi từ tầng gác thứ hai xuống, một lần đánh tôi đến sụn lưng, một lần khác họ định cùm kẹp tôi, hai lần họ phạt tiền tôi. Có lần, 1 vạn người định đưa tôi ra hành hình kiểu Linsơ, và tôi đã bị đánh bị thương 20 chỗ, ở đầu, cánh tay, cổ…”.

Trong 30 nǎm, đã có 708 người da trắng, trong đó có 11 phụ nữ, bị hành hình kiểu Linsơ, người thì vì đã tổ chức bãi công, người thì vì đã đồng tình với cuộc đấu tranh của người da đen.

Hành hình kiểu Linsơ thật đáng chiếm một vị trí vinh dự trong bộ sưu tập toàn bộ những tội ác của nền “vǎn minh” Mỹ.

NGUYỄN ÁI QUỐC

Tập san Inprekorr, tiếng Pháp, số 59, nǎm 1924.
cpv.org.vn

——————————-

(1) Ngay sau khi Nguyễn ái Quốc gửi bản Yêu sách của nhân dân An Nam tới trưởng đoàn các nước dự Hội nghị Vécxây, bọn bồi bút thực dân lồng lộn. Trên tờ Courrier Colonial ra ngày 27-6 có một bài nhan đề Giờ phút nghiêm trọng chỉ trích bản yêu sách : “Làm sao một người dân thuộc địa lại có thể dùng bản yêu sách của nhân dân để công kích Chính phủ Pháp. Thật là quá quắt. Cứ theo đà này thì bọn dân thuộc địa sẽ lên ngang hàng với người Pháp chúng ta và sớm trở thành ông chủ của chúng ta. Không được, phải kìm giữ chúng mãi mãi trong vòng nô lệ”. Nguyễn ái Quốc viết bài này là để trả lời bài báo sặc mùi thực dân trên. Tr. 1.

(2) Bản Yêu sách của nhân dân An Nam: Năm 1918, Chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc. Ngày 18-1-1919, đại biểu các nước đế quốc tham gia chiến tranh họp hội nghị ở Vécxây (Pháp). Hội nghị này (còn gọi là Hội nghị hoà bình Pari) nhằm xác định sự thất bại của Đức và các nước đồng minh của Đức, chia lại thị trường thế giới cho các nước đế quốc thắng trận, chủ yếu là Mỹ, Anh, Pháp.

Nhân danh nhóm người yêu nước Việt Nam, Nguyễn ái Quốc đã gửi đến Hội nghị bản Yêu sách của nhân dân An Nam. Nguyễn ái Quốc còn thuê in thành truyền đơn, đăng trên các báo, gửi đến các nhà hoạt động chính trị có tên tuổi, phân phát trong các buổi hội họp, mít tinh, gửi cho Việt kiều ở Pháp và gửi về nước. Tr.1.

Phó đô đốc Đỗ Xuân Công nhớ về trận đầu đánh thắng

Xứng danh Bộ đội Cụ Hồ

QĐND-Chúng tôi gặp Phó đô đốc Đỗ Xuân Công, nguyên Tư lệnh Quân chủng Hải quân khi ông ở Thành phố Hồ Chí Minh ra thăm lại những người bạn ở thành phố Hải Phòng. Tuy đã trở về với đời thường nhưng hình ảnh về chiến thắng trận đầu ngày 2 và ngày 5-8-1964 của Hải quân nhân dân Việt Nam luôn hiện hữu trong lòng vị tướng.

Ngày 5-8-1964, Tàu T-161 của ông và đồng đội đang đậu tại cảng Sông Gianh chuẩn bị vũ khí, lương thực thực phẩm sẵn sàng chiến đấu thì nhận được thông báo: Để ngăn chặn chi viện của miền Bắc đối với chiến trường miền Nam, đế quốc Mỹ sẽ tập kích bằng không quân vào các mục tiêu quân sự của ta ở miền Bắc, nhất là các quân cảng và tàu của Hải quân. Vì vậy, toàn bộ lực lượng của Hải quân được chuyển sang trạng thái thời chiến. Các tàu Hải quân ở cảng sông Gianh triển khai sơ tán theo đội hình phòng không. Chỉ có tàu trực ban chiến đấu là được đỗ tại cảng. Hôm ấy Tàu T-161 mới sửa chữa xong nên đỗ tại cảng để tiếp nhận nhiên liệu, đạn dược và lương thực thực phẩm. Cán bộ, thủy thủ của tàu làm việc không kể thời gian giờ giấc; ai cũng động viên nhau cố gắng làm việc thật nhanh để sẵn sàng chiến đấu. Lúc đó, Phó đô đốc Đỗ Xuân Công là Binh nhất, Tiểu đội trưởng hàng hải (lái chính) của tàu. Bỗng tiếng kẻng báo động vang lên. Các tàu đồng loạt kéo còi báo động phòng không làm náo động cả một dòng sông. Binh nhất Đỗ Xuân Công vác quả bom chìm nặng khoảng 30kg chạy về tàu đặt vào giá cố định thì vừa đúng lúc nghe lệnh của Thuyền trưởng Nguyễn Duy Khiêm:

– Rời bến khẩn cấp!

Phó Đô đốc Đỗ Xuân Công (giữa) gặp lại CCB Hải quân tại Hải Phòng. Ảnh do nhân vật cung cấp.

Đỗ Xuân Công vội nhảy vọt lên đài chỉ huy và lái tàu rời bến theo lệnh của thuyền trưởng. Tàu T-161 vừa rời khỏi vị trí neo đậu thì đúng lúc tiếng bom nổ ầm ầm bên cạnh. Từng cột nước tung lên rồi đổ xuống rào rào như trận mưa lớn. Các tàu của ta gần như đồng loạt nổ súng đánh trả rất quyết liệt vào các “Thần sấm”, “Con ma” của Mỹ. Lúc đó vào khoảng 12 giờ 20 phút ngày 5-8-1964. Đỗ Xuân Công vừa lái tàu vừa quan sát bầu trời để kịp thời báo cáo hướng mục tiêu cho thuyền trưởng. Máy bay phản lực Mỹ gầm rú và thay nhau từng chiếc một bổ nhào thả bom và bắn súng 20,6mm như vãi đạn xuống dòng sông Gianh. Các loại pháo 40mm, 37mm, 20mm, 14,5mm của ta trên các tàu 79 tấn của Phân đội 7, Phân đội 5, Phân đội 6 đồng loạt bắn xối xả vào các máy bay của Mỹ. Bầu trời như xé ra từng mảng, lưới đạn của ta dày đặc. Đỗ Xuân Công lái tàu theo lệnh thuyền trưởng để vừa bảo đảm phát huy được hết hỏa lực trên tàu đồng thời tránh được các đợt thả bom của máy bay địch. Đợt chiến đấu chỉ diễn ra khoảng vài chục phút, các máy bay Mỹ rút chạy ra hướng biển. Các tàu của ta nhanh chóng củng cố sức chiến đấu, giải quyết vấn đề thương binh liệt sĩ và sơ bộ rút kinh nghiệm sau đợt chiến đấu vừa rồi. Mọi người kiểm tra vũ khí, máy móc rất khẩn trương để chuẩn bị sẵn sàng cho đợt chiến đấu tiếp theo.

Đúng như dự đoán của cấp trên, vào khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày, từng tốp máy bay Mỹ lại bổ nhào ném bom xuống dòng sông Gianh. Bầu trời và dòng sông lại ầm ầm những tiếng bom rơi đạn nổ xen lẫn nhưng tiếng gầm rú xé tai của máy bay phản lực Mỹ. Do đã có kinh nghiệm nên các tàu chiến đấu đĩnh đạc hơn, pháo bắn đồng loạt và giòn giã hơn nên máy bay địch không dám xuống thấp. Đợt chiến đấu này cũng chỉ diễn ra vài chục phút rồi máy bay Mỹ lại tháo chạy ra biển, để lại đằng sau 2 chiếc bị bắn rơi xuống cửa sông Gianh. Trong trận chiến đấu này có rất nhiều gương chiến đấu dũng cảm. Có đồng chí bị thương nặng vào chân nhưng vẫn tự băng bó rồi tiếp tục giữ vững vị trí. Có đồng chí bị thương vào bụng nhờ đồng chí khác băng bó lại rồi tiếp tục chiến đấu…

Những tấm gương chiến đấu dũng cảm của đồng chí, đồng đội trên con tàu T-161 như ngọn lửa thiêng thôi thúc Binh nhất Đỗ Xuân Công phấn đấu vươn lên hoàn thành nhiệm vụ trong suốt cuộc đời binh nghiệp của mình. Từ một binh nhất, ông đã trở thành Tư lệnh Hải quân nhân dân Việt Nam. Ông là một vị tướng nhân hậu, mẫn cán và dành trọn đời mình cho sự nghiệp bảo vệ chủ quyền biển, đảo, thềm lục địa của Tổ quốc.

Trịnh Văn Dũng
qdnd.vn

Ảo tưởng – đáng thương và đáng giận

Công nghệ thông tin – mạng Internet là thành tựu trí tuệ của loài người. Đến nay, không ai còn nghi ngờ giá trị của internet, không chỉ ở giá trị cập nhật, giá trị tri thức, giải trí mà nó đã biến thế giới vốn dĩ đa chiều phức tạp thành một “thế giới phẳng”. Nhưng, cũng như hai mặt của một tờ giấy, bên cạnh cái lợi lại là cái hại, giống như có đêm thì có ngày, có trắng thì có đen. Tương tự, hãy cùng nhau nhìn lại những gì đang diễn ra trên mạng của hôm nay.

Có người vờ “khiêm cung” nhận mình là “dân báo”; lại có kẻ yêng hùng vỗ ngực xưng tên cho mình là “quan báo”; lại cũng có ai đó tranh thủ lúc sóng gió ngoài khơi đã lấy tên cho địa chỉ trên mạng của mình là “Biển Đông”… Họ định làm gì?

Đọc kĩ, thấy cả địa chỉ mạng “quan” lẫn “dân” và “biển” thì đều chung một mục đích chống phá sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước Việt Nam. Họ mập mờ “khoe” với người đọc rằng mình có nhiều thông tin “cung đình”, biết nhiều về thân thế, hoạt động của các vị lãnh đạo cấp cao, ngấm ngầm nói với người đọc rằng hãy tin tôi, các vị đó rất không đáng tin, tư cách và nhân phẩm có vấn đề. Nhưng, điều đáng nói là bản chất những thông tin đó là bịa đặt, suy diễn, áp đặt thái độ chủ quan của những người luôn ôm ấp ý đồ chống phá. Tất cả những thông tin họ đưa ra đều không có cơ sở kiểm chứng, cố tình tạo sự hoài nghi cho xã hội, với ý định gây mất lòng tin. Họ không muốn đất nước này bình yên, lại càng không muốn đất nước này phát triển, chỉ muốn khuấy lên để đục nước béo cò. Tự xưng là những nhà dân chủ, dựa vào tự do ngôn luận- tự do báo chí, họ áp đặt suy nghĩ chủ quan, lệch lạc với thái độ trước sau như một là hằn học, chống đối để hy vọng kiếm lời.

Cũng cần nhắc lại, trước mỗi thời điểm diễn ra những sinh hoạt chính trị lớn của đất nước, “dàn đồng ca” dân chủ giả hiệu lại tấu lên những khúc nhạc thông tin kích động. Không chỉ tung lên mạng những địa chỉ mệnh danh người Việt, mà còn có sự phối hợp với những tờ báo điện tử nước ngoài vốn cay đắng trước sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Họ lợi dụng những khuyết điểm trong quá trình phát triển đất nước, để rồi khoét sâu, coi đó là bản chất của chế độ, rồi kêu gọi bất tuân chính quyền, lật đổ. Đã đến lúc cần nhận diện mưu toan của những kẻ giả danh dân chủ, nhân danh tinh thần dân tộc, yêu nước để chống phá chế độ, gây rối loạn xã hội hòng trục lợi cá nhân. Mưu toan đó có sự kết hợp trong ngoài, những tưởng “trong ứng ngoài hợp” là làm nên cơ sự. Nhưng, đó chỉ là sự ảo tưởng đáng thương (về nhận thức) và đáng giận (về dã tâm).

Trong thời đại đầy ắp (và có thể nói là ngổn ngang) thông tin, việc chọn lựa thông tin là điều hệ trọng. Cũng không cần tốn thời gian với những thông tin không kiểm chứng, kích động – đó là sự lựa chọn khôn ngoan.

*

*     *

Không chỉ là mưu đồ chính trị của các phần tử kích động trên các địa chỉ mạng suốt thời gian qua, đến nay chúng ta cũng không thể thờ ơ với quá nhiều địa chỉ mạng đang từng giờ, từng ngày bơm vào xã hội những thông tin đồi trụy, bạo lực. Quá nhiều địa chỉ kích động tính dục, kích động bạo lực, tuyên truyền lối sống đi ngược thuần phong mỹ tục không chỉ của người Việt mà còn của cả nhân loại. Điều đó làm băng hoại đạo đức xã hội, tạo ra cách nghĩ, cách hành xử đầy nguy hại cho lớp trẻ- hết thế hệ này đến thế hệ khác. Khái niệm “lướt web” của không ít thanh- thiếu niên hiện giờ là vào các trang mạng sex, những địa chỉ mô tả bạo lực, thú tính, giết chóc. Mặc cho các bậc làm cha làm mẹ lo sợ, các thầy cô giáo lo lắng…, các địa chỉ mạng này vẫn ngang nhiên tồn tại mà không “bức tường lửa” nào ngăn được.

Đến đây, phải quay lại câu chuyện sự quản lý của các cơ quan chức năng. Không thể “mất bò mới lo làm chuồng”, đến khi thông tin xấu từ một số địa chỉ mạng lan truyền trong xã hội, làm rối xã hội, băng hoại đạo đức lối sống… thì mới ra tay. Muộn còn hơn không, nâng cao năng lực quản lý, điều hành của các cơ quan hữu quan trong lĩnh vực này cần được làm ngay, nếu không, hậu quả sẽ là rất lớn và khó lường. Vì thế, việc mới đây Văn phòng Chính phủ thông báo ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng chấn chỉnh quản lý một số địa chỉ mạng là điều cần thiết, được dư luận xã hội hoan nghênh.

NAM VIỆT
daidoanket.vn

Nơi lưu giữ những tư liệu, hình ảnh về Bác Hồ

Đến nay, Bảo tàng ngành Dệt may Việt Nam (được xây dựng trên khuôn viên của Bảo tàng Nhà máy liên hợp Dệt Nam Định trước đây) đã hoàn thành giai đoạn I. Nằm giữa trung tâm Thành phố Nam Định, với diện tích rộng 1,2ha, Bảo tàng ngành Dệt may Việt Nam là nơi tái hiện lại lịch sử ngành Dệt may cả nước nói chung và ngành Dệt may Nam Định nói riêng trong hơn 1 thế kỷ qua. Ngoài việc trưng bày nhiều hiện vật, hình ảnh về lịch sử Nhà máy liên hợp Dệt Nam Định từ thời Pháp thuộc như: Bức thư của những người công nhân gửi ông chủ khi bị đánh đập, chà đạp; chiếc máy dệt thời kỳ đó, tại đây, còn trưng bày những vũ khí đã được Trung đoàn tự vệ của Nhà máy liên hợp Dệt Nam Định dùng để chiến đấu với giặc Mỹ, bảo vệ nhà máy… Và hơn hết là những kỷ vật thiêng liêng của Bác Hồ qua những lần Bác về thăm cán bộ, công nhân Nhà máy liên hợp Dệt Nam Định.

mot goc nhà may detMột góc Nhà truyền thống ngành Dệt may Việt Nam. Ảnh: Internet.

Tại khu vực trung tâm của Bảo tàng ngành Dệt may Việt Nam là nơi trưng bày các hình ảnh, kỷ vật về Bác và những tình cảm của công nhân ngành Dệt may với Bác Hồ, những di vật ghi lại lời căn dặn sâu sắc của Bác đối với tập thể cán bộ, công nhân Nhà máy liên hợp Dệt Nam Định khi Người về thăm. Tiêu biểu là các hiện vật: Phòng nghỉ của Bác khi về thăm nhà máy năm 1957; những bức ảnh tư liệu quý về cán bộ, công nhân Nhà máy liên hợp Dệt Nam Định vui mừng đón Bác về thăm nhà máy vào ngày 24-4-1957, Huy hiệu của Hồ Chủ tịch tặng công nhân Nhà máy liên hợp Dệt Nam Định, Bác Hồ thăm phân xưởng dệt năm 1957, Chủ tịch Hồ Chí Minh xem các sản phẩm của Nhà máy liên hợp Dệt Nam Định năm 1957, Bác Hồ thăm nhà mẫu giáo dành cho con em cán bộ, công nhân Nhà máy liên hợp Dệt Nam Định năm 1963, Chủ tịch Hồ Chí Minh xem lá cờ Đảng của Nhà máy liên hợp Dệt Nam Định khi Người về thăm nhà máy năm 1963, Bức điện của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi anh chị em công nhân Nhà máy liên hợp Dệt Nam Định ngày 28-12-1963… Bên cạnh đó, Bảo tàng còn lưu giữ nhiều hiện vật gắn liền với hình ảnh thân thương về Hồ Chủ tịch trong mỗi lần Bác về thăm tỉnh Nam Định: Đó là chiếc ghế đá nơi Bác Hồ đã ngồi nghỉ để nói chuyện với cán bộ, công nhân Nhà máy liên hợp Dệt Nam Định; những văn bản ghi lại lời dạy của Hồ Chủ tịch đối với Đảng bộ, nhân dân tỉnh nhà nói chung, công nhân ngành Dệt may Nam Định nói riêng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Với quy mô và ý nghĩa to lớn, Bảo tàng ngành Dệt may Việt Nam đi vào hoạt động sẽ là một công trình văn hóa lưu giữ, trưng bày các hiện vật, hình ảnh giới thiệu với các tầng lớp nhân dân, bạn bè quốc tế về lịch sử của Nhà máy liên hợp Dệt Nam Định nói riêng, của ngành Dệt may cả nước nói chung. Đặc biệt, những hình ảnh, tư liệu về Bác Hồ trong những lần về thăm Nhà máy liên hợp Dệt Nam Định là những tư liệu, hiện vật quý, góp phần giáo dục truyền thống, bồi dưỡng lý tưởng cách mạng cho giai cấp công nhân ngành Dệt may cả nước hôm nay và mai sau./.

Bài và ảnh: Việt Thắng
Theo baonamdinh.com.vn
Kim Yến
(st)
bqllang.gov.vn

Tìm đồng đội trên tuyến lửa 1C (Tiếp theo và hết)

Bài 3: Điều không thể mất

QĐND – “Trở lại Tám Ngàn, chúng tôi rủ nhau xuống bờ sông, nơi xảy ra chiến trận năm xưa, tôi là người còn sống sót, đốt vài nén nhang xin tạ tội cùng các anh chị, vì chúng tôi không làm tròn trách nhiệm đưa các anh chị về nghĩa trang yên nghỉ”.

(Xin gián đoạn nhật ký của chị Minh Tâm để kể câu chuyện này cho bạn đọc rõ. Tháng 10-1969, Minh Tâm cùng các đảng viên trong đơn vị từ đất Hà Tiên sang đất bạn họp chi bộ cuối tháng. Họp xong thì được lệnh bất ngờ: Địch xuất hiện, các đảng viên ở lại để dẫn đường cho quân chủ lực đi từ Núi Dài về lộ Cái Sắn. Thật bối rối, vì dự định ban đầu chỉ là chuyến đi họp ngắn ngày, các đồng chí nữ chỉ chuẩn bị vài bộ trang phục. Nhưng vì nhiệm vụ, các chị tự làm công tác tư tưởng rồi chấp hành lệnh ngay. Xong chuyến đưa quân ấy, trên đường trở về căn cứ của đơn vị, Minh Tâm và đồng đội rơi vào ổ phục kích. Sau tiếng mìn nổ, Minh Tâm và Út Hòa dạt vào bờ nên không bị địch phát hiện. Trải qua hơn 20 ngày nhịn đói, nhịn khát, tự xác định phương hướng, hai nữ TNXP đã tìm về đơn vị trong niềm vui khôn tả của mọi người. 8 đồng đội của họ đã hy sinh trong đợt này).

Ngày 5 tháng 8 năm 1997

Các anh Sư đoàn 4 cho một vỏ máy và cử đồng chí Sư đoàn phó chính trị (Phó sư đoàn trưởng về chính trị) cùng đi với chúng tôi về rừng tràm Hà Tiên. Nay thì chẳng còn một cụm tràm nào, chỉ toàn là đồng trống, nhiều con kinh xẻ dọc, xẻ ngang, phải nhờ những người dân sống nơi ấy dẫn đường.

Gần 10 giờ sáng, theo chỉ dẫn của địa phương, chúng tôi lội lên đồng tìm được bờ đìa 3 cây gáo. Đó là điểm để dừng chân hằng đêm của chúng tôi trên đường công tác, cũng là nơi chôn cất các đồng đội của tôi. Tìm hiểu, bờ đìa này vẫn còn nguyên vẹn, chưa có dấu vết đào bới. Bởi vì, dân đồn nơi ấy có ma, họ thường thấy bóng người con gái quẩn quanh dưới gốc 3 cây gáo này.

Chị Minh Tâm (đứng giữa) cùng đồng đội trở lại Tràm Ba Đương (Kiên Giang) tìm kiếm hài cốt liệt sĩ Sáu Thiện năm 2004. Ảnh: Minh Nghĩa.

Bới cỏ tìm, vẫn còn 3 gốc gáo. Đúng rồi! Chỉ còn xác định chôn ở chỗ nào mà thôi.

Quan sát xung quanh: Đằng kia là Gộc Xây, phía trước là sông Vĩnh Tế, bên kia là đường xe thồ… tự nhiên nước mắt tôi trào ra không sao ngăn được. Đã hơn hai mươi năm rồi mới được trở lại nơi đây, được khóc cho đồng đội của mình…

Đốt ít nén nhang, đem bánh cúng… Đứng lặng nhìn làn khói hương nghi ngút, tôi hình dung về những đồng đội của mình…

Tạm biệt nơi đây, chúng tôi tiếp tục cuộc hành trình.

Hướng tới của chúng tôi là tìm đến Ngã Tư Đầu Trâu – một địa danh năm xưa các đơn vị TNXP đặt để gọi với nhau, vẫn còn lưu đến bây giờ. Tôi nhớ rất rõ, nơi ấy có một nền đất cao và một cây ô môi lớn: Nơi chôn cất 3 đồng đội có tên là: Việt Phương, Thông, anh Hai Quang.

Ngày Thông hy sinh, trận địa bị lộ, trực thăng quần bắn, đổ quân. Anh Sáu Thiện, Liên đội phó ra lệnh rút, sáu anh em vừa tới công sự nổi chui vào. “Cán gáo” quần sát đọt tràm, các anh lo quan sát trên trời, bộ binh luồn đi phía sau tới, leo lên nắp công sự ta mới phát hiện được. Lúc ấy ta và địch sát nhau, máy bay không quần nữa. Mấy anh em vừa bắn vừa chạy thoát khỏi vòng vây. Tìm lại đủ cả, các anh chỉ lo cho tôi, vì hôm ấy chỉ có tôi là nữ.

Khi tìm đến những người biết chỗ cây ô môi thì họ bảo rằng cây ô môi đã bị đốn từ lâu, các ngôi mộ đã lạn mất rồi! Mùa này nước lên cao quá, họ không dẫn đến đó được, hẹn lại mùa khô. Đành phải chờ! Chúng tôi nhờ họ tìm giùm, nếu gặp xin báo theo địa chỉ gửi lại.

Gần 2 giờ chiều, chúng tôi về đến Trung đoàn 30 thuộc Sư đoàn 4. Cơm nước xong, chúng tôi trao đổi với Ban chỉ huy Trung đoàn một vài nơi nữa cần tìm. Các đồng chí hứa sẽ giúp theo yêu cầu. Các anh còn nói: Ngày xưa, nơi đây là địa bàn của các anh chị, còn nay là của chúng tôi.

Qua ít phút chuyện trò làm quen, các đồng chí kể cho chúng tôi nghe vừa qua đơn vị lao động đào gặp được 12 hài cốt trên cùng một bờ đìa, còn lượm được vài chiếc kẹp bồ câu bằng vỏ máy bay; đơn vị đã đưa về Nghĩa trang Hòn Đất. Chúng tôi biết ngay đó là nơi chôn 16 người ở Liên đội 2. Như vậy còn lại 4 người nữa, nhờ các đồng chí cố gắng tìm tiếp.

Sáng ngày 6 tháng 8 năm 1997

Mưa rất to. Khi dứt hột, chúng tôi chia tay với các đồng chí Trung đoàn 30, quay về trụ sở Sư đoàn 4.

Sáng ngày 7 tháng 8

Chúng tôi chia tay nhau tại thị xã Kiên Giang.

Suốt sáu ngày, từ lúc đi cho đến khi về, có lẽ trời cũng cảm thông với nỗi đau vì đồng đội của chúng tôi, nên cứ đổ mưa dầm…

Minh Tâm viết nhật ký tại tuyến đường 1C năm 1971. Ảnh do nhân vật cung cấp.

Chuyến đi này, dù chưa đạt được mục đích cuối cùng, chúng tôi cũng cảm thấy mãn nguyện phần nào. Vì đã hơn hai mươi năm rồi, niềm mơ ước mong manh này mới được thực hiện.

Chúng tôi luôn khắc ghi tình cảm của các anh Hà, Giang, Thống và các đồng chí Sư đoàn 4, Trung đoàn 30 đã nhiệt tình giúp đỡ để chúng tôi hoàn thành tốt một phần ước nguyện.

Từ chuyến đi này, chúng tôi tâm đắc chỉ có tình đồng đội mới thấu hiểu được niềm đau, nỗi khổ với nhau. Và tình đồng chí, đồng đội thật sâu nặng và lâu bền…

(Bẵng đi khá lâu, công cuộc tìm kiếm đồng đội hy sinh trên tuyến lửa 1C không được chị Minh Tâm viết tiếp vào nhật ký. Những chuyến đi của chị và đồng đội đã cuốn hết thời gian và sức lực, chị chỉ còn kịp ghi ngày tháng và một số cột mốc đáng nhớ trên hành trình tìm đồng đội. Theo đề nghị của chúng tôi, chị lần giở cuốn sổ và kể lại).

Mãi tháng 6-2000, tôi và Tuyết Thu mới có điều kiện lên Sở Lao động – Thương binh và Xã hội Cần Thơ xin hỗ trợ kinh phí đi quy tập hài cốt Sáu Bé, vì Sáu Bé vốn người Cần Thơ. Họ giới thiệu sang Tỉnh đội Cần Thơ (Bộ CHQS tỉnh Cần Thơ – PV) vì Tỉnh đội là cơ quan báo tử. Tỉnh đội cử một cán bộ đi cùng chúng tôi, nhưng kế hoạch công tác đi trong ngày. Từ Cần Thơ đến nơi chôn cất Sáu Bé đã gần 12 giờ trưa. Lần trước đi tìm, chỉ xác định được khu vực vì khi đó đang mùa mưa. Nay trời khô ráo nhưng đã hơn 20 năm, chỗ này chẳng còn chút dấu vết gì của ngày xưa, muốn tìm chắc phải mất thời gian. Chúng tôi phải trở về trong ngày nhưng bụng tự nhủ nhất định không bỏ cuộc, phải tìm được đồng đội mình về.

Đến cuối tháng 5-2001, đồng chí Tuyết Thu đề xuất với anh Năm Đoàn, nguyên Liên đội trưởng TNXP đường 1C đang ở tại TP Hồ Chí Minh, có thêm đồng chí Cao Long Phiêu đi tìm một chuyến, kinh phí hoàn toàn tự lực. Chuyến đi kéo dài một tuần lễ này, tại Hòn Đất, chúng tôi đã tìm ra nơi Sáu Bé nằm, mấy anh em bàn nhau cất bốc về luôn.

Tiếp đó, chúng tôi qua kênh Vĩnh Điều, tìm đến nơi đồng chí Võ Hồng Láng hy sinh. Đồng chí Hồng Láng thuộc Đại đội TNXP Nguyễn Việt Khái II, bị biệt kích phục kích trên sông Vĩnh Tế. Đồng chí bị thương nặng, bị giặc bắt về đồn Vĩnh Gia nhưng đã chấp nhận hy sinh, không khai báo gì cho giặc (Võ Hồng Láng về sau được truy tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân – PV). Khi Hồng Láng hy sinh, địch bắt dân đem chôn cùng đồng chí Cường và một đồng chí bộ đội chủ lực. Nhân dân trong vùng đã chôn cất và chăm sóc phần mộ cho đến khi chúng tôi tìm đến.

Sau chuyến đi này, đồng chí Tuyết Thu đi khảo sát tiếp hai, ba chuyến nữa, phát hiện mộ đồng đội của chúng tôi còn ở rất nhiều nơi: Gộc Xây nhỏ, Gộc Xây lớn, bờ đìa Ô Môi, Tràm Ba Đương… Mấy chục năm qua, khu vực đường 1C, máu lửa năm xưa thành nơi hoang vắng. Chỉ có những hộ dân đi làm rẫy thì thi thoảng, vô tình gặp hài cốt liệt sĩ. Điều đó cũng khó trách ai, vì chính chúng tôi, những người đã trực tiếp chôn cất đồng đội mình mà sau biết bao năm mới trở lại, mà trở lại cũng không dễ dàng tìm thấy nơi các anh, các chị nằm xuống. Cũng chính điều này thôi thúc chúng tôi đi nhiều hơn.

Đến ngày 27-7-2002, kỷ niệm 55 năm Ngày Thương binh-Liệt sĩ, được Tỉnh đoàn Kiên Giang đồng ý cùng tổ chức, chúng tôi đã tổ chức quy tập ở hai vị trí có nhiều mộ liệt sĩ nhất là Gộc Xây lớn và Gộc Xây nhỏ. Đợt này, chúng tôi cất bốc 42 hài cốt liệt sĩ, trong đó có 13 đồng chí xác định được tên tuổi, quê quán. Khi đào lên, ba chúng tôi gói từng hài cốt, ghi rõ họ tên, báo cho gia đình các liệt sĩ đã có tên. Khi các gia đình đến nhận, đồng chí Tuyết Thu và Út Mãnh cùng gia đình đưa hài cốt liệt sĩ về tận quê. Nhiều gia đình xúc động nói với chúng tôi: “Nếu không có các em, các cháu thì tôi chẳng bao giờ gặp lại được người thân”. Những tâm sự ấy là lời động viên để chúng tôi vượt qua bao thủ tục rườm rà, bao khó khăn về vật chất và tinh thần để tiếp tục công việc của mình. Hàng trăm hài cốt của đồng đội nằm lại trên tuyến lửa 1C đã được Tuyết Thu, Út Mãnh và nhiều đồng chí khác công phu, kiên trì quy tập về. Một Đoàn cựu TNXP đi quy tập hài cốt đồng đội được thành lập. Tôi bận công tác Hội nên không tham gia được, Tuyết Thu và Út Mãnh tiếp tục tham gia và có nhiều đóng góp lớn cho nghĩa cử cao đẹp ấy. Đến nay, phần lớn hài cốt của đồng đội hy sinh trên tuyến lửa 1C, rải rác khắp mấy chục địa điểm từ địa bàn Hà Tiên – Vĩnh Tế – Ba Hòn kéo dài xuống lộ Cái Sắn – Kiên Giang đã được quy tập về các nghĩa trang, nhiều người trở về với quê hương, bản quán, người thân. Đó là điều khiến mỗi chúng tôi như được an ủi, vỗ về mỗi dịp tháng 7 mênh mang khơi gợi ký ức máu lửa, khiến chúng tôi như sống lại một thời đã sống quên mình cho độc lập, tự do và thống nhất Tổ quốc.

———-

Bài 1: Nơi sắt thép cũng bị nung chảy
Bài 2: Trở lại Ba Hòn

HỒNG HẢI
qdnd.vn

Tìm đồng đội trên tuyến lửa 1C (Bài 2)

Bài 2: Trở lại Ba Hòn

QĐND – Hành trình đi quy tập hài cốt đồng đội của các nữ TNXP trên tuyến lửa 1C bắt đầu vào năm 1997. Năm đó, các cựu TNXP được tụ họp nhân dịp khánh thành Tượng đài TNXP đường 1C ở Kiên Giang. Tổ 3 người, Minh Tâm, Tuyết Thu và Út Mãnh hết sức vui mừng, gặp lại nhiều đồng đội của mình. Nhớ những đồng đội thân yêu đã vĩnh viễn ra đi, chị và các bạn hẹn nhau cùng đi một chuyến, tìm về góc núi, ven rừng; nơi đồng đội mình đã từng nằm lại trong những ngày chiến tranh ác liệt năm xưa.

Và những trang nhật ký đi tìm đồng đội của chị Lâm Thị Minh Tâm bắt đầu từ đây. Chúng tôi xin giới thiệu cùng bạn đọc nguyên văn những trang nhật ký xúc động này.

14 giờ ngày 2-8-1997

Đúng hẹn, tôi, Thu, Phượng, Thông cùng nhau lên đường.

Ngồi trên chuyến xe đò bon bon về thị xã Rạch Giá trong mưa bão, sao lòng tôi cảm thấy nóng ran, mong cho đến nơi thật nhanh để được nghe kế hoạch của cuộc hành trình.

Đi ngay đợt mưa bão, chắc sẽ rất khó tìm. Song chúng tôi đều nhất quyết ra đi, vì cái lạnh hôm nay đâu bằng cái lạnh của đồng đội mình hơn hai mươi năm qua vẫn còn nằm giữa rừng núi mênh mông, hiu quạnh.

Đến thị xã Rạch Giá hơn 5 giờ chiều, các anh đón chúng tôi tại khách sạn Thanh Niên. Mọi người đã đến đúng hẹn. Hồng Thắm ở TP Hồ Chí Minh cũng đã đến. Cần Thơ năm người, mới có bốn, còn thiếu chị Tám Điền ở Vị Thanh. Chị điện thoại đến, hẹn có mặt trước 7 giờ sáng 3-8.

Hơn 7 giờ sáng, ngày 3-8-1997

Chúng tôi tập trung tại Tỉnh đoàn Kiên Giang chờ chị Tám Điền đến là xuất phát. Rất nhiều người ủng hộ chúng tôi trong chuyến đi này, anh Thống, Bí thư Tỉnh đoàn Kiên Giang, anh Hà, Đài Truyền hình Kiên Giang, anh Giang, Chủ tịch Hội Chữ thập đỏ Kiên Giang. Tuy các anh không cùng đơn vị, nhưng đã cùng kề vai, sát cánh với chúng tôi trong những ngày chiến đấu oanh liệt trên đất Ba Hòn năm ấy.

Khu di tích Hòn Đất. Ảnh minh họa/internet.

Kế hoạch đầu tiên ở phía Hòn Đất là tìm nữ đồng chí Sáu Bé, bị biệt kích bắn gần mé biển vùng Hòn Đất. Kế đó, tìm về những cửa hang nơi đơn vị chiến đấu với địch, bị chúng bao vây hơn 5 tháng ở cả Hòn Đất, Hòn Me. Chị Tám Hoa nằm lại nơi đây.

Hơn 9 giờ sáng, chúng tôi đến xã Bình Sơn, huyện Hòn Đất. Các anh Hà, Giang vào báo cáo với xã mục đích của đoàn đi. Được xã nhiệt tình giúp đỡ và cử một cán bộ phụ trách thương binh – xã hội, cho một vỏ máy cùng đi với chúng tôi.

Đã hơn hai mươi năm rồi, cảnh vật hoàn toàn thay đổi, không còn một dấu vết gì của ngày ấy cả. Rừng cây mấm, rá năm nào, thay vào đó là những rẫy bí xanh um, đang mùa nở hoa vàng rực. Muốn tìm lại, nhưng nơi ấy thật khó quá! Chỉ còn cách đi tìm những người sống trước đây, nhờ họ chỉ dẫn chúng tôi.

Xuồng máy đi mấy giờ đồng hồ, hết kinh này đến rạch khác, vẫn chưa tìm được.

Gần 12 giờ trưa, chúng tôi để bớt lại một vài người sức khỏe kém, ở tạm nhà dân, mượn một xuồng máy nhỏ tiếp tục đi. Lúc này chỉ còn có anh Giang, Hà, Thống, chị Tám Điền và tôi.

Đi đến một con rạch nữa, mưa cũng đang trĩu hạt. Chúng tôi mặc áo mưa lên hỏi thăm một nhà dân. Một em nhỏ nhanh lẹ chạy ra chỉ chúng tôi:

– Kìa! Ngang con rạch có gốc me lớn lắm. Hồi mới về ở đây, tối, ai đi qua lại ngang gốc me này cũng đều thấy bóng người con gái mặc đồ đen, còn rất trẻ…

Tuy không tin vào mộng mị, nhưng những điều em nhỏ kể sao trùng hợp quá, tôi mừng thầm là mình tìm đúng nơi rồi. Nghe xong, mấy anh em liền vượt qua chiếc cầu khỉ bắc ngang con rạch nhỏ, đến gốc me. Sau khi hỏi thăm lai lịch của gốc me, tôi hỏi chị chủ nhà:

– Chị ơi! Gần đây có hố bom nào lớn không?

– Có, hố bom lớn lắm ở ngoài kia. Phía trước có hàng dừa là con mương lạn ngày xưa…

Mừng quá, mấy anh em lội ra ngay. Nhìn hố bom vẫn còn nguyên vẹn, nước vẫn trong veo như ngày nào. Lặng nhìn cảnh vật hôm nay, những kỷ niệm ngày nào hiện về trong tôi…

Hôm ấy, vào lúc 10 giờ ngày 12 tháng 4 năm 1971, mấy anh em đang nghỉ trưa, biệt kích vào nổ súng, các anh kịp thời chiến đấu. Khi giặc ồ ạt tràn qua, tôi và Sáu Bé vừa chạy ngang qua hố bom này thì Bé bị trúng đạn, ngã ngửa trên mặt nước hố bom. Tôi cứ ngỡ nó té, liền đứng lại gọi: Bé ơi! Bé! Thấy nó vẫn nằm yên, máu vọt ra đỏ cả một vùng. Tôi biết Bé đã hy sinh. Trên đầu “cán gáo”, trực thăng vũ trang, ngoài biển pháo hạm bắn lên, dưới đất thì bộ binh, không còn đường thoát, mấy anh em chỉ còn kịp chém vè (chạy – PV) vào một đám rán khô, rút chốt lựu đạn chờ chúng đến để cùng “chia”. Bọn này cũng nhát gan, đánh vào xong, rút ra ngay, không dám lùng sục nên mấy anh em hụt chết.

Tan giặc trở về, các anh vớt Bé lên, bộ quần áo đen mặc trong mình, ướt đẫm. Tìm được miếng cao su che tăng, bứt dây rừng bó Bé lại, đem đến chôn cạnh gốc me này. Khi chôn xong mấy anh em quay về đơn vị ở Hòn Đất. Đi mới hơn trăm mét, pháo hạm bắn lên làm bay mất nấm mộ, các anh phải ở lại đắp cho xong mới yên lòng đi tiếp. Từ ấy đến nay tôi mới có dịp trở lại.

Những đặc điểm cần tìm đã có đủ rồi, nhưng chưa đào tìm được vì nước còn cao quá. Chúng tôi đốt ít nén nhang, đem bánh ra cúng để ấm lòng đồng đội trong một chiều mưa bão và hứa với vong linh Bé rằng một ngày không xa, chúng tôi sẽ trở lại đưa Bé về nghĩa trang yên nghỉ và báo cho gia đình biết để viếng thăm. Chúng tôi trở về xã Bình Sơn.

Cơm nước xong hơn 4 giờ chiều, chúng tôi tranh thủ leo vào hang Hòn Me. Mưa liên tục, đất đá trơn trượt, anh Hà, Giang vẫn hăng hái đốt đuốc dẫn chúng tôi lần dò tìm tới những cửa hang, nơi đơn vị các anh, đơn vị chúng tôi chiến đấu ngày nào… Dù thời gian cứ trôi theo năm tháng, tôi vẫn nhớ như in… Đó là những giờ phút cuối cùng, giặc đã vây kín các cửa hang, gọi ta ra hàng. Đơn vị chúng tôi cùng đơn vị các anh phải chiến đấu suốt ngày đêm, giành với địch từng cửa hang, hốc đá, để bảo vệ cho cả tiểu đoàn tân binh miền Bắc mới vào chi viện cho miền Tây. Chỉ còn 25 phút nữa, được lệnh khẩn rút ra khỏi Hòn, Ban chỉ huy Đại đội chúng tôi đang hội ý bàn kế hoạch rút cho an toàn, bỗng nghe một tiếng nổ chát tai, đất đá đổ rào rào. Chúng tôi chạy tới, thì ra, một trái M79 địch bắn lọt vào cửa hang. Hiếu và Tám Hoa bảo vệ nơi ấy bị thương hết. Tám Hoa bị nặng quá, ít phút sau đó chị đã trút hơi thở cuối cùng.

Trong giờ phút khẩn trương quyết liệt này, chỉ còn kịp bó chị lại, để tại nơi ở hằng ngày. Tất cả đơn vị từng người, từng người đi qua cúi đầu chào vĩnh biệt để chị ra đi. Nỗi đau này, kỷ niệm này làm sao xóa nhòa trong tâm trí của chúng tôi. Giờ chúng tôi quyết tìm đến cửa hang, nơi để thi hài của chị thì được biết sau đó địa phương đã đưa ra nghĩa trang Hòn Đất rồi. Chúng tôi cố tìm thăm mộ và khắc tên cho chị.

Gần 6 giờ tối, không còn qua Hòn Đất kịp, chúng tôi tranh thủ đến viếng mộ chị Sứ, người con gái anh hùng trên đất Ba Hòn. Nơi đây, lúc đơn vị chiến đấu là điểm pháo của địch từ Hòn Sóc bắn qua. Xung quanh phần mộ ngày nào cũng bom cày, đạn xới. Hôm nay, ngôi mộ của chị đã được xây dựng khá khang trang. Trời mưa ẩm ướt, đốt cháy được bó nhang để viếng chị thật khó khăn.

Hết một ngày tìm kiếm, đoàn chúng tôi trở về thị xã Kiên Giang. Trên đường qua nghĩa trang Hòn Đất, dù trời đã tối, chúng tôi cũng phải dừng lại, đi tìm người quản lý để biết mộ chị Tám Hoa. Chẳng may người ấy mới tiếp nhận nên không rõ, đành phải nhờ anh Hà, Giang tìm giùm.

Xong nghĩa vụ phía Hòn Đất, chia tay với các anh ở Kiên Giang, em Thông có việc phải quay về, còn lại sáu anh em: Bảy Phi, Tám Điền, Thắm, Thu, Phượng và tôi đi về Hà Tiên – nơi chiến trường đầy gian lao và ác liệt, nhiều kỷ niệm nhất, cũng là nơi nhiều đồng đội tôi đã ngã xuống…

Sáng hôm sau, 4 tháng 8 năm 1997

Xe các anh Đài Truyền hình Kiên Giang đưa chúng tôi về Sư đoàn 4, trong gió mưa tầm tã…

Hơn 10 giờ sáng, đến Ban chỉ huy sư đoàn, anh Năm Núi, Sư phó (Phó sư đoàn trưởng – PV) tiếp chúng tôi. Khi nghe nói mục đích của đoàn đi, anh nói vui: “Đúng nguyên tắc, có giấy giới thiệu hẳn hoi chúng tôi mới tiếp các anh chị, nhưng trước tấm lòng cao quý của anh chị ở thời buổi này, hơn nữa, tìm đồng đội cũng là trách nhiệm chung của mọi người, tôi hứa sẽ hỗ trợ các anh chị đến cùng”. Anh cũng tâm sự với chúng tôi, ngày xưa các anh đã từng kề vai sát cánh với thanh niên xung phong. Các anh chị còn gian khổ hy sinh hơn chúng tôi, nhiều khi chuẩn bị cho trận đánh, các anh chị phải mang vác đạn pháo đến trước. Khi xong trận phải tải thương và thu dọn chiến trường…

Cơm nước xong trời đã xế chiều, mưa vẫn không ngớt. Các anh cho xe đưa chúng tôi đến vàm kinh Chiến Thắng. Nơi này vào năm 1969, đơn vị tôi đưa quân về miền Tây, lúc trở về bị biệt kích gài mìn dưới sông và không kích ở trên đầu doi Tám Ngàn. Khi đoàn ra mìn nổ, biệt kích Mỹ đi pho-ca bao vây 8 đồng đội của tôi chìm xuống dòng sông này, 5 người không thấy thi thể, còn 3 người trôi ra “ấp chiến lược” Vàm Rầy, dân lén vớt lên chôn cất. Chúng tôi tìm đến những người đã an táng các anh chị ngày ấy, họ đều đi vắng, phải ra tới mé biển Vàm Rầy. Khi gặp chúng tôi, nhờ diễn tả lại hình dáng của từng người, tôi biết ngay là chị Ba Cam và Út Mười Lăm. Còn một nam mặc đồ bộ đội, tôi không nhớ rõ là người nào vì quá lâu rồi.

Hỏi thăm xong, chúng tôi nhờ người ấy dẫn đến những nơi vớt từng người và chỗ an táng, thì được biết, ở xã đã đưa các anh, chị về nghĩa trang Hòn Đất cùng đồng chí xã đội phó hy sinh. Chúng tôi đã tìm đến mộ và nhờ những người chăm sóc nghĩa trang khắc tên cho các anh, chị. Còn 5 người không biết trôi dạt đến nơi nào không ai nhìn thấy. Ôi đau xót quá!

——-

Bài 1: Nơi sắt thép cũng bị nung chảy

Bài 3: Điều không thể mất

Hồng Hải
qdnd.vn

Tìm đồng đội trên tuyến lửa 1C (Bài 1)

Bài 1: Nơi sắt thép cũng bị nung chảy

QĐND – “Nhiều đêm gặp lại đồng đội mình trong giấc mơ, khi tỉnh giấc tôi luôn băn khoăn suy nghĩ và thầm ao ước được trở về chiến trường xưa, tìm nơi đồng đội mình đã ngã xuống năm nào, đem niềm an ủi dù rất muộn màng về cho gia đình họ. Đó là bổn phận, là trách nhiệm của những người còn sống hôm nay” – chị Lâm Thị Minh Tâm, Chủ tịch Hội Cựu TNXP thành phố Cần Thơ tâm sự với tôi như vậy.

Tôi biết chị Lâm Thị Minh Tâm đã lâu. Năm 2005, khi Hội Cựu TNXP Việt Nam giới thiệu các gương sáng cựu TNXP, chúng tôi đã rất xúc động khi nghe chị kể chuyện cùng với hai đồng đội (Tô Thị Tuyết Thu, Lê Thị Út Mãnh) thành lập tổ quy tập hài cốt đồng đội hy sinh trên tuyến lửa 1C.

Tuyến lửa 1C là tuyến nào? Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, dân tộc ta đã hình thành nên những con đường vận chuyển huyền thoại. Đường 1C có lịch sử oanh liệt, hào hùng không khác gì hai tuyến đường Hồ Chí Minh trên biển và xuyên Trường Sơn mà sử sách dân tộc đã mãi khắc ghi. Tuyến lửa 1C là đoạn nối tiếp giữa miền Đông và miền Tây Nam Bộ, kéo dài từ biên giới nước bạn Cam-pu-chia qua kênh Vĩnh Tế, Hà Tiên, Hòn Đất… cho đến kênh Cái Sắn (Kiên Giang). Vũ khí và con người từ hậu phương lớn phải đi qua con đường độc đạo này để đến với đồng bào miền Tây. Bao xương máu của lực lượng TNXP đã đổ xuống con đường này, không bút mực nào tả xiết. Đặc biệt hơn, lực lượng TNXP ở tuyến 1C chủ yếu là nữ. Họ đối mặt với lực lượng địch luôn đông gấp bội, với bom, đạn, đói khát và thiếu thốn trăm bề… nhưng tất cả đã không sờn lòng, nản chí, người trước ngã, người sau xông lên, quyết không để vũ khí rơi vào tay giặc và đưa kịp về chiến trường. Điểm khác của tuyến đường 1C với những chiến trường khác là lực lượng TNXP trụ ở đây, dù đánh giặc hay bị giặc càn quét, không được rút đi nơi khác, mà phải kiên gan giữ vững vị trí, dù địch có càn quét, phản kích, đánh bồi, đánh nhồi ngay nơi giặc biết rõ tên từng người, từng công sự. Ta vẫn phải kiên cường tồn tại ở nơi đã “lộ”, bởi đây là tuyến đường vận chuyển độc đạo, không có con đường nào khác. Những cuộc quần thảo khốc liệt giữa ta và địch cũng từ đó mà ra. Có người đã nói ngắn gọn: 1C là nơi sắt thép cũng bị nung chảy, tan ra nhưng con người đã đi qua được.

Minh Tâm là một chiến sĩ TNXP đã có mặt từ ngày đầu và cùng đơn vị bám trụ ròng rã 8 năm trên “tọa độ chết” ấy, cho đến ngày toàn thắng của dân tộc. Ngày 19-5-1967, mới 16 tuổi, chị đã âm thầm trốn nhà nhập ngũ vào Đại đội TNXP Nguyễn Việt Khái III do Tỉnh đoàn Cà Mau tổ chức. Cuộc chiến đấu khốc liệt nơi chiến trường 1C giờ đây là ký ức không thể nào phai mờ trong tâm hồn chị. Khi chúng tôi vào Cà Mau, rồi lần theo địa chỉ của những cựu TNXP cung cấp, tìm được chị ở ngay giữa thành phố Cần Thơ thì chúng tôi rất đỗi vui mừng. Nhưng khi hỏi chị về chuyện cũ, thì vì những lý do riêng, chị lại muốn vùi sâu, chôn chặt những kỷ niệm đó.

Các diễn viên trong vai thanh niên xung phong hoạt động trên tuyến đường 1C trong một cảnh của bộ phim truyện truyền hình Huyền thoại 1C dài 20 tập (kịch bản Anh Động, đạo diễn Nguyễn Thanh Vân, Hãng phim Tây Nam sản xuất). Ảnh minh họa/internet.

Minh Tâm có một cuốn nhật ký, ghi lại rất nhiều sự kiện đã trải qua trong cuộc đời chiến đấu cũng như hành trình đi tìm đồng đội về sau… nhưng chị không muốn tiết lộ. “Nước chảy, đá mòn”, chúng tôi đã kiên trì thuyết phục. Chúng tôi nán lại Cần Thơ, mỗi tuần, đến thăm gia đình chị vài ba lần, nhắc lại những câu chuyện một thời sôi nổi. Rồi theo lời khuyên của chị, tôi đã đi về Hậu Giang, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Trà Vinh, Cà Mau, Kiên Giang, Vĩnh Long… gặp được rất nhiều cựu TNXP trên tuyến lửa 1C. Trong những câu chuyện mà họ kể, hình ảnh nữ chiến sĩ Minh Tâm gan dạ, dũng cảm lại hiện ra sáng rõ.

Khi chúng tôi trở lại Cần Thơ, dường như cảm động trước tấm lòng của phóng viên Báo Quân đội nhân dân, chị Minh Tâm đã cởi mở hơn rất nhiều. Bao nhiêu tài liệu, hiện vật trong cuộc đời chiến đấu, chị đều cung cấp cho chúng tôi. Rồi chị tâm sự: “Tôi cũng như bao đồng đội TNXP khác có may mắn được trở về với đời thường. Niềm tâm sự đau đáu nhất của tôi là nghĩ về những người đã ngã xuống, còn nhiều lắm, vẫn nằm lại nơi đồng hoang, nước độc. Tôi cũng có một kỷ niệm không bao giờ quên, muốn được kể lại”.

Câu chuyện không bao giờ quên ấy xảy ra vào trung tuần tháng 5-1971. Lần đó, Ban chỉ huy Liên đội TNXP 1 của tuyến đường 1C cử cán bộ xuống triển khai nghị quyết của Đảng ủy về việc chuẩn bị rút ra khỏi Hòn Đất, Hòn Me, trở về gần biên giới Việt Nam – Cam-pu-chia, chuyển hướng hoạt động chủ yếu về phía sông Tiền. Thời gian này, địch tập trung đánh quyết liệt vào Hòn Đất, Hòn Me, căn cứ chính của Liên đội. Khi đó, nhiều cán bộ ở cơ sở bị giặc bắt, chịu không nổi tra tấn, đã khai với địch về đội hình và sự bố trí của Liên đội TNXP 1. Sư đoàn 9 của địch vừa đến thay Sư đoàn 21 nên rất hung hãn chỉ chực lập công. Bọn này có nhiều kinh nghiệm càn quét ở địa hình có nhiều hang núi. Khi còn trên đất bạn Cam-pu-chia, đơn vị của Minh Tâm đã đọ súng với chúng ở Sóc Mẹt. Hang nào muốn xuống đánh, chúng lượm đá chọi thử, nghe xem tiếng đá nông sâu rồi mới đánh. Lực lượng ta lúc đó quá ít, nhiệm vụ phải trụ lại căn cứ Hai Hòn cũng đã xong nên cấp trên quyết định tập trung trụ ở Hòn Me, chuyển hết số thương binh đi rồi rút lui bảo toàn lực lượng.

Đêm chuyển thương binh ở Bệnh xá Hòn Đất thật cảm động. Ngày 15-5-1971, giặc chiếm tất cả các hang hòn. Những tên phản bội dẫn giặc đến từng hang gọi tên anh chị em TNXP ra hàng. Ta không có cách nào đưa thương binh ra được, đành phải cử người bò vào động viên từng thương binh tự bò ra khỏi hang để TNXP đón phía dưới khiêng hoặc dìu đi. Nhiều thương binh bị gãy chân, tay vốn khó cử động, vậy mà trước tình thế đó đã tự bò ra khỏi hang. Đặc biệt nhất là có 3 thương binh bị bệnh não, cứ la hét ầm ĩ, không cách nào đưa đi được. Đơn vị Minh Tâm phải cử một tổ bảo vệ ở lại, tìm đường hầm bí mật đưa 3 thương binh ra. Nhưng bốn bên là giặc dày đặc, lại có bọn phản bội làm tai mắt rình mò, bọn địch đã thiết lập một mạng lưới vây kín các mặt. Các chiến sĩ bảo vệ nọ đã hy sinh cùng 3 thương binh. Còn trong số các thương binh tự bò ra được, có người đi lạc đường, Minh Tâm cùng đồng đội len lỏi trong đêm tối đi tìm, khi gặp được nhau, họ ôm lấy nhau mà rơi nước mắt.

Chiều 17-5-1971, Minh Tâm khắc sâu kỷ niệm đau buồn mà mãi cho đến ngày hôm nay, chị vẫn không sao quên được. Đó là sự hy sinh của người đồng đội Tám Hoa, người đã cùng chị chia sẻ mọi buồn vui trên tuyến đường lửa. Tám Hoa hy sinh đúng vào lúc đơn vị nhận lệnh rút khỏi hang, giữa lúc địch đã vây kín bên ngoài. Không còn thời gian chôn cất bạn, cũng không còn cơ hội mang bạn đi theo, Minh Tâm và đồng đội đã chăm sóc Tám Hoa lần cuối, rồi đặt người đồng đội vào đúng vị trí thường ngày chị vẫn ngủ, làm động tác chào trước lúc rút đi. Minh Tâm ngậm ngùi, lòng trào dâng bao cảm xúc, muốn gọi tên bạn nhưng cổ đã nghẹn lời. Cô thì thầm: “Hoa ơi, Tâm cùng tất cả đồng đội sẽ trả thù cho bạn”.

Cái chết của Tám Hoa chỉ là một trong rất nhiều sự hy sinh diễn ra ngay trước mắt Minh Tâm. Để rồi giờ đây, mỗi khi kỷ niệm ùa về, chị lại đứng ngồi không yên với muôn vàn cảm xúc. Chính vì thế, trên hành trình quy tập hài cốt đồng đội về sau này, việc tìm kiếm hài cốt của liệt sĩ Tám Hoa được chị Minh Tâm đặc biệt chú ý.

“Lần đầu tiên chị làm công tác thương binh, tử sĩ là vào khoảng giữa năm 1968, em ạ! Đó là quãng thời gian chị đang thử thách, chuẩn bị kết nạp Đảng” – chị Minh Tâm bất chợt nhớ lại.

Sống trên tuyến đường 1C, điều khiến các TNXP ngại nhất là thời điểm giao mùa, con đường nửa nước, nửa khô. Mỗi đêm đi công tác, qua mấy chục cây số lội sình, lội nước là điều rất gian khổ, cơ cực. Phải xắn quần để lội sình thì bị cỏ bắc cắt nát ống chân, qua đêm bị mủ sưng tấy, trắng bệch, chị em phải lấy nước gạo xát vào, rồi lại tiếp tục đi. Thời gian này, bộ đội chủ lực từ miền Bắc vào tăng cường cho miền Tây, nối nhau đi qua tuyến đường lửa máu mà đơn vị Minh Tâm phụ trách. Ta càng hành quân nhiều, đường 1C càng bị lộ, có lúc địch đánh ta hy sinh nhiều quá, các nam TNXP đi chôn cất không đủ, phải phân công cả nữ TNXP đi cùng. Lần đầu đi chôn cất đồng đội của Minh Tâm là vào dịp ấy. Đúng hôm chị vừa đi công tác về, được chỉ huy cho biết: Hai TNXP tên là Thim và Nhỏ được cử chở thương binh về miền Tây, mới tới Kinh Bèo thì bị máy bay cán gáo của địch bắn hy sinh hết. Cấp trên cử Minh Tâm phụ trách 4 đồng chí nữa đi chôn cất.

Đó quả là thử thách lớn đối với cô gái mới 17 tuổi. Nhiệm vụ được giao, Minh Tâm tự củng cố tinh thần rồi lên đường. Đến vị trí quy định thì thi thể 2 đồng đội đã hy sinh mấy ngày rồi, cơ thể bị phân hủy, bốc mùi rất khó chịu. Trước đó, máy bay địch rà qua, lại bắn thêm mấy loạt đạn khiến thi thể của hai đồng chí rã rời, nổi lềnh bềnh trên mặt sình. 5 chiến sĩ TNXP trẻ tuổi vẫn còn sợ ma, không ai dám đi trước nên hè nhau dàn hàng ngang cùng tiến. Vậy mà khi lại gần, thấy đồng đội mình đã hy sinh, lòng thương tiếc trỗi dậy dẹp đi mọi sợ hãi, cả 5 người sát cánh bên nhau tìm cách chôn cất bạn, ngụy trang cẩn thận trước khi trở về đơn vị. Từ lần đầu thử thách ấy, nhiệm vụ chôn cất đồng đội không còn là nỗi sợ hãi của Minh Tâm nữa.

———–

Bài 2: Trở lại Ba Hòn

Hồng Hải
qdnd.vn

Những ngày được gặp Bác ở An toàn khu

Đi theo hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, vinh dự lớn nhất của cụ Nguyễn Quang Thuận, 86 tuổi, ở xã Đại Hợp, huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng là những lần được về gặp Bác Hồ ở An toàn khu Định Hóa (Thái Nguyên), được Bác tặng quà, gắn Huy chương, chụp ảnh với Bác. Cụ Thuận kể:

Sáng sớm ngày 19-5-1954, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 367 Pháo cao xạ thông báo cụ và bốn chiến sĩ xuất sắc trong Chiến dịch Điện Biên Phủ về An toàn khu báo công và chúc mừng sinh nhật Bác. Nhận tin này, cụ vui mừng chạy đi khắp căn cứ Mường Phăng (Điện Biên) báo tin vui với đồng đội. Ngay sáng hôm ấy, cụ cùng Phạm Thế Nhuận, Đại đội trưởng đánh sân bay Mường Thanh; Hoàng Đăng Vinh, chiến sĩ bắt sống tướng Đờ-cát; Phạm Văn Phan, công binh đưa bộc phá vào giữa đồi A1 và Bạch Ngọc Giáp, chiến sĩ pháo mặt đất từ căn cứ Mường Phăng về An toàn khu.

Hồi đó, đường đi còn rất khó khăn, mọi người đến An toàn khu đã hơn 6 giờ chiều, được đồng chí Trường Chinh đón tại Nhà khách của Trung ương, dặn dò các chiến sĩ vài điều rồi dẫn mọi người đi ăn cơm. Khoảng 10 giờ 30 đêm ấy, vì đi đường mệt, cả năm anh em đang thiêm thiếp ngủ thì Bác đến. Mọi người choàng dậy đã thấy Bác ngồi bên giường. Ai cũng bất ngờ, bàng hoàng, xúc động. Bác ân cần hỏi chuyện mọi người và khuyên các chiến sĩ đi ngủ để giữ gìn sức khỏe. Từ lúc Bác ra khỏi phòng, mọi người không ai ngủ, cứ ngồi kể chuyện về Bác cho đến sáng. Hôm sau, Đại tướng Võ Nguyên Giáp báo tin lát nữa mọi người sẽ được gặp Bác, báo cáo chiến công với Bác và Bộ Chính trị. Nghe vậy, ai cũng sung sướng, hồi hộp chờ đợi. Khoảng 9 giờ 30 phút, Bác đón mọi người ngay sân vườn, phía trước lán trại Bác ở và làm việc. Cùng đứng với Bác ở phía sau có Bác Tôn Đức Thắng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, các đồng chí Trường Chinh, Văn Tiến Dũng và đồng chí Lê Liêm, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị. Bác tươi cười bắt tay hỏi chiến công từng người trong chiến dịch Điện Biên Phủ. Bác hỏi cho vui chứ thực ra ai lập công như thế nào Bác đã biết.

Sau khi nghe mọi người kể về chiến công và chúc thọ Bác, Bác bảo năm chiến sĩ đứng thành hàng ngang để Bác gắn Huy chương Chiến công. Bác còn nhờ đồng chí Các-men (Liên Xô) chụp ảnh cho Bác, Bộ Chính trị và các chiến sĩ xuất sắc trong Chiến dịch Điện Biên Phủ. Chụp ảnh xong, Bác bảo các đồng chí trong Bộ Chính trị đưa các chiến sĩ thăm An toàn khu, xong lại về gặp Bác.

Những ngày sau đó, trở về đơn vị, ai cũng phấn khởi, kể lại chuyện cho đồng đội nghe về những ngày được sống bên Bác ở An toàn khu. Tạm dừng câu chuyện, cụ Thuận đứng dậy mở cánh tủ lấy ra một hộp gỗ nhỏ, trong đó đựng rất nhiều Huân chương, Huy chương và tấm ảnh đen trắng được ép bọc rất cẩn thận. Đó là ảnh cụ Thuận cùng bốn chiến sĩ chụp chung với Bác và Bộ Chính trị ở An toàn khu. Cụ coi đây là một kỉ vật mang theo suốt đời.

Tiếp nối câu chuyện, cụ Thuận bảo, đúng một tháng sau sinh nhật Bác, năm chiến sĩ lại được trở về gặp Bác ở An toàn khu. Lần này, Bác đãi cơm mọi người ở ngay trong khu lán của Người. Vừa ăn, Bác vừa hỏi chuyện và gắp thức ăn cho từng người. Sau bữa ăn, Bác bảo đồng chí Trường Chinh đưa năm chiến sĩ đi thăm vườn rau của Bác. Đồng chí Trường Chinh kể, đây là vườn rau do Bác tự trồng, hàng tháng, Bác góp cho nhà bếp 15 kg rau và mỗi bữa Bác vẫn dành một nắm gạo cho chiến sĩ ngoài mặt trận. Trước khi chia tay, Bác đưa cho mỗi người một gói quà gửi về đơn vị và chuyển lời thăm hỏi tới anh em cùng gia đình. Rời An toàn khu mà lòng cụ Thuận thấy ấm áp, tai vẫn văng vẳng lời Người dạy bảo. Tình cảm của Bác đã tạo cho cụ Thuận một sức mạnh, tiếp tục cuộc trường chinh chiến đấu cho đến ngày đất nước thống nhất.

Rời quân ngũ trở về quê hương, phát huy tinh thần người chiến sĩ xuất sắc trong chiến dịch Điện Biên Phủ năm xưa, cụ Thuận tiếp tục cống hiến công sức để xây dựng quê hương. Nhiều năm cụ là Chủ tịch Ủy ban Mặt trận tổ quốc xã Đại Hợp, Hội trưởng Hội Bảo thọ, hoạt động tích cực trong Hội Cựu chiến binh và Hội Người cao tuổi…

Quốc Sĩ

Theo http://nguoicaotuoi.org.vn
Thu Hiền (st)
bqllang.gov.vn

Bác Hồ với giai cấp công nhân

anh BH ve nha may det ND
Bác Hồ về thăm Nhà máy Dệt Nam Định

Trong sự nghiệp hoạt động của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất chú trọng đến giai cấp công nhân như là động lực mạnh mẽ của phong trào giải phóng dân tộc theo khuynh hướng tiến bộ. Do vậy, từ khi ra đi tìm đường cứu nước, Người đã nhận ra vai trò lịch sử to lớn của giai cấp công nhân, đó chính là lực lượng đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến nhất, là giai cấp tiên phong trong công cuộc cách mạng làm thay đổi chế độ, giành độc lập và xây dựng đất nước.

Sau khi trở thành người cộng sản, trong nhiều việc lớn chuẩn bị cho dân tộc trên lộ trình cách mạng lâu dài, thì việc tìm kiếm những hình thức nhằm tập hợp, đoàn kết giai cấp công nhân Việt Nam hay đặt nền móng xây dựng những cơ sở đầu tiên cho tổ chức Công đoàn nước ta chiếm một phần không nhỏ trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Người.

Những ngày đầu chuẩn bị thành lập Đảng, Bác Hồ đã khẳng định vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân thông qua Đảng của mình. Trong hoàn cảnh lịch sử nước ta thuở ấy là một nước thuộc địa nửa phong kiến, kinh tế lạc hậu, chậm phát triển, lực lượng giai cấp công nhân còn nhỏ bé, song Bác vẫn khẳng định bản chất giai cấp của Đảng là bản chất của giai cấp công nhân thể hiện rõ tầm nhìn xa của một nhà tư tưởng lớn. Đây cũng là một trong những nguồn gốc sâu xa đưa đến những thắng lợi vẻ vang của Đảng ta trong công cuộc đấu tranh đánh đuổi giặc ngoại xâm, giành lấy độc lập tự do cho dân tộc. Và trong suốt quá trình tồn tại và phát triển của mình, giai cấp công nhân Việt Nam được Bác và Đảng rèn luyện, giáo dục đã dần dần ý thức được trách nhiệm to lớn và nặng nề của mình đối với dân tộc và tự giác trở thành lực lượng lãnh đạo, nòng cốt trong khối liên minh công, nông và đội ngũ trí thức.

Từ những năm 1920, Bác Hồ đã rất chú ý đến chức năng bảo vệ quyền lợi cho người lao động, một chức năng quan trọng nhất của tổ chức Công đoàn. Từ những cơ sở Công hội đầu tiên trên đất Pháp, những hội tương tế mang nặng tính chất phường hội thị dân, từ những “đốm lửa” Công hội Đỏ đầu tiên của Tôn Đức Thắng ở Sài Gòn – Chợ Lớn đầu những năm 1920, cùng với sự xâm nhập của tư tưởng xã hội chủ nghĩa vào nước ta qua Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên; từ những năm 1926 phong trào công nhân phát triển như gió lốc, đặc biệt theo sáng kiến của Nguyễn Ái Quốc nêu ra ở Quảng Châu, những học trò ưu tú của Người như Nguyễn Đức Cảnh, Ngô Gia Tự đã phát động phong trào vô sản nổi tiếng, làm cho tổ chức Công hội ở Bắc và Trung Kỳ thực sự lan rộng, phát triển mạnh mẽ như nấm mọc sau cơn mưa rào. Đó cũng chính là bối cảnh để Đông Dương Cộng sản Đảng giao trọng trách cho đồng chí Nguyễn Đức Cảnh triệu tập Hội nghị thành lập Tổng Công hội Đỏ Bắc Kỳ vào ngày 28/7/1929, tại số 15 Hàng Nón, Hà Nội – là tiền thân của tổ chức Công đoàn ngày nay. Đại hội còn quyết định ra Báo Lao động và Tạp chí Công hội Đỏ làm cơ quan ngôn luận của tổ chức mình.

Trong chuyến thăm và nói chuyện với cán bộ, giáo viên và học viên Trường Cán bộ Công đoàn vào ngày 19/01/1957, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Công đoàn phải tuyên truyền đường lối, chính sách chung của Đảng, vì Đảng mình là Đảng của giai cấp vô sản. Đường lối chung là giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp. Giai cấp mà không có Đảng lãnh đạo thì không làm cách mạng được, Đảng mà không có giai cấp công nhân cũng không làm được gì. Đảng là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời cũng là đội tiên phong của dân tộc”.

Trong bài nói chuyện tại Đại hội Công đoàn toàn quốc lần thứ II vào tháng 02 năm 1961, Bác Hồ khẳng định: “Phát minh, sáng kiến, cải tiến kỹ thuật cũng là vấn đề quan trọng. Phải nhận rằng đại đa số công nhân ta đều cần cù, thông minh và có nhiều sáng kiến hay… Nếu Công đoàn biết khuyến khích, áp dụng, cải tiến và phổ biến rộng rãi những sáng kiến ấy thì năng suất lao động sẽ nâng cao không ngừng”. Người còn chỉ ra rằng: “Công đoàn phải có biện pháp thiết thực để nâng cao trình độ văn hóa và kỹ thuật của công nhân, phải tùy khả năng cộng với cố gắng mà nâng cao dần đời sống vật chất của họ; phải chú ý bảo vệ sức khỏe, bảo vệ an toàn lao động và tăng cường công tác vệ sinh…”.

Từ những lời dạy ấy, chúng ta nhận thấy rõ ràng, trách nhiệm của giai cấp công nhân ngày nay càng nặng nề hơn, những thành tựu về khoa học kỹ thuật đã giúp con người dần dần giải phóng sức lao động chân tay, phát huy hiệu quả của lao động trí óc, giai cấp công nhân, do vậy phải không ngừng phát triển cả về số lượng lẫn chất lượng. Tổ chức Công đoàn các cấp không ngừng đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động, dấy lên nhiều phong trào thi đua lao động sản xuất, tạo ra nhiều sản phẩm chất lượng cao góp phần làm giàu cho đất nước. Những thành quả về các ngành công nghiệp điện, khai thác dầu, chế biến nông lâm thủy hải sản, hàng tiêu dùng và công nghệ vi sinh, công nghệ thông tin… đã góp phần đóng góp không nhỏ của giai cấp công nhân. Hiện nay, Đảng và Nhà nước ta đặc biệt chú trọng đến việc phát huy vai trò trách nhiệm của giai cấp công nhân.

Những năm gần đây, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương chính sách quan tâm thiết thực đến người lao động, nhất là đối với giai cấp công nhân như đã ban hành Luật và các văn bản dưới luật quy định về chế độ lao động, an toàn lao động, bảo hiểm xã hội… Đời sống của lực lượng công nhân không ngừng được cải thiện. Lực lượng công nhân của nước ta đã phát huy được tính cần cù, sáng tạo và thông minh, nhanh chóng tiếp thu được những tiến bộ của nhân loại khi tham gia các công trình lớn có sự chuyển giao khoa học công nghệ của các nước tiên tiến mang lại nhiều hy vọng và tự hào cho giai cấp mình, xứng đáng với sự quan tâm của Đảng và Bác Hồ.

Với bản chất cách mạng, sự kiên định, vững vàng về chính trị, giai cấp công nhân nước ta là lực lượng đi đầu trong sự nghiệp đổi mới đất nước hiện nay, là cơ sở chính trị – xã hội căn bản của Đảng, chỗ dựa vững chắc của Nhà nước, giữ vai trò nòng cốt trong khối liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, nền tảng của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đóng góp trực tiếp và to lớn vào sự phát triển chung của đất nước, góp phần tạo nên tầm vóc mới, thế và lực mới của đất nước trong quá trình hội nhập quốc tế.

Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam Đặng Ngọc Tùng đã nhận định: Trong những năm đổi mới, tổ chức và hoạt động của Công đoàn đã vận động, tập hợp ngày càng đông đảo công nhân, viên chức, lao động vào tổ chức Công đoàn, đi tiên phong trong thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; chăm lo, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của công nhân, viên chức, lao động; tích cực đấu tranh với những hiện tượng tiêu cực, lãng phí, tham nhũng, các biểu hiện vi phạm pháp luật lao động. Các phong trào thi đua “Lao động giỏi, lao động sáng tạo”, “Sáng kiến, tiết kiệm”, “Phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và phát triển nông thôn”… do Công đoàn phát động đạt nhiều hiệu quả cụ thể, thiết thực. Đặc biệt, tổ chức Công đoàn đã và đang triển khai thực hiện tốt các cuộc vận động do Mặt trận tổ quốc Việt Nam phát động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”, “Ngày vì người nghèo”…

Có thể nói, tổ chức Công đoàn Việt Nam luôn kiên định: Thấm nhuần tư tưởng Hồ Chủ tịch và quan điểm của Đảng, giai cấp công nhân là giai cấp lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiền phong là Đảng Cộng sản Việt Nam; giai cấp đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến và đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Sự lớn mạnh của giai cấp công nhân là một điều kiện tiên quyết bảo đảm thành công của công cuộc đổi mới. Xây dựng giai cấp công nhân lớn mạnh phải gắn kết hữu cơ với xây dựng, phát huy sức mạnh của liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng, của tất cả các giai cấp, các tầng lớp xã hội trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc; đồng thời tăng cường quan hệ đoàn kết, hợp tác quốc tế với giai cấp công nhân trên toàn thế giới; chống lại mọi âm mưu chia rẽ tổ chức Công đoàn, chia rẽ giai cấp công nhân, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Nguyễn Thị Mỹ Phương
Theo
www.lđldct.org.vn
Kim Yến
(st)
bqllang.gov.vn

Và đây là việc không ai có thể làm thay Nhà nước

Cho rằng cần phải đủ dũng cảm và thông thái để nhìn nhận rõ từng trạng thái kinh tế thực tế. Phải có những cơ quan nghiên cứu để xác định những giới hạn hợp lý trong từng trạng thái phát triển kinh tế một, để giúp Nhà nước thấy rõ những cái ngưỡng, và ngoài những cái ngưỡng ấy thì Nhà nước buộc phải có sự chuẩn bị tinh thần để đối phó với rủi ro. Và đây là việc không ai có thể làm thay Nhà nước được, Chuyên gia kinh tế Nguyễn Trần Bạt đã nhấn mạnh như vậy tại Hội thảo đầu tư và thị trường tài chính vừa qua.

>> Cần phải hiểu Nhà nước là một khối thống nhất, không phải chỉ của riêng từng bộ

Môi trường đầu tư mất cân đối

Việt Nam là nước có tỷ lệ vốn đầu tư/GDP luôn ở mức khoảng 40% trong những năm gần đây, thuộc nhóm cao nhất trong khu vực Đông Nam Á và tỷ lệ tăng trưởng vẫn được duy trì ở mức cao. Tuy nhiên, nếu nhìn vào các chỉ số đầu vào của tăng trưởng, như các chuyên gia đã chỉ rõ thì tăng trưởng của Việt Nam vẫn chủ yếu dựa vào vốn, còn các yếu tố về lao động và năng suất, các yếu tố tổng hợp, trong đó có năng suất lao động vẫn còn ở mức khiêm tốn. Chỉ số năng lực canh tranh của Việt Nam theo đánh giá của Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF), hiện đang xếp ở mức 75/144 nền kinh tế được khảo sát. Trong đó, 2 trong 3 nhóm tiêu chí để đánh giá là các yếu tố thúc đẩy hiệu quả nền kinh tế và các yếu tố thúc đẩy sự đổi mới của nền kinh tế của Việt Nam đều rơi vào mức rất thấp (lần lượt xếp hạng 90 và 91).

Theo nhận định của chuyên gia Nguyễn Trần Bạt tại Diễn đàn đầu tư và tài chính ngân hàng được tổ chức mới đây, sự mất cân đối vĩ mô của Việt Nam thể hiện ở chỗ mất cân đối trong mục tiêu phát triển công nghiệp. Hiện chúng ta chỉ mải mê kiếm tìm các dự án chứ chưa xác lập được các ngành công nghiệp. Thế nên, sau thời gian dài phát triển, chưa có một ngành công nghiệp nào được định hình rõ rệt, mặc dù tên gọi của chúng đã xuất hiện, chẳng hạn như công nghiệp ô tô, đóng tàu, thép… Cái gốc là nền tảng của công nghệ chưa hề có, chưa có những chỉ tiêu công nghiệp để kêu gọi, để khuyến khích, để ưu tiên.

Tiếp đến là mất cân đối trong đầu tư kinh tế và đầu tư vào các lĩnh vực xã hội phát triển con người; giữa phát triển công nghiệp và nông nghiệp. Đầu tư cho kinh tế thời gian qua luôn chiếm trên 75% trong khi đầu tư cho xã hội cực kỳ khiêm tốn. Mặt khác, trong khi chiếm đến 70% dân số cả nước làm trong khu vực nông nghiệp nhưng nguồn lực đầu tư vào lĩnh vực này kém xa so với các lĩnh vực khác. Cụ thể, nguồn lực đầu tư cho lĩnh vực này luôn biến thiên trong khoảng 10% tổng nguồn lực đầu tư. Việc đầu tư công nghiệp ồ ạt thời gian qua đã dẫn đến thu hẹp diện tích đất nông nghiệp và những bất ổn xã hội liên quan đến thu hồi đất. Điều này không được giải quyết triệt để có thể kéo theo nhiều bất ổn khác.

Nguồn lao động của nước ta cũng đang mất cân đối nghiêm trọng. Lao động của Việt Nam còn rất nhiều vấn đề như trình độ thấp, kỷ luật lao động thấp và một chế độ quản lý người lao động rất lỏng lẻo. Đa phần các doanh nghiệp khi tuyển lao động đều phải tiến hành đào tạo lại. Theo kết quả khảo sát Thiếu hụt lao động kỹ năng ở Việt Nam do Viện Khoa học lao động và xã hội, Bộ LĐ, TB và XH khảo sát trên 6.000 doanh nghiệp, chất lượng lao động của nước ta xếp ở mức 10% – mức đáy so với khu vực. Và như vậy, khi muốn và kêu gọi đầu tư các dự án công nghệ cao thì lực lượng lao động không thể đáp ứng và làm chủ được công nghệ thì ước muốn kia thật khó có thể thực hiện được!

Cũng theo chuyên gia Nguyễn Trần Bạt, môi trường đầu tư của Việt Nam đang mất cân đối lớn về năng lực phục vụ tài chính. Các ngân hàng hiện nay có thể quản lý 10 tỷ, 20 tỷ USD, nhưng quản lý một dự án 10 tỷ USD thì không thể vì phải có năng lực thẩm định công nghiệp. Nước ta chưa có bất kỳ một tổ chức tín dụng nào đủ trình độ chuyên nghiệp để quản lý một dự án công nghiệp 10 tỷ USD, mà hiện nay, nước ta càng ngày càng có nhiều dự án như thế.

Năng lượng hiện cũng đang được dự báo có sự mất cân đối lớn. Sự mất cân đối chủ yếu do việc không thể bảo đảm cung cấp đủ năng lượng đối với nhu cầu ngày càng tăng của đất nước. Theo số liệu thống kê của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam VCCI mới đây, dự kiến đến năm 2015, Việt Nam sẽ phải nhập khẩu năng lượng và đến năm 2025 thì Việt Nam chỉ đáp ứng được 30% nhu cầu tiêu thụ năng lượng trong nước. Sự thiếu hụt này đòi hỏi một sự gắn kết

Ổn định vĩ mô cho môi trường đầu tư từ đâu?

Trong việc xác lập lại ổn định vĩ mô cho môi trường đầu tư, chuyên gia Nguyễn Trần Bạt cho rằng, cần phải xác lập sự cân đối cho không gian kinh tế, đồng thời xác lập lại cách nhìn nhận đối với vấn đề tài chính và quan niệm về phân cấp quản lý và thẩm định đầu tư. Mặt khác, chất lượng môi trường đầu của Việt Nam có được nâng cao được hay không phải trông chờ vào sự thành công của công cuộc cải cách giáo dục đào tạo.

Nhìn từ không gian kinh tế Việt Nam cho thấy, hiện đang có dấu hiệu biến một nền kinh tế thống nhất thành 63 nền kinh tế khi mà chúng ta mở rộng phân cấp cho các địa phương. Trong quá trình phân cấp, nếu như thiếu một bản quy hoạch thống nhất, khoa học cho nền kinh tế sẽ dẫn tới sự phát triển tự phát mất cân đối vĩ mô. Bối cảnh mà tỉnh nào cũng đua nhau làm sân golf, cảng biển, khu công nghiệp, khu kinh tế cạnh tranh nhau thay vì có một sự phân công dựa vào nguồn lực cụ thể và sự kết nối thống nhất giữa các khu vực kinh tế. Điều cần nhất là tất cả các đối tượng đầu tư, nội dung đầu tư ở mỗi địa phương phải nằm trong một quy hoạch đầu tư chuẩn, cái đấy chính là hạt nhân, là nền tảng của sự ổn định vĩ mô của một nền kinh tế.

Bên cạnh sự mất cân đối giữa không gian kinh tế vùng, còn có sự mất phân công giữa không gian kinh tế Nhà nước và kinh tế tư nhân. Hiện nay kinh tế của chúng ta phát triển theo thế lực của nó. Mà xét trên các yếu tố từ chủ trương, tín dụng, mặt bằng đất đai… tất cả các ưu thế chính trị xã hội và vật chất đều nằm ngoài khu vực kinh tế tư nhân. Chuyên gia Nguyễn Trần Bạt đặt câu hỏi: vậy ai sẽ làm ăn với “người yếu” như những doanh nghiệp tư nhân của Việt Nam? Ông kết luận, khu vực tư nhân không chỉ bị các định kiến thông thường ở trong nước bỏ rơi mà còn bị cả đầu tư nước ngoài bỏ rơi nữa. Đấy là một “thảm trạng” của sự phát triển.

Trong không gian kinh tế, hiện cũng đang diễn ra tình trạng mất cân đối kinh tế giữa không gian nội địa và không gian hướng ngoại. Khi nền kinh tế bị xô lệch theo hướng xuất khẩu, thị trường trong nước bị bỏ ngỏ cho hàng hóa chất lượng thấp của nước ngoài tràn ngập. Đã đến lúc cần phải có những đầu tư đủ mạnh để có thể kiến thiết, có thể đặt nền móng cho những ngành công nghiệp tiêu dùng với một thế hệ công nghệ cao hơn, với một chất lượng hàng hóa tốt hơn, sẵn sàng đón lõng sự phát triển của chất lượng tiêu dùng cho thị trường nội địa 100 triệu dân trong những năm tới. Tóm lại, xác lập lại sự cân đối của một tổng phổ kinh tế để biến nó trở thành một ý chí chính trị của tất cả các nhánh quyền lực là công việc quan trọng. Công việc này gắn liền với trách nhiệm của Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

Về phân cấp quản lý và thẩm định đầu tư, việc tổ chức lại quy trình thẩm định các dự án cần phải dựa trên một kế hoạch phát triển nền kinh tế rõ ràng. Do vậy, cần phải nghiên cứu lại chế độ phân cấp; phải có các quy định rõ ràng rành mạch về các giới hạn, đến tỉnh thì làm đến bao nhiêu, động chạm đến bao nhiêu tài nguyên, bao nhiêu đất đai, bao nhiêu tín dụng; trên mức ấy thì thuộc về quyền của Chính phủ. Tất cả các giới hạn như vậy phải nằm trong sự kiểm soát của Quốc hội, dự án nhỏ cũng phải kiểm soát chứ không phải 35.000 tỷ đồng mới bắt đầu kiểm soát.

Ngoài ra, cũng cần quan niệm lại vấn đề trách nhiệm trong phân cấp đầu tư. Trách nhiệm của những người đứng đầu ở các địa phương trong việc thẩm định các dự án đầu tư cần phải được quy định trong luật. Hiện nay, chưa có một hệ thống pháp luật đủ để quy định trách nhiệm, kể cả thưởng lẫn phạt những người chỉ huy ở các cấp độ khác nhau của hệ thống nhà nước. Đặc biệt, trong các dự án đầu tư, cần đạt được sự đồng thuận xã hội, đặc biệt là trong vấn đề thu hồi đất. Sự đồng thuận xã hội chính là thước đo thực chất và sự hiệu quả trong hoạt động của Nhà nước của dân, do dân, vì dân.

Cuối cùng, vấn đề cốt lõi, vấn đề vẫn được coi là quốc sách hàng đầu là giáo dục làm sao để có thể hoàn thành đầy đủ 2 sứ mệnh là dạy người và dạy nghề. Câu hỏi đặt ra là tại sao lao động nước ta lại đang khủng hoảng về chất lượng như vậy, tại sao chỉ số thông minh của dân tộc không hề thấp, người lao động cần cù, khéo léo mà năng suất lao động vẫn xếp ở đáy của khu vực và thế giới? Và mục tiêu tạo ra đội ngũ lao động có kỹ năng, đáp ứng nhu cầu của thị trường cũng như đủ bản lĩnh để làm chủ chính mình và phát huy sức sáng tạo trong các môi trường lao động khác nhau bao giờ sẽ trở thành hiện thực?

Tự Cường
daibieunhandan.vn