Archive | 2012

Phụ nữ phương Đông (5-1924)

Phụ nữ Thổ Nhĩ Kỳ tham gia bảo vệ đất nước chống sự xâm lược của chủ nghĩa đế quốc phương Tây.

Phụ nữ ấn Độ vùng lên chống sự đô hộ của Anh. Phụ nữ Trung Quốc tham gia cuộc cách mạng nǎm 1912. Phụ nữ Triều Tiên đã và đang đấu tranh vì độc lập của Tổ quốc. Phụ nữ Nhật Bản đã buộc Chính phủ phải huỷ bỏ đạo luật cấm phụ nữ tham gia đời sống chính trị và v.v..

Trong đời sống kinh tế những “bông hồng” của phương Đông bắt đầu tỏ cho chủ nghĩa tư bản thấy ở họ có những chiếc gai nhọn. Những cuộc bãi công của nữ công nhân ở các nhà máy và xưởng dệt lụa không còn là hiện tượng hiếm nữa.

Trong các tổ chức công đoàn Nhật Bản, phụ nữ chiếm một tỷ lệ đáng kể. Đoàn Thanh niên cộng sản Trung Quốc mới thành lập được ba nǎm đã có trong hàng ngũ của mình hơn 150 nữ công nhân và nữ sinh viên.

Từ khi đồng chí Lênin mất, các tổ chức chính trị, vǎn hoá và các tổ chức khác của học sinh các nước phương Đông tổ chức nhiều cuộc mít tinh và hội họp.

Dưới đây là lời kêu gọi của một nữ sinh viên đǎng trên Báo Phụ nữ ở Thượng Hải (Trung Quốc):

“Hỡi các chị em!

Từ khi có chủ nghĩa tư bản, toàn bộ cơ thể xã hội đều bị ảnh hưởng tai hại của nó. Các vật phẩm do tất cả mọi người sản xuất ra, đáng lẽ phải thuộc về tất cả mọi người thì lại thuộc đặc quyền của một vài người! ách áp bức kinh tế đã nô dịch con người, cũng ách áp bức ấy đã biến phụ nữ thành những đồ vật tuỳ thuộc quyền sử dụng của nam giới!

Từ bao thế kỷ nay, bao nhiêu triệu con người đã bị xiềng xích như thế ? Bao nhiêu triệu đàn bà đã bị hy sinh?

Trong lúc cuộc chiến tranh thế giới đang diễn ra ác liệt, trong lúc hàng triệu người không làm hại đến ai, đang muốn sống, nhưng lại bị đưa vào chỗ chết, Lênin đã đạp bằng gian khổ và khó khǎn, đã thức tỉnh giai cấp vô sản Nga nổi dậy, đã tổ chức các xôviết.

Lênin không những chỉ giải phóng nam giới và nữ giới trên đất nước Tiên sinh, mà còn chỉ đường cho tất cả những người nghèo khổ trên thế giới. Và bất chấp bọn bạch vệ tấn công ở bên trong, bọn tư bản bao vây ở bên ngoài, ý chí kiên cường của Lênin đã cứu đồng bào của Tiên sinh ra khỏi cảnh đau khổ và lầm than, và đã nêu cao ngọn cờ của Quốc tế cho tất cả những người bị áp bức.

Điều đó há chẳng đáng để ta kính cẩn mặc niệm trước anh linh vĩ đại của Tiên sinh hay sao ?

Ngày 21 tháng 1 há chẳng mãi mãi là một ngày tang cho tất cả những nam nữ đang chịu khổ cực hay sao?

Nước Nga đang đến phồn vinh. Nhưng muốn có được một nền hoà bình thực sự thì còn phải tiến lên hơn nữa và còn phải làm nhiều việc nữa. Loài người đang thức tỉnh, nhưng muốn tự giải phóng hoàn toàn thì còn phải đấu tranh (1) “.

Lời kêu gọi trên đây nói lên rằng đã có một bước ngoặt lớn ở các nước phương Đông từ khi ngọn cờ đỏ in hình búa liềm tung bay trên nước Nga sa hoàng.

NGUYỄN ÁI QUỐC

Tạp chí Rabótnhitxa, tiếng Nga, số 9, tháng 5-1924.
cpv.org.vn

Những cái tốt đẹp của nền vǎn minh Pháp (17-6-1924)

Trong cuộc thảo luận về vấn đề đại diện của dân bản xứ các thuộc địa tại Quốc hội Pháp, ông Pôn Tápponniê đã phát biểu ý kiến ở Hạ nghị viện như sau:

“Nước Pháp vốn hào hiệp và đức khoan nhân của nước Pháp được biểu hiện trong mọi trường hợp. Không có gì có thể sánh tầy nền vǎn minh Pháp” . Chúng tôi thành thật cảm ơn ông nghị ấy đã cho chúng tôi dịp tốt kể ra đây một số đức tính bất hủ của nước Pháp – ngoài cái đức tính rất cương quyết khai hoá dân bản xứ bằng đại bác và lưỡi lê.

Lễ độ. – Khuôn phép thực dân muốn rằng bất cứ người dân bản xứ nào – dù địa vị, tuổi tác ra sao, dù nam hay nữ – đều phải cúi đầu kính cẩn chào người Âu. Người ta từng thấy ở Đông Dương, ở Mađagátxca những người dân bản xứ bị ngược đãi, đánh đập và bị bỏ tù, chỉ vì Đã QUÊN Tỏ DấU TÔN KíNH Đó TRƯớC ĐứC UY NGHIÊM CủA CáC Vị ĐI KHAI Hoá. Mới đây thôi, một vị quan cai trị ở Métgiana (Angiêri) đã ra lệnh bắt những người dân bản xứ trong vùng cai trị của mình, vì mải làm không trông thấy quan lớn đi dạo chơi qua, nên đã dám không chào ngài.

Rộng lượng. – ở Đông Dương, thường nhân dịp đi chơi của một ông Giốpphrơ hay sinh nhật một ông Clêmǎngxô chẳng hạn, hoặc khánh thành một đài “liệt sĩ chết vì Tổ quốc” hoặc tiếp đón một phái viên của nền cộng hoà, thì các quan cai trị đều có mở “lạc quyên”. Các quan đã dùng cách như sau: Quan lớn cai trị cứ việc dựa theo dân số và thuế bạ của tỉnh mà quy định số tiền cần thiết cho cuộc lễ, nhân số tiền đó lên gấp 3, gấp 4 hay gấp 5, định ngày nộp, rồi đòi các kỳ hào hương lý đến và nói với họ: “Quan lớn cần tiền, đây là số tiền quan lớn muốn có, đây là kỳ hạn quan lớn định cho các người để nộp cho quan lớn. Hãy liệu lấy đấy. Nếu không thì…”. Để khỏi ngồi tù, các kỳ hào hương lý cứ việc mà “liệu”. Số tiền bị nhân lên của cuộc lạc quyên ép buộc thì dùng để “tỏ lòng tôn kính các bậc đại nhân”, còn số thành của bài tính nhân thì chui vào túi của quan lớn cai trị. Nông dân cứ è cổ đóng các thứ phụ thu luôn luôn như thế.

Lòng hào hiệp. – Tiếp theo châm ngôn “Đã có nước Đức trả” là câu châm ngôn “Đã có các thuộc địa trả”. Nước mẹ đòi hỏi các thuộc địa phải đưa tất cả sức lực của mình, tất cả khả nǎng của mình, tất cả ý chí của mình, tất cả tài nguyên của mình để giúp vào việc phục hưng kinh tế của nước mẹ, trong khi đó thì nước mẹ lại vừa cấm xuất khẩu pôtát của Andátxơ sang thuộc địa, để hoàn toàn dành riêng sản phẩm đó cho nông nghiệp Pháp.

Bình đẳng. – Các công dân Pháp phải làm quân dịch mười tám tháng; dân bản xứ các thuộc địa thì buộc phải phục vụ ba, bốn nǎm dưới ngọn cờ mà… mà… mà rốt cuộc người ta đã nhân danh nó để nhập vào nước họ rượu cồn, thuốc phiện, chế độ lao dịch, chế độ bốc vác nặng nề, chế độ dân bản xứ và sự cướp đoạt. Trong lúc người bản xứ bị tù đày vì những duyên cớ vu vơ, thì bọn thực dân và bọn quan cai trị phạm tội giết người, hối lộ, mua bán chức tước, ǎn cắp, vẫn nhẹ bước thang mây. Tôi không nói đến ngài Đáclơ, uỷ viên Hội đồng quốc gia tư vấn Nam Kỳ, hay ngài Bôđoanh, toàn quyền Đông Dương; chuyện của các vị ấy đã qua ba nǎm nay rồi. Tôi muốn nói đến hai viên chức ở Angiêri hồi tháng 4 vừa rồi, đã bị tố cáo công khai về tội dùng giấy tờ giả mạo, về tội thụt tiền công quỹ cùng các tội nặng khác, nhưng lại được tha bổng. Tôi cũng muốn nói đến mấy vị uỷ viên Hội đồng tư vấn người Âu cũng ở xứ thuộc địa đó, phạm tội giết người hay quả tang đồng lõa giết một dân bản xứ, mà vẫn không bị người ta đụng gì đến.

Tự do. – Một ngạn ngữ Gôloa nói rằng “Lao động là tự do”. Vậy nên dân bản xứ buộc phải làm lao động khổ sai. Mới đây Thượng nghị viện Pháp lại đã trịnh trọng thông qua bản tường trình của viên Toàn quyền xứ Đông Phi thuộc Pháp. Bản thuyết trình đó nói rằng “cần phải tránh những ảo tưởng cũng như những công thức; rằng sản xuất bông là một vấn đề của Nhà nước; rằng muốn đạt kết quả thì phải bắt buộc dân bản xứ trồng bông…”.

Bằng phương pháp đó, các thuộc địa hằng nǎm tất phải cung cấp được cho nước Pháp 10.000 tấn bông. Phương pháp đó đã từng được dùng ở Tây Phi thuộc Pháp (1) đối với vấn đề ca cao… Người ta cũng đã áp dụng phương phápđó đối với vấn đề bông và nǎm 1916, đã thu được tại vùng Bờ Biển Ngà 600 tấn bông.

Tuy vậy, nước Pháp dĩ nhiên vẫn là kẻ giải phóng cho loài người và là chiến sĩ tiền phong trong công cuộc huỷ bỏ chế độ nô lệ.

Nhân đạo. – Ông Boanớp, nghị sĩ da đen nói: Nước Pháp bảo hộ kẻ yếu và dạy dỗ những người lạc hậu. Misơlê nói: nước Pháp là chiến sĩ tiên phong của vǎn minh và là người đem lại các quyền tự do. Xarô, cựu Thủ hiến và Thủ hiến tương lai của Đông Dương nói: Chính sách thuộc địa của Pháp đầy tính chất nhân đạo và vị tha. Tạp chí Hàng không quân sự một lần nữa vừa cho ta biết rằng ở các thuộc địa người ta hiểu về lòng “nhân đạo” như thế nào. Xem đây: Thống chế Liôtây, toàn quyền Marốc, tổng chỉ huy quân đội T.O.M (2) đã cấm dùng đạn nổ có hơi ngạt và hơi làm chảy nước mắt, bởi vì… Nhưng ta hãy trích dẫn lời tạp chí đó: “Bởi vì mục đích nhằm đạt tới dĩ nhiên không phải là giết cho được nhiều người phiến loạn, mà là nhanh chóng làm cho họ phải phục tùng…”.

Với sự quá ư ân cần chǎm sóc đó, mà từ 1919, nghĩa là sau khi “công lý” và “chính nghĩa” thắng lợi trên thế giới thì ở Marốc, người ta đã giết hại 800 lính Pháp, 5.000 người Môrơ để sáp nhập 72.700 hécta ruộng đất cướp đoạt của người Marốc vào nước Pháp – “nước Pháp rộng 1 triệu mét vuông và 100 triệu dân cư”(1) .

NGUYỄN ÁI QUỐC

Tập san Inprekorr, tiếng Pháp,
số 32, ngày 17-6-1924.
cpv.org.vn

——————————–

(1) Ngay sau khi Nguyễn ái Quốc gửi bản Yêu sách của nhân dân An Nam tới trưởng đoàn các nước dự Hội nghị Vécxây, bọn bồi bút thực dân lồng lộn. Trên tờ Courrier Colonial ra ngày 27-6 có một bài nhan đề Giờ phút nghiêm trọng chỉ trích bản yêu sách : “Làm sao một người dân thuộc địa lại có thể dùng bản yêu sách của nhân dân để công kích Chính phủ Pháp. Thật là quá quắt. Cứ theo đà này thì bọn dân thuộc địa sẽ lên ngang hàng với người Pháp chúng ta và sớm trở thành ông chủ của chúng ta. Không được, phải kìm giữ chúng mãi mãi trong vòng nô lệ”. Nguyễn ái Quốc viết bài này là để trả lời bài báo sặc mùi thực dân trên. Tr. 1.

(2) Bản Yêu sách của nhân dân An Nam: Năm 1918, Chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc. Ngày 18-1-1919, đại biểu các nước đế quốc tham gia chiến tranh họp hội nghị ở Vécxây (Pháp). Hội nghị này (còn gọi là Hội nghị hoà bình Pari) nhằm xác định sự thất bại của Đức và các nước đồng minh của Đức, chia lại thị trường thế giới cho các nước đế quốc thắng trận, chủ yếu là Mỹ, Anh, Pháp.

Nhân danh nhóm người yêu nước Việt Nam, Nguyễn ái Quốc đã gửi đến Hội nghị bản Yêu sách của nhân dân An Nam. Nguyễn ái Quốc còn thuê in thành truyền đơn, đăng trên các báo, gửi đến các nhà hoạt động chính trị có tên tuổi, phân phát trong các buổi hội họp, mít tinh, gửi cho Việt kiều ở Pháp và gửi về nước. Tr.1.

Phát biểu tại phiên họp thứ 8 Đại hội lần thứ V Quốc tế Cộng sản (23-6-1924) (46)

Ngày 23-6-1924

Tôi đến đây để không ngừng lưu ý Quốc tế Cộng sản đến một sự thật là: Thuộc địa vẫn đang tồn tại, và vạch ra để Quốc tế Cộng sản thấy rằng: Cách mạng, ngoài vấn đề tương lai của các thuộc địa còn có cả nguy cơ của các thuộc địa. Song, tôi thấy rằng hình như, các đồng chí chưa hoàn toàn thấm nhuần tư tưởng cho rằng vận mệnh của giai cấp vô sản thế giới và đặc biệt là vận mệnh của giai cấp vô sản ở các nước đi xâm lược thuộc địa gắn chặt với vận mệnh của giai cấp bị áp bức ở các thuộc địa. Vì vậy, tôi sẽ tận dụng mọi cơ hội có được, sẽ gợi ra những vấn đề và nếu cần tôi sẽ thức tỉnh các đồng chí về vấn đề thuộc địa.

Hôm nay, tôi cần nhắc lại lời phát biểu tại đây của đồng chí Rôi, chỉ xin đổi những tên riêng, nghĩa là đơn giản thay thế từ nước Anh bằng các từ Pháp, Bỉ, Mỹ, Nhật … Song, vì tôi là người xứ thuộc địa Pháp và vì tôi muốn nói ngắn, nên tôi chỉ nói về chủ nghĩa đế quốc Pháp, về Đảng Pháp của chúng tôi và về các đảng tại các thuộc địa Pháp, giống như đồng chí Rôi đã nói về nước Anh, về đảng anh em của chúng ta và về các đảng ở các thuộc địa của nước Anh.

Các đồng chí thứ lỗi về sự mạnh bạo của tôi, nhưng tôi không thể nói với các đồng chí rằng, sau khi nghe những lời phát biểu của các đồng chí ở chính quốc, tôi có cảm tưởng là các đồng chí ấy muốn đánh chết rắn đằng đuôi. Tất cả các đồng chí đều biết rằng, hiện nay nọc độc và sức sống của con rắn độc tư bản chủ nghĩa đang tập trung ở các thuộc địa hơn là ở chính quốc. Các thuộc địa cung cấp nguyên liệu cho các nhà máy; các thuộc địa cung cấp binh lính cho quân đội của chủ nghĩa đế quốc. Các thuộc địa trở thành nền tảng của lực lượng phản cách mạng. Thế mà các đồng chí khi nói về cách mạng, các đồng chí lại khinh thường thuộc địa.

Các đồng chí, khi các đồng chí muốn đập vỡ một quả trứng hay một hòn đá, thì các đồng chí phải nghĩ đến việc tìm kiếm một công cụ mà sức bền của nó tương xứng với sự vững chắc của đối tượng định đập tan. Tại sao các đồng chí không có sự đề phòng như vậy khi các đồng chí muốn đánh đổ chủ nghĩa tư bản ? Tại sao trong những vấn đề của cách mạng các đồng chí không đem ra đối chiếu sách lược, sức mạnh của các đồng chí ? Tại sao không so sánh sức mạnh và sự tuyên truyền của các đồng chí với sức mạnh và sự tuyên truyền của kẻ địch mà các đồng chí muốn chống lại và chiến thắng nó ? Tại sao các đồng chí lại xem thường các thuộc địa trong lúc chủ nghĩa tư bản lại dựa vào nó để tự bảo vệ và chống lại các đồng chí? Tôi xin bổ sung mấy lời để đáp lại bài phát biểu của đồng chí Tơranh. Trong bài phát biểu của mình, đồng chí Tơranh đã nói đến sự xuất hiện một cao trào cách mạng ở Pháp và sự ra đời phong trào phát xít ở đây. Về điểm đầu tiên, tôi hoàn toàn tán thành tinh thần lạc quan của đồng chí Tơranh; còn điểm thứ hai, thì tôi có ý kiến ngược lại. Tôi cho rằng, bọn phản động ở Italia, ở Đức và các nước khác cần đến chủ nghĩa phát xít để bảo vệ mình; trong khi đó bọn phản động Pháp lại không cần đến nó. Chúng có những người bảo vệ khác, những người bảo vệ mạnh hơn nhiều, có tổ chức hơn và có kỷ luật hơn là “bọn áo đen”. Họ có những người lính da đen và da vàng. Có lẽ các đồng chí đã biết là quân đội Pháp hiện nay bao gồm 458.000 thanh niên Pháp và 206.550 người bản xứ ở các thuộc địa. Nhưng chắc chắn là các đồng chí không biết được rằng, nếu tính thời gian phục vụ và huấn luyện cũng như sự dễ dàng làm cho những người bản xứ nổi dậy, thì mỗi người lính bản xứ này có giá trị bằng 2 lính Pháp. Do đó, trên danh nghĩa, tuy số lượng đội quân luôn sẵn sàng tấn công các đồng chí là 664.550 người, mà thực tế lại là 1.000.000 người, hay nói đúng hơn 939.950 người vì số lính Pháp có 251.450 tay súng, đông hơn các trung đoàn người bản xứ thì những người bản xứ này lại phục vụ 431.100 tháng nhiều hơn lính Pháp.

Bàn về khả nǎng và các biện pháp thực hiện cách mạng, đề ra kế hoạch của cuộc chiến đấu sắp tới, các đồng chí Anh và Pháp cũng như các đồng chí ở các đảng khác hoàn toàn bỏ qua luận điểm cực kỳ quan trọng có tính chiến lược này. Chính vì thế, tôi hết sức kêu gọi các đồng chí: Hãy chú ý!

In trong sách Đại hội toàn thế giới lần thứ V
Quốc tế Cộng sản, bản tốc ký, tiếng Nga, phần I,
Nxb. Chính trị quốc gia, Mátxcơva, 1925, tr.218-220.
cpv.org.vn

————————————

(46) Đại hội lần thứ V Quốc tế Cộng sản : Đại hội họp từ ngày 17-6 đến ngày 8-7-1924 tại Mátxcơva. Đại hội đã tổng kết, rút ra những bài học kinh nghiệm về đấu tranh giai cấp từ năm 1918 đến năm 1923 và đề ra chủ trương tăng cường công tác xây dựng các đảng cộng sản để lãnh đạo phong trào đấu tranh thực hiện những mục tiêu lâu dài của cách mạng và quyền lợi hằng ngày của quần chúng. Đại hội cũng chỉ rõ phương hướng, nhiệm vụ của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế là phải đấu tranh chống chủ nghĩa cải lương, cơ hội, chống những phần tử phái hữu và trốtxkít.

Nguyễn ái Quốc đã tham dự Đại hội và đã ba lần phát biểu ý kiến về vấn đề dân tộc và thuộc địa và những vấn đề khác. Tr.273.

Phát biểu tại phiên họp thứ 22 Đại hội lần thứ V Quốc tế Cộng sản (1-7-1924)


Thưa các đồng chí, tôi chỉ xin bổ sung những ý kiến phê bình của đồng chí Manuinxki về chính sách của chúng ta trong vấn đề thuộc địa. Nhưng trước khi đi vào thực chất của vấn đề, tôi thấy nên đưa ra một vài con số thống kê về thuộc địa. Điều này sẽ giúp chúng ta thấy rõ hơn tất cả tầm quan trọng của vấn đề thuộc địa.

Các nước Chính quốc Thuộc địa
Diện tích (km (2)) Dân số Diện tích (km (2)) Dân số
Anh

151.000

45.500.000

34.910.000

403.600.000

Pháp

536.000

39.000.000

10.250.000

55.600.000

Mỹ

9.420.000

100.000.000

1.850.000

12.000.000

Tây Ban Nha

504.500

20.700.000

371.600

853.000

ý

286.600

38.500.000

1.460.000

1.623.000

Nhật Bản

418.000

57.070.000

288.000

21.249.000

Bỉ

29.500

7.642.000

2.400.000

8.500.000

Bồ Đào Nha

92.000

5.545.000

2.062.000

8.738.000

Hà Lan

83.000

6.700.000

2.046.000

48.030.000

Như vậy, 9 nước với tổng số dân 320.657.000 người và với diện tích 11.407.600 km (2) bóc lột các nước thuộc địa gồm hàng trǎm dân tộc với số dân 560.193.000 người và với diện tích 55.637.000 km(2). Toàn bộ lãnh thổ của các nước thuộc địa rộng gấp 5 lần lãnh thổ của các chính quốc, còn số dân của các chính quốc chưa bằng 3/5 số dân của các nước thuộc địa.

Nếu tính riêng những cường quốc đế quốc lớn nhất, thì những con số này lại càng có sức thuyết phục hơn. Số dân của các thuộc địa Anh đông gấp hơn 8 lần rưỡi số dân nước Anh và đất đai của các thuộc địa Anh rộng gấp gần 252 lần đất đai của nước Anh. Còn nước Pháp thì chiếm một số đất đai rộng gấp 19 lần nước Pháp; và số dân ở các thuộc địa Pháp đông hơn số dân nước Pháp 16.600.000 người.

Vì vậy sẽ không phải là quá đáng nếu nói rằng chừng nào Đảng Pháp và Đảng Anh chúng ta chưa thi hành một chính sách thật tích cực trong vấn đề thuộc địa, thậm chí chưa đề cập đến quần chúng các nước thuộc địa, thì toàn bộ chương trình rộng lớn của hai đảng đó vẫn không có hiệu quả gì. Chương trình ấy sẽ không có hiệu quả gì vì nó trái với chủ nghĩa Lênin. Tôi xin nói rõ ý của tôi. Trong bài nói chuyện về Lênin và vấn đề dân tộc, đồng chí Xtalin đã chỉ rằng bọn cải lương và các lãnh tụ Quốc tế thứ hai đã không dám đặt ngang hàng các dân tộc da trắng và các dân tộc thuộc các màu da khác, rằng Lênin đã bác bỏ sự bất bình đẳng đó và phá tan cái vật chướng ngại ngǎn chia những người nô lệ vǎn minh với những người nô lệ không vǎn minh của chủ nghĩa đế quốc.

Theo Lênin, cách mạng ở phương Tây muốn thắng lợi thì nó phải liên hệ chặt chẽ với phong trào giải phóng chống chủ nghĩa đế quốc ở các nước thuộc địa và các nước bị nô dịch và vấn đề dân tộc, như Lênin đã dạy chúng ta, chỉ là một bộ phận của vấn đề chung về cách mạng vô sản và chuyên chính vô sản.

Sau đó, đồng chí Xtalin đã nói đến quan điểm phản cách mạng cho rằng không cần liên minh trực tiếp với phong trào giải phóng ở các nước thuộc địa, giai cấp vô sản châu Âu cũng có thể thắng lợi được. Nhưng nếu cǎn cứ vào hành động để xét về mặt lý luận thì tình trạng các đảng lớn của chúng ta, trừ Đảng Nga, không hoạt động gì cả khiến chúng ta có quyền cho rằng ngày nay các đảng đó vẫn còn giữ quan điểm mà đồng chí Xtalin đã nói.

Giai cấp tư sản các nước thực dân đã làm gì để kìm giữ trong vòng áp bức biết bao quần chúng của các dân tộc bị chúng nô dịch? Chúng làm tất cả. Ngoài việc dùng những phương tiện do bộ máy chính quyền Nhà nước đem lại cho nó, nó đồng thời còn tiến hành tuyên truyền hết sức ráo riết. Bằng những bài nói chuyện, bằng điện ảnh, báo chí, triển lãm và mọi phương pháp khác nữa, nó nhồi cho nhân dân các chính quốc cái đầu óc thực dân, nêu lên trước mắt họ cảnh sống dễ dàng, vinh quang và giàu có đang chờ đợi họ ở các nước thuộc địa.

Còn các đảng cộng sản của chúng ta như Đảng Cộng sản Anh, Hà Lan, Bỉ và các đảng cộng sản các nước khác mà giai cấp tư sản ở đấy chiếm giữ thuộc địa, thì đã làm những gì? Các đảng này, từ khi chấp nhận bản luận cương của Lênin, đã làm được những gì để giáo dục cho giai cấp công nhân nước mình tinh thần quốc tế chủ nghĩa chân chính, tinh thần gần gũi với quần chúng lao động các nước thuộc địa? Tất cả những việc mà các đảng của chúng ta đã làm về mặt này, thật hầu như chưa có gì cả. Còn về tôi, là một người sinh trưởng ở một nước hiện nay là thuộc địa của Pháp và là một đảng viên Đảng Cộng sản Pháp, tôi lấy làm tiếc phải nói rằng Đảng Cộng sản Pháp chúng tôi làm rất và rất ít cho các nước thuộc địa.

Báo chí cộng sản chủ nghĩa có nhiệm vụ làm cho các chiến sĩ của chúng ta hiểu rõ vấn đề thuộc địa, làm thức tỉnh sự đồng tình hưởng ứng của quần chúng lao động ở các nước thuộc địa, tranh thủ họ tham gia sự nghiệp của chủ nghĩa cộng sản. Thử hỏi báo chí đó đã làm được gì? Không được gì hết.

Nếu đem so sánh những chỗ dành cho các vấn đề thuộc địa trên các tờ báo tư sản như Le Temps, Le Figaro, L’ Oeuvre hay những báo thuộc các khuynh hướng khác như: Le Peuple hay Le Libertaire với những chỗ dành cho các vấn đề đó trên báo L’Humanité, cơ quan ngôn luận trung ương của Đảng chúng tôi, thì phải nhận rõ rằng sự so sánh này sẽ hoàn toàn không có lợi cho chúng ta.

Bộ Thuộc địa đã đặt ra kế hoạch biến nhiều vùng ở châu Phi thành những vùng đồn điền rộng lớn của tư nhân, và biến dân bản xứ ở những nước này thành những dân nô lệ thật sự, bị trói buộc vào ruộng đất của những ông chủ mới, thế mà báo chí của chúng ta vẫn im tiếng hoàn toàn về điều này. ở các thuộc địa của Pháp ở Tây Phi, người ta đã áp dụng những biện pháp cưỡng ép chưa từng thấy để bắt lính, thế mà báo chí của chúng ta vẫn không hề lên tiếng. Chính quyền thực dân ở Đông Dương đã biến thành những kẻ buôn nô lệ và bán những người dân Bắc Kỳ cho các chủ đồn điền trên các đảo ở Thái Bình Dương; chúng kéo dài thời hạn đi lính của dân bản xứ từ 2 nǎm lên 4 nǎm; chúng đem nộp phần lớn đất đai thuộc địa cho côngxoócxiom của những bọn tư bản cá mập; thuế má vốn đã quá nặng nề không chịu nổi, thế mà chúng lại còn tǎng lên 30% trong lúc dân bản xứ bị phá sản và chết đói sau trận lụt. Thế mà báo chí chúng ta vẫn cứ im tiếng. Và sau tất cả những điều đó, các đồng chí sẽ ngạc nhiên thấy rằng nhân dân bản xứ đi theo những nhóm dân chủ và tự do như Hội Nhân quyền và các tổ chức tương tự khác là những tổ chức chǎm lo hay làm ra vẻ chǎm lo đến họ.

Nếu đi sâu hơn chút nữa, chúng ta sẽ thấy những việc hoàn toàn không thể tưởng tượng được, làm cho mọi người phải nghĩ rằng Đảng chúng tôi đã coi thường tất cả những gì dính dáng đến các nước thuộc địa. Ví dụ: báo L’Humanité không hề đǎng lời kêu gọi của Quốc tế Nông dân gửi nhân dân các nước thuộc địa, do Quốc tế Cộng sản gửi đến để đǎng trên báo. Trước Đại hội Liông (47) trong mục đǎng các bài tranh luận, đã đǎng hết mọi luận cương, trừ luận cương về vấn đề thuộc địa. Báo L’Humanité đã đǎng nhiều bài về thắng lợi của võ sĩ Xiki xứ Xênêgan, nhưng không hề lên tiếng khi các công nhân bến tàu Đaca, những người đồng nghiệp của Xiki bị bao vây trong khi đang làm việc, bị bắt và bị vứt lên xe ô tô chở về nhà giam và sau đó bị đưa sang trại lính để rồi trở thành những người bảo vệ vǎn minh, nghĩa là trở thành lính. Cơ quan trung ương của Đảng chúng tôi hằng ngày đều báo tin cho các bạn đọc về những chiến công của anh phi công Uadi đã bay từ Pháp sang Đông Dương; nhưng khi chính quyền thực dân cướp bóc nhân dân “nước An Nam cao quý”, lấy ruộng của họ giao cho bọn đầu cơ Pháp, phái máy bay chở bom, rồi ra lệnh cho các phi công phải dạy cho những người dân bản xứ bất hạnh và bị cướp bóc kia phải biết điều, thì cơ quan của Đảng chúng tôi lại không thấy cần thiết báo tin đó cho các bạn đọc biết.

Thưa các đồng chí, qua báo chí của mình, giai cấp tư sản Pháp hiểu rằng vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa không tách rời nhau. Tôi cho rằng Đảng chúng tôi chưa hiểu hết điều đó. Những bài học ở miền Ruya, nơi mà binh lính bản xứ được phái đến trấn an những công nhân Đức bị đói, đã vây chặt những trung đoàn lính Pháp đáng nghi; trường hợp xảy ra trong đội quân phương Đông, trong đó binh lính bản xứ được giao súng máy để “động viên tinh thần” binh lính Pháp đã mệt mỏi vì chiến tranh kéo dài và gian khổ; những sự kiện xảy ra nǎm 1917(48)ở nơi đóng quân của lính Nga ở Pháp; kinh nghiệm cuộc bãi công của công nhân nông nghiệp ở Pyrênê là nơi mà binh lính bản xứ đã buộc phải giữ vai trò nhục nhã của những kẻ phá hoại cuộc bãi công; và cuối cùng là sự có mặt của 207.000 binh lính bản xứ ở ngay nước Pháp, – tất cả những việc trên đây chưa làm cho Đảng chúng tôi phải suy nghĩ, chưa làm cho Đảng chúng tôi thấy cần phải thực hiện một chính sách rõ ràng và tích cực trong vấn đề thuộc địa. Đảng đã bỏ lỡ tất cả những cơ hội tốt để tuyên truyền. Những cơ quan lãnh đạo mới của Đảng đã thừa nhận là Đảng chúng tôi đã bị động trong vấn đề này. Tôi thấy đó là một dấu hiệu đáng mừng vì khi các lãnh tụ của Đảng đã thừa nhận và nhấn mạnh nhược điểm này trong chính sách của Đảng thì việc đó làm cho người ta hy vọng rằng Đảng sẽ cố gắng hết sức để sửa chữa và củng cố về mặt này. Tôi tin chắc rằng Đại hội này sẽ là bước ngoặt về mặt này và sẽ thúc đẩy Đảng sửa chữa được những thiếu sót trước. Mặc dù nhận xét của đồng chí Manuinxki về cuộc vận động bầu cử ở Angiêri rất đúng, song để cho được khách quan, tôi phải nói rằng đúng là Đảng chúng tôi đã bỏ lỡ dịp tốt ở đây, nhưng đã sửa chữa sai lầm, đã đưa đại biểu người bản xứ ra ứng cử ở quận Pari. Tất nhiên như thế còn ít, song bước đầu như vậy là tốt. Tôi sung sướng nhận thấy rằng hiện nay Đảng chúng tôi lại có những ý định tốt đẹp nhất, lại có lòng hǎng hái, cái đó là hoàn toàn mới đối với Đảng chúng tôi; và chỉ cần bằng hành động thực tiễn thì nhất định những cái ấy sẽ đưa Đảng tới một chính sách đúng đắn trong vấn đề thuộc địa.

Vậy phải hành động thực tiễn như thế nào ? Đề ra những luận cương dài dằng dặc và thông qua những nghị quyết rất kêu để sau Đại hội đưa vào viện bảo tàng như từ trước vẫn làm thì chưa đủ. Chúng ta cần có biện pháp cụ thể. Tôi đề nghị mấy điểm dưới đây:

1. Mở trên báo L’Humanité một mục để đǎng đều đặn hằng tuần ít nhất hai cột các bài về vấn đề thuộc địa.

2. Tǎng cường tuyên truyền và tuyển lựa đảng viên của Đảng trong những người bản xứ ở những nước thuộc địa đã có phân bộ cộng sản.

3. Gửi những người bản xứ vào Trường đại học cộng sản của những người lao động phương Đông ở Mátxcơva.

4. Thoả thuận với Tổng Liên đoàn lao động thống nhất (49) để tổ chức những người lao động của các thuộc địa làm việc ở Pháp.

5. Đặt nhiệm vụ cho các đảng viên của Đảng phải quan tâm hơn nữa đến vấn đề thuộc địa.

Theo tôi, những đề nghị này là hợp lý và nếu Quốc tế Cộng sản và các đại biểu của Đảng chúng tôi tán thành thì tôi tin rằng đến Đại hội lần thứ VI, Đảng Cộng sản Pháp chúng tôi sẽ có thể nói rằng mặt trận thống nhất của nhân dân chính quốc và thuộc địa đã trở thành sự thật.

Thưa các đồng chí, vì chúng ta tự coi mình là học trò của Lênin, cho nên chúng ta cần phải tập trung tất cả sức lực và nghị lực để thực hiện trên thực tế những lời di huấn quý báu của Lênin đối với chúng ta về vấn đề thuộc địa cũng như các vấn đề khác.

In trong sách Đại hội toàn thế giới
lần thứ V Quốc tế Cộng sản, bản tốc

ký, tiếng Nga, phần I, Nxb. Chính trị
quốc gia, Mátxcơva, 1925, tr.653-657.
cpv.org.vn

——————————–

46. Đại hội lần thứ V Quốc tế Cộng sản : Đại hội họp từ ngày 17-6 đến ngày 8-7-1924 tại Mátxcơva. Đại hội đã tổng kết, rút ra những bài học kinh nghiệm về đấu tranh giai cấp từ năm 1918 đến năm 1923 và đề ra chủ trương tăng cường công tác xây dựng các đảng cộng sản để lãnh đạo phong trào đấu tranh thực hiện những mục tiêu lâu dài của cách mạng và quyền lợi hằng ngày của quần chúng. Đại hội cũng chỉ rõ phương hướng, nhiệm vụ của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế là phải đấu tranh chống chủ nghĩa cải lương, cơ hội, chống những phần tử phái hữu và trốtxkít.

Nguyễn ái Quốc đã tham dự Đại hội và đã ba lần phát biểu ý kiến về vấn đề dân tộc và thuộc địa và những vấn đề khác. Tr.273.

(47) Đại hội Liông : Đại hội lần thứ III Đảng Cộng sản Pháp họp ở Liông (Pháp) tháng 1-1924. Vấn đề chủ yếu của Đại hội là đấu tranh để củng cố Đảng về mặt tổ chức và tư tưởng. Tr.279.
(48) Những sự kiện xảy ra năm 1917: Trong Chiến tranh thế giới thứ nhất, Nga hoàng đã phái quân lính sang chiến đấu chống quân Đức ở mặt trận Pháp. Năm 1917, những binh lính này không chịu chiến đấu vì lợi ích của bọn tư bản, đã lập Xôviết và đòi trở về nước. Chính phủ Pháp sợ tư tưởng cách mạng của binh lính Nga lan sang quân đội Pháp, đã dồn họ vào trại tập trung có chăng dây thép gai, và cho quân lính thuộc địa canh giữ. Tr.280.

(49) Tổng Liên đoàn lao động thống nhất : Một tổ chức liên hiệp các công đoàn Pháp tồn tại từ năm 1922 đến năm 1936, do các công đoàn cách mạng lập nên. Tổng Liên đoàn lao động thống nhất kiên quyết chủ trương khôi phục sự thống nhất của công đoàn, bảo vệ lợi ích thiết thân của giai cấp vô sản và đã cùng với Đảng Cộng sản Pháp tham gia đấu tranh chống chủ nghĩa phát xít và chiến tranh. Tr.281.

Phát biểu tại phiên họp thứ 25 Đại hội lần thứ V Quốc tế Cộng sản (3-7-1924)

Ngày 3-7-1924

Các thuộc địa Pháp chiếm một diện tích rộng 10.211.510 km (2) với số dân là 55.571.000 người ở rải khắp bốn lục địa. Dù có sự khác nhau về chủng tộc, khí hậu, tập quán, truyền thống, về trình độ phát triển kinh tế và xã hội, song có hai điểm chung làm cho các nước thuộc địa giống nhau và sau này có thể đi tới thống nhất để cùng đấu tranh:

1. Tình hình kinh tế: trong tất cả các thuộc địa Pháp, công nghiệp và thương nghiệp phát triển rất yếu ớt và nhân dân hầu hết làm nghề nông, 95% số dân bản xứ là nông dân.

2. ở tất cả các nước thuộc địa, nhân dân bản xứ đều bị tư bản đế quốc chủ nghĩa Pháp bóc lột không ngừng.

Tôi không có thì giờ phân tích kỹ lưỡng về tình hình nông dân từng nước thuộc địa. Vì vậy, tôi chỉ lấy một vài thí dụ điển hình để chúng ta có một ý niệm về tình cảnh nông dân các nước thuộc địa.

Tôi xin bắt đầu từ nước tôi, Đông Dương là nước tôi biết rõ hơn cả.

Khi Pháp đánh chiếm thuộc địa này, chiến tranh đã làm cho nông dân phải rời bỏ làng mạc của họ. Sau đó, khi họ trở về thì đã thấy ruộng đất của họ bị bọn chủ đồn điền, theo sau quân đội chiến thắng, chiếm mất. Thậm chí chúng đã chia nhau cả những đất đai mà nông dân bản xứ đã cày cấy từ bao đời nay. Như vậy là nông dân An Nam đã biến thành nông nô và buộc phải cày cấy ruộng đất của chính mình cho bọn chủ nước ngoài.

Nhiều người trong những người xấu số này vì không chịu sống trong những điều kiện vô cùng khắc nghiệt do những kẻ chiếm đoạt đưa ra, nên đã bỏ ruộng đất của mình và lang thang nay đây mai đó khắp nước; người Pháp gọi họ là “giặc cướp” và tìm đủ mọi cách truy nã họ.

Ruộng đất cướp được bằng cách ấy đã được đem chia cho bọn chủ đồn điền. Chỉ cần xin một tiếng là bọn chúng có thể được hưởng những khoảnh đất có khi trên 2 vạn và 2,5 vạn ha.

Những tên chủ đồn điền này không những chiếm không ruộng đất mà còn chiếm không cả mọi thứ cần thiết để khai thác số ruộng đất đó, kể cả sức lao động.

Chính quyền cho phép chúng sử dụng một số tù khổ sai làm không công, hoặc bắt các xã phải cung cấp nhân lực cho các chủ đồn điền.

Bên cạnh chính quyền lang sói đó, cần phải nói tới Nhà chung. Chỉ riêng giáo hội Thiên Chúa đã chiếm 1/4 diện tích cày cấy ở Nam Kỳ. Để chiếm số ruộng đất đó, Nhà chung đã dùng những phương pháp không thể tưởng tượng được là mua chuộc, lừa đảo và cưỡng bức. Đây là một vài thí dụ. Lợi dụng lúc mất mùa, Nhà chung cho nông dân vay tiền nhưng bắt buộc họ phải cầm ruộng. Tiền lãi quá cao làm cho nông dân không sao trả hết nợ, nên buộc phải bán đứt số ruộng cầm trước cho Nhà chung. Bằng mọi thủ đoạn tàn ác, Nhà chung cố tìm ra đủ mọi thứ tài liệu mật có thể gây nguy hại cho những nhà cầm quyền. Lợi dụng những giấy tờ đó làm công cụ đe doạ, Nhà chung đạt được tất cả những gì họ muốn. Nhà chung lập hội với bọn tư bản lớn để khai khẩn những đồn điền chiếm không và những ruộng đất cướp được của nông dân. Bọn tay chân của Nhà chung giữ những chức cao trong chính phủ. Nhà chung cũng bóc lột “con chiên” một cách tàn nhẫn không kém chủ đồn điền. Một thủ đoạn khác của Nhà chung là tập hợp những người ǎn xin, bắt họ khai khẩn đất mới và hứa là sau khi khai khẩn xong sẽ chia cho họ. Nhưng khi ruộng đất mới vừa khai khẩn xong và sắp được gặt, thì Nhà chung tuyên bố là ruộng đất này thuộc về Nhà chung và đuổi những người đã dùng sức lao động của mình làm cho ruộng đất ấy được phì nhiêu. Bị những kẻ “bảo hộ” họ (ở trong tôn giáo hay ở ngoài tôn giáo) cướp bóc, nông dân An Nam thậm chí không thể yên ổn làm ǎn trên phần ruộng đất ít ỏi còn lại của mình. Người ta bắt những người đo đạc phải đo ruộng đất của nông dân không đúng để bắt họ phải đóng thuế khống. Thuế ruộng đất mỗi nǎm một tǎng. Mới đây, khi chiếm hàng nghìn hécta của người An Nam ở miền ngược để giao cho bọn đầu cơ, các nhà cầm quyền đã phái máy bay đến để những nạn nhân bị cướp bóc ở đấy không dám nghĩ đến nổi loạn.

Những người nông dân bị cướp bóc, phá sản và bị đuổi đi nơi khác lại tìm cách khai khẩn đất để làm ruộng. Nhưng khi đất mới vừa khai khẩn xong thì chính quyền lại chiếm lấy và buộc nông dân phải mua lại theo giá do chính quyền định. Ai không đủ sức mua thì bị đuổi đi một cách tàn nhẫn.

Nǎm ngoái, mặc dù đất nước bị nạn lụt tàn phá, thế mà thuế ruộng đất vẫn tǎng ngay một lúc lên 30%.

Ngoài những thứ thuế bất công làm cho nông dân bị phá sản, nông dân còn phải đi phu, đóng thuế thân, thuế muối, đóng công trái cưỡng bức, lạc quyên và v.v..

Chủ nghĩa tư bản Pháp cũng thực hiện chính sách ǎn cướp và bóc lột như vậy ở Angiêri, Tuynidi, Marốc. Tất cả những ruộng đất tốt và được tưới nước thì phải để cho bọn thực dân di cư tới chiếm. Dân bản xứ bị đuổi đi, họ phải tìm nơi nương tựa ở những vùng ven núi hay những nơi ruộng đất khó làm ǎn. Các công ty tài chính, bọn đầu cơ và quan lại cao cấp chia nhau ruộng đất của các thuộc địa.

Do những hoạt động trực tiếp và gián tiếp, các ngân hàng Angiêri và Tuynidi nǎm 1914 đã thu được 12.258.000 phrǎng tiền lời với số vốn là 25 triệu phrǎng.

Ngân hàng Marốc với số vốn là 15.400.000 phrǎng, nǎm 1921 đã thu được 1.753.000 phrǎng tiền lời.

Công ty Pháp – Angiêri chiếm 324.000 ha ruộng đất tốt nhất.

Tổng công ty Angiêri chiếm 10 vạn hécta.

Một công ty tư nhân đã chiếm khoảng 5 vạn hécta rừng, còn công ty phốt phát và đường sắt Cápde thì đã chiếm 5 vạn hécta có nhiều mỏ quặng và lại có quyền ưu tiên đối với 2 vạn ha chung quanh khu vực này.

Một cựu nghị sĩ Pháp đã chiếm một đồn điền 1.125 ha có quặng mỏ, trị giá là 10 triệu phrǎng, thu nhập hằng nǎm là 4 triệu phrǎng. Dân bản xứ, người chủ của những mỏ quặng này, mỗi nǎm chỉ thu hoạch được 1% phrǎng mỗi hécta.

Chính sách thực dân của Pháp đã thủ tiêu quyền chiếm hữu công cộng và thay thế bằng quyền chiếm hữu tư nhân. Nó cũng thủ tiêu quyền chiếm hữu nhỏ, làm lợi cho quyền chiếm hữu đồn điền lớn. Nó đã làm cho nông dân bản xứ mất hơn 5 triệu ha ruộng đất tốt nhất.

Trong 15 nǎm, nông dân ở Cabili bị cướp mất 192.090 ha.

Từ nǎm 1913, mỗi nǎm nông dân Marốc bị cướp mất 12.500 ha ruộng đất cày cấy. Từ khi Pháp thắng trong cuộc chiến tranh “vì công lý”, con số đó tǎng lên tới 14.540 ha.

Hiện nay ở Marốc chỉ có 1.070 người Pháp mà chiếm tới 500.000 ha ruộng đất.

Cũng như những người anh em của họ là nông dân An Nam, nông dân châu Phi phải chịu cảnh cơ cực không thể chịu nổi, phải lao dịch liên miên và phải gánh những thứ thuế má nặng nề. Sự cùng khổ của họ không sao tả xiết. Thiếu lương thực nên họ phải ǎn những thứ rau cỏ dại hay thóc gạo mục nát, vì thế mà bệnh sốt, thương hàn, bệnh lao hoành hành trong nhân dân. Ngay những nǎm được mùa cũng thấy có nông dân đi bới những đống rác ở thành thị, tranh thức ǎn thừa với chó. Còn khi mất mùa thì xác chết nông dân ngổn ngang ngoài đồng và trên đường.

Tình cảnh của nông dân ở miền Tây châu Phi và châu Phi xích đạo thuộc Pháp còn khủng khiếp hơn nữa.

Gần 40 công ty chiếm những thuộc địa này. Họ chiếm tất cả: ruộng đất, tài nguyên thiên nhiên, cả sinh mạng của dân bản xứ nữa. Nhân dân bản xứ thậm chí không có quyền làm việc cho mình. Họ buộc phải làm việc cho các công ty, bao giờ cũng thế và chỉ được làm việc cho các công ty mà thôi. Để bắt họ phải làm không công, các công ty đã dùng thủ đoạn cưỡng bức vượt quá sức tưởng tượng. Tất cả ruộng đất đều bị tịch thu hết. Chỉ có người nào chịu làm công việc do các công ty ấy đòi hỏi thì mới được một phần ruộng nhỏ. Ǎn uống thiếu thốn đã làm cho họ mắc đủ thứ bệnh tật và chết rất nhiều, nhất là trẻ con.

Một phương pháp khác là bắt ông già, phụ nữ và trẻ con làm con tin. Chúng giữ những người này trong những cǎn nhà chật chội, đối xử tàn tệ, hành hạ họ, bắt nhịn đói và nhiều khi giết họ nữa. ở một vài địa phương, số người bị bắt làm con tin thường xuyên lại nhiều bằng số người làm việc để đề phòng mọi mưu toan của những người làm việc tìm cách chạy trốn. Để công việc ở các đồn điền khỏi bị đình trệ, người ta cấm dân bản xứ không được cày cấy ruộng của mình kịp thời. Do đó, nạn đói và bệnh dịch thường xảy ra, tàn phá các thuộc địa.

Nếu một vài bộ lạc trốn vào rừng và tránh được ách bóc lột của bọn chủ đồn điền thì họ phải sống chẳng khác gì thú vật, họ ǎn rễ củ và lá cây, chết vì sốt rét, vì khí hậu. Trong lúc ấy thì bọn chủ da trắng tàn phá đồng ruộng và làng mạc của họ để khủng bố. Sau đây là một đoạn trong cuốn sổ tay công vụ của một sĩ quan tả một cách vắn tắt, rõ ràng và thê thảm sự đàn áp nông dân bản xứ:

Hành binh càn quét làng Côevan.

Hành binh càn quét làng Phanốp Cunô, làng và vườn trại bị tàn phá.

Hành binh càn quét làng Bêcannixơ, làng bị đốt trụi, 3.000 cây chuối bị chặt.

Hành binh càn quét làng Cua, làng bị phá, vườn trại hoàn toàn bị phá trụi.

Hành binh càn quét làng Abimaphan, tất cả nhà cửa đều bị đốt, vườn trại bị phá.

Hành binh càn quét làng Examphami, làng bị phá.

Các làng ven sông Bôm đều bị đốt.

Tại những miền châu Phi thuộc ý, Tây Ban Nha, Anh và Bồ Đào Nha cũng có một chế độ cướp bóc, làm phá sản, giết chóc và tàn phá một cách khủng khiếp như vậy.

ở Cônggô thuộc Bỉ, nǎm 1891 dân số là 25 triệu, thế mà đến nǎm 1911 chỉ còn có 8,5 triệu. Những bộ lạc Hererô và Cama ở thuộc địa cũ của Đức tại châu Phi đã hoàn toàn bị tiêu diệt, 8 vạn người bị giết trong thời gian Đức chiếm đóng và 15.000 người bị giết trong thời kỳ “bình định” nǎm 1914. Cônggô thuộc Pháp nǎm 1894 có 20.000 dân, thế mà đến 1911 chỉ còn có 9.700 người. Trong một vùng, nǎm 1910 có 10.000 dân, sau đó 8 nǎm chỉ còn được 1.080 người. Trong một vùng khác với 4 vạn dân da đen, chỉ trong 2 nǎm đã có 2 vạn người bị giết, nửa nǎm sau 6.000 người nữa lại bị giết và bị thương tật.

Những vùng ven sông trù phú và đông đúc dân cư, chỉ sau 15 nǎm đã biến thành những miền hoang vu. Những mảnh xương tàn đã rải rác trắng khắp các ốc đảo và làng mạc bị tàn phá.

Tình cảnh những người còn sống sót thật khủng khiếp: nông dân bị cướp mất phần ruộng bé nhỏ “để dành” của mình, thợ thủ công mất nghề, còn người chǎn nuôi thì mất súc vật. Dân Matabêle là dân chǎn nuôi nhiều súc vật trước khi người Anh đến, họ có tới 20 vạn súc vật có sừng. Hai nǎm sau chỉ còn 40.900 con. Dân Hererô có 9 vạn súc vật, trong vòng 12 nǎm bọn thực dân Đức đã cướp mất một nửa. Những trường hợp tương tự như vậy, xảy ra rất nhiều trong tất cả các nước da đen đã tiếp xúc với vǎn minh của người da trắng.

Để kết luận, tôi xin lấy một dẫn chứng của một người da đen là Rơnê Marǎng, tác giả cuốn Batuala. Ông ta nói: “Châu Phi vùng xích đạo là nơi dân cư đông đúc, giàu cao su, ở đây có đủ các loại vườn trại trồng cây, gà và dê rất nhiều. Chỉ sau 7 nǎm mọi cái đều bị phá hoại. Làng mạc tan tành, vườn trại hoang tàn, gà và dê bị giết. Nhân dân bản xứ kiệt sức vì phải làm việc nặng nhọc liên miên và không công nên không đủ sức và không còn thời gian, dù là rất ít, để cày cấy ruộng đất. Bệnh tật phát sinh, nạn đói hoành hành, số người chết càng nhiều… Nên biết rằng họ là con cháu của một bộ lạc khoẻ mạnh, thiện chiến, dẻo dai và đã được tôi luyện. ở đây, nền vǎn minh đã tiêu tan…”.

Để bổ sung bức tranh bi thảm này, tôi xin thêm một điểm là chủ nghĩa tư bản Pháp không hề ngần ngại đẩy cả một khu vực vào cảnh đói kém, nếu việc đó có lợi cho nó. Trong nhiều nước thuộc địa, ví dụ như Rêuyniông, Angiêri, Mađagátxca, v.v., người ta không trồng ngũ cốc nữa, mà lại phải trồng những thứ khác cần cho nền công nghiệp của Pháp. Những thứ này có lợi hơn cho chủ đồn điền. Điều đó làm cho đời sống ở thuộc địa rất đắt đỏ và luôn luôn xảy ra nạn đói.

Trong tất cả các thuộc địa của Pháp, nạn nghèo đói đều tǎng, sự phẫn uất ngày càng lên cao. Sự nổi dậy của nông dân bản xứ đã chín muồi. Trong nhiều nước thuộc địa, họ đã vài lần nổi dậy, nhưng lần nào cũng bị dìm trong máu. Nếu hiện nay nông dân vẫn còn ở trong tình trạng tiêu cực, thì nguyên nhân là vì họ còn thiếu tổ chức, thiếu người lãnh đạo. Quốc tế Cộng sản cần phải giúp đỡ họ tổ chức lại, cần phải cung cấp cán bộ lãnh đạo cho họ và chỉ cho họ con đường đi tới cách mạng và giải phóng.

In trong sách Đại hội toàn thế giới lần thứ V
Quốc tế Cộng sản, bản tốc ký, tiếng Nga, phần I, Nxb. Chính trị
Quốc gia, Mátxcơva, 1925, tr.758-762.
cpv.org.vn

————————–

(2) Bản Yêu sách của nhân dân An Nam: Năm 1918, Chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc. Ngày 18-1-1919, đại biểu các nước đế quốc tham gia chiến tranh họp hội nghị ở Vécxây (Pháp). Hội nghị này (còn gọi là Hội nghị hoà bình Pari) nhằm xác định sự thất bại của Đức và các nước đồng minh của Đức, chia lại thị trường thế giới cho các nước đế quốc thắng trận, chủ yếu là Mỹ, Anh, Pháp.

Nhân danh nhóm người yêu nước Việt Nam, Nguyễn ái Quốc đã gửi đến Hội nghị bản Yêu sách của nhân dân An Nam. Nguyễn ái Quốc còn thuê in thành truyền đơn, đăng trên các báo, gửi đến các nhà hoạt động chính trị có tên tuổi, phân phát trong các buổi hội họp, mít tinh, gửi cho Việt kiều ở Pháp và gửi về nước. Tr.1.

Chủ tịch Hồ Chí Minh với công tác bảo mật

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Giữ bí mật của Nhà nước là một bộ phận trong cuộc đấu tranh với địch”, “Cũng như mọi công việc khác, việc phòng gian bảo mật cần phải dựa vào lòng yêu nước và lực lượng của nhân dân. Chúng ta phải tuyên truyền giải thích cho nhân dân hiểu thấu, để nhân dân giúp sức vào công việc này”.

Suốt hơn nửa thế kỷ hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến giữ gìn bí mật của tổ chức cách mạng. Người nhiều lần căn dặn cán bộ, đảng viên, chiến sỹ phải nâng cao cảnh giác, giữ gìn bí mật của cơ quan, tổ chức và của Đảng, Nhà nước.

Trong bài Giữ bí mật“(1) đăng trên báo Sự Thật, số 97, ngày 30-7-1948 với bút danh A.G, Người nhấn mạnh: Trong chiến tranh, giữ bí mật là điều quan trọng nhất bởi ta dò được tin tức của địch thì ta thắng và ngược lại, địch dò được tin tức ta thì địch thắng ta. Người viết: “Ta biết giữ bí mật, thì bọn Việt gian mật thám khó mà hoạt động, ta biết giữ bí mật, thì dù địch có trăm tai, ngàn mắt, cũng không dò được tin tức của ta. Vì vậy, biết giữ bí mật, tức là đã nắm chắc một phần thắng lợi trong tay ta”.

Bác đã phân tích và chỉ ra nguyên nhân của tình trạng lộ, lọt bí mật là do trong lúc nước nhà đang kháng chiến, nhiều nhân viên, công nhân, bộ đội và nhân dân ta chưa biết giữ bí mật. Các cơ quan, đoàn thể và các cơ quan chức năng lại chưa biết dùng cách giáo dục, hướng dẫn mọi người giữ bí mật. Đây là một khuyết điểm. Vì vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu các cơ quan, tổ chức cần phải cấp tốc ra sức sửa chữa khuyết điểm này, bằng cách: các đơn vị bộ đội, cơ quan, trường học, chợ búa, hàng quán v.v. cần phải dán những khẩu hiệu giữ bí mật. Những người phụ trách cần phải hàng ngày dặn dò nhân viên của mình giữ bí mật. Các bộ máy tuyên truyền, các báo chí, phải thường nhắc đến vấn đề giữ bí mật. Cuộc thi đua ái quốc cũng phải chú trọng đến vấn đề giữ bí mật… Như vậy, để kháng chiến và giữ gìn những thành quả của cách mạng thì mọi tổ chức, cá nhân đều phải nêu cao tinh thần và thực hiện nghiêm túc việc giữ bí mật. Đây là công việc thường xuyên, ở mọi lúc, mọi nơi và là trách nhiệm của toàn xã hội, không chỉ của riêng ai.

Trong bài Phải giữ bí mật”(2) đăng trên báo Sự Thật, số 134, ngày 1-6-1950 (ký tên X.Y.Z.), Hồ Chủ tịch một lần nữa đặt ra vấn đề “phải giữ bí mật”, Người yêu cầu mỗi người phải coi việc giữ bí mật là một nghĩa vụ của mình đối với Tổ quốc, đối với Chính phủ.

Trong bài viết Giữ bí mật“(3), ký tên C.B, ngày 10-1-1952 Hồ Chủ tịch tiếp tục đề cập tới việc phải hết sức giữ bí mật, nhất là trước hoạt động tình báo, thăm dò tin tức của địch. Người đặt ra câu hỏi: Vì sao tình báo của địch hoạt động được? và khẳng định: đó là do sơ hở của ta trong việc giữ bí mật thông tin. Người viết: Tình báo địch hoạt động như thế nào? Nó nghe ngóng tin tức, tìm tòi tài liệu quân sự, chính trị, kinh tế của ta… và vì sao tình báo hoạt động được, vì do ta sơ suất, kém cẩn thận, không biết giữ bí mật. Cụ thể là những khuyết điểm như nói năng không cẩn thận, bô lô ba la, bạ gì nói đấy, viết lách không cẩn thận. Tài liệu giấy tờ để lung tung, ai cũng có thể có xem, có thể thấy. Khi viết thư cho bầu bạn, cho người nhà, thì viết cả công việc… của cơ quan, của bộ đội. Các báo chí thì kém cẩn thận trong việc đăng tin tức và trong lời bình luận…

Người nêu lên cách giữ bí mật, chống lại tình báo địch bằng cách phải dựa vào sức quần chúng. Nhưng trước khi dựa vào quần chúng thì mọi cán bộ và chiến sĩ phải làm gương mẫu trong việc giữ bí mật rồi tiến tới tuyên truyền giáo dục cho nhân dân giữ bí mật.

Người yêu cầu: Chúng ta phải xem giữ bí mật là một việc rất cần thiết và rất quan trọng trong công cuộc kháng chiến. Cán bộ và chiến sĩ phải làm gương mẫu giữ bí mật. Chính quyền và đoàn thể cần có kế hoạch tuyên truyền và giáo dục nhân dân giữ bí mật. Chúng ta đã đánh thắng địch trên mặt trận quân sự, chính trị, kinh tế, chúng ta phải kiên quyết đánh thắng địch trên mặt trận tình báo bằng cách tuyệt đối giữ bí mật.

Ngày 1-2-1956, giữa lúc cuộc kháng chiến của nhân dân ta đang bị kẻ địch phá hoại, không thực hiện nghiêm túc Hiệp định Giơ-ne-vơ đã được ký kết, Chủ tịch Hồ Chí Minh lại có bài viết “Phải giữ bí mật của Nhà nước”(4) đăng trên báo Nhân Dân. Người viết: giữ bí mật của Nhà nước là nhiệm vụ của toàn dân, đặc biệt là nhiệm vụ của cán bộ các cơ quan, các đoàn thể. Công tác bảo mật, phòng gian nói chung và giữ gìn bí mật các văn kiện, tài liệu của Nhà nước nói riêng đang đặt ra cho toàn dân, cho các cơ quan, các đoàn thể nhiệm vụ rất nặng nề vì kẻ địch đã dùng mọi thủ đoạn đê hèn để đánh cắp văn kiện bí mật của ta về chính trị, kinh tế, quốc phòng… để phá hoại ta về mọi mặt.

Người chỉ ra những khuyết điểm của không ít cán bộ khi vẫn chủ quan, lơ là, mất cảnh giác và xem nhẹ việc ấy. Những khuyết điểm như: không cẩn thận trong việc viết, in, gửi, quản lý và kiểm tra văn kiện bí mật; mang văn kiện bí mật về nhà xem; xem văn kiện bí mật ở chỗ đông người; ghi chép những việc bí mật vào sổ tay thường của mình; hay ba hoa, đưa việc bí mật nói với vợ con, bầu bạn; ở quán cơm, rạp hát, công viên, tiệm hớt tóc… cũng đưa việc trong cơ quan ra nói; khi viết thư riêng, hoặc viết bài cho báo chí, cũng nói đến việc bí mật… Những sai lầm trên dù chủ quan hay khách quan cũng đều làm hại cho cách mạng, ảnh hưởng đến tình hình an ninh – chính trị của đất nước. Hồ Chủ tịch phê phán như thế là các cán bộ đó đã vô tình mà giúp cho địch.

Bác còn chỉ ra một số đối tượng do bản lĩnh không vững vàng nên cũng đã tiết lộ bí mật cho địch. Người viết: “Cũng có một số ít người, vì lập trường không vững, chí khí ươn hèn, bị tiền tài, ăn uống, gái đẹp quyến rũ, mà sa vào cạm bẫy của địch, tiết lộ bí mật cho địch”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Giữ bí mật của Nhà nước là một bộ phận trong cuộc đấu tranh với địch”, “Cũng như mọi công việc khác, việc phòng gian bảo mật cần phải dựa vào lòng yêu nước và lực lượng của nhân dân. Chúng ta phải tuyên truyền giải thích cho nhân dân hiểu thấu, để nhân dân giúp sức vào công việc này”. Người yêu cầu các cơ quan và các đoàn thể cần phải xem trọng giáo dục, nghiêm chỉnh chấp hành và thường xuyên kiểm tra công tác này.

Trong bài viết “Cảnh giác” đăng trên báo Nhân Dân, số 2107, ngày 23-12-1959, thêm một lần nữa Bác nhấn mạnh: Giữ nước càng phải cảnh giác để ngăn ngừa bọn đế quốc và bè lũ tay sai phá hoại thành quả cách mạng, phá hoại công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội của chúng ta. Trong thời kỳ kháng chiến, nhân dân ta cũng như cán bộ và bộ đội ta đều biết nâng cao cảnh giác. Nhưng từ hoà bình trở lại, thì tinh thần cảnh giác có phần kém sút. Đó là một khuyết điểm lớn cần được sửa chữa ngay.

Hơn 50 năm trôi qua kể từ những bài huấn thị của Bác và nhất là sau 10 năm thực hiện Pháp lệnh Bảo vệ bí mật nhà nước, chúng ta đã đạt được nhiều kết quả trong việc giữ gìn và bảo vệ bí mật của Đảng, Nhà nước. Tuy nhiên, việc giữ bí mật có lúc, có nơi vẫn còn lơ là, chủ quan, mất cảnh giác. Trong tình hình hiện nay, trước hàng loạt âm mưu, thủ đoạn tinh vi của địch thì loạt bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh về việc giữ bí mật là lời nhắc nhở nghiêm khắc với mọi cơ quan, tổ chức, cán bộ, đảng viên.

ThS. Nguyễn Thị Thu Trang
xaydungdang.org.vn

———————–
(1) Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, H.2011, tập 5, tr.581-582.
(2) Sách đã dẫn (Sđd), tập 6, tr.389-391.
(3) Sđd, tập 7, tr.278-281.
(4) Sđd, tập 10, tr.262-263.

Người con của đất Kẻ Chợ

Tôi xin phép được gọi anh Nguyễn Siêu Hải là người con đất Kẻ Chợ vì gia tộc anh, chỉ kể đến anh, đã có 13 đời sinh cơ lập nghiệp tại đây. Hà Nội xưa vốn gọi là Kẻ Chợ. Với thuận lợi trên và thừa hưởng một gia tài văn bản học quý của ông cha để lại, anh am hiểu nhiều chuyện xưa tích cũ của quê hương cách đây nhiều thế kỷ.

Anh sinh năm 1924, đỗ tú tài thì gặp Cách mạng Tháng Tám, vậy là trở thành anh Giải phóng quân lên Sơn La tiễu phỉ, rồi anh Vệ quốc đoàn khiêng pháo hành quân đánh giặc. Vừa đánh giặc vừa ký họa bằng bút sắt, vừa viết văn. Truyện ký Voi đi của Siêu Hải in trong Tạp chí Văn nghệ năm 1949 gây được tiếng vang lớn vì miêu tả hiện thực rất sống động và chân thực, được đưa vào sách giáo khoa dùng trong trường học, được các nhà xuất bản tái bản 19 lần.

Mùa xuân năm 1990, Siêu Hải đến chúc Tết Đại tướng Võ Nguyên Giáp tại nhà riêng. Đại tướng ân cần hỏi: “Vẫn viết đấy chứ?”. Ảnh do nhân vật cung cấp

Thu – Đông 1947, giặc Pháp mở cuộc hành quân quy mô lớn đánh lên Việt Bắc với tham vọng tiêu diệt cơ quan đầu não kháng chiến của ta. Siêu Hải là người có sáng kiến đề nghị cấp trên cho chuyển pháo đến sát mép nước, thực hiện đặt gần bắn thẳng. Sau đó tại khúc Đoan Hùng của sông Lô, anh chỉ huy trung đội sơn pháo của ta bắn chìm 3 tàu chiến, bắn trọng thương một chiếc khác, góp phần cùng các đơn vị bạn bẻ gãy trận càn của giặc Pháp do tên quan năm Com-muy-nan chỉ huy.

Nhạc sĩ Văn Cao có Trường ca sông Lô nổi tiếng. Siêu Hải là người trong cuộc nên có một trường ca bằng văn xuôi để tạo nên đôi bạn song hành. Vậy là Siêu Hải viết, viết rồi sửa chữa đến bốn lần. Tiểu thuyết Sông Lô ra đời cũng được dư luận hoan nghênh. Một thời gian sau, khi tái bản mang tên mới Sông Lô xanh (theo tác giả tâm sự, cái tên mới ít nhiều gợi cho bạn đọc âm hưởng bản nhạc Đa-nuýp xanh!).

Bị cuốn hút bởi nhiều công việc khác nhau như viết sử binh chủng, làm phim giáo khoa, rồi chỉ huy một trung đoàn trọng pháo 130mm ở giới tuyến quân sự, Siêu Hải vẫn ấp ủ một ước mơ cháy bỏng là được viết một bộ tiểu thuyết dài hơi về Thăng Long-Hà Nội. Vậy mà cho đến năm 1984, bước vào tuổi lục tuần, anh mới thực hiện được. Đó là khi anh được về hưu với quân hàm đại tá, gia đình tương đối ổn định. Đề cương bộ tiểu thuyết anh đã làm xong từ lâu, nay hoàn chỉnh không tốn quá nhiều thời gian, chia thành ba tập.

Nửa chừng, di chứng sốt rét, bệnh chảy máu dạ dạy và cơ thể suy nhược buộc anh phải đi cấp cứu. Khi được ra viện, bác sĩ yêu cầu phải nghỉ ngơi không lao động trong sáu tháng. Nhưng chỉ ba tháng sau, Siêu Hải lại ngồi vào bàn và miệt mài viết. Để đến năm 1992, tập 1 của bộ tiểu thuyết mang tên Mảnh trăng Tô Lịch, gồm 29 chương, đã hoàn thành. Khi được xuất bản, tác phẩm có sức cuốn hút mạnh, các bài điểm sách trên báo chí đều khen ngợi.

Anh Siêu Hải tâm niệm: “Phải tiếp tục dấn bước, và viết cuốn sau hay hơn cuốn trước”. Vậy là trong góc nhỏ của căn nhà phố Hàng Chiếu, anh lại cặm cụi, say mê viết. Thời gian này vật giá đang leo thang, lạm phát phi nước đại, chị Chắt vợ anh nhiều khi muốn mua chục quả trứng, dăm lạng thịt bồi dưỡng cho chồng, cũng khó. Nhưng anh không để tâm đến chuyện đó. Đơn vị cũ cấp cho tấm phiếu may đo bộ lễ phục, anh cũng quên khuấy. Năm 1995 là Bóng chiều Thăng Long và năm 1997 là Nắng kinh thành được xuất bản. Vậy là trọn bộ tiểu thuyết về Thăng Long-Hà Nội đã có trên giá sách người hâm mộ, chỉ có điều chúng đã vắt kiệt sức tác giả. Bù lại, anh nhận được nhiều lời khen ngợi. Nhà nghiên cứu Phan Ngọc đánh giá: “Siêu Hải là nhà tiểu thuyết về văn hóa Việt Nam”.

Lớp đàn em chúng tôi nhớ mãi lời anh Siêu Hải thổ lộ khi trò chuyện: “Tôi chiến đấu và viết văn đều hăng say, nhưng không hề ý thức mình là nhà văn. Chẳng thế mà Hội Nhà văn Việt Nam kết nạp tôi vào Hội tới hai lần đó!”. Chuyện này trở thành một giai thoại vui trong giới văn nghệ sĩ. Do đó thật dễ hiểu vì sao mọi người đều quý mến anh, bởi anh viết văn với động cơ trong sáng, ẩn mình để viết, vượt qua tuổi già và bệnh tật để viết và cống hiến cho đời nhiều hoa thơm quả ngọt, đặc sản của Hà thành.

Đầu xuân năm nay, anh nói với tôi qua điện thoại là sẽ có món quà nhỏ đóng góp vào Đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long-Hà Nội. Đó là tiểu thuyết Thủ đô ta, dày khoảng 400 trang. Đến nay chắc đã có bản thảo hoàn chỉnh, nó đang ở trên bàn biên tập của một nhà xuất bản nào đó…

Trương Nguyên Tuệ
qdnd.vn

Cảm tưởng của nhân dân và khách quốc tế đến viếng Bác

cam tuong aTổng thống Myanmar Thein Sein ghi cảm tưởng khi vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Kể từ ngày khánh thành Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh 29-8-1975 đến nay, đã có gần 45 triệu lượt người đến viếng Bác, trong đó có hơn 7 triệu khách quốc tế đến từ hơn 160 quốc gia, vùng lãnh thổ và các tổ chức quốc tế trên toàn thế giới. Chừng ấy lượt người đến đây để tỏ lòng tôn kính và tri ân với Bác. Lật mỗi trang trong cuốn sổ ghi cảm tưởng tại Ban Quản lý Lăng, cảm xúc lại dâng trào, hạnh phúc vì được làm công dân của nước Việt Nam, được là con cháu Bác Hồ.Bác đã về với cõi vĩnh hằng, nhưng cuộc đời của Người lại tỏa sáng bao la. Như một cách đến với ký ức về Người, những cuốn sổ cảm tưởng tại đây giúp ta hiểu thêm về Bác, hiểu những tình cảm sâu nặng, nghĩa tình của Bác đối với dân, với nước… Và cũng để thấy, tình yêu thương, lòng biết ơn của dân tộc Việt Nam và bạn bè thế giới dành cho Bác là vô hạn.

Sáng 24-6-2012, các em nhỏ trong trang phục áo trắng quần xanh, trên vai đeo khăn quàng đỏ ùa xuống xe. Những khuôn mặt tròn trịa, những vầng trán thông minh, những bím tóc gọn gàng… và những đôi mắt ánh lên rực rỡ. Đó là những học sinh tiêu biểu xuất sắc đến từ Quảng Nam xa xôi, các em được đến thăm Lăng Bác và được báo công với BácĐã từng nghe ông bà, bố mẹ kể, nghe thầy cô giáo giảng bài hay đọc trong các trang sách, song đây là lần đầu tiên các em được đứng giữa Quảng trường Ba Đình lịch sử, hít căng lồng ngực gió Thủ đô Hà Nội và được tận mắt thấy Bác trong giấc ngủ bình yên, xem những thước phim tư liệu quý giá về cuộc đời của Bác. Những giọt nước mắt xúc động lăn trên khuôn mặt trẻ thơ khi các em xem bộ phim tài liệu “Những giờ phút cuối đời Bác Hồ”. Ngay cả khi bộ phim đã kết thúc từ lâu, ngồi viết những dòng chữ bày tỏ cảm xúc vào cuốn sổ lưu niệm, Liên vẫn còn bồi hồi xúc động: “Xem phim, cháu thấy thương Bác vô cùng. Chúng cháu hứa quyết tâm học tập tốt, thực hiện tốt 5 điều Bác Hồ dạy để luôn xứng đáng là “Cháu ngoan Bác Hồ”.

Không có việc gì khó

Chỉ sợ lòng không bền

Đào núi và lấp biển

Quyết chí ắt làm nên”.

Đó có lẽ không chỉ là tâm trạng riêng của cô bé Liên, đó là cảm xúc chung của tất cả những ai từng đến thăm Lăng Bác. Lần giở từng trang cuốn sổ lưu niệm của những ngày qua hay những cuốn sổ của nhiều năm về trước, chúng tôi càng thấy rõ điều này.

Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là dịp để chúng ta được nghe kể chuyện Bác Hồ. Ký ức về Bác là những điều vô cùng quý báu mà bất cứ ai nếu có cũng gìn giữ trang trọng nơi sâu thẳm trái tim. Đến thăm Lăng Bác, phút giây đứng trước anh linh của Người, ký ức đó bất chợt ùa về khiến nhiều người xúc động. Ông Nguyễn Bá Chinh, chiến sĩ Tàu không số từ Bình Thuận ra Hà Nội vào Lăng viếng Bác vào ngày 7-3-2005 trải lòng mình qua những dòng lưu niệm: “Con vẫn nhớ ngày 5-10-1964, Bác đến gian phòng nhỏ tại Trạm 66. Bác giao nhiệm vụ và dặn dò: Bác nghe các chú sắp đi công tác xa, dù bận rất nhiều việc Bác vẫn thu xếp lại đến thăm các chú. Trước hết, Bác thay mặt cho Trung ương Đảng và Chính phủ biểu dương các chú. Trong những năm qua, các chú đã hoàn thành nhiệm vụ giúp Trung ương Đảng và Chính phủ chỉ đạo cuộc kháng chiến mỗi ngày một thắng lợi. Bây giờ, nhiệm vụ sắp đến, việc chi tiêu là cần thiết. Bác dặn các chú, xét thấy cần thì bạc triệu cũng chi; không cần thì một xu cũng không chi; đói thì xin, đừng ăn cắp; xin không xấu mà ăn cắp thì có tội với Đảng, với dân. Lời dặn ấy đến hôm nay con vẫn còn ghi trong máu thịt. 40 năm 4 tháng rồi con mới được trở về thăm Bác. Nhìn hình ảnh của Bác, tự trong tim con trào lên dòng nước mắt”. Những dòng chữ được viết ra từ cảm xúc mà chủ nhân của nó dường như đang thổn thức ngược trở về quá khứ, chắp nối những khoảnh khắc của ký ức mà bấy lâu vẫn là một phần trong cuộc sống của đời ông.

Xúc động trước tình cảm của cán bộ, công nhân viên, chiến sỹ Ban Quản lý Lăng, đồng chí Nguyễn Văn Đức, thay mặt các đồng chí trong Đoàn các chiến sĩ đoàn Tàu không số đến viếng Bác ngày 25/3/2012, đã ghi vào sổ cảm tưởng của Ban Quản lý Lăng những dòng cảm xúc đặc biệt: “Vô cùng xúc động khi được trở lại thăm Thủ đô Hà Nội, được đến viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh, được xem lại những hình ảnh của Bác trong những lúc cuối đời. Chúng tôi, những cựu chiến binh của 5 con thuyền gỗ của các tỉnh: Bến Tre, Cà Mau, Trà Vinh và Bà Rịa – Vũng Tàu rất cảm ơn Ban Quản lý Lăng đã tạo mọi điều kiện cho Đoàn được vào viếng Bác. Đây là nguồn động viên lớn đối với chúng tôi. Chúng tôi nguyện một lòng trung thành và phấn đấu để góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân, toàn quân xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa – Con đường mà Đảng và Bác Hồ đã lựa chọn”.

Trong dòng người vào Lăng viếng Bác, không ít người là Việt kiều trở về với Bác, với Tổ quốc. Bà Trần Thị Sâm, vợ ông Nguyễn Văn Tiến, nguyên Ủy viên Hội người Việt Nam tại Phápvào Lăng viếng Bác ngày 12-4-2008, viết: “Chúng cháu từ Mác-xây về, nhớ thương Bác vô cùng. Thay mặt anh Tiến, xin thành kính dâng lên Bác niềm thương nhớ của một người cháu sống xa Tổ quốc nhưng lại có vinh dự được phục vụ Bác và đoàn khi sang thăm Pháp tại Bi-a-rit và Mác-xây mùa hè năm 1946”. Sự cống hiến, hy sinh tận tụy của Bác đối với đất nước cũng thức dậy trong lòng những người con xa quê khát vọng trở về đóng góp xây dựng Tổ quốc, thể hiện qua những dòng chữ của Đoàn Việt kiều Thái Lan tỉnh Sakon Nakhon đến viếng Bác ngày 28-11-2006: “Sau 60 năm, chúng tôi về thăm Tổ quốc thân yêu. Được thấy hình ảnh Bác Hồ, vị cha già vĩ đại của dân tộc, lòng chúng tôi vô cùng cảm kích. Những người con Việt kiều Thái Lan nguyện làm theo Di chúc của Người. Chúng tôi luôn mong được trở về Tổ quốc, góp phần xây dựng quê hương Việt Nam yêu dấu, sánh ngang cùng bạn bè bốn bể năm châu”.

Đối với Bộ trưởng Tài chính và Vật giá Cuba Ma-nu-en Mi-la-ret Rô-tri-get và các thành viên trong Đoàn đến viếng Bác năm 2001, Chủ tịch Hồ Chí Minh là “một nhà anh hùng cách mạng thế giới. Người luôn hiện diện và là một tấm gương về đấu tranh, hy sinh vì nền độc lập toàn vẹn của Tổ quốc. Chủ tịch Hồ Chí Minh, những người cách mạng trên thế giới luôn mang nợ với Người. Xin cảm ơn nhân dân Việt Nam anh hùng và vị lãnh tụ vĩ đại của nhân dân Việt Nam”. Sự vĩ đại của Bác cũng là nhịp cầu nối cho đất nước Việt Nam đến với thế giới hôm nay. Đến viếng Bác ngày 21-3-2012, Ngài Tổng thống nước Cộng hoà Mi-an-ma đã ghi vào sổ cảm tưởng của Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Tôi rất vinh hạnh được đến thăm Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh và vào Lăng viếng Người, đến đặt hoa tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Tôi tin tưởng rằng tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh sẽ sống mãi trong trái tim các thế hệ người Việt Nam. Thay mặt Đoàn đại biểu cấp cao Mi-an-ma và nhân danh cá nhân xin bày tỏ sự kính trọng sâu sắc các Anh hùng liệt sỹ, những người đã hy sinh cuộc sống của mình đấu tranh vì nền độc lập của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Đại sứ Hàn Quốc tại Việt Nam Im Hong – Jae chia sẻ trong sổ cảm tưởng Ban Quản lý Lăng năm 2007: “Tình yêu và lòng kính trọng của người dân Việt Nam đối với người lãnh đạo vĩ đại của dân tộc là vô hạn và không gì sánh nổi. Xin được bày tỏ lòng kính trọng đối với nhà lãnh đạo của dân tộc Việt Nam. Và tôi thực sự mong muốn, trong suốt nhiệm kỳ công tác của mình, với tư cách là Đại sứ tại Việt Nam, mối quan hệ tốt đẹp vốn có giữa 2 quốc gia sẽ được phát triển hơn nữa, trở thành mối quan hệ hợp tác hữu nghị giữa 2 dân tộc. Xin được bày tỏ lòng kính trọng đối với những giá trị văn hóa, lịch sử lâu dài đáng tự hào của dân tộc Việt Nam”. Vui mừng được đến thăm đất nước Việt Nam tươi đẹp, khâm phục những thành công về chính trị, xã hội, văn hoá và kinh tế của nhân dân Việt Nam, cảm ơn sự đón tiếp nhiệt tình của cán bộ, công nhân viên, chiến sỹ tại Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh dành cho Đoàn ngày 14/5/2012, Ngài Ja-nit Ka-lin, Phó Tổng Giám đốc UNESCO phụ trách về truyền thông và thông tin, đã ghi vào sổ cảm tưởng của Ban Quản Lý Lăng những dòng tâm sự: “Tôi rất cảm ơn sự đón tiếp nhiệt tình và lòng mến khách của các bạn và xin bày tỏ sự kính trọng sâu sắc đối với sự nghiệp vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng như những công lao to lớn của Người đối với dân tộc Việt Nam”.

Đây chỉ là một trong hàng ngàn dòng cảm tưởng trong những cuốn sổ cảm tưởng tại Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhưng qua đây chúng ta thấy được phần nào tình cảm và sự kính trọng của nhân dân Việt Nam và bè bạn quốc tế đối với Người.

Lan Hương
bqllang.gov.vn

Người Tự vệ thành trong 60 ngày đêm quyết tử

Đại tá Nguyễn Trọng Hàm.

Trong số những người lính tham gia 60 ngày đêm quyết tử bảo vệ Thủ đô, có người là chiến sĩ Vệ quốc đoàn, chiến sĩ tự vệ chiến đấu thành Hoàng Diệu hoặc chiến sĩ công an, nhưng phần đông là những chiến sĩ Tự vệ thành tự nguyện ở lại chiến đấu giam chân địch, tạo điều kiện để toàn quốc bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp. Ông Nguyễn Trọng Hàm là một trong những chiến sĩ Tự vệ ấy…

Nguyễn Trọng Hàm sinh ra và lớn lên ở phố Hàng Thiếc (nay thuộc phường Hàng Gai, Hà Nội) trong một gia đình lao động. Sớm giác ngộ cách mạng, ông tham gia các hoạt động chống Nhật, Pháp từ những ngày tiền khởi nghĩa và trực tiếp tham gia giành chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám rồi hăng hái tham gia các hoạt động giữ vững chính quyền non trẻ. Trước yêu cầu nhiệm vụ mới, ông cũng là người tham gia thành lập và tích cực hoạt động trong Tự vệ thành Hà Nội từ những ngày đầu tiên. Ông đã trực tiếp xây dựng đại đội Tự vệ Thành ở khu phố Hàng Thiếc gồm đủ thành phần: Công nhân, viên chức, học sinh, sinh viên, tiểu thương, tiểu chủ…

Trong những ngày tháng mùa Đông năm 1946, khi đường phố Hà Nội sục sôi không khí chiến đấu chống trả các hoạt động phá hoại, khiêu khích trắng trợn của quân đội thực dân Pháp, Nguyễn Trọng Hàm đã chỉ huy Tự vệ thành và nhân dân các khu phố đào hào, đắp lũy, rải chướng ngại vật, dựng ba-ri-e cát ở các ngã tư, đục tường thông từ nhà nọ sang nhà kia, tạo thành các trận địa chiến đấu liên hoàn sẵn sàng đánh trả địch. Khi bọn lê dương mũ đỏ từ trong thành xông ra đi khiêu khích quấy phá, ngăn trở công tác chuẩn bị chiến đấu của ta, ông đã chỉ huy lực lượng tự vệ đánh trả quyết liệt, diệt một số tên, buộc chúng phải nhiều lần rút chạy.

Những ngày tháng chạp căng thẳng cuối năm 1946, thực dân Pháp càng trắng trợn gây hấn ép buộc ta, Nguyễn Trọng Hàm đã cùng Đại đội tự vệ tự nguyện ở lại chiến đấu với lời thề “Sống chết với Thủ đô”, “Thề hy sinh đến giọt máu cuối cùng để bảo vệ Thủ đô”. Sau hơn nửa tháng chiến đấu, giữa khói lửa bom đạn ác liệt, ngày 6-1-1947, Trung đoàn liên khu I được thành lập. Đến ngày 12-1-1947, Hội nghị quân sự toàn quốc họp ở Chương Mỹ (Hà Tây cũ) đã tặng đơn vị danh hiệu Trung đoàn Thủ Đô. Nhân sự kiện này, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã nói: “Đặt tên cho Trung đoàn ấy không có một tên nào oanh liệt hơn là tên Trung đoàn Thủ Đô”.

Sau ngày thành lập trung đoàn, Nguyễn Trọng Hàm được cử làm Trung đội trưởng Trung đội 2 thuộc Tiểu đoàn 102 (khu Đông Thành) đảm nhiệm các tuyến phố Hàng Thiếc, Hàng Bồ, Hàng Bút, Hàng Phèn, Thuốc Bắc… đánh vào các mục tiêu của Pháp ở quanh thành Cửa Đông và ngăn chặn địch từ Cửa Đông, Đường Thành đánh ra. Ông đã chỉ huy nhiều trận tập kích, phục kích vào các mục tiêu, diệt nhiều tên và phá hủy nhiều xe tăng, xe cơ giới của địch. Đặc biệt trong trận đánh quyết tử giữ vững trận địa phố Hàng Thiếc suốt 3 ngày đêm từ 7 đến 10-2-1947, Trung đội 2 do ông chỉ huy đã cùng Trung đội 3 của đồng chí Nguyễn Anh Dũng đánh bại cuộc tiến công của địch, làm thất bại âm mưu đánh sâu vào trung tâm Liên khu 1 – cơ quan chỉ huy đầu não của Trung đoàn – hòng nhanh chóng kết thúc cuộc chiến đấu của Trung đoàn Thủ Đô. Trận địa phố Hàng Thiếc cùng các tuyến phố Bát Đàn, Hàng Bồ, Thuốc Bắc đã được giữ vững cho đến đêm rút quân cuối cùng ngày 17-2-1947.

Sau 8 năm lăn lộn chiến đấu trên các chiến trường, ông đã trở thành một tiểu đoàn trưởng dày dạn kinh nghiệm trận mạc của Trung đoàn Thủ Đô, trực tiếp tham gia nhiều chiến dịch lớn từ Việt Bắc đến Tây Bắc, từ Trung du đồng bằng đến Điện Biên Phủ. Rồi lời thề “ra đi hẹn ngày về” năm xưa cũng được thực hiện. Ngày 10-10-1954, Nguyễn Trọng Hàm đã cùng Trung đoàn trở về giải phóng Thủ đô giữa rừng cờ đỏ sao vàng, giữa muôn ngàn đóa hoa tươi thắm cùng tiếng reo hò, tiếng đàn hát của hàng vạn đồng bào Hà Nội…

Sau khi Tổ quốc thống nhất, Đại tá Nguyễn Trọng Hàm được cấp trên điều động về làm Phó tham mưu trưởng Quân khu Thủ Đô. Trên cương vị mới, lúc này tuy tuổi đã cao nhưng ông luôn đề cao trách nhiệm, hoàn thành xuất sắc trọng trách của mình, được cấp trên, đồng đội và nhân dân quý trọng, yêu mến. Nghỉ hưu đã hơn 20 năm, Đại tá Nguyễn Trọng Hàm vẫn được tín nhiệm bầu làm Trưởng ban liên lạc Chiến sĩ quyết tử Liên khu I, Trung đoàn Thủ Đô. Ông sống rất tình nghĩa, chân thành, hết lòng vì đồng chí đồng đội. Mặc dù tuổi cao, sức yếu, gia đình gặp nhiều khó khăn nhưng ông luôn hăng hái tích cực hoạt động giúp đỡ những người bạn, người đồng chí đã cùng chiến đấu và trở thành tấm gương sáng cho các thế hệ con cháu noi theo.

Nguyễn Huy Du
qdnd.vn

Những người tôi thương nhớ

Hồi ấy, tôi và nhà thơ Xuân Hoàng được Hội Nhà văn cho về thâm nhập thực tế ở vùng Quảng Bình – Vĩnh Linh. Lúc này vợ con chúng tôi đều ở Quảng Bình.

Khi Mỹ ném bom, bắn phá ác liệt ở vùng Quảng Bình, Vĩnh Linh, thì tôi được Hội triệu tập ra trại sáng tác Quảng Bá, Hà Nội.

Nhà văn Trần Công Tấn và con gái Thúy Vinh ở Hà Nội.

Ra dự trại có Thu Bồn, Liên Nam, Anh Đặng… Ngồi viết sách nhưng thỉnh thoảng chạy ra hầm hố ẩn nấp khi nghe loa phóng thanh báo có máy bay địch hướng về Hà Nội. Mỗi lần như thế, Thu Bồn và tôi đội mũ sắt, đeo súng ngắn vào hông, sẵn sàng nếu bộ đội phòng không bắn rơi máy bay thì hai đứa tôi lao theo dân quân đi bắt giặc lái Mỹ.

Đứng trên bờ đê Yên Phụ – Nhật Tân, chúng tôi thấy rõ tên lửa bay, máy bay Mỹ bị nổ tung giữa bầu trời. Mọi người vỗ tay reo hò, vui mừng như trẻ con rồi lao ra bãi sông Hồng, đi bắt giặc lái.

Nhưng những ngày vui đó cũng chóng qua do Mỹ ngày càng đánh phá ác liệt hơn. Năm 1971, Hội Nhà văn sơ tán vào Bến Đục. Trại viết văn chấm dứt. Thu Bồn, Liên Nam chuẩn bị theo Văn nghệ quân đội đi sơ tán. Tôi chuẩn bị đạp xe về Quảng Bình thì vợ tôi – cô giáo Phan Thị Bích An bất ngờ đem hai con gái nhỏ: Trần Thị Ngọc Lan mới tám tuổi và Trần Thúy Vinh hai tuổi ra Hà Nội giao cho tôi và nói: “Tỉnh ủy chủ trương tất cả đảng viên cho con nhỏ đi sơ tán ra các tỉnh phía Bắc, rồi trở về mà đánh giặc. Giáo viên thì đào hầm, đưa trường lớp xuống dưới lòng đất mà dạy. Còn vài ba học sinh cũng phải bám trụ mà dạy”.

Nói rồi, Bích An ôm con nhỏ, ngủ lại một đêm. Sáng hôm sau dậy sớm, rón rén ôm hôn con rồi trở về Quảng Bình.

Mọi người đi hết, tôi cảm thấy bơ vơ. Cháu Vinh lại ốm, nằm một chỗ. Nghe còi báo động máy bay, tôi ôm con nhỏ, dắt con lớn chạy xuống hầm.

Thu Bồn nhìn cha con tôi, ái ngại nói:

– Tấn đừng lo. Mình sẽ ở lại với cha con cậu.

Ngày ngày, Thu Bồn vác súng hơi đi quanh vùng Nhật Tân – Quảng Bá bắn chim. Chim gì cũng bắn: Chào mào, họa mi, sáo sậu, cu gáy, cà cưỡng… miễn là có chim đem về lấy thịt nuôi cháu Vinh.

Anh Chế Lan Viên và Nguyễn Tuân lên thấy Vinh ốm, Chế Lan Viên đi bắt cóc về làm thịt, băm viên, nấu cháo đỗ xanh cho Vinh ăn. Anh Tuân nói: “Tấn là “nhà quân sự”, ông không thấy Quảng Bá nằm cạnh con đê và cây cầu bắc qua sông Hồng. Mỹ nó đang nhằm ném bom cho vỡ đê, sập cầu. Phải đưa con đi chỗ khác”. Nói rồi anh móc túi cho hai chục đồng, dặn: “Cầm lấy mua thức ăn nuôi cháu”. Anh còn rỉ tai: “Này này. Mua cá mè của bọn câu trộm ở hồ Quảng Bá, Hồ Tây thì rẻ hơn cá ở chợ”…

Tôi nghe anh Tuân, đem con về sơ tán giữa… trung tâm Hà Nội. Ở nhờ căn hộ của nhà văn Hoàng Lại Giang và nhà thơ Lữ Huy Nguyên tại 52  Trần Nhân Tông.

Giang và Nguyên lấy sách xếp chồng lên cái bàn viết. Chất sách cao hai bên bàn làm cái hầm cho ba cha con ẩn nấp khi máy bay Mỹ đến.

Cả xóm Trần Nhân Tông đông vui thế đi sơ tán hết chỉ còn mấy người ở lại: Giang và Nguyên, bà Lê bán cháo gà, cô Quy uốn tóc, bà Tiệp hàng xén và ba bố con tôi. Sống tạm ổn vì có người chung quanh được mấy ngày thì Giang và Nguyên đi thực tế vào chiến trường miền Nam. Lúc địch ném bom trúng ga Hàng Cỏ thì cả xóm đi hết không còn ai. Trước khi sơ tán, bà Tiệp nói: “Anh là nhà văn, nhà báo thì ở lại cùng đánh Mỹ mà viết lách. Cứ giao hai cháu Lan, Vinh đi sơ tán với chúng tôi”. Cô Quy và bà Lê cũng muốn đưa hai con của tôi theo nhưng các cháu khóc, không muốn xa bố.

Anh Nguyễn Đình Thi, Chủ tịch Hội Nhà văn biết tin, đến thăm. Anh nói sẽ cho xe Hội Nhà văn đến đón ba bố con đi Bến Đục. Tôi thưa rằng cha con tôi cần ở lại Hà Nội, tìm xe quân sự của Đoàn 559 để về lại Quảng Bình. Anh lắng nghe tôi nêu đủ lý do để ở lại Hà Nội nhưng vẫn khuyên tôi nên đem hai con đi sơ tán. Anh nói rằng sắp đến Mỹ sẽ dùng máy bay B52 ném bom rải thảm hủy diệt Hà Nội… Tôi nói, ở giữa Hà Nội như thế này là an toàn lắm rồi, vẫn chưa ác liệt bằng lúc tôi ở Quảng Bình.

Biết tôi không thể rời Hà Nội, anh Thi nói:

– Thôi được, nếu ở lại thì ở Hội Nhà văn có cái hầm ẩn nấp tốt. Tấn đem các cháu đến đó mà tránh bom ít hôm…

Sau đó là vào những ngày ác liệt trong mười hai ngày đêm tháng Chạp năm 1972 bám trụ Hà Nội trong cái hầm sách ở 52 Trần Nhân Tông. Cha con chúng tôi vẫn sống trong sự đùm bọc của người Hà Nội.

Vợ chồng các nhà văn Nguyễn Anh Tài, Văn Linh mang đến cho chúng tôi bánh mì khô (bít cốt) tem phiếu để mua gạo, đậu phụ và cá thịt. Anh Chế Lan Viên, Bùi Hiển thì cho tiền. Thu Bồn từ chỗ Văn nghệ quân đội số 4 Lý Nam Đế mang đến cho một thùng lương khô…

Bà Tiệp, bà Lê, cô Quy vài ba bữa ở nơi sơ tán đem về cho chúng tôi quả bầu, quả bí, ít khoai lang và thức ăn.

Tôi nhớ có ông già tổ trưởng dân phố tên là bác Mai. Bác mặc sơ mi, quần tít-xo màu mỡ gà, là thẳng tắp. Tay chống gậy “ba toong” đến gặp tôi. Bác lễ phép cất cái mũ phớt khỏi mái đầu bạc ra vẻ chào, giương mục kỉnh ái ngại nhìn tôi và nói:

– Bố con anh là người ngụ cư bất ngờ, cho nên tôi không thể buộc anh mang các cháu đi sơ tán như các vị khác trong phố này. Nhưng cảm phiền anh: Đầu hôm anh cho biết ba bố con có ở lại đêm không. Nhỡ nó bom sập nhà, biết có người đang ở trong nhà để cho dân quân tự vệ đến đào bới mà cấp cứu.

Nói xong bác Mai lại chống gậy đến nhà khác. Từ đó, cứ đầu hôm bác đến gặp tôi. Mở sổ tay bác ghi nắn nót tên tôi và hai cháu. Đêm lại còi báo động, súng cao xạ, tên lửa rực trời. Tiếng bom nổ chỗ này, chỗ khác.

Rạng sáng bác Mai đến ngoài ngõ hỏi chõ vào: “Anh Tấn ơi! Vẫn còn ở đấy chứ”. Tôi vui mừng báo: “Ba bố con tôi vẫn bình yên, bác Mai ạ”. Bác cười, lọc cọc chống gậy đi.

Có hôm bác hỏi xong, lại nói: “Anh ra tôi bảo cái này”. Tôi chạy ra, bác trao cho gói xôi nóng, nói: “Đem vào cho hai cháu”. Cứ như vậy. Lúc thì gói xôi, lúc ổ mì, lúc mấy củ khoai luộc. Bác góp phần nuôi bố con tôi.

Tác giả (bên trái) khai thác phi công Lô-chát Hây-đơ lái máy bay F4H bị bắn rơi tại Thác Cóc, Quảng Bình ngày 9-3-1965. Ảnh do tác giả cung cấp

Tôi nhớ cái đêm kinh hoàng, giặc Mỹ đưa máy bay B52 đến ném bom Hà Nội. Chỗ chúng tôi ở rất gần phố Khâm Thiên, ga Hàng Cỏ, Bệnh viện Bạch Mai. Bom nổ, tiếng đạn cao xạ, tên lửa bắn đuổi máy bay, bầu trời Hà Nội đỏ rực như máu. Đêm cuối năm trời rét dữ, tôi lấy tất cả chăn gối của nhà Lại Giang, Lữ Huy Nguyên ủ ấm cho hai con rồi ra ngoài trời nhìn. Bom nổ rền bốn bên. Tên lửa vạch những đường đỏ rực bay lên. Máy bay B52 bị trúng đạn, bùng cháy, những khối lửa rơi lả tả. Tiếng reo hò của những người còn ở lại Hà Nội vang rền cả phố hoan hô bộ đội tên lửa và cao xạ. Chốc sau có tiếng chân người hối hả chạy qua nhà tôi, bắc loa gọi cả xóm đến Khâm Thiên cứu người bị sập hầm. Tôi đội cái mũ sắt, đeo súng ngắn vào và dặn con gái lớn: “Lan ở nhà trông em để ba đi cứu người”.

Băng qua đường sắt chạy vào đầu phố Khâm Thiên đã thấy lố nhố bộ đội, tự vệ, dân quân, thanh niên xung phong tay xẻng, tay cuốc đang hối hả đào bới những căn hầm bị sập. Một số bác sĩ, y tá đang băng bó cho người bị thương. Một số bộ đội và dân phố đang khiêng những tử thi ra khỏi đống gạch ngói đổ nát. Tôi đã nhận ra các nhà văn bám trụ Hà Nội cũng trong số người đào bới hầm sập. Anh Nguyễn Tuân, Thu Bồn đội mũ sắt. Chị Giên Phôn-đa, diễn viên điện ảnh Mỹ đang đưa máy lên ghi hình… chẳng ai nói với ai lời nào, chỉ nghe tiếng thở hổn hển và tiếng đất đá cuốc xẻng chạm nhau.

Cứ thế, mọi người miệt mài hối hả đào bới hết nhà này sang nhà khác trong lúc bom đạn và tiếng máy bay rền trời.

Trời rạng dần, máy bay địch đã mất hút. Sực nhớ đến hai con, tôi chạy về phố Trần Nhân Tông, vào nhà kêu tên con, chẳng có tiếng trả lời. Căn hầm sách chỉ còn chăn gối. Hốt hoảng, tôi đi tìm quanh nhà bà Lê, bà Tiệp, cô Quy vẫn trống vắng.

Một anh tự vệ nói: “Ra hồ Ha Le. Người chết, người bị thương, người lạc vô thừa nhận đều tập trung cả ngoài ấy”.

Tôi chạy quanh hồ Thuyền Quang, chỗ trước Đại sứ quán Lào, có mấy cái xác chết. Mấy người bị thương đang được băng bó và lố nhố dăm bảy đứa trẻ con. Tôi chạy ào đến thì hai con tôi trong đám xác chết và bị thương bước ra. Vinh khóc khản cả tiếng. Lan kêu: “Ba ơi! Ba ơi! Ba đi đâu mà lâu thế?”. Tôi ôm lấy hai con. Áo cả hai đứa đều lấm máu. Tôi sờ khắp người con xem chúng bị thương ở đâu. Chẳng có vết thương nào cả. Lan nói: “Ông Mai đến không thấy ba. Ông bảo mấy cô mấy chú bế con ra đây ngồi một chỗ với các bạn khác!”.

Tôi hiểu bác Mai tổ trưởng đã chăm sóc trẻ vắng bố mẹ bằng cách này. Hỏi Lan có đói không? Khát không? Lan nói: “Các cô các chú cho ăn cho uống rồi”. Tôi thầm biết ơn các cô chú y tế, dân quân tự vệ rồi xưng tên là bố của hai cháu và xin mang con về. Tôi phải ký vào cuốn sổ của cô giữ trẻ mới được bế Vinh và dắt Lan ra khỏi đám người chết, người bị thương ở bên bờ hồ Ha Le.

Bom đạn ác liệt đến thế, người Hà Nội vẫn bình tĩnh gan lì chiến đấu và chăm sóc nhau.

Trên đường trở về phố Trần Nhân Tông, tôi lắng nghe tin chiến thắng đêm qua vang lên trên các loa phóng thanh. Các em bé bán báo ôm những xấp báo lớn, cầm trên tay tờ báo đã mở, giơ lên vẫy vẫy vừa chạy vừa reo:

– Báo mới đây. Ta đã bắn rơi nhiều máy bay B52 của giặc Mỹ, bắt sống cả bầy giặc lái dẫn về nhốt chật trại giam… Báo mới đây!

Sau tin chiến thắng là bài ca “Người Hà Nội” bi tráng vang lên trên các loa phóng thanh:

Đây hồ Gươm, Hồng Hà, Hồ Tây

Đây lắng hồn núi sông ngàn năm

Đây Thăng Long

Đây Đông Đô

Đây Hà Nội, Hà Nội mến yêu…

Giờ đây hai con tôi ở Hà Nội năm ấy đã trưởng thành: Ngọc Lan đi làm luận án tiến sĩ ở Nga đã trở về giảng dạy Trường Đại học Văn Hóa. Thúy Vinh tốt nghiệp Nhạc viện Hà Nội, giảng dạy ở Nhạc viện TP Hồ Chí Minh, học cao học ở Pa-ri và hiện đang giảng dạy đàn dương cầm ở nước ngoài. Hẳn hai cháu không bao giờ quên những ngày ở Hà Nội, đã được người Hà Nội che chở thương yêu đùm bọc. Công ơn to lớn ấy chúng tôi không bao giờ quên.

Trần Công Tấn
qdnd.vn

Bốn mươi năm, đồng đội vẫn chưa về…

Một ngày cuối tháng 3 năm 2009, cựu chiến binh Hoàng Sơn Lâm ở phường Lê Lợi (thành phố Bắc Giang) trở lại thăm chiến trường Phước Sơn (Quảng Nam) –  nơi ông làm nhiệm vụ ở Đài quan sát của Trung đoàn 230 trên điểm cao 1599 và chứng kiến sự hy sinh anh dũng của 15 chiến sĩ đặc công thuộc đơn vị bạn trong trận đánh ngày 5-8-1970. Sau chuyến đi năm ấy, ông Lâm đã cần mẫn chắp nối thông tin từ các đồng đội và được biết họ là lính đặc công của Tiểu đoàn 404 – Quân khu 5…

Chắp nối thông tin tìm tên đồng đội

Để tìm hiểu rõ hơn về trận đánh diễn ra cách đây bốn thập kỷ, cựu chiến binh Hoàng Sơn Lâm đã cất công tìm kiếm tư liệu trong các cuốn lịch sử của nhiều đơn vị đặc công trên chiến trường Khu 5, nhưng không thấy tư liệu nào nhắc đến trận đánh này. Từ thành phố Bắc Giang, ông đã đi xe buýt về Hà Nội và tìm đến Tòa soạn Báo Quân đội nhân dân. Tới Ban Tư liệu, ông tỉ mỉ lật giở những chồng báo cũ và tìm được thông tin về trận đánh đăng trên Báo Quân đội nhân dân số ra ngày 7-8-1970: “Đêm 4 rạng ngày 5-8-1970, Quân giải phóng đã tiến công quân Mỹ thuộc Lữ đoàn 196 đóng ở Khâm Đức. Địch thú nhận đây là trận tiến công lớn nhất của Quân giải phóng vào quân Mỹ sau những trận đánh ở vùng điểm cao 935 phía tây thành phố Huế”. Có được thông tin chính xác về ngày hy sinh của đồng đội, ông Lâm lại tích cực liên hệ với các nhân chứng của Tiểu đoàn 404 để biết rõ hơn về những người tham gia trận đánh. Ông và các cựu chiến binh có cùng tâm nguyện đã tới Cục Chính sách – Tổng cục Chính trị, Phòng Chính sách Quân khu 5 và tập hợp nhiều nguồn thông tin khác nhau để tìm danh sách các liệt sĩ. Sau một thời gian kiên trì tìm kiếm, họ đã biết được tên của 7 trong số 17 liệt sĩ đặc công hy sinh ngày ấy.

CCB Hoàng Sơn Lâm (đứng giữa) và CCB Tiểu đoàn 404 tới thắp hương tại nơi đồng đội hy sinh 40 năm trước. (Ảnh do CCB Tiểu đoàn 404 cung cấp)

Tìm gặp cựu chiến binh Nguyễn Văn Bắc-nguyên Trợ lý quân giới Tiểu đoàn đặc công 404 – chúng tôi đã được ông kể khá chi tiết về trận đánh bi hùng của tiểu đoàn mình. Trận tập kích vào cứ điểm Khâm Đức đêm 4 rạng ngày 5-8-1970 được xác định là một trận đánh quan trọng, đối phương là lực lượng cơ động mạnh nên mũi chủ công được tiểu đoàn lựa chọn gồm 15 cán bộ, chiến sĩ đều là những cán bộ ưu tú, dày dạn kinh nghiệm. Dù bất lợi về thời gian và cách đánh, dù vũ khí mỗi người chỉ có 1 súng AK, 2 băng đạn, 6 quả thủ pháo, song mũi chủ công được chia làm 5 tổ do đồng chí Trợ lý Tác huấn Tiểu đoàn làm mũi trưởng đã dũng cảm chiến đấu giữa vòng vây dày đặc của địch. Trong lúc chiến đấu, địch phát hiện và bịt cửa mở, tất cả 15 cán bộ, chiến sĩ của mũi chủ công đã anh dũng hy sinh trong đồn địch và hai chiến sĩ khác hy sinh ở vòng ngoài…

Điều mong mỏi sau bốn mươi năm

“Sáng 5-8, tại trận địa, chúng tôi nghe loa của địch rêu rao trên máy bay là đã “tiêu diệt 15 Cộng quân”, ngay lúc đó tôi có hỏi anh Biền là Tham mưu phó Tiểu đoàn, anh cũng xác nhận 15 anh em của ta đã hy sinh trong trận đánh vào đồn địch đêm 4-8. Sau này, khi địch rút khỏi Khâm Đức, chấm dứt đợt càn lên hành lang Khu 5, tôi còn nhớ tại nơi địch đóng quân có một hố bom được san lấp và rào dây thép gai cẩn thận. Theo phán đoán của tôi, đó có thể là nơi địch chôn thi thể của các liệt sĩ hy sinh trong trận tấn công cứ điểm Khâm Đức”, Cựu chiến binh Nguyễn Văn Bắc nhớ lại.

Khi biết Ban CHQS huyện Phước Sơn (Quảng Nam) đã hai lần tổ chức tìm kiếm hài cốt liệt sĩ Tiểu đoàn đặc công 404 vào các năm 2001, 2007 và chưa có kết quả, ngày 6-6-2009, đồng đội Tiểu đoàn đặc công 404 đã tổ chức một chuyến đi trở lại chiến trường xưa do cựu chiến binh Nguyễn Văn Bắc dẫn đầu từ Hà Nội vào Khâm Đức. Dựa vào tài liệu của Tổ chức Cựu binh Mỹ tham chiến tại Việt Nam (VVA) do cơ quan quân sự huyện lưu giữ, đoàn đã tìm kiếm ở khu vực trường bắn đoạn giáp với sông Nước Chè, nhưng kết quả vẫn không tìm thấy hài cốt các liệt sĩ. Đầu tháng 8 năm 2010, gia đình liệt sĩ Nguyễn Văn Tiến ở Quốc Oai (Hà Nội) cũng tổ chức tìm kiếm ở khu vực phía đông đường băng thuộc khu cột cờ, cũng giống như ba lần tìm kiếm trước, khu vực chôn cất các liệt sĩ vẫn chưa được xác định.

“Trở lại Khâm Đức lần thứ hai vào tháng 6 năm ngoái, tôi và các chiến sĩ Tiểu đoàn 404 chỉ thắp được cho đồng đội nén hương để anh linh các liệt sĩ được an ủi phần nào. Chúng tôi vẫn cảm thấy lòng mình day dứt bởi đã nhiều lần tìm kiếm mà các anh vẫn chưa “về”. Hy vọng trong năm nay, khi vừa tròn 40 năm các liệt sĩ ngã xuống, chúng ta sẽ tìm thấy họ”, cựu chiến binh Hoàng Sơn Lâm đã tâm sự với chúng tôi như vậy. Điều ông Lâm và các cựu chiến binh Tiểu đoàn 404 mong mỏi hiện nay là muốn được đồng đội trên khắp cả nước cung cấp thêm thông tin về danh sách các cán bộ, chiến sĩ tham gia trận tiến công cứ điểm Khâm Đức và nên chăng cần dựng một tượng đài kỷ niệm ngay tại nơi các anh đã anh dũng hy sinh…

Bùi Vũ Minh
qdnd.vn

“Sổ, tem, phiếu” thời bao cấp

“Ngẩn ngơ như người mất sổ gạo” là thành ngữ điển hình của thời bao cấp ngày xưa. “Sổ gạo” tức là “Sổ lương thực” mà Nhà nước ta thời ấy phát cho mỗi hộ gia đình. Trong sổ ghi rõ họ tên, tiêu chuẩn lương thực hằng tháng của từng người. Đầu tháng, mang “Sổ gạo” ra cửa hàng lương thực gần nhất, xếp hàng, đợi gạo. Có dạo bán cả tháng, có dạo lại chỉ bán nửa tháng một. Gọi là “Sổ gạo”, nhưng thường thường là “nửa gạo, nửa mì”. Mì, có khi là mì bột, có khi là mì sợi, do các nước XHCN ngày ấy viện trợ cho Việt Nam. Thời đánh Mỹ lại càng nhiều mì. Cũng lắm khi, thay cho mì là ngô xay, là sắn khô, và sau này là hạt bo bo.

Phiếu thực phẩm

Nông dân, hiển nhiên là không có “Sổ gạo”. Riêng những làng nghề-ví dụ như quê tôi, làm thêm nghề tằm tơ, kiêm nghề dệt lụa gia công cho Nhà nước – thì những nhà, những người thợ thủ công này, cũng có “Sổ gạo”. Bộ đội và ai làm “công nghiệp nặng”, được 21kg mỗi tháng. Ưu tiên sinh viên sư phạm, cũng vậy, còn thì tùy vào nghề mà “ăn” 19kg, 17kg, 15kg mỗi tháng. Giáo viên, thị dân thì được 13,5kg. Trẻ con còn được ít hơn nữa, theo tuổi. Ngoài số lương thực trong “Sổ gạo”, không thể mua thêm ở đâu nữa, trừ khi bỏ tiền ra mà đi ăn… phở hay mì ở ngoài. Thế nên mới có chuyện, khi vợ họa sĩ Nguyễn Quân đặt “Sổ gạo” lên bàn, chán nản thông báo: “Gạo chưa về!”, thì họa sĩ (vốn là con trai duy nhất của một thiếu tướng quân đội ta) cười bảo: “Gạo chưa về, nhưng phở về rồi!”. Thế là cả nhà bỏ tiền ra, đi ăn phở đợi gạo. Mà phở, mì thời ấy, đa số là phở “mậu dịch”, mì “không người lái”- tức là không có một chút thịt nào. Thiểu số có thịt, thì thịt mỡ, thái mỏng, dày gấp chừng năm lần tờ giấy bóng kính, quạt mạnh là bay mất! Nhân viên cửa hàng ăn ngày ấy thái thịt giỏi gấp mấy lần “thằng Mới” trong ngày làng có việc xưa kia. Cũng vì thế cho nên, những làng nấu rượu “quốc lủi” thời đó bị cấm, không được nấu rượu bằng gạo. Ở các làng Vân Hà, Đại Lâm (Hà Bắc thời đó), người ta nấu rượu bằng sắn. Nếu bất ngờ, công an và phòng thuế đến kiểm tra, chỉ cần thấy bã rượu gạo, tức là chủ lò đã “vi phạm chính sách lương thực”, và tất nhiên là không thể tha được.

Nhưng cũng chính vì thế, mà dân Hà Bắc đã đưa được việc nấu rượu sắn lên thành “nghệ thuật”. “Rượu Vân” trở thành “đặc sản” mãi, là vậy.

Một cửa hàng thực phẩm thời bao cấp.

Bên cạnh đó, hình thành cả một nghề là nghề buôn rượu (lậu), chủ yếu là rượu Vân-rượu sắn. Có một người làm nghề này, sau bỏ nghề, kể với tôi: “Cho rượu vào săm ô-tô, thông đồng với cánh lái xe, chở về Hà Nội từ tờ mờ sáng. Đem săm ô-tô rượu để dưới vòi nước công cộng, lấy chân đạp thật lâu, rượu sẽ ngon hơn. Có đứa dã man, còn cho vào săm rượu mấy giọt thuốc trừ sâu Vô-pha-tốc, rồi cho thêm nước lã vào, đạp thật lâu. Rượu uống thấy nặng hẳn, lãi nhiều hơn!”. Trời ơi, Vô-pha-tốc là thuốc độc, cực độc, giờ đã cấm dùng! Từ khi nghe chuyện ấy, tôi và bạn bè tôi uống rượu Vân ít đi, không dám say nhiều như trước nữa. Nhưng rượu Vân không ngon bằng rượu Bắc Hà (Lào Cai) nấu bằng ngô. Rượu men lá Việt Bắc, nhẹ và nhạt! Rượu cần thì phải uống cả đêm, không hợp với phong tục “nhắm rượu” của dân Bắc Hà. Bây giờ dịch thơ Đường, thấy Lý Bạch suốt ngày say, vẫn thọ 62 tuổi, lại nghĩ, ngày ấy mình bớt rượu là dại! Và thấy Vương Tích, cũng là thi nhân đời Đường, viết: “Hôm nay ta say tràn cung mây – Ừ rằng như thế là không hay – Nhưng kìa, thiên hạ không ai tỉnh – Ta tỉnh làm chi giữa đất này?”, lại càng thêm quý rượu.

Nói vòng vo thế, để thấy rằng, “mất Sổ gạo” thật là một thảm họa, và người mất sổ ngơ ngẩn ngẩn ngơ nhất đời, là vì thế.

Trong một cửa hàng ăn uống thời bao cấp.

Bên cạnh “Sổ gạo”- “Sổ lương thực” – là “Tem gạo” và “Phiếu thực phẩm”. “Tem gạo” là để dùng khi đi công tác lẻ hoặc đi phép, có từ loại 100 gam đến 5 ki-lô-gam, 10 ki-lô-gam. “Phiếu thực phẩm” có các loại, từ cao xuống thấp, là A, B, C… N. Sổ loại A mua ở Tôn Đản (phố Tông Đản bây giờ). “Đi xe Vôn-ga, ăn gà Tôn Đản” là thế. Dân thường thì dùng phiếu N. Phiếu chia ô, đánh dấu tháng. Mỗi lần mua thức gì, cắt một ô. Có ô thịt, ô đường, ô mì chính, ô đậu phụ… Thế nên mới có chuyện, một ông tổ trưởng dân phố đi họp nghe phổ biến cách bầu đại biểu Quốc hội, về nhà phổ biến lại cho dân là “Bỏ người ở ô x…”, thì do không chú ý, một bà buột miệng kêu trời: “Thôi chết! Thế là tháng này mất đậu phụ rồi!”. Vì có nhiều loại tem, phiếu như vậy (ngoài “Sổ gạo”, “Phiếu thực phẩm”, còn có “Phiếu chất đốt”, “Phiếu vải” nữa-mỗi người 4m. Phụ nữ thì có tiêu chuẩn mua lụa đen, phíp đen để may quần), nên ở đâu cũng thấy “xếp hàng”. Xếp bằng người, xếp bằng gạch vỡ ở những cửa hàng lương thực, thực phẩm, củi, than; xếp hàng xem phim. Ở thôn quê, mỗi tháng có từ một đến hai buổi chiếu phim, do các tổ chiếu phim lưu động chiếu lần lượt ở các xã. Vé bán 1 hào một người, trẻ con thì 5 xu. Tôi, 11 – 12 tuổi, đi gánh nước thuê cho cụ Hàn ở Hoàng Mai, 40 gánh thì được 2 hào, thừa tiền xem phim. Nhưng có hôm bí, theo bạn xem phim “chui rào”, về bị anh cả bắt thức cả đêm để “kiểm điểm”! Mua “chất đốt” thì tôi lên Cầu Đổ trên phố Đại La xếp hàng. Ở đó bán củi, than – than cám, than “quả bàng” (chưa có than tổ ong như bây giờ). Sau này có cả dầu hỏa để đun bếp dầu. Ở nông thôn thì thôi, cứ đi kiếm củi, cắt rạ, vặt cỏ may, cắt lá chuối, quét lá rụng, giữ trấu… mà đun. Có lẽ không ở đâu trên thế giới này, người ta chế ra nhiều thứ bếp đun như ở ta thời ấy: Bếp dầu có bấc, không bấc. Bếp đun trấu, lò đun trấu – vừa đun vừa gõ cho trấu rơi xuống. Bếp than cám, bếp than quả bàng. Bếp đun rạ, rơm, củi (có nhà làm bếp hai ngăn, như cái lò dài, đun chính ở ngoài, hơi nóng chạy vào đun phụ ở trong). Sau này là bếp điện may-xo, đỏ rực, lộ thiên, như con giun lửa… Ấy thế mà hăng hái công tác và học tập; mà sản xuất và đánh giặc; mà sống và giúp nhau sống; mà vô tư, thanh sạch.

Ngày ấy, ở Hà Nội, nhà nào cũng có bếp dầu và ấm đun nước, gò – hàn bằng ống bơ sữa bò. Có khách, mươi phút là có nước pha trà (phích nước lúc ấy phân phối, không đủ dùng).

Thế nên mới có chuyện, cố thi sĩ Lưu Trọng Lư, khi đó là quyền Tổng thư ký Hội Nghệ sĩ sân khấu (tạm thay cụ Thế Lữ già yếu), Chủ nhiệm Tạp chí Sân khấu, “dại dột” in một bài thơ của tác giả Dũng Hiệp, có câu: “Hoan hô văn nghệ sĩ chúng ta – Uống nhiều nước pha trà, đun bằng ống bơ – Nên thơ ngân vang chất thép”…, và bị “xử lý”- thôi chức! “Con nai vàng ngơ ngác – Đạp trên lá vàng khô”, “Nụ cười đen nhánh sau tay áo”, “Áo đỏ người đem trước giậu phơi”… cũng chẳng cứu được! Chính Lưu Trọng Lư kể cho tôi nghe chuyện đó v.v…

Từ ngày “Đổi mới”, bao sự vừa kể không còn nữa. Đời sống, nói chung, đã tốt hơn nhiều. Nhưng mỗi thời có cái hay, cái dở của nó. Kể đôi lời về thời cũ, chỉ là để “ôn cố – tri tân”. Cái triển lãm “Một thời bao cấp” do ông tiến sĩ Nguyễn Văn Huy, con cụ Nguyễn Văn Huyên, cựu Giám đốc Bảo tàng Dân tộc học, là một triển lãm hay. Ai không xem, kể cũng tiếc!

Cái nước mình hay thật! Dân mình còn hay hơn: Thế nào thì cũng tìm ra “phương thức tồn tại” của mình. Sinh con đẻ cái, dựng vợ gả chồng, xây nhà xây cửa, trồng trọt chăn nuôi (cả trong toa-lét tập thể!), làm thơ và đánh giặc… không thua ai việc gì! “Bần tiện bất năng di”. Ta là “Quân tử” thật!

Có lẽ, chỉ có thời bao cấp mới đẻ ra lắm anh hùng kiểu ấy. Bây giờ lại có anh hùng kiểu khác!

Đỗ Trung Lai

Ảnh trong bài: Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam
qdnd.vn