Archive | 2012

Trò Méclanh (6-1923)

Trong khi chờ đợi đi khai hoá những người Đông Dương tại Đông Dương, ngài thái thú Méclanh muốn hãy khai hoá những người Đông Dương đã chết, các người biết đấy, những người chết cho Tổ quốc, cho công lý, và vân vân, ở Pháp.

Cười ở nghĩa trang là một cái thú của những bậc vĩ nhân (1) , nhưng ở đấy mà cười một mình thì có thể là vô duyên. Vì vậy, bữa nọ, quan lớn Mácxian Méclanh ra lệnh cho đoàn thanh niên Annamít được trợ cấp theo ngài đến Vườn Người Chết ở Nôgiăng trên sông Mácnơ vì ở đó sẽ được đọc một bài diễn văn do ngài chứng giám. Bài diễn văn trước khi đọc cho công chúng, phải trình lên quan lớn để ngài duyệt. Người ta đã trình và bài diễn văn bị coi là quá ngỗ ngược, quan lớn ra lệnh cứ việc bỏ đi để thay thế bằng một bài khác mà quan lớn cho dàn ý.

Cố nhiên, bài diễn văn xào nấu trong các thứ nước cốt của quan lớn như vậy, thì hương vị của lòng trung thành và lòng ái mộ bất diệt đối với nước Pháp phải xông lên đến ngạt mũi…

Nếu người chết nói được, như bọn đồng cốt bảo thế, thì những hồn ma An Nam ở Nôgiăng sẽ lên tiếng: “C…ảm ơn ông toàn quyền! Nhưng xin làm ơn… cút đi cho!” (1) .

N.

Báo Le Paria, số 15, tháng 6-1923.
cpv.org.vn

——————————–

(1) Ngay sau khi Nguyễn Ái Quốc gửi bản Yêu sách của nhân dân An Nam tới trưởng đoàn các nước dự Hội nghị Vécxây, bọn bồi bút thực dân lồng lộn. Trên tờ Courrier Colonial ra ngày 27-6 có một bài nhan đề Giờ phút nghiêm trọng chỉ trích bản yêu sách : Làm sao một người dân thuộc địa lại có thể dùng bản yêu sách của nhân dân để công kích Chính phủ Pháp. Thật là quá quắt. Cứ theo đà này thì bọn dân thuộc địa sẽ lên ngang hàng với người Pháp chúng ta và sớm trở thành ông chủ của chúng ta. Không được, phải kìm giữ chúng mãi mãi trong vòng nô lệ. Nguyễn Ái Quốc viết bài này là để trả lời bài báo sặc mùi thực dân trên.

Thư gửi Trung ương Đảng Cộng sản Pháp (7-1923)

Các đồng chí,

Những nghị quyết của Đại hội lần thứ II của Quốc tế (35) về vấn đề thuộc địa đã mang lại hai tác dụng đồng thời nhưng lại hoàn toàn trái ngược nhau. Một mặt, chủ nghĩa đế quốc đi áp bức – ngừa trước những kết quả có thể xảy ra của chính sách đó nếu nó được thi hành nghiêm túc – đã đề phòng và tăng gấp bội những hoạt động tuyên truyền, ngu dân và đàn áp. Mặt khác, nhân dân bị áp bức ở các thuộc địa, được tiếng vang của cách mạng thức tỉnh, đã hướng theo bản năng của họ về Quốc tế của chúng ta, một chính đảng duy nhất mà họ hy vọng là sẽ quan tâm đến họ một cách thân thiết, mà họ hoàn toàn mong mỏi là sẽ mang lại cho họ sự giải phóng. Như vậy, chúng ta sẽ có thể không những đánh đổ uy thế của chủ nghĩa thực dân bóc lột và lay chuyển vị trí của chúng, mà còn có thể biến mối cảm tình thuần tuý tình cảm và thụ động của các dân tộc thuộc địa đối với chúng ta thành mối cảm tình hành động, nếu những nghị quyết của Quốc tế được chấp hành. Khốn nỗi cho đến nay, những nghị quyết ấy chỉ được dùng để tô điểm mặt giấy! Phân bộ Pháp, phân bộ Anh và những phân bộ các nước thực dân khác đã làm gì cho các thuộc địa của chủ nghĩa tư bản nước họ? Những phân bộ ấy đã có một chính sách thuộc địa và một cương lĩnh rõ rệt về thuộc địa, chính xác và liên tục chưa? Những chiến sĩ của các phân bộ ấy có hiểu thuộc địa là gì và tầm quan trọng của thuộc địa là như thế nào không? Người ta có thể trả lời là không.

Đối với các thuộc địa Pháp,

a) một ban nghiên cứu thuộc địa đã được thành lập;

b) một mục viết về thuộc địa đã được mở ra trên báo L’Humanité;

c) những lời tuyên bố ủng hộ dân chúng thuộc địa đã được phát biểu trong các đại hội toàn quốc;

d) hai cuộc hành trình tuyên truyền đã được các đại biểu của Đảng tiến hành.

Sau khi được thành lập ít lâu và khi đã giành được không phải là không chật vật những cột báo trên tờ L’Humanité, Ban nghiên cứu thuộc địa đã hoạt động khá tốt. Những tài liệu và tin tức có giá trị đã bắt đầu được gửi từ các thuộc địa đến Ban. Chiến dịch mà Ban tiến hành trên báo Đảng nhằm chống những nhũng lạm và tội ác của bè lũ thực dân, đã nhanh chóng thu hút sự quan tâm mạnh mẽ của dân chúng các thuộc địa và mang lại nỗi lo lắng cho chủ nghĩa đế quốc thực dân và báo chí của nó. Nhưng diễn đàn ấy đột nhiên đã bị báo L’Humanité bỏ đi. Bị tước mất phương tiện công tác và hoạt động, Ban lâm vào tình trạng hoàn toàn bị tê liệt. Điều đó đã làm cho giới báo chí to lớn của giai cấp tư sản rất hài lòng, những báo chí này đã dành rất đều đặn hàng bao nhiêu trang cho công tác tuyên truyền thực dân và luôn luôn sợ bị cải chính và lật mặt nạ.

Điều đó đã đặc biệt gây những ấn tượng rất nặng nề cho dân bản xứ. Mặc dầu là hão huyền, những lời tuyên bố trong các đại hội toàn quốc ủng hộ dân chúng các thuộc địa cũng đã góp phần củng cố mối cảm tình mà họ đã có đối với Đảng. Tuy nhiên thật là không thích đáng nếu cứ lắp đi lắp lại mãi một điều mà không làm gì cả. Và những người bị áp bức khốn khổ thấy chúng ta chỉ luôn luôn hứa hẹn nhưng cũng luôn luôn không hành động gì thì bắt đầu tự hỏi rằng không biết thực ra chúng ta là những người đứng đắn hay là những kẻ lừa phỉnh. Cuộc hành trình của các đồng chí Vayăng Cutuyariê và ăngđrê Béctông qua Angiêri và Tuynidi, tiến hành hầu như cùng một lúc với các cuộc dạo chơi đế vương của bọn đại biểu tư sản, đã được dân chúng châu Phi rất hoan nghênh. Nếu những cuộc hành trình cùng một tính chất như thế được tiếp tục trong tất cả các thuộc địa thì chắc chắn là kết quả sẽ đáng mừng.

Nhưng, đáng lẽ phải tăng cường tuyên truyền thì chúng ta lại đã bỏ dở cái việc đã được bắt đầu, và bỏ mất những cơ hội tốt. Bởi thế, chúng ta đã làm rất ít trong khi xảy ra cuộc bãi công đẫm máu ở Máctiních, cảnh chết đói ở Bắc Phi và cuộc nổi dậy ở Đahômây.

Trong trường hợp sau chót này, chúng ta đã có một bộ mặt thiểu não. Nhiều ngày sau tất cả các báo tư sản và mười ngày sau báo L’Oeuvre, báo Đảng mới đăng tin về cuộc nổi dậy. Trong lúc chính phủ thuộc địa đã thiết quân luật, tập trung quân đội, huy động chiến hạm, huy động các bộ máy đàn áp, bắt bớ và kết án các nhà hoạt động từ 5 đến 10 năm tù; trong lúc các báo chí viết thuê đã tiến hành một cách có hệ thống một chiến dịch lừa dối và bưng bít dư luận thì chúng ta chỉ viết có hai hay ba bài báo ngắn, rồi thôi. Không phải là không mỉa mai và không đáng buồn khi trong bóng tối của những ngục tù có tính chất khai hoá, những người anh em Đahômây đau khổ của tôi đọc điều thứ 8, trong số 21 điều kiện, nói rằng: “Mỗi đảng cam đoan tiến hành một công tác cổ động có hệ thống trong quân đội nước mình nhằm chống mọi ách áp bức dân chúng thuộc địa; và mỗi đảng phải ủng hộ, không những bằng lời nói mà cả bằng hành động, phong trào giải phóng của các thuộc địa”.

Nhưng thật là vô ích nếu buộc tội quá khứ và tiếc rẻ thì giờ đã mất. Tốt nhất là biết sử dụng tốt thì giờ trong tương lai. Vậy chúng tôi yêu cầu Đảng:

1) chính thức thừa nhận Liên đoàn Máctiních (nhóm Giăng Giôrét);

2) mở lại mục viết về thuộc địa trong báo L’Humanité;

3) yêu cầu Ban nghiên cứu thuộc địa cung cấp tài liệu cho phân bộ thuộc địa và cứ hai hoặc ba tháng một, báo cáo công tác của

mình với phân bộ;

4) ở những nơi đã thành lập phân bộ thuộc địa thì khuyến khích các phân bộ này tăng cường công tác tuyên truyền và tuyển thêm người bản xứ;

5) trên tất cả báo chí của Đảng, mở một mục viết về thuộc địa để làm cho độc giả làm quen với các vấn đề thuộc địa;

6) nói đến các thuộc địa trong hết thảy các đại hội, mít tinh hoặc hội nghị của Đảng;

7) cử các nghị sĩ đi thăm các thuộc địa, mỗi khi nền tài chính của Đảng cho phép;

8) tổ chức những nghiệp đoàn hoặc thành lập các nhóm tương tự ở các thuộc địa.

Mátxcơva, tháng 7 năm 1923
NGUYỄN ÁI QUỐC

Tài liệu viết tay, tiếng Pháp, lưu tại Cục lưu trữ Vǎn phòng Trung ương Đảng.
cpv.org.vn

——————————————-

(35) Đại hội lần thứ II Quốc tế Cộng sản họp vào tháng 8-1920. Tại Đại hội này, Lênin đã nhấn mạnh nhiệm vụ đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội trong phong trào công nhân để giữ vững nguyên tắc mácxít trong các đảng cộng sản. Đại hội đã thông qua 21 điều kiện gia nhập Quốc tế Cộng sản và thông qua bản Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa do Lênin dự thảo, nhằm vạch ra đường lối đấu tranh giải phóng dân tộc cho nhân dân các dân tộc bị áp bức. Tr.194.

Thư gửi các bạn cùng hoạt động ở Pháp (1923)

Các bạn thân mến,

Bao lâu nay chúng ta làm việc với nhau.

Mặc dầu chúng ta là những người khác giống, khác nước, khác tôn giáo, chúng ta đã thân yêu nhau như anh em.

Chúng ta cùng chịu chung một nỗi đau khổ: sự bạo ngược của chế độ thực dân. Chúng ta đấu tranh vì một lý tưởng chung: giải phóng đồng bào chúng ta và giành độc lập cho Tổ quốc chúng ta.

Trong cuộc chiến đấu của chúng ta, chúng ta không cô độc, vì chúng ta có tất cả dân tộc của chúng ta ủng hộ và vì những người Pháp dân chủ, những người Pháp chân chính, đứng bên cạnh chúng ta.

Công việc chung của chúng ta “Hội Liên hiệp thuộc địa” (34) và tờ báo NGƯỜI CÙNG KHỔ (1) đã có những kết quả tốt. Nó đã làm cho nước Pháp, nước Pháp chân chính hiểu rõ những việc xảy ra trong các thuộc địa. Làm cho nước Pháp hiểu rõ bọn cá mập thực dân đã lợi dụng tên tuổi và danh dự của nước Pháp để gây nên những tội ác không thể tưởng tượng được. Nó đã thức tỉnh đồng bào chúng ta. Đồng thời nó cũng khiến cho đồng bào chúng ta nhận rõ nước Pháp, nước Pháp tự do bình đẳng và bác ái. Nhưng chúng ta còn phải làm nhiều hơn.

Chúng ta phải làm gì ?

Chúng ta không thể đặt vấn đề ấy một cách máy móc.

Điều đó tuỳ hoàn cảnh của mỗi dân tộc chúng ta.

Đối với tôi, câu trả lời đã rõ ràng: trở về nước, đi vào quần chúng, thức tỉnh họ, tổ chức họ, đoàn kết họ, huấn luyện họ, đưa họ ra đấu tranh giành tự do độc lập.

Có lẽ một vài người trong các bạn cũng phải và có thể làm như tôi. Còn các bạn khác thì tiếp tục công việc hiện thời của chúng ta: củng cố “Hội liên hiệp thuộc địa” và phát triển tờ báo NGƯỜI CÙNG KHỔ của chúng ta.

Các bạn thân mến,

Tôi từ giã các bạn. Tôi xa các bạn, nhưng lòng tôi luôn luôn gần các bạn.

Các bạn tha lỗi cho tôi không hôn các bạn trước khi đi. Các bạn biết rằng tôi bị theo dõi riết.

Khi các bạn được thư này, Nguyễn của các bạn ít nhất cũng đã xa nước Pháp 24 giờ rồi.

Đại, người đồng hương của tôi, sẽ giao lại cho ông B. thìa khoá của toà báo, giấy tờ và tài liệu của Hội và của tờ báo, cũng như quỹ của tờ báo. Tôi đã trả tiền thuê nhà cho toà báo đến cuối nǎm. Tiền in cũng đã thanh toán. Chúng ta không mắc nợ ai. Sổ thư viện để ở trong ngǎn kéo bên phải. Sách cho mượn đã lấy về, trừ những sách cho những hội viên đi nghỉ mượn.

Nói tóm lại, các việc đều đâu vào đấy trước khi tôi đi.

Tôi sẽ viết thư cho các bạn. Nhưng tôi không dám hứa với các bạn, vì không phải dễ viết thư khi người ta hoạt động bí mật. Dù tôi có viết thư cho các bạn hay không, các bạn hãy tin chắc rằng lòng tôi luôn luôn yêu các bạn. Nhờ các bạn bắt tay những người bạn Pháp của chúng ta.

Bây giờ, một vài lời với cháu trai và cháu gái.

Các cháu rất yêu chú và chú cũng rất yêu các cháu, phải không các cháu ? Chú sẽ nói với những người bạn nhỏ Việt Nam là các cháu rất ngoan. Chú sẽ thay mặt các cháu bắt tay các bạn nhỏ Việt Nam.

Có lẽ rất lâu, các cháu sẽ không được thấy chú Nguyễn, không được leo lên đùi, lên lưng chú như các cháu thường làm. Và cũng rất lâu chú sẽ không thấy cô Alítxơ (Alice) và cậu Pôn (Paul) của chú. Khi chú cháu mình gặp nhau, có lẽ chú đã già, các cháu đã lớn bằng ba và má. Điều đó không ngại gì. Chú sẽ luôn luôn nhớ đến các cháu. Các cháu luôn luôn vẫn là cô bé Alítxơ và cậu bé Pôn thân yêu của chú.

Các cháu ngoan. Học thuộc bài. Vâng lời cha mẹ. Đừng đánh con chó nhỏ Mariuýt (Marius) của các cháu. Khi các cháu đã hơi lớn, các cháu sẽ đấu tranh cho Tổ quốc của các cháu cũng như ba má, chú Nguyễn và những chú khác.

Các cháu nhỏ thân yêu của chú, chú hôn các cháu rất kêu. Các cháu hôn mẹ hộ chú.

Chú Nguyễn

In trong sách Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch,
Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1976, tr. 51-54.
Theo bài in trong sách Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch
cpv.org.vn

———————————

(34) Hội Liên hiệp thuộc địa: Một tổ chức cách mạng của những người thuộc địa, do Nguyễn Ái Quốc cùng một số người yêu nước của các nước thuộc địa Pháp sáng lập tháng 7-1921, tại Pari. Lúc đầu Hội có 200 hội viên và hai tổ chức người thuộc địa xin gia nhập là Hội những người An Nam yêu nước và Hội đấu tranh cho quyền công dân của người Mađagátxca. Ban thường vụ của Hội gồm 7 người, đứng đầu là Nguyễn Ái Quốc. Cơ quan tuyên truyền của Hội là báo Le Paria. Đến nǎm 1926, Hội ngừng hoạt động. Tr.191.

(1) Ngay sau khi Nguyễn Ái Quốc gửi bản Yêu sách của nhân dân An Nam tới trưởng đoàn các nước dự Hội nghị Vécxây, bọn bồi bút thực dân lồng lộn. Trên tờ Courrier Colonial ra ngày 27-6 có một bài nhan đề Giờ phút nghiêm trọng chỉ trích bản yêu sách : Làm sao một người dân thuộc địa lại có thể dùng bản yêu sách của nhân dân để công kích Chính phủ Pháp. Thật là quá quắt. Cứ theo đà này thì bọn dân thuộc địa sẽ lên ngang hàng với người Pháp chúng ta và sớm trở thành ông chủ của chúng ta. Không được, phải kìm giữ chúng mãi mãi trong vòng nô lệ. Nguyễn Ái Quốc viết bài này là để trả lời bài báo sặc mùi thực dân trên.

Tệ độc đoán ở Đông Dương – Người được bảo hộ và người đi bảo hộ (7-1923)

Ông Cẩm Đà Lạt (Trung Kỳ) có một cách hiểu vai trò khai hoá của mình đến là hay. Một hôm, người cộng tác rất xứng của ông Xarô này cần đến ván gỗ. Ông ta sai người đến kiếm ván ở nhà một người bản xứ làm nghề buôn bán. Nhà buôn này đòi phải trả tiền rồi mới được mang hàng đi. Nghe lời yêu cầu này, ông Cẩm nổi giận, phái ngay lực lượng vũ trang đến với nghiêm lệnh là dù “sống hay chết” cũng phải bắt cho được tên An Nam đó về sở.

Để tránh cơn giận của vị đại diện cho nước bảo hộ, nhà buôn không kể gì đang ốm cũng đành phải bỏ cả nhà cửa quê hương lánh sang tỉnh khác.

Một thầy thuốc người Âu chứng kiến tấn trò kể trên đã can thiệp để bênh vực nhà buôn bản xứ. Vụ can thiệp “chướng tai gai mắt” này làm cho viên thầy thuốc bị đổi đi, bị đày lên Kon Tum, một nơi nước độc mà người Âu rất sợ. Chính đấy là nơi mà viên thầy thuốc đó đang đền cái tội thân người bản xứ của ông. Trong khi ấy thì bọn Đáclơ, Bôđoanh vẫn ung dung phè phỡn trong vinh dự và khoái lạc. Kẻ mắc cái tội xúc phạm uy tín kể trên là bác sĩ Hôngxtarich. Chúng tôi xin tỏ tấm cảm tình của chúng tôi đối với ông ấy.

Còn nhà buôn An Nam thì sau ra sao ? Anh ta bị ghi tên vào sổ những người bị tình nghi, liệt vào hạng “chống Tây”, vào số những kẻ cần theo dõi. Một bầy mật thám Pháp và An Nam bám riết theo gót anh ta. Nhiệm vụ của bọn này là ghi từng giờ từng phút mọi hành động cử chỉ của anh ta, và tô đen tất cả mọi ý định của anh.

Công cuộc theo dõi này được tiến hành một cách khá lộ liễu để làm cho bạn bè quen thuộc của người An Nam này phải chùn lại không dám lai vãng nhà anh nữa, đến nỗi đời sống của anh trở nên hết sức khó khǎn. Bất cứ thế nào cũng không một người bản xứ nào dám đến nhà anh. Hoàn toàn bị cô lập với đồng bào của mình, nhà buôn này chỉ còn có hai con đường: hoặc đi ǎn cướp, hoặc đi ǎn mày. Nhưng cái nghề thứ hai này có thể lại làm cho anh càng đáng khả nghi hơn vì kiếp sống lang thang.

NGUYỄN ÁI QUỐC

Báo Le Paria, số 16, tháng 7-1923.
cpv.org.vn

Việt Nam mong muốn thúc đẩy bảo vệ nhân quyền

Việt Nam luôn đảm bảo phát huy quyền con người trên mọi lĩnh vực. (Nguồn: vov.vn)

Vừa qua, Việt Nam đã chính thức ứng cử vào Hội đồng Nhân quyền của Liên hợp quốc khóa 2014-2016, khẳng định cam kết và quyết tâm mạnh mẽ nhằm đóng góp tích cực vào nỗ lực chung của cộng đồng quốc tế trong việc thúc đẩy và bảo vệ quyền con người. Nhân dịp này, phóng viên TTXVN đã có cuộc phỏng vấn ông Phạm Hải Anh, Phó Vụ trưởng Vụ Các Tổ chức quốc tế, Bộ Ngoại giao Việt Nam.

– Tại Kỳ họp vừa qua Hội đồng Nhân quyền của Liên hợp quốc, Thứ trưởng Ngoại giao Lê Lương Minh đã chính thức thông báo việc Việt Nam ứng cử vào Hội đồng Nhân quyền của Liên hợp quốc khóa 2014-2016. Xin ông cho biết thêm thông tin về việc này?

Ông Phạm Hải Anh: Trong những năm qua, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn trong việc bảo đảm và phát huy quyền con người trên mọi lĩnh vực như dân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Những thành tựu này đã được cộng đồng quốc tế ghi nhận và đánh giá cao.

Trên cơ sở những thành tựu đã đạt được trong lĩnh vực quyền con người, xuất phát từ chính sách nhất quán của Nhà nước Việt Nam là tôn trọng và bảo đảm quyền con người, với mong muốn đóng góp tích cực vào nỗ lực chung của cộng đồng quốc tế trong việc thúc đẩy và bảo vệ quyền con người, Chính phủ Việt Nam đã quyết định ứng cử vào Hội đồng Nhân quyền của Liên hợp quốc khóa 2014-2016.

Việt Nam coi trọng vai trò và những đóng góp của Hội đồng Nhân quyền của Liên hợp quốc vào việc thúc đẩy thực hiện quyền con người trên thế giới. Với cam kết và quyết tâm mạnh mẽ, Việt Nam tin tưởng vào khả năng của mình đảm đương vai trò thành viên Hội đồng Nhân quyền, tích cực đóng góp vào công việc chung của Hội đồng để nâng cao tính hiệu quả, minh bạch, khách quan, cân bằng trên tinh thần đối thoại, hợp tác, bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau.

Chúng tôi đánh giá cao sự hợp tác, hỗ trợ tích cực và hiệu quả mà các tổ chức quốc tế, các nước đã dành cho Việt Nam trong quá trình phát triển kinh tế xã hội và bảo đảm các quyền con người. Chúng tôi hy vọng sẽ tiếp tục nhận được sự ủng hộ quý báu của các nước đối với việc ứng cử vào Hội đồng Nhân quyền của Liên Hợp Quốc khóa 2014–2016.

– Gần đây, một số nhóm ở nước ngoài khuếch trương việc Nhà Trắng sẽ gặp gỡ đại diện của người Việt ở Hoa Kỳ để tìm hiểu về vấn đề nhân quyền ở Việt Nam. Ông bình luận gì về thông tin này?

Ông Phạm Hải Anh: Theo tôi được biết, cuộc gặp này là hoạt động tiếp xúc công chúng thông thường của Bộ phận quan hệ công chúng của Nhà Trắng.

Việt Nam cho rằng mọi khác biệt, trong đó có khác biệt trong vấn đề quyền con người cần được trao đổi thẳng thắn trên tinh thần xây dựng và tôn trọng lẫn nhau nhằm tăng cường hiểu biết và góp phần thúc đẩy quan hệ giữa các quốc gia. Trên tinh thần đó, Việt Nam đã tiến hành đối thoại có hiệu quả với nhiều quốc gia, trong đó có Hoa Kỳ, về vấn đề quyền con người.

– Trân trọng cảm ơn ông!

(TTXVN)
vietnamplus.vn

Việt Nam thực hiện đầy đủ các quyền của người dân

Thứ trưởng Ngoại giao Lê Lương Minh. (Nguồn: TTXVN)

Theo phóng viên TTXVN tại Geneva (Thụy Sĩ), Thứ trưởng Ngoại giao, Trưởng đoàn đại biểu Việt Nam Lê Lương Minh, chiều 29/2, phát biểu tại phiên họp cấp cao Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc ở thành phố Geneva, đã khẳng định Việt Nam cam kết thực hiện đầy đủ các quyền của người dân.

Thứ trưởng Lê Lương Minh cho biết Việt Nam thực hiện cam kết này thông qua việc thực hiện các chính sách lấy con người làm trọng tâm và vì người nghèo, đầu tư vào các lĩnh vực có lợi nhất cho người dân. Ông cho biết các chính sách này đã mang lại những tiến bộ đáng kể trong việc giảm tỷ lệ nghèo, phát triển giáo dục, chăm sóc y tế và tạo việc làm, nâng cao đời sống và phúc lợi cho người dân.

Trong bối cảnh có nhiều khó khăn do tác động của khủng hoảng kinh tế và tài chính toàn cầu, Việt Nam đã nỗ lực duy trì tỷ lệ tăng trưởng kinh tế hàng năm khoảng 6%, tạo cơ sở vững chắc để đảm bảo thực hiện các quyền cơ bản của người dân. Chính phủ Việt Nam dành ưu tiên cao cho cải cách luật pháp, hành chính và tư pháp nhằm đảm bảo tăng cường hơn nữa quyền của người dân cả trong luật pháp và thực tiễn, bao gồm cả quyền giám sát việc thực hiện pháp luật, tiếp cận thông tin. Phát triển kinh tế, đảm bảo công bằng xã hội và xây dựng nhà nước pháp quyền là ba trụ cột trong chiến lược phát triển của Việt Nam.

Thực hiện chính sách hội nhập toàn diện, trong đó có việc thúc đẩy và bảo vệ quyền con người, Việt Nam đã và đang tiến hành đối thoại và hợp tác với các đối tác quốc tế. Ở cấp độ khu vực, Việt Nam tích cực tham gia cùng các nước ASEAN thúc đẩy các hoạt động của Cơ quan liên Chính phủ ASEAN về Nhân quyền (AICHR).

Thứ trưởng Lê Lương Minh cho rằng các mối quan hệ tương tác đó cùng với các đối thoại định kỳ với một số nước tiếp tục đóng góp tích cực nâng cao hiểu biết lẫn nhau là điều kiện cần thiết cho mọi giải pháp thích hợp đối với các vấn đề nhân quyền cùng quan tâm.

Thứ trưởng Lê Lương Minh khẳng định với tư cách là ứng cử viên của ASEAN vào Hội đồng Nhân quyền nhiệm kỳ 2014-2016, và là thành viên của tất cả các công ước chính về nhân quyền, Việt Nam sẽ hợp tác tích cực với cộng đồng quốc tế xây dựng một thế giới hòa bình, thịnh vượng và công bằng hơn cho mọi người.

Về tình hình thế giới, Thứ trưởng Lê Lương Minh cho biết khóa họp lần thứ 19 của Hội đồng Nhân quyền diễn ra trong bối cảnh có nhiều thay đổi ở nhiều khu vực trên thế giới, đặc biệt ở Trung Đông và Bắc Phi, tạo ra nhiều thách thức cho việc duy trì hòa bình, phát triển và bảo vệ quyền con người. Cuộc khủng hoảng kinh tế, tài chính toàn cầu đã gây ra hậu quả nghiêm trọng về nhiều mặt đối với đời sống của nhân dân ở hầu hết các nước. Sự bất ổn về chính trị và xã hội không những không giảm đi mà có xu hướng tăng lên ở một số khu vực, dẫn đến các cuộc khủng hoảng và xung đột nội bộ. Những nhân tố này ảnh hưởng tiêu cực đến các nỗ lực nhằm đảm bảo thực hiện đầy đủ các quyền con người, đặc biệt là quyền sống, quyền có lương thực, nhà ở, việc làm và quyền phát triển. Tình hình không ổn định ở các nước cho thấy việc tăng cường và bảo vệ quyền con người chỉ có thể được đảm bảo dựa trên nền tảng hòa bình, ổn định và phát triển.

Thứ trưởng hài lòng nhận thấy hòa bình và ổn định đã được khôi phục ở một số nước bị ảnh hưởng, nhưng tỏ quan ngại sâu sắc với tình hình bất ổn và bạo động gia tăng tại Syria, cướp đi sinh mạng nhiều thường dân. Ông kêu gọi các bên liên quan thể hiện thiện chí, kiềm chế và đối thoại xây dựng để nhanh chóng tìm ra giải pháp chính trị phù hợp với nguyện vọng của nhân dân Syria.

Ông khẳng định Việt Nam ủng hộ mọi nỗ lực quốc tế nhằm đóng góp cho hòa hợp dân tộc, khôi phục hòa bình và ổn định ở Syria dựa trên các nguyên tắc của Hiến chương Liên hợp quốc, luật pháp quốc tế, đặc biệt là tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, không có sự áp đặt và can thiệp từ bên ngoài.

Về hoạt động của Hội đồng Nhân quyền, Thứ trưởng Lê Lương Minh nhấn mạnh Hội đồng Nhân quyền là cơ quan tối cao của Liên hợp quốc nhằm thúc đẩy và bảo vệ quyền con người phải thực sự là diễn đàn thúc đẩy hợp tác và đối thoại dựa trên các nguyên tắc minh bạch, khách quan, không thiên vị, không chính trị hóa, không chọn lọc, không áp dụng “tiêu chuẩn kép” trong việc giải quyết các vấn đề về quyền con người.

Hội đồng cần phải tránh vết xe đổ của cơ quan tiền thân là Ủy ban nhân quyền đã mất đi tính chính danh do việc chính trị hóa các vấn đề nhân quyền. Nguyên nhân gốc rễ của tình hình bất ổn vừa qua và hiện đang diễn ra ở các nước đang phát triển cho thấy Hội đồng cần đảm bảo thực hiện cân bằng các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội và các quyền chính trị.

Bên lề phiên họp cấp cao, Thứ trưởng Lê Lương Minh đã tiếp xúc với trưởng đoàn nhiều nước để trao đổi về quan hệ song phương, về phối hợp tại các diễn đàn quốc tế, đặc biệt là tại Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc. Khóa họp lần thứ 19 của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc sẽ tiếp tục kéo dài đến ngày 23/3./.

Lê Thanh/Geneva (Vietnam+)
vietnamplus.vn

Phong trào công nhân (9-11-1923)

Theo những số liệu thống kê cuối cùng thì số lượng những người vô sản ở Trung Quốc là 5050 nghìn người. Gần 15 tổ chức thống nhất giai cấp vô sản ở Trung Quốc, tính ra khoảng 300 nghìn đoàn viên. Họ được phân bố như sau:

Số lượng
công nhân (nghìn)

Đoàn viên
công đoàn (nghìn)

Ngành công nghiệp điệnNhững người phục vụ

Ngành công nghiệp máy khâu

Công nhân xây dựng

Ngành làm muối

Nghề kéo xe

Ngành in

Ngành dệt

Ngành làm mũ

Ngành công nghiệp thuốc lá

Nghành đào đất (thợ đấu)

Ngành mỏ

Ngành đường sắt

Ngành giao thông đường biển

Ngành công nghiệp luyện kim

Các ngành khác

100

400

300

300

300

200

80

180

200

100

800

420

100

80

200

5

8

7

8

10

10

10

10

14

18

30

26

42

45

50

7

Trong các yêu sách của giai cấp vô sản có tổ chức của Trung Quốc, chúng tôi thấy có những điểm sau đây:

1. Tự do hội họp. 2. Quyền tổ chức các công đoàn và các cuộc đình công. 3. Ngày lao động 8 giờ cho người lớn và 6 giờ cho thiếu niên và những người làm việc nặng. 4. Bảo vệ những người tiểu nông. 5. Cấm làm việc quá giờ trong những xí nghiệp độc hại và cấm sử dụng lao động trẻ em và phụ nữ vào việc làm ban đêm. 6. Hằng năm công nhân được nghỉ hai tuần, đối với phụ nữ làm công việc nặng nhọc thì được nghỉ 8 tuần trước khi đẻ và 8 tuần sau khi đẻ; 6 tuần nghỉ đẻ đối với phụ nữ làm công chức và làm các công việc nhẹ. 7. Ban kiểm tra của công nhân. 8. Luật bảo hiểm đối với công nhân. 9. Nhà nước có trách nhiệm giúp đỡ các tổ chức công nhân của những người lao động được học hành.

Chỉ sau khi chiến tranh thế giới kết thúc, giai cấp vô sản Trung Quốc mới bắt đầu được tổ chức một cách chặt chẽ, song họ đã thu được một số thắng lợi to lớn trong các cuộc đình công. Mặc dù bị bọn quân phiệt đàn áp và bọn thống trị ngoại lai cản trở, các tổ chức của họ vẫn phát triển bình thường và có thể nói là nhanh nữa. Hiện nay những người thuỷ thủ, công nhân luyện kim, công nhân đường sắt là những lực lượng thật sự mà bọn tư bản buộc phải coi trọng.

NGUYỄN ÁI QUỐC

Báo La Vie Ouvrière, ngày 9-11-1923.
cpv.org.vn

In trong sách Hồ Chí Minh, Những bài viết và nói chọn lọc, tiếng Nga, Nxb. Chính trị quốc gia, Mátxcơva, 1959, tr 71-72.

Dịch theo bài in trong sách Những bài viết và nói chọn lọc.

20 năm kể chuyện Bác Hồ

truyen1Ông Nguyễn Ngọc Truyện

21 năm qua, ông Nguyễn Ngọc Truyện (thường gọi là Năm Truyện) ở 42 Bùi Văn Danh, phường Mỹ Xuyên, TP. Long Xuyên, tỉnh An Giang không ngừng tìm tòi, ghi chép và kể lại hàng trăm câu chuyện về cuộc sống bình dị, thanh tao của Bác Hồ.

“Hiểu về Bác một mình thì uổng quá”

Ông Năm Truyện sinh năm 1925. Tháng 10 năm 1946, ông tham gia kháng chiến, theo đoàn quân tập kết ra Bắc vào năm 1954. Sau đó, ông được cử đi học Trường Đại học Kinh tế Kế hoạch Hà Nội. Tốt nghiệp ra trường với tấm Bằng Cử nhân kinh tế, ông tham gia giảng dạy tại trường Thương nghiệp miền Bắc.

Ông Nguyễn Ngọc Truyện may mắn được gặp Bác hai lần, hình ảnh về Bác đã in đậm trong tâm trí của người một thời là lính Cụ Hồ.

Ông kể về lần đầu gặp Bác: “Lúc đó trường Thương nghiệp mượn nhà lá của Trường Công an (C500) để dạy học. Hôm đó, đang giảng bài cho sinh viên thì hay tin Bác Hồ đến thăm, tôi vội vàng chạy theo đám người đi xem mặt Bác. Nhưng mà thật buồn khi gần ngay trước mắt đó mà không thể hỏi thăm sức khỏe, không được trò chuyện cùng Người”.

Lần thứ hai, ông Năm Truyện được gặp Bác khi Người đến thăm binh chủng bộ binh ở Xuân Mai, Hà Tây. Từ lòng kính yêu đối với Bác, từ sự khâm phục ý chí, cuộc đời hoạt động Cách mạng của Người đã thúc đẩy ông Năm Truyện sưu tầm, lưu giữ những tài liệu quý, để một ngày nào đó được viết về Bác.

Năm 1975, ông Năm Truyện trở về Long Xuyên và làm Phó Hiệu trưởng Trường Trung cấp Thương nghiệp Miền Nam.

Bận bịu với công việc của một nhà giáo, mong ước viết sách về Bác đành gác lại. Tuy nhiên, ông vẫn tích cực sưu tầm tư liệu thông qua việc đặt báo, tìm sách.

Năm 1998, chị Nguyễn Thị Tuyết Nga, con gái ông có dịp đi công tác ra Hà Nội, lúc về được ghé thăm quê Bác. Biết ba mình đam mê sưu tập tư liệu về Cụ Hồ, chị đã tìm những cuốn sách hay nhất viết về Người của Nhà xuất bản Nghệ An đem về tặng ba.

Với một lượng tư liệu khổng lồ, phong phú, lên tới vài nghìn đầu báo, đầu sách, ông Năm say sưa đọc, nghiền ngẫm mà không biết chán. Với ông, những câu chuyện về cuộc đời Bác Hồ vô cùng bình thường, giản dị nhưng lại chứa đựng nhiều điều cao quý về đạo lý làm người. Lúc nghỉ hưu, ông đã có thời gian thực hiện mơ ước là viết cuốn sách, tập hợp những mẩu chuyện về cuộc đời của Bác.

Ông Năm chia sẻ: “Tôi đọc tư liệu về Bác Hồ, tôi hiểu về Bác một mình thôi thì uổng quá! Cho nên tôi “tập viết” thành sách để có thể giáo dục cho mình, đồng thời để giáo dục cho nhiều người khác, nhất là thế hệ thanh niên, làm cho cuộc đời này tốt hơn”.

“Ra đi Bác dặn còn non nước…”

83 tuổi đời, 61 năm tuổi Đảng, ông Năm Truyện vẫn còn miệt mài với sách bút, với tài liệu và những câu chuyện về Bác Hồ

Từ năm 1988, ông Năm Truyện đã đặt bảy đầu báo ngày, 15 đầu báo xuân và lang thang khắp nơi để tìm những cuốn sách hay về Bác. Nghe tin ở đâu có sách hay và mới là ông tìm đến xem bằng được.

Từ việc thai nghén đó, cộng thêm việc đảm nhiệm vai trò làm công tác tuyên giáo ở Đảng ủy Phú Xuyên và phụ trách tờ tin (phát hành hàng tháng), ông đã nghĩ ra cách giới thiệu về cuộc đời Hồ Chủ tịch qua những mẩu chuyện in trên tờ tin.

Cứ mỗi số, ông lại tìm tòi, chắt lọc và đưa ra một câu chuyện trên đó. Tổng cộng, có 70 truyện đã được đăng tải. Mẩu chuyện đầu tiên là “Nguyễn Tất Thành trên tàu La tu sơ Tờ rê vin”, sau này đổi tên thành “Từ thành phố này Người đã ra đi”.

Thế rồi với quá trình miệt mài làm việc, đến quý II năm 1999, cuốn sách đầu tay của ông Năm Truyện đã được hoàn thành gồm 100 mẩu chuyện.

Cuốn sách mang tên “Tháp Mười đẹp nhất bông sen”, năm 2000, khi Nhà xuất bản Thanh Niên phát hành cuốn sách, đã đổi tên thành “Ra đi Bác dặn còn non nước”. Cuốn sách ra đời nhân kỉ niệm 110 năm Ngày sinh chủ tịch Hồ Chí Minh 19/05/1890 – 19/05/2000.

Trên cơ sở cuốn “Ra đi Bác dặn còn non nước”, ông Năm Truyện đã bổ sung thêm 150 mẩu chuyện mới về Bác và bốn tiểu sử của những người thân của Bác thành cuốn “Hồ Chí Minh – Cứu tinh dân tộc Việt”.

Quyển sách này đươc biên soạn trong thời gian hai năm (2000-2002). Đây là cuốn sách mà ông trân trọng nhất bởi nó được bổ sung vào tủ sách danh nhân Hồ Chí Minh nhân kỉ niệm 118 năm Ngày sinh của Người (19/05/1890 -19/05/2008).

Ngoài hai cuốn sách đã được phát hành nói trên, sau khi có cuộc vận động Học tập và làm việc theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, Nguyễn Ngọc Truyện còn viết thêm hai cuốn sách nữa. Đó là cuốn “Cánh sen vàng” viết từ 15/10/2006 đến 19/05/2007 có 120 mẩu chuyện, trong đó có 22 mẩu chuyện phục vụ đợt học tập: Sửa đổi lối làm việc, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, cần kiệm liêm chính, muốn gần dân thì đừng xa dân…

Nếu như các cuốn sách đã viết và xuất bản trước đó là sự chắt lọc những mẩu chuyện về cuộc đời Bác thì đến cuốn “Sức mạnh từ tấm lòng kính yêu Bác” lại đi ngược lại – khai thác khía cạnh lòng dân với Bác. Cuốn sách được viết từ 10/06/2007 – 09/11/2007) gồm 79 mẩu chuyện.

Mở đầu là câu chuyện “Ngôi mộ cánh sen” ở Đồng Tháp. Cả cuốn sách là 79 bông hoa tươi đẹp, chứa đựng tấm lòng của cả dân tộc với Bác Hồ kính yêu. Cuốn sách được NXB Thanh Niên phát hành vào Ngày Quốc khánh 02/09.

Có nhà báo viết rằng: “Nếu như cần khai thác, thì các tác phẩm của ông Năm Truyện hoàn toàn đủ chất liệu cho nhà thơ, nhà làm phim, nhà viết sử, nhà nghiên cứu…hoàn thành tác phẩm lớn về Bác”.

Trong căn nhà nhỏ trên đường Bùi Văn Danh, ảnh Bác Hồ được đặt ở vị trí cao nhất trên ban thờ tổ tiên. Ngoài ra, ảnh Hồ Chủ tịch còn được treo khắp nơi trong phòng khách. Hai tủ sách lớn sưu tập tư liệu về Bác Hồ luôn được che phủ cẩn thận để tránh bụi bám vào.

Ông Năm Truyện tâm sự: “Tôi hạnh phúc vì mình đã góp phần vào công giới thiệu cuộc đời bình thường, giản dị của Bác Hồ đến với người dân”.

Tâm Trang (st)
bqllang.gov.vn

Không phải chủ nghĩa quân phiệt đâu, nhưng… (28-9-1923)

Ông Clêmǎngxô đã chứng minh rất rành rọt cho thế giới nói chung, và cho người Mỹ nói riêng rằng nước Pháp không phải là một nước quân phiệt, cũng không phải là một nước đế quốc chủ nghĩa, hoàn toàn chẳng phải thế đâu nhé!

Thế nhưng ông ácsimbô lại vừa mới làm cho tiêu mất đôi chút cái vẻ mỹ miều của những lời nói của “Ông Cọp”, khi ông ácsimbô viết trong bản báo cáo vừa rồi của ông ta về ngân sách thuộc địa rằng:

Nǎm 1914, quân đội chiếm đóng gồm có 1.852 sĩ quan, 17.290 hạ sĩ quan và lính người Âu, 42.099 người bản xứ; lại phải thêm vào số đó 1.979 người trong các đội cảnh vệ bản xứ của Đahômây, Ghinê và Bờ Biển Ngà, hiện nay những đội lính này đã được thay thế bằng những đội quân chính quy. Tổng cộng quân số là 63.220 người.

Từ sau chiến tranh, người ta đã phải thiết lập tại các khu vực uỷ trị, Tôgô và Camơrun, những trại lính mà quân số lên tới 1.712 người.

Ngoài ra, còn phải thành lập, nhất là tại Tây Phi thuộc Pháp, những đơn vị đặc biệt để tuyển mộ, đǎng ký nhập ngũ và huấn luyện số binh lính người bản xứ phục vụ ở Pháp hoặc ở nước ngoài. Các đơn vị đó đã thu hút 2.237 người, trong đó có 271 sĩ quan và hạ sĩ quan người Âu.

Sau hết, con số những người bản xứ phục vụ ở Pháp hoặc ở nước ngoài, và do các thuộc địa trực thuộc Bộ Thuộc địa cung cấp, là 45.000 người.

Nếu chúng ta nói thêm rằng, chỉ riêng ở Đông Dương, chi phí về quân sự nǎm 1921, cũng đã hơn 35.600.000 phrǎng, trong khi đó ngân sách giáo dục có không đầy 350 nghìn đồng bạc và ngân sách về y tế không đầy 65 nghìn đồng bạc thì sẽ thấy ngay tất cả sự tốt đẹp của chế độ thực dân của cái nước Cộng hoà Pháp rất nhân từ và đã tài giảm quân bị này.

NGUYỄN ÁI QUỐC

Báo L’Humanité, ngày 28-9-1923.
cpv.org.vn

Đội quân chống cách mạng (7-9-1923)

Chúng ta đều biết rằng sự tranh giành thuộc địa là một trong những nguyên nhân chính của chiến tranh đế quốc chủ nghĩa nǎm 1914-1918.

Điều mà tất cả những người Pháp đều không thể không biết đến là việc đưa những đội quân viễn chinh sang các thuộc địa đã làm cho dân số giảm sút một cách trầm trọng mà hiện nay đất nước họ đang phải chịu đựng. Nếu đọc các bản thống kê những sự tổn thất quân sự về người chết và bị thương ở các thuộc địa, thì người ta sẽ phải kinh khủng về sự hao hụt mà những sự tổn thất đó đã gây ra cho một dân số đang mỗi ngày một giảm sút như dân số nước Pháp. Từ tháng 1 đến tháng 6-1923, riêng ở Marốc cũng đã có 840 binh lính bị giết hay bị thương để mang lại quang vinh cho thống chế Liôtây!

Điều mà giai cấp công nhân Pháp không thể không biết đến là chủ nghĩa tư bản dựa vào thuộc địa để chống lại tất cả mọi phong trào giải phóng mà giai cấp công nhân Pháp định mưu đồ. Không hoàn toàn tin tưởng những binh lính người da trắng nữa vì họ ít nhiều cũng đã tiêm nhiễm tư tưởng về giai cấp, bọn quân phiệt Pháp lấy những người bản xứ ở châu Phi và châu á để thay thế họ. Trong số 150 trung đoàn của quân đội Pháp, có 10 trung đoàn người da trắng ở các thuộc địa, nghĩa là những người nửa bản xứ; 30 trung đoàn người châu Phi và 39 trung đoàn người bản xứ các thuộc địa khác. Như vậy, một nửa số quân đội Pháp là tuyển mộ ở các thuộc địa.

Mà người An Nam phải tòng quân 4 nǎm, người Angiêri 3 nǎm; thế là theo sự tính toán của bọn quân phiệt Pháp thì giá trị 2 người lính bản xứ gần bằng 5 người lính Pháp.

Hơn nữa, vì không hiểu tiếng nói và chính trị trong nước, không có một mối quan hệ nào ràng buộc họ với dân cư chính quốc, tưởng rằng tất cả những người da trắng đều cùng giống với những người bóc lột họ, và cuối cùng, do những người da trắng cấp trên của họ thúc đẩy, nên người lính bản xứ có thể ngoan ngoãn và mù quáng bước vào chỗ mà người lính Pháp, giác ngộ hơn, có thể từ chối không chịu bước. Nguy hiểm là ở chỗ đó.

Người ta tự hỏi vì lý do gì mà 31 trung đoàn trong số những trung đoàn người bản xứ sẽ đóng lại trên lãnh thổ Pháp. Họ sẽ được dùng để làm gì? Phải chǎng người ta sẽ dùng những người bản xứ đó để khai hoá cho người Pháp? Như vậy là ý định của chủ nghĩa tư bản Pháp đã rõ ràng. Công nhân Pháp có nhiệm vụ phải hành động. Họ phải kết tình anh em với binh lính bản xứ. Họ phải làm cho binh lính bản xứ hiểu rằng cả công nhân ở chính quốc lẫn binh lính ở thuộc địa, đều cùng bị chung một bọn chủ áp bức và bóc lột, do đó, họ đều là anh em cùng một giai cấp và khi tới lúc phải chiến đấu, thì cả hai bên đều phải cùng đánh bọn chủ chung của mình, chứ anh em không nên đánh lẫn nhau.

NGUYỄN ÁI QUỐC

Báo La Vie Ouvrière, ngày 7-9-1923.
cpv.org.vn

Báo cáo gửi Quốc tế Cộng sản (1923)

ĐÔNG DƯƠNG, TÓM TẮT

Chính trị

Không có chính đảng: Đất nước bị cai trị theo cách như sau:

Nam Kỳ và Bắc Kỳ bị cai trị trực tiếp bởi các nhà cầm quyền Pháp với những thuộc hạ người bản xứ.

Trung Kỳ và Campuchia có chính phủ bản xứ của mình mà thực tế chỉ là thực hành các mệnh lệnh của các nhà cai trị Pháp.

Kinh tế

Xí nghiệp, đồn điền, hầm mỏ, giao thông vận tải và thương nghiệp lớn, tất cả đều ở trong tay người Pháp. Thương nghiệp hạng vừa có thể nói là người Trung Quốc nắm độc quyền. Người bản xứ chỉ có thương nghiệp địa phương nhỏ.

Xã hội

Dân cư hợp thành xã, những xã hợp thành tổng, những tổng thành huyện, những huyện thành tỉnh.

Dân cư bầu lấy lý trưởng, những lý trưởng bầu lấy chánh tổng. Cuộc bầu cử của nhân dân dừng lại ở đấy.

Những huyện và những tỉnh thì các quan cai trị do chính phủ chỉ định.

Triều đình và quan chức lệ thuộc tuyệt đối vào chính quyền Pháp. Họ bị chủ Pháp của họ khinh bỉ và nhân dân An Nam ghét.

Thiểu số các nhà nho hay là các nhà trí thức là các nhà cách mạng dân tộc chủ nghĩa. Chính họ đã khích động mọi cuộc nổi dậy trong quá khứ.

Công nhân có thể là 2% trong dân số, không được học hành, không được tổ chức. Do vậy họ không có một lực lượng chính trị nào.

Tiểu tư sản không nhiều, là một phần tử bấp bênh. Nó chịu sự chi phối bởi nhiều thứ triết lý, như là nó hướng vào phong trào dân tộc rất vội vã. Nó nhút nhát.

Quần chúng nông dân bị bóc lột nhất và cùng khổ nhất, rất yêu nước.

Tuyên truyền tốt trong nông dân và tổ chức tốt trong công nhân nếu chúng ta làm tới được điều đó thì tương lai thuộc về chúng ta.

CHƯƠNG TRÌNH HOẠT ĐỘNG

1/ Xuất bản một tờ báo nhỏ tiếng Việt.

2/ Tập hợp những phần tử dân tộc cách mạng.

3/ Cố gắng đưa những thanh niên người bản xứ đi Mátxcơva.

4/ Xây dựng dây liên lạc Mátxcơva – Đông Dương – Pari.

HỢP TÁC

 a/ Điều gì mà Đảng có thể làm thì đã liệt kê trong thư gửi cho nó do Ban phương Đông chuyển.

b/ Tổng công hội thống nhất đã hứa làm hết sức mình để 2 hoặc 3 đồng chí người Pháp có thể sang Đông Dương để tổ chức công nhân.

c/ Thanh niên cộng sản Pháp phải lợi dụng chủ nghĩa quân phiệt để đưa những thành viên chắc chắn nhất đǎng lính vào đội quân thuộc địa để dắt dẫn sự tuyên truyền trong những người bản xứ.

2/ Sự giúp đỡ của Thanh niên cộng sản Trung Quốc là tuyệt đối cần thiết cho sự hoạt động ở Đông Dương.

Một cuộc thảo luận giữa những đại biểu của Đảng, của Tổng công hội thống nhất, của Thanh niên và của Ban phương Đông có thể ló ra nhiều ánh sáng khác.

Tài liệu viết tay, tiếng Pháp,
bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

cpv.org.vn

Phát biểu tại Hội nghị lần thứ nhất Quốc tế Nông dân (36) (10-1923)

Nông dân trong các thuộc địa của Pháp bị hai tầng bóc lột: vừa như những người vô sản, vừa như những người bị mất nước. Ở Angiêri, những đất đai màu mỡ được dành cho người Pháp; còn những người nông dân thì bị dồn vào sống trong vùng núi là nơi đất đai cằn cỗi và không thể canh tác được. Ở Đông Dương, hễ người Pháp đến là chính phủ cấp cho anh ta cả nhiều làng trọn vẹn. Nhưng người nông dân, không chỉ bần nông mà cả trung nông đều bị bắt buộc phải rời bỏ quê hương của mình hoặc làm đày tớ cho ông chủ người nước ngoài.

Thưa các đồng chí, khi các đồng chí được tổ chức lại, các đồng chí cần phải nêu gương cho chúng tôi, giúp đỡ chúng tôi, dang rộng cánh tay anh em đón chúng tôi để chúng tôi cũng có thể bước vào gia đình vô sản quốc tế.

Tài liệu tiếng Pháp, bản chụp lưu tại Cục lưu trữ Vǎn phòng Trung ương Đảng.
cpv.org.vn

(36) Quốc tế Nông dân : Một tổ chức cách mạng hoạt động dưới sự chỉ đạo của Quốc tế Cộng sản nhằm đoàn kết rộng rãi giai cấp nông dân các nước trên thế giới trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc. Quốc tế Nông dân họp Hội nghị lần thứ nhất vào tháng 10-1923, tại Mátxcơva. Với tư cách là đại biểu nông dân của các nước thuộc địa, Nguyễn ái Quốc đã tham dự Hội nghị và đã hai lần phát biểu ý kiến. Tại Hội nghị, Người được bầu làm Uỷ viên Đoàn Chủ tịch Hội đồng Quốc tế Nông dân. Tr.208.