Archive | 2012

Không phải chuyện đùa (6-1923)

Có thể bảo các ông nghị là những người thuộc một giống người khác. Từ giống những người được trúng cử, đúng là như vậy. Họ là kẻ dám làm mọi việc, kể cả việc đùa dai.

Kẻ được trúng cử nọ, bị tố cáo là lậu thuế, hay lừa đảo – thì cũng thế – đã không ngần ngại chất vấn ông Bộ trưởng Bộ Tài chính về những biện pháp ông ta định dùng để ngǎn chặn sự bép xép của viên chức ông ta! Kẻ trúng cử kia…. Nhưng thôi, cho qua, và xin nói rằng, những ông nghị ba hoa nhất vẫn là những người trúng cử thuộc địa.

Người ta còn nhớ: các vị đáng kính ấy đã đưa ra một kiến nghị thỉnh cầu Chính phủ Pháp cho niêm yết và đem dạy trong tất cả các trường trung học, tiểu học, đại học, ký túc xá, nhà trẻ, học viện rằng nước Pháp là một nước 100 triệu dân. Không hơn không kém một người.

Và thế là cả giới báo chí dại dột và chẳng nghĩ rằng, cái kiến nghị khôi hài ấy có thể dẫn người Pháp đến những hậu quả nghiêm trọng, cứ hoan hô ầm ĩ cả lên!

Đến nay, nếu kiến nghị ấy được chấp nhận thì sẽ thế này này: Tất cả những ông bà ta ở Bộ Thuộc địa – trước hết là ông Anbe Xarô sẽ chết đói, vì phó mát thuộc địa sẽ tự nhiên bị cắt mất.

Liên đoàn phục hồi dân số sẽ biến mất và Ngài giáo chủ Binđria sẽ không thể giảng cái thuyết đẻ mắn như thỏ ở Viện Hàn lâm Pháp nữa. Vì khi sẽ có 100 triệu người Pháp so với 60 triệu tên “bôsơ” thì người ta sẽ không có quyền, dù là một vị giáo chủ nói đến chuyện hụt dân số nữa.

Tất cả sách của ông Môrítxơ Barét và tất cả những bài báo của ông Phorét (Lui) chỉ đáng đem mà… đốt cả đi vì dù có quyền thế đến đâu, thì các vị cũng không thể cho rằng máu latinh đang chảy trong huyết quản của người An Nam hay người Đahômây.

Và khi mà không còn thuộc địa nữa thì binh sĩ vinh quang của chúng ta sẽ đi đánh chác ở đâu cho đỡ buồn tay? Biết gửi đi đâu những vị thống soái hết thời, những nhà chính trị thất cơ lỡ vận, bọn giết người không may, như ông Bốp và những người khác?

Phải hàng tập sách, hàng tập sách để miêu tả mọi điều bất tiện xảy ra nếu kiến nghị ấy được chấp nhận. Còn chúng tôi nữa, chúng tôi cũng hết sức hoan nghênh nó, nhưng dĩ nhiên với ý nghĩa khác.

Một khi chúng tôi là người Pháp, lập tức chúng tôi sẽ gửi một đoàn khai hoá đến khắp nước Pháp. Chúng tôi sẽ làm cho đất nước người Gôloa ngập lụt rượu và thuốc phiện. ở đây, chúng tôi sẽ đánh thuế muối, thuế nhập thị, sẽ cho bắt giam theo lệnh hành chính, phạt tiền tập thể, sẽ cho mở những toà án đặc biệt để đàn áp, hoạt động thường xuyên, lập kiểm duyệt, v.v. và v.v.. Nói gọn lại, chúng tôi sẽ làm lại ở đây tất cả những gì mà những kẻ nguyên là bề trên của chúng tôi đã làm trên đất nước chúng tôi, cho chúng tôi hoá ra là người Pháp. Chúng tôi sẽ cấm tất cả các báo, cả báo Le Matin và báo Le Petit Parisien. Chúng tôi sẽ bãi quyền tự do đi lại, tự do hội họp. Chúng tôi sẽ đưa những người sinh đẻ ở đây vào chế độ bản xứ, xiết bao êm ái và tốt lành, mà chúng tôi, người An Nam, người Mangát, người Phi châu chúng tôi đã được hưởng từ lâu. Chúng tôi sẽ bắt những thanh niên Pháp phải “tình nguyện” nhập ngũ, không phải 18 tháng, mà là ba, là bốn nǎm. Nếu cần, chúng tôi sẽ gửi họ đi cho người ta giết chết, để bảo vệ Tổ quốc và bảo vệ két sắt của chúng tôi. Chúng tôi sẽ chọn những cô gái Pháp trẻ, đẹp, cho đến Đông Dương, Ǎngtiơ, Mađagátxca, châu Phi, làm con đòi, mỗi tháng 40 phrǎng.

Chúng tôi sẽ là Tổng thống nước Cộng hoà Pháp, Bộ trưởng, thượng nghị sĩ và hạ nghị sĩ. Chúng tôi sẽ là những nhà khai hoá, những nhà bảo hộ, những kẻ bài xích người bản xứ, những kẻ thân người bản xứ. Chúng tôi sẽ cai trị người Pháp, và khi bực mình, có thể gọi người thổ dân – như chúng tôi đã từng bị gọi như thế cho đến nay- là những thằng Nhà quê (1) bẩn thỉu, hay lũ “dê con” bẩn thỉu.

Đúng là sẽ đến lượt chúng tôi, phải không?

NGUYỄN ÁI QUỐC

Báo Le Paria, số 15, tháng 6-1923.
cpv.org.vn

——————————–

(1) Ngay sau khi Nguyễn Ái Quốc gửi bản Yêu sách của nhân dân An Nam tới trưởng đoàn các nước dự Hội nghị Vécxây, bọn bồi bút thực dân lồng lộn. Trên tờ Courrier Colonial ra ngày 27-6 có một bài nhan đề Giờ phút nghiêm trọng chỉ trích bản yêu sách : Làm sao một người dân thuộc địa lại có thể dùng bản yêu sách của nhân dân để công kích Chính phủ Pháp. Thật là quá quắt. Cứ theo đà này thì bọn dân thuộc địa sẽ lên ngang hàng với người Pháp chúng ta và sớm trở thành ông chủ của chúng ta. Không được, phải kìm giữ chúng mãi mãi trong vòng nô lệ. Nguyễn Ái Quốc viết bài này là để trả lời bài báo sặc mùi thực dân trên.

Chủ nghĩa quân phiệt thực dân (13-4-1923)

Chúng tôi đã nói rằng, việc bắt lính ráo riết là một trong những nguyên nhân thúc đẩy người Đahômây đứng lên bạo động.

Trước hết, chúng ta thấy ngay một sự bất bình đẳng nổi bật: người Pháp chỉ phục vụ trong quân đội hai nǎm, còn người bản xứ thì phải phục vụ ba nǎm. Sau khi bỏ ra 36 tháng tuổi thanh xuân tươi đẹp của mình để bảo vệ tự do và công lý (?), người dân bản xứ được giải ngũ lại chịu sự tác động của đạo luật về người bản xứ trong đó không có tự do và công lý! Song sự bất bình đẳng ấy cũng có cái tốt: nó gây ra cho tất cả những người bản xứ cái tâm trạng chống chủ nghĩa quân phiệt.

Sự tàn ác của bọn bắt lính ở các thuộc địa tinh vi tới mức thậm chí người Pháp ở chính quốc cũng không thể hình dung được một cái gì giống như thế. Trong thời gian chiến tranh, những viên chỉ huy mang lính đi hết làng này sang làng khác buộc chính quyền bản xứ cung cấp ngay lập tức số người cần thiết để đưa vào quân đội.

Lẽ nào một sĩ quan Pháp tháo vát lại không biết tra tấn những người cha và những người mẹ của những người Xênêgan trẻ tuổi đang lẩn trốn khi ông ta xuất hiện, để buộc họ phải chui ra khỏi những nơi ẩn nấp của họ và khoác bộ áo lính Duavơ? Lẽ nào hắn lại không bắt các ông già, phụ nữ có mang, thiếu nữ, buộc họ phải cởi trần truồng và đốt quần áo của họ ngay trước mắt họ. Trần truồng, bị trói, những nạn nhân bất hạnh buộc phải chạy khắp làng dưới trận mưa roi để làm “gương”. Một người phụ nữ cõng con đằng sau lưng buộc phải xin phép được cởi trói một tay để đỡ lấy đứa bé cho khỏi ngã. Hai cụ già đã ngã bất tỉnh nhân sự trong cuộc chạy ấy. Những em gái bị hành hạ như thế đã hành kinh trước tuổi, một phụ nữ có mang, đứa con sinh ra đã bị chết, một phụ nữ khác thì đứa con sinh ra đã bị mù.

NGUYỄN ÁI QUỐC

Báo La Vie Ouvrière, ngày 13-4-1923
cpv.org.vn

Tinh hoa của xứ Đông Dương (4-1923)

Trong đám tang toàn quyền Lông, ông Nguyễn Khắc Vệ, tiến sĩ khoa luật học, tiến sĩ khoa chính trị học và kinh tế học, làm việc tại Toà Biện lý Sài Gòn, đã quả quyết rằng, nếu có thể phát biểu thay toàn thể nhân dân Đông Dương, thì ông chắc chắn rằng, tiếng nói đó sẽ đau thương tỏ lòng tri ân toàn quyền về tất cả những gì mà toàn quyền đã ban cho dân tộc An Nam. Và ông Vệ trân trọng lớn tiếng:

“Và những ai, nhờ vào những biện pháp khoan dung của Ngài, ngày nay, đang cùng các vị đại diện của nước bảo hộ góp phần vào công cuộc phồn vinh ngày càng tǎng tiến của xứ Đông Dương, sẽ cất lên từ đáy lòng mình lời tri ân Ngài và lòng sùng kính đối với anh linh Ngài. Vấn đề kinh tế là điều mà Ngài quan tâm hơn hết. Ngài từng mong muốn trang bị cho Đông Dương mọi khí cụ kinh tế sao cho nó trở thành một nước Pháp thứ hai, một nước Pháp Viễn Đông hùng cường, một con đỡ đầu của nước Pháp cộng hoà”.

“Trong sứ mệnh của Ngài, Ngài đã toàn tâm toàn ý khai hoá cho một dân tộc bị ngừng trệ trên con đường tiến bộ vì một tổng hợp điều kiện lịch sử và khí hậu. Ngài là vị quán quân của tiến bộ, là sứ giả của công cuộc khai hoá…”.

Về phần mình, ông Cao Vǎn Sen, kỹ sư, Chủ tịch Hội những người Đông Dương, thì nói rằng, việc ông Lông chết quá sớm là một cái tang cho toàn cõi Đông Dương. Rồi ông kết thúc bài điếu vǎn bằng những lời sau đây:

“Bẩm quan Toàn quyền, chúng tôi thành tâm than khóc Ngài vì đối với tất cả chúng tôi, Ngài là một thủ hiến, một người cha nhân hậu”.

…………………” (1).

Từ sự việc trên, tôi đi đến kết luận rằng: Nếu quả thực tất cả những người An Nam đều cũng luồn cúi sát đất như hai đứa con này của guồng máy cai trị thì quả thực là dân này xứng đáng với cái số phận được cho.

N

Báo Le Paria, số 13, tháng 4-1923.
cpv.org.vn

——————————-

(1) Ngay sau khi Nguyễn Ái Quốc gửi bản Yêu sách của nhân dân An Nam tới trưởng đoàn các nước dự Hội nghị Vécxây, bọn bồi bút thực dân lồng lộn. Trên tờ Courrier Colonial ra ngày 27-6 có một bài nhan đề Giờ phút nghiêm trọng chỉ trích bản yêu sách : Làm sao một người dân thuộc địa lại có thể dùng bản yêu sách của nhân dân để công kích Chính phủ Pháp. Thật là quá quắt. Cứ theo đà này thì bọn dân thuộc địa sẽ lên ngang hàng với người Pháp chúng ta và sớm trở thành ông chủ của chúng ta. Không được, phải kìm giữ chúng mãi mãi trong vòng nô lệ. Nguyễn Ái Quốc viết bài này là để trả lời bài báo sặc mùi thực dân trên.

Báo cáo gửi Ban biên tập về hoạt động của báo Le Paria (1923)

Dự án ban đầu là trước hết thành lập một hợp tác xã xuất bản.

Dự án đó không thực hiện được do các đồng chí chưa hăng hái đóng góp, mặc dù chúng ta đã kêu gọi nhiều lần và việc làm này chúng ta tốn kém 120 phrăng.

Một nhóm nhỏ tám đồng chí cam kết dù sao cũng phải cho xuất bản ngay tờ Le Paria. Đã có những lời hứa như sau: Blôngcua cho 100 phrăng mỗi tháng, Hátgiali: 50, Mônnécvin: 50, Xtêphani: 25, Nguyễn ái Quốc: 25, Ônôriơ: 10, Ralaimônggô: 10, Phuốcnirê: 10. Tổng cộng là 280 phrăng.Le Paria bắt đầu ra mắt ngày 1-4-1922, cho đến ngày 31-12-1922, ngân sách của nó chia ra như sau:

Thu:

A- Tiền quyên góp của các đồng chí nói trên: Ralemônggô: 50 phrăng, Nguyễn ái Quốc: 175, Mônnécvin: 100, Blôngcua: 0, Ônôriơ: 10, Hátgiali: 200, Xtêphani: 50, Phuốcniê: 0. Tổng cộng là 585 phrăng.

B- ủng hộ báo từ 1-4 đến 31-12-1922: 593 phrăng.

C- Tiền bán báo dài hạn 141 x 3 = 423 phrăng.

D- Tiền bán báo lẻ từ số 1 đến số 9 = 170 phrăng 40. Tổng số thu là: 1.771 phrăng 40.

Chi:

– Chi phí ban đầu (kể cả số tiền 120 phrăng nói ở trên): 170 phrăng.

– Đồ dùng: 34,80

– Cước phí bưu điện: 156,80

– Chi phí tiền in: 2.483,80

Tổng số chi là: 2.845,40.

Ngoài số chi nói trên còn ba quý tiền thuê nhà hết 900 phrăng do sự ủng hộ của các đồng chí đài thọ, đặc biệt do số tiền 450 phrăng đồng chí Blôngcua nhận được từ Đahômây.

… Xin nhận xét rằng, trong chín tháng qua, trong số tám đồng chí hứa cho tiền hằng tháng, thì có: 1 đồng chí đi vắng không đóng xu nào, 1 chưa đóng, 1 mới đóng 1 tháng, 2 đóng 2 tháng, 1 đóng bốn tháng, 1 đóng năm tháng, 1 đồng chí đóng đầy đủ (1) .

Để trả được số nợ cũ cho chủ nhà in và tìm một nhà in khác với điều kiện thuận lợi hơn cho báo, thì các đồng chí cần giữ đúng những lời đã hứa góp tiền.

Từ 1-1-1923, quyết định ra báo hai kỳ một tháng và ra bốn trang, trang bốn dành đăng quảng cáo để tờ báo có thể sống được. Nhân dịp này, các đồng chí quyết định nộp tiền trả ngay tiền in số 10 là 535 phrăng.

Từ 1-2, việc cho đăng quảng cáo phải mang lại một số tiền đủ cho việc ra báo. Đồng chí Xtêphani được giao tổ chức việc lấy quảng cáo.

Mặc dù việc quảng cáo mới được đặt ra và do đó chưa được hưởng ứng nhiều, mới đem lại cho các số báo 10, 11 và 12 một số tiền ít ỏi, đồng chí Xtêphani bảo đảm với chúng ta rằng, với các số tới, ngân sách 1923 sẽ được cân đối, do đó Xtêphani hứa rằng, từ số 13 sẽ không yêu cầu các đồng chí đóng góp nữa. Xtêphani tin chắc rằng trong tương lai rất gần, việc nhận đăng quảng cáo không những có thể giúp trang trải tiền thuê in báo mà còn có thể trả công cho một đồng chí chuyên trách gánh mọi công việc của tờ báo như gửi thư đi, kiểm soát, giữ thường trực, v.v., và còn trả được tiền thuê nhà. Trong khi chờ đợi, các đồng chí phải chịu bỏ tiền ra để trả tiền thuê nhà.

Hãy dũng cảm, có nghị lực và bắt tay vào việc.

NGUYỄN ÁI QUỐC

Viết cuối 1922. In trong sách Thời thanh niên của Bác Hồ,
Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 1976, tr. 179-181.
Bài in trong sách Thời thanh niên của Bác Hồ.
cpv.org.vn

———————————-

(1) Ngay sau khi Nguyễn Ái Quốc gửi bản Yêu sách của nhân dân An Nam tới trưởng đoàn các nước dự Hội nghị Vécxây, bọn bồi bút thực dân lồng lộn. Trên tờ Courrier Colonial ra ngày 27-6 có một bài nhan đề Giờ phút nghiêm trọng chỉ trích bản yêu sách : Làm sao một người dân thuộc địa lại có thể dùng bản yêu sách của nhân dân để công kích Chính phủ Pháp. Thật là quá quắt. Cứ theo đà này thì bọn dân thuộc địa sẽ lên ngang hàng với người Pháp chúng ta và sớm trở thành ông chủ của chúng ta. Không được, phải kìm giữ chúng mãi mãi trong vòng nô lệ. Nguyễn Ái Quốc viết bài này là để trả lời bài báo sặc mùi thực dân trên.

Hạ viện Mỹ thông qua dự luật sai trái về Việt Nam

Hạ viện Mỹ

Cái gọi là “Dự luật Nhân quyền Việt Nam” với những thông tin sai trái, thiếu khách quan về tình hình thực thi quyền con người ở Việt Nam vừa được Hạ viện Mỹ thông qua.

Theo thông cáo báo chí đăng trên trang web của Hạ nghị sĩ Chris Smith, Hạ viện Mỹ chiều 11/9 đã thông qua Dự luật Nhân quyền Việt Nam năm 2012 số hiệu là H.R.1410.

Theo dự luật này, Mỹ không được viện trợ không có mục đích nhân đạo cho Việt Nam nếu Tổng thống Mỹ không xác nhận được với Quốc hội Mỹ rằng Việt Nam đã cải thiện đáng kể trong lĩnh vực nhân quyền.

Hồi tháng 3 năm nay, khi Ủy ban Đối ngoại Hạ viện Mỹ thông qua dự luật kể trên, Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lương Thanh Nghị đã khẳng định dự luật đưa ra những thông tin sai trái, thiếu khách quan về tình hình thực thi quyền con người ở Việt Nam.

Ông Nghị nhấn mạnh: “Chúng tôi cho rằng mọi khác biệt về vấn đề quyền con người cần được trao đổi thẳng thắn trên tinh thần xây dựng và tôn trọng lẫn nhau nhằm tăng cường hiểu biết và góp phần thúc đẩy quan hệ giữa các quốc gia. Trên tinh thần đó, Việt Nam đã tiến hành đối thoại với Mỹ về vấn đề quyền con người.”

Theo người phát ngôn, trong những năm qua, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu trong việc bảo đảm quyền con người trên mọi lĩnh vực dân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, và được cộng đồng quốc tế ghi nhận.

[“Dự luật nhân quyền Việt Nam là không công bằng”]

Khi đó, Hạ nghị sỹ Mỹ Eni Faleomavaega cũng cho rằng dự luật nhân quyền Việt Nam 2011 được thông qua tại Ủy ban Đối ngoại Hạ viện Mỹ là không công bằng với cả nhân dân và Chính phủ Việt Nam.

Nghị sĩ Faleomavaega cho rằng với việc thông qua dự luật trên, người ta đã áp dụng một “tiêu chuẩn kép” đối với Việt Nam, tức là áp đặt một tiêu chuẩn cao hơn về nhân quyền đối với Việt Nam so với các nước khác, trong đó có chính nước Mỹ.

Hạ nghị sĩ Chris Smith từng hai lần đề nghị Dự luật Nhân quyền cho Việt Nam và được Hạ viện Mỹ thông qua nhưng đều bị Thượng viện bác bỏ./.

(Vietnam+)
vietnamplus.vn

“Dùng tâm công, dội bão lửa!

QĐND- Điện thoại phòng làm việc của Thiếu tướng Nguyễn Thanh Ngụ liên tục đổ chuông. Nhiều cán bộ, nhân viên ra vào tấp nập xin chữ ký, nộp tờ trình, báo cáo… Định đến phỏng vấn về ngày truyền thống Binh chủng Pháo binh (29-6) nhưng thấy ông bận rộn, chúng tôi đang lưỡng lự thì đúng lúc ông nhìn ra và khoát tay: “Mời các phóng viên vào, tôi đang chờ các đồng chí đấy”. May quá, ông vẫn nhớ lịch hẹn. Câu chuyện của chúng tôi bắt đầu từ sự bận rộn hiện nay của đồng chí Bí thư Đảng ủy, Chính ủy Binh chủng Pháo binh.

Thiếu tướng Nguyễn Thanh Ngụ: Dạo này đơn vị triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) về xây dựng Đảng, rồi đang chuẩn bị hội nghị rút kinh nghiệm công tác tư tưởng trong quản lý bộ đội, công tác xây dựng điển hình tiên tiến, hội nghị tọa đàm sĩ quan trẻ và nhất là tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh nên tôi khá bận. Nhưng dù bận, cũng phải thu xếp để tiếp các nhà báo, sắp đến ngày thành lập Binh chủng Pháo binh, rất mong các đồng chí tuyên truyền về truyền thống của Binh chủng anh hùng, Binh chủng hỏa lực mặt đất chủ yếu của quân đội ta.

Thiếu tướng Nguyễn Thanh Ngụ, Bí thư Đảng ủy, Chính ủy Binh chủng Pháo binh trò chuyện cùng sĩ quan trẻ. Ảnh: Đình Hùng

PV: Thưa đồng chí Chính ủy, nhắc đến pháo binh, chúng tôi nhớ ngay đến lời khen tặng của Bác Hồ dành cho Binh chủng: “Chân đồng, vai sắt, đánh giỏi, bắn trúng”. Lời khen ấy của Bác, chắc hẳn là phương châm để Đảng ủy Binh chủng triển khai việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh hiện nay?

Thiếu tướng Nguyễn Thanh Ngụ: Đúng vậy. Lời khen của Bác là niềm tự hào của các thế hệ bộ đội pháo binh. Đó là ngày 13-4-1967, bộ đội pháo binh xuất sắc bắn cháy nhiều tàu chiến Mỹ và đánh trả pháo binh địch ở Cồn Tiên-Dốc Miếu. Sinh thời, Bác Hồ rất quan tâm, chăm lo phát triển bộ đội pháo binh. 14 lần Bác đến thăm, nói chuyện hoặc gửi thư khen bộ đội pháo binh. Đó là “vốn liếng” rất lớn để chúng tôi triển khai học tập và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức và phong cách của Người. Việc làm theo, tất nhiên là rất phong phú, đa dạng nhưng chúng tôi cứ khắc ghi lời Bác: “Nắm vững kỹ thuật, chiến thuật, giữ gìn xe tốt, pháo tốt, tiết kiệm đạn dược, đánh giỏi, bắn trúng” là có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị của Binh chủng Pháo binh.

PV: Nhân nói về truyền thống “đánh giỏi, bắn trúng”, là lực lượng kỹ thuật với xe pháo nặng nề nhưng pháo binh luôn nổ phát súng lệnh, khởi đầu cho các chiến dịch lớn trong hai cuộc kháng chiến vệ quốc của nhân dân ta?

Thiếu tướng Nguyễn Thanh Ngụ: Điều nhà báo nói, cũng là điều mà chúng tôi muốn gửi gắm đến các chiến sĩ pháo binh trẻ hôm nay. Trong hai cuộc kháng chiến, chống Pháp và chống Mỹ trước đây, bộ đội pháo binh đã đánh hàng nghìn trận lớn nhỏ, đặc biệt là chuyên đánh mở màn trong các chiến dịch lớn, giành thắng lợi rất huy hoàng.

Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, lúc 20 giờ 3 phút ngày 19-12-1946, tiếng súng từ Pháo đài Láng chính là phát đạn đầu tiên của quân ta báo hiệu sự nghiệp toàn quốc kháng chiến đã bắt đầu. Đến Chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử, pháo binh ta làm bất ngờ hoàn toàn quân địch. Giặc Pháp không ngờ ta có thể điều động nhiều trung đoàn, tiểu đoàn pháo cỡ lớn, vượt qua bao đèo dốc để dội bão lửa lên đầu chúng dữ dội đến thế. Trong chiến dịch giải phóng Quảng Trị năm 1972, liên quân Mỹ-ngụy cũng đã hoàn toàn bất lực trước hỏa lực mạnh mẽ của pháo binh ta. Còn trong Chiến dịch Hồ Chí Minh, hơn 20 trung đoàn, lữ đoàn pháo với gần 800 khẩu pháo, tổ chức thành 30 cụm pháo binh đã tạo ra hệ thống hỏa lực cực mạnh, tập trung áp đảo địch ngay từ đầu, khống chế các sân bay, bến cảng, chi viện đắc lực cho 5 cánh quân tiến vào giải phóng Sài Gòn.

Bây giờ, với nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, việc bảo đảm cho pháo binh luôn “bắn giỏi, đánh trúng” là điều rất quan trọng, tạo ra “thế và lực” để giữ vững chủ quyền đất nước bằng phương pháp hòa bình.

PV: Bộ đội pháo binh, trong lịch sử đã là một trong những lực lượng oai hùng nhất của quân đội. Rất nhiều tác phẩm nghệ thuật hay về đề tài người lính thường nhắc đến bộ đội pháo binh. Thanh niên nhập ngũ cũng rất nhiều người muốn làm pháo thủ. Nhưng chúng tôi được biết, hiện số học sinh giỏi đăng ký thi vào Trường Sĩ quan Pháo binh ngày càng ít, phải chăng “tình yêu pháo binh” đã giảm trong thanh niên hiện nay?

Thiếu tướng Nguyễn Thanh Ngụ: Đó cũng là một vấn đề mà chúng tôi băn khoăn, trăn trở. Đây không chỉ là vấn đề riêng của pháo binh. Thực tế, thời bình, thanh niên có nhiều cơ hội lựa chọn nghề nghiệp, phát triển kinh tế lại là nhiệm vụ trung tâm của thời kỳ quá độ, nên việc nhiều học sinh giỏi không chọn pháo binh là nghề cũng là lẽ dễ hiểu. Điều chúng tôi quan tâm hơn là chăm lo giữ gìn truyền thống của Binh chủng, làm sao để mỗi đơn vị pháo binh là một cơ quan văn hóa. Người dân địa phương đến tham quan, gia đình quân nhân đến chơi đều cảm nhận và đánh giá cao về môi trường văn hóa – nhân văn của đơn vị mới là điều quan trọng. Đó cũng là cách để “hút” người có năng lực về công tác tại các đơn vị pháo binh. Năm ngoái, chúng tôi có làm một cuộc điều tra sơ bộ, cho thấy tuyệt đại đa số sĩ quan trẻ vẫn yên tâm công tác, gắn bó với đơn vị; 70% sĩ quan trẻ hoàn thành tốt nhiệm vụ ngay năm đầu ra trường trong khi có tới 50% tổng số sĩ quan hiện vẫn chưa hợp lý hóa gia đình, nghĩa là vẫn phải chịu cảnh sống xa nhà, đồng lương nhiều khi chỉ đủ rải dọc đường về phép… Đấy là những con số chứng tỏ, bộ đội pháo binh hiện nay vẫn xứng đáng với truyền thống hào hùng mà thế hệ đi trước đã dày công xây đắp.

PV: Giáo dục truyền thống cho sĩ quan pháo binh trẻ quả là một vấn đề hấp dẫn nhưng… hóc búa hiện nay. Chúng tôi vẫn băn khoăn là làm thế nào để sĩ quan trẻ có thể “đánh giỏi, bắn trúng” trong điều kiện giá cả vũ khí đắt đỏ, có khi rất lâu mới được thực hành bắn đạn thật như hiện nay ?

Thiếu tướng Nguyễn Thanh Ngụ: Vấn đề các đồng chí nêu làm tôi nhớ đến kỷ niệm thời trẻ của mình. Năm 1979, tôi là học viên Trường Sĩ quan Pháo binh đi thực tập ở đảo Trần (Quảng Ninh). Cả đảo có hai trận địa pháo nhưng chưa từng sử dụng, cũng không có ai là sĩ quan pháo binh. Nhân dịp tôi ra, cấp trên lệnh cho tôi huấn luyện bộ đội rồi tổ chức diễn tập bắn đạn thật luôn. Là một cán bộ thực tập, cũng chưa từng bắn đạn thật bao giờ, đối với tôi đó là một thử thách rất lớn. Tôi tâm niệm, cứ trung thành với kiến thức cơ bản được học, tổ chức bắn đạn thật đúng quy trình. Kết quả thật bất ngờ. Phát pháo đầu tiên do tôi đích thân bắn mẫu đã trúng mục tiêu trên biển. Kết quả buổi diễn tập được đánh giá cao. Như vậy thì thấy, trong điều kiện thời bình, ít được bắn đạn thật nhưng nếu anh huấn luyện bộ đội thật nghiêm, kỷ luật thật tốt thì không lo gì về chất lượng SSCĐ cả. Mà muốn để bộ đội có kết quả huấn luyện giỏi, người cán bộ không chỉ truyền kiến thức mà phải truyền cả ngọn lửa đam mê, nhiệt huyết nghề nghiệp của mình vào đó. Tôi nói vui, đó là cách “dùng tâm công” trong thời bình để sẵn sàng “dội bão lửa” lên đầu kẻ thù nếu tình huống chiến tranh vệ quốc xảy ra. Chúng tôi tự tin là ở thời kỳ nào, Binh chủng Pháo binh cũng sẵn sàng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.

PV: Xin cảm ơn đồng chí !

Lại Nguyên Thắng (thực hiện)
qdnd.vn

“Dự luật nhân quyền Việt Nam là không công bằng”

Hạ nghị sỹ Mỹ Eni Faleomavaega. (Ảnh: Đỗ Thúy/Vietnam+)

Ngày 8/3, Hạ nghị sỹ Mỹ Eni Faleomavaega cho rằng dự luật nhân quyền Việt Nam 2011 vừa được thông qua tại Ủy ban Đối ngoại Hạ viện Mỹ là không công bằng với cả nhân dân và Chính phủ Việt Nam.

Nghị sĩ Faleomavaega cho rằng với việc thông qua dự luật trên, người ta đã áp dụng một “tiêu chuẩn kép” đối với Việt Nam, tức là áp đặt một tiêu chuẩn cao hơn về nhân quyền đối với Việt Nam so với các nước khác, trong đó có chính nước Mỹ.

Ông nói: “Chính phủ Việt Nam đã nỗ lực hết sức để loại bỏ những xâm phạm về nhân quyền, và Chính phủ Mỹ cũng đang có những nỗ lực tương tự. Cái mà tôi muốn chỉ ra là một thứ tiêu chuẩn kép. Tại sao chúng ta lại đặt riêng Việt Nam ra trong khi các nước khác cũng có những vấn đề tương tự.”

Theo Nghị sĩ Faleomavaega, trong các cuộc tham vấn giữa Quốc hội với Bộ Ngoại giao Mỹ, chính bộ này đã thừa nhận rằng phía Việt Nam đã và đang cố gắng để cải thiện quyền con người. Ông cũng cho rằng chính nước Mỹ đang có một vấn đề về đạo đức cần phải khắc phục.

Ông nói: “Nếu đã nói về những việc làm trước kia, thì phải nói đến chuyện hàng triệu galông chất độc da cam/dioxin, loại hóa chất độc hại nhất, mà người Việt Nam phải hứng chịu, chỉ vì sai lầm của chúng ta đã gây ra cho Việt Nam,” rồi đặt câu hỏi: “Tại sao Chính phủ Mỹ không giải quyết vấn đề này?.”

Trước đó, ngày 7/3, phát biểu trong cuộc thảo luận ở Ủy ban Đối ngoại Hạ viện mà ông là thành viên, nghị sỹ Faleomavaega cho rằng dự luật nhân quyền Việt Nam có cách tiếp cận “thiển cận,” đi ngược lại những nỗ lực của các chính quyền từ Tổng thống Bill Clinton, George W. Bush và Barack Obama nhằm củng cố quan hệ đối tác với Việt Nam.

Ông cho rằng cần phải thừa nhận những tiến bộ thực chất và định lượng được mà Việt Nam đã thực hiện trong vấn đề nhân quyền. Trong khi đó, theo ông, dự luật nhân quyền Việt Nam lại chỉ dựa trên những dữ liệu có từ cách đây 10-15 năm và được nhắc đi nhắc lại bởi những người chưa bao giờ đến Việt Nam.

Để giảm bớt những khác biệt giữa hai bên, nghị sỹ Faleomavaega cho rằng Quốc hội Mỹ cần thông qua Bộ Ngoại giao Mỹ tìm hiểu cụ thể các vụ việc có cáo buộc về nhân quyền, và cần có sự phản hồi chính thức từ phía Việt Nam, xác nhận tính chân thực hay không của các sự việc, những gì đã diễn ra, các việc đã và sẽ làm./.

(TTXVN)
vietnamplus.vn

Đại đội Thông tin làm theo gương Bác

QĐND – Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định vai trò của thông tin liên lạc là quan trọng hàng đầu trong đấu tranh cách mạng. Bởi, thông tin quyết định sự thống nhất chỉ huy, phân phối lực lượng để bảo đảm thắng lợi. Khắc ghi lời dạy của Bác, những năm qua, cán bộ, chiến sĩ Đại đội Thông tin LLVT tỉnh Bến Tre đã không ngừng phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

Cán bộ, chiến sĩ Đại đội Thông tin LLVT tỉnh Bến Tre tác nghiệp trong diễn tập.

Thượng úy Huỳnh Trung Chiến, Đại đội trưởng cho biết: Chúng tôi luôn gắn chặt việc Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh với thực hiện nhiệm vụ chính trị trung tâm. Đơn vị luôn quán triệt tinh thần hăng hái, chăm chỉ, cẩn thận, tỉ mỉ tác nghiệp để hoàn thành nhiệm vụ, khắc phục được những điểm yếu, khâu yếu trong công tác. Mỗi cán bộ, chiến sĩ hằng tháng viết bản đăng ký quyết tâm khắc phục khuyết điểm của tháng trước. Với đặc điểm quản lý nhiều kênh thông tin liên lạc, đại đội đã bảo đảm thông tin thoại, truyền số liệu phục vụ cho nhiệm vụ SSCĐ, duy trì thông suốt mạng thông tin liên lạc từ trung tâm chỉ huy đến với các đơn vị đứng chân và làm nhiệm vụ cơ động.

Cán bộ, chiến sĩ đơn vị thực hiện làm theo tấm gương của Bác bằng chương trình, kế hoạch rèn luyện, phấn đấu cụ thể của từng cá nhân để trong bất kỳ tình huống nào công tác thông tin liên lạc vẫn phải thông suốt. Đặc biệt, chú trọng việc hoàn thành tốt nhiệm vụ thông tin liên lạc trong diễn tập ở các cấp, kết hợp chặt chẽ giữa huấn luyện cơ bản và huấn luyện theo nhiệm vụ. Trong năm 2011, Đại đội đã bảo đảm thông tin thông suốt vững chắc, không để bị bất ngờ, sai sót, chậm thông tin, phục vụ tốt cho chỉ huy hiệp đồng chiến đấu của LLVT trong tỉnh. Đơn vị xử lý kịp thời gần 500 công điện, nhận và chuyển hơn 17.500 công văn, văn kiện các loại, được quân khu đánh giá đơn vị đạt loại giỏi. Ngoài ra, đơn vị còn duy trì nghiêm chế độ trực ban, trực lực lượng thông tin SSCĐ, đặc biệt là nâng cao ý thức trách nhiệm tự giác chấp hành nghiêm kỷ luật trong quá trình canh trực.

Phát huy tinh thần tương thân tương ái, hằng tháng, mỗi cán bộ, sĩ quan của đơn vị đều dành một khoản tiền nhỏ góp vào quỹ tình thương nhằm chăm lo, giúp đỡ gia đình quân nhân gặp khó khăn. Riêng với anh em chiến sĩ thì ủng hộ theo khả năng mỗi người. Với số tiền quyên góp được, đơn vị đã làm tốt công tác dân vận và đền ơn đáp nghĩa.

Theo Thượng úy Huỳnh Trung Chiến, nhờ gắn phong trào thi đua quyết thắng với thực hiện việc làm theo gương Bác đã nâng cao được ý thức tự tu dưỡng, nhất là tinh thần thực hiện nhiệm vụ chuyên môn của cán bộ, chiến sĩ. Hiện nay, công tác huấn luyện chuyên ngành thông tin của đơn vị luôn sát với tình hình thực tế chiến đấu, trên tất cả các địa hình và hình thái chiến thuật, bảo đảm cho người chiến sĩ thông tin giỏi về chuyên môn, thành thạo về chiến thuật chuyên ngành. Học ở Bác, đòi hỏi người chiến sĩ thông tin phải thường xuyên nghiên cứu cập nhật kiến thức liên tục để sử dụng các phương tiện kỹ thuật công nghệ cao một cách có hiệu quả. Đồng thời, bảo đảm thông tin liên lạc phục vụ công tác phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, tìm kiếm cứu nạn và các nhiệm vụ đột xuất.

Phát huy truyền thống đơn vị Anh hùng LLVT nhân dân, cán bộ, chiến sĩ Đại đội Thông tin LLVT tỉnh Bến Tre tiếp tục đoàn kết, phấn đấu xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn cách mạng mới.

Bài và ảnh: Trường Khoa
qdnd.vn

Người cựu chiến binh 90 tuổi đam mê sưu tầm ảnh Bác

QĐND Online – Khi chúng tôi đến ngôi nhà mới mà con cháu vừa xây tặng, cụ Trần Khiên, nay đã 90 tuổi, ở tiểu khu I, thị trấn Việt Trung, huyện Bố Trạch, (Quảng Bình) đang cẩn thận xếp từng tấm ảnh Bác Hồ mà cụ sưu tầm được vào khung, trân trọng treo lên tường nhà.

Khi đất nước có chiến tranh, người thanh niên Trần Khiên lên đường cầm súng giết giặc. Đất nước thống nhất, Trần Khiên về công tác tại Nông trường quốc doanh cao su Việt Trung (Công ty cao su Việt Trung ngày nay), cho đến lúc nghỉ hưu.

Cụ Trần Khiêm bên những bức ảnh Bác Hồ mà cụ sưu tầm được

Trở về với đời thường, ngoài chăm sóc vườn tược, trông nom cháu chắt, tranh thủ những lúc nhàn rỗi, cụ Trần Khiêm tìm đọc những cuốn sách viết về Bác Hồ. Ngoài ra, cụ thường đến trụ sở UBND thị trấn và các cơ quan, trường học trong thị trấn, mượn sách báo về nhà đọc. Thấy tờ nào có ảnh Bác Hồ, cụ tìm đến hiệu photocopy, sao chụp lại những bức ảnh đó mang về nhà lưu giữ.

Cụ Khiêm tâm sự: “Tôi làm việc này xuất phát từ lòng kính trọng và sự ngưỡng mộ trước những việc làm của Bác đối với dân với nước nhà. Mỗi bài báo, mỗi bức ảnh giúp tôi biết thêm về cuộc đời hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đó cũng là điều khiến tôi có niềm đam mê sưu tầm và lưu giữ ảnh của Người”.

Hơn 300 bức ảnh Bác Hồ được cụ Trần Khiêm đặt trong khung ảnh cỡ lớn, treo thành hàng, theo từng chủ đề. Hàng thứ nhất có chủ đề “Bác Hồ với thiếu niên nhi đồng”; hàng thứ 2 có chủ đề “Bác Hồ với nông dân”; hàng thứ 3 có chủ đề “Bác Hồ với chiến dịch Điện Biên Phủ” và nhiều bức ảnh về những năm tháng hoạt động Cách mạng của Người…

– Giờ tuổi già sức yếu, tôi không thể đi lại nhiều như trước nhưng niềm đam mê sưu tầm ảnh Bác thì chưa bao giờ tắt. Tôi thường dặn dò con cháu rằng nếu đọc sách báo có in ảnh của Bác thì mang về nhà cho mình, cụ Khiêm bộc bạch.

Theo cụ Khiêm, những bức ảnh Bác Hồ cụ sưu tầm được là kho tư liệu vô cùng quý giá, giúp con cháu cụ có thể hiểu rõ hơn về vị lãnh tụ của dân tộc. Cụ thường lấy những mẩu chuyện về Bác để dạy dỗ các cháu. Bởi theo cụ, mỗi câu chuyện về Người là một bài học về cách sống ở đời.

Bài và ảnh: Bùi Thu Hường
qdnd.vn

Trung thu nhớ Bác

“Ai yêu nhi đồng bằng Bác Hồ Chí Minh

Tính các cháu ngoan ngoan. Mặt các cháu xinh xinh”.

(Thư gửi các cháu nhi đồng, 25/9/1952
Hồ Chí Minh toàn tập, tập 6, trang 571-572)

bh voi thieu nhi
Ảnh Tư liệu

Sinh thời, dù bận trăm công nghìn việc, gánh vác vận mệnh của non sông xã tắc nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn luôn quan tâm, yêu thương thế hệ măng non của đất nước. Người luôn dành cho các em thiếu niên nhi đồng tình cảm nồng hậu và sự dạy bảo tận tình. Mỗi dịp Tết Thiếu nhi, khai giảng năm học mới và Tết Trung thu Bác luôn gửi thư cho thiếu niên nhi đồng để chia sẻ niềm vui với các em và cũng không quên dạy dỗ bảo ban các em học tập, rèn luyện để sau này thành người có tài, có đức phục vụ non sông đất nước.

Nhân dịp Tết Trung thu độc lập đầu tiên của đất nước, Bác Hồ đã viết bài báo: “Tết Trung thu với nền độc lập” in trên báo Cứu Quốc số 45 ngày 17 tháng 9 năm 1945. Chia sẻ với các em niềm vui, hạnh phúc trong Tết Trung thu độc lập đầu tiên của đất nước sau khi giành được độc lập. Bác viết:

“Cùng các trẻ em yêu quý!

Hôm nay là Tết Trung thu

Mẹ đã sắm cho các em nào đèn, nào trống, nào hoa nào nhiều đồ chơi khác.

Các em vui vẻ nhỉ!

Cái cảnh trăng tròn gió mát, hồ lặng trời xanh của Trung thu lại làm các em vui cười hớn hở.

Các em vui cười hớn hở, già Hồ cũng vui cười, hớn hở với các em. Đố các em biết vì sao? Một là vì già Hồ rất yêu mến các em. Hai là vì Trung thu năm ngoái, nước ta còn bị áp bức, các em còn là bầy nô lệ trẻ em. Trung thu năm nay nước ta đã được tự do và các em đã thành những người tiểu quốc dân của một nước độc lập.

Hôm nay, tha hồ các em vui chơi cho thỏa chí, ngày mai mong các em ra sức học tập, tất cả các em đã biết chữ quốc ngữ chưa? Em nào chưa biết thì phải học cho biết. Phải siêng tập thể thao cho mình mẩy được nở nang. Và ra sức giúp việc cho Nhi đồng cứu vong hội.

Đến Trung thu năm sau, chúng ta sẽ tổ chức một cuộc vui cả già lẫn trẻ. Các em nghĩ thế nào?

Trung thu này, già Hồ không có gì gửi tặng các em. Chỉ gửi tặng các em 100 cái hôn thân ái!”.

(Thư Trung thu gửi các cháu nhi đồng 12/9/1951
Hồ Chí Minh. Toàn tập, tập6, tr299-301)

Trong những năm đầu của cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc còn nhiều gian khó vất vả, Bác cũng không quên gửi thư động viên, an ủi các em nhân ngày Tết Trung thu. Bởi vì nhẽ ra những ngày này các em phải được vui chơi, được sống trong sự yêu thương chăm sóc của người thân. Vì thực dân cướp nước, vì tương lai của đất nước mà các em cũng phải theo gia đình đi kháng chiến. Có nhiều em nhỏ còn tham gia giúp đỡ bộ đội, không quản ngại khó khăn, vất vả nơi rừng thiêng nước độc. Thư Trung thu gửi các cháu nhi đồng năm 1948, Người viết: “Nhiều cháu phải xa cha mẹ đến núi đỏ rừng xanh. Nhiều cháu chịu khó nhọc, hăng hái giúp các anh bộ đội. Nhiều cháu ở hậu phương thấy đồng bào hi sinh cực khổ, không nỡ ăn Tết Trung thu vui sướng một mình”, và Người đã thay mặt toàn thể đồng bào hứa với các cháu: “Sớm đuổi bọn thực dân phản động để trường kỳ kháng chiến sớm thắng lợi”. Cuối thư, Người khuyên các cháu “ra sức học hành” và không quên “gửi lời hôn các cháu”.

Trong những năm kháng chiến đầy cam go và khó khăn tuy thiếu thốn đủ bề nhưng với sự quan tâm và động viên của Bác đã khiến cho thiếu niên nhi đồng càng cố gắng học tập, rèn luyện và giúp đỡ người lớn những công việc phù hợp với sức vóc của mình.

Trung thu năm 1949, Bác viết: “Trung thu năm nay, Bác cũng chưa có quà gì cho các cháu, nhưng Bác chắc chắn rằng sau này các cháu sẽ có Tết Trung thu linh đình là Tết Trung thu kháng chiến hoàn toàn thắng lợi. Bây giờ các cháu hãy nhận cái hôn Bác Hồ”.

Trung thu năm 1951, Người mở đầu thư gửi cho thiếu niên nhi đồng bằng bốn câu thơ:

Trung thu trăng sáng như gương

Bác Hồ ngắm cảnh nhớ thương nhi đồng

Sau đây Bác viết mấy dòng

Gửi thăm các cháu tỏ lòng nhớ nhung.

Trung thu năm 1952, Bác gửi cho các em thiếu nhi những lời nhắn nhủ dạy bảo ân cần:

“Mong các cháu cố gắng

Thi đua học và hành

Tuổi nhỏ làm việc nhỏ

Tùy theo sức của mình…

Các cháu hãy xứng đáng

Cháu Bác Hồ Chí Minh.”

Đây là giai đoạn đất nước đang bước vào thời kỳ kháng chiến cam go nhất nhưng Bác vẫn không quên bày tỏ niềm thương nhớ tới các em thiếu nhi ở mọi miền của đất nước. Trong thư của Người gửi có ẩn chứa nỗi buồn lo cho các em và cũng biểu dương tinh thần dũng cảm của thiếu nhi.

Trung thu năm 1953, Người gửi thư cho các em với mong muốn: “Thu sau so với thu này vui hơn”. Trung thu năm 1954, sau chín năm trường kỳ kháng chiến đã giành được thắng lợi, lúc này các cháu thiếu nhi miền Bắc đã được sống trong cảnh hòa bình. Người không quên gửi thư chúc thiếu nhi: “Vui vẻ, mạnh khỏe, ngoan ngoãn và cố gắng thi đua học hành”. Nhưng niềm vui của Bác dường như vẫn chưa được trọn vẹn, vì Người còn một nỗi niềm trăn trở về các cháu miền Nam còn đang phải sống trong cảnh chưa có hòa bình, chưa có tự do. Điều đó được thể hiện ở hai câu thơ cuối:

“Đến ngày Nam Bắc vui chung

Các cháu xúm xít thì lòng ta vui”.

BH2
Ảnh Tư liệu

Đã 43 năm trôi qua, kể từ ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh đi vào cõi vĩnh hằng và 37 năm giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước, những ngày Tết Trung thu của các cháu thiếu niên nhi đồng ngày càng đầy đủ hơn, trọn vẹn hơn trong tình yêu thương của gia đình và sự quan tâm của xã hội. Nhưng trong trái tim của mỗi người con đất Việt, nhất là của các cháu thiếu niên nhi đồng hôm nay cứ đến ngày này lại thổn thức nhớ về Người. Nhớ về tình yêu thương bao la, tấm lòng nhân hậu của Bác.

Kim Yến
bqllang.gov.vn

Quốc vương Cam-pu-chia đặt hoa tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh

Nhận lời mời của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, Quốc vương Cam-pu-chia Prẹ Bạt Xăm-đéc Prẹ Bô-rôm-niết Nô-rô-đôm Xi-ha-mô-ni cùng Đoàn đại biểu Hoàng gia Vương quốc Cam-pu-chia thăm chính thức nước ta từ ngày 24/6/2012 đến ngày 26/9/2012. Đây là chuyến thăm lần thứ thứ 4 của Quốc vương Nô-rô-đôm Xi-ha-mô-ni kể từ khi đăng quang năm 2004 và mỗi lần sang thăm chính thức Việt Nam, Ngài Quốc vương đều dành thời gian đến đặt vòng hoa và vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh, bày tỏ sự kính trọng đối với vị lãnh tụ vĩ đại của nhân dân Việt Nam.

Quoc vuong Campuchia
Quốc vương Cam-pu-chia Nô-rô-đôm Xi-ha-mô-ni và Đoàn đại biểu cấp cao
Hoàng gia Cam-pu-chia đặt hoa tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh

 Trong khuôn khổ chuyến thăm lần này, sáng ngày 25/8/2012, Ngài Quốc vương và Đoàn đại biểu Hoàng gia Vương quốc Cam-pu-chia đã đến đặt vòng hoa tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh. Vòng hoa của Đoàn mang dòng chữ: “Quốc vương Cam-pu-chia Nô-rô-đôm Xi-ha-mô-ni và Đoàn đại biểu cấp cao Hoàng gia Cam-pu-chia bày tỏ lòng thành kính và ngưỡng mộ Chủ tịch Hồ Chí Minh. ”

Với sự gần gũi về địa lý, lịch sử và văn hoá, quan hệ giữa Việt Nam và Cam-pu-chia có truyền thống lâu đời, được bồi đắp bằng mồ hôi và xương máu của nhân dân hai nước. Vượt qua mọi thăng trầm của lịch sử, Việt Nam và Cam-pu-chia đã tạo dựng tình hữu nghị đặc biệt và mối quan hệ hợp tác toàn diện vì lợi ích thiết thực.

Những bước phát triển trong quan hệ Việt Nam – Cam-pu-chia trong những năm qua đã góp phần tạo dựng môi trường hoà bình, ổn định nhằm đẩy mạnh phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm độc lập chủ quyền của mỗi quốc gia. Quan hệ chính trị tin cậy giữa hai nước là cơ sở để phát triển hiệu quả các mối quan hệ hợp tác song phương về kinh tế thương mại, đầu tư, giao thông vận tải, nông – lâm – ngư nghiệp, du lịch, hàng không, năng lượng điện, giáo dục – đào tạo, y tế, văn hoá, thể thao, khoa học kỹ thuật, đối ngoại và an ninh quốc phòng, góp phần thắt chặt và phát triển mối quan hệ láng giềng tốt đẹp, hợp tác toàn diện Việt Nam – Cam-pu-chia vì lợi ích của nhân dân hai nước, vì hoà bình, ổn định, hợp tác và thịnh vượng ở khu vực và thế giới.

Lan Hương
bqllang.gov.vn

Diễn đàn Đông Dương (6-1923)

Nhờ độ lượng mẫu từ của nước Pháp bảo hộ, Đông Dương thật đã trở thành một chỗ náu thân cho bọn làm bậy.

Ông Bôđoanh mặc dù có bị tố cáo hẳn hoi về tội giả mạo và dùng giấy tờ giả mạo, bây giờ cũng cứ là toàn quyền.

Ông Đáclơ nguyên bán cháo, trước là quan cai trị tỉnh, bị lên án là ǎn hối lộ, là cường hào và đã gây ra cuộc nổi dậy đẫm máu ở Thái Nguyên, đã được chính phủ thuộc địa cử vào Hội đồng thành phố Sài Gòn.

Ông Têa, kỹ sư và giám đốc một hãng buôn lớn, bị tố cáo là có tội nhũng lạm mà không bị rầy rà gì.

Giờ đến lượt Buđinô, viên quan cai trị này bị kiện: đã đút túi số tiền lời một cuộc chợ phiên tổ chức nhân dịp khánh thành tượng đài tử sĩ; đã đòi và nhận một món tiền “bồi thường” lớn trả cho sự có mặt của mình trong buổi chôn cất một mụ nhà giàu bản xứ, đã đòi những món tiền lớn chè lá khi cấp một giấy phép hay giấy lệnh nào đó.

Cuối cùng, đã lợi dụng, trong mọi trường hợp quyền hành quan cai trị (mà nước Pháp có chủ quyền đã uỷ thác cho) để làm đổ mồ hôi sôi nước mắt người bị trị và để cho phình ví tiền của ông ta. Nhưng lời kết tội nặng nhất là thế này: Làng Tân An (Nam Kỳ) có một nhà máy điện. Việc khai thác có lợi và phố xá, nhà cửa trong làng có điện sáng mà không phải trả tiền. Quan cai trị Buđinô buộc làng phải nhượng không nhà máy cho một anh thầu khoán đã có vi thiềng cho ông ta.

Ít lâu sau, làng phải trả tiền điện dùng ngoài phố và trong nhà. Thấy hàng nghìn điều bất lợi, họ mới biết mình tự quản nhà máy thì lợi hơn. Họ phải bỏ ra mấy chục ngàn đồng để chuộc lại cái mà họ đã phải “nhượng không”. Lần thứ hai này, vị quan cai trị đút túi thêm mấy tờ bạc lớn nữa.

Bị kiện vì tội buôn bán người chết, bóc lột người sống, tham ô lộ liễu, quan cai trị Buđinô vừa được công lý Pháp cho trắng án. Ngày mai có thể ông ta còn được huân chương.

Bao giờ người ta cũng vì uy tín chủng tộc, mà xá tội cho lũ “vô lại khả ố”. Bao giờ người ta cũng nhân danh nhân dân Pháp mà bắt công lý làm đĩ bợm.

Vǎn minh là như thế đó.

NGUYỄN ÁI QUỐC

Báo Le Paria, số 15, tháng 6-1923.
cpv.org.vn