Archive | Tháng Sáu 2012

“Bác Hồ làm chủ hôn cho đám cưới của chúng tôi”

Bac Ho lam chu hon cho dam cuoi chung toi anh
Gia đình bà Trần Thị Thái.

(DVT.vn) – Bà Trần Thị Thái , nguyên cán bộ Cục Cảnh vệ, kể về mối lương duyên với ông Lý, do Bác Hồ tác thành vào ngày đầu xuân năm 1946.

Vào năm 1946, khi nước nhà vừa giành được độc lập, dù bận trăm công, ngàn việc nhưng Bác Hồ vẫn dành thời gian tổ chức hôn lễ cho một nữ cán bộ cảnh vệ. Sự kiện này khiến những người trong cuộc rưng rưng nước mắt nhớ mãi…

Bà Trần Thị Thái, nguyên cán bộ Cục Cảnh vệ cho biết, bà có rất nhiều kỉ niệm trong 15 năm được làm công tác bảo vệ, phục vụ Bác Hồ.

Sau ngày Cách mạng  Tháng Tám thành công, bà Thái được phân công về Nhà in Lao Động của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, ở 51 Hàng Bồ, Hà Nội. Công tác ở đây được ít ngày thì cuối năm 1945, ông Trần Danh Tuyền, công tác tại Ban Bảo vệ Thành ủy Hà Nội gọi bà Thái lên trao đổi ý kiến về công việc. Sau khi hỏi thăm về gia đình, nguyện vọng, ông Tuyên đi thẳng vào vấn đề: “Tổ chức đã thống nhất và phân công đồng chí sang nhận công tác mới. Đó là bộ phận bảo vệ và phục vụ Bác Hồ”.

Khi nghe ông giao nhiệm vụ, bà Thái không tin vào tai mình, trong lòng cứ xốn xang. Là một thanh niên tham gia hoạt động cách mạng, chưa bao giờ bà nghĩ mình lại có vinh dự được bảo vệ Bác Hồ – lãnh tụ vừa đọc bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đêm ấy bà nằm thao thức, không sao ngủ được.

Đến bây giờ, nhắc lại kỉ niệm này bà Thái vẫn còn xúc động. Bà kể: “Địa điểm mà hôm sau tôi được dẫn đến là ngôi nhà cách dốc Cống Vị (Hà Nội) chừng 300 m, bên bờ sông Tô Lịch, ngược về phía chợ Bưởi. Ở đây tôi được anh Cả (tên thân mật của đồng chí Nguyễn Lương Bằng, Thường vụ Trung ương Đảng) hướng dẫn công việc cụ thể. Để giữ bí mật, tôi đóng vai là người con gái trong gia đình.

Công tác được mấy ngày thì một hôm, anh Cả gọi tôi lên họp. Đang chuẩn bị vào nội dung cuộc họp thì tôi thấy một ông cụ mặc bộ quần áo ka-ki bước vào. Tôi sững người khi thấy đó chính là Bác. Bác vui vẻ cười, hỏi thăm mọi người. Vì ở đây chỉ có duy nhất tôi là nữ nên Bác hỏi chuyện tôi nhiều hơn. Bác không hài lòng vì thấy cuộc sống sinh hoạt hàng ngày của tôi còn quá thiếu thốn và nói với anh Vũ Long Chuẩn (ông Vũ Kỳ, Thư ký của Bác), anh Nguyễn Văn Lý (đồng chí Hoàng Hữu Kháng, cận vệ của Bác, sau này là Cục trưởng Cục Cảnh vệ) thu xếp chỗ ăn ở cho tôi kẻo ảnh hưởng đến sức khỏe. Tôi xúc động quá, nghĩ mình chưa làm được gì cho Bác, mà ngược lại, Bác lại chăm lo cho tôi rất chu đáo.

Thời gian ở đây, ngoài công tác, chúng tôi được Bác cho học thêm về chính trị và một số vấn đề  khác. Bác giao cho anh Chuẩn chuẩn bị chương trình. Chúng tôi rất đoàn kết và yêu thương nhau như anh em trong một gia đình. Đặc biệt, tôi biết anh Lý đã thầm yêu mình. Tôi ngượng mà chẳng dám tâm sự với ai.

Một buổi chiều, xe đưa Bác về, anh Lý và anh Chuẩn đi cùng Bác. Lát sau, Bác cho gọi tôi lên. Tôi lo quá không hiểu có chuyện gì để Bác bận lòng. Khi lên thấy Bác tươi cười, tôi đoán ra chuyện Bác hỏi. Bác chỉ cho tôi chiếc ghế và nói: “Cô ngồi xuống đây, tự nhiên. Bữa nay Bác nói chuyện lâu đấy”.

Tôi ngần ngại, phần thì lo lắng, phần thì ngượng. Bác hỏi tôi về chuyện gia đình, công tác và học tập. Rồi Bác nhìn tôi, nhìn anh Lý cười và hỏi: “Cô Thái có người thương chưa?”. Tôi xấu hổ, lung túng, ấp a ấp úng mãi mới trả lời Bác: “Dạ, thưa Bác! Con… con… con còn ít tuổi, chưa nghĩ đến ạ”.

Nói như vậy là chưa thật đúng với lòng mình, nhưng tôi nghĩ đất nước mới giành được độc lập, điều kiện còn khó khăn, bộn bề công việc, làm sao mình có thể lập gia đình được. Lúc trong đầu tôi đang ngổn ngang suy nghĩ thì Bác hỏi tiếp: “Cô năm nay bao nhiêu tuổi?”. “Dạ, thưa Bác! Năm nay con 20 tuổi ạ”, tôi đáp. Bác cười đôn hậu: “Hai mươi tuổi mà còn ít à. Bác làm mối cho được không?”.

Tôi đỏ bừng mặt, tay cứ vân vê tà áo, trong lòng vui mà không dám nói ra. Lát sau tôi  mới dám ngẩng lên nhìn  Bác và liếc sang anh Lý. Thấy tôi như vậy Bác cười và không nói về chuyện này nữa.

Ít hôm sau, anh Cả nói với tôi: “Bác hỏi thật đấy. Bác giới thiệu cô với chú Lý, ý cô thế nào?”. Đến lúc này tôi mới thưa thật: “Được Bác và các anh tác thành cho thì còn hạnh phúc nào bằng”.

Đám cưới của chúng tôi đã được Bác cho tổ chức đúng vào ngày Tết Dương lịch năm 1946. Khách mời có anh Cả, anh Văn (tên gọi thân mật của đồng chí Võ Nguyên Giáp), anh Tô (tên gọi thân mật của đồng chí Phạm Văn Đồng), chị Thanh và một số người khác. Anh Cả còn đưa đến một chiếc bánh ga-tô và một bó hoa hồng rất đẹp mà Bác đã dặn đặt cho lễ cưới. Trước buổi liên hoan, chị Thanh nói: “Thưa Bác! Hôm nay là ngày vui của chị Thái, anh Lý và cũng là ngày vui của cả nhà ta. Xin Bác làm chủ hôn cho ạ”.

Bác Hồ nâng cốc, đọc hai câu thơ rồi nói với chúng tôi: “Lễ cưới đơn giản nhưng vui vẻ, cốt là ở tấm lòng. Sau này đất nước ta giàu mạnh, đám cưới con các chú sẽ tổ chức đàng hoàng và vui hơn”.

Chúng tôi thấy như không còn khoảng cách giữa một vị Chủ tịch nước với chiến sỹ của mình, mà như người Cha đang lo công việc cho con cháu trong nhà. Vợ chồng tôi vô cùng xúc động, tự hào về ngày vui của mình. Mùa Xuân năm 1946 ấy là mùa Xuân đầu tiên đất nước ta giành được độc lập và cũng là mùa xuân đầu tiên của vợ chồng tôi”./.

TheoNguyễnĐứcQuý
(Ghi theo lời kể của bà Trần Thị Thái)
Báo Doanh nhân Việt Nam Toàn cầu
Huyền Trang (st)
bqllang.gov.vn

Da đen nhưng lòng đỏ (7-9-1951)

Tờ báo to nhất của người da đen ở Mỹ là báo Tin tức tỉnh Pítbớc (Pitsburg News), hôm 14-7 đǎng một bức thư của 54 người lính da đen từ Triều Tiên gửi về. Họ viết: “Vì sao chúng tôi phải đi lính? Vì sao Mỹ đánh Triều Tiên? Nhiều người trong quân đội Mỹ và bố mẹ, vợ con, anh em mỗi người lính đều đặt câu hỏi ấy.

“Chúng tôi lính da đen ở đây cũng bị khinh rẻ như lúc ở nhà. Mẹ chúng tôi, con chúng tôi ở trong nước vẫn lưu ly cực khổ. Chúng tôi không có chút tự do nào. Thế thì chúng tôi hy sinh cho ai? … ở trong nước, chúng ta không được tự do, mà Chính phủ Mỹ muốn đưa tự do cho dân tộc khác chǎng? Thật vô lý… Họ bắt lính da đen đi hy sinh ở châu á, ở châu Âu mà trong nước chính chúng ta không được tự do, chúng ta phải lên tiếng. Nếu chúng ta đoàn kết thành một khối, thì chúng ta chắc chắn tranh được hoà bình và tự do, vì đoàn kết là sức mạnh…!”.

Đế quốc Mỹ thường khoe khoang “tự do, dân chủ”, song đối với 15 triệu người da đen ở Mỹ thì chế độ nô lệ vẫn còn. Nay đế quốc Mỹ lại mưu mở rộng chế độ nô lệ ấy đến toàn thế giới. Lời lẽ mộc mạc của những người lính da đen rất đúng.

6 nǎm trước đây, phát xít Đức cũng có tham vọng như Mỹ, chúng đã thất bại. Nay đế quốc Mỹ cũng có tham vọng như phát xít Đức, thì lực lượng dân chủ hoà bình thế giới sẽ làm cho chúng “đi đời nhà ma”.

Đ.X.

Báo Cứu quốc, số 1900, ngày 7-9-1951.
cpv.org.vn

Thư Trung thu gửi các cháu nhi đồng (12-9-1951)

Các cháu yêu quý,

Trung thu trǎng sáng như gương,
Bác Hồ ngắm cảnh, nhớ thương nhi đồng.
Sau đây Bác viết mấy dòng,
Gửi cho các cháu, tỏ lòng nhớ nhung.

Trước hết, Bác nói cho các cháu biết rằng: Bác thường nhận được thư nhi đồng ở vùng tạm bị chiếm, mách với Bác, thực dân và bù nhìn hung ác thế nào, các cháu ấy khổ sở thế nào và đấu tranh oanh liệt thế nào.

Những thư ấy làm cho Bác đau đớn, vì các cháu ấy bị đày đoạ. Làm cho Bác vui lòng, vì các cháu ấy dũng cảm. Làm cho Bác và tất cả đồng bào càng cǎm ghét bọn thực dân và bù nhìn.

Bác cũng thường nhận được thư nhi đồng các nơi báo cáo thành tích thi đua.

Những thư ấy làm cho Bác rất vui vẻ.

Mồng 1-6 vừa rồi, cũng là ngày Tết của các cháu. Đó là một ngày Tết mới, chắc các cháu chưa hiểu nguyên do. Bác giải thích cho các cháu nghe nhé:

Ba nǎm trước (1949), Hội liên hiệp phụ nữ quốc tế định mỗi nǎm lấy ngày 1-6 làm ngày Tết cho nhi đồng thế giới. Muốn cho nhi đồng sung sướng, thì phải chống đế quốc chiến tranh. Vì vậy, Hội ấy đã đưa ra khẩu hiệu: “Đấu tranh để giữ gìn hoà bình thế giới, để bảo vệ hạnh phúc cho nhi đồng”.

Như thế thì ai thương con, cháu đều phải chống chiến tranh đế quốc, phải giữ gìn hoà bình.

Tháng 2 nǎm nay (1951), Hội ấy lại quyết định đẩy mạnh phong trào bảo vệ nhi đồng.

Hiện nay, Hội liên hiệp phụ nữ và Đoàn thanh niên nước ta đương lo tổ chức ủy ban bảo vệ nhi đồng Việt Nam.

Thế là các chú, các anh trong bộ đội thì thi đua giết giặc, để bảo vệ các cháu.

Các chú, các anh, các chị ở hậu phương, thì thi đua tǎng gia sản xuất để các cháu được ấm no.

Các cô, các thím, các anh ở Liên Xô, Trung Hoa, các nước bạn và các nước khác cũng lo nghĩ đến các cháu.

Vậy các cháu nên thế nào?

Các cháu phải ghét, ghét cay ghét đắng bọn thực dân Pháp, bọn can thiệp Mỹ, bọn Việt gian, bọn bù nhìn. Vì chúng nó mà ta khổ.

Các cháu phải yêu, yêu Tổ quốc, yêu đồng bào, yêu lao động.

Các cháu phải gắng, gắng giúp đỡ thương binh và gia đình chiến sĩ, gắng giữ gìn vệ sinh và giữ gìn kỷ luật, gắng học hành.

Các cháu phải đoàn kết, đoàn kết giữa nhi đồng Việt Nam với nhau, đoàn kết giữa nhi đồng Việt Nam cùng nhi đồng Trung Quốc, Liên Xô, các nước bạn và nhi đồng thế giới.

Ngày nay, các cháu là nhi đồng. Ngày sau, các cháu là người chủ của nước nhà, của thế giới. Các cháu đoàn kết thì thế giới hoà bình và dân chủ, sẽ không có chiến tranh.

Các cháu phải thi đua, tuỳ theo sức của các cháu làm được việc gì có ích cho kháng chiến thì thi đua làm việc ấy.

Các cháu biết ghét, biết yêu, biết gắng, các cháu đoàn kết và thi đua như thế thì kháng chiến sẽ chóng thắng lợi, kháng chiến thắng lợi thì trung thu sẽ vui vẻ hơn.

Thư Trung thu này, Bác nói chữ nhiều, và nói dài quá rồi. Cháu nào không hiểu thì hỏi các anh, các chị cắt nghĩa cho mà nghe.

Bác chúc các cháu vui khoẻ và cố gắng.

Bác gửi các cháu nhiều cái hôn.

BÁC HỒ

Báo Cứu quốc, số 1904, ngày 12-9-1951.
cpv.org.vn

Để thực hiện mười điều ghi nhớ của hội viên Liên – Việt (13-9-1951)

Mười điều ghi nhớ của hội viên Liên Việt là những điều chúng ta hoặc đã làm, hoặc đang làm.

Mười điều ấy xây dựng trên một nền tảng: tư tưởng yêu nước, và được thực hiện trong hai công việc: kháng chiến và kiến quốc. Cho đến ngày nay, về hai công việc đó, chúng ta đã đạt được kết quả khá. Nhưng chúng ta làm có bề rộng mà thiếu bề sâu, hình thức nhiều mà nội dung ít. Vì vậy, Mặt trận nhắc nhủ để chúng ta làm thiết thực hơn nữa.

Làm thế nào? Trước hết, phải nâng cao lòng nồng nàn yêu nước, ghét địch của mọi người dân. Lòng yêu nước, ghét địch đó, dân ta sẵn có, nhưng cần lấy những việc thời sự chính trị hằng ngày để bồi đắp và phát triển thêm, để nâng cao giác ngộ chính trị của nhân dân. Làm thế nào cho mỗi người dân luôn luôn tự hỏi: Tôi phải làm gì để thực hiện lòng yêu nước, ghét địch ? Lúc đó mới là lúc tư tưởng yêu nước thấm nhuần cả mọi người, và mọi người muốn hành động một cách thực tế.

Yêu nước thì phải thi đua. Tư tưởng yêu nước phải tỏ ra trong công việc thực tế, trong Thi đua ái quốc. Từ nay, chúng ta phải sửa đổi ít nhiều trong công việc thi đua, làm cho phong trào thi đua sâu hơn và thiết thực hơn nữa.

Nên lấy những đơn vị nhỏ làm đơn vị thi đua. Mỗi người, mỗi nhà, mỗi lớp học, mỗi tiểu đội, mỗi bộ phận nhà máy, v.v. sẽ do tình hình thực tế và khả nǎng cố gắng của mình mà đặt kế hoạch thi đua. Đã có kế hoạch, thì phải ra sức làm cho kỳ được, và đúng kỳ hạn.

Kế hoạch thi đua cần bao gồm 3 điểm: thí dụ kế hoạch của một đồng bào nông dân, về chính trị thì giữ bí mật, phòng gian, nộp thuế nông nghiệp; về công tác thì ra sức bón phân, làm cỏ, để hoàn thành vụ mùa thắng lợi; về học tập thì lo học hỏi thêm, giúp thủ tiêu nạn mù chữ trong làng. Ba việc đó chẳng những không ngǎn trở nhau mà còn phải gắn liền với nhau.

Kế hoạch từng gia đình, từng nhóm phải đem ra bàn bạc kỹ, phải dân chủ, nghĩa là làm cho mọi người đều hiểu, mọi người đều vui lòng nhận và quyết tâm làm kỳ được. Có như thế, kết quả mới đầy đủ, tốt đẹp.

Kế hoạch thi đua phải thiết thực, rõ ràng, đúng mực, giản đơn.

Những điều nên tránh là: Không nên đặt nhiều việc quá, mức cao quá, rồi làm không được thì sẽ nản lòng. Không nên chép của nhau, kế hoạch của người nào hoặc nhóm nào phải do người ấy, nhóm ấy tự động, tự giác, tự nguyện làm lấy. Không nên bao biện như cán bộ tự mình đặt kế hoạch rồi đem đọc qua trước hội nghị để mọi người giơ tay “tán thành”. Thế là cách làm quan liêu, hình thức, sẽ không có kết quả.

Những điều cần làm là: khi đặt kế hoạch, nên bàn bạc kỹ. Khi đã nhận kế hoạch, nên công bố đường hoàng, chép và dán lên tường để luôn luôn trông thấy, ghi nhớ và luôn luôn cố gắng.

Cán bộ cần luôn luôn khuyến khích, giúp đỡ, kiểm tra, sửa chữa hoặc bổ sung kịp thời. Tuỳ công việc mà định kỳ hạn tổng kết kinh nghiệm, khen thưởng hoặc phê bình.

*

*      *

Mười điều ghi nhớ của hội viên Liên Việt không phải là những khẩu hiệu chỉ để hô cho kêu, dán cho đẹp. Có thể nói: đó là tóm tắt chính cương kháng chiến kiến quốc của Mặt trận. Mọi người, mọi nhóm, mọi ngành cần dựa theo mười điều ấy, tuỳ hoàn cảnh và công việc thực tế của mình mà đặt kế hoạch riêng để thực hiện.

Mặt trận Liên – Việt cũng như quân đội. Quân đội đó gồm hơn mười triệu công, nông, thương, học, binh, phụ nữ, thanh niên, nhi đồng. Đó là một lực lượng to lớn.

Nói quân đội phải nói đến kỷ luật. Mặt trận Liên Việt có kỷ luật tự giác, kỷ luật yêu nước, mà mọi người tình nguyện tuân theo. Với kỷ luật ấy, Mặt trận đòi hỏi mọi người làm trọn nhiệm vụ của mình bằng cách thực hiện Mười điều ghi nhớ.

Mỗi chiến sĩ trong đội quân to lớn của Mặt trận làm trọn nhiệm vụ của mình, thì thực dân Pháp và can thiệp Mỹ nhất định bị lực lượng vô cùng vô tận của dân ta đánh bẹp. Mà muốn cho mọi người làm trọn nhiệm vụ, cán bộ Đảng và chính quyền cần biết lãnh đạo thiết thực và xung phong làm gương mẫu.

C.B.

Báo Nhân dân, số 25, ngày 13-9-1951.
cpv.org.vn

Thư gửi các nguỵ binh (28-9-1951)

Tôi đã nhận được thư 300 nguỵ binh công giáo bị bắt trước mặt trận, xin tha.

Tôi cũng đã nhận được thư của những nhóm nguỵ binh khác, hứa hẹn.

Tôi trả lời như sau:

– Một mặt, vì các người chưa hiểu rằng: giặc Pháp đương mưu mô cướp nước ta, bù nhìn Bảo Đại đang mưu bán nước ta. Kháng chiến là cốt làm cho nước ta được độc lập thực sự, cho nhân dân được tự do, đồng thời cho đồng bào công giáo được tự do thờ Chúa.

– Một mặt khác, các người hoặc bị giặc Pháp và bù nhìn ép buộc, hoặc bị chúng lừa phỉnh mà đi lính cho chúng, chống lại Tổ quốc. Nhưng các người cũng là máu đỏ da vàng, khi đã hiểu thì chắc không ai nỡ lòng làm nanh vuốt cho giặc, chống lại Tổ quốc, để mang tiếng xấu muôn đời.

Tuy các người đã phạm tội nặng là cầm súng chống lại Tổ quốc, song Chính phủ kháng chiến độ lượng khoan hồng, thương hại các người như những đứa con lầm đường, cho nên nặng về giáo dục nhẹ tay xử phạt, để dìu dắt các người bỏ đường tà, theo đường chính.

Vì lẽ đó, đối với những nguỵ binh đã bị bắt và đã biết tội, thì Chính phủ sẽ dần dần tha thứ cho về với cha mẹ, vợ con.

Đối với những nhóm nguỵ binh có thư hứa hẹn, thì tôi có lời khuyên rǎn và dặn dò: anh em phải cẩn thận, sẽ có cán bộ kháng chiến liên lạc và hướng dẫn anh em.

Đối với tất cả nguỵ binh, thì Chính phủ sẽ khoan hồng những người sớm quay về với Tổ quốc, sẽ trọng thưởng những người và những nhóm đái tội lập công lớn (1) .

Nguỵ binh cũng là con dân nước Việt, nhưng vì dại mà đi lầm đường, cho nên tôi và Chính phủ sẵn sàng tha thứ những người sớm biết lỗi và quay về với đại gia đình kháng chiến.

HỒ CHÍ MINH

Báo Cứu quốc, số 1915,
ngày 28-9-1951.
cpv.org.vn

————————-

(1) Cách mạng Tháng Tám: Tháng 8-1945, Chiến tranh thế giới thứ hai sắp kết thúc. Thực hiện chủ trương Tổng khởi nghĩa của Trung ương Đảng và Lệnh Tổng khởi nghĩa của Tổng bộ Việt Minh, hưởng ứng Thư kêu gọi Tổng khởi nghĩa của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân cả nước từ Nam đến Bắc nhất tề đứng lên khởi nghĩa giành chính quyền.

Từ ngày 14-8 đến ngày 18-8, nhiều xã, huyện ở hầu hết các tỉnh miền Bắc và Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Ngãi, Khánh Hoà, Mỹ Tho, Sa Đéc đã nổi dậy giành chính quyền. Ngày 18-8 các tỉnh Bắc Giang, Hải Dương, Hà Tĩnh, Quảng Nam giành chính quyền ở tỉnh lỵ.

Ngày 19-8 cuộc Tổng khởi nghĩa đã giành được thắng lợi ở Thủ đô Hà Nội. Đến ngày 28-8 Tổng khởi nghĩa thắng lợi trong cả nước.

Cách mạng Tháng Tám ở Việt Nam là cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân điển hình ở một nước thuộc địa nửa phong kiến do giai cấp công nhân lãnh đạo. Thắng lợi ấy đã đưa dân tộc Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập tự do và chủ nghĩa xã hội. Đó là thắng lợi của đường lối giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc, dân chủ của giai cấp công nhân, kết hợp chặt chẽ hai nhiệm vụ chống đế quốc và chống phong kiến. Đó là thắng lợi của đường lối đoàn kết toàn dân, sử dụng bạo lực cách mạng để lật đổ ách thống trị của đế quốc và phong kiến. Đó là sự tài tình, sáng tạo của Đảng trong việc tạo thời cơ, nắm vững thời cơ, khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước.

Thành công của Cách mạng Tháng Tám ở Việt Nam đã tạo thời cơ cho nhân dân Lào làm Cách mạng Tháng Tám ở Lào thắng lợi, nhân dân Campuchia có thêm điều kiện thuận lợi để phát triển phong trào cách mạng. Đó cũng là thắng lợi của các lực lượng cách mạng, dân chủ và tiến bộ trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc, vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội. Tr.7.

Muốn no, phải lo làm ruộng (1-10-1951)

Nước ta có thi đua ái quốc. Trung Quốc cũng có thi đua ái quốc. Xin kể vài kinh nghiệm thi đua ở nông thôn Trung Quốc, để đồng bào ta nghe.

Thi đua lấy tinh thần yêu nước làm gốc. Thi đua rộng và sâu. Thi đua nhà này với nhà khác, tổ này với tổ khác, làng này với làng khác. Trong một mùa, chia làm mấy đợt thi đua nhỏ, như cày bừa, chọn giống, bón phân, làm cỏ, gặt hái, nộp thóc thuế, v.v..

Trong chương trình thi đua, có kế hoạch chống lụt, hạn, sâu bọ. Nhờ vậy, tỉnh Hà Bắc tuy bị hạn, mà vẫn được mùa.

So với nǎm ngoái, nǎm nay, số ruộng tǎng thêm từ 1 đến 4 lần, cày sâu thêm một tấc. Kết quả là thu hoạch nhiều hơn mức đã định.

Mùa gần xong, thì kiểm tra, so sánh, tổng kết kinh nghiệm, và chuẩn bị thi đua mùa sau.

Thi đua không những thêm mức thu hoạch của nhân dân, mà còn nâng cao trình độ kỹ thuật, tổ chức và chính trị của nhân dân nữa. Thí dụ: Huyện Đại Danh (Hà Nam) ngoài 14.500 tổ đổi công, còn có 180.000 nông dân tham gia thi đua. Trong công cuộc chống Mỹ, giúp Triều, nông dân rất hǎng hái.

Lãnh đạo thi đua là nông hội, còn Uỷ ban và các đoàn thể địa phương thì ra sức giúp.

Việc anh em Trung Quốc làm được, thì ta nhất định cũng làm được.

C.B.

Báo Nhân dân, số 27, ngày 1-10-1951.
cpv.org.vn

Xúc động người lính mù vẽ 3.000 bức chân dung Bác

Những ngày cuối cùng trên chiến trường giải phóng miền Nam cũng là lúc Đại tá, họa sĩ Lê Duy Ứng trúng mảnh đạn vào mắt và bị mù. Tìm lại ký ức qua hình ảnh vị Chủ tịch kính yêu, họa sĩ Ứng đã vẽ hơn 3.000 bức tranh ký họa Bác.

Họa sĩ Lê Duy Ứng sinh năm 1947 tại thôn Cổ Hiền, xã Hiền Ninh, tỉnh Quảng Bình. Ông là Đại tá Quân đội Nhân dân Việt Nam, Hội viên Hội Mỹ thuật Việt Nam. Năm 1971, khi đang học năm thứ 3 trường Đại học Mỹ thuật Hà Nội, ông đã tham gia Quân đội nhân dân Việt Nam thuộc đơn vị C20, E101, F325, Quân đoàn II, trực tiếp chiến đấu tại chiến trường Bình Trị Thiên.

Ngày 28/4/1975, ông tham gia đoàn quân giải phóng tiến vào Sài Gòn với nhiệm vụ ghi chép hình ảnh quân ta chiến đấu. Khi đến căn cứ Nước Trong, ngoại vi Sài Gòn, ông bị thương vào mắt, tỉnh dậy, trước mắt ông là một màu đen tối. Giữa sự sống và cái chết, ông đã nghĩ đến Bác Hồ, dồn hết tâm lực, ông dùng ngón tay và dòng máu chảy ra từ đôi mắt vẽ chân dung Bác Hồ và ghi dòng chữ “Ánh sáng niềm tin! Con nguyện dâng Người tuổi thanh xuân”.

Sau khi bị thương ở mắt, phải trải qua 2 cuộc phẫu thuật ghép giác mạc, mắt khi sáng, khi mờ đục, có lúc tối hẳn. Nhưng niềm tin luôn đi theo họa sĩ Lê Duy Ứng, thôi thúc ông sáng tạo những tác phẩm nghệ thuật. Đề tài Bác Hồ và chiến tranh cách mạng luôn là nguồn cảm hứng vô tận trong sáng tác của ông. Đến nay, ông đã có hơn 3.000 bức tranh ký họa chân dung Bác Hồ, gần 200 tác phẩm điêu khắc, hơn 2.000 ký họa về chiến trường , trong đó có 500 bức ký họa về chiến trường Quảng Trị; gần 50 cuộc triển lãm cá nhân và nhiều giải thưởng Mỹ thuật trong nước và quốc tế.

Xuc dong 1Đại tá, họa sĩ Lê Duy Ứng

Là thương binh hạng 1/4, đến nay đôi mắt gần như mù lòa, nhưng vượt lên chính mình, Đại tá, họa sĩ Lê Duy Ứng vẫn không ngừng sáng tạo. Gặp ông tại triển lãm “Tranh, tượng chủ đề về Chủ tich Hồ Chí Minh và ký họa chiến trường” tại Bảo tàng Hồ Chí Minh tỉnh Thừa Thiên – Huế ngày 18/5, ông vui cười bảo: “Chú chỉ được gặp Bác Hồ 1 lần. Sau khi bị thương ở mắt, chú dùng trí nhớ của mình để sáng tác nên những tác phẩm về Bác”.

Với chất giọng vui tươi hóm hỉnh, nụ cười luôn ở trên môi và một tinh thần rất lạc quan, họa sĩ Ứng nói: “Cháu hãy đi xem hết tranh của chú để cảm nhận thời chiến tranh khốc liệt của nước ta vì một mục đích giải phóng đất nước lớn lao. Những người thời chú gặp tuy có người còn người mất nhưng tất cả đã được chú thể hiện trong tranh để kỷ niệm một thời chiến đấu hào hùng vì dân tộc. Hãy sống tốt cháu nhé!”.

Có thể khó nói hết những cảm nhận của tôi khi xem phòng tranh về Bác và chiến trường ác liệt. Chỉ cảm thấy trong lòng quá đỗi tự hào với nhiều bức ký họa rất chân thực và sống động khắc ghi hình ảnh Bác Hồ và nhiều nét chấm phá khắc họa được toàn cảnh những trận chiến oanh liệt, những ngày đói khổ thắm tình đồng đội của quân dân ta trong cuộc trường kỳ kháng chiến chống đế quốc, thực dân. Họa sĩ Ứng đã dùng tranh thay lời diễn tả hết sức cặn kẽ một quá trình của đất nước. Tranh ông không lẫn vào đâu được bởi vì nó được sáng tác trong rừng, dưới hầm công sự, trong giờ nghỉ hiếm hoi và cả quãng đời mù lòa trong thời bình.

Hãy cùng xem và cảm nhận những nét cọ tài hoa của người nghệ sĩ một đời trọn tâm huyết với Đảng.

xuc dong 2
Chân dung Bác Hồ vẽ bằng máu trong chiến đấu của họa sĩ Lê Duy Ứng vẽ ngày 28/4/1975

xuc dong 3
Tượng Bác trên đỉnh Trường Sơn

xuc dong 4
Bác Hồ với thiếu nhi (màu nước – 1973)

xuc dong 5
Bác Hồ với chiến sĩ miền Nam (màu nước -1971) – đây là những bức tranh vẽ trước khi
họa sĩ Ứng bị mảnh bom vào mắt

xuc dong 6
Bác đi câu cá (vẽ năm 1990, thời điểm họa sĩ Ứng đã bị mù lòa)

xuc dong 7
Đêm nay Bác không ngủ

xuc dong 8
Phút nghỉ chân bên suối

xuc dong 9
Bác và các chiến sĩ

xuc dong 10
Được gặp Bác

xuc dong 11
Chân dung Bác

xuc dong 12

xuc dong 13

Những cảnh sinh hoạt của Bác.

Theo Đại Dương/ Báo Dân trí
Huyền Trang (st)
bqllang.gov.vn

Khóc than khôn xiết sự tình (11-10-1951)

Hôm 6-9, Phó Thủ tướng Pháp là Maye thở than với các nhà báo Mỹ:

“Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Pháp chưa lại sức thì đã phải mang một gánh quá nặng là binh bị. Pháp đã mất vào cuộc chiến tranh ở Việt Nam hơn 30.000 binh sĩ và nǎm nay phải hao tốn vào đó 1.000 triệu đôla, tức là gấp đôi số tiền Mỹ cho Pháp và các thuộc địa Pháp vay.

“Về binh bị, Pháp chịu nặng hơn các nước trong khối Đại Tây Dương. Mà lương bổng lính Pháp thì không bằng nửa lương bổng lính Mỹ.

“Sức sản xuất của Pháp không bằng 1 phần 3 của Mỹ. Mà dân Pháp thì phải đóng thuế nặng hơn, hy sinh nhiều hơn, tiền công ít hơn tiền công người Mỹ…”.

Lời của Phó Thủ tướng Pháp thật là:

“Một lời cay đắng, đôi giòng lệ rơi”. Nó đã chứng tỏ tình hình vô cùng khốn đốn của Pháp. Nó lại chứng tỏ cuộc chiến tranh phi nghĩa ở Việt Nam đã làm cho Pháp “người chết của hết, tiền mất tật mang”.

Kết luận là:

Bọn cướp nước đã gần ngày quỵ xuống,

Nhân dân ta phải hǎng hái tiến lên!

C.B.

Báo Nhân dân, số 28, ngày 11-10-1951.
cpv.org.vn

Thực dân Pháp nguy (15-10-1951)

Ở nước Pháp, thì tình hình chính trị, kinh tế, xã hội, rối beng.
ƠơR các thuộc địa, thì Marốc đòi độc lập, Angiêri đòi tự trị…

Hôm 6-8-1951, hơn 1.000 đại biểu của Đảng Cộng sản và các đảng phái, đoàn thể yêu nước đã khai hội, thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất của nhân dân Angiêri. Hội nghị đã cử một Ban Chấp hành gồm 30 vị, và đã ra một bản tuyên ngôn:

– Đòi xoá bỏ cuộc tuyển cử giả hiệu hôm 17-6-1951.

– Đòi quyền tự do tư tưởng, tự do tổ chức, tự do làm báo chí.

– Đòi thả các chính trị phạm.

– Chống chính sách khủng bố của Pháp, v.v..

Mặt trận ấy lấy tên là Mặt trận giữ gìn quyền tự do.

Các đoàn thể và báo chí tiến bộ Angiêri ủng hộ cuộc kháng chiến của ta, anh em công nhân bến tàu Angiêri đã có phen bãi công chống các tàu Pháp chở vũ khí và quân đội sang nước ta… Cho nên phong trào dân chủ Angiêri và ở các thuộc địa khác đều là đồng minh của ta. Ta có bạn đồng minh khắp bốn bể, nǎm châu, cho nên ta nhất định thắng lợi.

Đ.X

Báo Cứu quốc, số 1927, ngày 15-10-1951.
cpv.org.vn

Điện mừng ngày thành lập Chính phủ Lào độc lập (18-10-1951)

Gửi Hoàng thân Xuphanuvông ,

Thủ tướng Chính phủ Lào độc lập (Pathét Lào),

Thưa Ngài,

Nhân dịp kỷ niệm ngày thành lập Chính phủ Pathét Lào, tôi trân trọng chúc Ngài và chúc nhân dân Lào đạt được nhiều thành công lớn lao trong cuộc chiến đấu chống thực dân Pháp và bọn can thiệp Mỹ. Tôi xin thay mặt nhân dân Việt Nam tỏ tình đoàn kết với nhân dân Lào; tình đoàn kết thân ái đó sẽ mỗi ngày một tǎng cường trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung và là điều kiện cǎn bản cho cuộc thắng lợi chắc chắn của chúng ta.

HỒ CHÍ MINH

Báo Nhân dân, số 29, ngày 18-10-1951.
cpv.org.vn

15 vạn lít máu (20-10-1951)

Triều Tiên có hơn hai mươi triệu người.

Mỹ có hơn 140 triệu người. Hai nước cách nhau 1 vạn cây số. Mỹ sợ Triều Tiên xâm lược, bèn phái thuỷ, lục, không quân sang đánh Triều Tiên. Mỹ tưởng rằng độ 5, 7 tháng thì nuốt sống được Triều Tiên.

Song toàn dân Triều Tiên, già trẻ gái trai, sĩ nông công thương, đoàn kết thành một khối, thành một nắm tay sắt khổng lồ. Cùng với quân chí nguyện Trung Quốc, nắm tay sắt khổng lồ của Triều Tiên đã giáng cho Mỹ những đấm “chí tử”.

Sau một nǎm chiến tranh (tháng 6 vừa qua), Mỹ đã công nhận rằng: Mỹ, bù nhìn, Anh, Pháp, Xiêm và mười mấy nước lâu la Mỹ đã mất ở Triều Tiên hơn 50 vạn binh sĩ chết và bị thương.

Hôm 19-2, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ tên là Mácsan nói: “Mỗi tháng Mỹ cần 15 vạn lít máu để chữa cho lính Mỹ bị thương ở Triều Tiên”.

Nghe các thầy thuốc nói: một lít máu có thể chữa cho 2 người bị thương nặng.

Thế là mỗi tháng 30 vạn lính Mỹ bị thương. Đó là không kể lính Mỹ chết, không cần máu nữa.

Trong cuộc xâm lược ở Triều Tiên, mỗi nǎm Mỹ tốn 2 vạn 7.762 triệu đôla, chết hàng chục vạn thanh niên, để rồi mua một cái thất bại đau đớn. Vì nhân dân Triều Tiên nhất định thắng lợi.

Đ.X.

Báo Cứu quốc, số 1931, ngày 20-10-1951.
cpv.org.vn

Quyền tự do của Mỹ (23-10-1951)

Ông Giaricô, Uỷ viên trong Ban Khoa học Vǎn nghệ toàn quốc Mỹ nói:

“Cha tôi dạy tôi yêu nước, thật thà lo lắng đến nhân dân và tương lai của nước.

Ngày nay chữ “tự do” và chữ “nước Mỹ” khác nhau. Vì sao? Người ta nói: Vì cộng sản. Người ta nói: Muốn ngǎn cản chiến tranh, thì phải chuẩn bị chiến tranh. Người ta bắt chúng tôi trung thành với tư bản, chứ không phải trung thành với Tổ quốc Mỹ. Người ta bắt chúng tôi tỏ lòng yêu nước bằng cách tán thành chiến tranh để tiêu diệt nhân loại… Chúng tôi những người khoa học, vǎn nghệ bị thải và bị hǎm doạ, chúng tôi vẫn tiếp tục nghiên cứu, phát minh, sáng tác. Chúng tôi sẽ sáng tạo cho nước Mỹ một nền vǎn học nhân dân thật sự…”.

Ông Giaricô nói như vậy trước mặt “Ban điều tra những hoạt động chống Mỹ”.

Ban này bảo: “Không được ghi những lời ấy vào biên bản và mời ông Gia vào nhà tù!”.

Hiện nay, hơn 100 vị giáo sư và một số đông vǎn nghệ sĩ nổi tiếng, chỉ vì chống chiến tranh mà bị ở tù.

Vǎn minh thay, tự do thay, nước Mỹ vậy ôi!

Đ.X.

Báo Cứu quốc, số 1933, ngày 23-10-1951.
cpv.org.vn