Archive | Tháng Ba 2012

Những lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đạo đức (kỳ 9)

43. … Cán bộ báo chí cũng là chiến sĩ cách mạng. Cây bút, trang giấy là vũ khí sắc bén của họ. Để làm tròn nhiệm vụ vẻ vang của mình, cán bộ báo chí cần phải tu dưỡng đạo đức cách mạng, “Cố gắng trau dồi tư tưởng nghiệp vụ văn hóa; chú trọng học tập chính trị để nắm vững chủ trương chính sách của Đảng và Chính phủ; đi sâu vào thực tế, đi sâu vào quần chúng lao động”.

Nói chuyện tại Đại hội lần thứ III của Hội nhà báo Việt Nam,
ngày 8-9-1962, sđd, t.10, tr. 616.

44. … Để làm tròn nhiệm vụ cao quý của mình, văn nghệ sĩ cần phải rèn luyện đạo đức cách mạng, nâng cao tinh thần phục vụ nhân dân; giữ gìn thái độ khiêm tốn; phải thật sự hòa mình với quần chúng, cố gắng học tập chính trị, trau dồi nghề nghiệp, phải hết lòng giúp đỡ thanh niên, làm cho văn nghệ nước nhà ngày càng thêm trẻ, thêm xuân.

Nói tại Đại hội Văn nghệ toàn quốc lần thứ III,
ngày 1-12-1962, sđd, t.10, tr. 647.

45. … Các đồng chí phải là những chiến sĩ trên mặt trận tư tưởng, văn hóa và khoa học, kỹ thuật; phải góp tài góp sức để cải tiến bộ mặt xã hội của nước ta, làm cho nhân dân ta sản xuất và công tác theo khoa học và đời sống của nhân dân ta văn minh, tức là khoa học, lành mạnh và vui tươi. Đó là nhiệm vụ rất nặng nề mà cũng rất vẻ vang.

Nói chuyện tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ I của Hội phổ biến khoa học, kỹ thuật Việt Nam,
ngày 18-5-1963, sđd, t.11, tr. 78-79.

46. … Thiết kế và xây dựng phải làm cho chắc, cho kỹ. Tránh làm ẩu rồi phải chữa đi chữa lại, vừa lãng phí sức người, sức của, vừa không tốt cho sản xuất.

Phải tiết kiệm nguyên liệu, vật liệu. Phải giữ gìn tốt máy móc, vì đó là do mồ hôi máu mủ của nhân dân ta mà ra.

Nói chuyện với công nhân, cán bộ ở Uông Bí, Quảng Ninh,
ngày 2-2-1965, sđd, t.11, tr. 384.

BỘ ĐỘI, CÔNG AN

47. … Hỏi: Đời sống mới trong bộ đội nên như thế nào?

Đáp: Bộ đội là một đoàn thể tổ chức nghiêm ngặt đã sẵn, càng dễ thực hành đời sống mới.

Một là kỷ luật phải cực kỳ nghiêm.
Hai là siêng luyện tập.

Ba là làm cho trong bộ đội ai cũng biết chữ. Trong các bộ đội ta, ít nhất là một phần nửa binh sĩ đã biết chữ. Những người chỉ huy phải tổ chức cho khéo, ngoài những lớp học, giao cho mỗi một người biết chữ phụ trách dạy cho một hay hai người chưa biết, thì trong vài ba tháng, tất cả binh sĩ đều biết chữ.

Bốn là một người binh sĩ phải biết chính trị ít nhiều. Họ đem xương máu ra giữ gìn Tổ quốc, thì chẳng những họ phải hiểu vì sao mà hy sinh, họ lại phải có thể nói cho người khác biết vì sao phải yêu nước.

Năm là bộ đội cũng phải tăng gia sản xuất… Tùy theo hoàn cảnh mỗi bộ đội, hoặc làm vườn, nuôi lợn, hoặc làm giúp dân. Có lúc bộ đội chia phiên nhau, lớp đánh giặc, lớp làm ruộng làm vườn, để tự cấp tự túc không phiền đến dân cả mọi việc.

Sáu là tiết kiệm. Tiết kiệm thuốc đạn, bắn cho đúng, không bắn phí đạn. Nhờ thế mà bớt dần nguyên liệu, bớt được công khó rèn đúc, công khó vận tải, đem tài liệu và công phu đó làm việc khác.

Tiết kiệm lương thực và vải vóc, chớ nghĩ rằng cơm ăn áo mặc đã có Chính phủ lo, đã có đồng bào giúp, thì ta không cần tiết kiệm. Bộ đội có hàng mấy vạn người. Nếu mỗi người tiết kiệm một chút, sản xuất một chút, góp lại sẽ thành một số rất to.

Bảy là vệ sinh. Bộ đội đông người ăn chung, ở chung, nếu có bệnh càng dễ lây cho nhau. Cho nên càng phải rất chú ý việc vệ sinh.

Tám là ăn ở cho được dân tin, dân phục, dân yêu. Hay giúp đỡ dân, giữ đúng kỷ luật thì được như thế.

Chín là đánh được nhiều giặc, lấy được nhiều súng.

Bộ đội này thi đua với bộ đội khác làm đời sống mới.

Đời sống mới
năm 1947, sđd, t.5, tr. 103-104.

48. … Tư cách người công an cách mệnh là:
Đối với tự mình, phải cần, kiệm, liêm, chính.
Đối với đồng sự, phải thân ái giúp đỡ
Đối với Chính phủ, phải tuyệt đối trung thành.
Đối với nhân dân, phải kính trọng, lễ phép.
Đối với công việc, phải tận tụy.
Đối với địch, phải cương quyết, khôn khéo.

Nói tóm lại là những đạo đức và tư cách mà người công an cách mệnh phải có, phải giữ cho đúng…

Ngoài ra, công an thường phải kiểm soát nhân viên và công việc của mình. Mỗi công an viên đóng chỗ nào thì cần dạy cho dân quân, tự vệ nơi đó cách điều tra, xét giấy, phòng gian, v.v… Dạy cho dân ở nơi đó giữ bí mật. Và tự mình phải luôn luôn lễ phép. Tránh hách dịch.

Tư cách người công an cách mệnh.
tháng 3-1948, sđd, t.5, tr. 406-407.

49. Công tác của người tướng là:

1. Đối với kỷ luật: Trong quân đội, mệnh lệnh từ trên xuống dưới, phải thấm xuống tới mỗi đội viên. Chỗ nào mệnh lệnh không xuống tới thì chỗ đó hỏng. Báo cáo từ dưới lên, phải cho thật thà, nhanh chóng, thiết thực.

Về kỷ luật, phải thưởng phạt cho công minh. Chớ vì ưa ai mà thưởng, ghét ai mà phạt, ai hẩu với mình thì dùng, ai trực tính nói ngay thì bỏ.

2. Đối với binh sĩ, thì từ lời ăn, tiếng nói, niềm vui, nỗi buồn, quần áo, nhất nhất phải biết rõ và hết sức chăm nom. Có đồng cam cộng khổ với binh sĩ thì dẫn họ đi đâu, dù nguy hiểm mấy họ cũng vui lòng đi, khi bảo họ đánh, họ sẽ hăng hái đánh.

Bộ đội cũng ví như con dao, cái súng, không lau chùi luôn sẽ hỏng. Chăm tập luyện sẽ tiến bộ. Bộ đội ta, tuy còn trẻ mà tiến bộ rất mau, nếu người tướng không chịu học hỏi, cứ đứng một chỗ thì nhất định bị lạc hậu.

3. Đối với dân, thì chắc các đồng chí đã có nhiều kinh nghiệm rồi. Bộ đội được dân yêu, dân tin, dân phục thì nhất định thắng lợi.

4. Đối với địch, thì tuyệt đối chớ khinh địch. Tục ngữ có câu: “Sư tử muốn bắt con chuột cũng phải dùng hết sức lực mới bắt được”. Khinh địch thì nhất định sẽ thất bại.

Nói chuyện tại Hội nghị quân sự lần thứ 5,
tháng 8-1948, sđd, t.5, tr. 480
(Nguồn: Báo điện tử Cần Thơ)

dalat.gov.vn

Những lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đạo đức (kỳ 8)

GIAI CẤP NÔNG DÂN

34. “Thực túc thì binh cường!”

Chiến sĩ ở trước mặt trận thi đua giết giặc lập công thì đồng bào ở hậu phương phải thi đua tăng gia sản xuất.

Ruộng rẫy là chiến trường
Cuốc cày là vũ khí,
Nhà nông là chiến sĩ,
Hậu phương thi đua với tiền phương.

Thư gửi nông dân thi đua canh tác,
tháng 2-1951, sđd, t.6, tr. 178.

35. … Phải củng cố hợp tác xã cho tốt. Muốn hợp tác xã tốt, phải thế nào? Phải nâng cao tinh thần làm chủ: làm chủ xóm làng, làm chủ hợp tác xã, làm chủ đất nước… Nay dân đã là chủ. Nhưng phải cho ra người chủ, chứ không thể phất phơ được. Mọi người đều có trách nhiệm làm cho dân giàu nước mạnh, quốc phòng vững mạnh. Làm chủ hợp tác xã là thế nào? Là phải coi công việc của hợp tác xã như công việc của mình, chứ không phải làm sao cũng được.

Bài nói chuyện với đồng bào và cán bộ xã Nam Liên (Nghệ An),
ngày 9-12-1961, sđd, t.10, tr. 455.

36. … Các hợp tác xã đều phải:

– Đoàn kết chặt chẽ, giữa xã viên với nhau, đoàn kết giữa ban quản trị và xã viên.

– Thực hành dân chủ, nghĩa là công việc đều phải bàn bạc với xã viên, cán bộ không được quan liêu, mệnh lệnh.

– Tài chính phải công khai, tuyệt đối chống tham ô, lãng phí.
Các hợp tác xã phải làm thế nào để các xã viên đều thấy rằng mình là người chủ tập thể của hợp tác xã, có quyền bàn bạc và quyết định những công việc của hợp tác xã. Có như thế thì xã viên sẽ đoàn kết chặt chẽ, phấn khởi sản xuất, và hợp tác xã sẽ tiến bộ không ngừng.

Nói chuyện với đồng bào và cán bộ tỉnh Thái Bình
ngày 1-1-1967, sđd, t.12, tr. 195.

ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC

37. … Ngòi bút của các bạn cũng là những vũ khí sắc bén trong sự nghiệp phò chính trừ tà, mà anh em văn hóa và trí thức phải làm cũng như là những chiến sĩ anh dũng trong công cuộc kháng chiến để tranh lại quyền thống nhất và độc lập cho Tổ quốc.

Gửi anh em văn hóa và trí thức Nam bộ,
ngày 25-5-1947, sđd, t.5, tr. 131.

38. … Trí thức là vốn liếng quý báu của dân tộc. Ở nước khác như thế, ở Việt Nam càng như thế. Chứng thực là trong cuộc kháng chiến cứu quốc này, những người trí thức Việt Nam đã chung một phần quan trọng. Một số thì trực tiếp tham gia vào công việc kháng chiến, hy sinh cực khổ, chen vai thích cánh với bộ đội và nhân dân. Một số thì hăng hái hoạt động giúp đỡ ở ngoài.

Trả lời một nhà báo nước ngoài,
ngày 22-6-1947, sđd, t.5, tr. 156.

39. … Những người trí thức tham gia cách mạng, tham gia kháng chiến rất quý báu cho Đảng. Không có những người đó thì công việc cách mạng khó khăn thêm nhiều.

Nhưng có đôi người trí thức vì thế mà kiêu ngạo, lên mặt. Chứng kiêu ngạo lên mặt rất có hại cho họ. Nó ngăn trở họ tiến bộ.

… Một người học xong đại học có thể gọi là có trí thức. Song y không biết cày ruộng, không biết làm công, không biết đánh giặc, không biết làm nhiều việc khác. Nói tóm lại: công việc thực tế, y không biết gì cả. Thế là y có trí thức một nửa. Trí thức của y là trí thức học sách, chưa phải trí thức hoàn toàn. Y muốn thành một người trí thức hoàn toàn, thì phải đem cái trí thức đó áp dụng vào thực tế.

Vì vậy, những người trí thức đó cần phải biết rõ cái khuyết điểm của mình. Phải khiêm tốn. Chớ kiêu ngạo. Phải ra sức làm các việc thực tế.

Lý luận phải đem ra thực hành. Thực hành phải nhằm theo lý luận.

Lý luận cũng như cái tên (hoặc viên đạn). Thực hành cũng như cái đích để bắn. Có tên mà không bắn, hoặc bắn lung tung, cũng như không có tên.

Lý luận cốt để áp dụng vào thực tế. Chỉ học thuộc lòng, để lòe thiên hạ thì lý luận ấy cũng vô ích.

Vì vậy, chúng ta phải gắng học, đồng thời học thì phải hành.

… Có nhiều đồng chí có bệnh tự tôn, tự đại, khinh rẻ người ta, không muốn biết, muốn học những ưu điểm của người khác. Biết được vài câu lý luận đã cho mình là giỏi, không xem ai ra gì, tưởng mình là hơn hết. Đó là bệnh hẹp hòi hạng nặng.

Sửa đổi lối làm việc,
tháng 10-1947, sđd, t.5, tr. 235, 238.

…Các bạn là bậc trí thức. Các bạn có cái trách nhiệm nặng nề và vẻ vang là làm gương cho dân trong mọi việc. Dân ta đã đấu tranh một cách rất dũng cảm. Lẽ tất nhiên giới trí thức phải hy sinh đấu tranh, dũng cảm hơn nữa để làm gương cho nhân dân.

Các bạn là viên chức của Chính phủ Dân chủ Cộng hòa mà các bạn đã giúp xây dựng nên. Chính thể dân chủ cộng hòa của ta tuy còn trẻ tuổi, nhưng đã chiến thắng nhiều cuộc thử thách, nó đã chứng tỏ rằng quả thật là đầy tương lai. Do đó, nhiệm vụ các bạn phải tuyệt đối trung thành với chính quyền dân chủ.

…Các bạn là những người phụ trách thi hành pháp luật. Lẽ tất nhiên các bạn cần phải nêu cao cái gương “phụng công, thủ pháp, chí công, vô tư” cho nhân dân noi theo.

Thư gửi Hội nghị Tư pháp toàn quốc,
tháng 2-1948, sđd, t.5, tr. 381, 382.

40. … Học để làm việc,
làm người,
làm cán bộ.
Học để phụng sự Đoàn thể,
“giai cấp và nhân dân,
Tổ quốc và nhân loại”.
Muốn đạt mục đích, thì phải
cần, kiệm, liêm, chính.
chí công, vô tư.

Lời ghi ở trang đầu Sổ vàng truyền thống
Trường Nguyễn Ái Quốc Trung ương,
tháng 9-1949, sđd, t.5, tr. 684.

41. … Thương yêu người bệnh – Người bệnh phó thác tính mệnh của họ nơi các cô, các chú. Chính phủ phó thác cho các cô, các chú việc chữa bệnh tật và giữ sức khỏe cho đồng bào. Đó là một nhiệm vụ rất vẻ vang.

Vì vậy, cán bộ cần phải thương yêu, săn sóc người bệnh như anh em ruột thịt của mình, coi họ đau đớn cũng như mình đau đớn.

“Lương y phải như từ mẫu”, câu nói ấy rất đúng.

Thư gửi Hội nghị cán bộ y tế,
tháng 2-1955, sđd, t.7, tr. 476.

42. … Các thầy giáo, các cô giáo phải gần gũi dân chúng. Các thầy giáo cũng như các trí thức khác là lao động trí óc. Lao động trí óc phải biết sinh hoạt của nhân dân, nếu chỉ giở sách đọc thì không đủ. Phải yêu dân, yêu học trò, gần gũi nhau, gần gũi cha mẹ học trò. Giáo dục ở trường và ở gia đình có quan hệ với nhau. Các chú, các cô phải thi đua trao đổi kinh nghiệm. Bác nói thế là hết. Văn hay không cần nói dài.

Nói chuyện tại lớp hướng dẫn giáo viên cấp 2, cấp 3 và Hội nghị sư phạm,
tháng 7-1956, sđd, t.8, tr. 225
(Nguồn: Báo điện tử Cần Thơ)

dalat.gov.vn

Những lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đạo đức (kỳ 7)

GIAI CẤP CÔNG NHÂN

27. … Đạo đức vô sản, đạo đức cách mạng là thế nào?

Mỗi một người công nhân phải hiểu rằng trong mấy mươi năm nay, Đảng, giai cấp công nhân và nhân dân ta đấu tranh cách mạng để đánh đuổi bọn đế quốc thực dân, đánh đổ phong kiến, cho nhân dân nói chung, cho giai cấp công nhân nói riêng làm chủ nước nhà.

Vậy, đã là người chủ nước nhà, thái độ phải thế nào cho đúng?

Công nhân phải hiểu tương lai của công nhân và tương lai của xí nghiệp phải dính liền. Công nhân phải hiểu xí nghiệp là của mình, làm chủ nước nhà là nói chung, làm chủ xí nghiệp là nói riêng, xí nghiệp có phát triển, tương lai của công nhân mới tiến lên.

Cá nhân mỗi công nhân, đối với nước nhà phải như thế nào?

Chế độ này của ta, phải bảo vệ chế độ của ta. Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là của ta, phải bảo vệ Nhà nước của ta. Ai xâm phạm đến Nhà nước của ta, đến chế độ ta, ta phải chống lại họ, bất cứ bằng lời nói hay việc làm.

… Của cải mình lao động ra là của nước nhà, của nhân dân, là của mình, là của công. Nhân dân, đặc biệt là giai cấp công nhân phải bảo vệ của cải ấy. Để bảo vệ của cải chung đó, đối với thói tham ô, lãng phí, ta phải chống lại…

Tính hăng hái, sáng tạo tỏ ra ở chỗ thi đua. Thi đua không phải là tranh đua. Mọi người phải cố gắng tiến bộ, không giấu nghề, người đi trước hiểu biết, dẫn người đi sau, làm cho mọi người cùng tiến bộ.

Thi đua là phải làm cho tốt. Làm xấu mau hỏng, dùng không bền. Lại phải làm nhiều mới đủ dùng. Phải làm nhanh và phải làm rẻ, không phí phạm thì giờ, nguyên vật liệu…

… Tóm lại, về đạo đức vô sản, công nhân phải hiểu mình là chủ xí nghiệp, chủ nước nhà, hiểu lao động là vẻ vang, phải giữ gìn của công, chống tham ô lãng phí, phải bảo vệ kỷ luật lao động, phải thi đua làm tốt, nhiều, mau, rẻ. Cải thiện sinh hoạt phải dựa trên cơ sở tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm.

Nói chuyện ở trường cán bộ công đoàn
ngày 19-1-1957, sđd, t.8, tr. 295-296, 297, 298.

28. Anh hùng, chiến sĩ thi đua đã là những người tiên phong trong sản xuất, mà cũng là gương mẫu về đạo đức cách mạng. Họ đặt lợi ích chung của dân tộc trên lợi ích riêng của cá nhân. Họ toàn tâm toàn ý phục vụ nhân dân chứ không phải nửa tâm nửa ý. Họ không sợ khó nhọc, ra sức vượt mọi khó khăn để hoàn thành và hoàn thành vượt mức nhiệm vụ mà Đảng và Chính phủ giao cho họ, chứ họ không suy bì hơn thiệt của cá nhân, không ganh tị về địa vị và hưởng thụ. Họ không giấu nghề, không dìm những anh em chung quanh mình, họ giúp đỡ mọi người cùng tiến bộ. Họ không tự kiêu, tự mãn, tự tư, tự lợi.

Lời chào mừng Đại hội Anh hùng và Chiến sĩ thi đua toàn quốc lần thứ hai,
ngày 7-7-1958, sđd, t.9, tr. 200.

29. … Chế độ ta là chế độ dân chủ, Đảng và Chính phủ ta chỉ lo phục vụ lợi ích của nhân dân. Đồng bào tất cả các dân tộc, không phân biệt lớn nhỏ, phải thương yêu giúp đỡ lẫn nhau, phải đoàn kết chặt chẽ như anh em một nhà, để cùng nhau xây dựng Tổ quốc chung, xây dựng chủ nghĩa xã hội, làm cho tất cả các dân tộc được hạnh phúc, ấm no.

Bài nói chuyện với đồng bào và cán bộ tỉnh Cao Bằng
ngày 21-2-1961, sđd, t.10, tr. 282.

30. … Công đoàn có một nhiệm vụ rất nặng nề nhưng rất vẻ vang. Cán bộ, đảng viên và đoàn viên thanh niên, các anh hùng và chiến sĩ lao động phải gương mẫu, phải làm đầu tàu trong mọi công việc…

Bài nói chuyện tại Đại hội Công đoàn toàn quốc lần thứ VI
ngày 27-2-1961, sđd, t.10, tr. 293.

31. … Làm chủ là: biết cần kiệm xây dựng nông trường, xây dựng đất nước; biết đoàn kết nội bộ, giữa cán bộ và công nhân, đoàn kết giữa nông trường và đồng bào địa phương…

Bài nói chuyện với cán bộ và công nhân nông trường Đông Hiếu (Nghệ An)
ngày 10-12-1961, sđd, t.10, tr. 479.

Bác Hồ về thăm Nhà máy Đèn Bờ Hồ (21-12-1954)

32. Chủ nghĩa xã hội là nhằm nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân và do nhân dân tự xây dựng lấy. Muốn đạt mục đích đó, thì nhân dân ta phải ra sức thi đua tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm; mỗi người phải cố gắng trở thành lao động tiên tiến, chiến sĩ thi đua, anh hùng lao động, mỗi người phải nâng cao tinh thần làm chủ nước nhà.

Lời khai mạc Đại hội liên hoan anh hùng, chiến sĩ thi đua toàn quốc lần thứ III,
tháng 5-1962, sđd, t.10, tr. 556.

33. … Muốn thực hiện đúng vai trò làm chủ, giai cấp công nhân phải quản lý tốt kinh tế, quản lý tốt xí nghiệp, làm cho năng suất lao động không ngừng nâng cao, của cải xã hội ngày càng nhiều với phẩm chất tốt, giá thành hạ.

… Ai xây dựng chủ nghĩa xã hội? Nói chung là những người lao động trong xã hội gồm công nhân, nông dân, trí thức cách mạng v.v… nhưng lực lượng chủ chốt xây dựng chủ nghĩa xã hội là công nhân.

… Vai trò của công nhân tham gia quản lý, đó là biểu hiện quyền làm chủ tập thể của công nhân, viên chức trong mọi mặt hoạt động của xí nghiệp. Quyền lợi của công nhân, viên chức gắn liền với sự phát triển của xí nghiệp và kinh doanh có lãi. Từ làm chủ tư liệu sản xuất, họ phải được làm chủ việc quản lý kinh tế, làm chủ việc phân phối sản phẩm lao động.

… Các chú phải nhớ công nhân trẻ làm tốt lắm. Họ nghe và làm theo Đảng, Công đoàn và Đoàn thanh niên. Nhưng chúng ta phải tôn trọng họ, tin tưởng vào họ, thông qua những việc làm cụ thể mà giáo dục, bồi dưỡng cho họ về phẩm chất, đạo đức cách mạng, về chủ nghĩa anh hùng cách mạng của giai cấp công nhân, bồi dưỡng văn hóa, khoa học, kỹ thuật và kiến thức quản lý xí nghiệp cho họ, tạo điều kiện cho họ phát huy vai trò làm chủ xí nghiệp là yếu tố quan trọng để đẩy mạnh cách mạng kỹ thuật. Làm cho họ vừa “hồng” vừa “chuyên”, đó là nhiệm vụ trước mắt và cả lâu dài nữa.

Nói chuyện với các đồng chí lãnh đạo Tổng Công đoàn Việt Nam,
ngày 18-7-1969, sđd, t.12, tr. 564, 565, 567-568, 570.
(Nguồn: Báo điện tử Cần Thơ)

dalat.gov.vn

Những lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đạo đức (kỳ 6)

Bác Hồ đến thăm một lớp bổ túc văn hóa thời kỳ kháng chiến (1956). ảnh: TL

21. …Một người cán bộ tốt phải có đạo đức cách mạng. Quân sư giỏi song nếu không có đạo đức cách mạng thì khó thành công. Muốn có đạo đức cách mạng phải có 5 điều sau đây:

Trí – Tín – Nhân – Dũng – Liêm.

Nói rõ nghĩa:

– Trí – Là sáng suốt, biết địch biết mình, biết người tốt thì nâng đỡ, biết người xấu thì không dùng, biết cái tốt của mình mà phát triển lên, biết cái xấu của mình để mà tránh.

– Tín – Nói cái gì phải cho tin – nói và làm cho nhất trí – làm thế nào cho dân tin – cho bộ đội tin ở mình.

– Nhân – Là phải có lòng bác ái – yêu nước, yêu đồng bào, yêu bộ đội của mình.

– Dũng – Là phải mạnh dạn, quả quyết nhưng không phải làm liều. Phải có kế hoạch, rồi kiên quyết làm ngay. Nguy hiểm cũng phải làm. Nghĩa là phải có lòng dũng cảm trong công việc.

– Liêm – Là không tham danh vị, không tham sống, không tham tiền, không tham sắc. Người cán bộ đã dám hy sinh cho Tổ quốc, hy sinh cho đồng bào, hy sinh vì nghĩa, thì không tham gì hết.

Lời nói chuyện trong buổi lễ bế mạc lớp bổ túc trung cấp,
ngày 10-10-1947, sđd, t.5, tr. 223-224.

22. … Có những cán bộ chỉ thấy lợi ích bộ phận của mình, không thấy lợi ích của toàn thể, muốn đem lợi ích của toàn thể phục tùng lợi ích của bộ phận mình. Họ quên hẳn cái chế độ dân chủ tập trung. Họ quên rằng thiểu số phải phục tùng đa số, hạ cấp phải phục tùng thượng cấp, bộ phận phải phục tùng toàn thể.

…Vì ham danh vọng và địa vị, cho nên khi phụ trách một bộ phận nào, thì lôi người này, kéo người khác, ưa ai thì kéo vào, không ưa thì tìm cách tẩy ra. Thế là chỉ biết có mình, chỉ biết có bộ phận mình mà quên cả Đảng. Đó là một thứ bệnh hẹp hòi, trái hẳn với nguyên tắc tập trung và thống nhất của Đảng.

…Cũng vì bệnh hẹp hòi mà không biết dùng nhân tài, việc gì cũng ôm lấy hết. Ôm lấy hết thì cố nhiên là không nổi.

Cũng vì bệnh hẹp hòi mà không biết cách xử trí khôn khéo với các hạng đồng bào (như tôn giáo, quốc dân thiểu số, anh em trí thức, các quan lại cũ,…)

Sửa đổi lối làm việc,
tháng 10-1947, sđd, t.5, tr.236, 238.

23. … Vì vậy, mỗi người trong Đảng phải hiểu rằng: lợi ích của cá nhân nhất định phải phục tùng lợi ích của Đảng. Lợi ích của mỗi bộ phận nhất định phục tùng lợi ích của toàn thể. Lợi ích tạm thời nhất định phải phục tùng lợi ích lâu dài.

Nghĩa là phải đặt lợi ích của Đảng lên trên hết, lên trước hết. Vì lợi ích của Đảng tức là lợi ích của dân tộc, của Tổ quốc.

Vô luận lúc nào, vô luận việc gì, đảng viên và cán bộ phải đặt lợi ích của Đảng ra trước, lợi ích của cá nhân lại sau. Đó là nguyên tắc cao nhất của Đảng. Đó là “tính Đảng”.

Nếu gặp khi lợi ích chung của Đảng mâu thuẫn với lợi ích riêng của cá nhân, thì phải kiên quyết hy sinh lợi ích của cá nhân cho lợi ích của Đảng. Khi cần đến tính mệnh của mình cũng phải vui lòng hy sinh cho Đảng.

Sửa đổi lối làm việc,
tháng 10-1947, sđd, t.5, tr.250-251.

24. … Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ “cộng sản” mà ta được họ yêu mến.

Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước. Đồng chí ta nhiều người đã làm được nhưng vẫn còn những người hủ hóa. Đảng có trách nhiệm gột rửa cho những đồng chí đó.

Hô hào dân tiết kiệm, mình phải tiết kiệm trước đã. Đồng chí ta phải học lấy bốn đức cách mạng: Cần, kiệm, liêm, chính.

Muốn làm cách mạng, phải cải cách tính nết mình trước tiên.

Bài nói chuyện trong buổi bế mạc Hội nghị cán bộ của Đảng lần thứ sáu,
ngày 18-1-1949, sđd, t.5, tr. 552.

25. … Vào Đảng là để phục vụ nhân dân, phục vụ giai cấp, phục vụ cách mạng.

Vì vậy, đã là đảng viên thì phải cố thành một đảng viên “bốn tốt”, tức là phải hết lòng phục vụ nhân dân, phục vụ giai cấp, làm đúng chính sách của Đảng, nếu không thì vào làm gì? Đảng không bắt buộc ai vào Đảng cả. Vào thì có nhiệm vụ, có trách nhiệm của đảng viên, nếu sợ không phục vụ được nhân dân, phục vụ được cách mạng thì đừng vào hay là khoan hãy vào.

Đảng không phải chỉ cần con số cho nhiều, tuy nhiều là tốt, nhưng phải có cái chất của người đảng viên.

Mỗi người đảng viên, mỗi người cán bộ từ trên xuống dưới đều phải hiểu rằng: mình vào Đảng để làm đầy tớ cho nhân dân chứ không phải là “quan” nhân dân.

Bài nói chuyện với cán bộ tỉnh Hà Tây
ngày 10-2-1967, sđd, t.12, tr. 221-222.

26. … Chúng ta không sợ sai lầm, chỉ sợ phạm sai lầm mà không quyết tâm sửa chữa. Muốn sửa chữa cho tốt thì phải sẵn sàng nghe quần chúng phê bình và thật thà tự phê bình. Không chịu nghe phê bình và không tự phê bình thì nhất định lạc hậu, thoái bộ. Lạc hậu và thoái bộ thì sẽ bị quần chúng bỏ rơi. Đó là kết quả tất nhiên của chủ nghĩa cá nhân.

Đạo đức cách mạng
tháng 12-1958, sđd, t.9, tr. 290.
(Nguồn: Báo điện tử Cần Thơ)

dalat.gov.vn

Những lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đạo đức (kỳ 5)

II. NHỮNG NGUYÊN TẮC VÀ CHUẨN MỰC ĐẠO ĐỨC ĐỐI VỚI CÁC TẦNG LỚP NHÂN DÂN
CÁN BỘ – ĐẢNG VIÊN

18. … Tư cách một người cách mệnh
Tự mình phải:
Cần kiệm.
Hòa mà không tư.
Cả quyết sửa lỗi mình.
Cẩn thận mà không nhút nhát.
Hay hỏi.
Nhẫn nại (chịu khó).
Hay nghiên cứu, xem xét.
Vị công vong tư.
Không hiếu danh, không kiêu ngạo.
Nói thì phải làm.
Giữ chủ nghĩa cho vững.
Hy sinh.
Ít lòng tham muốn về vật chất
Bí mật.
Đối với người phải:
Với từng người thì khoan thứ.
Với đoàn thể thì nghiêm.
Có lòng bày vẽ cho người.
Trực mà không táo bạo.
Hay xem xét người.
Làm việc phải:
Xem xét hoàn cảnh kỹ càng.
Quyết đoán.
Dũng cảm.
Phục tùng đoàn thể.

Đường Kách mệnh,
Năm 1927, sđd, t.2, tr. 260.

19. … A – CÁN BỘ LÀ GÌ?

Cán bộ là cái dây chuyền của bộ máy. Nếu dây chuyền không tốt, không chạy thì động cơ dù tốt, dù chạy toàn bộ máy cũng tê liệt. Cán bộ là những người đem chính sách của Chính phủ, của đoàn thể thi hành trong nhân dân, nếu cán bộ dở thì chính sách hay cũng không thể thực hiện được.

B – VẬY CÁN BỘ PHẢI CÓ ĐỨC TÍNH NHƯ THẾ NÀO?

1. Mình đối với mình: Đừng tự mãn, tự túc; nếu tự mãn, tự túc thì không tiến bộ. Phải tìm học hỏi cầu tiến bộ. Đừng kiêu ngạo, học lấy điều hay của người ta. Phải siêng năng tiết kiệm.

2. Đối với đồng chí mình phải thế nào? Thân ái với nhau, nhưng không che đậy những điều dở. Học cái hay sửa chữa cái dở. Không nên tranh giành ảnh hưởng của nhau. Không nên ghen ghét đố kỵ và khinh kẻ không bằng mình. Bỏ lối hiếu danh, hiếu vị…

3. Đối với công việc phải thế nào? Trước hết phải nghĩ cho kỹ, có việc làm trước mắt thành công nhưng thất bại về sau. Có việc địa phương này làm có lợi nhưng hại cho địa phương khác. Những cái như thế phải tránh… Phải có kế hoạch bước đầu làm thế nào? Bước thứ hai làm thế nào? Bước thứ ba làm thế nào? Thành công thì thế nào? Nếu thất bại thì thế nào? Mỗi ngày lúc sáng dậy, tự hỏi mình ngày hôm nay phải làm gì? Tối đi ngủ phải tự hỏi mình ngày hôm nay đã làm gì? Phải cẩn thận, cẩn thận không phải là nhút nhát, do dự.

4. Đối với nhân dân: Phải nhớ Đoàn thể làm việc cho dân, Đoàn thể mình mạnh hay yếu là ở dân. Dân nghe theo là mình mạnh. Hiểu nguyện vọng của dân, sự cực khổ của dân. Hiểu tâm lý của dân, học sáng kiến của dân. Nhưng có những việc dân không muốn mà phải làm như tản cư, nộp thuế, những việc ấy phải giải thích cho dân rõ. Phải tôn kính dân, phải làm cho dân tin, phải làm gương cho dân. Muốn cho dân phục phải được dân tin, muốn cho dân tin phải thanh khiết.

5. Đối với Đoàn thể: Trước lúc mình vào Đoàn thể nào phải hiểu rõ Đoàn thể ấy là gì? Vào làm gì? Mỗi Đoàn thể phải vì dân vì nước. Khi vào Đoàn thể, tự do cá nhân phải bỏ. Phải tuyệt đối phục tùng mệnh lệnh của Đoàn thể. Phải tuyệt đối trung thành. Khi bình thời phải hết sức làm việc. Khi nguy hiểm phải hy sinh vì Đoàn thể. Hy sinh tính mạng, lợi quyền, giữ danh giá của Đoàn thể. Muốn giữ danh giá của Đoàn thể phải giữ danh giá mình. Không được báo cáo láo như: làm thành một việc thì phóng đại, thất bại thì giấu đi…

Bài nói chuyện với cán bộ tỉnh Thanh Hóa
Ngày 20-2-1947, sđd, t.5, tr. 54-55.

20. … Những người trong các công sở đều có nhiều hoặc ít quyền hành. Nếu không giữ đúng, Cần, Kiệm, Liêm, Chính thì dễ trở nên hủ bại, biến thành sâu mọt của dân.

1. Cần – Làm việc phải đến đúng giờ, chớ đến trễ, về sớm. Làm cho chóng, cho chu đáo. Việc ngày nào, nên làm xong ngày ấy, chớ để chờ ngày mai. Phải nhớ rằng: dân đã lấy tiền mồ hôi nước mắt để trả lương cho ta trong những thì giờ đó. Ai lười biếng tức là lừa gạt dân.

2. Kiệm – Giấy bút, vật liệu đều tốn tiền của Chính phủ, tức là của dân; ta cần phải tiết kiệm. Nếu một miếng giấy nhỏ đủ viết, thì chớ dùng một tờ to. Một cái phong bì có thể dùng hai ba lần. Mỗi ngày, công sở cả nước dùng hàng mấy vạn tờ giấy và phong bì. Nơi nào cũng tiết kiệm một chút, thì trong một năm đỡ được hàng vạn tấn giấy, tức là hàng triệu đồng bạc. Các vật liệu cũng vậy. Nhờ các công sở tiết kiệm, mà lợi cho dân rất nhiều.

3. Liêm – Những người ở các công sở, từ làng cho đến Chính phủ trung ương, đều dễ tìm dịp phát tài, hoặc xoay tiền của Chính phủ, hoặc khoét đục nhân dân. Đến khi lộ ra, bị phạt, thì mất hết cả danh giá, mà của phi nghĩa đó cũng không được hưởng. Vì vậy, những người trong công sở phải lấy chữ Liêm làm đầu.

4. Chính – Mình và người làm việc công, phải có công tâm, công đức. Chớ đem của công dùng vào việc tư. Chớ đem người tư làm việc công. Việc gì cũng phải công bình, chính trực, không nên vì tư ân, tư huệ, hoặc tư thù, tư oán. Mình có quyền dùng người thì phải dùng những người có tài năng, làm được việc. Chớ vì bà con bầu bạn, mà kéo vào chức nọ chức kia. Chớ vì sợ mất địa vị mà dìm những kẻ có tài năng hơn mình. Phải trung thành với Chính phủ, với đồng bào. Chớ lên mặt làm quan cách mệnh.
Đời sống mới,

Ngày 20-3-1947, sđd, t.5, tr.104-105.
(Nguồn: Báo điện tử Cần Thơ)

dalat.gov.vn

Những lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đạo đức (kỳ 4)

10. … Muốn xây dựng chủ nghĩa cộng sản phải có những con người cộng sản chủ nghĩa, nghĩa là phải có những người có đạo đức cộng sản. Nước ta cũng áp dụng đúng tinh thần như thế: muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội phải có những con người xã hội chủ nghĩa, tức là phải có những người có đạo đức xã hội chủ nghĩa. Đạo đức xã hội chủ nghĩa không phải ở đâu cũng biểu hiện giống nhau. Ở nước ta, đạo đức xã hội chủ nghĩa là cần kiệm xây dựng nước nhà. Mọi người thi đua học tập theo cách xã hội chủ nghĩa, lao động theo xã hội chủ nghĩa, có đạo đức xã hội chủ nghĩa. Các cô, các chú, các cháu ở đây thì thi đua học tập để về phục vụ việc xây dựng nước nhà.

Nói chuyện với sinh viên và cán bộ Việt Nam
đang học tập và công tác ở Mátxcơva,
ngày 29-10-1961, sđd, t.10, tr. 679.

11. … Cần, Kiệm, Liêm, Chính là nền tảng của Đời sống mới, nền tảng của Thi đua ái quốc.

Trời có bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông.
Đất có bốn phương: Đông, Tây, Nam, Bắc.
Người có bốn đức: Cần, Kiệm, Liêm, Chính…
Thiếu một đức, thì không thành người.

Cần kiệm liêm chính
tháng 6-1949, sđd, t.5, tr. 631.

12. … Làm cách mạng để cải tạo xã hội cũ thành xã hội mới là một sự nghiệp rất vẻ vang, nhưng nó cũng là một nhiệm vụ rất nặng nề, một cuộc đấu tranh rất phức tạp, lâu dài, gian khổ. Sức có mạnh mới gánh được nặng và đi được xa. Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang…

Có đạo đức cách mạng thì gặp khó khăn, gian khổ, thất bại, cũng không sợ sệt, rụt rè, lùi bước. Vì lợi ích chung của Đảng, của cách mạng, của giai cấp, của dân tộc và của loài người mà không ngần ngại hy sinh tất cả lợi ích riêng của cá nhân mình. Khi cần, thì sẵn sàng hy sinh cả tính mạng của mình cũng không tiếc. Đó là biểu hiện rất rõ rệt, rất cao quý của đạo đức cách mạng. Trong Đảng ta, các đồng chí Trần Phú, Ngô Gia Tự, Lê Hồng Phong, Nguyễn Văn Cừ, Hoàng Văn Thụ, Nguyễn Thị Minh Khai và nhiều đồng chí khác đã vì dân, vì Đảng mà oanh liệt hy sinh, đã nêu gương chói lọi của đạo đức cách mạng chí công vô tư cho tất cả chúng ta học tập.

Có đạo đức cách mạng thì gặp thuận lợi và thành công cũng vẫn giữ vững tinh thần gian khổ, chất phác, khiêm tốn, “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”, lo hoàn thành nhiệm vụ cho tốt chứ không kèn cựa về mặt hưởng thụ, không công thần, không quan liêu, không kiêu ngạo, không hủ hóa. Đó cũng là biểu hiện của đạo đức cách mạng.

Đạo đức cách mạng,
tháng 12-1958, sđd, t.9, tr. 283, 284.

13. … Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội phải có con người xã hội chủ nghĩa. Con người xã hội chủ nghĩa là phải đi đến hoàn toàn không có chủ nghĩa cá nhân. Trong đầu óc mọi người đều có sự đấu tranh giữa cái “thiện” và cái “ác”, hoặc nói theo cách mới là sự đấu tranh giữa tư tưởng cộng sản và tư tưởng cá nhân.

Tư tưởng cộng sản với tư tưởng cá nhân ví như lúa với cỏ dại. Lúa phải chăm bón rất khó nhọc thì mới tốt được. Còn cỏ dại không cần chăm sóc cũng mọc lu bù. Tư tưởng cộng sản phải rèn luyện gian khổ mới có được. Còn tư tưởng cá nhân thì cũng như cỏ dại, sinh sôi, nảy nở rất dễ.

Nói chuyện tại lớp chỉnh huấn khóa II của Bộ Công an,
ngày 16-5-1959, sđd, t.9, tr. 448.

14. … Không phải chỉ thiên tài của Người, mà chính là tính coi khinh sự xa hoa, tinh thần yêu lao động, đời tư trong sáng, nếp sống giản dị, tóm lại là đạo đức vĩ đại và cao đẹp của người thầy, đã ảnh hưởng lớn lao tới các dân tộc châu Á và đã khiến cho trái tim của họ hướng về Người, không gì ngăn cản nổi.

… Loài người đang thức tỉnh; nhưng muốn tự giải phóng hoàn toàn, thì còn phải đấu tranh. Thế mà giờ đây người thầy đột ngột từ giã chúng ta, chưa được trông thấy kết quả cuối cùng của sự nghiệp của mình.

Những người có tâm huyết làm sao mà có thể cầm được nước mắt? Những người bị áp bức, nam và nữ, há lại không nên nhận lấy nhiệm vụ mà Lênin đã để lại là tiến lên hay sao? Tiến lên!

Lê-nin và các dân tộc Phương Đông,
tháng 7-1924, sđd, t.1, tr. 295, 297.

15. … Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành. Riêng phần tôi thì làm một cái nhà nho nhỏ, nơi có non xanh nước biếc để câu cá trồng hoa, sớm chiều làm bạn với các cụ già hái củi, em trẻ chăn trâu, không dính líu gì với vòng danh lợi.

Trả lời các nhà báo nước ngoài,
tháng 1-1946, sđd, t.4, tr. 161.

16. … Tôi khuyên đồng bào đoàn kết chặt chẽ và rộng rãi. Năm ngón tay cũng có ngón vắn ngón dài. Nhưng vắn dài đều họp nhau lại nơi bàn tay. Trong mấy triệu người cũng có người thế này thế khác, nhưng thế này hay thế khác đều dòng dõi của tổ tiên ta. Vậy nên ta phải khoan hồng đại độ. Ta phải nhận rằng, đã là con Lạc, cháu Hồng thì ai cũng có ít hay nhiều lòng ái quốc. Đối với những đồng bào lạc lối lầm đường, ta phải lấy tình thân ái mà cảm hóa họ. Có như thế mới thành đại đoàn kết, có đại đoàn kết thì tương lai chắc chắn sẽ vẻ vang.

Thư gửi đồng bào Nam bộ,
tháng 6-1946, sđd, t.4, tr. 246.

17. … Tục ngữ có câu: “Dân dĩ thực vi thiên”, nghĩa là dân lấy ăn làm trời, nếu không có ăn là không có trời. Lại có câu: “Có thực mới vực được đạo”, nghĩa là không có ăn thì chẳng làm được việc gì cả.

Vì vậy chính sách của Đảng và Chính phủ là phải hết sức chăm nom đến đời sống của nhân dân. Nếu dân đói, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân rét là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân dốt là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân ốm là Đảng và Chính phủ có lỗi.

Vì vậy cán bộ Đảng và chính quyền từ trên xuống dưới, đều phải hết sức quan tâm đến đời sống của nhân dân. Phải lãnh đạo tổ chức, giáo dục nhân dân tăng gia sản xuất và tiết kiệm. Dân đủ ăn đủ mặc thì những chính sách của Đảng và Chính phủ đưa ra sẽ dễ dàng thực hiện. Nếu dân đói, rét, dốt, bệnh thì chính sách của ta dù có hay mấy cũng không thực hiện được.

Bài nói chuyện tại Hội nghị sản xuất cứu đói
ngày 13-6-1955, sđd, t.7, tr. 572.
(Nguồn: Báo điện tử Cần Thơ)

dalat.gov.vn

Những lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đạo đức (kỳ 3)

3. … Tinh thần trách nhiệm là gì?

Là khi Đảng, Chính phủ, hoặc cấp trên giao cho ta việc gì, bất kỳ to hay nhỏ, khó hay dễ, ta cũng đưa cả tinh thần, lực lượng ra làm cho đến nơi đến chốn, vượt mọi khó khăn, làm cho thành công.
Làm một cách cẩu thả, làm cho có chuyện, dễ làm khó bỏ, đánh trống bỏ dùi, gặp sao làm vậy, v.v… là không có tinh thần trách nhiệm.

… Tinh thần trách nhiệm là: Nắm vững chính sách, đi đúng đường lối quần chúng, làm tròn nhiệm vụ.

… Tách rời chính sách ra một đường, nhiệm vụ ra một đường là sai lầm. Tách rời chính sách và nhiệm vụ ra một đường, và đường lối quần chúng ra một đường cũng là sai lầm. Tinh thần trách nhiệm là gắn liền chính sách và đường lối quần chúng, để làm trọn nhiệm vụ.

Tinh phần trách nhiệm,
ngày 31-12-1951, sđd, t.6, tr. 345-346.

4. Tiết kiệm

Tiết kiệm không phải là bủn xỉn, không phải là “xem đồng tiền to bằng cái nống”, gặp việc đáng làm cũng không làm, đáng tiêu cũng không tiêu. Tiết kiệm không phải là ép bộ đội, cán bộ và nhân dân nhịn ăn, nhịn mặc. Trái lại, tiết kiệm cốt để giúp vào tăng gia sản xuất, mà tăng gia sản xuất là để dần dần nâng cao mức sống của bộ đội, cán bộ và nhân dân. Nói theo lối khoa học, thì tiết kiệm là tích cực, chứ không phải tiêu cực.

Thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí, chống bệnh quan liêu,
tháng 5-1952, sđd, t.6, tr. 485.

5. Người cán bộ cách mạng

Người cán bộ cách mạng phải có đạo đức cách mạng. Phải giữ vững đạo đức cách mạng mới là người cán bộ cách mạng chân chính. Đạo đức cách mạng có thể nói tóm tắt là:

Nhận rõ phải, trái. Giữ vững lập trường.

Tận trung với nước. Tận hiếu với dân.

Mọi việc thành hay là bại, chủ chốt là do cán bộ có thấm nhuần đạo đức cách mạng, hay là không…

Người cán bộ cách mạng
tháng 3-1955, sđd, t.7, tr. 480.

6. Tự do tư tưởng

… Chế độ ta là chế độ dân chủ, tư tưởng phải được tự do. Tự do là thế nào? Đối với mọi vấn đề, mọi người tự do bày tỏ ý kiến của mình, góp phần tìm ra chân lý. Đó là một quyền lợi mà cũng là một nghĩa vụ của mọi người.

Khi mọi người đã phát biểu ý kiến, đã tìm thấy chân lý, lúc đó quyền tự do tư tưởng hóa ra quyền tự do phục tùng chân lý.

Chân lý là cái gì có lợi cho Tổ quốc, cho nhân dân. Cái gì trái với lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân tức là không phải chân lý. Ra sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân – tức là phục tùng chân lý.

Bài nói chuyện tại lớp nghiên cứu chính trị khóa I,
Trường Đại học nhân dân Việt Nam,
ngày 21-7-1956, sđd, t.8, tr. 216.

7. Đạo đức cách mạng

… Nói tóm tắt, thì đạo đức cách mạng là:

Quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng. Đó là điều chủ chốt nhất.
Ra sức làm việc cho Đảng, giữ vững kỷ luật của Đảng, thực hiện tốt đường lối, chính sách của Đảng.

Đặt lợi ích của Đảng và của nhân dân lao động lên trên, lên trước lợi ích riêng của cá nhân mình. Hết lòng hết sức phục vụ nhân dân. Vì Đảng, vì dân mà đấu tranh quên mình, gương mẫu trong mọi việc.

Ra sức học tập chủ nghĩa Mác – Lênin, luôn luôn dùng tự phê bình và phê bình để nâng cao tư tưởng và cải tiến công tác của mình và cùng đồng chí mình tiến bộ.
Đạo đức cách mạng
tháng 12-1958, sđd, t.9, tr. 285.

8. Thi hành đạo đức cách mạng

… Những chính sách và nghị quyết của Đảng đều vì lợi ích của nhân dân. Vì vậy, đạo đức cách mạng của người đảng viên là bất kỳ khó khăn đến mức nào cũng kiên quyết làm đúng chính sách và nghị quyết của Đảng, làm gương mẫu cho quần chúng. Mọi đảng viên phải nâng cao tinh thần trách nhiệm trước nhân dân, trước Đảng; phải ngăn ngừa và kiên quyết chống lại chủ nghĩa cá nhân…

Đạo đức cách mạng là vô luận trong hoàn cảnh nào, người đảng viên cũng phải đặt lợi ích của Đảng lên trên hết. Nếu khi lợi ích của Đảng và lợi ích của cá nhân mâu thuẫn với nhau, thì lợi ích cá nhân phải tuyệt đối phục tùng lợi ích của Đảng…

Đạo đức cách mạng là hòa mình với quần chúng thành một khối, tin quần chúng, hiểu quần chúng, lắng nghe ý kiến của quần chúng. Do lời nói và việc làm, đảng viên, đoàn viên và cán bộ làm cho dân tin, dân phục, dân yêu, đoàn kết quần chúng chặt chẽ chung quanh Đảng, tổ chức, tuyên truyền và động viên quần chúng hăng hái thực hiện chính sách và nghị quyết của Đảng…

Đạo đức cách mạng
tháng 12-1958, sđd, t.9, tr. 290.

9. … Đạo đức cách mạng

… là bất kỳ ở cương vị nào, bất kỳ làm công việc gì, đều không sợ khó, không sợ khổ, đều một lòng một dạ phục vụ lợi ích chung của giai cấp, của nhân dân, đều nhằm mục đích xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Đạo đức cách mạng là đạo đức tập thể, nó phải đánh thắng và tiêu diệt chủ nghĩa cá nhân.

Chủ nghĩa cá nhân là việc gì cũng chỉ lo cho lợi ích riêng của mình, không quan tâm đến lợi ích chung của tập thể. “Miễn là mình béo, mặc thiên hạ gầy”. Nó là mẹ đẻ ra tất cả mọi tính hư nết xấu như: lười biếng, suy bì, kiêu căng, kèn cựa, nhút nhát, lãng phí, tham ô, v.v… Nó là kẻ thù hung ác của đạo đức cách mạng chủ nghĩa xã hội.

Bài nói chuyện tại Đại hội lần thứ III của Đoàn thanh niên lao động Việt Nam,
ngày 24-3-1961, sđd, t.10, tr. 306
(Nguồn: Báo Điện tử Cần Thơ)

dalat.gov.vn

Coi trọng, triển khai bài bản, nghiêm túc việc Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh

(TCTG) – Công tác lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức quán triệt Chỉ thị của Bộ Chính trị, Kế hoạch của Ban Bí thư về đẩy mạnh việc tiếp tục học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh được Ban Thường vụ Đảng ủy Khối các cơ quan Trung ương rất coi trọng, triển khai bài bản, nghiêm túc và đạt được một số kết quả bước đầu rất thiết thực.

Với 60 đảng bộ trực thuộc, gần 6,5 vạn đảng viên, địa bàn công tác rộng, nhiệm vụ chính trị đa dạng, có tầm ảnh hưởng xã hội nhanh và lớn, nên công tác lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức quán triệt Chỉ thị của Bộ Chính trị, Kế hoạch của Ban Bí thư về đẩy mạnh việc tiếp tục học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh được Ban Thường vụ Đảng ủy Khối các cơ quan Trung ương rất coi trọng, triển khai bài bản, nghiêm túc và đạt được một số kết quả bước đầu rất thiết thực.

Về công tác chỉ đạo, sau khi có Chỉ thị của Bộ Chính trị, Kế hoạch của Ban Bí thư, Ban Thường vụ Đảng ủy Khối đã ban hành Kế hoạch, Hướng dẫn trong toàn đảng bộ để tổ chức quán triệt, triển khai thực hiện; thành lập Bộ phận giúp việc, Bộ phận chuyên trách, Quy chế làm việc của Bộ phận giúp việc.

Sáu tháng cuối năm 2011, Đảng ủy đã tiến hành sơ kết đánh giá việc tổ chức quán triệt Chỉ thị của Bộ Chính trị, triển khai Kế hoạch của Ban Bí thư, xác định phương hướng, nhiệm vụ năm 2012, tập trung vào hai nội dung đó là học tập chuyên đề và đưa nội dung học tập tấm gương đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh vào sinh hoạt chi bộ hàng tháng.

Đến hết năm 2011, hầu hết các đảng ủy cấp trên cơ sở đã thành lập Bộ phận giúp việc, ban hành Quy chế hoạt động, phân công nhiệm vụ đối với từng thành viên.

Tính đến ngày 22/02/2012 đã có 55/60 đảng bộ xây dựng kế hoạch hoặc hướng dẫn triển khai Chỉ thị; 44/60 đảng bộ đã thành lập Bộ phận giúp việc; 39/60 đảng bộ đã xâu dựng Quy chế làm việc của Bộ phận giúp việc; các đảng bộ cơ sở trực thuộc Đảng ủy Khối không thành lập Bộ phận giúp việc cũng đã phân công đồng chí cấp ủy trực tiếp tham mưu cho Ban Thường vụ việc triển khai Chỉ thị.

Về công tác tổ chức thực hiện, sau Hội nghị triển khai của Đảng ủy Khối và các Đảng ủy trực thuộc (tháng 10/2011), dịp tổng kết năm 2011, các tổ chức cơ sở đảng đã gắn việc thực hiện học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh với việc đánh giá chất lượng tổ chức đảng, đảng viên và các cấp ủy, gắn với tổng kết công tác đảng năm 2011. Một số đảng ủy có cách làm hiệu quả như: Hội thảo “Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức công vụ và việc vận dụng những tư tưởng đó ở Viện Khoa học Xã hội Việt Nam hiện nay” của Đảng ủy Viện Khoa học Xã hội Việt Nam tổ chức; Hội thi “Quy tắc ứng xử Ngành Y tế theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” của Bộ Y tế tổ chức; Đảng bộ Bộ Tài chính quan tâm tổ chức học ngoại khóa cho cán bộ, đảng viên tại các bảo tàng, di tích lịch sử văn hóa, tạo sức hấp dẫn, ấn tượng và thuyết phục; Đảng bộ Văn phòng Quốc Hội chọn nội dung “thực hành tiết kiệm, chống lãng phí” để tập trung chỉ đạo, triển khai; Đảng bộ Ban Dân vận Trung ương phát động xây dựng “Tủ sách Bác Hồ”, thu hút cán bộ, đảng viên đọc, nghiên cứu, xác định nội dung học tập, làm theo phù hợp với công việc của cá nhân, cơ quan, đơn vị…

Việc xây dựng chuẩn mực đạo đức được các đảng ủy quan tâm chỉ đạo, rà soát, đối chiếu với chức năng, nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị, thảo luận dân chủ, xác định những nội dung cụ thể.

Đến nay đã có 32/60 đảng bộ xây dựng xong chuẩn mực đạo đức của cán bộ, đảng viên, các chuẩn mực đó đều bám sát nhiệm vụ chính trị của đảng bộ, đặc thù công tác của cơ quan, đơn vị, ngắn gọn, cụ thể. Ví dụ, chuẩn mực đạo đức của cán bộ, đảng viên Văn phòng Trung ương Đảng có 5 nội dung là: Tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc, với nhân dân; Có bản lĩnh chính trị vững vàng, giữ vững nguyên tắc làm việc, giữ bí mật công tác. Tận tụy, chu đáo, chủ động, sáng tạo, tích cực học tập, tinh thông nghiệp vụ, hoàn thành tốt nhiệm vụ. Đoàn kết, tôn trọng, cầu thị, hợp tác tốt với đồng chí, đồng nghiệp. Trung thực, liêm khiết, tiết kiệm, gương mẫu trong công tác và sinh hoạt. Chuẩn mực đạo đức của cán bộ, đảng viên Đảng bộ Bộ Tài chính là: Cần kiệm, liêm chính, chí công vô tư. Đoàn kết, thân ái, gương mẫu, trung thực. Chuẩn mực đạo đức của cán bộ, đảng viên Đảng bộ Ban Đối ngoại Trung ương là: Tuyệt đối trung thành. Kiên định, sáng tạo. Tận tụy, cẩn trọng. vv.vv

Về công tác tuyên truyền, các cơ quan báo chí, truyền thông trong Khối thường xuyên duy trì các chuyên trang, chuyên mục tuyên truyền về tư tưởng, tấm gương đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; kết quả triển khai thực hiện Chỉ thị của Bộ Chính trị, Kế hoạch của Ban Bí thư trong phạm vi cả nước, trong đảng bộ nhất là các cách làm sáng tạo, hiệu quả, gương người tốt, việc tốt, đồng thời phê phán những biểu hiện quan liêu, tham nhũng, lãng phí, cách làm hình thức, chiếu lệ.

Công tác kiểm tra, giám sát được chú trọng thông qua kế hoạch cụ thể. Trong 9 tháng qua, Ban Thường vụ Đảng ủy Khối đã tiến hành kiểm tra 3 đảng bộ; giám sát 2 đảng bộ. Thông qua kiểm tra, giám sát, các đảng bộ đó đã có những chuyển biến tích cực, rõ, góp phần xây dựng đảng bộ, chi bộ trong sạch, vững mạnh, rèn luyện đảng viên và tạo hiệu quả thực hiện nhiệm vụ chính trị của cơ quan, đơn vị. Trong những tháng đầu năm 2012, Bộ phận giúp việc của Đảng ủy Khối cũng đã tổ chức một số đoàn kiểm tra việc triển khai Chỉ thị của Bộ Chính trị tại 3 đảng bộ.

Cũng từ công tác kiểm tra, giám sát của Ban Thường vụ Đảng ủy Khối và các đảng ủy trực thuộc được coi trọng, đã phát hiện những yếu kém, hạn chế, kịp thời chỉ đạo chấn chỉnh, đôn đốc việc tổ chức thực hiện. Ví dụ: tính chủ động của một số cấp ủy chưa cao, chỉ đạo chậm, thiếu cụ thể, do vậy, không ít chi bộ, tổ chức cơ sở đảng, đảng viên chưa thực sự hành động; cách làm mới, hiệu quả còn ít; phát hiện mô hình tốt, điển hình tiêu biểu chưa được quan tâm.

Từ những kết quả bước đầu, rút kinh nghiệm những hạn chế, khuyết điểm, bước vào năm 2012, ngay từ những ngày, tuần, tháng đầu, Đảng ủy Khối đã tập trung chỉ đạo đẩy mạnh hơn nữa việc nghiên cứu để hiểu sâu tinh thần Chỉ thị của Bộ Chính trị, nhất là nhận thức của cán bộ, đảng viên về việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là việc làm thường xuyên và rất quan trọng để thực hiện; là ý thức tự giác của từng người, ở mọi lúc, mọi nơi, cả trong sinh hoạt đảng và trong công việc hàng ngày, không phải chờ có tổ chức, có phát động.

Trên cơ sở tài liệu chuyên đề, từng đảng bộ, chi bộ tổ chức nghiên cứu, chọn nội dung phù hợp với nhiệm vụ chính trị, điều kiện công tác của cơ quan, đơn vị để đưa vào nội dung sinh hoạt chi bộ, đảng bộ hàng tháng; cuối năm 2012 Đảng ủy Khối sẽ tổ chức tổng kết, đánh giá hiệu quả thực hiện Chỉ thị của Bộ Chính trị trong toàn đảng bộ.

Thực hiện những chuẩn mực đạo đức đã đề ra; tiếp tục hoàn thành việc xây dựng chuẩn mực dạo đức ở các đảng bộ chưa hoàn thành, của Đoàn Thanh niên Khối. Gắn việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh với thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) về “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”, theo đó tập trung vào việc xây dựng kế hoạch tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của từng cán bộ, đảng vên bằng những việc cụ thể; xác định trách nhiệm gương mẫu của của người chủ trì cơ quan, đơn vị, của đồng chí Bí thư cấp ủy, của mỗi cán bộ, đảng viên.

Từng cấp ủy chọn vấn đề nổi cộm, bức xúc, vấn đề cần tập trung chỉ đạo khắc phục dứt điểm. Tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nhất là tuyên truyền những cách làm sáng tạo, những tập thể, cá nhân tiêu biểu; chủ động bám sát đời sống xã hội, sáng tác những tác phẩm nghệ thuật, bài báo có giá trị cao về tư tưởng, nghệ thuật, cổ vũ cho việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; tổ chức các hoạt động như hội thảo, hội thi, giao lưu, thăm quan… làm tăng sức hấp dẫn và thuyết phục của các hoạt động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.

Thường xuyên tổ chức kiểm tra, giám sát để kịp thời phát hiện, biểu dương những gương tốt, phê phán những biểu hiện quan liêu, hình thức, nói mà không làm.

VŨ VIỆT HÙNG
Ban Tuyên giáo Trung ương

tuyengiao.vn

Những tên gọi, bí danh, bút danh của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Trong cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có hơn 30 năm hoạt động ở nước ngoài. Người qua 4 châu lục, 3 đại dương, đặt chân lên gần 30 nước, làm hàng chục nghề khác nhau. Trong điều kiện hoạt động cách mạng bí mật, bị chính quyền thực dân, đế quốc và tay sai theo dõi, bắt giam, tuyên bố tử hình vắng mặt…Người phải thay đổi họ tên rất nhiều lần. Do đó, trong cuộc đời của mình, Hồ Chí Minh có rất nhiều tên gọi, bí danh và bút danh.

Cuốn sách của Bảo tàng Hồ Chí Minh Những tên gọi bí danh, bút danh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, đưa ra con số thống kê: có 169 tên chính thức, bí danh, bút danh của Hồ Chí Minh, và nêu lên 17 bút danh, bí danh khác đang nghi là của Hồ Chí Minh cần được nghiên cứu thêm. Còn nhà sưu tầm Bá Ngọc trong cuốn sách của mình Hồ Chí Minh – Những tên gọi đi cùng năm tháng, NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2003, thống kê Hồ Chí Minh có 174 tên ; trong đó có 78 tên chính thức, bí danh và 96 bút danh.

Chúng tôi xin giới thiệu 169 tên chính thức, bí danh, bút danh của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Cuốn sách của Bảo tàng Hồ Chí Minh Những tên gọi bí danh, bút danh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001.

Trong thời gian đến, chúng tôi sẽ cung cấp cho quý vị và bạn đọc 169 tư liệu, sự kiện quý giá liên quan đến tên gọi, bí danh, bút danh  mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dùng trong quá trình hoạt động cách mạng để quý vị và bạn đọc  hiểu đầy đủ hơn.  

Tên do gia đình đặt từ 1890 – 1910

1. Nguyễn Sinh Cung, 1890

2. Nguyễn Sinh Côn

3. Nguyễn Tất Thành

4. Nguyễn Văn Thành, 1901

5. Nguyễn Bé Con

Tên gọi – bút danh trong thời gian Bác đi tìm đường cứu nước đến khi về nước (1911 – 1941)
6. Văn Ba, 1911

7. Paul Tất Thành, 1912

8. Tất Thành, 1914

9. Pôn Thành (Paul Thành), 1915

10. Nguyễn Ái Quốc, 1919

11. Phéc-đi-năng

12. An-be đơ PU-VUA-VIN (Anbert de POUVOURVILLE), 1920

13. Nguyễn A.Q, 1921-1926

14. CULIXE, 1922

15. N.A.Q, 1922

16. Ng.A.Q, 1922

17. Hăngri Trần (Henri Tchen), 1922

18. N, 1923

19. Cheng Vang, 1923

20. Nguyễn, 1923

21. Chú Nguyễn, 1923

22. Lin, 1924

23. Ái Quốc, 1924

24. Un Annamite (Một người An Nam), 1924

25. Loo Shing Yan, 1924

26. Ông Lu, 1924

27. Lý Thụy, 1924

28. Lý An Nam, 1924-1925

29. Nilốpxki (N.A.Q), 1924

30. Vương, 1925

31. L.T, 1925

32. HOWANG T.S, 1925

33. Z.A.C, 1925

34. Lý Mỗ, 1925

35. Trương Nhược Trừng, 1925

36. Vương Sơn Nhi, 1925

37. Vương Đạt Nhân, 1926

38. Mộng Liên, 1926

39. X, 1926

40. H.T, 1926

41. Tống Thiệu Tổ, 1926

42. X.X, 1926

43. Wang, 1927

44. N.K, 1927

45. N. Ái Quốc, 1927

46. Liwang, 1927

47. Ông Lai, 1927

48. A.P, 1927

49. N.A.K, 1928

50. Thọ, 1928

51. Nam Sơn, 1928

52. Chín (Thầu Chín), 1928

53. Víchto Lơ bông (Victor Lebon), 1930

54. Ông Lý, 1930

55. Ng. Ái Quốc, 1930

56. L.M. Vang, 1930

57. Tiết Nguyệt Lâm, 1930

58. Pôn (Paul), 1930

59. T.V. Wang, 1930

60. Công Nhân, 1930

61. Vícto, 1930

62. V, 1931

63. K, 1931

64. Đông Dương, 1931

65. Quac.E. Wen, 1931

66. K.V, 1931

67. Tống Văn Sơ, 1931

68. New Man, 1933

69. Li Nốp, 1934

70. Teng Man Huon, 1935

71. Hồ Quang, 1938

72. P.C.Lin (PC Line), 1938

73. D.C. Lin, 1939

74. Lâm Tam Xuyên, 1939

75. Ông Trần, 1940

76. Bình Sơn, 1940

77. Đi Đông (Dic-donc)

78. Cúng Sáu Sán, 1941

79. Già Thu, 1941

80 Kim Oanh, 1941

81. Bé Con, 1941

82. Ông Cụ, 1941

83. Hoàng Quốc Tuấn, 1941

84. Bác, 1941

Tên gọi – bút danh trong thời gian Bác lãnh đạo cách mạng Việt Nam tổng khởi nghĩa Cách mạng tháng Tám thành công (1942 – 1945)

85. Thu Sơn, 1942

86. Xung Phong, 1942

87. Hồ Chí Minh, 1942

88. Hy Sinh, 1942

89. Cụ Hoàng, 1945

90. C.M. Hồ, 1945

91. Chiến Thắng, 1945

92. Ông Ké, 1945

93. Hồ Chủ tịch, 1945

94. Hồ, 1945

95. Q.T, 1945

96. Q.Th, 1945

97. Lucius, 1945

Tên gọi – bút danh trong thời gian Bác lãnh đạo nhân dân Việt Nam kháng chiến chống Pháp (1946 – 1954)

98. Bác Hồ, 1946

99. T.C, 1946

100. H.C.M, 1946

101. Đ.H, 1946

102. Xuân, 1946

103. Một người  Việt Nam, 1946

104. Tân Sinh, 1947

105. Anh, 1947

106. X.Y.Z, 1947

107. A, 1947

108. A.G, 1947

109. Z, 1947

110. Lê Quyết Thắng, 1948

111. K.T, 1948

112. K.Đ, 1948

113. G, 1949

114. Trần Thắng Lợi, 1949

115. Trần Lực, 1949

116. H.G, 1949

117. Lê Nhân, 1949

118. T.T, 1949

119. DIN, 1950

120. Đinh, 1950

121. T.L, 1950

122. Chí Minh, 1950

123. C.B, 1951

124. H, 1951

125. Đ.X, 1951

126. V.K, 1951

127. Nhân dân, 1951

128. N.T, 1951

129. Nguyễn Du Kích, 1951

130. Hồng Liên, 1953

131. Nguyễn Thao Lược, 1954

132. Lê, 1954

133. Tân Trào, 1954

Tên gọi – bút danh trong thời gian Bác lãnh đạo nhân dân Việt Nam kháng chiến chống Mỹ đến khi Bác qua đời (1955 – 1969)

134. H.B, 1955

135. Nguyễn Tân, 1957

136. K.C, 1957

137. Chiến Sĩ, 1958

138. T, 1958

139. Thu Giang, 1959

140. Nguyên Hảo Studiant (Nguyên Hảo, sinh viên), 1959

141. Ph.K.A, 1959

142. C.K, 1960

143. Tuyết Lan, 1960

144. Giăng Pho (Jean Fort), 1960

145. Trần Lam, 160

146. Một người Việt kiều ở Pháp về, 1960

147. K.K.T, 1960

148. T. Lan, 1961

149. Luật sư Th.Lam, 1961

150. Ly, 1961

151. Lê Thanh Long, 1963

152. CH-KOPP (A-la-ba-na), 1963

153. Thanh Lan, 1963

154. Ngô Tam, 1963

155. Nguyễn Kim, 1963

156. Ng~. Văn Trung, 1963

157. Dân Việt, 1964

158. Đinh Văn Hảo, 1964

159. C.S, 1964

160. Lê Nông, 1964

161. L.K, 1964

162. K.O, 1965

163. Lê Ba, 1966

164. La lập, 1966

165. Nói Thật, 1966

166. Chiến Đấu, 1967

167. B

168. Việt Hồng, 1968

169. Đinh Nhất, 1968

NHỮNG TÊN GỌI, BÍ DANH, BÚT DANH CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH CẦN ĐƯỢC NGHIÊN CỨU THÊM

1.     U.L. Bút danh ký dưới bài viết đăng trên báo Người cùng khổ, năm 1922

2.     H.A. Bút danh ký dưới bài viết đăng trên báo Người cùng khổ, năm 1923

3.     Nguyễn Hữu Văn. Bút danh ký dưới bài viết đăng trên báo Công nhân Ba cu, năm 1927

4.     Nguyễn Hải Khách. Bí danh dùng năm 1924

5.     Diệu Hương. Bút danh ký dưới bài đăng báo Thanh niên, năm 1926

6.     T.V. Bí danh dùng khi ở Hương Cảng

7.     Wau you. Bí danh dùng khi ở Hương Cảng

8.     Nguyễn Lai. Bí danh dùng khi hoạt động ở Thái Lan

9.     Chính. Bí danh dùng khi hoạt động ở Thái Lan

10.   Tín. Bí danh dùng khi hoạt động ở Thái Lan

11.  Vương Bạc Nhược. Bí danh dùng khi hoạt động ở Quảng Châu, Trung Quốc, năm 1925

12. Đ.L.Đ. Bút danh ký dưới bài viết đăng trên báo Cứu quốc

13. T.R. Bút danh ký dưới bài viết đăng trên báo Cứu quốc

14. H.L. Bút danh ký dưới bài viết đăng trên báo Nhân dân

15. H.C. Bút danh ký dưới bài viết đăng trên báo Nhân dân

16. L. Bút danh ký dưới bài viết năm 1959

17. Lê Đinh. Ký trong một số bức điện gửi ra nước ngoài

………………………….

Theo “Những tên gọi, bí danh, bút danh của Chủ tịch Hồ Chí Minh,”

Bảo tàng Hồ chí Minh, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, năm 2001

HOÀNG ANH TUẤN

bachovoihue.com

Bác Hồ – cha của chúng con

Thật hiếm đôi vợ chồng nào trong cả nước có vinh dự, hạnh phúc nhiều lần được trực tiếp gặp Bác, bảo vệ Bác, được báo cáo với Bác, được nghe Bác trò chuyện, khuyên bảo, được Bác chụp ảnh cùng, tặng kỷ vật, được ăn cơm với Bác, được túc trực bên linh cữu Bác như cựu chiến binh, đại tá Nguyễn Sáng, nguyên Tham mưu phó, Cục trưởng Cục Kinh tế Quân khu Ba cùng vợ là bà Lê Thị Định, nguyên đại biểu Quốc hội khoá II, Thường vụ Tỉnh uỷ, Phó chủ tịch UBND tỉnh Thái Bình. Qua những câu chuyện kể của ông Sáng, bà Định, chúng ta càng hiểu thêm và học tập được nhiều bài học về tấm gương đạo đức sáng ngời của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Sao đời mình lại có may mắn lạ kỳ
Đại tá Nguyễn Sáng kể

Ngày 10-1-1946, tôi được đồng chí Nguyễn Văn Nam – Chính trị viên, đồng chí Nguyễn Văn Bắc – Chi đội trưởng Chi đội 3 Giải phóng quân thị xã Thái Bình giao nhiệm vụ huy động lớp đào tạo tiểu đội trưởng cùng với bộ phận cảnh vệ Uỷ ban hành chính kháng chiến tỉnh Thái Bình bảo vệ Bác và Chính phủ về thăm đê Đìa Hưng Nhân bị vỡ.

Không hiểu thế nào từ trưa, nhân dân thị xã đã chờ sẵn ở cổng. Khoảng 15h, Bác và các thành viên Chính phủ về tới Uỷ ban hành chính kháng chiến tỉnh. Đồng chí Bùi Đăng Chi – Trưởng ban Tuyên huấn tỉnh “khẩn cấp” yêu cầu tôi chuẩn bị một chiếc bàn, chiếc ghế để Bác nói chuyện. Tôi cùng mấy đồng chí học viên lớp tiểu đội trưởng vào khênh chiếc bàn to cùng chiếc ghế đặt giữa cổng để Bác nói chuyện. Kê bàn xong thì Bác tới, tôi được đứng liền ngay sau Bác. Tất cả cán bộ, nhân dân trật tự lắng nghe từng lời Bác căn dặn. Nhìn Bác, vị Chủ tịch nước bộn bề công việc của người đứng đầu chính quyền cách mạng non trẻ, vẫn vượt đường xa về chia sẻ những thiệt hại do thiên tay gây ra với nhân dân Thái Bình, tình cảm tôi cứ trào dâng, nước mắt cứ tự nhiên chảy ra, “quên” cả nhiệm vụ bảo vệ. Một thanh niên mới trở thành anh bộ đội được một năm, tôi đã được gặp và bảo vệ Bác kính yêu.

Chỉ cần một lần được đứng cạnh Bác đủ để nhớ suốt đời, nhưng đâu ngờ ba tháng sau, tôi được bảo vệ Bác. Lần này gần hơn, lâu hơn!

Đó là ngày 28-4-1946, như đã hứa, Bác về thăm đê Đìa khi đê đắp xong. Tôi lại được đồng chí Nguyễn Văn Bắc giao cho khẩu súng ngắn Pạc-khoọc để làm nhiệm vụ bảo vệ Bác cùng với các đồng chí cận vệ. Tôi mặc quần soóc, đội mũ ca lô. Khoảng 9h Bác lên gác hai của Hội trí – thể dục (Sân vận động Thái Bình ngày nay) nói chuyện với hai cố đạo người Tây. Tôi đứng ngay sau ghế của Bác để bảo vệ Bác. Sau đó đồng chí Nguyễn Văn Ngọ – Bí thư Tỉnh uỷ Thái Bình mời Bác ra ban công nói chuyện với nhân dân. Lần này Bác về, sáng sớm dòng người đón Bác từ 12 phủ, huyện như trảy hội, kín cả sân bãi rộng. Cờ, băng, biển, biểu ngữ đủ màu sắc rợp trời. Tiếng hoan hô: “Cụ Hồ muôn năm!” vang như sấm dậy. Trời nắng và nóng, tôi được đồng chí Ngô Lãng – Phó ban Tuyên truyền tỉnh giao “thêm” nhiệm vụ cầm ô che cho Bác. Che cho Bác được mấy phút, đang nói, Bác quay lại nhắc tôi: “Chú che cho cụ Huỳnh!”. Tôi đáp: “Vâng ạ!”. Nhưng tôi vẫn chỉ che cho Bác. Một hai phút sau, Bác lại quay lại nhắc, lần này kiên quyết hơn: “Bác đã bảo chú che cho cụ Huỳnh!”. Tôi liền đứng vào giữa (ở phía sau) để che ô cho Bác và cả cụ Huỳnh Thúc Kháng. Hôm đó, Bác nhắc nhở cán bộ, nhân dân Thái Bình phải cố gắng hơn nữa để chiến thắng “giặc đói, giặc dốt” và bảo vệ chính quyền cách mạng.

Với tấm lòng biết ơn vô hạn, tỏ quyết tâm thực hiện lời kêu gọi của Bác, nhân dân Thái Bình biếu Bác một buồng chuối, quả bí đao, quả bí ngô và mười củ khoai lang to. Bác quay sang bảo tôi: “Chú bê quả bí lên cho đồng bào nhìn thấy quả bí ngô to”. Tôi liền bê quả bí lên ngang đầu mà không làm che Bác và cụ Huỳnh. Quả bí phải nặng tới chục cân. Tiếng hô: “Cụ Hồ muôn năm!” lại vang lên tưởng như không dừng nếu Bác không giơ tay lên cao vẫy chào tạm biệt.

Năm 1952, lúc đó tôi là Tham mưu trưởng “Mặt trận 5” được giao phụ trách 7 đồng chí cùng lên chiến khu Việt Bắc dự một lớp chỉnh huấn. Sau 15 ngày đường giao liên, chúng tôi đã có mặt ở khu vực Quán Vuông, huyện Sơn Dương ATK. Hôm khai mạc, cả lớp được đón Bác. Sau hai tháng học tập, trước khi lớp bước vào đợt “tự kiểm điểm”, “tổng tiến công vào chủ nghĩa cá nhân”, Bác đến động viên, quán triệt. Bàn nói chuyện của Bác đặt ở đỉnh đồi, học viên các tỉnh đứng xung quanh, đoàn Thái Bình ở xa đến sau nên phải đứng ở chân đồi cạnh đường mòn. Bỗng tự nhiên Bác xuất hiện ngay trước mặt, sau này tôi đoán ra chắc Bác nhìn thấy đoàn chúng tôi đều mặc quần áo nâu (các đoàn khác mặc nhiều màu như xanh, tím, vàng… vải ka-ki chiến lợi phẩm) nên Bác dừng lại trước đoàn Thái Bình và hỏi: “Các chú ở đâu?”. Tôi báo cáo: “Thưa Bác chúng cháu ở Khu tả ngạn vùng hậu địch”. Bác còn hỏi ra lâu chưa, có khoẻ không? Rồi tự nhiên Bác bảo đồng chí Hiệu trưởng Hồng Cương là Bác không lên đỉnh đồi mà sẽ đứng tại đây nói chuyện, cho anh em quay lại. Thế là tôi cùng 6 anh em Thái Bình được gần Bác nhất. Sau này các đoàn khác đùa vui bảo: “Thái Bình trâu chậm lại uống nước trong”. Tôi không hiểu sao đời mình lại có may mắn lạ kỳ đến thế!

Tôi không bao giờ nghĩ là mình sẽ được gặp Bác một lần nữa. Vậy mà hạnh phúc lại đến bất ngờ. Lúc đó tôi là Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn pháo binh 374 đóng ở Thậm Thình cách Đền Hùng 3 cây số. 3 giờ sáng ngày 18-8-1962, tôi nhận được công văn của đồng chí Nguyễn Khai – Uỷ viên Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương: “Đúng 7 giờ sáng nay (19-8) đồng chí Thủ trưởng Lữ đoàn lên đền Hùng làm việc và đón Bác vào thăm đơn vị”. Ngay lập tức, tôi triệu tập Đảng uỷ lữ đoàn, các ban chỉ huy tiểu đoàn họp khẩn cấp bàn kế hoạch đón Bác. Cả đơn vị vừa phấn khởi, vừa “cuống” cả lên! Đêm đó tôi viết đi viết lại báo cáo với Bác mà không biết báo cáo những nội dung gì. Đúng giờ, lên đền Thượng, tôi đã thấy phái đoàn ngồi quanh Bác trên chiếc chiếu hoa trước cửa đền. Đồng chí Nguyễn Khai giới thiệu và nhường tôi ngồi cạnh Bác. Bác nói luôn: “Có gói mứt chuối đặc sản Phú Thọ, Bác cho chú, chú ăn ngay đi, ngon lắm đấy!”. Rồi Bác hỏi vui: “Lữ đoàn là cái gì hở chú?”. Tôi bối rối đành trả lời Bác: “Thưa Bác, lữ đoàn bé hơn sư đoàn và lớn hơn trung đoàn ạ”. Bác cười rất vui và bảo: “Chú này láu cá, láu cá”. Bên tháp cổ tôi tranh thủ báo cáo kế hoạch đón Bác với đồng chí Nguyễn Khai. Tôi nhìn vào thấy Bác nằm nơi cửa Đền Hùng giản dị trong quần áo nâu nhạt màu, gối lên chiếc khăn bông, chiếc khăn mặt đặt trên trán. Tự nhiên nước mắt cứ trào ra.

Bác vào đơn vị, thăm doanh trại, nơi ăn ở, Bác hỏi tôi: “Bếp của đơn vị chú ngày nào cũng sạch bóng như thế này à?”. Tôi lúng túng, đồng chí Nguyễn Khai đỡ lời: “Thưa Bác chắc các chú có sự chuẩn bị chu đáo hơn để đón Bác”. Bác nhìn tôi đầy tình cảm vị tha. Trên đường đến “lễ đài” có một chiến sĩ báo cáo rất to: “Báo cáo thủ trưởng: C12 đang hành quân cấp tốc chưa về kịp”. Biết thế, Bác bảo tôi dừng lại chỗ cây si rất đẹp, cành lá sum xuê. Bác cầm tay tôi rồi nói: “Bác cháu ta ngồi xuống đây nghỉ một lát, chờ đơn vị đang về, nhân thể chú xem còn vấn đề gì lát nữa Bác nói chuyện với đơn vị”. Tất cả những điều tôi báo cáo, Bác đều nhắc nhở đồng chí Nguyễn Khai ghi lại. Nói chuyện với đơn vị xong, Bác đã ghi vào sổ vàng truyền thống những dòng chữ sáng rõ, nghĩa tình: “Luôn luôn cố gắng học tập, cố gắng lao động sản xuất, luôn luôn sẵn sàng chiến đấu bảo vệ cách mạng, bảo vệ Tổ quốc. Chúc các cháu vui vẻ, mạnh khoẻ, đoàn kết, tiến bộ” – Bác Hồ 19-8-1962.

Cây bút Pác-ke mà đại tá Sáng đưa Bác ghi những dòng lưu niệm trên, đại tá đã giữ suốt 2 cuộc kháng chiến và suốt 30 năm. Đầu năm 1999, Bộ Tư lệnh pháo binh đã cử người về xin nhận chiếc bút đưa vào Bảo tàng lịch sử Binh chủng Pháo binh.

“Bác cho cô Định cái gậy này…”
Đồng chí Lê Thị Định kể

Cuộc đời phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân của tôi đã hai lần vinh dự trực tiếp được gặp Bác, lần nào cũng ghi tạc trong lòng.

Một ngày cuối tháng 2-1967, đang ở khu sơ tán xã Đông Hoàng, huyện Đông Hưng, Thái Bình, tôi được điện về ngay Tân Hoà, Vũ Thư họp Thường vụ Tỉnh uỷ bất thường. Đang có chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ, không hiểu họp gì, nhưng sao tôi cảm thấy rất vui. Sau khi thông báo việc chuẩn bị đón Bác về thăm Thái Bình, đồng chí Ngô Duy Đông – Bí thư Tỉnh uỷ và tôi lúc đó là Phó chủ tịch tỉnh được giao nhiệm vụ đón Bác tại bến phà Triều Dương. Xe của chúng tôi sang được bến Hưng Yên thì đồng chí Vũ Kỳ cho biết xe của Bác đã xuống phà và đồng chí dẫn chúng tôi xuống chào Bác. Bác bắt tay chúng tôi thân mật. Đồng chí Bí thư Tỉnh uỷ mời Bác về cơ quan Tỉnh uỷ sơ tán tại xã Tân Hoà, Vũ Thư (nay trở thành khu lưu niệm về Bác). Xe đến bến đò Cống Vực, chúng tôi mời Bác xuống ca-nô. Nhìn thấy Bác, đồng chí lái ca-nô ngồi thụp xuống. Bác biết đồng chí cảm động liền hỏi: “Chú lái ca-nô này à?”. Chúng tôi đáp lời vì đồng chí ấy không dám đứng trước Bác. Bác nói ngay: “Bác cho phép, chú lái ca-nô đi”. Tới gần bờ, ca-nô không vào được, chúng tôi chuẩn bị ca-nô lúc nước lớn, khi Bác qua là ban đêm, nước xuống. Mọi người rất lo, nhất là đang thời kỳ “chiến tranh phá hoại của Mỹ”. Đồng chí Ngô Duy Đông đành mời Bác xuống thuyền. Thuyền đến bờ, tôi cùng đồng chí Tố Hữu đi hai bên đưa Bác lên đê. Bác hỏi tôi: “Cô Định cho Bác biết còn lối nào đi lý thú hơn”. Đồng chí Tố Hữu nhắc tôi: “Bác phê bình đấy!”. Đến bây giờ, chúng tôi vẫn chưa hết suy nghĩ về việc chuẩn bị chưa kỹ lưỡng.

Về đến xã Tân Hoà, trong bữa cơm, Bác ăn cơm nắm mang theo từ Hà Nội. Tôi cứ nài nỉ Bác ăn bát cơm nóng và xin Bác miếng cơm nắm. Bác nói: “Bác ăn cơm nắm quen rồi”. Biết tình cảm của chúng tôi, Bác cho một miếng cơm nắm. Tôi bẻ đôi đưa cho đồng chí Bí thư Tỉnh uỷ một nửa. Bác thấy tôi thích món dưa chua, Bác hỏi: “Cô Định ăn dưa chua có ngon không?”. Tôi đáp: “Thưa Bác ngon ạ!”. Bác cười trìu mến và nói: “Dưa Bác đưa từ Hà Nội về đấy!”. Bữa cơm giản dị nhưng ấm áp tình cha con thân thiết vô cùng. Sau bữa ăn, Bác kể chuyện đi Pháp, Anh, Ấn Độ. Bác hỏi tình hình tỉnh, đồng chí Bí thư Tỉnh uỷ, đồng chí Chủ tịch UBND tỉnh báo cáo với Bác. Nghe xong Bác lần lượt hỏi chuyện từng đồng chí cán bộ tỉnh. Bác hỏi tôi: “Cô Định làm việc gì?”. “Dạ thưa Bác, cháu phụ trách tài chính, thương nghiệp ạ!”. “Cô có sợ thiếu hàng không?”. “Thưa Bác cháu thấy khó khăn lắm!”. Bác dặn dò ngay: “Hàng ít nhưng cốt sao phân phối cho công bằng hợp lý”. Bác còn hỏi toàn tỉnh có bao nhiêu phụ nữ tham gia chính quyền. Nghe tôi báo cáo xong, Bác gợi ý: “Cô có báo cáo gì với Bác không?”. Tôi suy nghĩ và mạnh dạn thưa: “Chị em phụ nữ còn vất vả lắm mà vẫn bị chồng đánh ạ!”. Tôi vừa nói xong, nét mặt Bác buồn hẳn, nghiêm lại, rồi Bác nhắc nhở: “Bác giao cho các đồng chí là phải giáo dục toàn Đảng, toàn dân tuân theo pháp luật, đánh vợ là phạm pháp, là dã man. Trên thế giới người ta tôn trọng phụ nữ lắm. Đồng chí Lê-nin cũng nói: “Phụ nữ là nửa dân số của xã hội, nếu phụ nữ không được giải phóng thì nửa dân số chưa được giải phóng…”. Đêm đó Bác làm việc tới tận 1 giờ sáng, các đồng chí lãnh đạo tỉnh phải mời Bác đi ngủ. Sáng hôm sau, Bác dậy rất sớm, tay xách đèn bão bước ra nhà ngoài. Bác nói: “Năm mới Bác chúc Tết các đồng chí”. Chúng tôi rất cảm động, lẽ ra chúng tôi đến chúc Tết Bác trước mới phải. Đúng là sự bao dung của một lãnh tụ, của một người cha.

Sáng hôm sau, trên đường đến đình Phương Cáp nói chuyện với nhân dân, qua chiếc cầu tre, Bác nhắc nhở chúng tôi phải lưu ý cầu cống, đường sá cho dân đi lại an toàn. Đồng chí Bí thư Tỉnh uỷ giới thiệu Bác với nhân dân, Bác nói ngay: “Bác mà chú còn phải giới thiệu cơ à?”. Hôm đó Bác nói chuyện về sản xuất nông nghiệp, về trồng cây, nuôi cá. Bác hỏi đồng chí Chủ tịch tỉnh: “Thái Bình đã trồng được bao nhiêu cây?” Đồng chí Chủ tịch báo cáo mỗi người trồng đựơc 12 cây, Bác lại hỏi: “Cây thì chú tính thế nào, vì có nơi tính cả cây muồng muồng cho nhiều!”. Cả hội trường cười vang. Bác lại hỏi Thái Bình nuôi cá thế nào. Đồng chí Bí thư trả lời: “Chúng cháu đã làm…” Bác nhắc nhở ngay: “Chú nói cụ thể chứ nói đã và đang thì dễ thôi”. Rồi Bác động viên khen ngợi các cụ phụ lão, khen xã Hợp Hoà, HTX Tân Phong xã Việt Hùng sản xuất giỏi. Cuối cùng Bác hỏi vui: “Nghe nói Thái Bình vẫn còn tệ đánh vợ. Ngồi ở đây có chú nào đánh vợ thì dũng cảm giơ tay lên”. Cả hội trường im lặng. Thấy thế đồng chí Đào Ngọc Chế – Phó chủ tịch tỉnh liền đáp: “Thưa Bác, không dám đánh mà chỉ kỳ kèo thôi ạ!”. Bác nghiêm lại rồi nói thêm: “Kỳ kèo rồi đi đến chỗ bạt tai chứ gì?”. Cả hội trường vỗ tay vang dội.

Lần thứ hai tôi được gặp Bác là vào đầu năm 1969, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ Thái Bình lại được Ban Bí thư cho lên báo cáo với Bác kế hoạch chuẩn bị đại hội đảng bộ. Nghe báo cáo xong, Bác hỏi về tình hình mọi mặt, rồi đột ngột Bác hỏi tôi: “Riêng tệ đánh vợ Bác hỏi cô Định, Thái Bình đã giảm chưa”. Tôi không ngờ bận trăm công ngàn việc của đất nước đang trong thời chiến mà Bác vẫn nhớ câu chuyện Bác về Thái Bình mấy năm trước. Tôi liền thưa với Bác là Thái Bình có sự chuyển biến, tiến bộ hơn. Nghe xong, Bác liền chỉ vào cây gậy và nói: “Bác cho cô Định cái gậy này để trừng trị những ai đánh vợ”. Và thật không ngờ, đây là lần cuối cùng tôi được ngồi bên Bác. Mấy tháng sau Người đã đi xa…
Sau này, chiếc gậy mà Bác cho đã được chuyển về và đặt vào bảo tàng tỉnh Thái Bình.

Những giây phút được túc trực bên linh cữu Người
Đại tá Nguyễn Sáng kể

Theo Chỉ thị của Quân uỷ Trung ương, Quân khu Đông Bắc được cử các cán bộ cao cấp về Hà Nội chịu tang Bác. Chúng tôi được Ban tang lễ phân công mỗi người 2 ca trực, mỗi ca 15 phút bên linh cữu Bác. Ban tang lễ quy định khi “làm nhiệm vụ” không được khóc thành tiếng. Bên ngoài Hội trường Ba Đình, các đoàn đại biểu xếp hàng kín cả sân trước, còn nhân dân cứ nối hàng suốt đêm ngày qua lễ đài viếng Bác. Mưa gió tầm tã mà không một ai mặc áo mưa. Vào ca trực 22h đêm, một bên là cụ Phan Văn Bạch – Chánh toà án tối cao, một bên là tôi. Cụ Bạch xúc động quá, chỉ đứng được mấy phút. Còn tôi cứ phải cắn chặt răng lại nhất là khi thấy các cháu thiếu nhi khóc lóc thảm thiết, nước mắt tôi tuôn trào suốt ca trực, ướt cả vạt áo trước ngực. Đến phiên trực lần thứ hai, 2h sáng tôi và đồng chí Tư lệnh hải quân Nguyễn Bá Phát trực. Đồng chí Phát trực được 5 phút, khẩu súng trường vẫn trong tay và người cứ khuỵ dần xuống. Còn tôi lúc đó cảm thấy “như là không trọng lượng”. Tuy vẫn tỉnh nhưng mắt tôi không còn trông rõ gì nữa. Nước mắt vẫn tuôn chảy ướt đẫm áo ngực. Xong 15 phút trực, tôi không chủ động xách khẩu súng trường được nữa. Một đồng chí trong ban tổ chức tang lễ đã đến xách giúp tôi. Đó là lần thứ 5 tôi may mắn được bên Người và cũng là lần đưa tiễn Bác – Người cha của toàn thể dân tộc đi xa…

Theo Tạp chí Xây dựng Đảng online

hcmpc.com.vn

Những lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đạo đức (kỳ 2)

Cần

Tức là siêng năng, chăm chỉ, cố gắng dẻo dai…

Tục ngữ ta có câu: nước chảy mãi, đá cũng mòn. Kiến tha lâu cũng đầy tổ.
Nghĩa là Cần thì việc gì, dù khó khăn mấy, cũng làm được.

Dao siêng mài thì sắc bén. Ruộng siêng làm cỏ thì lúa tốt. Điều đó rất dễ hiểu.

Siêng học tập thì mau biết.

Siêng nghĩ ngợi thì hay có sáng kiến.

Siêng làm thì nhất định thành công. Siêng hoạt động thì sức khỏe.

Chữ Cần chẳng những có nghĩa hẹp, như: Tay siêng làm thì hàm siêng nhai. Nó lại có nghĩa rộng là mọi người đều phải Cần, cả nước đều phải Cần.

Người siêng năng thì mau tiến bộ.
Cả nhà siêng năng thì chắc ấm no.
Cả làng siêng năng thì làng phồn thịnh.
Cả nước siêng năng thì nước mạnh giàu.

Muốn cho chữ Cần có nhiều kết quả hơn, thì phải có kế hoạch cho mọi công việc. Nghĩa là phải tính toán cẩn thận, sắp đặt gọn gàng…

Cần không phải là làm xổi. Nếu làm cố chết cố sống trong một ngày, một tuần, hay một tháng, đến nỗi sinh ốm đau, phải bỏ việc. Như vậy không phải là Cần.

Cần là luôn luôn cố gắng, luôn luôn chăm chỉ, cả năm cả đời. Nhưng không làm quá trớn. Phải biết nuôi dưỡng tinh thần và lực lượng của mình, để làm việc cho lâu dài.

Lười biếng là kẻ địch của chữ Cần.

Vì vậy, lười biếng cũng là kẻ địch của dân tộc.

Một người lười biếng, có thể ảnh hưởng tai hại đến công việc của hàng nghìn hàng vạn người khác…

… Nếu có một người, một địa phương hoặc một ngành mà lười biếng, thì khác nào toàn chuyến xe chạy, mà một bánh xe trật ra ngoài đường ray. Họ sẽ làm chậm trễ cả chuyến xe.

Vì vậy, người lười biếng là có tội lỗi với đồng bào, với Tổ quốc…

Kiệm

Kiệm là thế nào?

Là tiết kiệm, không xa xỉ, không hoang phí, không bừa bãi.

Cần với Kiệm, phải đi đôi với nhau như hai chân của con người.

Cần mà không Kiệm, “thì làm chừng nào xào chừng ấy”. Cũng như một cái thùng không có đáy; nước đổ vào chừng nào, chảy hết ra chừng ấy, không lại hoàn không.

Kiệm mà không Cần, thì không tăng thêm, không phát triển được. Mà vật gì không tiến tức phải thoái. Cũng như cái thùng chỉ đựng một ít nước, không tiếp tục đổ thêm vào, lâu ngày chắc nước đó sẽ hao bớt dần, cho đến khi khô kiệt.

… Tiết kiệm không phải là bủn xỉn.

Khi không nên tiêu xài thì một đồng xu cũng không nên tiêu. Khi có việc đáng làm, việc ích lợi cho đồng bào, cho Tổ quốc, thì dù bao nhiêu công, tốn bao nhiêu của, cũng vui lòng. Như thế mới đúng là kiệm.

Việc đáng tiêu mà không tiêu, là bủn xỉn, chứ không phải là kiệm.

Tiết kiệm phải kiên quyết không xa xỉ.

Việc đáng làm trong 1 giờ, mà kéo dài 2, 3 giờ, là xa xỉ.

Hao phí vật liệu, là xa xỉ.

Ăn sang mặc đẹp trong lúc đồng bào đang thiếu cơm, thiếu áo, là xa xỉ…
Vì vậy xa xỉ là có tội với Tổ quốc, với đồng bào.

Liêm

Liêm là trong sạch, không tham lam.

Ngày xưa, dưới chế độ phong kiến, những người làm quan không đục khoét dân, thì gọi là Liêm, chữ Liêm ấy chỉ có nghĩa hẹp.

Cũng như ngày xưa trung là trung với vua. Hiếu là hiếu với cha mẹ mình thôi.

Ngày nay, nước ta là Dân chủ Cộng hòa, chữ Liêm có nghĩa rộng hơn; là mọi người đều phải Liêm. Cũng như Trung là trung với Tổ quốc; hiếu là hiếu với nhân dân; ta thương cha mẹ ta, mà còn phải thương cha mẹ người, phải làm cho mọi người đều biết thương cha mẹ.

Chữ Liêm phải đi đôi với chữ Kiệm. Cũng như chữ Kiệm phải đi đôi với chữ Cần.

Có Kiệm mới Liêm được. Vì xa xỉ mà sinh tham lam…

Chính

Chính nghĩa là không tà, nghĩa là thẳng thắn, đứng đắn. Điều gì không đứng đắn, thẳng thắn, tức là tà.

Cần, Kiệm, Liêm, là gốc rễ của Chính. Nhưng một cây cần có gốc rễ, lại cần có ngành, lá, hoa, quả mới là hoàn toàn. Một người phải Cần, Kiệm, Liêm nhưng còn phải Chính mới là người hoàn toàn.

Trên quả đất, có hàng muôn triệu người. Song số người ấy có thể chia làm hai hạng: người Thiện và người Ác.

Trong xã hội, tuy có trăm công, nghìn việc. Song những công việc ấy có thể chia làm hai thứ: việc Chính và việc Tà.

Làm việc Chính, là người Thiện.

Làm việc Tà, là người Ác.

Siêng năng (cần), tần tiện (kiệm), trong sạch (liêm), Chính là Thiện.
Lười biếng, xa xỉ, tham lam, là tà, là ác…

Cần kiệm liêm chính,
tháng 6-1949, sđd, t.5,tr.632-643
(Nguồn: Báo điện tử Cần Thơ)

dalat.gov.vn

Những lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đạo đức (kỳ 1)

LTS: Chủ tịch Hồ Chí Minh là người sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện Đảng ta. Sinh thời, mỗi bài nói, bài viết, một lời căn dặn, một buổi gặp gỡ, công tác của Người đều chứa đựng những ý nghĩa tư tưởng, hành vi và quan hệ đạo đức cách mạng sáng ngời. Con người, cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Người là tấm gương đạo đức cho toàn Đảng, toàn dân ta học tập suốt đời.

Để góp phần đẩy mạnh cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, chúng tôi xin lần lượt giới thiệu đến bạn đọc những nội dung trong quyển sách Một số lời dạy và mẩu chuyện về tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Sách do Ban Tư tưởng – Văn hóa Trung ương phối hợp với Nhà xuất bản Chính trị quốc gia xuất bản.

I. QUAN ĐIỂM CHUNG CỦA CHỦ TỊCH HÔ CHÍ MINH VỀ ĐẠO ĐỨC

1. a) Nhân là thật thà thương yêu, hết lòng giúp đỡ đồng chí và đồng bào. Vì thế mà kiên quyết chống lại những người, những việc có hại đến Đảng, đến nhân dân. Vì thế mà sẵn lòng chịu cực khổ trước mọi người, hưởng hạnh phúc sau thiên hạ. Vì thế mà… không e cực khổ, không sợ oai quyền.

Những người đã… không e, không sợ gì thì việc gì phải họ đều làm được.
b) Nghĩa là ngay thẳng, không có tư tâm, không làm việc bậy, không có việc gì phải giấu Đảng. Ngoài lợi ích của Đảng, không có lợi ích riêng phải lo toan. Lúc Đảng giao cho việc, thì bất kỳ to nhỏ, đều ra sức làm cẩn thận. Thấy việc phải thì làm, thấy việc phải thì nói. Không sợ người ta phê bình mình, mà phê bình người khác cũng luôn luôn đúng đắn.

c) Trí vì không có việc tư túi nó làm mù quáng, cho nên đầu óc trong sạch, sáng suốt. Dễ hiểu lý luận. Dễ tìm phương hướng. Biết xem người. Biết xét việc. Vì vậy, mà biết làm việc có lợi, tránh việc có hại cho Đảng, biết vì Đảng mà cất nhắc người tốt, đề phòng người gian.

d) Dũng là dũng cảm, gan góc, gặp việc phải có gan làm. Thấy khuyết điểm có gan sửa chữa. Cực khổ khó khăn, có gan chịu đựng. Có gan chống lại những sự vinh hoa, phú quý, không chính đáng. Nếu cần, thì có gan hy sinh cả tính mệnh cho Đảng, cho Tổ quốc, không bao giờ rụt rè, nhút nhát.

e) Liêm là không tham địa vị. Không tham tiền tài. Không tham sung sướng. Không ham người tâng bốc mình. Vì vậy mà quang minh chính đại, không bao giờ hủ hóa.

Chỉ có một thứ ham là ham học, ham làm, ham tiến bộ.

Đó là đạo đức cách mạng. Đạo đức đó không phải là đạo đức thủ cựu. Nó là đạo đức mới, đạo đức vĩ đại, nó không vì danh vọng của cá nhân, mà vì lợi ích chung của Đảng, của dân tộc, của loài người.

Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân. Vì muốn giải phóng cho dân tộc, giải phóng cho loài người là một công việc to tát, mà tự mình không có đạo đức, không có căn bản, tự mình đã hủ hóa, xấu xa thì còn làm nổi việc gì?

Sửa đổi lối làm việc,
Tháng 10-1947, Hồ Chí Minh toàn tập,
Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.5, tr. 251-253.
(Nguồn: Báo Điện tử Cần Thơ)

dalat.gov.vn