Archive | Tháng Ba 2012

Điện gửi Đại hội anh hùng, chiến sĩ thi đua và dũng sĩ các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam lần thứ hai (9-1967)

Kính gửi Đại hội anh hùng, chiến sĩ thi đua và dũng sĩ các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam Việt Nam lần thứ hai,

(Kính nhờ Chủ tịch Nguyễn Hữu Thọ chuyển tới Đại hội)

Nhân dịp các cô, các chú về họp Đại hội anh hùng, chiến sĩ thi đua và dũng sĩ các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam lần thứ hai, Bác gửi các cô, các chú những cái hôn thân ái nhất và nhiệt liệt khen ngợi các cô, các chú đã lập được nhiều thành tích xuất sắc trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Nǎm 1965, Đại hội anh hùng miền Nam lần thứ nhất là Đại hội đánh thắng “chiến tranh đặc biệt” của giặc Mỹ. Đại hội anh hùng lần này là Đại hội của những người sẽ đánh thắng “chiến tranh cục bộ” của chúng, thực hiện Cương lĩnh chính trị của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam.

Hơn hai mươi nǎm nay, đồng bào và chiến sĩ miền Nam anh hùng phát huy truyền thống quật cường, bất khuất của dân tộc, đã chiến đấu vô cùng anh dũng và bền bỉ, vượt mọi gian khổ, hy sinh, quyết giành lại độc lập, tự do.

Là tinh hoa của dân tộc, các anh hùng, chiến sĩ thi đua và dũng sĩ các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam đã nêu cao tinh thần trung với nước, hiếu với dân, dũng cảm, mưu trí, khiêm tốn, giản dị, thương yêu, giúp đỡ lẫn nhau, khó khǎn không ngại, gian khổ không sờn, quyết hoàn thành mọi nhiệm vụ cứu nước, góp phần vào sự nghiệp cách mạng vẻ vang của dân tộc ta.

Miền Nam nước ta có những anh hùng, chiến sĩ và dũng sĩ xuất sắc là vì có đường lối, chính sách đúng đắn của Mặt trận, có những tập thể anh hùng, có nhân dân miền Nam anh hùng, có dân tộc Việt Nam anh hùng. Bác nhắc các cô, các chú chớ vì thắng lợi mà chủ quan, khinh địch, trái lại cần ra sức phát huy ưu điểm, khắc phục khuyết điểm, làm đầu tầu dẫn dắt mọi người tiến lên lập nhiều chiến công mới rực rỡ.

Giặc Mỹ đã thua to, nhưng chúng còn ngoan cố, chưa từ bỏ âm mưu xâm lược miền Nam, bắn phá miền Bắc, chia cắt lâu dài Tổ quốc ta. Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của toàn dân ta còn gặp nhiều khó khǎn, gian khổ, nhưng nhân dân ta nhất định sẽ đánh thắng giặc Mỹ xâm lược và bè lũ tay sai, giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, tiến tới thực hiện hoà bình thống nhất Tổ quốc.

Bác tin chắc rằng dưới ngọn cờ vẻ vang của Mật trận dân tộc giải phóng, đồng bào và chiến sĩ miền Nam, với tinh thần anh dũng và kinh nghiệm phong phú của mình, sẽ giành được nhiều thắng lợi to lớn hơn nữa, đưa sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước đến thắng lợi hoàn toàn.

Chào thân ái và quyết thắng

Tháng 9 nǎm 1967
Bác Hồ

—————

Báo Nhân dân, số 4934, ngày 14-10-1967.
cpv.org.vn

Bác Hồ với sự nghiệp giáo dục, khuyến học – khuyến tài

(Dân trí) – Nhân dịp kỷ niệm 118 năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chúng tôi xin trân trọng giới thiệu những câu nói của Người về sự nghiệp giáo dục và khuyến học, khuyến tài.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đặt nền móng và xây dựng nền giáo dục dân chủ mới. Sinh thời, Người đã từng nói: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành…”. Dưới đây, chúng tôi xin trân trọng giới thiệu những câu nói của Người về sự nghiệp giáo dục và khuyến học, khuyến tài.

* Đồng bào bây giờ phải biết chữ hết để trả lời cho thế giới biết nước ta là nước văn minh, ai cũng biết chữ.

(Bài nói chuyện với các đại biểu thân sĩ trí thức, phú hào tỉnh Thanh Hoá. Ngày 20/2/1947. Hồ Chí Minh toàn tập, t.5, tr.60).

* Biết chữ, biết tính, thì làm việc gì cũng dễ dàng hơn. Một người không biết chữ, biết tính thì như nửa mù, nửa quáng. Biết rồi ta học thêm.

(Đời sống mới. 1947. Hồ Chí Minh toàn tập, t.5, tr.99)

* Người có học mới có tiến bộ. Càng học càng tiến bộ.

(Đời sống mới. 1947. Hồ Chí Minh toàn tập, t5, tr99)

* Nếu không học tập văn hoá, không có trình độ văn hoá thì không học tập được kỹ thuật, không học tập được kỹ thuật thì không theo kịp được nhu cầu kinh tế nước nhà; Nhưng phải chú ý học tập chính trị vì nếu chỉ học văn hoá, kỹ thuật mà không có chính trị thì như người nhắm mắt mà đi.

(Nói chuyện tại Đại hội Liên hoan Thanh niên tích cực ngành Đường sắt ngày 25/7/1956. Hồ Chí Minh toàn tập, t.8, tr.221)

* Trình độ văn hoá của nhân dân nâng cao sẽ giúp chúng ta đẩy mạnh công cuộc khôi phục kinh tế, phát triển dân chủ. Nâng cao trình độ văn hoá của nhân dân cũng là một việc cần thiết để xây dựng nước ta thành một nước hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh.

(Thư gửi đồng bào đã thanh toán nạn mù chữ. Ngày 21/12/1956. Hồ Chí Minh toàn tập. t.8, tr.281)

* Ý thức làm chủ không phải chỉ tỏ rõ ở tinh thần hăng hái lao động, mà còn phải tỏ rõ ở tinh thần say mê học tập để không ngừng nâng cao năng lực làm chủ của mình.

(Học tập không mỏi, cải tiến không ngừng, Báo Nhân dân, ngày 14/3/1960. Hồ Chí Minh toàn tập, t.10, tr.105).

dantri.com.vn

Gặp người 2.555 ngày đêm bảo vệ Hồ Chủ tịch

(Dân trí) – Cho đến bây giờ, nhớ lại 7 năm vinh dự được cận kề bên Bác, cụ Nguyễn Tùng vẫn không khỏi bồi hồi xúc động: “Bảo vệ Bác Hồ là bảo vệ cả Tổ quốc, bảo vệ cả giang sơn đất nước thời bấy giờ. Vinh dự ấy tôi không thể nào quên…”.

Cụ Nguyễn Tùng sinh năm 1926 ở Quỳnh Hậu, Quỳnh Lưu (Nghệ An). Năm nay đã bước qua tuổi 82, trí đã mỏi, thân đã mệt nhưng trong cụ vẫn sáng những kỷ niệm không thể phôi phai về khoảng thời gian 7 năm làm lính bảo vệ Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chúng tôi đến thăm cụ khi cả gia đình cụ đang quây quần quanh bàn thờ Bác, kỷ niệm 118 năm ngày sinh của Người.

“Cầu thang có mấy bậc?”

Cụ nhớ lại: “Đối với tôi, thời niên thiếu được làm nhiệm vụ bảo vệ Bác là một vinh dự lớn nhất đời người. Tôi xem đó là một công việc hết sức phải cẩn trọng, lớn lao”. Năm 1958 ấy, Bộ Công an được giao nhiệm vụ tuyển lựa hàng trăm thanh niên trên cả nước về làm nhiệm vụ bảo vệ Bác. Trong số ấy, cụ Tùng đã xuất sắc lọp vào tốp 19 người được lựa chọn để bảo vệ Bác.

Cụ kể, bảo vệ Bác phải hết sức cẩn trọng, chú ý từng hành động, lời ăn tiếng nói, giờ giấc làm việc… của Bác. Khi Bác làm việc, tuyệt đối không gây một tiếng động, không thốt một câu nói.

“Lo lắm chứ, Bác là lãnh tụ mà”, cụ Tùng chia sẻ. Cụ vẫn nhớ những buổi sáng theo sát bước chân Bác khi Người đi tập thể dục. Thời tiết khô ráo thì đi ngay sau Bác, trời mưa thì đi song song bên Bác, kịp đỡ khi Bác trượt chân. Khi Bác làm việc, cụ ngồi ngay dưới chân cầu thang, để Bác cần là có mặt.

Người bảo vệ Bác năm xưa vẫn nhớ một mẩu đối thoại cùng Bác, giản dị thôi nhưng nhắc cụ phải luôn quan sát, chú ý đến sự vật xung quanh. Bác hỏi: “Chú Tùng, chú ngồi ở cầu thang đây đã lâu chưa?”. “Cũng lâu rồi ạ”. “Thế chú có biết chiếc cầu thang này có mấy bậc không?”. Cụ Tùng ấp úng: “Dạ thưa Bác… cháu… không biết ạ”. “.

Bác về thăm làng gốm Bát Tràng. (Ảnh do cụ Nguyễn Tùng cung cấp)

“Dân còn rét Bác không thể ấm một mình”

Một câu chuyện cảm động khác mà cụ Tùng vẫn nhớ. “Đó là hồi cuối năm 1959, rét cắt da cắt thịt. Trong giờ nghỉ giải lao cuộc họp Bộ Chính trị, anh Ba (đồng chí Lê Duẩn) vẫy tôi lại nói nhỏ “Tùng về mua một bếp sưởi điện đặt vào nơi làm việc để Bác Hồ đỡ rét”.

Lúc vào phòng làm việc, thấy cái bếp sưởi điện, bác gọi tôi hỏi. Khi biết đó là quyết định của Bộ Chính trị, bác im lặng không nói gì, nhưng khi tôi định mở lò thì Bác bảo: “Quyết định của tập thể Bác phải phục tùng, nhưng tập thể quyết đặt bếp chứ không quyết mở giờ nào nên mở hay không là quyền Bác”.

Hôm sau tôi báo cáo với anh Ba, anh phàn nàn: “Thế Tùng không có cách gì mở à?”. Tôi nghĩ được một mẹo. Tối đó, Bác đang làm việc thì tôi lên: “Thưa Bác, cháu rét lắm ạ”. Bác mỉm cười độ lượng: “Rét thì mở lò mà sưởi”. Tôi thích chí vì mẹo của mình đã đạt. 30 phút sau, Bác hỏi: “Chú Tùng thấy ấm đủ chưa?”. Tôi lúng túng: “Thưa Bác đủ rồi ạ”. “Đủ thì đi làm nhiệm vụ”. Tôi vội đi xuống, Bác cũng tắt luôn lò sưởi.

Sáng hôm sau, giờ tập thể dục, Bác bảo: “Cái bếp lò vướng lắm, Bác đi lại không thoải mái”. Tôi báo cáo anh Ba, anh đành trực tiếp gặp Bác đề đạt nguyện vọng đặt lò sưởi vì lo cho sức khoẻ cuả Bác. Bác ôn tồn: “Bác cảm ơn Bộ Chính trị, cảm ơn sự quan tâm của dân của Đảng, Bác biết mở ra thì ấm, nhưng hiện nay toàn dân đang rét, Bác không thể ấm một mình. Hơn nữa, điện đang rất cần cho nông nghiệp, công nghiệp, các cơ sở sản xuất đều thiếu điện nhiều lắm, mình phải biết tiết kiệm. Bao giờ Bắc Nam thống nhất, nhân dân cả nước đều ấm, lúc đó Bác sẽ sưởi”.

Cụ Tùng dừng câu chuyện, toàn bộ những người có mặt cùng rưng rưng nước mắt trước tình thương bao la, “hy sinh tất cả chỉ quên mình” của Bác.

Bác mừng sinh nhật bằng buổi kéo lưới cùng ngư dân

Gần đến ngày 19/5, biết trước chính quyền có ý định sẽ tổ chức sinh nhật cho mình, để tránh sự lãng phí khi đất nước còn chiến tranh, Bác bí mật dặn cụ Tùng chuẩn bị sẵn gạo cùng thức ăn để đi công tác. Nhưng Bác không nói cụ thể đi đâu, đi việc gì.

Sáng 18/5/1960, trước ngày sinh nhật Bác một ngày, mọi thứ đã chuẩn bị xong, Bác và chú Tùng cùng lên xe. Xe đưa 2 bác cháu đến Sầm Sơn (Thanh Hoá) nhưng lãnh đạo nơi đây không biết. Tại đây, Bác và người cận vệ vào nghỉ trong ngôi đền Độc Cước cạnh bãi biển; tự nấu cơm cùng ăn. Sau bữa cơm, Bác lại rủ chú Tùng vào một tiệm cơm gần bãi biển để xem bà con ở đây ăn uống thế nào.

Cụ Nguyễn Tùng sinh năm 1926, quê quán xóm 12, xã Quỳnh Hậu, huyện Quỳnh Lưu (Nghệ An).

Năm 1944, cụ tham gia kháng chiến, tham gia Việt Minh bí mật. Năm 1945, cụ tham gia cướp chính quyền… Ngày 20/8/1958, cụ Tùng được lựa chọn trong số 19 người về làm cận vệ cho Hồ Chủ tịch.

Hôm đó nhà hàng nấu cơm bị khê, mặc dù vậy, Bác vẫn bình thản ăn và còn dặn chú Tùng ăn cố để tránh lãng phí. Sáng 20/5, 2 bác cháu đi tắm biển, gặp nhóm ngư dân đang kéo lưới trên biển, 2 bác cháu cũng tích cực tham gia. Buổi hôm đó, không người ngư dân nào được biết mình vừa có vinh hạnh kéo lưới cùng vị Cha già của dân tộc.

Tối hôm đó, Bác nói cùng chú Tùng: Ở Sầm Sơn cơm nấu khê quá, ăn không được thì người dân lấy sức đâu mà chiến đấu. Sáng 21/5, Bác cho gọi đồng chí Ngô Thuyên – Bí thư Tỉnh ủy Thanh Hoá lúc bấy giờ, xuống gặp.

Bác hỏi: “Cơm ở đây có ngon không?”. Đồng chí Ngô Thuyền trả lời: “Ngon lắm Bác ạ”. Bác hỏi tiếp: “Đồng chí đã ăn cơm ở đây lần nào chưa?”. “Chưa ăn lần nào Bác ạ”. “Tại sao chưa ăn mà đồng chí lại bảo là ngon?”. Lúc này đồng chí Ngô Thuyên im lặng.

Cụ Tùng trầm ngâm, 7 năm bên Bác, nhìn, xem, nghe, cảm nhận… những lời Bác nói, những việc Bác làm, mới thấu hiểu hết cái tâm của Người. “Mong rằng những người cầm bút như các anh, nghe những điều tôi tâm sự về gương Bác Hồ thì hãy viết lại, để mọi người cùng soi vào học tập…”, cụ nói, nước mắt lăn trên gò má nhăn nheo.

Ước mơ cuối đời người cận vệ

Sau những năm tháng bên Bác, năm 1982, cụ Tùng về nghỉ hưu; những kỷ niệm của 2.555 ngày bảo vệ Bác được cụ xem như những báu vật vô giá. Nay đã ở cái tuổi xưa nay hiếm, hàng ngày cụ vẫn luôn nhắc nhở con cháu học tập gương đạo đức Bác Hồ, coi đó là cái kim chỉ nam trong cuộc sống này.

Cụ Tùng mong được về thăm quê Bác lúc cuối đời. (Ảnh: Nguyễn Duy)

Hỏi về ước mơ cuối đời, cụ tâm sự: “Bao năm chiến đấu bảo vệ tổ quốc, 7 năm bảo vệ Bác là một niềm vinh hạnh lớn cho tôi. Nhưng chiến tranh đi qua để lại trong tôi biết bao đau thương. Đứa con gái út của tôi bị chất độc da cam nay đã hơn 40 tuổi vẫn phải sống một mình. Giờ chỉ mong chính quyền xã giải quyết để con tôi có chỗ nương tựa khi tôi đã qua đời”.

Chúng tôi nhìn xung quanh, thấy cận vệ năm xưa của Bác, giờ sống trong một căn nhà xập xệ, dột nát, trống hoác huơ. Bao năm nay, cụ vẫn nuôi dưỡng tinh thần bằng những vinh quang của quá khứ. Một ước mơ khác của cụ là trước khi nhắm mắt xuôi tay, được một lần về lại làng Sen quê Bác, thăm lại ngôi nhà, nơi đã sinh ra người con ưu tú của dân tộc.

Nguyễn Duy – Đình Lộc
dantri.com.vn

Chiếc áo Bác mặc ngày Quốc khánh

Trong số những hiện vật liên quan đến thời điểm lịch sử 2/9/1945, Viện Bảo tàng Cách mạng Việt Nam đặc biệt trân trọng bộ quần áo Bác Hồ đã mặc trong ngày lễ khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Bộ quần áo bạc màu, cổ sờn, ve áo hơi tù.

Ngày 23/8/1945 Hồ Chủ Tịch về đến thôn Gạ (Phú Thượng, Hà Nội), nghỉ ở đây một ngày. Hôm sau Người được trung ương và Thành uỷ bố trí đến ở tại gác hai số nhà 48 Hàng Ngang (nhà của ông Trịnh Văn Bô, một thương gia yêu nước, cơ sở tin cậy của Cách mạng). Về đến Hà Nội, Bác gầy và yếu (sau trận ốm và phải đi xa), nhưng những người xung quanh vẫn thấy đôi mắt của Người luôn sáng rực.

Bà Trịnh Văn Bô, nữ chủ nhân của ngôi nhà 48 Hàng Ngang lịch sử, kể: “Bác từ chiến khu về chỉ có một đôi dép cao su nhãn hiệu con hổ trắng, chiếc quần soóc nâu, chiếc áo sơ mi ngắn tay, một chiếc can và chiếc mũ phớt bạc màu. Hàng ngày lúc 7h, ông Vũ Đình Huỳnh đón Bác ra Bắc Bộ phủ làm việc đến chiều mới về 48 Hàng Ngang. Buổi tối, Bác thường xuyên bận vì phải hội kiến làm việc với các ông Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp, Hoàng Quốc Việt… Đêm đêm, Bác thức rất khuya đánh máy chữ. Chuông đồng hồ điểm 12 tiếng, đèn bàn của ông cụ mới tắt, nhưng 5h hôm sau đã thấy ông cụ tập thể dục ngoài ban công”.

Sau này bà Bô mới biết, khi tiếng đánh máy chữ vang lên trong đêm khuya ấy chính là lúc Bác Hồ thảo Bản hùng văn vô giá – Bản tuyên ngôn lịch sử khai sinh ra nước Việt Nam.

Thời gian này Hà Nội đang chuẩn bị cờ hoa và cả vũ khí cho ngày trọng đại sắp tới. Bước vào tuổi 91, nhưng bà Bô vẫn còn nhớ rõ những năm tháng hào hùng đó. Vào khoảng những ngày 26 – 27/8 tức là khi đã ấn định Lễ tuyên ngôn vào 2/9/1945, anh em cán bộ mới sực nhớ ra cần phải trang bị mỗi người một bộ quần áo thật tươm lúc ra mắt trên lễ đài, đặc biệt là Hồ Chủ tịch. Đa số anh em từ chiến khu trở về và kể cả Bác cũng đều ăn mặc những đồ đã cũ sờn hoặc chắp vá tạm.

Bà Bô bồi hồi nhớ lại: “Lúc bấy giờ trong tủ nhà chúng tôi có rất nhiều vải (bà Bô là nhà buôn vải), tôi lấy ra mấy súc ka ki để may cho anh em. Trong tủ có vài chục bộ quần áo khá sang trọng may sẵn mà ông Bô chưa dùng nên tôi lấy ra cho các anh mặc tạm trước. Ông Phạm Văn Đồng, rồi ông Võ Nguyên Giáp… ai mặc vừa bộ nào thì dùng bộ nấy. Nhưng tầm người như Bác Hồ không bộ nào hợp cả”.

Gần sát ngày lễ ông bà Trịnh Văn Bô đã chọn riêng loại vải kaki cốt lê của Anh và ông Vũ Đình Huỳnh, nguyên là thư ký lễ tân mang đến xin ý kiến Bác. Bác nói: “Tôi mặc xuềnh xoàng thôi. Không len, dạ đắt tiền làm gì, cốt tươm tất giản dị, không phải cà vạt cổ cồn là tốt”.

Lúc đó, ông Vũ Đình Huỳnh chợt nhớ tới một bức ảnh của Xtalin nên ướm thử với Bác may theo kiểu áo đó, cũng không có cà vạt mà oai vệ. Bác mỉm cười nói: “Nhưng mình có phải là Xtalin đâu”. Bác luôn học hỏi tinh hoa nhưng không chấp nhận bắt chước khuôn mẫu sẵn.

Cuối cùng ông Vũ Đình Huỳnh mời ông Phú Thịnh chủ hiệu may có tiếng ở phố Hàng Quạt tới và trình bày: “Tôi có người nhà là cụ lý ở quê ra thăm thủ đô, tôi muốn cắt vài bộ đồ cho cụ, nhờ anh cắt may kiểu áo bốn túi, mặc kín cổ khi có việc quan trọng, lúc thường nhật thì mở khuya áo thoải mái, đi giày đi dép đều hợp với cụ lý nhà tôi”.

Ông Phú Thịnh ngẫm nghĩ một lúc dè dặt nói: “Tôi đã mường tượng ra kiểu áo ấy rồi. Chỉ cần tính toán cái ve áo nhọn hay tù?”. Ông Phú Thịnh ngắm nghía tấm ảnh Xtalin rồi nói: “Kiểu tướng soái này oách lắm nhưng không hợp với các cụ người nhà mình. Thôi được tôi sẽ lo liệu để có bộ áo hợp ý với cụ lý”.

Hai hôm sau, ông Phú Thịnh đem hai bộ quần áo đến, cười ý nhị nói: “Tôi trộm nghĩ cụ lý này không phải là lý trưởng mà có lẽ là một cụ lý… khác thường”, ông Vũ Đình Huỳnh cười đáp lại tình cảm tinh tế của ông thợ may.

Hôm sau, lựa lúc Bác tập thể dục, tắm sáng xong, ông Vũ Đình Huỳnh đem bộ quần áo mới vào. Bác ướm thử, ngắm kỹ cổ áo và mỉm cười: “Được, thế này là hợp với mình”. Ông Vũ Đình Huỳnh lúc đó đã rất vui và thầm mỉm cười nghĩ, chỉ trong vài ngày nữa, ông Phú Thịnh sẽ vô cùng sung sướng và ngạc nhiên vinh dự khi “cụ lý” mà mình may quần áo cho lại chính là Chủ tịch Hồ Chí Minh, Người đọc Tuyên ngôn độc lập tại Vườn hoa Ba Đình để khai sinh ra một quốc gia mới – Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

Theo Báo Đất Việt

dantri.com.vn

Thư khen trung đội lão dân quân xã H. Thanh Hoá (17-10-1967)

Kính gửi Trung đội lão dân quân xã H.1) huyện Hoằng Hoá, tỉnh Thanh Hoá,

Tôi rất vui mừng được tin ngày 14 tháng 10 vừa qua, các cụ đã bắn rơi chiếc máy bay Mỹ thứ 2.400 bằng súng bộ binh.

Tôi nhiệt liệt mừng chiến công vẻ vang của các cụ. Với lòng yêu nước nồng nàn, chí cǎm thù địch sâu sắc, các cụ đã nêu cao quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược. Thật là : tuổi cao, chí càng cao. Đây là một gương sáng cho đồng bào cả nước tiến lên đưa sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước của toàn dân ta đến thắng lợi hoàn toàn.

Chúc các cụ khoẻ mạnh, tiếp tục sản xuất tốt, chiến đấu giỏi, lập những chiến công mới.

Chào thân ái và quyết thắng

Ngày 17 tháng 10 nǎm 1967
Hồ Chí Minh

———————-

Báo Nhân dân, số 4938, ngày 18-10-1967.
1) Hoằng Trường.
cpv.org.vn

Điện mừng thành công của khoa học vũ trụ Liên Xô (20-10-1967)

Kính gửi – Đồng chí L.Brêgiơnép, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô,
– Đồng chí N.Pốtgoócnưi, Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Xô viết tối cao Liên Xô,
– Đồng chí A.Côxưghin, Chủ tịch Hội đồngBộ trưởng Liên Xô,

Mátxcơva

Các đồng chí thân mến,

Trong không khí sôi nổi thi đua sản xuất và chiến đấu lấy thành tích kỷ niệm lần thứ 50 Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười vĩ đại20, nhân dân Việt Nam vô cùng phấn khởi được tin Liên Xô, lần thứ nhất trong lịch sử loài người, đã cho một trạm nghiên cứu khoa học, trạm Sao Kim 4, đổ bộ nhẹ nhàng xuống Sao Kim. Đấy là một thành công mới hết sức kỳ diệu của nền khoa học xôviết, một bước tiến dài của con người trên đường đi vào vũ trụ. Tôi rất vui mừng thay mặt nhân dân Việt Nam, Đảng Lao động Việt Nam và Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà gửi đến các đồng chí, đến nhân dân Liên Xô, Đảng Cộng sản Liên Xô và Chính phủ Liên Xô lời chúc mừng nhiệt liệt nhất.

Xin chúc nhân dân Liên Xô và các nhà bác học, kỹ sư và công nhân ngành khoa học vũ trụ Liên Xô thu được nhiều thắng lợi to lớn hơn nữa.

Kính chào cộng sản

Hà Nội, ngày 20 tháng 10 nǎm 1967
Hồ Chí Minh

——————

Báo Nhân dân, số 4941, ngày 21-10-1967.
cpv.org.vn

Thư khen quân và dân Hà Bắc (20-10-1967)

Thân ái gửi đồng bào, chiến sĩ các lực lượng vũ trang và cán bộ Hà Bắc,

Bác rất vui lòng được tin Hà Bắc đã bắn rơi 100 máy bay Mỹ.

Thay mặt Trung ương Đảng và Chính phủ, Bác gửi lời khen ngợi đồng bào các dân tộc, chiến sĩ và cán bộ Hà Bắc đã đánh giỏi, chiến thắng vẻ vang, đặc biệt là dẫn đầu các tỉnh trong việc bắt sống được nhiều giặc lái máy bay.

Giặc Mỹ bị thua nặng, nhưng chúng còn rất ngoan cố. Quân và dân Hà Bắc hãy nâng cao cảnh giác, đoàn kết chặt chẽ, tiến lên giành nhiều thắng lợi to lớn hơn nữa trong chiến đấu, sản xuất và bảo đảm giao thông vận tải.

Chào thân ái và quyết thắng

Gửi ngày 20-10-1967.
Bác Hồ

———————

Báo Nhân dân, số 4941, ngày 21-10-1967.
cpv.org.vn

Thư khen dân quân gái xã T. huyện Tĩnh Gia, Thanh Hoá (22-10-1967)

Thân ái gửi các cháu dân quân gái xã T (1), huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hoá,

Bác rất vui lòng khen ngợi các cháu đã cố gắng học tập, thi đua với các bạn dân quân gái xã H. (Hậu Lộc) và đã bắn rơi một máy bay Mỹ. Để thưởng chiến công đầu vẻ vang đó, Bác tặng mỗi cháu một huy hiệu.

Bác chúc các cháu luôn luôn cố gắng sản xuất tốt, tập luyện giỏi để thu nhiều thành tích hơn nữa.

Bác mong các đội dân quân gái các địa phương hãy ra sức thi đua với dân quân gái Hậu Lộc và Tĩnh Gia để góp phần xứng đáng với toàn quân và toàn dân ta trong sự nghiệp vĩ đại chống Mỹ, cứu nước.

Bác hôn các cháu

Ngày 22 tháng 10 nǎm 1967
Hồ Chí Minh

————————–

Báo Nhân dân, số 4950, ngày 30-10-1967.
1) Xã Thanh Thuỷ.
cpv.org.vn

Tổng thống nước Cộng hoà Chilê và Phu nhân đặt hoa tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ và vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Tongthongchile2012.daituongniem

Tổng thống và Phu nhân nước Cộng hòa Chilê đặt hoa tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ

Nhận lời mời của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, Tổng thống Cộng hòa Chilê, Ngài Sebastian Pinera và Phu nhân sang thăm chính thức Việt Nam từ ngày 21/3 đến ngày 25/3/2012.

Trong khuôn khổ chuyến thăm chính thức Việt Nam lần này, sángngày 22/3/2012, Ngài Tổng thống và Phu nhân đã đến đặt hoa tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ Việt Nam, đặt hoa và vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Vòng hoa của Đoàn tại Đài tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ mang dòng chữ: “Sebastian Pinera – Tổng thống nước Cộng hòa Chilê kính viếng các Anh hùng liệt sỹ Việt Nam”;vòng hoa của Đoàn tại Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh mang dòng chữ: “Sebastian Pinera – Tổng thống nước Cộng hòa Chilê kính viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh”.

Tong thong chi le 2012.langTổng thống và Phu nhân nước Cộng hòa Chilê vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Trong thời gian qua, quan hệ đối tác toàn diện Việt Nam – Chilê tiếp tục phát triển theo hướng ổn định và hiệu quả, duy trì trao đổi kinh tế – thương mại hai chiều đạt mức tăng trưởngtrên 30%/năm. Lãnh đạo cấp cao hai nước có nhiều tiếp xúc, gặp gỡ nhằm tăng cường sự đoàn kết, hợp tác và phát triển ổn định. Đây là chuyến thăm Việt Nam lần thứ 3 ở cấp nguyên thủ của Nhà nước Chilê kể từ khi hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao năm 1971, tập trung vào cácphương hướng và biện pháp tăng cường quan hệ đối tác toàn diện trên tất cả các lĩnh vực./.

Lan Hương
bqllang.gov.vn

Thư khen quân và dân Hà Nội (27-10-1967)

Thân ái gửi chiến sĩ các lực lượng vũ trang, đồng bào và cán bộ Hà Nội,

Bác rất vui lòng khen ngợi chiến sĩ các lực lượng vũ trang, đồng bào và cán bộ Hà Nội đã liên tiếp chiến thắng vẻ vang, trong bốn ngày bắn rơi 30 máy bay Mỹ, bắt sống nhiều giặc Mỹ lái máy bay.

Một lần nữa giặc Mỹ lại liều lĩnh đánh phá Thủ đô thân yêu của chúng ta. Chúng đã bị quân và dân Hà Nội anh hùng trừng trị đích đáng.

Trong cơn khốn quẫn, giặc Mỹ giở mọi thủ đoạn tàn bạo hòng gỡ thế bí. Nhưng chúng càng gây thêm tội ác thì quân và dân ta càng cǎm thù, càng quyết tâm đánh thắng chúng.

Quân và dân Hà Nội hãy luôn luôn cảnh giác, đoàn kết chặt chẽ, chiến đấu dũng cảm, bền bỉ, mưu trí, làm tốt công tác phòng không nhân dân hơn nữa, cùng với quân và dân cả nước anh dũng tiến lên, quyết đánh thắng hoàn toàn giặc Mỹ xâm lược.

Chào thân ái và quyết thắng

Ngày 27 tháng 10 nǎm 1967
Bác Hồ

———————–

Báo Nhân dân, số 4948, ngày 28-10-1967.
cpv.org.vn

Đoàn kết: Chúng ta là sức mạnh!

Khi Bác Hồ nói: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết; thành công, thành công, đại thành công”, chúng ta đều hiểu rằng: Đoàn kết là cái gốc của thành công.

Cũng nói về vấn đề này, từ xa xưa dân gian có câu: “thuận vợ thuận chồng, biển Đông tát cạn – Thuận bè thuận bạn, tát cạn biển Đông”. Vậy là câu ca dao cổ này đã dậy cho ta thêm một tác dụng nữa: Đoàn kết là động lực của thành công!

Nhưng, Đoàn kết chỉ thực sự là cái gốc, là động lực của thành công, khi đó là thứ Đoàn kết thực lòng; Đoàn kết mang tính chiến lược, chứ không mang tính chiến thuật (tiếc thay, người ta lại hay lạm dụng cái chiến thuật này trong ứng xử với đồng bào, đồng chí!).

Trong thực tế lịch sử Dân tộc ta, “Đoàn kết” không chỉ là cái gốc, là động lực; mà Đoàn kết còn là mục tiêu của cuộc sống nữa: thương yêu, đùm bọc trong tình đồng loại, trong “tình làng nghĩa xóm”,… vốn là truyền thống nhiều đời của Con Người Việt Nam. Đó chính là tầm cao hơn của Đoàn kết; là tính xã hội rộng nhất, tính nhân văn sâu sắc nhất, tính không vụ lợi rõ rệt nhất và cũng là tình Người cao cả nhất!

Và mục tiêu Đoàn kết chỉ và chỉ thực hiện được trong môi trường Dân chủ, Bình đẳng; đương nhiên là Dân chủ thật sự, Bình đẳng thật sự. Dân chủ, Bình đẳng là điều kiện tiên quyết để có Đoàn kết. Không có Dân chủ thì không thể có Bình đẳng; không có Dân chủ, Bình đẳng thì không thể có Đoàn kết. Đó là chân lý vĩnh cửu! Không ai khác, chính Bác Hồ đã từng nhấn mạnh trong “Di Chúc”: “Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất trong Đảng”.

Tư tưởng Dân chủ của Đảng và Bác Hồ trước hết cần được thể hiện trong tất cả các hoạt động của Quốc Hội – cơ quan quyền lực cao nhất của Nhân Dân. Tiếc rằng cho đến nay, điều đó chưa thực hiện được là bao! Chúng ta hãy nghe tâm sự của giáo sư Nguyễn Lân Dũng, vị đại biểu quốc hội nổi tiếng “dám nói”, khi phóng viên báo Dân trí phỏng vấn ông (ngày 8 tháng 1 năm 2008):

PV: Ông có thể cho những ví dụ cụ thể về sự chưa dân chủ trong hoạt động Quốc hội ?

Đại biểu Nguyễn Lân Dũng: Không ít đâu. Ví như việc bầu các chức danh chẳng hạn. Khi không có số dư thì không có sự lựa chọn nào khác mà không có sự lựa chọn khác thì sao gọi là dân chủ được? Tôi biết rằng khi có người được đề cử xin rút khỏi danh sách đề cử thì nhẽ ra phải được Quốc hội thảo luận có đồng ý cho rút hay không? Rồi việc dự thảo các văn bản luật lại giao cho các Bộ, Ngành chủ trì thì làm sao tránh khỏi sự chủ quan và phiến diện? Cũng cần nói thêm là cho đến giờ, chưa có một luật nào được soạn thảo từ ý kiến của Đại biểu Quốc hội, chưa có đại biểu nào phát hiện được một vụ tiêu cực cụ thể nào và cũng chưa lần nào Quốc hội thực hiện được việc bỏ phiếu bất tín nhiệm đối với những chức danh do Quốc hội phê chuẩn. Điều này rõ ràng là luật chưa đi vào cuộc sống và cũng không thể nói những hiện tượng nêu trên đã là thực sự dân chủ.

Nhưng, công bằng mà nói, chính ngay một số vị đại biểu Quốc hội, nhiều khi cũng không thực thi quyền dân chủ của mình trong vai trò đại diện cho Dân, nói lên tiếng nói dân chủ của Cử tri. Tại phiên họp Thường vụ Quốc hội (khoá XI) ngày 3 tháng 5 năm 2006, Chủ tịch Nguyễn Văn An đã phải nói: “… chúng ta chưa làm cho các đại biểu QH có dũng khí, sự mạnh dạn để dám nói…” (Báo Thanh Niên số 124 ngày 4/5/2006). Làm sao mà người “đại diện cho quyền lực của Dân” lại yếu đuối đến thế? Khi Cử tri tín nhiệm bầu một người vào Quốc hội, thì nhất định người đó phải có đủ trình độ kiến thức và sự dũng cảm cần thiết, để nói được tiếng nói của Dân, thực thi quyền lực của Dân trong việc giám sát các hoạt động của Chính phủ. Không làm được như thế thì tham gia Quốc hội để làm gì? Đại biểu Quốc hội là phải biết “giơ tay” biểu quyết, tức là biết thể hiện chính-kiến-của-cử-tri. Nhưng trước khi “giơ tay”, cần phải biết thảo luận, tranh luận để tìm ra chân lý của vấn đề. Nếu không, sẽ chỉ là một dạng khác của… “nghị gật”!

Mặt khác, công việc điều khiển các cuộc thảo luận, tranh luận ở Quốc hội, phải mang tính định hướng tư duy, chứ không áp đặt tư duy. Càng không thể là thầy giáo hướng dẫn học trò thảo luận bài học! Đấy chính là Dân chủ trong hoạt động Quốc hội!

Đến đây, cũng cần nhắc lại một chút Lịch sử: ở nước ta, người đề cập và hô hào sớm nhất vấn đề Dân quyền, chính là cụ Phan Tây Hồ. Theo cụ, “Dân chủ vừa là phương pháp để tự cường, vừa là cứu cánh, là mục đích tự nó nữa”. Cái lý để cụ Phan coi trọng Dân chủ là: “Quốc tương hưng tắc thỉnh chư Dân!”. Điều đó chứng minh cuộc đấu tranh cho Dân chủ ở nước ta đã được các bậc Cách mạng tiền bối chú trọng từ rất sớm. “Dân chủ” chính là mục tiêu đầu tiên, trước hết của cuộc đấu tranh giải phóng Dân tộc, giành độc lập cho Tổ quốc.

Không phải ngẫu nhiên khi cách mạng Tháng Tám (1945) thành công, Bác Hồ lại đặt tên nước là Việt Nam Dân chủ Cộng hòa… Trong đó, yếu tố Dân chủ được đặt lên trước tiên!

Một chế độ Dân chủ trong một nền Cộng hòa, là sự đảm bảo chắc chắn cho một Nhà nước Độc lập và một cuộc sống Tự do Hạnh phúc cho Nhân dân, ít nhất cũng là điều đúng đắn ở thời điểm ấy.

Dân chủ để Đoàn kết, Đoàn kết trong Dân chủ – đó là kỳ vọng hàng đầu mang tính thời đại; là sức mạnh vô địch của tư tưởng Hồ Chí Minh!

Trần Huy Thuận

LTS Dân trí – Nhà nước thật sự của dân, do dân và vì dân thì bao giờ cũng chủ trương “thực hành dân chủ rộng rãi” đúng như tư tưởng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tư tưởng ấy được thể hiện rõ từ những ngày đầu Cách mạng Tháng Tám, như tác giả bài viết trên đây đã phân tích và khẳng định..

Xã hội càng tiến lên thì nội hàm dân chủ càng phong phú và đa dạng hơn; cách thức thực hiện rộng rãi dân chủ cũng phải đổi mới kịp với xu thế phát triển. Chỉ có như vậy mới bảo đảm được sự đoàn kết rộng rãi và thật lòng của mọi người trong xã hội để cùng phấn đấu cho mục tiêu chung là “dân giầu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.

Đối chiếu với tình hình thực tế, còn nhiều điều bất cập trong việc “thực hành dân chủ rộng rãi”; một mặt vì quyền dân chủ của người dân trong các lĩnh vực hoạt động chưa được thể chế hóa một cách đúng đắn và đầy đủ; mặt khác, nhiều nơi nhiều lúc cách thức tổ chức “thực hành dân chủ rộng rãi” còn nặng về “hình thức” mà chưa đi vào thực chất.

dantri.com.vn.vn

Đoàn cán bộ huyện Đông Anh, Thành phố Hà Nội tổ chức lễ viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh và tham quan Khu Di tích K9

Hướng tới kỷ niệm 37 năm Ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước và 122 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngày 24/3/2012, Đoàn cán bộ chủ chốt của huyện Đông Anh, Thành phố Hà Nội đã đến viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh, tham quan Cụm Di tích lịch sử – văn hoá Ba Đình và dâng hương tưởng niệm Bác tại Khu Di tích K9.

Trước khi vào Lăng viếng Bác, Đoàn đã được lãnh đạo Ban Quản lý Lăng, Thủ trưởng Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đón tiếp và nghe đồng chí Thiếu tướng Nguyễn Văn Cương, Trưởng ban Ban Quản lý Lăng kiêm Tư lệnh Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng giới thiệu về nhiệm vụ giữ gìn lâu dài, bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Bác và phát huy ý nghĩa chính trị, văn hóa của Công trình Lăng trong giai đoạn mới.

Dong Anh.K9Đoàn cán bộ của huyện Đông Anh dâng hương tưởng niệm Bác tại Khu Di tích K9

Thay mặt lãnh đạo huyện Đông Anh, đồng chí Phạm Văn Châm, Phó Bí thư Huyện uỷ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện đã giới thiệu về những thành tích mà Đảng bộ và nhân dân huyện Đông Anh đạt được trong những năm qua. Đặc biệt, năm 2001, huyện Đông Anh được Đảng, Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Đồng thời khẳng định: Đoàn cán bộ hôm nay về Lăng viếng Bác, tham quan Cụm Di tích lịch sử – văn hoá Ba Đình và dâng hương tưởng niệm Bác tại Khu Di tích K9 xin hứa với Bác, hứa với Đảng: Toàn thể cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân trong huyện tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; ra sức xây dựng huyện Đông Anh giàu mạnh về kinh tế, ổn định về an ninh – xã hội, xứng đáng với truyền thống của Thủ đô anh hùng”.

Dong Anh.huy hieuThiếu tướng Nguyễn Văn Cương và Thiếu tướng Đặng Nam Điền gắn tặng Huy hiệu Bác Hồ cho các đại biểu của huyện Đông Anh

Nhân dịp này, đồng chí Thiếu tướng Nguyễn Văn Cương, Trưởng ban Ban Quản lý Lăng kiêm Tư lệnh Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng và Thiếu tướng Đặng Nam Điền, Chính uỷ Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng đã gắn tặng Huy hiệu Bác Hồ cho các đại biểu của huyện Đông Anh./.

Đức Hùng, Ngọc Hà
bqllang.gov.vn