Archive | Tháng Hai 2012

Một bài báo của Bác in đúng Ngày thành lập Đảng

Là người sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện Đảng ta, trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn quan tâm và không ngừng chăm lo đến công tác xây dựng Đảng. Người mong muốn và đòi hỏi Đảng Cộng sản Việt Nam phải là một Đảng trong sạch, lớn mạnh, là đạo đức và văn minh, gắn bó chặt chẽ với nhân dân, là một Đảng cách mạng, vì nước vì dân.

Chủ tịch Hồ Chí Minh, Người thầy của Báo chí Cách mạng Việt NamChủ tịch Hồ Chí Minh, Người thầy của Báo chí Cách mạng Việt Nam.

Nhân dịp kỷ niệm thành lập Đảng 3 tháng 2 năm 1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giao cho Ban Tuyên huấn của Đảng chuẩn bị một bài báo, mà Bác đặt tiêu đề là “Quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng”.

Ít ngày sau, bài báo được Ban Tuyên huấn gửi đến, Bác đã đọc lại, sửa chữa, và sau đó mời đồng chí Tố Hữu lúc đó phụ trách Ban Tuyên huấn và đồng chí Vũ Kỳ thư ký của Bác đến cùng nghe và góp ý kiến.  Nghe đọc xong, đồng chí Tố Hữu nói:

– Bác đã chữa hết bài báo của Ban Tuyên huấn rồi ạ. Bác cười:

– Bác chữa nhưng vẫn để lại một số ý của các chú…

Mọi người đều góp ý, đây là một bài báo có nội dung rất quan trọng đối với công tác xây dựng Đảng. Ý Bác muốn mọi cán bộ đảng viên, từ người lãnh đạo cao cấp đến những đảng viên, đoàn viên đều phải gương mẫu, ra sức tu dưỡng để trở thành những cán bộ tốt phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Song đồng chí Tố Hữu xin Bác đổi lại tựa đề bài báo là đưa câu Nâng cao đạo đức cách mạng lên trên… Bác quay sang hỏi đồng chí Vũ Kỳ, đồng chí cũng đồng ý như thế. Bác nói:

– Có ba người, các chú là hai, đa số, nên Bác đồng ý sửa lại tựa đề, nhưng nội dung trong bài thì cứ để như cũ.

Tuy vậy, sau này Bác hỏi lại đồng chí Vũ Kỳ: “Bác thí dụ nhà chú mua được một cái tủ mới đem về. Chú có quét nhà ra trước không rồi mới kê chiếc tủ mới vào, hay là cứ kê tủ vào rồi mới quét nhà?”.

Ý Bác sâu sắc như thế đấy, nhưng ở đây ta cũng thấy Bác rất tôn trọng đa số, vả lại sự thay đổi này cũng không ảnh hưởng gì đến nội dung bài báo.

Có thể nói, đây là một trong những bài báo cuối cùng của Bác, để lại cho chúng ta. Bài báo này đã được Bác gửi tới tất cả các đồng chí trong Bộ Chính trị để góp ý kiến, sau đó đã in trên Báo Nhân Dân đúng vào Ngày thành lập Đảng. Có lẽ Bác cũng muốn lưu ý tất cả các đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng về vấn đề quan trọng chống chủ nghĩa cá nhân và nâng cao đạo đức cách  mạng.

Đã rất nhiều lần, rất nhiều lần, Bác đã nói đến vấn đề nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân. Bác dùng từ “quét sạch” để thể hiện một quyết tâm chính trị lớn.

Năm 1927, trong tác phẩm “Đường Kách mệnh”, ngay phần mở đầu “Tư cách của một người cách mệnh” Bác đã viết phải “vị công, vong tư “, “biết hy sinh, ít lòng tham muốn về vật chất”. Năm 1947, trong tác phẩm: “Sửa đổi lối làm việc”, Bác đã viết: “Trong Đảng ta còn có những người chưa học được, chưa làm được bốn chữ “chí công vô tư”, cho nên mắc phải chứng chủ nghĩa cá nhân. Chủ nghĩa cá nhân là một thứ vi trùng rất độc, do nó mà sinh ra các thứ bệnh rất nguy hiểm, thí dụ những bệnh sau đây: Bệnh tham lam, bệnh lười biếng, bệnh kiêu ngạo, bệnh hiếu danh, thiếu kỷ luật, óc hẹp hòi, óc địa phương, óc lãnh tụ”.

Lần này, trong bài báo của mình, Bác nhấn mạnh:

“Đảng ta lãnh đạo rất sáng suốt, đã đưa dân tộc ta tiến lên không ngừng từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Trong lịch sử đấu tranh của Đảng và trong mọi hoạt động hàng ngày, nhất là trên mặt trận chiến đấu và sản xuất, rất nhiều cán bộ và đảng viên ta tỏ ra anh dũng, gương mẫu, gian khổ đi trước, hưởng thụ đi sau, và đã làm nên những thành tích rất vẻ vang… Song bên cạnh những đồng chí tốt ấy, còn có một số ít cán bộ, đảng viên mà đạo đức, phẩm chất còn thấp kém. Họ mang nặng chủ nghĩa cá nhân, việc gì cũng nghĩ đến lợi ích riêng của mình trước hết. Họ không lo: “Mình vì mọi người” mà chỉ muốn “Mọi người vì mình”.

Bác vạch rõ những nguy hại do chủ nghĩa cá nhân gây ra:

“Do cá nhân chủ nghĩa mà ngại gian khổ, khó khăn, sa vào tham ô, hủ hoá, lãng phí, xa hoa. Họ tham danh trục lợi, thích địa vị quyền hành. Họ tự cao, tự đại, coi thường tập thể, xem khinh quần chúng, xa rời thực tế, mắc bệnh quan liêu mệnh lệnh. Họ không có tinh thần cố gắng vươn lên, không chịu học tập để tiến bộ. Cũng do cá nhân chủ nghĩa mà mất đoàn kết, thiếu tính tổ chức, tính kỷ luật, kém tinh thần trách nhiệm, không chấp hành đúng đường lối chính sách của Đảng và nhà nước, làm hại đến lợi ích của cách mạng, của nhân dân. Tóm lại do chủ nghĩa cá nhân mà phạm nhiều sai lầm”.

Chúng ta đều biết, sau Cách mạng Tháng Tám thành công, trong “Thư gửi các đồng chí tỉnh nhà”, Bác Hồ cũng đã viết: “Cán bộ ta nhiều người “Cúc cung tận tuỵ”, hết sức trung thành với nhiệm vụ, với Chính phủ, với quốc dân. Nhưng cũng có người hủ hoá, lên mặt làm quan cách mạng, hoặc là độc hành độc đoán, hoặc là dĩ công dinh tư (lấy của chung làm của riêng). Và Bác chỉ rõ, những điều đó làm cho dân oán đến Chính phủ và đoàn thể, làm ảnh hưởng đến khối đoàn kết.

Năm 1951, trong Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ hai khai mạc tại Tuyên Quang, Bác cũng đã nói: “Đảng ta thành tích khá nhiều, nhưng khuyết điểm cũng không ít. Chúng ta cần phải thật thà tự phê bình sửa chữa. Phải cố sửa chữa để tiến bộ.

Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, Bác viết: “Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài. Nó phải làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng”.

Bác cũng nhấn mạnh “Một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó. Như thế mới là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính…”.

Trong Di chúc của mình, Bác cũng dặn dò: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”.

Chỉ trong một đoạn ngắn nói về Đảng, có 57 chữ này, Bác đã 4 lần nhấn mạnh chữ “Thật” và “Thật Sự”. Ý Bác là vấn đề quét sạch chủ nghĩa cá nhân nâng cao đạo đức cách mạng là vấn đề phải được hết sức quan tâm, hết sức coi trọng, chứ không thể chỉ làm qua loa, nửa vời, nói xong rồi đâu lại vào đấy. Vì như vậy sẽ làm cho nhân dân mất niềm tin.

*

Tại Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương khoá XI vừa qua, với tinh thần trách nhiệm rất cao đã ban hành Nghị quyết của Trung ương “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” với 3 nội dung trọng yếu:

1 – Ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp.

2 – Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, nhất là ở cấp Trung ương, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế.

3 – Xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm cá nhân người đứng đầu cấp uỷ, chính quyền trong mối quan hệ với tập thể cấp uỷ, chính quyền, cơ quan, đơn vị.

Ba nội dung này có quan hệ mật thiết với nhau, trong đó nội dung thứ nhất là trọng tâm, xuyên suốt và cũng là vấn đề cấp bách nhất.

Đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng đã chỉ rõ:

“Bối cảnh quốc tế và tình hình trong nước vừa có thuận lợi, thời cơ, vừa có khó khăn, thách thức. Đảng ta đang đứng trước nhiều vấn đề mới phải xử lý, nhiều việc hết sức phức tạp. Trong tình hình ấy, nếu Đảng ta không thật vững vàng về chính trị, tư tưởng, không thống nhất cao về ý chí, hành động; không trong sạch về đạo đức, lối sống; không chặt chẽ về tổ chức; không được nhân dân ủng hộ thì không thể đứng vững và đủ sức lãnh đạo để đưa đất nước tiếp tục đi lên. Vì vậy, lần này Trung ương quyết định phải tiếp tục tiến hành củng cố xây dựng, chỉnh đốn Đảng với tinh thần tích cực và kiên quyết hơn, mạnh mẽ hơn, nhằm tạo ra một bước chuyển biến mới trên các mặt, ngăn chặn và đẩy lùi tình trạng suy thoái, củng cố sự kiên định về mục tiêu lý tưởng cách mạng, tăng cường sự thống nhất ý chí và hành động, củng cố tổ chức chặt chẽ, tăng cường mối liên hệ mật thiết với nhân dân, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, coi đây là vấn đề sống còn của Đảng ta, chế độ ta”.

Quyết tâm ấy của Đảng đang truyền một niềm tin tưởng trong nhân dân. Toàn thể đảng viên và nhân dân đều mong muốn Đảng ta trong sạch, lớn mạnh xứng đáng là đạo đức là văn minh, để đưa nhân dân ta tiến lên những thắng lợi mới trong sự nghiệp đổi mới của đất nước ta.

Trong thời điểm này của đất nước, những lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh càng làm chúng ta suy ngẫm một cách sâu sắc. Tháng 6 năm 1968, khi nêu ý kiến về việc làm và xuất bản loại sách “Người tốt việc tốt”, Bác đã nói:

“Một dân tộc, một Đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”.

Rất nhiều lần, Bác đã nói với chúng ta, chủ nghĩa cá nhân là kẻ thù nguy hiểm mà mỗi người chúng ta phải luôn luôn tỉnh táo đề phòng và tiêu diệt nó. Nó là kẻ thù hung ác của đạo đức cách mạng. Và Bác cũng chỉ ra cách làm là phải:

“Phải thực hành phê bình và tự phê bình nghiêm chỉnh trong Đảng. Phải hoan nghênh và khuyến khích quần chúng thật thà phê bình cán bộ đảng viên. Chế độ sinh hoạt của chi bộ phải nghiêm túc. Kỷ luật của Đảng phải nghiêm minh. Công tác kiểm tra của Đảng phải chặt chẽ”.

Mùa Xuân này, chúng ta kỷ niệm 82 năm Ngày thành lập Đảng, lòng chúng ta càng nhớ đến Bác kính yêu. Và chúng ta lại nhớ đến những câu thơ của nhà thơ Hải Như đã viết: “Đừng tưởng Bác Hồ chỉ có vui thôi/ Có những phút Bác Hồ buồn ghê gớm/ Ấy là lúc: Ta sai lầm to lớn/ Quên mọi người, ta chỉ thấy mình ta…”.

Nhớ Bác, mỗi cán bộ, đảng viên, đoàn viên và tất cả nhân dân ta hãy tự mình quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng, đóng góp vào công tác xây dựng Đảng, như đồng chí Nguyễn Phú Trọng đã nói, nếu mỗi người chỉnh đốn bản thân mình trước thì cả tổ chức sẽ chuyển động./.

Bùi Hải Bình

nhoNguoicha

Chiếc áo trấn thủ và mùa đông năm ấy (*)

Chủ tịch Hồ Chí Minh đi tăng gia sản xuất sau giờ làm việc ở Chiến khu Việt Bắc

Mùa đông năm 1948, cơ quan chúng tôi đóng ở bản X, thuộc huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn. Năm ấy là năm rét nhiều, sương muối sa liên tục, hết đợt này đến đợt khác. Sáng ra, sương đóng trắng quanh nhà, có hôm đến tám, chín giờ sương vẫn chưa tan hết. Hai bàn tay, hai bàn chân buốt tê cóng.

Trước khi về nhận công tác ở gần Bác, có nhiều lần anh em phải nằm trong hang núi đá ở Võ Nhai (Thái Nguyên) để tránh quân Pháp nhảy dù. Quần áo ít, không có chăn chiếu, lại gặp cái lạnh của núi đá nên anh T bị ho. Hôm về phục vụ Bác, anh vẫn ho sù sụ suốt ngày, nhiều lúc ho quá, tức ngực tưởng long cả phổi.

Bác phải làm việc nhiều, cần yên tĩnh, nên chúng tôi làm riêng một cái lán nhỏ để Bác ngủ và làm việc ngay tại đó. Tất cả anh em chúng tôi ở lán ngoài, chỉ khi nào cần mới vào lán của Bác. Chính vì thế mà anh T đã giấu được, không để Bác biết anh bị ho.

Trước mắt Bác, anh cố làm ra vẻ khoẻ mạnh, khi nào muốn ho, anh lại lẩn ra chỗ khác. Nhưng hôm đưa thư vào lại đúng lúc tức ngực, ngứa cổ muốn ho, anh cố nín nhưng không tài nào nín được, đành bật ra mấy tiếng.

Đưa thư xong, anh vội chào Bác quay ra, thì Bác ra hiệu cho anh đứng lại. Bác lại đầu giường lấy đưa cho anh một cái áo trấn thủ mà Bác vẫn thường mặc. Bác nói:

– Chú lấy cái áo này mặc vào cho đỡ rét.

– Anh T lưỡng lự không dám nhận. Mùa rét, Bác cũng chỉ có cái áo trấn thủ với chiếc áo bông mỏng mặc ngoài. Anh còn ít tuổi khỏe mạnh, rét một tí cũng không sao, còn Bác thì già rồi, lại phải làm việc nhiều. Nghĩ vậy, anh từ chối:

– Thưa Bác, cháu mặc thế này được rồi ạ.

Như hiểu được ý của anh, Bác nói:

– Cứ lấy mà mặc. Bác đã có áo rồi. Mặc như chú thế này tài nào mà chẳng ho. Thôi mặc vào!

Nhìn đôi mắt hiền từ đầy tình yêu thương trìu mến của Bác, anh không dám từ chối nữa. Nhờ cái áo của Bác giữ ngực được ấm nên vài hôm sau anh đã đỡ và khỏi ho dần. Mỗi lần mặc cái áo, anh lại thấy rạo rực, ấm áp lạ lùng. Sự ấm áp ấy là từ cái áo và cả từ tấm lòng yêu thương, chăm sóc từng ly, từng tý đến đời sống anh em cán bộ của Bác.

(*) Tựa do Tiền phong đặt.

Chuyện về những vết mạng trên áo của Bác

Chú Bốn về đội cảnh vệ chỗ Bác từ năm 1949, là người chuyên giặt là, vá mạng quần áo cho Bác kể lại: “Quần áo Bác mặc chủ yếu có 2 bộ lễ phục. Một bộ mà anh em cảnh vệ gọi là bộ “Ka ki vàng” là bộ lịch sự, Bác mặc từ khi đọc Tuyên ngôn độc lập ở vườn hoa Ba Đình. Bộ thứ hai là bộ “kháng chiến”, được may từ khi Bác lên Việt Bắc và được mặc suốt thời kỳ kháng chiến cho đến sau này. Ngoài ra, hồi đi Chiến dịch Biên Giới năm 1950, Bác có thêm một bộ quân phục màu xanh. Sau này lại may thêm một bộ màu gụ bằng lụa Hà Đông. Bác còn có cái áo len và một chiếc khoác ngoài để mặc rét. Bộ “kháng chiến” là bộ chủ lực nên có nhiều vết mạng. Miếng mạng gần vai khá to là kỷ niệm lần Bác đi chiến dịch Biên Giới năm 1950. Bác thắt bao gạo ngang lưng, cài lá ngụy trang trên mũ, khăn mặt vắt vai. Nhiều chặng đường Bác hành quân với bộ đội, dân công. Một hôm gặp một cụ dân công, Bác cùng cụ nói chuyện và động viên: “Già như cụ còn hết lòng phục vụ tiền tuyến, làm gương cho con cháu”. Cụ dân công nói: “Tôi làm sao bì được với cụ. Cụ tóc bạc như vậy mà vẫn tham gia quân đội. Thế mới gọi là chiến sĩ bạch đầu quân”. Khi qua một đoạn suối, cụ dân công bị sảy chân may được Bác đỡ kịp. Chiếc đinh ở đầu đòn gánh cụ dân công làm rách vai áo Bác.

Miếng mạng ở khuỷu tay áo là kỷ niệm Ngòi Thia (Tân Trào, Việt Bắc). Hôm ấy họp Hội đồng Chính phủ, Bác đi ngựa, Đội trưởng Đội Cảnh vệ đi trước. Đến quãng đường vòng có cây tre đổ chặn ngang đường, ngựa của anh cảnh vệ đã qua rồi, ngựa Bác vừa phi tới, ghìm không kịp. Con ngựa đứng lại quá nhanh, Bác ngã. Anh cảnh vệ sợ quá vội nhảy xuống chạy lại đã thấy Bác gượng dậy. Con ngựa của Bác cũng khôn, nó đứng lại. Đội trưởng Cảnh vệ hỏi Bác: “Bác có làm sao không?”. Vừa kịp nhìn thấy khuỷu tay Bác có vết đất sỏi, lại có dấu máu thấm ra dưới ống quần, đầu gối Bác bị xước, máu đang rỉ ra. Bác nhìn qua rồi gạt đi: “Các chú đừng lo, ta đi thôi.”. Rồi Bác lên ngựa trước. Tới nơi họp, Bác vui vẻ tham gia hội nghị ngay, giờ nghỉ Bác mới chịu để y tá băng vết thương.

Về nhà, các anh cảnh vệ tự phê bình với Bác. Bác cũng tự phê rằng mình có khuyết điểm là giục ngựa phóng nhanh cho kịp giờ họp.

Ở gần gấu áo của Bác lại có vết thâm mờ mờ giặt nhiều lần không sạch. Đó là kỷ niệm Bác đi chống hạn. Cùng đi hôm đó có đại diện Tỉnh ủy. Gặp chỗ đồng bào đang tát nước bằng gầu giai, Bác liền bảo chú Tỉnh ủy đó cùng tát nước với Bác. Khổ nỗi, chú ấy không quen việc nhà nông. Chiếc gầu cứ lẳng nha, lẳng nhẳng, miệng gầu cứ bổ vào máng nước bình bịch. Mồ hôi mồ kê của chú ấy tháo ra như tắm.

Chú Bốn hôm đó có mặt, sợ Bác mệt nên đến xin phép Bác tát thay cho chú Tỉnh ủy. Bác trả lời nhẹ nhàng: “Không được, để chú ấy tập làm dân với Bác. Muốn lãnh đạo nông nghiệp, phải biết cách làm ăn của nông dân chứ”. Lần đó, Bác đã giúp chú cán bộ kia tập tát nước bằng được. Chỗ bùn ở dây gầu bám vào áo Bác đã khô đi nên chú Bốn về giặt xà phòng thế nào cũng không sạch.”

Theo Tiền Phong Online
Tâm trang (st)

bqllang.gov.vn

Tác phong làm việc khoa học, chu đáo của Bác Hồ

Chủ tịch Hồ Chí Minh làm việc tại Chiến khu Việt Bắc trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp. (Ảnh tư liệu/TTXVN)

Chủ tịch Hồ Chí Minh là lãnh tụ vĩ đại của Ðảng ta và nhân dân ta. Người đã để lại cho chúng ta những bài học lớn về rèn luyện, tu dưỡng phẩm chất, nhân cách làm người, làm cán bộ. Tác phong làm việc khoa học, chu đáo của Người là một trong những bài học sinh động đó.

Làm việc khoa học là có chương trình, kế hoạch rõ ràng, cụ thể; làm việc chu đáo là phải hết sức cẩn thận, đầy đủ, tỷ mỷ. Hai mặt đó có liên quan chặt chẽ với nhau, làm tiền đề và bổ sung cho nhau để đem lại hiệu quả cao nhất cho công việc. Trong những năm tháng đi tìm đường cứu nước, lao động để kiếm sống và hoạt động cách mạng ở nước ngoài, luôn luôn bị kẻ thù theo dõi, chính nhờ có tác phong làm việc khoa học, chu đáo, Bác Hồ đã vượt qua nhiều cạm bẫy của địch. Trong những năm tháng hoạt động ở Pa-ri, Thủ đô nước Pháp, nhà cầm quyền thực dân đã cử hai mật thám chuyên theo dõi những hoạt động của Người. Người Pháp đã dự báo người thanh niên mảnh khảnh đó sẽ trồng cây thập tự cho sự cáo chung của chế độ thực dân Pháp ở Ðông Dương. Năm 1923, Bác được mời sang Mát-xcơ-va (Liên Xô), dự Ðại hội V và công tác tại Quốc tế Cộng sản. Ðể bảo đảm an toàn cho chuyến đi, Người đã xây dựng một chương trình làm việc theo một lịch trình cố định: Sáng đến làm việc tại hiệu phóng đại ảnh để lấy tiền ăn, chiều đến thư viện đọc sách, tối đi dự các cuộc mít-tinh của thợ thuyền, đêm về nhà ngủ. Ðến khi mật thám phát hiện ra sự “biến mất” của Bác thì Người đã đang trên tàu bí mật đến nước Nga Xô viết. Mọi công việc đã được Bác và những đồng chí của mình xếp đặt một cách khoa học và chu đáo.

Giữa những năm 20 của thế kỷ XX, Bác Hồ đến Quảng Châu (Trung Quốc). Lấy bí danh là Vương, Người mở những lớp huấn luyện cán bộ chính trị để đào tạo cán bộ chuẩn bị cho việc thành lập Ðảng Cộng sản Việt Nam. Chương trình huấn luyện do Bác biên soạn rất ngắn gọn và dễ hiểu. Các bài giảng cũng được thực hiện rất khoa học và chu đáo. Thời gian các lớp huấn luyện không thể kéo dài, Người tranh thủ mọi điều kiện để giúp học viên bồi bổ thêm kiến thức về văn hóa, kinh nghiệm hoạt động bí mật.

Những năm 1928, 1929, với bí danh Thầu Chín, Bác Hồ hoạt động ở Thái Lan, nơi có đông đồng bào Việt kiều sinh sống. Ðồng chí Lê Mạnh Trinh kể lại những ngày đầu gặp Bác tại Thái Lan: Việc đầu tiên là Thầu Chín đặt chương trình hằng ngày của mình: Buổi sáng lao động mấy giờ, học tiếng Xiêm mấy chục chữ, dịch mấy trang sách; buổi tối huấn luyện chính trị hoặc nói chuyện với mọi người… Thầu Chín đã làm đúng chương trình ấy. Trên đường đi công tác, Bác giảng giải cho mọi người nghe Truyện Kiều và Chinh phụ ngâm. Người không bỏ phí một chút thời gian nào. Nhờ cách làm việc khoa học và chu đáo như vậy, trong thời gian ngắn Bác đã xây dựng được cơ sở cách mạng vững chắc trong bà con Việt kiều ở Thái Lan.

Ðầu năm 1941, Bác Hồ về căn cứ địa Cao Bằng để trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng. Nhiệm vụ giải phóng dân tộc được đặt lên hàng đầu. Công tác huấn luyện cán bộ càng trở nên cấp bách. Nhiều học trò của Bác đã trưởng thành và được Người giao mở các lớp huấn luyện cán bộ cho phong trào. Chương trình và kế hoạch các lớp huấn luyện được Người chỉ ra thật ngắn gọn nhưng rất khoa học và chu đáo: Một là, huấn luyện cho ai? Hai là, huấn luyện những gì? Ba là, huấn luyện bao lâu? Bốn là, huấn luyện ở đâu? Năm là, lấy gì ăn mà huấn luyện?

Người luôn căn dặn cán bộ khi đã xây dựng chương trình, kế hoạch cho công việc rồi thì phải quyết tâm thực hiện, kể cả những công việc cá nhân. Ðồng chí Cao Hồng Lãnh, người đã có nhiều thời gian được sống gần Bác kể lại những ngày Người còn ở Pác Bó (Cao Bằng): Suốt thời gian ở gần Bác, sáng nào tôi cũng thấy Bác tập thể dục. Ngày ngày, tôi thấy Bác năng tập cổ tay, hai tay cầm hai hòn đá lấy ở dưới suối, cứ ngồi bóp mãi. Hai mắt Bác vẫn đọc sách. Ngày mới ở Tĩnh Tây về, vào đến Khuổi Nậm thấy thế, tôi nghĩ: Trong lúc đọc sách Bác vẫn sợ hai tay bỏ không! Qua những ngày ở bên Bác, tôi đã hiểu rõ Bác làm gì cũng rất quyết tâm. Cho nên có lần Bác nói: Các chú đã biểu quyết là phải thực hiện. Không nên “biểu” rồi lại bỏ đấy. Bác cũng luôn luôn là một tấm gương sáng về quyết tâm thực hiện kế hoạch công việc. Sau ngày cách mạng thành công, toàn dân bị nạn đói đe dọa. Người kêu gọi tăng gia sản xuất để cứu đói và mỗi người cứ 10 ngày nhịn ăn một bữa, mỗi bữa một bơ để dành gạo giúp đồng bào bị đói. Ðến bữa cơ quan nhịn ăn để góp gạo cứu đói thì Bác được mời đi ăn cơm khách. Hôm sau Người đã kiên quyết nhịn bù.

Thời kỳ hoạt động bí mật tại căn cứ địa Việt Bắc, Bác đặc biệt chú trọng công tác giữ bí mật. Trong cơ quan, Bác giao việc cho từng người, ai biết việc người ấy. Các bộ phận công tác cũng rất gọn nhẹ, cơ động. Bác yêu cầu mỗi người có một túi đựng đồ dùng cá nhân và tài liệu lúc nào cũng mang bên người, khi cần thiết có thể nhanh chóng di chuyển địa điểm mà không để lại dấu vết.

Trong những ngày chuẩn bị cho Tổng khởi nghĩa giành chính quyền, Bác ở trong lán nhỏ Nà Lừa ở Tân Trào (Tuyên Quang). Mặc dù đang yếu nhưng Người vẫn duy trì tác phong làm việc hết sức khẩn trương, khoa học và chu đáo. Ðại tướng Võ Nguyên Giáp kể lại những ngày được làm việc với Bác ở Tân Trào: Bác làm việc không mấy lúc nghỉ ngơi. Lần nào tôi lên cũng thấy Bác đang cặm cụi với công việc. Mọi giấy tờ, chỉ thị, Bác đều tự tay đánh máy và đánh số cẩn thận, rõ ràng.

Cách mạng Tháng Tám thành công, Bác Hồ về Thủ đô Hà Nội làm Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ðó là những năm tháng đất nước trong tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”. Ðồng bào vừa trải qua nạn đói chết hơn hai triệu người; chính quyền cách mạng non trẻ chưa có kinh nghiệm điều hành công việc; giặc ngoài, thù trong tập trung đánh phá… Người vẫn giữ tác phong làm việc khoa học, chu đáo, cả trong những công việc đại sự của quốc gia, cả trong cuộc sống đời thường. Giờ làm việc của Bác bắt đầu từ cuộc hội ý của Thường vụ. Bác rất coi trọng nếp làm việc tập thể. Bác nói với các đồng chí Thường vụ hàng ngày sáu giờ tới chỗ Bác, có gì trao đổi rồi đi đâu hãy đi. Hai buổi làm việc của Bác thường là rất khẩn trương. Việc Ðảng, việc nước bề bộn. Lo giải quyết giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm. Lo đối phó ở miền Bắc, lo kháng chiến ở miền Nam. Lo việc nội trị, ngoại giao.

Ngày 3/9/1945, Người chủ trì phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời. Phá bỏ những nghi thức thông thường, Người đi ngay vào nội dung cuộc họp, nêu rõ sáu công việc cấp bách phải làm. Tất cả mọi vấn đề được Bác nêu ra chỉ trong 30 phút. Những khó khăn chồng chất, phức tạp của chế độ thực dân phong kiến để lại suốt tám mươi năm, những vấn đề sinh tử, cấp bách của dân tộc đã được Bác nêu ra một cách ngắn gọn, rõ ràng cùng với những phương hướng, đôi lúc cả những biện pháp để giải quyết.

Ðể có được một tác phong làm việc khoa học, chu đáo như vậy, Người đã trải qua những năm tháng gian khổ rèn luyện, học tập và đấu tranh. Những điều Bác nêu ra trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời năm đó, ngắn gọn, cụ thể nhưng đó là tầm cao trí tuệ, dự báo cả tương lai. Bác nói: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”. Ðiều Người cảnh báo cho đến nay vẫn là điều trăn trở của toàn Ðảng, toàn dân ta về trình độ dân trí và nền giáo dục nước nhà trong thế kỷ XXI.

Ðối với Bác, mọi việc hàng ngày, bao giờ cũng được lựa chọn, sắp đặt có mục đích rõ ràng. Làm việc khoa học và chu đáo nên cùng với những công việc của đất nước, Người vẫn dành được thời gian đi thăm đồng bào, chiến sĩ, anh chị em công nhân, các cháu nhi đồng; chăm sóc vườn cây, ao cá; chơi bóng chuyền hay tập thái cực quyền; nghe một làn điệu dân ca, một câu hò xứ sở… Do làm chủ được thời gian, chủ động trong công việc, cho nên Bác luôn biểu hiện một phong cách ung dung, tự tại, lạc quan, bình tĩnh, tự tin, sáng suốt ngay cả trong những tình huống phức tạp, nguy hiểm của bản thân mình hay cùng Trung ương, Chính phủ chèo lái con thuyền cách mạng vượt qua những thác ghềnh, lãnh đạo toàn dân tiến hành hai cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc, xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa.

Tác phong làm việc khoa học, chu đáo của Bác còn là một nghệ thuật mà Người đã đạt đến đỉnh cao, biểu hiện của nhiệt tình cách mạng luôn cháy bỏng, một quyết tâm sắt đá, một nghị lực phi thường qua một quá trình phấn đấu, rèn luyện bền bỉ, dẻo dai, luôn luôn vì lợi ích của quốc gia, dân tộc; vì hòa bình và tiến bộ trên toàn thế giới.

PGS, TS PHÙNG ÐỨC THẮNG
Theo Báo Nhân dân
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

Hồ Chí Minh đến Matxcơva hòa giải quan hệ Trung – Xô

Sau khi bất đồng giữa hai đảng Trung Xô được công khai, Ban lãnh đạo đảng Việt Nam hết sức quan tâm. Khi hội nghị Bắc Đới Hà vừa kết thúc thì Hồ Chí Minh đã tới đây gặp lãnh đạo Trung Quốc và biểu thị ông chuẩn bị đi Matxcơva khuyên hòa giải, làm công tác Khơrutxop một chút, hy vọng bất đồng Trung Xô có thể thông qua đàm phán giải quyết, Hồ Chí Minh đề nghị triệu tập ba hội nghị, trước tiên là hội đàm hai đảng Trung Xô, rồi thảo một tuyên bố, sau đó triệu tập hội nghị các đảng cộng sản và công nhân thế giới thông qua tuyên bố này.

kieu1608022010.jpg

Ngày 10 – 8 – 1960, trong khi đi bơi tại bãi biển, Mao Trạch Đông đã nói chuyện với Hồ Chí Minh. Mao nói đồng chí là người có lòng tốt, tôi thấy về cơ bản ý kiến của các đồng chí là tốt. Các đồng chí muốn tăng cường đoàn kết là tốt. Khơrutxop rút chuyên gia từ Trung Quốc về, không cho máy móc, nhưng lại cử chuyên gia và đưa máy móc tới Ấn Độ. Như thế cũng tốt. “Tôi không tin không có chuyên gia, người Trung Quốc sẽ chết hết!” Vì thế rốt cuộc ai là bè bạn, ai là kẻ thù? Vấn đề này phải làm cho rõ. Trên vấn đề này, chúng tôi và Khơrutxop có bất đồng. Hiện nay Khơrutxop là đại biểu của chủ nghĩa xét lại, tấn công vào chủ nghĩa Mác – Lênin, tấn công vào mặt trận xã hội chủ nghĩa và phong trào cộng sản chủ nghĩa quốc tế. Ông ta tỏ ra rất thân tình với chủ nghĩa đế quốc và phái phản động các nước, cùng đứng với bọn chúng. Nghe những lời nói đó của Mao Trạch Đông, Hồ Chí Minh vô cùng kinh ngạc, lập tức nhận thức được “cách nói này là nghiêm trọng”.

Mặc dù vậy, Mao Trạch Đông vẫn tán thành biện pháp giải quyết bất đồng hai đảng Trung Xô bằng con đường nội bộ giữa các đảng cộng sản. Ông nói với Hồ Chí Minh, có thể thảo luận nội bộ, không tranh luận công khai, không được bộc lộ chia rẽ trước mặt kẻ thù. Trong thời gian sung đột biên giới Trung – Ấn, Khơrutxop đã để cho Tass ra một tuyên bố, nghiêng về phía Ấn Độ, chỉ trích Trung Quốc. Tuy vậy chúng tôi vẫn không muốn công khai hóa bất đồng này. Hậu quả của bất hòa Trung Xô sẽ vô cùng nghiêm trọng, vì vậy tôi tán thành đồng chí đi Matxcơva.

Hồ Chí Minh trao đổi với Mao Trạch Đông, ông cần nói với Khơrutxop bốn vấn đề Trung Quốc không đồng ý với Liên Xô. Thứ nhất là thời đại của chúng ta và vấn đề chủ nghĩa đế quốc, thứ hai là vấn đề chiến tranh và hòa bình, thứ ba là vấn đề chung sống hòa bình, thứ tư là vấn đề quá độ hòa bình. Ông còn chuẩn bị nói với Khơrutxop là các đồng chí Trung Quốc chủ trương dùng biện pháp bình thường để giải quyết bất đồng giữa các đảng anh em, tức xuất phát từ nguyện vọng đoàn kết thông qua thảo luận, tiến hành phê bình và tự phê bình giải quyết bất đồng giữa hai đảng Trung Xô, đạt được mục đích đoàn kết trên cơ sở mới.

Mao Trạch Đông tán thành kiến nghị của Hồ Chí Minh nói, những ý kiến của chúng tôi Matxcơva đã biết, bây giờ đồng chí hòa giải dùng tư cách người thứ ba tới nói cũng tốt.

Hồ Chí Minh thậm chí có kiến nghị, sau khi đoàn đại biểu hai đảng Trung Xô hội đàm, tốt nhất là Mao Trạch Đông nên đến Matxcơva hội đàm với Khơrutxop, nhưng Mao Trạch Đông không đồng ý nói, hiện nay người ta chửi tôi đã tới mức ngậm máu phun người, tôi tới bàn cái gì? Hơn nữa đảng tôi còn rất nhiều người, Lưu Thiếu Kỳ, Đặng Tiểu Bình còn có Bành Chân nữa, một, hai năm nữa sẽ nói. Bản thân Khơruxop đã quá nhiều, thậm chí đã nói đến muốn đưa thi thể Stalin tới Trung Quốc. Mao Trạch Đông hỏi Hồ Chí Minh, đồng chí tán thành hay không tán thành đưa thi thể Stalin tới Trung Quốc? Hồ Chí Minh trả lời để ở Liên Xô mới phải, làm sao đưa sang Trung Quốc được.

Chuyến đi hòa giải tại Matxcơva của Hồ Chí Minh ít nhiều cũng có một  số tác dụng. Trung ương  đảng cộng sản Lên Xô đồng ý hai đảng Trung Xô hội đàm và khởi thảo một tuyên bố.

Sau khi từ Matxcơva trở về, Hồ Chí Minh gặp lại Mao Trạch Đông, và nói trên các vấn đề như tiêu diệt chủ nghĩa đế quốc, thực hành chuyên chính vô sản, làm cách mạng vô sản, xây dựng chủ nghĩa cộng sản… Khơrutxop nhất trí với ý kiến của các đồng chí Trung Quốc. Thế nhưng trong tình hình quốc tế hiện nay, trên các vấn đề như chiến tranh và hòa bình, chung sống hòa bình, quá độ hòa bình… còn có những điểm chưa nhất trí với cách nhìn của đảng cộng sản Trung Quốc. Người lãnh đạo Liên Xô chỉ trích, từ năm 1958 trở đi nhiều sự tình Trung Quốc không nói với Matxcơva và cũng không thương lượng, như việc Trung Quốc đưa ra khẩu hiệu “trăm hoa đua nở”, tiến hành “đại nhảy vọt” và phong trào cộng sản nhân dân, đề xuất gió đông thổi bạt gió tây, sửa chữa mộ Thành Cát Tư Hãn..

Mao Trạch Đông biểu thị, thực chất của quan hệ Trung Xô là khống chế và phản khống chế. Họ muốn quản chúng tôi đến chết, chúng tôi không chống sao được? Matxcơva thực hiện chủ nghĩa nước lớn, chúng tôi không chống không được, không có dư địa cho sự thỏa hiệp ở đây. Còn đại nhảy vọt, công xã nhân dân, trăm hoa đua nở là lạp xường kiểu Trung Quốc, chúng tôi không tính tới việc bán ra ngoài!

Tuy vây quan hệ Trung Xô sau đó ngày một xấu đi, đó là điều mọi người đều biết.

Nguồn: Tạp chí Xưa&Nay

hochiminhhoc.com

Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là tiền đề tạo mọi thắng lợi

Trên cơ sở nhiệm vụ chính trị của ngành, Đảng ủy Sở Giao thông- Vận tải  chỉ đạo các Chi bộ, tổ chức đoàn thể… triển khai Cuộc vận động  “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” một cách tích cực, nghiêm túc, có hiệu quả. Gắn Cuộc vận động vào từng nhiệm vụ, lĩnh vực chuyên môn cụ thể và mỗi cán bộ, đảng viên, công nhân viên phải tự xây dựng cho mình một phong cách học tập tấm gương đạo đức của Bác với tinh thần cần kiệm, liêm chính, chí công, vô tư…

Để thực hiện Cuộc vận động  có chiều sâu, trở thành nền nếp trong mỗi cán bộ, đảng viên, công nhân viên, ngay sau khi Tỉnh ủy phát động Cuộc vận động, Đảng ủy Sở thành lập Ban chỉ đạo Cuộc vận động, nhằm triển khai, kiểm tra, giám sát chặt chẽ việc thực hiện tấm gương của Bác ở mỗi lĩnh vực chuyên môn cụ thể. Đảng ủy tổ chức Hội nghị quần chúng lấy ý kiến tham gia đóng góp vào dự thảo báo cáo đánh giá thực trạng đạo đức, lối sống của cán bộ, công nhân viên chức toàn Đảng bộ. Qua đó, ban hành, niêm yết chuẩn mực đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, công nhân viên trong toàn cơ quan. Đảng ủy còn tổ chức 3 hội nghị quán triệt nội dung Cuộc vận động cho toàn thể cán bộ, đảng viên, quần chúng. 100% đảng viên xây dựng bản tự phê bình, kiểm điểm và chương trình học tập tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, nhiều ý kiến đánh giá của quần chúng về đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, từ đó rút kinh nghiệm những mặt chưa được và tiếp tục phát huy những mặt tích cực. Cuộc vận động đã trở thành nội dung quan trọng, định kỳ trong các kỳ sinh hoạt Đảng hàng tháng ở mỗi Chi bộ cũng như toàn Đảng bộ.

Các phong trào thi đua, học tập, làm theo tấm gương đạo đức của Bác nhận được sự hưởng ứng tích cực ở mỗi phòng, ban chuyên môn như: Phong trào lao động, sáng tạo hiệu quả, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; phong trào phát huy sáng kiến cải tiến kỹ thuật, phấn đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao; các phong trào sưu tầm sách, báo, tạp chí về Chủ tịch Hồ Chí Minh, văn hóa, văn nghệ ca ngợi chủ đề về Bác… Thông qua các phong trào này, từ đảng viên đến quần chúng đều tự ý thức bản thân và có trách nhiệm phấn đấu, vươn lên. Kết quả thiết thực đạt được từ các phong trào trên là đã thực hành được tiết kiệm, chống lãng phí, tạo thêm nguồn thu nhập chính đáng cho mỗi cán bộ, đảng viên, quần chúng, với mức thu nhập tăng 33% theo lương hàng tháng. 2 đề tài khoa học về sáng kiến cải tiến trong công tác đào tạo lái xe và sáng kiến sử dụng bột bê tông màu tham gia dự thi cấp tỉnh. 1 đồng chí đạt giải trong cuộc thi kể chuyện về Bác do Đảng ủy cấp trên phát động. Cơ quan, công sở gọn gàng, sạch đẹp, văn minh, lịch sự.

Kết quả lớn nhất mà ngành Giao thông đạt được trong quá trình triển khai, học tập, làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh đó chính là sự ghi nhận của tỉnh và nhân dân trong việc thực hiện nhiệm vụ chuyên môn xây dựng, quản lý đường sá, cầu cống. Hệ thống giao thông của Bắc Ninh hiện nay đã khác xa so những con đường rải cấp phối đồi và những tuyến đường đất liên xã, liên thôn lầy lội, bụi bẩn khi mưa, nắng của những ngày đầu mới tái lập tỉnh. Giờ đây, các tuyến Quốc lộ qua địa bàn tỉnh đều được xây dựng khang trang, hiện đại, hệ thống đường tỉnh, đường huyện, đường liên xã, đường giao thông nông thôn và đường đô thị cơ bản được rải nhựa, bê tông hóa. 40 cây cầu và hàng nghìn cống thoát nước được xây mới.

Cùng với đó là dịch vụ vận tải cũng có bước phát triển vượt bậc với mạng lưới vận tải công cộng khép kín. Tất cả các địa phương trong tỉnh đều có xe buýt đi qua và nối liền với các tuyến xe buýt của các tỉnh lân cận như Hà Nội, Hải Dương, Bắc Giang, không những đáp ứng nhu cầu đi lại thuận tiện cho nhân dân mà còn góp phần đáng kể trong công tác bảo đảm ATGT, nhằm giảm thiểu tai nạn giao thông. Đặc biệt, Sở đang triển khai thực hiện Quy hoạch phát triển giao thông, vận tải đến năm 2020 với quy mô hoàn chỉnh mạng lưới giao thông, vận tải khang trang, hiện đại, không những phục vụ đắc lực nhu cầu phát triển kinh tế- xã hội trước mắt mà còn đáp ứng về lâu dài. Đây sẽ là hướng mở để nhanh chóng đưa Bắc Ninh trở thành tỉnh công nghiệp trong tương lai gần.

Bài, ảnh: Giang Ninh

baobacninh.com.vn

Đi làm ruộng với nông dân

Bác sinh ra và lớn lên trong gia đình nhà nho, nhưng là nhà nho có nguồn gốc nông dân. Thời gian dài từ tấm bé đến tuổi học trò, Bác sống ở quê giữa những người nghèo khổ một nắng hai sương ngoài đồng nên Người hiểu sâu sắc nỗi khổ, nỗi vất vả của người nông dân.

Những việc của nghề nông đối với Bác cũng không có gì xa lạ. Thời kỳ hoạt động cách mạng ở nước ngoài, khi Người được bầu vào Ban Chấp hành Quốc tế nông dân, có người thắc mắc, hoài nghi vì Bác khai trong lý lịch là xuất thân nhà nho, trí thức. Nghề nghiệp chính là thuỷ thủ, họ e rằng Bác sẽ không có điều kiện để am hiểu các vấn đề nông dân. Sau khi bế mạc Đại hội Nông dân, các đại biểu đi thǎm một nông trang, thấy nông dân đang lao động, Bác cũng xắn quần xuống giúp một nông dân đang làm ruộng, việc nhà nông đối với Bác không gì khó khǎn, trong khi các đại biểu nhiều người đang lúng túng thì Bác làm nhanh nhẹn như một nông dân thực thụ, trước con mắt thán phục của mọi người. Có ai biết một thời Bác ra đồng cùng người dân quê làng Sen làm lụng, hay những lúc đi trồng nho cùng những người nông dân nghèo khổ ở Bruklin nước Mỹ. Trên mặt trận báo chí công luận, Bác là người viết nhiều về nông dân, vạch mặt tố cáo sự bóc lột sức lao động người nông dân của địa chủ cường hào phong kiến, đẩy nông dân vào con đường bần cùng bằng sưu cao thuế nặng. Bác đã tìm ra và chính Người đã thực hiện cương lĩnh giải phóng người nông dân bằng cuộc Cách mạng Tháng Tám lịch sử. Người đã để lại một di sản có một không hai trong lịch sử loài người chân dung một lãnh tụ bên người nông dân. Người Nga, một dân tộc đi đầu tiên phong, biến người nông dân lao động “thành người tự do”, nhưng nay họ chưa đi đến nơi đã tạm dừng. Còn người nông dân Việt Nam chúng ta luôn có Bác Hồ cùng đi bởi không chỉ tư tưởng Bác soi đường mà hình ảnh Bác dung dị bên người nông dân mãi mãi là chỗ dựa tinh thần để tự hào, tin tưởng và làm theo lời Người.

Cùng đổ mồ hôi với người nông dân mới quý hạt gạo, củ khoai, mới xót lòng khi bão lụt ập đến cướp đi thành quả lao động vất vả của người dân trên ruộng đồng. Ngay sau khi giành được chính quyền, tuy bận trǎm công nghìn việc Bác vẫn dành nhiều thời gian, không chỉ nhắc nhở các địa phương đắp đê chống bão lụt, mà còn trực tiếp xuống tận các xã để đôn đốc, kiểm tra công việc. Biết tin đê sông Hồng ở khu vực Hưng Yên, Thái Bình bị vỡ, Bác trực tiếp xuống kiểm tra việc khắc phục hậu quả để có biện pháp kịp thời cùng chính quyền địa phương vận động giúp đỡ nhân dân vượt qua khó khǎn, Bác hỏi cặn kẽ có mấy người bị nạn, trước hết phải lo cái ǎn để họ khỏi đứt bữa, sau đến nơi ở và ổn định sinh hoạt cho mọi người, tập trung nhân tài vật lực để đắp lại chỗ đê bị vỡ. Bác hứa khi nào đắp xong Bác sẽ xuống thǎm. Thế rồi, giữ đúng lời hứa, bốn tháng sau Bác xuống cắt bǎng khánh thành chỗ đê vừa mới đắp. Bác đi xem kiểm tra một lượt, nhìn chỗ giáp ranh đê mới đê cũ, Người nhắc nhở phải tǎng cường gia cố mới an toàn. Bác vừa đi vừa nhún thử độ lún, Bác khen đắp nhanh nhưng chưa lèn chặt, cần tǎng cường thêm lực lượng để đầm thật kỹ mới bảo đảm lâu dài.

Thay mặt “Ban Đời sống mới”, nhà vǎn Nguyễn Huy Tưởng đến báo cáo với Bác là hoạt động của Ban dựa trên 3 nguyên tắc: Dân tộc, dân chủ và khoa học. Nghe xong, Bác liền nói: “Trong đồng bào ta chưa mấy người hiểu những từ chú nói mà hiện nay họ cần là cần cái này”, vừa nói Bác vừa chỉ tay vào bụng, “phải có cái ǎn đã, nếu không có ǎn không làm gì được. Hoạt động của “Ban Đời sống mới” cũng phải tập trung cái đó đã, vận động bà con “lá lành đùm lá rách”, tǎng gia sản xuất, cứu đói”. Hậu quả nạn đói nǎm 1945 như một bóng ma ghê rợn phủ lên cuộc sống đói rách của người nông dân, càng làm không khí ảm đạm khó khǎn thêm, trên cương vị Chủ tịch nước, Bác đi xuống các địa phương như Ninh Bình, Thái Bình… để đôn đốc việc cứu đói, tổ chức tǎng gia sản xuất, đắp đê phòng chống thiên tai… Một lần trong cuộc họp, bàn chống đói, Bác nói: “Các chú biết không, người xưa nói “dân di thực vi thiên”, có đồng chí tưởng Bác nói nhầm bèn chữa lại thưa Bác “dân dĩ thực vi tiên chứ ạ”, Bác cười và giải thích: “Bác nói “Dân dĩ thực vi thiên” người xưa dạy “dân lấy cái ǎn làm trời”, Đảng, Chính phủ phải lo cái ǎn cho dân không được để dân đói. Đó là Bác lấy lời của Lục Sinh nói với Hán Cao Tổ “Nhà vua lấy dân làm trời, dân lấy cái ǎn làm trời”. Bác dạy thật chí lý. Nǎm 1955, nghe tin lũ lụt lớn ở Kiến An, gây thiệt hại lớn về người và của cho nhân dân. Bác cho gọi đồng chí có trách nhiệm lên hỏi cụ thể. Bác hỏi, xã Hoà Nghĩa thiệt hại mấy người chết, nhà cửa, trường học, bệnh xá bị đổ bao nhiêu. Khi nghe báo cáo con số thiệt hại cụ thể, Bác rất lo lắng và rơm rớm nước mắt nhất là biết có nhiều gia đình chết người và trôi nhà cửa. Bác cǎn dặn phải có phương án tỷ mỉ khắc phục hậu quả thiệt hại. Người chỉ thị Tỉnh ủy phải trực tiếp chỉ đạo và dặn đi dặn lại “trước hết phải lo cái ǎn, nơi ở cho người bị nạn, tuyệt đối không để một người bị đói”. Cứ đến mùa nước lũ, hay kỳ hạn hán Bác thường trực tiếp xuống địa phương tham gia “chống trời” cùng nhân dân.

Nhớ lần Bác về công trường Đại thuỷ nông Bắc – Hưng – Hải, Bác xuống công trường tham gia lao động như một người dân. Trên đường đi, thấy một chị đang đẩy chiếc xe cút kít nặng nề lên dốc, Bác vội chạy đến đẩy giúp chị. Bác hoà vào không khí lao động khẩn trương của công trường như tǎng thêm sức mạnh cho mọi người hǎng say quên mình trong không khí vui vẻ. Lần Bác về Hải Hưng tham gia chống hạn với nông dân, nghe tin Bác về các đồng chí cán bộ tỉnh tổ chức đón Bác long trọng, Bác không hài lòng, Bác phê bình ngay: “Bác về là đi chống hạn chứ có phải đi chơi đâu mà đón tiếp”. Bác ǎn mặc quần áo như một lão nông thực sự. Người đi rất nhanh đến chỗ nhân dân đang đào mương, Bác vội xắn quần xắn tay áo xuống cùng đào đất với bà con để lại phía sau các “quan cách mạng” trong những bộ quần áo bảnh bao đang lúng túng hổ thẹn trước dân chúng. Cuối cùng tất cả cùng ào xuống đào đất với bà con theo gương Bác. Bác không nói, không hô hào, nhưng Người đã làm cuộc “cách mạng” cho “các quan” trước muôn dân. Bác ǎn cơm chung với mọi người tại nơi đang đào mương. Thấy người xới cơm, xới bát nào cũng vơi, Bác nói vui: “Chú xới cơm thế này thì công việc làm sao cho đầy được”. Bữa ǎn có Bác thêm vui hẳn lên. Bác hỏi chuyện: “Các chú có biết nấu nướng không?”. Mỗi người kể theo cách hiểu của mình. Bác thừa hiểu chẳng có ai ở nhà thực sự giúp vợ nấu ǎn cả, nên nghe nói nấu nướng sao thì kể vậy. Rồi Bác kể chuyện hồi xưa Bác làm phụ bếp thế nào nên biết nấu nướng, Bác nói nghề nấu ǎn ai biết nấu kể là biết ngay, còn ai chỉ nghe hoặc nhìn thấy thì không thể bịp được người khác, vì kỹ thuật nấu ǎn quan trọng là chỗ này – Bác chỉ vào mũi, chứ không phải chỗ này – Bác chỉ vào mắt và tai. Bác nói tiếp, vì sao mọi người phải biết nấu ǎn là vì vừa giúp được “cô ấy” có thời gian học tập và nuôi dạy con cái, vừa rèn luyện mình, chữa cái bệnh hão, bệnh sĩ, bệnh gia trưởng thâm cǎn cố đế, cho việc bếp núc là của đàn bà. Hơn nữa khi tự mình nấu thì mình ǎn ngon hơn, thích ǎn món nào thì làm món ấy. Chuyện vui, nhưng Bác giáo dục đạo đức con người, đạo đức cộng sản trong cán bộ. Bác lo lắng quan tâm đến sự tiến bộ của cán bộ từ những việc làm bình thường nhất, nhưng chính đó là những xuất phát điểm của đạo đức chân chính, mà mọi người cán bộ muốn dân tin thì rõi vào để tự xem xét, rèn luyện hoàn thiện mình.

Bác về Hà Đông chống hạn, khi đến một con mương chắn ngang đường, đồng chí Chủ tịch tỉnh mời Bác đi vòng đến chỗ dễ qua hơn. Nhìn xuống thấy đồng chí Chủ tịch tỉnh đi đôi dày bóng lộn, Bác bảo: “Chú cứ đi đường ấy” nói rồi, Bác cởi dép lội tắt qua cho nhanh để đến với nông dân đang tát nước chống hạn. Sang bờ bên kia, Bác bảo mọi người cùng tát nước giúp dân. Bác chỉ một thanh niên ǎn mặc bảnh bao cùng tát nước với Bác, nhưng đồng chí này không biết tát nước, đồng chí Bí thư tỉnh đỡ lời: “Thưa Bác, đồng chí này là nhà báo ạ”. Bác cười và nói: “Nhà báo của nông dân thì phải biết lao động như nông dân thì viết mới đúng được”.

Mỗi người dân chúng ta ai cũng được xem hình ảnh Bác đang đạp nước trên guồng chống úng, ghi nhận trong ta hình ảnh Bác hoà mình với nỗi vất vả một nắng hai sương của người nông dân. Khắc sâu trong ta tâm niệm Chủ tịch nước cũng là một công dân, một người lao động trong triệu triệu người không có gì cách biệt. Đó là hình ảnh được ghi lại vào nǎm 1960 Bác về chống úng tại xã Hiệp Lực. Vừa đạp guồng nước, Bác nhắc nên lắp ổ bi vào trục để người đạp đỡ vất vả, mà nǎng suất cao hơn. Bác hỏi các cô thanh niên có biết hát đối đáp không, rồi Bác lẩy Kiều: “Trǎm nǎm trông cõi người ta, chống úng thắng lợi mới là người ngoan”. Bác bảo các cô lẩy tiếp, các cô vì mải ngắm Bác nên không chuẩn bị không lẩy tiếp được chỉ biết vỗ tay, và xin mắc nợ với Bác. Bác nói: “Muốn lao động đỡ mệt và có sức mạnh, thanh niên nên tổ chức vǎn nghệ”.

Nǎm 1958, Bác về Nam Định dự Hội nghị “Bàn về sản xuất, nông nghiệp”. Bác chǎm chú lắng nghe các bản báo cáo thành tích của các đơn vị. Bác chú ý bản báo cáo nói về cách làm các loại phân bón. Bác đứng lên nhìn khắp hội trường và hỏi to: “Chú nào gánh bùn đổ cho hai sào lúa có đây không?”, không có ai đứng dậy. Một đồng chí cán bộ tỉnh uỷ báo cáo, là người nông dân đó không thuộc diện tham dự Hội nghị này. Bác phê bình và yêu cầu cho người đó đến dự Hội nghị ngay. Bác hỏi chị em phụ nữ ở đây có đội phân nữa không? Các đồng chí cán bộ tỉnh chưa dám báo cáo Bác ngay, may có chị đại biểu nữ đỡ lời: “Thưa Bác, chị em ở đây không quen gánh nên cái gì cũng đội ạ”, Bác dặn: “Nên tìm cách cải tiến vận chuyển bằng xe để đỡ cho chị em về lâu dài”.

Nǎm 1963, Bác về chống hạn ở Nghiêm Xuân (huyện Thường Tín) hôm đó Bác đến sớm, đồng bào còn vắng, tiện đường Bác xuống khu dân cư, hỏi thǎm dân. Bác vào một nhà dân thǎm và hỏi: “Tết vừa qua gia đình đón, Tết có vui không?”. Có cụ già hơn 60 tuổi thưa với Bác là ǎn Tết không vui. Bác hỏi: “Vì sao?”. Cụ kể lại: Gia đình từ xưa có ngôi nhà gần đường, vừa qua huyện có lệnh đuổi bà đi để mở đường không bồi thường, cũng không chỉ cho gia đình chuyển đi đâu, vì thế gia đình ǎn Tết không vui, người ra lệnh ấy là ông Chủ tịch huyện. Bác lắng nghe mà vẻ mặt không vui, Bác bảo: Làm người cán bộ như vậy là không xứng đáng không khác gì cường hào xưa. Sau đó Bác chỉ thị phải điều tra làm rõ ngay. Vị Chủ tịch kia bị kỷ luật. Lòng dân rất hả dạ và nhắc mãi chuyện đó như làm gương cho cán bộ đối với dân phải làm gì. Hơn nữa hôm đó Bác tham gia chống hạn với dân, trời nắng to có đồng chí cầm ô che cho Bác, Bác bảo: “Dân chịu được thì Bác cũng chịu được, chú làm như Bác là ông quan thời xưa”. Trên đường đi chống hạn giúp dân, Bác thấy đi trước Bác có xe công an còi inh ỏi dẹp đường, Bác cho dừng xe và lệnh cho xe công an dừng lại, Bác mới đi tiếp. Bác phê bình: “Bác xuống với dân để chống hạn mà các chú làm cho dân họ sợ thì xuống làm gì?”.

Trong di sản tư tưởng của Bác, vấn đề giải phóng nông dân chiếm một vị trí quan trọng. Trên hành trình đi tìm đường cứu nước, tiếp cận với nhiều xu hướng chính trị của loài người, Bác phân tích lựa chọn tiếp thu những gì tinh túy phù hợp với hoàn cảnh đất nước và vận dụng một cách sáng tạo những tinh hoa đó vào hoàn cảnh cụ thể của nước nhà. Người đi đến kết luận vấn đề giải phóng dân tộc ở Việt Nam thực chất là vấn đề nông dân. Nông dân vừa là động lực nhưng cũng là đối tượng của cách mạng. Cho nên Bác dành nhiều trí tuệ, công sức và thời gian cho vấn đề nông dân. Từ tấm bé, xuất phát từ trực quan sinh động, trước cảnh người nông dân làng quê khổ cực vì bị áp bức, bóc lột mà nghèo đói, từ đó mới có nhận thức do mất nước, không có tự do và động cơ ra đi tìm đường cứu nước một phần cũng được xuất phát từ vấn đề nông dân. Thời kỳ hoạt động cách mạng ở nước ngoài, Bác nói nhiều viết nhiều; đấu tranh không mệt mỏi cho vấn đề giải phóng dân tộc, cho quyền lợi người nông dân. Bác bênh vực, xây dựng cho mình một hệ thống quan điểm về vấn đề nông dân trong hệ tư tưởng giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp. Bác đứng về nông dân, bênh vực quyền lợi của nông dân nhưng không sa vào nông dân chủ nghĩa, không quá tả, không xô bồ khi phân tích mặt tốt, mặt phải hoàn thiện của nông dân trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân.

Những nǎm tháng cuối đời Bác, tuy sức khoẻ yếu nhưng Người dành nhiều thời gian làm việc với các đồng chí phụ trách nông nghiệp. Họp Bộ Chính trị, hay các buổi làm việc về nông nghiệp Bác thường nhắc bản Điều lệ Hợp tác xã. Bác bảo công nhân có ngày kỷ niệm thì nông dân cũng phải có ngày kỷ niệm. Nên lấy ngày ban hành Điều lệ Hợp tác xã làm ngày kỷ niệm cho nông dân. Bác dặn viết bản Điều lệ sao cho nông dân ít học cũng hiểu được. Sau khi đọc bản dự thảo, Bác nói đây là bản dùng cho cán bộ, còn đối với xã viên thì viết phải tóm tắt hơn, dễ hiểu hơn. Bác đọc và sửa chữa rất kỹ, có chỗ nào, chữ nghĩa cầu kỳ khó hiểu Bác đều sửa lại. Số thứ tự các chương đánh số La mã, Bác sửa lại “Chương Một… Hai…”. Câu “Nhà nước hết lòng giúp đỡ” Bác bỏ chữ “hết lòng” vì thừa. Câu “xã viên phải góp ruộng đất, trâu bò, các công cụ chủ yếu”, Bác sửa cho chặt chẽ hơn: “Xã viên phải góp ruộng đất, góp cổ phần, để lại trâu bò và các công cụ chủ yếu” chữ “để lại” vừa có tình và có nghĩa giữa xã viên và Hợp tác xã. Trong cuộc họp Bộ Chính trị bàn về nông nghiệp, Bác đề nghị: “Quỹ tích luỹ để khoảng 7 – 10% thu nhập Hợp tác xã là quá cao, đời sống dân còn thấp nên tập trung nâng mức sống của dân”. Bộ Chính trị nhất trí chỉ để quỹ tích luỹ 5 – 10%. Sau đó Bác yêu cầu chuyển nội dung Bản Điều lệ sang diễn ca phát trên đài phát thanh cho dân dễ thuộc dễ nhớ để làm theo./.

Theo Camau.gov.vn
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

Câu chuyện nhỏ – Bài học lớn

(ĐCSVN) – Qua những câu chuyện về Bác, mỗi chúng ta đều cảm nhận được ý nghĩa nhân sinh sâu sắc thể hiện trong từng lời nói, cử chỉ của Người để từ đó cùng nhau tu dưỡng, rèn luyện theo gương Bác Hồ kính yêu.

Những câu chuyện về Bác – đó là những câu chuyện tuy ngắn gọn nhưng lại vô cùng sâu sắc, khắc hoạ rõ nét và sinh động chân dung một con người – một vị lãnh tụ thiên tài nhưng rất đỗi giản dị, thanh cao với tình yêu thương bao la dành cho con người. Tư tưởng và tấm gương đạo đức của Bác là tài sản vô giá cho thế hệ hôm nay và mai sau học tập, noi theo. Nhận thức được điều đó, Ban Thường vụ Đảng uỷ cơ quan Bộ Nông nghiệp – Phát triển nông thôn (NN – PTNT) đã coi việc “Kể chuyện về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” không chỉ là một hoạt động để hưởng ứng Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” mà quan trọng hơn, mỗi câu chuyện còn là một bài học để từng cán bộ, đảng viên, công chức, người lao động soi mình, để tự tu dưỡng, rèn luyện, góp phần tích cực vào việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của cơ quan.

Kể chuyện về Bác – đó là việc tưởng như đơn giản nhưng thực tế lại rất khó, bởi ai ai trong chúng ta cũng biết và cũng có thể kể một vài câu chuyện về Người. Nhưng kể cho hay, cho diễn cảm và quan trọng hơn để câu chuyện có sức lan toả đối với người nghe thì không phải ai cũng làm được. Trong bối cảnh sáp nhập Bộ NN – PTNT và Bộ Thuỷ sản, công việc bộn bề nhất là về cơ cấu tổ chức, bộ máy, cán bộ… còn nhiều việc phải giải quyết song Ban Thường vụ Đảng uỷ cơ quan Bộ NN – PTNT vẫn xác định huy động sự tham gia của toàn thể cán bộ, đảng viên, người lao động trong cơ quan tham dự cuộc thi “Kể chuyện về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, coi đây là “điểm nhấn” vừa cụ thể nhưng cũng hết sức sinh động để thực hiện có hiệu quả Cuộc vận động. Tuy nhiên, để việc triển khai có ý nghĩa thực sự ở 71 tổ chức cơ sở đảng với 3.132 đảng viên trong toàn Đảng bộ không phải là một việc dễ dàng, nó đòi hỏi lãnh đạo Đảng uỷ phải có sự chỉ đạo sâu sát và kiên quyết ngay từ đầu. Với tinh thần đó, Ban Thường vụ Đảng uỷ cơ quan Bộ NN – PTNT đã có những văn bản chỉ đạo, hướng dẫn cụ thể kịp thời tới cơ sở. Các đồng chí là thành viên Ban Tổ chức, Ban Giám khảo được phân công đã xuống từng đơn vị giải đáp những thắc mắc, giám sát việc triển khai thực hiện. Hệ thống tư liệu về cuộc đời, sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh, những câu chuyện về Người cũng được lãnh đạo Đảng uỷ chuẩn hoá và cung cấp đầy đủ. Để thống nhất phương thức tổ chức Hội thi “Kể chuyện và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” trong toàn Đảng bộ, Ban Thường vụ Đảng uỷ cơ quan Bộ NN – PTNT đã chỉ đạo Đảng bộ Cục Bảo vệ thực vật tiến hành làm điểm để các đảng bộ, chi bộ trực thuộc dự, cùng rút kinh nghiệm đồng thời triển khai có hiệu quả ở cơ quan, đơn vị mình. Điều đặc biệt là Hội thi “Kể chuyện về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” ở các đảng bộ, chi bộ trực thuộc Đảng bộ cơ quan Bộ NN – PTNT đều diễn ra với tinh thần “Câu chuyện nhỏ – Bài học lớn”, tiết kiệm triệt để, tránh bệnh phô trương, hình thức nhưng vẫn đảm bảo sự hấp dẫn. Một điểm khá sáng tạo tại các Hội thi “Kể chuyện tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” của Bộ NN – PTNT là Ban Tổ chức đã coi khán giả không chỉ là những người đi xem, cổ vũ mà còn là những… người trong cuộc. Những câu nói, những hình ảnh về Chủ tịch Hồ Chí Minh gắn liền với ngày tháng vẻ vang của dân tộc, những tác phẩm của Người, những địa điểm mà Bác đã từng gắn bó trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng cũng được Ban Tổ chức biên tập thành những câu hỏi giành cho khán giả. Chính điều đó đã góp phần tạo không khí sôi nổi, thu hút một lượng lớn khán giả tham dự trong mỗi cuộc thi. Những câu trả lời của khán giả cùng với phần trình bày sáng tạo, kết hợp hài hoà với hình ảnh, âm nhạc của các thí sinh đã biến những buổi thi thành những ngày hội, những buổi sinh hoạt chính trị đầy ý nghĩa.

Nhưng liệu qua việc tổ chức Hội thi “Kể chuyện về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” đã đủ để mỗi cán bộ, đảng viên hiểu rõ về Bác? Câu trả lời chắc chắn là chưa. Bởi hiệu ứng mà Hội thi “Kể chuyện về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” đem lại như chúng ta thấy trong thời gian qua là vô cùng to lớn. Song nó cũng đòi hỏi phải có một quá trình, có một thời gian cần thiết để kịp “khắc sâu” trong lòng mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân, cụ thể hoá thành hành động, thành những chuẩn mực đạo đức hàng ngày. Vậy phải làm sao để tiếp tục thực hiện Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” có hiệu quả? Mỗi đơn vị, mỗi tổ chức cơ sở đảng sẽ có những bước đi, cách làm khác nhau. Riêng Đảng bộ cơ quan Bộ NN – PTNT đã chỉ đạo để tiếp tục thực hiện Cuộc vận động bằng một hình thức khá sáng tạo. Đó là: xây dựng kế hoạch để cử lần lượt từng đảng viên tìm hiểu, nghiên cứu các câu chuyện về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, liên hệ thực tiễn công tác sau đó kể lại trong các buổi sinh hoạt chi bộ. Đây là yêu cầu bắt buộc đối với từng đảng viên và trong thời gian qua đã được thực hiện rất nghiêm túc. Đảng uỷ Bộ NN – PTNT cũng đặt ra kế hoạch: hàng năm, vào dịp 19/5, cấp uỷ sẽ tổ chức lấy phiếu điều tra đối với cán bộ, đảng viên, người lao động tại cơ quan, đơn vị về những câu chuyện hay, thể hiện sâu sắc tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh đã được các đảng viên kể tại chi bộ. Bên cạnh đó, Ban Thường vụ Đảng uỷ cũng khuyến khích cán bộ, đảng viên trong cơ quan sưu tầm những câu nói hay, những câu chuyện đặc sắc về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh để làm tài liệu giáo dục đồng thời thường xuyên phát hiện, biểu dương và nhân rộng các điển hình tiên tiến trong các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ về “làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” mà trọng tâm là các phẩm chất: cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Những khẩu hiệu, panô với nội dung thực hiện văn minh nơi công sở gắn với những chuẩn mực đạo đức mà Hồ Chủ tịch đã nêu cũng đang được khẩn trương hoàn tất.

Đồng chí Nguỵ Thị Tiến Cừ – Phó Bí thư thường trực Đảng uỷ cơ quan Bộ NN – PTNT, đồng thời là Phó Ban chỉ đạo Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” khi trao đổi với chúng tôi đã cho biết: Cuộc vận động diễn ra mới được 1 năm, trong quá trình triển khai, đã nhận được sự hưởng ứng của đông đảo cán bộ, đảng viên trong cơ quan, qua đó đã thu được kết quả bước đầu rất đáng phấn khởi, được cấp trên đánh giá cao. Trong thời gian tới, Đảng uỷ cơ quan Bộ NN – PTNT sẽ có nhiều hoạt động, nhiều cách làm hưởng ứng Cuộc vận động một cách sáng tạo và hiệu quả hơn nữa và đó cũng chính là những bông hoa “Người tốt – Việc tốt” của cán bộ, đảng viên toàn ngành kính dâng lên Bác.

Minh Châu

cpv.org.vn

Cần và kiệm

Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp chỉ đạo Chiến dịch Biên Giới. Nơi ở của Người di chuyển theo các trận đánh, có khi chỉ là túp lều cỏ dựng tạm vài hôm (1950)

Mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân phải luôn luôn nhắc nhủ mình trước hết phải cần kiệm để xây dựng quê hương, đất nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy chúng ta phải “Cần, kiệm liêm, chính” Trước hết là phải cần và kiệm.

Cần là cần cù chịu khó. Trên đời này, bất cứ một người nào, bất cứ làm một việc gì – muốn tốt – trước hết phải cần cù chịu khó. Bất cứ một người nào, bất cứ làm một việc gì – muốn tốt cũng đều phải mất nhiều thời gian và công sức.

Người nông dân nhiều đời phải chân lấm tay bùn, phải hai sương một nắng, phải dậy sớm thức khuya, phải đầu tắt mặt tối mới mong có được những vụ lúa chín vàng. Thợ thuyền nhiều đời phải cần mẫn tay búa, tay choòng, tay vô lăng, bánh lái mới mong có được những mẻ quặng, mẻ dầu thô, những mẻ thép, xi-măng, những mẻ “vàng đen”, những con đường, những cây cầu, những toà nhà làm đẹp cho quê hương, làm giàu cho đất nước.

Không phải chỉ cần cù chịu khó, mà hơn thế nữa, người lao động phải lao động hết mình, lao động sáng tạo, phải vận dụng hết những kinh nghiệm và kỹ năng lao động của mình, đồng thời phải áp dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật tiên tiến nhất vào sản xuất. Có như thế, lao động mới có năng suất cao, hiệu quả kinh tế cao, chất lượng tốt.

Tục ngữ Việt Nam có câu “Kiến tha lâu cũng đầy tổ”, lại có câu “Năng nhặt chặt bị”. Cha ông ta đã truyền dặn cho con cháu phải cần cù chịu khó. “Có công mài sắt” thì “có ngày nên kim”. Cứ cần cù chịu khó ắt sẽ có ngày no ấm.

Sau ngày hoà bình thống nhất ở nước ta, hết thời bao cấp chuyển sang thời kỳ cơ chế thị trường, nhiều công ty, xí nghiệp, nhà máy phải giải thể. Vào những năm ấy, hàng vạn người lao động phải nghỉ việc, về mất sức, về hưu non với những đồng lương hết sức ít ỏi. Tìm được việc làm lúc ấy rất khó. Bởi thế, bóc lạc gia công cho công ty ngoại thương dù chỉ là thời vụ, thu nhập không đáng là bao người ta cũng cho là hết ý. “Thứ nhất đi Đức, thứ nhì đi Nga, thứ ba bóc lạc”. Bóc lạc thôi, nhưng cứ có việc mà làm, cứ cần cù chịu khó thì cũng tạm ổn.

Nhưng, cần cù chịu khó chưa đủ. Cần cù chịu khó phải đi đôi với tiết kiệm, không được lãng phí. Trước hết là tiết kiệm của cải vật chất trong kinh doanh, sản xuất. Đối với các đơn vị quốc doanh, ngoài quốc doanh và gia đình phải có kế hoạch và thực hiện tốt các kế hoạch về lao động, về vốn, về cơ sở vật chất kỹ thuật, nhà xưởng, về nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu, kế hoạch sản xuất, bảo quản, vận chuyển một cách hợp lý. Phải bảo đảm tránh được ít nhất tình trạng kém phẩm chất, rơi vãi, thất thoát tiền vốn và nguyên, nhiên, vật liệu trong tất cả các khâu của quá trình kinh doanh sản xuất.

Tiết kiệm của cải vật chất trong tiêu dùng là ăn, mặc, ở, đi lại, chơi bời giải trí như thế nào cho phù hợp với hoàn cảnh, với điều kiện kinh tế của đất nước mình, đơn vị mình, gia đình mình. Đó chính là tiết kiệm của cải vật chất cho gia đình mình, đơn vị mình, cho quê hương đất nước.Đất đai cũng là một dạng của cải vật chất đặc biệt. Bỏ phí đất đai chính là lãng phí của cải vật chất. Các cụ xưa đã dạy: “Tấc đất tấc vàng” và nhắc nhở con cháu: “Ai ơi chớ bỏ ruộng hoang/Bao nhiêu tấc đất tấc vàng bấy nhiêu”…

Chủ tịch Hồ Chí Minh thường căn dặn đồng bào và chiến sỹ ta phải “ra sức tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm”. Tăng gia sản xuất trước hết là cấy lúa, trồng khoai, là quảng canh, chuyên canh, thâm canh, xen canh gối vụ, tăng năng suất. Nhiều địa phương ở nước ta hiện nay đang thực hiện “dồn điền đổi thửa”, “chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi”, áp dụng những thành tựu mới về khoa học kỹ thuật trong nông nghiệp, xây dựng nhiều cánh đồng 50 triệu đồng/héc-ta/năm. Đó chính là tiết kiệm đất đai, phát huy tiềm năng cao nhất của đất nhằm phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hóa nông nghiệp nước nhà.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng dạy đồng bào và chiến sĩ ta phải “trồng cây gây rừng”. Vâng theo lời Người, trẻ, già, trai, gái, các ngành, các cấp, cả nước thi đua trồng cây gây rừng, trồng cây phủ xanh đồi trọc, trồng cây lấn biển, trồng cây làm “lá phổi xanh” cho thành phố.

Đất đai không chỉ là của cải vật chất đặc biệt để tăng gia sản xuất. Đất đai còn là của cải vật chất khi trở thành nguyên liệu sản xuất nữa. Từ đất, con người đã làm ra gạch ngói, gốm sứ và nhiều vật liệu xây dựng, mặt hàng mỹ nghệ cao cấp khác.

Trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, đất đai còn là nơi để xây dựng những khu công nghiệp lớn, những công trình lớn phục vụ quốc kế dân sinh cho đất nước.

Đáng buồn thay, trong quá trình đô thị hoá đất nước hiện nay, do việc lập kế hoạch và thực thi xây dựng các công trình không đồng bộ đã để nhiều héc-ta, nhiều trăm héc-ta đất bị hoang hoá hàng năm, hàng vài ba bốn năm. Hoặc do không có kế hoạch và biện pháp xử lý nước thải và rác đồng bộ đã dẫn đến nhiều cánh đồng, nhiều vùng đất bị ô nhiễm nặng ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ, đời sống của nhân dân, ảnh hưởng xấu đến các vùng sản xuất nông nghiệp lân cận. Tình trạng ấy chính là biểu hiện của sự lãng phí đất đai – tài sản vật chất đặc biệt của quốc gia, của đất nước.

Thời gian cũng là một loại của cải vật chất đặc biệt. Tiết kiệm thời gian chính là làm sao để cho thời gian sống và làm việc của mỗi một con người chúng ta ngày càng có ý nghĩa hơn. Trước hết là làm sao trong mỗi đơn vị thời gian của người lao động có số lượng sản phẩm, chất lượng sản phẩm và hiệu quả kinh tế cao nhất. Làm sao trong mỗi đơn vị thời gian của một phường, một xã, một cơ quan, doanh nghiệp, một tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội… có ngày càng nhiều người tốt, việc tốt, việc thiện, nét đẹp văn hoá.

Tổ chức nào bè phái, mất đoàn kết, họp hành kéo dài, đề ra và bàn những việc không thiết thực, phải họp hành kéo dài nhưng kết quả lại ít, đó chính là lãng phí thời gian, lãng phí của cải vật chất.

Những con người lười biếng, không chịu học tập, tu dưỡng, rèn luyện, không chịu lao động cống hiến hết mình cho gia đình, cho xã hội, chỉ tìm cách ăn chơi đua đòi, hưởng thụ, lao vào những trò chơi không lành mạnh vô bổ, thậm chí lao vào những “trò chơi giết người” như chích hút ma tuý, sa vào các quán đèn mờ mại dâm, HIV/AIDS, động lắc… Những con người ấy đã lãng phí thời gian của mình, đánh mất tuổi xuân của mình.

Tục ngữ có câu “Miệng ăn núi lở”. Đúng là vậy. Dù con người ta ăn rất ít, mỗi bữa bất quá là ba bốn bát cơm, một khúc cá kho, một vài quả cà… thậm chí chỉ bát cháo cầm hơi… Nhưng bữa nào cũng phải ăn, ngày nào cũng phải ăn, năm nào cũng phải ăn. Sáu mươi, bảy mươi, tám mươi, chín mươi xuân đằng đẵng phải ăn… Cho nên, nếu con người không làm mà chỉ ăn thì quả thật “núi cũng phải lở”.

Các cụ xưa lại có câu “Tay làm hàm nhai, tay quai miệng trễ”. Có làm mới có ăn. Có cống hiến mới có hưởng thụ. Huống chi là không làm! Huống chi là “ăn tàn, phá hại”.

Của cải vật chất ở trên đời này không phải bỗng dưng mà có. Lại càng không phải là vô tận. Vì thế mỗi một con người sống trên cõi đời này phải lao động, lao động và lao động cật lực, lao động hết mình, lao động đến “đổ mồ hôi, sôi nước mắt” mới mong có được của cải vật chất. Có được của cải vật chất cho ngày hôm nay rồi nhưng phải nghĩ đến của cải cho ngày mai, cho những ngày yếu đau hoạn nạn, cho những người láng giềng và cộng đồng khi họ gặp bất hạnh mà mình cần chia sẻ. Rồi phải nghĩ cho bố mẹ già, cho con, cho cháu, cho chắt nữa… Bởi thế con người phải lo của cải vật chất cho hôm nay, còn phải lo “của để dành” nữa.

Vì thế, lao động hết mình vẫn chưa đủ. Còn phải tiết kiệm, không bao giờ được hoang phí.

Tuy nhiên, những năm qua, ở đâu đó trên khắp cả nước, vẫn còn tình trạng những cỗ máy, dàn máy bị bỏ chơ vơ mưa nắng giữa trời, nhiều công trình, nhiều cây cầu, nhiều toà nhà xây dựng dang dở, giơ gọng sắt lên trời nhiều ngày nhiều tháng, thậm chí nhiều năm không ai ngó ngàng tới, nhiều công trình bị “rút ruột” hoặc vì thiếu trách nhiệm dẫn đến chết yểu… Tất cả tình trạng đó là lãng phí, gây tổn hại hàng tỷ đồng, nhiều tỷ đồng cho Nhà nước, tổn hại bao nhiêu sức người, sức của của nhân dân.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là tấm gương sáng về đức tính cần kiệm. Vâng lời Người, mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân phải luôn luôn nhắc nhủ mình trước hết phải cần kiệm để xây dựng quê hương, đất nước.

Theo PHẠM MINH GIANG
Báo Hải Dương online
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Lễ chào cờ hàng ngày trước Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Đội hình chào cờ tiến ra Quảng trường Ba Đình

Lễ chào cờ hàng ngày trước Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh được Thủ tướng Chính phủ quyết định giao cho Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh thực hiện từ sáng ngày 19/5/2001, nhân dịp kỷ niệm 111 năm Ngày sinh của Người. 10 năm qua, Đoàn H75, Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thực hiện trang trọng hơn 7 ngàn lần lễ chào cờ, tạo được ấn tượng, tình cảm tốt đẹp về hình ảnh Tổ quốc Việt Nam – Chủ tịch Hồ Chí Minh trong tâm trí mỗi người dân Việt Nam và bầu bạn quốc tế.

Ngay từ ngày khánh thành Công trình Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh (29/8/1975), trước Lăng Bác, ngày cũng như đêm, luôn tung bay lá cờ Tổ quốc. Việc treo, hạ cờ khi đó không diễn ra thường xuyên, không thực hiện nghi lễ. Nhớ lại những ngày đầu, đồng chí Triệu Văn Siền, nguyên Đoàn trưởng Đoàn H75 cho biết: “Chỉ khi nào lá cờ bạc màu, rách, cuốn nhiều vòng quanh cột cờ, hoặc chuẩn bị kỷ niệm những ngày lễ lớn, những chiến sỹ Cảnh vệ vũ trang mới hạ lá cờ cũ xuống và thay lá cờ mới, bằng phương pháp thủ công”.


Tự hào Việt Nam

Lăng Bác và Quảng trường Ba Đình là nơi hội tụ tình cảm, niềm tin của đồng bào và bầu bạn quốc tế đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh và đất nước, con người Việt Nam. Mọi người đều mong muốn các nghi thức, nghi lễ và mọi hoạt động diễn ra nơi đây thật trang trọng. Theo Thiếu tướng Đặng Nam Điền, Chính ủy Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng thì ý tưởng thực hiện nghi lễ chào cờ từ hơn 10 năm về trước xuất phát từ việc: Đầu năm 2000, Hãng Truyền hình NHK của Nhật Bản đến Ban Quản lý Lăng đề nghị được ghi hình Lễ kéo cờ trước Lăng Bác, để tuyên truyền về những ngày lễ lớn năm 2000 của Việt Nam. Nhưng sau đó, Bạn không thực hiện, vì ta chưa có nghi lễ treo, hạ cờ. Biết được thông tin như vậy. Thiếu tướng Nguyễn Quang Tấn, Trưởng ban Ban Quản lý Lăng kiêm Tư lệnh, khi đó đã quyết định: Ta phải thực hiện nghi lễ chào, hạ cờ trước Lăng Bác”.

“Lễ chào cờ, hạ cờ trước Lăng Bác là nghi thức quốc gia, được thực hiện nơi trang trọng và thiêng liêng, nên phải nghiên cứu kỹ cách thức tổ chức để báo cáo xin ý kiến chỉ đạo của Bộ Quốc phòng và Thủ tướng Chính phủ. Cách tổ chức tốt nhất là cử Đoàn cán bộ sang nghiên cứu, học tập kinh nghiệm chào cờ ở Quảng trường Thiên An Môn, Bắc Kinh, Trung Quốc”. Đó là suy nghĩ mà Thiếu tướng Nguyễn Quang Tấn nhớ lại.

Lễ chào cờ hàng ngày trước Lăng

Đến tháng 8/2000, Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quyết định giao nhiệm vụ luyện tập nghi lễ chào cờ hàng ngày trước Lăng Bác cho Đoàn H75, đơn vị chuyên làm nhiệm vụ bảo đảm an ninh, nghi lễ. Những cán bộ, chiến sỹ Đội Tiêu binh danh dự có chiều cao từ 1m7 trở lên, quân dung đẹp và động tác điều lệnh đội ngũ chuẩn được tập trung luyện tập. Đội hình chào cờ gồm 37 đồng chí. Khối trưởng và vác Quân kỳ là sỹ quan. Còn lại, 3 đồng chí trong Tổ Quốc kỳ, 2 đồng chí bảo vệ Quân kỳ và 30 đồng chí thành 10 hàng ngang trong khối nghi lễ đều do chiến sỹ đảm nhiệm.

Là khối trưởng đầu tiên, đồng chí Nguyễn Anh Thi, nguyên Đội trưởng đội Tiêu binh kể lại: Được giao nhiệm vụ chúng tôi rất tự hào, nhưng cũng đầy nỗi lo. Suốt 4 tháng dòng, nắng cũng như mưa, ngày đêm cán bộ, chiến sỹ dày công luyện tập. Từng động tác đi đều, đi nghiêm, vác súng, bồng súng … đều phải tập cơ bản lại từ đầu. Khó nhất là động tác tung cờ khi chào cờ và động tác thu cờ khi hạ cờ. Bàn cách xử lý tình huống khi cờ xoắn vào cột, không lên, hoặc không xuống được; kể cả khi mất điện phải quay bằng tay. Mọi động tác phải thuần thục, trang nghiêm, không được sai sót, dù là nhỏ nhất. Chỉ một khẩu lệnh hô: “Chào cờ!…. Chào” mà đến 4 sỹ quan tập đi tập lại nhiều lần. Khẩu lệnh đó mười năm rồi, nay nghe lại, tôi vẫn nghẹn lòng xúc động”.

Sau buổi thực hiện Lễ chào cờ “Đón chào thiên niên kỷ thứ 3” vào 0giờ ngày 1/1/2001 thành công tốt đẹp. Ban Quản lý Lăng đã báo cáo và được Thủ tướng Chính phủ quyết định từ ngày 19/5/2001 thực hiện nghi lễ chào cờ hàng ngày trước Lăng Bác.

Từ 5 giờ 30 sáng ngày 19/5/2001, mọi công việc chuẩn bị đã hoàn tất. Trên Quảng trường Ba Đình, hàng ngàn người là bộ đội, công an, công nhân, nông dân, trí thức, đủ các lứa tuổi, cả các phụ lão, thiếu niên, nhi đồng và đoàn viên thanh niên đã tề tựu đông đủ. 6 giờ 24 phút, bản nhạc “Vừng đông đã hửng sáng” từ các loa truyền thanh vang lên, 37 cán bộ, chiến sỹ Đội Tiêu binh danh dự (hiện nay là 34 đồng chí), do đồng chí Nguyễn Anh Thi, Khối trưởng và đồng chí Vũ Quý Dương vác Quân kỳ hùng dũng, oai phong tiến ra Quảng trường.

6 giờ 30 phút, sau lời thông báo: “Sắp đến giờ thực hiện nghi lễ chào cờ, đề nghị đồng bào trên Quảng trường ngừng mọi hoạt động, đứng tại chỗ, hướng về phía cột cờ, để nghi lễ được thực hiện trang trọng”, khẩu lệnh “Chào cờ!…. Chào” vang lên, Quốc thiều cử hành, cờ Tổ quốc từ từ được kéo lên, hàng ngàn, hàng vạn ánh mắt dõi theo trầm trồ khen ngợi. Ông Nguyễn Văn Tân, cán bộ hưu ở Khu tập thể số 3 Ông Ích Khiêm thật cảm động nói: Sau khi dự buổi lễ đầu tiên, từ đó đến nay, 10 năm rồi, sáng và tối nào tôi cũng đi dạo trên đường Hùng Vương, đường Độc Lập, quanh 240 ô cỏ của Quảng trường Ba Đình, ngắm Lăng Bác, đường Bắc Sơn với Tượng đài tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ, thấy Thủ đô đẹp tuyệt vời. Mỗi khi nghe Quốc ca và nhìn lá cờ Tổ quốc từ từ kéo lên trước Lăng Bác, tôi thật xúc động, thật tự hào, trang trọng và thiêng liêng quá. Với tôi, Quốc ca Việt Nam là bài hát hay nhất. Tổ quốc Việt Nam lúc nào cũng đẹp nhất. Và Chủ tịch Hồ Chí Minh là lãnh tụ vĩ đại của cả dân tộc”.

Kể từ ngày hôm đó, không kể thời tiết nắng nóng, dông bão, hay mưa rét, cứ sáng sáng vào 6 giờ mùa hè, hoặc 6 giờ 30 phút mùa đông, Lễ chào cờ trước Lăng Bác được tiến hành trọng thể và hạ cờ vào lúc 21 giờ được thực hiện. Suốt 10 năm, với gần một ngàn lần đi khối trưởng, đồng chí Nguyễn Đức Tuấn, Phó Đội trưởng Đội Tiêu binh danh dự, cho biết: Chỉ khi nào mưa ngập trắng đường Hùng Vương, tràn lên cả thềm sỏi phía Đông, thì mới thực hiện nghi lễ rút gọn. Còn khi mưa vừa, hoặc bắt đầu nghi lễ, dẫu thời tiết thế nào, cũng đều phải thực hiện thật trang nghiêm. Gặp buổi mưa to, gió lớn, lễ phục ướt sũng, giầy ngập trong nước, nhưng ý chí, nghị lực của mọi người đều quyết tâm “tiếng hát, át tiếng mưa”, để nghi lễ không bị gián đoạn. Thực hiện đúng lời dạy của Bác: Khó khăn nào cũng vượt qua”.
Mười năm trôi qua, với 12 lớp chiến sỹ Tiêu binh danh dự của các tỉnh Hòa Bình, Thái Bình,

Hải Dương, Nam Định, Ninh Bình, Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Hưng Yên, Hà Nam, Bắc Giang, Thái Nguyên đã và đang có vinh dự đặc biệt: Thực hiện nghi lễ chào cờ trước Lăng Bác. Để giữ mãi hình ảnh lá cờ Tổ quốc luôn tung bay trên Quảng trường Ba Đình lịch sử, trước Lăng Bác, giữ mãi hình ảnh tuyệt đẹp Việt Nam – Hồ Chí Minh trong lòng đồng bào và khách quốc tế mỗi khi về viếng Bác và tham quan khu vực Lăng của Người./.

Nguyễn Hữu Mạnh

bqllang.gov.vn

Lời Người sáng mãi mùa xuân

Mùa xuân năm Nhâm Thìn 1952, dưới ánh sáng Nghị quyết Đại hội lần thứ hai của Đảng, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đã giành được nhiều thắng lợi trên các chiến trường, từ “Thủ đô gió ngàn”, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết bài báo (1) bày tỏ cảm xúc về mùa xuân của dân tộc: “May mắn hơn nhiều dân tộc khác… mỗi năm chúng tôi có hai ngày Tết. Một lần Tết theo dương lịch… Còn một Tết thứ hai tính theo âm lịch. Đó là ngày Tết theo tục lệ cổ truyền của nhân dân. Mùa Xuân ở nước chúng tôi bắt đầu từ ngày đầu tháng Giêng… Mặt trời toả sáng, ánh sáng dịu dàng đem lại sức sống tươi vui lành mạnh”.

Sau khi nêu nét đẹp văn hóa truyền thống trong những ngày Tết của dân tộc ta, Người kết luận: “Tương lai của dân tộc Việt Nam cũng tươi sáng như mặt trời mùa xuân. Vui mừng trước vẻ đẹp của mặt trời mùa xuân, chúng tôi sẽ đấu tranh cho một tương lai rực rỡ của Việt Nam, cho tương lai của nền dân chủ, của hoà bình trên toàn thế giới và của chủ nghĩa xã hội. Chúng tôi là những kẻ chiến thắng hiện tại cũng như trong tương lai, vì con đường đi của chúng tôi được học thuyết vĩ đại của chủ nghĩa Mác – Lênin soi sáng”.

Mùa xuân ấy trong Thơ chúc Tết gửi đồng bào và chiến sỹ cả nước, Người khẳng định “Trường kỳ và gian khổ. Chắc thắng trăm phần trăm” và kết thúc bằng câu thơ vừa giản dị, mộc mạc, vừa gần gũi, thân tình “Mấy câu thành thật nôm na. Vừa là kêu gọi vừa là mừng Xuân”.

Từ mùa Xuân Nhâm Thìn 1952 đến mùa Xuân Nhâm Thìn 2012, đất nước ta đã trải qua một chặng đường lịch sử 60 năm, một hoa giáp oanh liệt, lừng lẫy chiến công: Đánh thắng hai “đế quốc to” là Pháp và Mỹ, non sông, đất nước sạch bóng quân xâm lược. Thành tựu của công cuộc đổi mới, tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, đưa nước ta thoát ra khỏi tình trạng một nước nghèo, kém phát triển, từng bước quá độ lên chủ nghĩa xã hội, có vị thế ngày càng quan trọng trong khu vực và trên thế giới. Đúng như tiên đoán của Chủ tịch Hồ Chí Minh mùa xuân Nhâm Thìn, 60 năm trước “Tương lai của dân tộc Việt Nam cũng tươi sáng như mặt trời mùa xuân”.

Nhâm Thìn 1952, dưới ánh sáng Nghị quyết Đại hội lần thứ hai của Đảng, nhân dân cả nước đoàn kết một lòng, tạo thế và lực, chuẩn bị tổng phản công, làm nên chiến thắng “lừng lẫy Điện Biên, chấn động địa cầu”, kết thúc oanh liệt cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, chặt đứt mắt xích đầu tiên của hệ thống chế độ thực dân cũ, nêu một tấm gương sáng cho phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới.

Nhâm Thìn 2012, đất nước ta thực hiện đường lối do Đại hội lần thứ XI của Đảng đề ra, hướng tới mục tiêu “tạo nền tảng để đến năm 2020, nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại”, một mốc son mới trong tiến trình lịch sử của dân tộc ta.

Tương lai rực rỡ của Việt Nam như di nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh là xây dựng một nước Việt Nam “hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh”(2). Đó cũng là khát vọng cháy bỏng của Đảng ta, nhân dân ta. Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” đã và đang tạo ra động lực mới, sức sống mới, “đảng viên đi trước, làng nước theo sau”, “nói đi đôi với làm”, những tấm gương bình dị trong cuộc sống hàng ngày nảy nở và lan tỏa trong cộng đồng, khơi dậy truyền thống dân tộc, thắp sáng niềm tin vào lý tưởng, vào Đảng quang vinh, vượt lên mọi thách thức, nguy cơ, cổ vũ tinh thần lao động sáng tạo, ý chí đoàn kết toàn dân tộc, kề vai sát cánh, chèo lái con tầu “công nghiệp hóa, hiện đại hóa” hướng tới tương lai tươi sáng như mặt trời mùa xuân./.

Hồng Minh

(1)- Bài đăng trên tuần báo Vì một nền hoà bình lâu dài, vì một nền dân chủ nhân dân, ra ngày 4-4-1952. Tiêu đề “Bọn Đế quốc cướp nước không bao giờ có thể nô dịch dân tộc Việt Nam anh dũng” (Hồ Chí Minh toàn tập, tập 6, NXB Chính trị Quốc gia, 2002)

(2)-Hồ Chí Minh toàn tập, tập 12, NXB Chính trị Quốc gia, 2002.

baobacninh.com.vn

Một lần đưa Bác về thăm chiến khu xưa

Với Trung tá về hưu Lương Văn Vở một lần được lái xe cho Bác Hồ là vinh dự vô cùng lớn lao. Đã hơn 50 năm trôi qua nhưng với ông từng lời nói, cử chỉ, việc làm của Bác đều trở thành những hình ảnh đẹp trong ký ức không thể nào quên.

Hành trình đưa Bác về thăm chiến khu xưa

Trong biết bao ký ức cuộc đời, ông Lương Văn Vở 75 tuổi ở phường Suối Hoa (thành phố Bắc Ninh) vẫn luôn dành một vị trí trang trọng nhất cho kỷ niệm lần được gặp Bác. Ông xúc động kể lại câu chuyện của hơn 50 năm về trước.

“Năm 1958, Bác Hồ về thăm căn cứ địa cách mạng Việt Bắc. Theo yêu cầu của cấp trên cần có đồng chí lái xe giỏi, quen đường rừng, núi, đèo, dốc, để đưa Bác đi. Còn đồng chí lái xe chính cho Bác đi sau để khi quay về lái cho quen đường. Lúc đó, tôi đang là lái xe của đồng chí Lê Quảng Ba, Ủy viên Trung ương Đảng, Tư lệnh Quân khu Việt Bắc. Sáng sớm, tôi được chỉ huy đơn vị thông báo sẽ nhận nhiệm vụ lái xe cho Bác. Bấy lâu chỉ được nhìn Bác qua ảnh, nghe giọng Bác nói trên đài, nay sẽ được trực tiếp lái xe cho Bác. Vinh dự lớn lao ấy làm tôi vô cùng xúc động. Mặc dù có kinh nghiệm lái xe đường rừng núi, nhưng trong lòng cũng không khỏi lo lắng vì đây là lái xe cho Bác Hồ. Tôi lập tức đi kiểm tra và chuẩn bị xe thật cẩn thận.

Khoảng 9 giờ sáng, xe của Bác đến Bộ Tư lệnh Quân khu tại Thái Nguyên. Giây phút đầu tiên được gặp Bác, tôi rất hồi hộp. Bằng tác phong nhanh nhẹn, Bác chủ động bắt tay tôi và tươi cười nói: “Chú lái xe của Tư lệnh trẻ lắm!”. Cử chỉ thân mật của Bác khiến tôi thấy ấm áp và gần gũi biết bao. Theo bố trí, tôi lái xe cho Bác Hồ, đồng chí Lê Quảng Ba cùng ngồi để tiện trao đổi công việc.

Cả đoàn khởi hành, đi trước là xe làm nhiệm vụ dẹp đường và bảo vệ. Đường hồi đó hẹp, xấu, đèo, dốc cao cua liên tiếp cây cối rậm rạp khó đi. Xuất phát được vài trăm mét, Bác hỏi tôi: “Chú học lái xe bao giờ mà trẻ thế?”. Đồng chí Lê Quảng Ba báo cáo Bác: “Đồng chí Vở học khóa đầu tiên trường lái xe Tiến Bộ khi trường chuyển từ Quảng Tây, Trung Quốc về nước và được giữ lại làm giáo viên. Quân khu sang nhà trường xin về làm lái xe cho Tư lệnh vì đồng chí học giỏi nhất trường. Đồng chí còn tham gia thêm công tác thanh niên, làm Bí thư chi đoàn Bộ tham mưu Quân khu”. Bác bảo ngay: “Chú làm Bí thư thanh niên bản thân phải gương mẫu, trong sáng, làm tốt, nói thật, sống ngay thẳng. Luôn giản dị, khiêm tốn và biết vận động anh, em cùng làm tốt. Phải thương yêu đồng chí và giúp đỡ mọi người cùng tiến bộ”.

Suốt hành trình, Bác tranh thủ thời gian trao đổi, dặn dò đồng chí Lê Quảng Ba rất nhiều điều. Còn tôi thì tập trung tất cả tinh thần để lái xe cho thật tốt, làm sao vừa an toàn vừa thật êm để Bác đỡ mệt. Những chặng đường này với tôi đã rất quen thuộc. Tôi nhớ từng ổ gà, đoạn cua, con đèo… Lái thạo ở những cung đường khó nhất như: đèo Giàng, đèo Gió, đèo Colia… với những dốc cao, đường hẹp, cua tay áo. Sau khi thăm và nghỉ trưa tại Tỉnh ủy tỉnh Bắc Cạn, đoàn đi thẳng lên Cao Bằng. Sáng hôm sau, tôi lại được lái xe đưa Bác đi thăm những nơi Người từng ở và làm việc, thăm một số gia đình đồng bào các dân tộc tỉnh Cao Bằng. Buổi trưa, trước khi về xuôi, Bác đã khen tôi: “Chú Vở trẻ nhưng lái xe rất giỏi! Đưa Bác vượt qua đường dài, xấu mà không thấy mệt mỏi…”.

Hơn một ngày được bên Bác là khoảng thời gian ngắn ngủi nhưng đã để lại trong tôi ấn tượng vô cùng sâu đậm về tấm gương đạo đức của Người. Với cấp dưới, Bác gần gũi, tận tình chỉ bảo. Với đồng bào, Bác ân cần thăm hỏi, động viên. Bác luôn căn dặn cán bộ, chiến sỹ phải không được quên công ơn của đồng bào đã cưu mang, giúp đỡ cách mạng. Nhắc nhở ăn uống phải đơn giản, phải tiết kiệm trong sử dụng tiền của nhân dân… Tất cả với tôi có ý nghĩa khích lệ to lớn để tiếp tục cố gắng phấn đấu tu dưỡng rèn luyện chuyên môn, nghiệp vụ thực hiện tốt mọi nhiệm vụ được giao”.

Lời Người soi sáng đường ta đi

“Khi chưa được gặp Bác, tôi đã sớm đi theo con đường cách mạng của Đảng. Khi được gặp Bác, tôi càng thấy con đường mình đi là đúng đắn”, ông Vở chia sẻ. Sự chia sẻ bằng trải nghiệm từ chính cuộc đời.

Ông Lương Văn Vở sinh năm 1935 trong 1 gia đình nghèo (ông Vở cùng 3 anh, chị của mình phải chịu cảnh đi ở cho nhà giàu để nuôi thân) thuộc huyện Việt Yên (Bắc Giang). 15 tuổi tham gia cách mạng. Trong cuộc kháng chiến chống Pháp chiến đấu trong vùng địch hậu, tham gia tiễu phỉ ở vùng Đông Bắc rồi được đi học lái xe… Từ đó, cuộc đời như gắn với buồng lái cơ động khắp các chiến trường.

Đi cùng những cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại của dân tộc, nhiệm vụ liên tục thay đổi, đối diện với biết bao gian khổ, hứng chịu sự hành hạ của bệnh sốt rét rừng, 4 lần bị sức ép của bom, 3 lần bị thương, trải qua 3 lần phẫu thuật mà vẫn còn mảnh đạn trong người… nhưng thương binh hạng 2/4 Lương Văn Vở vẫn luôn tâm niệm: “Trong tim tôi khắc ghi lời Bác dạy vượt qua khó khăn vững vàng vị trí chiến đấu hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao”.

Trọn nghĩa với nước non, bước ra khỏi cuộc chiến về trong thời bình tiếp tục công tác rồi nghỉ hưu, ông Vở vẫn không ngừng phấn đấu để xứng đáng là người đảng viên, “bộ đội cụ Hồ” gương mẫu trong mọi công việc: ngược xuôi tất bật vận động, xin tài trợ để thành lập Ban Liên lạc Bộ đội Trường Sơn-Đường Hồ Chí Minh tỉnh Bắc Ninh và tổ chức thành công cho đồng đội đi thăm chiến trường xưa (gia đình ông Vở đã ủng hộ hơn 10 triệu đồng); động viên con cháu ủng hộ tích cực các loại quỹ nhân đạo… Nay dù tuổi đã cao, sức đã yếu, vết thương hay tái phát nhưng ông Vở vẫn vững vàng một niềm tin: “Tôi sẽ tiếp tục cùng đồng đội tích cực cống hiến sức lực và trí tuệ góp phần xây dựng quê hương, đất nước ngày càng giàu đẹp, văn minh như Bác Hồ hằng mong”.

Bài: Bảo Anh

baobacninh.com.vn

Tư duy đổi mới và phát triển trong Di chúc Bác Hồ

Di chúc thể hiện tinh thần của một cương lĩnh không chỉ xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh theo các diễn đạt ngày nay, mà còn đưa Việt Nam tiến cùng nhịp bước của thời đại.

>> Toàn văn Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh

"Bác bắt nhịp bài ca Kết đoàn..." - Ảnh tư liệu

Tư duy cải cách, đổi mới xuất hiện ở tư tưởng Hồ Chí Minh từ năm 1919 khi Người đòi “cải cách nền pháp lý ở Đông Dương bằng cách ban hành những đảm bảo cho người bản xứ cũng như người Âu”. Tư duy đó được nâng cao, mang nội dung khoa học và cách mạng dưới ánh sáng chủ nghĩa Mác – Lênin. Người quan niệm “cách mệnh là phá cái cũ đổi ra cái mới”, và “công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân”. Ngay từ năm 1923, Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: “Xã hội bây giờ ngày một phát triển. Tư tưởng hành động cũng phát triển. Nếu cứ giữ lấy cái kẹp giấy cũ không thay đổi là không đi đến đâu cả”.

Di chúc kết tinh tinh thần đổi mới của Hồ Chí Minh mà trước hết là đổi mới tư duy. Ngoài nội dung cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và phong trào cộng sản quốc tế, toàn bộ Di chúc bàn về tương lai của đất nước với “một kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân”. Về kinh tế, Di chúc nói tới việc “khôi phục và mở rộng các ngành kinh tế”. Về văn hóa, Di chúc đề cập việc “sửa đổi chế độ giáo dục cho hợp với hoàn cảnh mới của nhân dân, như phát triển các trường nửa ngày học tập, nửa ngày lao động”. Ngay cả khi bàn về cuộc kháng chiến chống Mỹ,Di chúc cũng thể hiện niềm tin chắc chắn, nhất định thắng lợi, rồi “ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay”.Người suy nghĩ “về một kế hoạch sẵn sàng, rõ ràng, chu đáo để xây dựng lại đất nước đẹp đẽ, đàng hoàng hơn trước chiến tranh”.

Từ phác thảo một kế hoạch bao quát về mở rộng kinh tế, phát triển công tác vệ sinh, y tế, giáo dục, quốc phòng, công việc thống nhất Tổ quốc, tư duy đổi mới sáng suốt nhằm xây dựng và phát triển đất nước có thể nhận rõ qua các nội dung chủ yếu sau:

Từ thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám 1945, nỗi bận tâm lớn nhất của Hồ Chí Minh là Đảng cầm quyền. Tại sao như vậy?

Một là, Người hiểu rõ sứ mệnh của Đảng cầm quyền rất nặng nề, vì từ xóa bỏ sang xây dựng là hai loại quy luật hoàn toàn khác nhau. Người chỉ rõ “thắng đế quốc phong kiến là tương đối dễ; thắng bần cùng và lạc hậu còn khó hơn nhiều”. Cách mạng xã hội chủ nghĩa là một cuộc biến đổi khó khăn nhất và sâu sắc nhất. Chúng ta phải xây dựng một xã hội hoàn toàn mới xưa nay chưa từng có trong lịch sử dân tộc ta. Phải tạo lập một lực lượng sản xuất hiện đại và cải tạo quan hệ sản xuất cũ, xóa bỏ giai cấp bóc lột, xây dựng quan hệ sản xuất mới.

Hai là, Đảng cầm quyền, cán bộ đảng viên có quyền lực nên có thuận lợi cho Đảng lãnh đạo, nhưng từ hai mặt của quyền lực nên cũng là “mảnh đất” làm nảy sinh nhiều thói hư, tật xấu như quan liêu, tham nhũng, lãng phí.

Ba là, từ một nước nông nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa, không chỉ khó khăn về lực lượng sản xuất, về kinh tế nông nghiệp lạc hậu, mà một điều đáng quan ngại là tư duy tiểu nông gắn với những nếp sống, thói quen, ý nghĩa và thành kiến có gốc rễ sâu xa hàng nghìn năm.

Trong Di chúc, Hồ Chí Minh coi “cuộc chiến đấu chống lại những gì đã cũ kỹ, hư hỏng, để tạo ra những cái mới mẻ, tốt tươi là cuộc chiến đấu khổng lồ”. Sự hư hỏng ở đây không đơn giản chỉ là vật chất mà nguy hại hơn là con người, tư tưởng, tổ chức. Người lường tới những khó khăn, phức tạp cho cách mạng Việt Nam, đòi hỏi Đảng đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế, vượt qua khó khăn, chiến đấu với niềm tin nhất định thắng lợi.

Tóm lại, Di chúc thể hiện tinh thần của một cương lĩnh không chỉ xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh theo các diễn đạt ngày nay, mà còn đưa Việt Nam tiến cùng nhịp bước của thời đại. Đó cũng chính là chân giá trị lý luận và thực tiễn của Di chúc Bác Hồ trong thời đại ngày nay.

PGS.TS BÙI ĐÌNH PHONG
Theo Quân đội nhân dân

tuoitre.vn