Archive | Tháng Một 2012

Nuôi chí ở xứ sở sương mù

Theo dấu chân Người 100 năm trước (kỳ 2)

Ở London (Anh) không quản khó nhọc, từ cào tuyết cho đến rửa bát, phụ bếp, Người đều sẵn sàng, chỉ để có cơ hội hiểu về bản chất chủ nghĩa tư bản, từ đó tìm đường cứu nước cứu dân.

>> Theo dấu chân Người 100 năm trước (Kỳ 1)

Giới nghiên cứu lịch sử cả trong nước và quốc tế có lẽ đồng quan điểm rằng: Bác ở London là từ 1913 – 1917. Nơi được nhắc đến nhiều nhất trong thời gian này là khách sạn Carlton mà giờ đây tọa lạc Tòa nhà New Zealand. Chúng tôi đã bắt đầu hành trình tìm lại dấu chân Người từ tòa nhà 19 tầng này vào một buổi sáng tháng 5 đẹp trời…

Tư tưởng lớn trong căn phòng nhỏ

Tòa nhà – nơi làm việc của phái đoàn ngoại giao New Zealand, nằm trên phố Haysmarket tấp nập, gần với quảng trường Tralfagar, cung điện của Nữ hoàng Anh, được xây năm 1959 trên nền của khách sạn Carlton. Nơi đây hiện có tấm biển màu xanh do Hội Hữu nghị Anh – Việt và các bạn bè Anh yêu quý Việt Nam đặt những năm 1990 ghi “Hồ Chí Minh (1890 – 1969) – Người khai sinh ra nước Việt Nam mới, đã làm việc tại Khách sạn Carlton năm 1913”.

Tòa nhà New Zealand (ảnh to) và tấm biển lưu niệm về Bác Hồ.

Ông Len Aldis, Chủ tịch Hội Hữu nghị Anh – Việt kể rằng việc đặt tấm biển trên tường của tòa nhà này không phải dễ dàng. Dự án đặt tấm biển này cũng kéo dài 2 – 3 năm và cũng phải nhờ tới các chính trị gia có tiếng mới có thể thành hiện thực. “Khi mới tới Carlton, Bác Hồ chỉ được giao việc dọn dẹp và rửa bát đĩa. Câu chuyện về việc Bác Hồ cất những món ăn thừa để chuyển cho người nghèo, người ăn xin ngoài đường bắt nguồn chính từ đây. Cảm kích trước hành động nhân ái này, vị đầu bếp huyền thoại người Pháp Escosffier của khách sạn đã chuyển Bác Hồ lên khu vực làm bánh và “truyền nghề” cho ông. Nhưng điều đó cũng không thể giữ ông ở lại xứ sương mù, bởi chất chứa trong ông là hoài bão giải phóng dân tộc…”, ông Len Aldis nói.

Tầng hầm của ngôi nhà gần như vẫn giữ nguyên từ thuở nó còn là khách sạn Carlton. Qua hai lượt cầu thang, chúng tôi xuống khu phòng được cho là nơi nghỉ của các nhân viên khách sạn. Khu phòng này có độ cao chỉ trên 2m với lối đi khá hẹp, chỉ đủ cho 2 người với các các phòng nhỏ, diện tích khoảng 10m2/phòng. Hầu hết các phòng này giờ đã chuyển thành nhà kho chứa đồ cũ.

Đại sứ New Zealand nói rằng theo những gì ông được biết thì đây là các phòng ngủ của nhân viên khách sạn ngày xưa, và “Bác Hồ của các bạn có thể đã nghỉ tại một trong những căn phòng này”. Thấy nhiều người Việt đến đặt hoa tại tấm biển, ông thực sự không ngờ rằng “căn phòng bé nhỏ này lại từng là nơi ở của một người có tư tưởng lớn” như Hồ Chí Minh.

Đại sứ New Zealand Dereck Leask (phải) hướng dẫn Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân thăm nơi ở của Bác Hồ tại khách sạn Carlton.

Chỉ lòng dũng cảm thôi không đủ…

Theo ông Callow, do có mối liên hệ với phong trào công nhân Anh và công nhân VN, nên Bác Hồ đã bị cảnh sát Anh chú ý. Căn nhà tại số 8 phố Stephen thường xuyên bị cảnh sát theo dõi. Tuy nhiên, khi cảnh sát Anh đột nhập theo đề nghị của cảnh sát Pháp, thì Người đã trốn khỏi đó. Tháng 12.1917, Người sang Pháp.

Tiến sĩ John Callow, Giám đốc Thư viện Marx ở London, người nghiên cứu nhiều về Bác, cho biết: ở Carlton, Bác làm việc từ 5 giờ đến trưa và từ 17h đến 22h. Nhờ đó, Bác có thời gian tìm hiểu về London và học tiếng Anh. “Bác Hồ tới đây làm việc không phải chỉ đơn giản là để kiếm tiền, mà để tìm hiểu bản chất của những dây xích ràng buộc dân tộc mình và các nước thuộc địa với các nước thực dân. Qua nghiên cứu, Bác Hồ hiểu rằng chỉ có lòng dũng cảm thì chưa đủ để giải phóng dân tộc, mà cần phải hiểu đầy đủ về sự phát triển của CN thực dân và CN đế quốc mới có thể phản kháng một cách hiệu quả…”, TS Callow nói.Trong thời gian ở London, Bác từng làm các công việc nặng nhọc như cào tuyết ở trường học, điều khiển hệ thống nước nóng. Còn về lĩnh vực “bếp núc”, Bác còn từng làm việc ở khách sạn Drayton Court ở West Ealing, trước khi chuyển đến Carlton. Theo ông Callow, Bác từng ở tại số 8 phố Stephen Street, cắt phố Tottenham Court, cách khách sạn Carlton khoảng 20 phút đi bộ.

Rời tòa nhà New Zealand, chúng tôi đi bộ khoảng 30 phút ngoằn ngoèo theo những con phố nhỏ tấp nập của khu Soho – giờ đây nổi tiếng là nơi tụ tập về đêm của giới trẻ. Phố Stephen chỉ dài khoảng 500m, vòng đi vòng lại cũng chỉ thấy có hai tòa nhà số 1 là khách sạn cao ngất và đối diện là số 2 thuộc sở hữu của Viện phim Anh (BFI). Có lẽ ngôi nhà số 8 ngày xưa cũng không còn khi London bị tàn phá bởi trận bom The Blitz của Đức những năm 1940 – 1941.

Rời phố Stephen, 40 phút sau, chúng tôi đã có mặt ở ga West Ealing. Thêm 20 phút đi bộ, chúng tôi tới Khách sạn Drayton Court, tại số 2 phố The Avenue, nơi Bác làm việc một thời gian ngắn trước khi tới Carlton. Tư liệu lịch sử của quận Ealing cho biết: Bác Hồ từng làm việc ở đây năm 1914. Trong một tấm bưu thiếp gửi từ địa chỉ khách sạn này cho cụ Phan Chu Trinh ở Paris, Bác viết: “Bốn tháng rưỡi nay thì chỉ làm với Tây, nói tiếng Tây suốt”.

Kỳ cuối: Che mắt mật thám

Mai Phương (từ Vương quốc Anh)

baodatviet.vn

Phiên tòa đầy kịch tính và cuộc thoát án tử hình

Theo dấu chân Người 100 năm trước (kỳ 1)

(ĐV) Không gian cuộc hành trình 30 năm của Chủ tịch Hồ Chí Minh còn bao gồm cả một phòng xử án đầy kịch tính, nơi Người đã may mắn thoát án tử hình.

Kỳ 1: Phiên tòa đầy kịch tính và cuộc thoát án tử hình

Ngày 6/6 tới đây sẽ vừa tròn 80 năm ngày Hồ Chí Minh bị nhà cầm quyền Anh ở Hồng Kông bắt giam, do sự xúi giục của thực dân Pháp. Người Anh dự định trục xuất Hồ Chí Minh lên một con tàu Pháp, một con đường chắc chắn dẫn Người tới cái chết.

Sung Man Cho là ai?

Luật sư người Anh Francis Loseby, người đảm nhận vụ án trục xuất Sung Man Cho, đã tra xét thẩm quyền của thống đốc Hong Kong trong vụ này, dựa trên luật habeas corpus (bảo thân), thuộc thông luật cổ truyền nước Anh. Lệnh habeas corpus là một trát toà đặc biệt, cho phép thẩm tra tính hợp pháp của vụ việc giam hãm hoặc bỏ tù một đương sự bất kỳ.

Vụ án Sung Man Cho Vs. The Superintendent of Prisons (Sung Man Cho kiện quản giáo nhà tù Hong Kong) đã trở thành một sự kiện quan trọng, được đưa trên báo chí tiếng Anh tại nhượng địa này nhiều hơn cả tin về bản vị vàng sụt giá, lẫn sự kiện chính phủ MacDonald đổ. Tự kháng biện trước toà, Hồ Chí Minh nhận mình là Sung Man Cho, người Hoa. Các học giả Việt Nam từng gặp khó khăn trong nghiên cứu sử liệu nước ngoài về quãng đời này của Hồ Chí Minh, khi dựa vào phiên âm tiếng Việt của danh tính này.

Các luật sư Anh tham gia vụ án Sung Man Cho (nguồn: Bảo tàng HCM; ANOM, Aix-en-Provence, Pháp)

Sau 9 phiên toà, Toà án Tối cao Hong Kong xử Hồ Chí Minh thua kiện. Các luật sư người Anh của Hồ Chí Minh đã thay mặt cho thân chủ của mình kháng án lên Hội đồng Cơ mật Hoàng gia, toà án tối cao của đế quốc Anh. Hai luật gia Anh là Denis Noel Pritt – biện hộ cho Hồ Chí Minh, và Stafford Cripps – cãi cho Hoàng gia Anh, đã dàn xếp vụ này bên ngoài phòng xử án.Hiện chưa thấy trong lưu trữ tư liệu về các trao đổi của hai luật gia có chức trách phản biện lẫn nhau này trong vụ án Sung Man Cho. Song ddiefu chắc chắn là họ đã nhất trí giúp “ông Sung Man Cho người Hoa” rời Hong Kong theo sở nguyện của mình.

Thoát hiểm

Hồ Chí Minh bí mật rời Hong Kong sang Singapore tháng 1/1933. Nhưng người Anh ở Singapore đã trục xuất Hồ Chí Minh trở lại Hồng Kông và người Anh ở Hồng Kông lại bắt giữ Hồ Chí Minh lần nữa, vẫn do Pháp “xi-nhan.” Hồ Chí Minh bị buộc phải rời nhượng địa này trong ba ngày. Một lần nữa, luật sư Loseby lại giúp Hồ Chí Minh. Hồ Chí Minh cải trang thành một thương gia người Hoa giàu có, vận áo thụng gấm thêu kim tuyến. Luật gia người Hoa giúp việc cho Loseby thủ vai thư ký cho “nhà buôn phát đạt” này.

Tấm bản đồ Malaysia do chính tay Hồ Chí Minh vẽ (nguồn: Lưu trữ Quốc gia Anh)

Ngày 22/1/1933, sau khi con tàu dành cho Hồ Chí Minh vừa rời bến, viên phó cảnh sát trưởng Hồng Kông dùng ca-nô riêng đưa hai “khách hạng nhất tới trễ” lên boong. Hai “nhà buôn Trung Hoa” này cập bến Hạ Môn, tỉnh Phúc Kiến đúng dịp Tết Quý Dậu, 1933. Từ đây, Hồ Chí Minh đi tiếp tới Vladivostok và Moscow…

Hệ thống luật pháp Anh kết hợp hoạt động của hai dạng luật sư: một luật gia tư vấn pháp lý (quan hệ trực tiếp với thân chủ) và một trạng sư bào chữa (được thuê bởi luật gia tư vấn pháp lý để bênh vực thân chủ tại tòa). Không mấy người Việt biết rõ về trạng sư bào chữa Francis Jenkin, người đã cãi cho Sung Man Cho tại phiên tòa của Tòa án tối cao Hồng Kông, mặc dù tin tức về vụ án này trên các trang báo đương thời chỉ nêu tên Jenkin mà không nhắc tới luật sư làm tư vấn pháp lý, là Loseby.

Cộng sự của Loseby, họ là ai?

Lady Borton, nhà văn Mỹ, đến Hà Nội vào đầu năm 1975 khi cuộc chiến tranh chuẩn bị kết thúc. Bà là tác giả cuốn Tiếp sau nỗi buồn (NXB Thế giới, 2010). Cuốn Hồ Chí Minh: một hành trình của bà do NXB Thế giới ấn hành sắp ra mắt bạn đọc.

Trước đây, chúng tôi nhóm làm nghiên cứu để soạn thảo sách Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hong Kong (Nxb. Chính trị Quốc gia, 2004), đã từng cố gắng tìm thêm thông tin về trạng sư bào chữa Francis Jenkin, nhưng đã không đạt kết quả.Nhưng năm ngoái, trong khi khảo cứu một số sử liệu thuộc hồ sơ của Bộ Thuộc địa Pháp tại Lưu trữ Hải ngoại của Pháp ở Aix-en-Provence, tôi tình cờ tìm được tin Jenkin từ trần, đăng trên báo South China Morning Post. Cáo phó này cho biết Francis Jenkin mất năm 1936, trước khi Hồ Chí Minh từ Moskva về lại châu Á. Tuy nhiên, trong lời cáo phó nói trên có câu sau: “(Luật sư Jenkin) còn nổi tiếng về một vụ án khác, đó là vụ kháng án quyết định của Thống đốc Hong Kong thực hiện quyết định trục xuất đối với ông Sung Man Cho, thực chất là một nhà cách mạng người An Nam, vào năm 1931”.

Nếu nghiên cứu kỹ càng hơn vụ án này, có thể chúng ta sẽ thấy được công lao của một bậc tiền bối khác. Vụ kháng án lên được tới cấp Hội đồng cơ mật Hoàng gia, nhưng không bao giờ dội vào Nội các Anh. Ngược lại, vụ kiện này đã được xử lý ngoài toà án, bằng thoả thuận của hai luật sư có chức trách phản biện lẫn nhau: đó là Denis Pritt bảo vệ cho thân chủ của mình là Hồ Chí Minh, và Stafford Cripps đại diện cho Hoàng gia Anh. Loseby, Jenkin, và Pritt đã bổ trợ cho nhau trên các vai trò khác biệt, để cứu Hồ Chí Minh thoát án tử hình.

Đồng thời, vai trò then chốt trong vụ này hẳn thuộc về người luật sư đại diện cho cho Hoàng gia Anh là luật sư Stafford Cripps. Là một đảng viên Đảng xã hội, thành viên của Hội những người Fabian thiên tả, và một thành viên tích cực đấu tranh cho nền độc lập của Ấn Độ thời đó, Stafford Cripps, qua vụ án “Sung Man Cho”, đã có những ảnh hưởng to lớn lên các sự kiện xảy ra sau đó trong lịch sử Việt Nam.

Nếu thay vào Stafford Cripps, luật sư của Hoàng Gia tại Hội đồng cơ mật Anh là một người khác, với tư tưởng chống cả CHXH, chống trào lưu giành độc lập cho các thuộc địa, thì hẳn Sung Man Cho đã thua kiện; rồi bị trục xuất trên một con tàu Pháp rời bến Hồng Kông, và lịch sử của nước Việt Nam hiện đại hẳn đã rất khác.

Bài 2: Nuôi chí ở xứ sở sương mù

Lady Borton

baodatviet.vn

Nhớ mãi lời thơ chúc Tết Nhâm Thìn của Bác

(VOV) – Những người ngày ấy công tác ở Đài Tiếng nói miền Nam mãi không quên mùa xuân Nhâm Thìn 1952, với lời thơ “vừa là kêu gọi, vừa là mừng xuân” của Bác Hồ muôn vàn kính yêu

Cách đây 60 năm, sáng mùng Một Tết Nhâm Thìn 1952, qua làn sóng điện Tiếng nói Việt Nam, chúng tôi, những người công tác tại Đài Tiếng nói miền Nam (Liên khu V) thu được lời thơ chúc Tết của Bác Hồ.

Đài chúng tôi lúc ấy đóng tại một vùng quê nghèo, hẻo lánh trên bờ sông Lại Giang thuộc xóm Vạn Tín, xã Ân Hảo, huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định.

Lời thơ chúc Tết của Bác như sau:

Xuân này, xuân Nhâm Thìn,
Kháng chiến đà sáu năm
Trường kỳ và gian khổ,
Chiến thắng trăm phần trăm.
Chiến sĩ thì giết giặc,
Đồng bào thì tăng gia
Năm mới thi đua mới
Thắng lợi ắt về ta.
Mấy câu thành thật nôm na
Vừa là kêu gọi,
vừa là mừng xuân.

Chúng tôi vô cùng phấn khởi vội báo cáo lên Liên khu ủy, tập hợp anh chị em bàn kế hoạch phổ biến rộng rãi thơ chúc Tết của Bác qua làn sóng Tiếng nói miền Nam.

Bác Hồ nói chuyện với các cháu thiếu nhi trong dịp Người về thăm, chúc Tết đồng bào Hà Tĩnh (Xuân Đinh Mùi – 1967)
Anh Võ Bài, nhạc sĩ của Đài nhanh chóng phổ nhạc lời chúc Tết của Bác theo làn điệu dân ca Liên khu V và gọi chúng tôi lại tập hát.

Và ngay trong buổi phát thanh lúc 19h ngày mùng Một Tết chúng tôi đã lên chương trình đặc biệt. Sau lời mở đầu của phát thanh viên Minh Lý, toàn ban nam nữ của Đài, hơn mười người, chen nhau trong “chòi phát thanh” (studio) làm bằng tranh tre, hát lời chúc Tết của Bác trong không khí trang nghiêm, xúc động và khí thế không bút nào tả xiết.

Các ngày tiếp theo, trong các buổi phát thanh mùng hai, mùng ba Tết, chúng tôi lại cùng nhau hát thơ chúc Tết của Bác vì lúc ấy Đài chúng tôi chưa có máy ghi âm.

Dàn nhạc đệm có Võ Bài đệm băng-gi-ô, Liêng đàn măng-đô-lin, Phú đàn ắc-coóc-đê-ông. Cây đàn ắc- coóc này là chiến lợi phẩm bộ đội ta thu được trong trận diệt đồn Túy Loan và do ban chỉ huy mặt trận Quảng Đà gửi tặng Đài chúng tôi, ca sĩ chính là chị Bích Hường.

Sau Tết, Liên khu ủy điện lên khen các chương trình mừng Xuân của Đài, đặc biệt sáng kiến phổ nhạc lời thơ của Bác. Anh Trần Lâm, từ chiến khu Việt Bắc cũng có điện khen. Báo Cứu quốc Liên khu V cũng xin bản nhạc để đăng báo, còn tại Vạn Tín thì đồng bào đã viết bài thơ chúc Tết của Bác lên giấy hồng đào, treo trên bàn thờ, vài em bé nhà gần chòi phát thanh đã nghêu ngao hát “Xuân này, xuân Nhâm Thìn… Thắng lợi ắt về ta…”.

Đài Tiếng nói miền Nam có tiền thân là “Tiếng nói Nam bộ, tiếng nói căm hờn, tiếng nói chiến đấu”, chỉ là một đài kháng chiến nhỏ, thiết bị không đồng bộ do ta tự lắp lên, phát trên làn sóng 24m26 (24.26), đài hiệu là: “Đây là Tiếng nói miền Nam, tiếng nói của người Việt miền Nam”. Đài tuy nhỏ bé nhưng diện phủ sóng tương đối rộng, có thể bắt được ở nhiều đô thị, chiến khu Việt Bắc và một số nước Đông Nam Á.

Sáu mươi năm đã qua, những người ngày ấy công tác ở Đài Tiếng nói miền Nam mãi không quên mùa xuân năm Nhâm Thìn 1952, với lời thơ “vừa là kêu gọi, vừa là mừng xuân” của Bác Hồ muôn vàn kính yêu./.

Lý Văn Sáu
Nguyên Phó Giám đốc Đài Tiếng nói miền Nam

vov.vn

Hồ Chủ tịch ở Bắc bộ phủ

SGTT – Đây là một trong những sáng tác sớm nhất về vị chủ tịch đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Một hình ảnh mới về một nguyên thủ kiểu mới, khác hoàn toàn với hình ảnh quyền quý, oai vệ đầy hào quang thần thánh như người Việt Nam từng biết đến qua những tranh thờ, tượng thờ. Bác Hồ – tuy đã được suy tôn là lãnh tụ huyền thoại của đất nước, được hoạ sĩ mô tả như một ông già quắc thước, hiền hậu và giản dị.

Nhân vật duy nhất được nhìn cận cảnh, thân người chiếm trọn chiều cao khung tranh. Bác Hồ đang ngồi viết bên bàn. Phục sức của lãnh tụ quá bình dân và căn phòng làm việc của Người đơn sơ, gần gũi như phòng công chức bất kỳ nào: cái bàn, khung cửa sổ, lọ mực, cái gạt tàn, hộp công văn… mộc mạc, rõ ràng. Ánh sáng rọi lên gương mặt khắc khổ, tư lự, tập trung tinh thần cao độ. Bác như đắm trong dòng suy tư của riêng mình. Đối lập với mảng ngang của cái cạnh bàn chia mặt tranh làm hai phần đều đặn và các mảng dọc vuông vức tĩnh lặng là những nét uốn lượn và xiên chéo mô tả nhân vật và ánh sáng rất sinh động. Tô Ngọc Vân sử dụng ngay các đặc điểm chắc khoẻ, rành mạch, thô mộc của chất liệu gỗ để làm nổi bật chủ đề của bức tranh: cái giản dị vĩ đại, sự tận tâm tự nhiên, vẻ trí tuệ bình dị của Hồ Chủ tịch.

Tôi cho rằng trong hàng ngàn sáng tác mỹ thuật, những tượng đài kềnh càng, sơ lược về Bác Hồ, đây là một tác phẩm thành công hiếm hoi cho ta thấy được con người thật và tầm vóc vĩ nhân huyền thoại của Người.

Tô Ngọc Vân (1906 – 1954) là một hoạ sĩ tài năng và uyên bác của trường Mỹ thuật Đông Dương. Từ Cách mạng tháng tám 1945, ông là “thủ lĩnh” của giới mỹ thuật kháng chiến. Với sự chuyển hướng từ lãng mạn sang hiện thực, sáng tác trực diện đời sống kháng chiến, đào tạo cả một lớp hoạ sĩ từ công nông mà ra, ông trở thành người khởi xướng cho cả một giai đoạn mỹ thuật mới, đặt nền móng cho xu hướng hiện thực xã hội chủ nghĩa sau này. Hy sinh trên đường tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ, ông trở thành biểu tượng cao đẹp của người nghệ sĩ – chiến sĩ. Tên ông được đặt cho nhiều con đường ở các thành phố lớn của Việt Nam.

NGUYỄN QUÂN

Hồ Chủ tịch ở Bắc bộ phủ, khắc gỗ,
1946, 60 x 40cm.

Họa sĩ Tô Ngọc Vân

sgtt.vn

Một số hình ảnh Bác Hồ với quê hương

(Dân trí) – Kỷ niệm 121 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, hướng tới kỷ niệm 100 năm ngày Bác ra đi tìm đường cứu nước, Dân trí xin giới thiệu cuộc đời Người qua những bức ảnh tư liệu.

Những khoảnh khắc từ khi Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước, thời gian Bác hoạt động tại nước ngoài, quá trình lãnh đạo dân tộc kháng chiến giành thắng lợi cũng như trong công cuộc xây dựng Chủ nghĩa xã hội tại miền Bắc và đặc biệt những lần Bác về thăm quê xứ Nghệ đã giúp cho người xem hiểu đầy đủ về cuộc đời của Người qua những bức ảnh được trưng bày tại Khu di tích Kim Liên.

Dân trí xin giới thiệu cùng bạn đọc những bức anh tư liệu quý giá về cuộc đời hoạt động của Bác Hồ:

Hàng trăm du khách từ khắp mọi miền đất nước về thăm Khu di tích Kim Liên được tận mắt chiêm ngưỡng những hình ảnh tư liệu đầy quý giá về Bác Hồ.

Nguyễn Duy

dantri.com.vn

Bác Hồ tặng thơ cụ Võ Liêm Sơn

SGTT.VN – Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhà cách mạng chuyên nghiệp, nhưng cũng là một nhà văn hoá, một nhà văn, nhà thơ đúng nghĩa, mặc dù Người có nói: “Lão phu nguyên bất ái ngâm thi. Nhân vị tù trung vô sở vi” (Ngâm thơ ta vốn không ham – Nhưng mà trong ngục biết làm chi đây… – Nhật ký trong tù).

14 tháng bị giải khắp các nhà tù ở Quảng Tây (Trung Quốc) thời gian 1942 – 1943 dường như đã luyện thêm ngòi bút của một nhà nho am hiểu Hán học, và các thể thức thơ cổ. Vượt lên trên hết là thái độ ung dung tự tại của một chiến sĩ khát vọng tự do và tấm lòng trắc ẩn với người lao khổ. Mạch thơ ấy được tiếp nối trong những năm đầu của cuộc kháng chiến ở Việt Bắc, đặc biệt là năm 1948, Bác có chùm thơ chữ Hán như Nguyên tiêu (Rằm tháng giêng), Tặng Bùi Công (tặng cụ Bùi Bằng Đoàn), Thu dạ (Đêm thu), Báo tiệp (Tin thắng trận). Ý thơ phát triển: ung dung, vững tin ở kháng chiến, trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi.

Nhà chí sĩ cách mạng Võ Liêm Sơn (1888-1949)

Bài Tặng Võ Công (tặng cụ Võ Liêm Sơn) theo thể năm chữ, tám câu là thi phẩm hoà quyện giữa ý và tình, giữa cách mạng và nhân dân, giữa lý tưởng và hiện thực, không còn cách bức. Nguyên văn: Võ Liêm Sơn lão tiên sinh nhã chính. Thiên lý công tầm ngã / Bách cảm nhất ngôn trung / Sự dân nguyện tận hiếu / Sự quốc nguyện tận trung / Công lai ngã hân hỉ / Công khứ ngã tư công / Tăng công chỉ nhất cú: /Kháng chiến tất thành công.

Bản dịch thơ:
Ngàn năm cụ tìm đến
Một lời trăm cảm thông
Thờ dân trọn đạo hiếu
Thờ nước vẹn lòng trung
Cụ đến tôi mừng rỡ
Cụ đi tôi nhớ nhung
Một câu xin tặng cụ:
Kháng chiến ắt thành công

(Hồ Chí Minh toàn tập, tập 5, NXB Chính Trị Quốc Gia, 1995)

Bác viết tặng cụ Võ, nhưng cũng là viết cho mình, chăm chút đạo hiếu trung thờ dân, thờ nước. Thật quý hoá biết bao giữa phong cảnh thiên nhiên của thủ đô kháng chiến gió ngàn, hai mái đầu điểm bạc có dịp hàn huyên trò chuyện. Cụ Võ là bạn học ở Huế với Bác những năm 1908 – 1910. Nguyễn Tất Thành quê Nam Đàn (Nghệ An), Võ Liêm Sơn quê Can Lộc (Hà Tĩnh). Vốn là người ngay thẳng, bộc trực, thông minh, có bằng thành chung và cử nhân (Hán học) nhưng đường hoạn lộ của cụ Võ trúc trắc. Bị huyền chức tri huyện Duy Xuyên (Quảng Nam) do chống lại tên thương chánh người Pháp và Tổng đốc Quảng Nam lúc đó bắt cụ phải đàn áp nhân dân trong các vụ sưu thuế. Từ đấy cụ chuyển sang giáo dục, viết văn, làm thơ. Những năm dạy ở trường Quốc học Huế, cụ Võ được nhiều học trò yêu mến, sau này là các nhà cách mạng và văn hoá nổi tiếng như Trần Phú, Hà Huy Tập, Võ Nguyên Giáp, Tạ Quang Bửu, Đào Duy Anh, Nguyễn Khoa Văn… Cụ Võ có thời gian gần gũi và giúp đỡ Phan Bội Châu khi nhà chí sĩ thúc thủ an trí ở Huế. Cụ Võ cùng các học trò ở Huế tổ chức truy điệu cụ Phan Chu Trinh. Lòng yêu nước ở cụ Võ được thử thách khi bị Pháp bắt tù, và cuốn sách Hài văn – tiểu phẩm viết theo lối hài hước, châm biếm bị cấm (1928). Từ đấy, nhà nho, người thầy giáo nuôi chí phản kháng chế độ thực dân, phong kiến, để rồi sau năm 1945 – cách mạng thành công, cụ Võ tích cực tham gia chính quyền mới và được tín nhiệm bầu làm chủ tịch Mặt trận Liên Việt tỉnh Hà Tĩnh và liên khu 4.

Năm 1948, Võ Liêm Sơn được đi dự hội nghị Kháng chiến toàn quốc và hội nghị Văn hoá toàn quốc ở Việt Bắc. Đó cũng là cơ duyên cụ Võ được gặp Bác Hồ. Lần ấy Bác đã mời cụ Võ về ở với mình bảy ngày. Khi nhận được thơ tặng của bạn cũ, cụ Võ Liêm Sơn có thơ hoạ lại, cũng theo lối thể thơ năm chữ, tám câu. Nguyên văn: Kính tặng Hồ Chủ tịch. Phùng công hỉ công kiện / Chiến sự bách mang trung / Đối thoại duy dân quốc / Tương kỳ tại hiếu trung / Hùng tài nguyên bất thế / Đại đạo bản vi công / Tương kiến trùng lai nhật / Kháng chiến dĩ thành công.

Nguyên bản Hán tự của bài thơ Tặng Võ Công (trái) và bài cụ Võ hoạ lại

Tạm dịch thơ:

Gặp cụ mừng cụ khoẻ
Việc quân bận vô cùng
Chuyện trò chỉ dân nước
Cùng tỏ một hiếu trung
Tài hùng đâu dễ có
Đạo lớn cốt vì chung
Ngày ta gặp nhau lại
Kháng chiến đã thành công

Cả hai bài thơ tặng và hoạ lại đều chung một sợi chỉ đỏ: tin ở thành công của kháng chiến.

Khi chia tay người bạn cũ để về lại khu 4, Hà Tĩnh, cụ Võ được Bác Hồ tặng chiếc gậy có khắc dòng chữ: “Tặng Võ Liêm Sơn tiên sinh”.

Tiếc rằng không được nhìn thấy ngày chiến thắng năm 1954, do bị bệnh, cụ qua đời năm 1949 tại quê nhà. Nhớ đến người bạn cũ, hễ biết có cán bộ đi qua Hà Tĩnh, bao giờ Bác cũng trân trọng nhờ đến thắp hương trước mộ cụ Võ tỏ mối thâm tình đồng chí đồng hương.

TRẦN ĐÌNH VIỆT

sgtt.vn

“Tình cảm của nhân dân thế giới với Chủ tịch Hồ Chí Minh”

(Dân trí) – Nhân dịp kỷ niệm 100 năm ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước (5/6/1911 – 5/6/2011), Bộ Ngoại giao Việt Nam vừa tổ chức họp báo giới thiệu cuốn sách ảnh “Tình cảm của nhân dân thế giới với Chủ tịch Hồ Chí Minh”.

Cuốn sách dày hơn 200 trang, gồm hai phần: Anh hùng giải phóng dân tộc và Nhà văn hóa kiệt xuất; do Ban Tuyên giáo Trung ương, Bộ Ngoại giao, Học viện Chính trị – Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, Khu di tích Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch và Bảo tàng Hồ Chí Minh sưu tầm, tập hợp tư liệu.

Cuốn sách cung cấp nhiều hình ảnh quý (trong đó nhiều hình ảnh tư liệu lần đầu tiên được công bố) về tình cảm chân thành của nhân dân thế giới đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh trên các chặng đường hoạt động đối ngoại của Người. Cùng với đó là những trích đoạn bài viết, cảm tưởng của các chính khách, bạn bè, nhân dân thế giới về tư tưởng, đạo đức và tài năng của Người. Đó là minh chứng sống động về tình cảm yêu mến của nhân dân thế giới đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại.

Thứ trưởng Nguyễn Thanh Sơn tại buổi họp báo giới thiệu cuốn sách ảnh về Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Không dừng ở sự ngưỡng mộ, Bác Hồ của chúng ta đã được nhiều người coi như tấm gương về ý chí và nhân cách để noi theo. Thông qua cuốn sách, những người biên soạn đã mang tới một góc nhìn mới và nhiều điều chưa biết về Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Trong cuốn sách còn có nhiều bức ảnh quý ghi lại những khoảnh khắc bình dị, trải theo cuộc đời của Người mà ở đó ta nhận thấy những tình cảm của bạn bè thế giới dành cho Chủ tịch Hồ Chí Minh rất tự nhiên mà cũng rất sâu sắc. Đó là hình ảnh đón tiếp trang trọng của các chính khách dành cho Người; là niềm vui được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh của những phóng viên, nhà báo, đại biểu phụ nữ, nông dân; là những bó hoa tươi thắm, nụ cười rạng rỡ của các em thiếu nhi thế giới chào đón Người…

Đặc biệt, trong cuốn sách ảnh có những bức ảnh lần đầu tiên được công bố như: Bức ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp G.Xanhtơny – đại diện Chính phủ Pháp và tướng Lơcléc – Trưởng phái đoàn quân sự Pháp đến chào Người tại Bắc Bộ Phủ, tháng 3/1946; Bức ảnh chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh trên tạp chí nước ngoài, năm 1968; bức ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh trong chuyến thăm Ấn Độ tháng 2/1958…

Tại cuộc họp báo, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Thanh Sơn cho biết, ngoài phát hành trong nước, ấn phẩm sẽ được phát hành thông qua con đường ngoại giao đến với bạn bè quốc tế và kiều bào ta ở nước ngoài.

Một số bức ảnh lần đầu tiên công bố trong cuốn sách:

Quốc Đô

dantri.com.vn

Để lịch sử tiếp tục được kể

SGTT.VN – “Tôi đã tổ chức năm triển lãm ảnh về Cụ Hồ. Tất cả đều được công chúng Việt Nam và Pháp đón nhận. Nhưng chính từ các triển lãm đó, tôi nhận thấy có rất nhiều con người trong lịch sử đã bị quên trong khi họ rất đáng được nhớ…” – bà Dominique de Miscault tâm sự (ảnh).

Ngày 15.11 vừa qua, nữ ký giả Dominique de Miscault đã trao cuốn băng bộ phim tài liệu Hồ Chí Minh – Ước vọng hoà bình cho đại diện của kênh truyền hình VTV4 thuộc đài Truyền hình Việt Nam. Đây là bộ phim do bà tổ chức sản xuất từ tháng 10.2010 và hoàn thành vào tháng 10.2011. Nội dung phim dựa theo cuốn sách Je reviens au Vietnam libre (Tôi trở lại đất nước Việt Nam tự do) cùng những ghi chép về chuyến đi trên 20.000 cây số để đến Việt Bắc trong chiến tranh và những cảm nhận của nhà báo Léo Figuèrre (nguyên uỷ viên Trung ương Đảng Cộng sản Pháp, phó chủ tịch liên đoàn Thanh niên dân chủ thế giới, tổng biên tập báo Tiền Phong – Pháp) về Chủ tịch Hồ Chí Minh tại chiến khu Việt Bắc năm 1950. Qua hình thức phỏng vấn, lồng ghép những cảnh chiến khu Việt Bắc, bộ phim còn thể hiện những ấn tượng của ông Léo Figuèrre về đất nước, con người Việt Nam yêu chuộng tự do và độc lập, những suy nghĩ, trải nghiệm của ông về Việt Nam ngày nay và niềm tin vào tương lai quan hệ Việt – Pháp nói riêng, các nước khác nói chung.

“Tôi cảm thấy mình và Léo Figuèrre có một cái duyên nào đó với nhau. Tất nhiên, tôi đã biết ông từ trước nhưng trực tiếp gặp mặt là năm 2004 khi tôi giúp một đoàn làm phim của đài Truyền hình TP.HCM sang phỏng vấn ông ấy. Trong một số triển lãm ảnh mà tôi tham gia tổ chức, cũng có những tư liệu ảnh về Léo. Nhưng chúng tôi không xác định được những người Việt Nam chụp chung với ông ấy là ai. Khi ảnh được trưng bày, chính những người đó hoặc con cháu họ lại nhận ra và hỏi về Léo”, bà Dominique nói.

Có lẽ mười năm trước, chính Dominique không hề nghĩ có ngày bà sẽ làm hẳn một bộ phim về Hồ Chí Minh. Trong cuộc gặp gỡ báo chí, bà dí dỏm giải thích mình đã “bị dẫn vào câu chuyện này” khi nhận lời giúp đỡ chị Nguyễn Thu Hà, cán bộ bảo tàng Hồ Chí Minh khi chị Hà sang Pháp tìm kiếm tư liệu về Bác. “Tôi từ một người mà những hiểu biết về Hồ Chí Minh gần như là con số không tròn trịa, đi cùng với chị Hà, gặp các nhân chứng, tiếp xúc những tư liệu, tôi đã tò mò rồi thích thú và cuối cùng là ngưỡng mộ con người vĩ đại này”.

Bác Hồ và ông Léo Figuèrre tại Việt Bắc năm 1950 – hình ảnh từ bộ phim Hồ Chí Minh – Ước vọng hoà bình.

Cách đây một năm, khi một hội thảo quốc tế về Hồ Chí Minh được tổ chức tại Việt Nam, người viết đã có dịp được lần đầu tiếp xúc và nói chuyện với bà Dominique. Người phụ nữ 64 tuổi đã thẳng thắn phát biểu: “Ở Pháp rất nhiều người không biết Hồ Chí Minh. Đừng nói những người trẻ, chính tôi là một ví dụ đây. Và cũng vì thế tôi mới quyết định làm bộ phim này”. Phim đã làm xong nhưng bà Dominique đang lo một chuyện nữa là làm sao phim được chiếu rộng rãi. Chính vì thế, ngoài những nỗ lực để bộ phim được chiếu tại Pháp trong thời gian sớm nhất, bà đã quyết định tặng kênh VTV4, “vì đây là kênh truyền hình phát toàn cầu nên sẽ có rất nhiều người trên thế giới xem được, nếu như phim được chiếu”. Ông Bạch Ngọc Chiến, trưởng ban truyền hình đối ngoại, đã hứa sẽ đưa bộ phim lên sóng sớm nhất và vào một dịp phù hợp.

“Khi tôi và chị Thu Hà đi tìm kiếm tư liệu về Cụ Hồ tại Pháp cách đây mấy năm, chúng tôi thấy rằng chính chúng tôi, một thế hệ có thể coi đã bắt đầu già, cũng đang bị mất dấu lịch sử. Có những khoảng trống không – thời gian, có những con người vô danh nhưng thực ra lại rất cần được biết tên, nhưng chúng tôi không thể xác định nổi. Vậy thì thế hệ sau chúng ta liệu sẽ còn mất mát quá khứ như thế nào. Tôi chỉ nghĩ rằng mỗi người một phần, một cách khác nhau nhưng đều nên nỗ lực để lịch sử lại tiếp tục được kể”, bà Dominique nói.

DUNG P.

sgtt.vn

Hồ Chí Minh, mùa xuân và cuộc đời

Phấn đấu xây dựng nước Việt Nam độc lập, thống nhất, dân chủ và giàu mạnh, văn minh, sánh vai các cường quốc năm châu là hoài bão, là mong mỏi thiết tha của Người, là lời non nước, là tiếng gọi của ngàn xưa và của hôm nay, là tiếng gọi của mùa xuân, là tiếng kèn giục ta tiến bước!

Chúng ta đang đón một mùa xuân – đất trời Việt Nam lộng lẫy sắc hương và thắm đậm tình người. Bão tố, mưa giông, nắng hạn, lũ lụt… đã phải đầu hàng trước sự gắng gỏi vượt lên của đồng bào miền Trung kiên cường cùng với sức mạnh kết đoàn, sẻ chia của đồng bào cả nước. Một sức xuân đang trỗi dậy trong sự quần tụ, sinh thành của dân tộc luôn biết vượt qua những ngày đông giá lạnh và mây mù.

Vượt qua sương gió đông tàn, để ta có cảnh huy hoàng mùa xuân – mùa xuân kỷ niệm lần thứ 81 Ngày thành lập Đảng, mùa xuân chào mừng Đại hội XI của Đảng. Thời gian chắt lọc, giữ lại những hạt vàng, hạt ngọc của cuộc sống gian lao, ươm trồng, ấp ủ cho mùa xuân mới tái tạo sinh thành. Thời gian kết thành lộc biếc, chồi xanh, hoa thơm, quả ngọt cho đời.

Xuân mới đã về trên toàn cõi Việt Nam. Hoa đào miền Bắc, hoa mai miền Nam cùng khoe sắc thắm, cùng điểm tô cho mùa xuân Việt rực rỡ sắc màu. Trong mọi gia đình Việt Nam đều thắp nén nhang thơm trên bàn thờ tiên tổ khi mà thời khắc linh thiêng giao hòa giữa Trời – Đất – Con người, lòng nặng ân tình nhớ tới Người – Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh – vị cứu tinh của dân tộc, Người đã khai sinh thể chế dân chủ cộng hoà của nước nhà, Người đã để lại một di sản văn hoá tinh thần bất diệt cho giống nòi. Người là linh hồn của mùa xuân muôn đời cho đất Việt bởi những tư tưởng của Người sống mãi với thời gian trong sự sinh thành và phát triển của đồng bào dân nước.

Không có gì quý hơn độc lập, tự do. Đó là lẽ sống của muôn đời!

Đấu tranh chống sự lạm quyền về chính trị, độc đoán về hành chính, bóc lột về kinh tế của mọi thế lực áp bức để làm tròn sứ mệnh giải phóng con người là tuyên ngôn chính trị từ thuở thanh xuân khi Người mới bước vào con đường tranh đấu. Cả cuộc đời Người trước sau cũng chỉ có một ham muốn: Ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành. Ham muốn của Người cũng chính là ước mơ, là lời chúc tân xuân cho mọi kiếp người, cho muôn đời dân nước.

Muốn đạt mục tiêu giản dị và vô cùng cao đẹp đó thì phải sửa sang thế đạo, kinh dinh nhân quyền. Đó là công việc khởi đầu hàng năm của mọi chế độ chính trị và của mọi nhân cách. Làm việc đó thường xuyên, liên tục thì mùa xuân dân tộc mới xanh tươi và thế giới con người mới được vui vẻ với “bánh mì và hoa hồng”.

Sức sống mãnh liệt của mùa xuân sẽ giúp con người vượt cao hơn chính mình để dựng xây, kiến tạo. Vô luận việc gì đều do người làm ra. Nhưng trước hết người cán bộ, đảng viên phải biết tự chỉ trích và đổi mới, bởi Hồ Chí Minh từng khẳng định Đảng là mỗi chúng ta. Đảng lớn lên là do mỗi chúng ta lớn lên. Người nhiều lần chỉ rõ Đảng và Nhà nước phải không ngừng nâng cao dân chúng cả về vật chất lẫn tinh thần. Chính vì vậy, ngay sau khi mới giành được chính quyền (8-1945) Người đã đề ra diệt giặc dốt và giáo dục lại dân ta song hành cùng với diệt giặc đói và giặc ngoại xâm. Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây. Vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người. Trồng cây và trồng người là việc làm cho đất nước ngày càng xuân, là cách duy nhất để làm cho mùa xuân của Tổ quốc ta sẽ là mùa xuân vĩnh hằng.

Trước lúc “lên đường theo tổ tiên”, Người căn dặn ngay sau khi kháng chiến thắng lợi, Đảng và Nhà nước, trong công tác thì phải: Đầu tiên là công việc đối với con người. Do vậy Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để chăm lo đời sống của nhân dân. Và trước tiên phải chỉnh đốn lại Đảng.

Phấn đấu xây dựng nước Việt Nam độc lập, thống nhất, dân chủ và giàu mạnh, văn minh, sánh vai các cường quốc năm châu là hoài bão, là mong mỏi thiết tha của Người, là lời non nước, là tiếng gọi của ngàn xưa và của hôm nay, là tiếng gọi của mùa xuân, là tiếng kèn giục ta tiến bước!

Xuân mới đã về! Đường lên hạnh phúc rộng thênh thênh!

Trần Đức Trung

xaydungdang.org.vn

Xúc động xem những bút tích của Bác Hồ

(Dân trí) – Hàng trăm bút tích với nhiều nét chữ, ngôn ngữ, hình minh họa của Bác Hồ ghi dấu ấn những sự kiện quan trọng hay tình cảm với nhân dân, đồng chí đã cho người xem hiểu rõ hơn con người của vị Chủ tịch vĩ đại luôn sống mãi trong lòng dân.

Đó là nội dung cuộc triển lãm “Sưu tập tư liệu bút tích của Chủ tịch Hồ Chí Minh” nhân kỷ niệm 66 năm Quốc khánh nước CHXHCN Việt Nam và 42 năm thực hiện Di chúc của Người vừa khai mạc ngày 1/9 tại Bảo tàng Hồ Chí Minh (số 7 Lê Lợi, TP Huế).

Hơn 100 trang tư liệu tiêu biểu có bút tích của Chủ tịch Hồ Chí Minh, gồm 4 phần chính: Bút tích của Chủ tịch trong một số văn bản chính trị của Người; Bút tích của Chủ tịch trong một số bức thư, bài nói chuyện, Điện thăm hỏi; Bút tích của Chủ tịch trong một số tác phẩm văn học, báo chí, tranh vẽ minh họa của Người và kỷ vật của Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng Đảng bộ và nhân dân TT- Huế được lấy từ các bản sao của nhiều bảo tàng trên cả nước và kỷ vật cụ thể của Bác trao tặng.

Các bút tích của Người dưới nhiều dạng như bản nháp, bản gần chỉnh sửa, bản hoàn chỉnh, bản đánh máy hay những chữ ký tặng trên các bằng khen, ảnh, hiện vật trao tặng… Khá nhiều ngôn ngữ như Anh, Pháp, Trung đã được người viết thành thạo và nét chữ rất đẹp, rõ ràng.

Triển lãm đã làm toát lên thêm một phần quan trọng của con người Bác trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, phát triển nước nhà và tình yêu thương chan chứa đối với toàn quân, toàn dân.

Thư Nguyễn Ái Quốc (Chủ tịch Hồ Chí Minh) gửi cho một Việt Kiều ở Marseille (Pháp) nhằm thu nhập tài liệu trong nước để tuyên truyền – ngày 27/11/1920 (Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh)

Thư Nguyễn Ái Quốc gửi Trung ương Đảng cộng sản Pháp 7/1923 (Nguồn tài liệu viết tay, tiếng Pháp, lưu tại Cục lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng)

Tranh đả kích do Bác vẽ đăng báo Le Paria số 26 tháng 6/1924

Thư của Nguyễn Ái Quốc gửi đồng bào về việc mua báo Le Paria (Người cùng khổ), 28/5/1923 (Nguồn: Bản chụp tiếng Pháp, bà Dominique de Miscault tặng Bảo tàng Hồ Chí Minh, TT-Huế năm 2010)

Trò lố hay Varen và Phan Bội Châu – Tác phẩm của Nguyễn Ái Quốc đăng báo Người cùng khổ số 36-37 tháng 9-10/1925

Tác phẩm “Đường Cách Mệnh”

“Nhật ký trong tù”

Thư Bác gửi Văn phòng đại diện Đảng cộng sản Mỹ (27/2/1930)

Bút tích của Bác in trên báo “Việt Nam độc lập” – Cơ quan tuyên truyền của Ban Việt Minh tỉnh Cao Bằng năm 1941

Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Bác (19/12/1946) – Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh

Thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi ông Hoàng Hữu Nam (tức Phan Bôi (1911-1947) Thứ trưởng Bộ Nội vụ trong Chính phủ Liên hiệp kháng chiến

Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng Nhì của ông Phan Văn Bang (Thừa Thiên HUế) có bút tích chữ ký của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Bút tích bài thơ “Nguyên tiêu” bằng chữ Hán của Bác, 1948

Chủ tịch Hồ Chí Minh thể hiện bài thơ “Quế Lâm phong cảnh ca” bằng chữ Hán

Bút tích của Người vịnh phong cảnh Thái Hồ khi Người đi công tác qua tỉnh Thái Hồ (Trung Quốc) tháng 5/1961 – Trích tác phẩm “Chủ tịch Hồ Chí Minh – Bút danh và bút tích” – Nxb VHTT – 2007

Bút tích Bác về ông Lê Đình Cao, Kiều bào Tân Thế giới có tinh thần đóng góp xây dựng quê hương, 1964

Bút tích trong thời kỳ Hiệp định Giơ-Ne-Vơ, 1954

Thư Bác gửi động viên tinh thần làm việc cán bộ công nhân mỏ Lào Cai, 1959

Bút tích của Bác viết về sự hy sinh của liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi, năm 1965

Tiểu đội 11 cô gái sông Hương (Huế) đọc thơ Bác tặng, 1968

Bác gửi nhà thơ Huy Cận sau khi Người đọc xong tập thơ, 1963

Thư Bác gửi thiếu nhi Liên Xô, 1961

Thư Bác gửi Nhi đồng Toàn quốc dịp Tết Trung Thu (2/10/1950)

Ảnh chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh có bút tích đề tặng ông Nguyễn Phi Phụng (Thừa Thiên Huế)

Lời ghi cảm tưởng của Bác trong sổ vàng điện Kremli, dịp Người sang thăm Liên Xô, 13/7/1955

Bút tích của Chủ tịch tại sổ vàng Bảo tàng Cách mạng Việt Nam (20/1/1960)

Thư Bác gửi cảm ơn đồng bào về việc đã nhận được bộ truyện Tây Du Ký (27/11/1922) (Nguồn: Bản chụp bút tích tiếng Việt, bà Dominique de Miscault tặng Bảo tàng Hồ Chí Minh, TT-Huế năm 2010)

Thư Chủ tịch gửi các chiến sĩ Bình dân học vụ (8/1948) về việc diệt giặc dốt

Một phần bài báo của Chủ tịch “Nâng cao đạo đức Cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” ngày 3/2/1969

Chân dung Người có chữ ký và bút tích của Người đề tặng ông Hà Văn Lâu – Nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao (19/5/1950) (Nguồn: Bảo tàng Hồ Chí Minh, Thừa Thiên Huế)

Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh (9/1969)

Từ chiếc máy chữ này, Người đã dồn hết tâm lực soạn thảo nhiều văn kiện quan trọng quan hệ đến vận mệnh của Tổ quốc.

Đại Dương

dantri.com.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại: Vị Thánh nhân của dân tộc

(PL&XH) – Mỗi độ xuân về, người dân Việt Nam nhớ Bác Hồ – qua những vần thơ chúc Tết của Người. Trong thế kỷ 20, những thắng lợi vĩ đại của cách mạng Việt Nam đã gắn liền với tên tuổi Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Tên Người không chỉ vĩ đại đối với dân tộc Việt Nam mà còn vang danh khắp năm châu bốn biển.

Hàng năm, mọi đình, đền, miếu mạo thờ Đức Thánh Tản Viên đều tổ chức lễ hội, nhưng được tổ chức với quy mô lớn vào các năm Tý – Ngọ – Mão – Dậu (âm lịch), các tên gọi này cũng là tên gọi các tháng giữa bốn mùa. Tháng Tý là giữa mùa Đông thì tháng Ngọ là giữa mùa Hè; tháng Mão là giữa mùa Xuân và tháng Dậu là giữa mùa Thu. Đó là quy luật của trời đất, tâm linh của vạn vật theo Ngũ hành tương sinh (Kim – Mộc – Thủy – Hỏa – Thổ), linh khí của đất trời tạo hóa.

Bác Hồ với đồng bào, cán bộ, bộ đội tại Thuận Châu ngày 7-5-1959

Điểm lại những mốc son lịch sử mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lãnh đạo cách mạng Việt Nam ở thế kỷ 20, trùng hợp với điều này: Năm 1930 (năm Canh Ngọ) – Đảng Cộng sản Đông Dương ra đời. Năm 1945 (năm Ất Dậu) – Cách mạng tháng Tám thành công. Năm 1954 (năm Giáp Ngọ) – Việt Nam làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ “Chấn động địa cầu” lập lại hòa bình ở Việt Nam. Năm 1960 (năm Canh Tý – Mặt trận Dân tộc Giải Phóng miền Nam Việt Nam ra đời, tạo bước ngoặt thế và lực cho cách mạng bước sang giai đoạn mới. Năm 1972 (năm Nhâm Tý) với chiến thắng lịch sử “Điện Biên Phủ trên không” quật ngã “Pháo đài bay B52” trên bầu trời Hà Nội, buộc đế quốc Mỹ phải ký kết Hiệp định Paris. Kết thúc cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc kéo dài suốt hơn 30 năm là cuộc Tổng tiến công đại thắng mùa xuân năm 1975 (năm Ất Mão). Đó là những mốc thời gian kỳ diệu của cách mạng Việt Nam, đều rơi vào những năm Tý – Ngọ – Mão – Dậu! Đôi điều quy luật trong thời đại Hồ Chí Minh đã minh chứng cho dân đất Việt thờ Thánh Tản Viên trong tứ niên: Tý – Ngọ – Mão – Dậu quả là điều kỳ diệu.

Tại những thời khắc quyết liệt đầy cam go của cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiên đoán trước mọi tình thế của cách mạng. Nhớ lại xuân Nhâm Ngọ (năm 1942) Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết trường ca “Lịch sử nước ta” với 236 câu lục bát, cuối tác phẩm có mục ghi những mốc lớn trong lịch sử dân tộc, trong đó có dòng chữ tiên đoán: “Năm 1945 (năm Ất Dậu) – Việt Nam độc lập”.

Trong cuốn sách “Nam Đàn xưa và nay” đã phân tích về một sự kiện kỳ lạ: “Tại cuốn Nghệ An ký của Hoàng Giáp Bùi Đương Lịch, viết vào cuối thế kỷ 18 có nhắc đến câu sấm truyền… “Độn sơn phân giới… Nam Đàn sinh thánh”. Học trò của cụ Phan Bội Châu lúc đó đã hỏi: “Nam Đàn sinh thánh” có phải ứng vào thầy không? Cụ Phan đã giải thích: “Câu sấm truyền ấy có ứng thì là Nguyễn Ái Quốc (Chủ tịch Hồ Chí Minh sau này)”. Ngay sau Cách mạng tháng Tám, cụ Huỳnh Thúc Kháng khi đó là Phó Chủ tịch nước, có thời gian ngắn làm việc bên cạnh Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã khâm phục trí tuệ siêu phàm, tâm linh thấu thiên cơ của Người: “Tầm con mắt trong cao tột bậc, nhận rõ đại cuộc, xét thấu thiên cơ”. Đại tướng Võ Nguyên Giáp cũng đã nhận định, đánh giá tầm nhìn đi trước thời gian của Chủ tịch Hồ Chí Minh như sau: “Người thường kể với chúng tôi, dự đoán tương lai. Người nói, chừng 4 hay 5 năm nữa, cách mạng Việt Nam sẽ thành công…”. Ngay đánh giá “Thế và Thời” trong khởi nghĩa giải phóng dân tộc, theo quan điểm Hồ Chí Minh đó là “vận nước”. Bởi “Đại sự muốn thành công phải nhờ “vận nước”! Ngay cả thời điểm trước lúc ra đi, Người đã để lại cho toàn Đảng toàn quân, toàn dân ta những lời tiên tri trong những vần thơ chúc Tết năm 1969 (năm Kỷ Dậu), để 6 năm sau, đúng năm 1975 (năm Ất Mão) đã trở thành hiện thực:

Năm qua thắng lợi vẻ vang
Năm nay, tiền tuyến chắc càng thắng to
Vì độc lập, vì tự do
Đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào!”.

Người dự đoán thật chính xác: Đánh cho Mỹ cút năm 1973 thì Ngụy ắt phải nhào, phải sụp đổ tan tành năm 1975.

Tư tưởng Hồ Chí Minh được thể hiện rõ trong tâm linh của Người khi Cách mạng tháng Tám mới thành công, nhận rõ vai trò quan trọng của các di tích, danh lam thắng cảnh và các vùng đất linh thiêng của Tổ quốc, ngày 23-11-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 65 về “Bảo tồn tất cả cổ tích trong toàn cõi Việt Nam, cấm phá hủy đình, chùa, đền, miếu, các cổ vật, thành, quách, lăng, mộ, chiếu sắc, văn bằng… có ích cho lịch sử”. Và, chính Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dự thảo, được Quốc hội thông qua Hiến pháp đầu tiên của nước ta (năm 1946) – Văn bản quan trọng nhất, thể chế hóa đường lối, chính sách của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Suốt cả cuộc đời cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tuy bận trăm công nghìn việc, nhưng Người vẫn đến thăm những di tích thiêng liêng của đất Việt như đền Hùng, chùa Hương Tích, chùa Côn Sơn, chùa Quán Sứ, chùa Thầy, di tích Cổ Loa thành, chùa Trầm… Người luôn luôn trân trọng giá trị tâm linh. Ngày hòa bình mới được lập lại, năm 1958, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thành kính lễ Phật Bà Quan Thế Âm khi về chùa Hương Tích hay khi cùng vua Lào (sang thăm Việt Nam năm 1963) đến lễ Phật tại chùa Quán Sứ.

Lê Hữu

Đó là sự kế tục dòng chảy văn hóa tâm linh đất Việt. Các đời vua, các danh nhân, anh hùng dân tộc như: Lý Công Uẩn, Trần Nhân Tông, Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông… qua các triều Lý, Trần, Lê, Nguyễn… đều sớm tìm đến vùng đất thiêng nhằm khởi phát để nối mạch thông linh: Thiên – Địa – Nhân, tạo thế trường tồn cho đất nước, cho muôn đời con cháu mai sau.

Khi đất nước còn chiến tranh, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chú ý tới khu linh thiêng K9- Đá Chông, Ba Vì. Theo quan điểm của triết học phương Đông, bình địa rộng lớn của K9 là nơi tổng hòa các yếu tố linh thiêng quy tụ. Bởi, trước mặt là sự giao thoa của 3 dòng: Sông Đà, sông Thao và sông Hồng; sau lưng dựa núi Tản Viên, hai bên tả, hữu triền núi thoai thoải, nước sông Đà “trường lưu thủy” chảy từ tả sang hữu (trái sang phải) hội hợp về biển lớn đúng với cái thế “Tiền cận Giang – Hậu tựa sơn” (trước là sông, lưng tựa núi). Thế đất của K9 là “thế tay ngai”, hội tụ phát tích linh khí, nằm trong năm vùng địa linh tuyệt diệu của đất Việt. Vì vậy, sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn căn dặn cán bộ, chiến sĩ bảo vệ K9 không được chặt cây, phá đá, phải giữ nguyên các quần thể, từng khối đá trụ nơi đây.

Người đã đi xa 43 năm, để lại muôn vàn thương tiếc cho đồng bào, đồng chí cả nước. Tại nhiều đình, đền, miếu, chùa và nhiều gia đình đã lập bàn thờ tỏ lòng thành kính với Người. Đất nước vào xuân, đôi điều tâm linh trong tư tưởng Hồ Chí Minh như một giá trị vô giá trong hàng nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam.

Trí Hải

phapluatxahoi.vn

Ngày xuân thấm thía lời Bác: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”

Bác Hồ đọc Tuyên ngôn độc lập tại quảng trường Ba Đình ngày 2-9-1945

Ngày nay, đất nước đã im tiếng súng song chân lý “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” vẫn còn nguyên giá trị, vẫn tiếp tục được phát huy. Độc lập, tự do hiện nay là phải làm sao để đất nước vừa mở rộng hợp tác quốc tế nhưng vừa giữ vững được quyền tự chủ về kinh tế, về chính trị, không bị lệ thuộc vào nước ngoài, đảm bảo toàn vẹn lãnh thổ, chủ quyền quốc gia và tự do, dân chủ, hạnh phúc cho mỗi người dân.

“Không có gì quý hơn độc lập, tự do”! Đó là mục tiêu, là lẽ sống của dân tộc ta được Chủ tịch Hồ Chí Minh đúc kết từ chính thực tiễn Việt Nam. Điều đó đã trở thành chân lý.

Năm 1966, khi đế quốc Mỹ điên cuồng mở rộng chiến tranh phá hoại ra miền Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định “Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quý hơn độc lập, tự do. Đến ngày thắng lợi, nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn!” Lời của Bác đã trở thành quyết tâm sắt đá của mỗi người dân đất Việt.

Trải qua những năm dài chìm trong đêm trường nô lệ, người dân nào cũng thấu hiểu nỗi nhục mất nước. Nước mất độc lập thì dân đâu còn có tự do? Đất nước bị mất tên trên bản đồ thế giới, mọi quyền hành rơi vào tay kẻ cai trị bạo tàn, nhân dân sống đời nô lệ, tăm tối, bị áp bức, bóc lột đến tận xương tuỷ, đói khổ lầm than! Từ thực tế ấy không chỉ riêng Bác Hồ mà là cả dân tộc Việt Nam đều nhận thấy “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” là một chân lý vĩnh hằng. Độc lập, tự do trong Tư tưởng Hồ Chí Minh phải là độc lập thực sự, độc lập hoàn toàn chứ không phải là thứ độc lập giả hiệu, độc lập nửa vời. Độc lập đó phải gắn với quyền tự quyết dân tộc, gắn liền với thống nhất đất nước, đảm bảo chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, chống lại mọi sự chia cắt. Độc lập đó cũng phải gắn với tự do, dân chủ và hạnh phúc của nhân dân, gắn với chủ nghĩa xã hội. Độc lập cho Tổ quốc, tự do cho nhân dân là tiền đề để đi đến CNXH; còn CNXH sẽ là cơ sở, là điều kiện để giữ vững sự độc lập, tự do ấy. Nếu nước được độc lập mà dân không được ăn no mặc ấm, không được hạnh phúc thì cũng chẳng có nghĩa lý gì. “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” đã trở thành chân lý, mục tiêu, lý tưởng của cả dân tộc Việt Nam và chính Hồ Chí Minh – người khái quát nên chân lý ấy, hơn ai hết đã hy sinh cả cuộc đời mình cho lý tưởng cao đẹp này.

Suốt ba mươi năm bôn ba tìm đường giải phóng cho dân tộc, mang lại hạnh phúc ấm no cho nhân dân, biết bao hiểm nguy, gian khó, Người vẫn luôn khẳng định mà không hề nao núng rằng “tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả những điều tôi muốn”. Người luôn tâm niệm một điều duy nhất là “làm sao cho nước ta hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”. Rồi đến khi về nước, lúc thì phải ẩn mình nơi hang đá, lúc phải đối mặt với những nguy cơ thách thức khốc liệt, Người luôn luôn chỉ nghĩ đến đất nước, đến nhân dân mà quên chính bản thân mình.

Khi Tổ quốc chưa được giải phóng hoàn toàn, Bác không lo cho hạnh phúc của riêng mình. Cả đến giấc ngủ cũng trằn trọc không yên vì “thương đoàn dân công đêm nay ngủ ngoài rừng, trải lá cây làm chiếu, manh áo phủ làm chăn, trời thì mưa lâm thâm, làm sao cho khỏi ướt”. Lòng Bác cứ nặng trĩu vì nhân dân, vì Tổ quốc mà quên nghĩ đến bản thân. Cuộc đời của Người là một tấm gương hy sinh quên mình vì lý tưởng “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Ngay cả lúc ốm thập tử nhất sinh Người vẫn dặn dò: “Dù có phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập”! Một tấm gương, một con người mà cả thế giới nghiêng mình cảm phục!

“Không có gì quý hơn độc lập, tự do” Câu nói tuy ngắn gọn nhưng ý nghĩa thật bao trùm, trong mọi trường hợp đều có thể tóm được “mẫu số chung” trong câu nói nổi tiếng ấy. Với một cá nhân, một đơn vị, một ngành, một địa phương hay trong phạm vi một quốc gia nào cũng đều đúng cả. Trong cuộc sống, trong công tác và nhất là trong các mối quan hệ, một khi ai đó phải lệ thuộc vào người khác về tình cảm, về vật chất hay về ơn huệ, nói chung ít nhiều đều tự mình làm mất đi một phần độc lập, tự do của mình. Một người nhận hối lộ, tất không thể độc lập, tự do giải quyết vấn đề một cách vô tư…

Với câu nói của Bác, độc lập, tự do mang ý nghĩa thật lớn lao và đó là sinh mệnh của cả đất nước, dân tộc. Để có được độc lập, tự do, điều tất yếu là phải hiến dâng xương máu cho cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do; phải chiến đấu và chiến thắng để bảo vệ nền độc lập, tự do ấy. Trên bước đường tranh đấu với lý tưởng độc lập, tự do, thời gian và công việc là liều thuốc thử để nhận rõ phẩm chất, ý chí và lòng trung thành của mỗi người dân cũng như với cả dân tộc. Lịch sử từng hơn một lần chứng minh rằng, cái giá mà dân tộc ta phải trả để giành được độc lập, tự do là không hề nhỏ. Chính vì thế mà chúng ta càng phải nâng niu, quý trọng và đồng tâm dốc sức vì nền độc lập, tự do vẹn toàn và mãi mãi của đất nước; triệu người như một, quyết không khuất phục trước bất kỳ một thế lực phản động nào. Trong suốt cuộc đời cao đẹp của mình, dù ở hoàn cảnh nào Bác Hồ cũng nêu cao tinh thần độc lập, tự do. Chính lý tưởng đó đó tạo nên nghị lực phi thường, niềm tin sắt đá của Bác trên con đường bôn ba tìm đường cứu nước. Sau này, với cương vị Chủ tịch nước, một lần nữa Bác tiếp tục khẳng định giá trị của độc lập, tự do bằng câu nói bất hủ: Dù có đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải giành cho kỳ được độc lập, tự do…

Ngày nay, đất nước đã im tiếng súng song chân lý “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” vẫn còn nguyên giá trị, vẫn tiếp tục được phát huy. Độc lập, tự do hiện nay là phải làm sao để đất nước vừa mở rộng hợp tác quốc tế nhưng vừa giữ vững được quyền tự chủ về kinh tế, về chính trị, không bị lệ thuộc vào nước ngoài, đảm bảo toàn vẹn lãnh thổ, chủ quyền quốc gia và tự do, dân chủ, hạnh phúc cho mỗi người dân. Để phát huy tinh thần này chúng ta cần phải ra sức hành động, xây dựng đất nước giàu mạnh. Phải đẩy mạnh CNH, HĐH để đưa nền kinh tế đất nước phát triển nhanh, tiến kịp với các nước trên thế giới. Phát triển kinh tế, xã hội, văn hoá, khoa học là nhiệm vụ trung tâm hàng đầu, đồng thời phải thường xuyên chăm lo củng cố quốc phòng an ninh, sẵn sàng đánh bại mọi hoạt động, âm mưu bạo loạn, lật đổ, xâm lược; bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ, bảo vệ lãnh thổ, bảo vệ công cuộc lao động hoà bình của nhân dân ta. Cần phải phát huy những giá trị tốt đẹp của văn hoá dân tộc, khơi dậy lòng tự hào, tự tôn dân tộc trong mỗi người để nhân dân có thể tự ý thức được trách nhiệm của mình trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước.

Nguyễn Thị Hương
Trường Chính trị tỉnh Bắc Giang

xaydungdang.org.vn