Tag Archive | Xuân 75

Mở đầu chiến dịch Huế – Đà Nẵng

Ngày 21-3-1975, từ 3 hướng Bắc, Tây và Nam, các lực lượng quân khu Trị Thiên và Quân đoàn 2 của ta đồng loạt tiến công các tuyến phòng thủ của địch, hình thành nhiều mũi tấn công vào thành phố Huế mở đầu chiến dịch Huế – Đà Nẵng.

Quân giải phóng tiến vào cầu Tràng Tiền. Ảnh: TTXVN.

Các lực lượng chủ lực và địa phương đã đánh thiệt hại nặng sư đoàn 1 ngụy, cắt đứt đường số 1 giữa Huế và Đà Nẵng. Hàng trăm xe đang trên đường rút chạy về Đà Nẵng bị ùn lại. Quân địch không còn con đường nào khác là rút chạy ra biển theo hướng cửa Thuận An và cửa Tây Hiền.

Tại chiến trường Khu 5, Lữ đoàn 52 và Trung đoàn 36 (Sư đoàn 2) bộ binh tiến công vào các cứ điểm chợ Cây Xanh, điểm cao 132, Dương Huê… tiếp đó đập tan đợt phản kích của địch, đánh thiệt hại nặng Trung đoàn 5 và một tiểu đoàn của Liên đoàn 2 biệt động quân, phá vỡ một mảng trên tuyến phòng thủ của địch ở phía Tây thị xã Tam Kỳ (Quảng Nam).

Ở Quảng Ngãi, Trung đoàn 94 tiêu diệt cụm chốt địch ở Tây Bắc quận lỵ Bình Sơn. Nhân dân Bình Sơn nổi dậy giải phóng 6 xã ở hai bên đường số 1. Ta tiếp tục truy kích địch, giải phóng hoàn toàn vùng nông thôn thuộc 2 huyện Bình Sơn, Sơn Tịnh.

Bộ đội chủ lực và lực lượng địa phương tiến công xuống đồng bằng cắt đứt một số đoạn trên đường số 1. Địch buộc phải rút quân và dàn mỏng trên một tuyến dài từ Tây Đà Nẵng đến Quảng Ngãi để đối phó với ta.

Lúc này ở Tây Nguyên, ta tiếp tục truy kích tàn quân của Quân đoàn 2 ngụy. Phần lớn cuộc di tản chiến lược của địch lại trở thành cuộc rút chạy trong hoảng loạn. Lực lượng ta tiến dần về phía Đông, phát triển xuống ven biển phối hợp với Khu 5 chiếm đường 19 và 21 cắt rời hệ thống phòng thủ phía Nam của địch và cô lập Quân khu 1.

N.T.H.H tổng hợp

SGGP Online

Siết gọng kềm, bao vây Huế

Ngày 20-3-1975, ở mặt trận Tây Nguyên, Trung đoàn 271 đánh chiếm Kiến Đức, tiếp tục giải phóng Gia Nghĩa; Trung đoàn 12 Sư đoàn 3 và Trung đoàn 95 A giải phóng quận lỵ An Khê.

Quân giải phóng tiến vào Cố đô Huế.

Vào ngày này, Sở Chỉ huy chiến dịch Tây Nguyên nhận được điện của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương chỉ đạo: Địch đang có ý đồ thực hiện co cụm chiến lược quy mô lớn nhằm tập trung lực lượng ở vùng Sài Gòn và một phần ĐBSCL, có thể ở Đà Nẵng và Cam Ranh nữa, hòng tạo một thế tương đối vững để đi đến một giải pháp chính trị liên hiệp hoặc chia cắt miền Nam. Vì vậy ta cần phải tranh thủ thời gian cao độ, hành động khẩn trương, hết sức bất ngờ về thời gian, phương hướng, lực lượng và táo bạo đồng thời đảm bảo chắc thắng.

Ở mặt trận Huế-Đà Nẵng, ta phát động chiến tranh nhân dân ở đồng bằng phối hợp nhiều lực lượng chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích… tiến công địch; tích cực chuẩn bị mọi mặt để giải phóng Huế. Đối với Quân khu 5, mục tiêu trước mắt là tiêu diệt Sư đoàn 2 ngụy, tiến về Đà Nẵng để phối hợp kế hoạch chung. Quân đoàn 2 chuẩn bị hỏa lực đánh Đà Nẵng.

Trong ngày này, Đài Phát thanh Huế đưa tin: “Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh phòng chống thành phố Huế bằng mọi giá”; Tư lệnh Quân khu 1 Ngô Quang Trưởng cũng lên đài thề thốt “tử thủ Huế”. Tuy nhiên, cũng trong thời điểm này, ngoài miệng hô hào tử thủ Huế nhưng Ngô Quang Trưởng đã vội bay vào Đà Nẵng và Quân đoàn 1 ngụy được lệnh rút lực lượng về phòng thủ Đà Nẵng; Lữ đoàn Không quân số 1 đã được lệnh chuyển vào Sài Gòn.

Không khí chuẩn bị giải phóng thành phố Huế sôi sục. Pháo tầm xa của ta đã rót đạn vào sân bay Phú Bài và cửa Thuận An. Ở Quân khu 5, Sư đoàn 2 cùng lực lượng địa phương tiêu diệt địch tại các quận lỵ Tiên Phước, Trà My…

N.T.H.H. tổng hợp

SGGP Online

Bộ Chính trị quyết định giải phóng miền Nam ngay trong năm 1975

Ngày 18-3-1975, trên đường số 7 ta tiếp tục đánh địch. Liên đoàn 7 ngụy thiệt hại nặng. Chỉ có một số rất ít vượt qua điểm chốt chặn của ta. Ta tiến vào chiếm Phú Bổn. Địch tại Phú Bổn bỏ hết vũ khí nặng, xe cộ…đi bộ vòng qua rừng không dám đi đường đèo đã bị ta chốt chặn.

Nhiều loại xe quân dụng và các thiết bị của địch bỏ lại trên đường rút chạy.

Thiết đoàn 3 ngụy cũng bỏ hết xe, chạy tán loạn vào rừng sau khi bị ta đánh nhiều lần. Quãng đường từ đèo Tu Na đến quận Sơn Hòa, quân lính kéo theo gia đình tháo chạy nên không giấu được mục tiêu. Quân ta truy kích sát, khiến địch một số thiệt mạng, một số ra hàng.

Cùng ngày 18-3, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương họp. Mọi người đều vui mừng khi thấy cuộc tiến công nhanh hơn dự kiến. Trước những chiến thắng dồn dập trên, ta đang mạnh mẽ, địch suy sụp nhanh và ta đang đứng trước một thời cơ chưa từng có.

Bộ Chính trị hạ quyết tâm chuyển cuộc tiến công chiến lược thành cuộc Tổng tiến công chiến lược, hoàn thành kế hoạch hai năm 1975-1976 ngay trong năm 1975.

Phương hướng tiến công chiến lược chủ yếu được xác định là Sài Gòn. Trước mắt, nhanh chóng tiến công tiêu diệt bằng được toàn bộ lực lượng địch trong vùng 1 chiến thuật, từ Quảng Trị đến Quảng Ngãi, giải phóng Huế- Đà Nẵng.

Cùng ngày này, Tổng thống ngụy Nguyễn Văn Thiệu cùng các cố vấn thân cận ra Đà Nẵng họp cấp tốc. Cuộc họp diễn ra với lý do bàn giải quyết vấn đề người tỵ nạn, nhưng thực chất cuộc họp bàn về vấn đề nên bỏ hay giữ Quân khu 1. Nghe Ngô Quang Trưởng tư lệnh Quân khu 1 báo cáo cuộc tiến công của ta vào Huế và Đà Nẵng sắp nổ ra. Cả Thiệu và êkíp vội vàng chạy ngay vào Sài Gòn với lý do bàn bạc cho an toàn.

Q.A. tổng hợp

SGGP Online

Truy kích địch theo đường số 7

Ngày 16-3, dưới sự yểm trợ của hàng chục máy bay ném bom và bắn phá dọn đường, quân địch ở hai tỉnh Gia Lai và Kon Tum bắt đầu rút chạy. Nhận được thông tin địch rút chạy theo đường số 7, Bộ Chỉ huy chiến dịch chỉ đạo các đơn vị tham gia truy kích địch gồm Sư đoàn 320A được tăng cường Trung đoàn 95B bộ binh, một tiểu đoàn thiết giáp, một cụm pháo binh chiến dịch và hai tiểu đoàn bộ đội địa phương tỉnh Phú Yên.

Vũ Thế Quang (trái) Đại tá Sư phó Sư đoàn 23 ngụy và Nguyễn Trọng Luật (phải) Tiểu khu trưởng Đắc Lắc bị quân giải phóng bắt sống. Ảnh: TTXVN

Khi nhận được lệnh truy kích, các đơn vị của Sư đoàn 320A đang ở nhiều nơi như Trung đoàn 64 quét địch tại Phước An, Buôn Hồ; Trung đoàn 48 làm đường ở đông Thuần Mẫn đi Cheo Reo, Trung đoàn 9 truy quét địch trên đường số 17, Tiểu đoàn 9 (Trung đoàn 64) là đơn vị hiện đóng gần đường số 7 nhanh chóng về Cheo Reo để chặn địch, các đơn vị khác khẩn trương thu quân đổ về đường số 7 truy kích địch.

Bộ đội tỉnh Phú Yên lên chốt đường số 7, không cho địch thoát về Tuy Hòa. Sư đoàn 968 tiến nhanh vào Pleiku, bám sát đội hình rút lui của địch, từ sau đánh tới.

Tại mặt trận Trị – Thiên, quân ta phá vỡ một mảng lớn hệ thống phòng ngự của địch tại đường 14, diệt và bắt gần 1.000 tên địch, thu hút và giam chân địch tại Tây-Nam Thừa Thiên, diệt cứ điểm Chúc Mao, uy hiếp Tây-Bắc Huế.

Ở Đông Nam Bộ ta mở các đợt tiến công trên đường 13, đường 20 và một đoạn trên quốc lộ 1 (Long Khánh- Rừng Lá). Ta chiếm Dầu Tiếng, suối Ông Hùng, Cầu Khởi (Tây-Bắc Sài Gòn), Định Quán (Đông-Bắc Sài Gòn). Tại Tây Nam bộ, ta mở rộng một số vùng giải phóng, lấn sâu vào các khu vực trọng yếu.

Q.A. tổng hợp

SGGP Online

Địch bỏ chạy khỏi Pleiku

Sáng 15-3, địch điều Liên đoàn 3 Biệt động quân, Thiết đoàn 19 về giữ Cheo Reo. Liên đoàn 6 Biệt động quân có công binh đi trước mở đường, bắc cầu từ Đông Cheo Reo về Củng Sơn, Tuy Hòa.

Địch tháo chạy khỏi Pleiku.

Cùng buổi sáng này, Phạm Văn Phú, Tư lệnh Quân đoàn 2 ngụy và ban tham mưu đã rút chạy về Nha Trang với lý do thành lập Bộ Tư lệnh tiền phương chỉ huy tác chiến lấy lại Buôn Ma Thuột (?!). Như vậy là Phú không tử thủ ở Pleiku như đã hứa trước đó. Mặc dù kế hoạch rút chạy được thực hiện hoàn toàn bí mật nhưng binh sĩ và người dân vẫn nhận ra ý định bỏ Pleiku của ngụy.

Họ ùn ùn kéo vào sân bay, tranh nhau lên máy bay di tản. Những ai không đi được bằng đường không thì dùng đủ loại xe chạy về Phú Bổn. Đường sá tắt nghẽn, quân lính tranh nhau đường đi, đánh nhau ầm ĩ trên đường. Cảnh đã rối loạn càng rối loạn hơn. Liên đoàn Biệt động quân 22 cũng rút chạy khỏi Kon Tum. Giao thông trong thị xã Phú Bổn ùn tắc, trong khi đó lượng người đổ về ngày càng đông.

Đây là lần đầu tiên trong cuộc chiến tranh ở Đông Dương và trong một phạm vi chiến dịch, một quân đoàn địch phải rút chạy bỏ một địa bàn chiến lược quan trọng. Địch bỏ chạy khỏi Tây Nguyên là một sai lầm lớn về mặt chiến lược, đã tạo thời cơ cho ta tiêu diệt nhiều quân địch và giải phóng Tây Nguyên.

Đêm 15-3, Cục Quân báo phát hiện một hoạt động đáng chú ý của địch ở Trị – Thiên: Liên đoàn Biệt động quân 14 chuyển ra Quảng Trị thay thế cho Sư đoàn lính thủy đánh bộ chuyển vào Đà Nẵng. Qua cuộc đọ sức lớn tại Buôn Ma Thuột và các diễn biến tiếp theo, có thể thấy rõ địch yếu hơn so với sự đánh giá của ta trước khi chiến dịch mở ra.

Địch không hy vọng giữ được Trị – Thiên, nên tập trung về giữ Đà Nẵng, nơi tập trung nhiều vị trí chiến lược xung yếu. Điều này càng khẳng định kế hoạch giải phóng miền Nam trong 2 năm của ta có thể được hoàn thành sớm hơn. Trước mắt, đã có thể mở cuộc tiến công giải phóng thành phố Huế và toàn bộ hai tỉnh Thừa Thiên và Quảng Trị.

Q.A. tổng hợp

SGGP Online

Địch chuẩn bị tháo chạy khỏi Tây Nguyên

Đại tướng Văn Tiến Dũng (thứ hai từ trái sang) tại Sở chỉ huy Mặt trận Giải phóng Tây Nguyên.

Ngày 14-3-1975, Sở chỉ huy mặt trận Tây Nguyên gửi điện báo cáo Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương về kết quả những ngày đầu của chiến dịch.

Sở chỉ huy hứa sẽ thực hiện tốt yêu cầu của trên là rút ngắn thời gian giành thắng lợi vượt mức kế hoạch đề ra. Việc giải phóng Tây Nguyên dự kiến trong năm 1976 nay chỉ còn trong vòng vài ba tháng của năm 1975.

Vào thời điểm này, Tổng thống ngụy Nguyễn Văn Thiệu cùng bộ sậu là Trần Thiện Khiêm, Cao Văn Viên, Đặng Văn Quang đã đến Cam Ranh bàn luận với Phạm Văn Phú, Tư lệnh Quân đoàn 2 về số phận của Tây Nguyên.

Trước sự tấn công bất ngờ và quá mạnh của ta, bộ phận đầu não của địch quyết định bỏ Tây Nguyên rút quân thật nhanh và bất ngờ theo đường số 7 về giữ miền duyên hải Trung Bộ để bảo toàn lực lượng. Địch bỏ chạy khỏi Tây Nguyên, điều này đã đúng như dự đoán của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương cách đó vài ngày.

Kế hoạch rút lui được địch triển khai bí mật cả với các lực lượng địa phương, không thông báo cho các tỉnh trưởng để họ “tử thủ” tiếp tục chống giữ. Một kế hoạch rút lui đã được Quân đoàn 2 chuẩn bị khá kỹ càng và gấp rút. Kế hoạch này bắt đầu từ ngày 15-3-1975.

Q.A. tổng hợp

SGGP Online

Đánh địch phản kích

Ngày 12-3, UBND tỉnh Đắc Lắc do đại tá Y Blốc làm chủ tịch được thành lập. Chính quyền mới thành lập đã tích cực tổ chức cuộc sống cho nhân dân. Các hộ dân khó khăn đã được cấp phát lương thực, nhu yếu phẩm. Các hộ dân được tổ chức đào hầm ngầm hoặc sơ tán tránh ảnh hưởng các trận đánh. Các lực lượng vũ trang chuẩn bị tổ chức đánh địch phản kích.

Xe tăng của bộ đội ta tiến vào giải phóng Buôn Ma Thuột.

Trong ngày, Trung đoàn 198 đặc công và Trung đoàn 148 bộ binh đã truy quét, diệt các vị trí địch còn lại trong thị xã Buôn Ma Thuột. Các Trung đoàn 25, 95B, 174, 149, 66 có xe tăng phối hợp tiêu diệt và bức hàng nhiều cứ điểm địch tại ngoại vi như Buôn Hồ, Chư Pao, Đạt Lý, Châu Nga, Châu Sơn. Tiểu đoàn 219 (Đoàn 559) đánh chiếm Bản Đôn.

Bị tấn công bất ngờ mất Buôn Ma Thuột, địch vội vã điều động quân để phản công, hòng chiếm lại Buôn Ma Thuột. Sau khi cho hơn 100 lượt máy bay ném bom dọn bãi, địch dùng trực thăng đổ quân xuống Đông Bắc Buôn Ma Thuột. Nhận rõ đây là thời cơ đánh địch ngoài công sự, bộ đội ta chuyển sang đánh quân địch phản kích. Pháo cao xạ bắn rơi một số trực thăng ngụy. Pháo mặt đất bắn vào nơi địch đổ quân.

Trung đoàn 24 (Sư đoàn 10) được xe tăng và pháo binh hỗ trợ đã liên tục bám đánh và tiêu diệt địch. Kết quả, Trung đoàn 24 đã đánh bại hai tiểu đoàn 1 và 2 (Trung đoàn 45 ngụy) và một tiểu đoàn bảo an, chiếm điểm cao 581, giải phóng một đoạn đường số 21 dài 12km. Trận chiến đánh địch phản kích đến hết ngày 12-3 vẫn chưa chấm dứt.

Vào thời điểm này, đồng chí Võ Nguyên Giáp gửi điện từ Hà Nội vào truyền đạt ý kiến của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương: Dự kiến lực lượng địch còn lại ở Tây Nguyên sẽ co cụm lại ở Pleiku và có thể rút lui bỏ Tây Nguyên. Do đó cần bao vây ngay Pleiku, triệt cả đường bộ lẫn đường không, chuẩn bị tiêu diệt địch. Như vậy, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương đã sớm dự kiến một cuộc rút lui của địch ở Tây Nguyên.

Q.A. tổng hợp

SGGP Online

Giải phóng Buôn Ma Thuột

6 giờ sáng 11-3, được hỏa lực pháo binh chi viện, quân ta từ 3 hướng mở đợt tấn công vào sở chỉ huy sư đoàn 23 ngụy.

Trong cơn tuyệt vọng, địch chống chọi quyết liệt. Máy bay địch ném bom xuống đường phố. Xe tăng địch xông ra bịt các ngả đường.

Xe tăng quân giải phóng tiến vào thị xã Buôn Ma Thuột.

Tuy nhiên, sự phòng vệ của địch đã bị đập tan. đến 11 giờ 11-3, quân ta làm chủ sở chỉ huy địch, bắt sống Vũ Thế Quang, đại tá sư đoàn phó sư đoàn 23 và Nguyễn Trọng Luật, tiểu khu trưởng Đắc Lắc; giải phóng thị xã Buôn Ma Thuột. Chiến thắng Buôn Ma Thuột được đánh giá là trận thắng then chốt quyết định của chiến dịch Tây Nguyên.

Sáng 11-3, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương họp tại Sở chỉ huy. Đây là cuộc họp đầu tiên của Bộ chỉ huy tối cao từ khi mở màn chiến dịch Tây Nguyên. Hội nghị cho thấy cục diện chiến trường đang chuyển biến nhanh, cần nắm bắt cho kịp thời cơ. Bộ Chính trị chỉ thị Bộ Tổng tham mưu chuẩn bị nhanh kế hoạch giải phóng Tây Nguyên, Huế, Đà Nẵng và dự kiến những thời cơ lớn hơn.

Chiều 11-3, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương gửi điện khen quân và dân Tây Nguyên đã nêu cao tinh thần quyết thắng, anh dũng và sáng tạo giành thắng lợi to lớn trong những ngày đầu chiến dịch. Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương chỉ thị: Nhanh chóng nắm lấy thời cơ thuận lợi, giành nhiều thắng lợi to lớn hơn nữa.

Ở Buôn Ma Thuột, cần nhanh chóng tiêu diệt tàn quân địch trong thị xã, tiêu diệt các cứ điểm ở ngoại vi. Quân ủy Trung ương chỉ thị cho mặt trận Tây Nguyên phải kiên quyết đánh bại địch phản công, bao vây và tiến tới đánh chiếm Pleiku, chặt đứt đường 19, cô lập Kon Tum.

Q.A tổng hợp

Địch phản kích thất bại

Binh lính ngụy bị bắt và giao nộp vũ khí

Ngày 13-3, hai trung đoàn 66 và 28 (Sư đoàn 10) từ Đức Lập hành quân đến Đông-Bắc thị xã Buôn Ma Thuột hỗ trợ các đơn vị bạn đánh địch phản kích. Trong ngày này, lực lượng ta đã đánh quân phản kích chạy tán loạn, bỏ lại nhiều vũ khí, quân trang, quân dụng. Cuộc phản kích của địch đã bị thất bại hoàn toàn.

Trong khi đó, ở phía Bắc Tây Nguyên và trên chiến trường Trị-Thiên, Khu 5, bộ đội ta đẩy mạnh tác chiến phối hợp với mặt trận Buôn Ma Thuột, tạo thế chia cắt buộc Quân đoàn 2 ngụy phải phân tán lực lượng đối phó.

Sư đoàn 968 bộ binh đánh chiếm hai chốt địch ở Tây-Nam Pleiku, áp sát quận lỵ Thanh Bình, pháo kích sân bay Cù Hanh, Kon Tum. Bộ đội địa phương Gia Lai và Kon Tum hoạt động mạnh ở Đông-Nam thị xã Pleiku. Sư đoàn 3 và trung đoàn 95 A chốt giữ các vị trí đã chiếm được Đường số 19, phát triển tiến công ra hướng đèo Măng Giang và hướng Vườn Xoài.

Trung đoàn 25 bộ binh diệt một bộ phận quân địch từ Khánh Dương lên và tiếp tục chia cắt đường 21. Trung đoàn 271 và Tiểu đoàn 14 đặc công đánh chiếm một số ấp vùng ven, áp sát sân bay Nhơn Cơ (Quảng Đức).

Ở Trị-Thiên, lực lượng vũ trang gia tăng hoạt động tại vùng giáp ranh uy hiếp thành phố Huế từ phía Tây và Tây Bắc. Ở khu 5, Sư đoàn 2 và Lữ đoàn 52 đã diệt chi khu quân sự Tiên Phước, chia cắt đường số 1, uy hiếp thị xã Quảng Ngãi và thị xã Tam Kỳ.
Thắng lợi lớn của ta ở Buôn Ma Thuột và hoạt động phối hợp ở các chiến trường khác đã làm địch lúng túng.

Q.A tổng hợp

SGGP Online

Đánh chiếm thị xã Buôn Ma Thuột

Đánh chiếm sân bay Hòa Bình.

2 giờ sáng 10-3-1975, trung đoàn 198 đặc công được tăng cường các phân đội hỏa lực B72, DKZ nổ súng đánh sân bay thị xã, sân bay Hòa Bình, khu kho Mai Hắc Đế, mở màn cuộc tiến công Buôn Ma Thuột. Cùng lúc pháo chiến dịch bắn vào các mục tiêu sư đoàn bộ sư đoàn 23, tiểu khu Đắc Lắc, trại pháo binh, thiết giáp… 6 giờ sáng bộ đội ta từ các hướng xung phong vào các cứ điểm.

Sau những phút hoảng loạn, địch củng cố lực lượng cố giữ một cách quyết liệt. Cuộc chiến diễn ra ác liệt ở nhiều khu vực. Địch cho cả máy bay ném bom và phản kích nhiều đợt. Ta và địch có nơi giành nhau từng khu vực. Đến 17 giờ 30 ngày 10-3, bộ đội ta đã chiếm hầu hết các mục tiêu trong thị xã. Do không nắm chắc được sở chỉ huy của sư đoàn 23 ngụy, nên lúc đó ta chưa chiếm được mục tiêu quan trọng này.

Đến chiều 10-3, đầu não của địch mới biết rõ ý định đánh Buôn Ma Thuột của ta thì đã quá muộn. Tổng thống ngụy Nguyễn Văn Thiệu và tư lệnh quân đoàn 2 ngụy Phạm Văn Phú lệnh cho quân lính còn lại trong thị xã tử thủ chờ viện binh. Tuy nhiên, các đường số 14, 19, 21 đã bị quân ta cắt đứt. Lực lượng địch ở Bắc Tây nguyên và các tỉnh Trung bộ còn đông nhưng không có đường lên ứng cứu.

Q.A tổng hợp

SGGP Online

Tấn công Đà Nẵng

Ngày 28-3-1975, trên tất cả các hướng, bộ đội ta mở trận công kích vào Đà Nẵng. Pháo ta bắn dữ dội vào Hòn Bằng, Trà Kiệu, Vĩnh Điện, sân bay Đà Nẵng, cảng Sơn Trà, sân bay Nước Mặn và các mục tiêu quân sự trọng yếu khác.

Xe tăng của ta tiến vào Đà Nẵng.

Đòn tập kích hỏa lực bằng pháo binh đã làm địch hoang mang càng thêm hoảng loạn. Chúng không hiểu bằng cách nào bộ đội ta tiến đánh nhanh như vậy. Sân bay Đà Nẵng tuy chưa thiệt hại nhiều nhưng buộc phải đóng cửa. Cũng tương tự như ở Huế, địch chỉ còn một lối thoát là chạy ra biển.

Từ hướng Bắc, Sư đoàn 325 Quân đoàn 2 tiến đánh địch theo đường số 1, đánh tan địch đang chốt chặn tại Lăng Cô. Hướng Tây-Bắc, Sư đoàn 304 Quân đoàn 2 theo trục đường 14 phá vỡ tuyến ngăn chặn của Sư đoàn 3 ngụy. Hướng Nam và Đông-Nam, Sư đoàn Quân khu 5, Trung đoàn 96 bộ đội Quảng Đà chiếm các vị trí bàn đạp ở phía Nam sông Thu Bồn. 14 giờ cùng ngày, máy bay địch đánh sập cầu Câu Lâu và cầu Bà Rén nhằm ngăn cản bước tiến của ta.

Trong lúc đó, tại phía Nam, tướng Uây-en, Tham mưu trưởng lục quân Mỹ, người đã cuốn lá cờ Mỹ để cùng đơn vị Mỹ cuối cùng rút khỏi miền Nam năm 1973, đã đến Sài Gòn trực tiếp vạch kế hoạch phòng thủ cho quân ngụy. Lúc này Quân đoàn 1 và 2 của ngụy đã bị tan rã, Uây –en vội vã đốc thúc quân ngụy xây dựng một phòng tuyến mạnh ngăn chặn quân ta từ Phan Rang và Mỹ đã thành lập một cầu không vận từ Bangkok (Thái Lan) vận chuyển một số vũ khí cho quân ngụy Sài Gòn, nhưng chúng cũng không thể cứu vãn tình thế lúc đó.

N.T.H.H. tổng hợp

SGGP Online

Chuyện kể của những phóng viên ảnh có mặt tại Sài Gòn trong ngày 30/4

Ngày 30/4/1975 mãi mãi là thời khắc đáng nhớ trong lịch sử Cách mạng Việt Nam. Hồi ức về những ngày tháng không thể nào quên ấy luôn theo suốt cuộc đời nhiều người, trong đó có những phóng viên ảnh – những người đã trực tiếp cầm máy ghi lại khoảnh khắc lịch sử hào hùng của dân tộc…

** Phóng viên Đinh Quang Thành: 30/4/1975 là ngày hạnh phúc nhất trong cuộc đời làm báo của tôi

Nhớ về những ngày tháng ấy, ông Đinh Quang Thành, nguyên phóng viên ảnh của Thông tấn xã Việt Nam kể lại: “Sau hơn 1 tháng rong ruổi theo các đoàn quân giải phóng suốt từ Bắc vào Nam, rạng sáng ngày 30/4/1975, tôi cùng tổ phóng viên “mũi nhọn” theo một mũi tiến quân của Sư đoàn 304 hành tiến vào Sài Gòn. Xa lộ Biên Hòa – Sài Gòn đầy lửa đạn, tới đầu cầu Thị Nghè tôi nhảy xuống đường nhưng không sao chụp được ảnh vì bà con hai bên đường ùa ra tặng quà, đành chạy vội về xe tiếp tục tiến về Dinh Độc Lập.

Cùng với Lữ đoàn tăng 203 vào Dinh Độc Lập, với phản xạ nghề nghiệp tôi mải miết chụp tất cả những gì diễn ra trong thời khắc đó: các xe tăng số 390, 843 án ngữ trước thềm Dinh Độc Lập; các binh sĩ, sĩ quan quân đội Sài Gòn đầu hàng vô điều kiện, các thành viên chính quyền Sài Gòn khai báo tại tầng hai Dinh Độc Lập…

Sau khi ở Dinh Độc Lập chứng kiến những giây phút cuối cùng của chính quyền Sài Gòn, tôi đã hòa mình vào không khí sôi động của người dân Sài Gòn mừng ngày đất nước hoàn toàn thống nhất. Ngày 30/4/1975 là ngày hạnh phúc nhất trong cuộc đời làm báo của tôi”…

Lữ đoàn 203 chiếm Dinh Độc lập (ảnh: Đinh Quang Thành)

Trong cuốn sách “Ảnh Việt Nam thế kỷ XX” của Nhà xuất bản Văn hóa thông tin, trong đó có bức ảnh Nhân dân thành phố Sài Gòn đón chào quân giải phóng in tràn hai trang 204 và 205. Đó là một bức ảnh rất hoành tráng chụp một đoàn xe chở quân giải phóng đi giữa rừng người. Những gương mặt trong ảnh đều rạng rỡ, tươi vui. Hàng ngàn cánh tay đang vẫy chào đoàn quân chiến thắng. Bức ảnh đó là của một phóng viên quân đội tăng cường cho Thông tấn xã Việt Nam, người đã từng với phóng viên Đinh Quang Thành rong ruổi trên những chặng đường dài và có mặt ở Sài Gòn vào thời khắc đặc biệt của ngày 30/4 – phóng viên Hứa Kiểm.

Nhớ về sự kiện lịch sử trọng đại này, phóng viên Hứa Kiểm kể trong xúc động: “Tôi chụp ảnh này buổi sáng 30/4/1975 trên đường từ cầu Sài Gòn đến cầu Thị Nghè. Trước đó, từ rừng cao su Xuân Lộc về căn cứ Nước Trong, chúng tôi nhập với bộ binh cơ giới của Trung đoàn 66, Sư đoàn 304 Quân đoàn 2.

Trận Nước Trong cực kỳ ác liệt, đó là một trường sĩ quan tăng thiết giáp, quân địch dùng xe tăng kết hợp với địa hình chống trả ác liệt. Sáng 29/4, quân ta chiếm được Nước Trong, thế là cứ băng băng về Sài Gòn thôi. Để chụp tấm ảnh này, tôi đứng trên thùng một xe tải chụp về phía sau, qua ống kính 35mm của chiếc máy Pentax, tôi thấy những người dân ôm chầm lấy bộ đội, tất cả đều tung hô, vẫy chào, ai cũng kiễng chân để sờ được vào tay các chú bộ đội trên xe. Ông Đinh Quang Thành (PV TTX Việt Nam) nhảy xuống đường chụp ảnh liền bị bà con bế bổng, tung hô ầm ầm. Nhưng không may cho tôi, đến cầu Thị Nghè, một chiếc xe tăng bị cháy làm tắc đường, nên tôi vào Dinh Độc Lập trễ mất ít phút…”.

Hiện giờ, tất cả những tác phẩm ảnh của ông Hứa Kiểm đều được lưu trữ trong tư liệu của TTXVN.

** PV Đậu Ngọc Đản: Điều may mắn lớn trong đời tôi

Cùng chung cảm xúc, nhà báo Đậu Ngọc Đản – nguyên phóng viên chiến trường của Tổng cục Chính trị đã thốt lên: “Đó là điều may mắn lớn của đời tôi” khi nhớ lại những ngày tháng bám cùng các đội quân vượt qua bao gian lao thử thách, lửa đạn để có mặt ở Sài Gòn vào đúng ngày 30/4 lịch sử. Ông tâm sự: “Hồi đó tôi mới 24 tuổi, là phóng viên mang quân hàm Thiếu uý của Tổng cục chính trị. Vào Sài Gòn khi đó có rất nhiều phóng viên báo chí trong và ngoài nước nhưng có người vào muộn, có người vào sau vì nhiều lý do khác nhau.

Sở dĩ tôi có mặt tại Dinh Độc Lập vào sáng ngày 30/4/1975 để chứng kiến cảnh Tổng thống Dương Văn Minh bị bắt là bởi tôi có 2 may mắn lớn đó là: Tôi là phóng viên của quân đội, lại được đi theo tiểu đoàn 4 của Lữ đoàn xe tăng 203, là cánh tiến thẳng vào Sài Gòn. Trong đó, chiếc xe tăng thứ 4 mà tôi được đi cùng là chiếc tiến vào Dinh Độc Lập.

Khi quân giải phóng tiến vào Dinh, tôi cũng đã nhanh tay chụp được bức hình Trung uý Phạm Xuân Thệ đưa Dương Văn Minh đến Đài Phát thanh để tuyên bố đầu hàng. Khi chụp xong bức hình này, trong đầu tôi chỉ nghĩ đến việc làm thế nào đó để nhanh chóng đưa nó về Hà Nội để kịp thời đưa tin đến nhân dân cả nước. Vì thế mà tôi không đến Đài Phát thanh để chứng kiến những gì xảy ra ở đó nữa…

Nữ biệt động thành Trung Kiên (ảnh: Đậu Ngọc Đản)

Trên đường ra sân bay Tân Sơn Nhất để về Hà Nội, tôi lại gặp một may mắn nữa khi hình ảnh nữ biệt động thành Trung Kiên (tên thật là Cao Thị Nhíp) được giao nhiệm vụ dẫn đường cho xe tăng của quân đoàn 3 vào Sài Gòn. Đó là một bức ảnh đẹp của tôi và được nhiều người biết đến.

Khi vào Sài Gòn, cảm giác của tôi giống như một cậu học trò ở quê lần đầu ra tỉnh vậy. Đó là một thành phố phồn hoa đô hội nên chúng tôi không tránh khỏi sự ngỡ ngàng. Nhưng với tâm thế của người chiến thắng nên tự nhiên cũng thấy tự tin hơn. Đang tác nghiệp nhưng chính chúng tôi cũng muốn hoà mình vào không khí chiến thắng ấy vì thấy người dân miền Nam ai cũng niềm vui ngập tràn trên khuôn mặt, không khí rộn ràng vô cùng…”

Phóng viên Phạm Kỳ Nhân: Tôi tự hào góp phần nhỏ bé của mình

Vào thời khắc 13h30 ngày 30/4/1975, khi Tổng thống ngụy quyền Sài Gòn Dương Văn Minh đọc lời tuyên bố đầu hàng vô điều kiện tại Đài Phát thành Sài Gòn, có một nhà báo Việt Nam và là người duy nhất chộp được bức hình lịch sử đó. Ông là nhà báo Phạm Kỳ Nhân (bút danh Kỳ Nhân), phóng viên của Hãng AP tại Sài Gòn khi đó. Ông nhớ lại:

“Tôi túc trực tại Dinh Độc Lập bắt đầu từ ngày 28/4 vì thấy lúc này tinh thần của chính quyền ngụy đã rệu rã lắm rồi. 10h sáng ngày 30/4, tôi vào Dinh Độc Lập để tiếp tục theo dõi những diễn biến trong nội các của Dương Văn Minh. Cùng có mặt trong Dinh lúc đó với tôi còn có nhà báo Tây Đức Borries Gallasch. Lúc đó, ngoài Dinh một vài lính Lôi Hổ đang tụ tập trong sân, vứt súng, quân phục xuống đất và có những hành động phản đối việc Tổng thống có ý định đầu hàng quân giải phóng. Ở trong Dinh, Tổng thống và ông Vũ Văn Mẫu lúc đó đều không có vẻ buồn của người thua trận. Trái lại, tôi thấy họ rất vui và tâm trạng thì rất bồn chồn chờ quân giải phóng vào để bàn giao chính quyền.

Dương Văn Minh đọc lời tuyên bố đầu hàng ở Đài Phát thanh Sài Gòn (ảnh: Phạm Kỳ Nhân)

Khi quân giải phóng vào và đưa Dương Văn Minh đến Đài Phát thanh để đọc lời tuyên bố đầu hàng, tôi đã dùng xe riêng của mình để chở các ông Cả và Lâm (họ đều không đeo quân hàm) đến Đài Phát thanh. Lúc đó các nhà báo chỉ có tôi và Borries Gallasch nhưng nhà báo này chỉ ghi âm thôi chứ không chụp hình. Thấy đó là thời khắc quan trọng nên tôi đã chụp rất nhanh bức hình đó và gửi về Hãng AP (…). Rời Đài Phát thanh, tôi hoà vào dòng người của quân giải phóng để tiếp tục tác nghiệp. Trong đời làm phóng viên của mình, bằng những tác phẩm báo chí viết về chiến thắng 30/4 năm đó, tôi vô cùng tự hào vì mình đã đóng góp được một phần nhỏ bé để ghi lại những thời khắc lịch sử quan trọng của đất nước”./.

Nguyễn Thị Thọ

VOV News