Tag Archive | Việt Nam – Hồ Chí Minh

Chủ tịch Hồ Chí Minh nói về Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9

Mục đích Cách mạng Tháng Tám là gì?

Là giành lại hòa bình, thống nhất, độc lập và dân chủ cho Tổ quốc ta, cho nhân dân ta.

Cách mạng Tháng Tám thành công, ngày 2-9 nước ta tuyên bố độc lập. Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời. Tổng tuyển cử tự do được tổ chức, nhân dân toàn quốc ta đã bầu ra Quốc hội. Quốc hội thông qua Hiến pháp và bầu ra Chính phủ Trung ương. Chính quyền địa phương từ xã đến tỉnh đều do nhân dân cử ra. Thế là lúc đó chúng ta đã bắt đầu thực hiện thống nhất, độc lập và dân chủ.

Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, H.2002, tập 7, tr.337.

Cách mạng Tháng Tám ở Việt Nam là cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân điển hình ở một nước thuộc địa nửa phong kiến do giai cấp công nhân lãnh đạo. Thắng lợi ấy đã đưa dân tộc Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập tự do và chủ nghĩa xã hội. Đó là thắng lợi của đường lối giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc, dân chủ của giai cấp công nhân, kết hợp chặt chẽ hai nhiệm vụ chống đế quốc và chống phong kiến. Đó là thắng lợi của đường lối đoàn kết toàn dân, sử dụng bạo lực cách mạng để lật đổ ách thống trị của đế quốc và phong kiến. Đó là sự tài tình, sáng tạo của Đảng trong việc tạo thời cơ, nắm vững thời cơ, khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước.

Sách đã dẫn (Sđd), tập 6, tr.629.

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công. Đó là thắng lợi đầu tiên của Chủ nghĩa Mác-Lênin ở một nước thuộc địa nửa phong kiến. Cách mạng đã đập tan xiềng xích của thực dân Pháp và phát xít Nhật, lật nhào chế độ quân chủ phong kiến thối nát trên đất nước ta, lập nên Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam châu á.

Sđd, tập 4, tr.544

Cách mạng Tháng Tám đã thành công vì có được ba điều kiện không thể thiếu được đối với bất cứ một cuộc cách mạng phản đế nào ở một nước thuộc địa; đó là sự lãnh đạo của giai cấp công nhân, sự thành lập một mặt trận dân tộc phản đế rộng rãi, khởi nghĩa vũ trang.

Sđd, tập 8, tr.53.

Cách mạng Tháng Tám đã giải phóng đồng bào ta ra khỏi chế độ quân chủ chuyên chế và xiềng xích thực dân.

Cách mạng Tháng Tám đã xây dựng cho nhân dân ta cái nền tảng Dân chủ Cộng hòa và thống nhất độc lập.

Sđd, tập 5, tr.187.

Cách mạng Tháng Tám đã lật đổ nền quân chủ mấy mươi thế kỷ, đã đánh tan xiềng xích thực dân gần 100 năm, đã đưa chính quyền lại cho nhân dân, đã xây nền tảng cho nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, độc lập, tự do, hạnh phúc.

Đó là một cuộc thay đổi cực kỳ to lớn trong lịch sử của nước ta.

Cách mạng Tháng Tám thắng lợi đã làm cho chúng ta trở nên một bộ phận trong đại gia đình dân chủ thế giới.

Sđd, tập 6, tr.160.

xaydungdang.org.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh nói về rèn luyện cán bộ

Huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng.

Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, H.2002, tập 5, tr.269.

Chính vì công việc nhiều mà càng cần phải học tập, để làm cho đảng viên và cốt cán tư tưởng thông, lập trường vững, làm đúng chính sách của Đảng và Chính phủ, đi đúng đường lối quần chúng. Học tập càng khá, thì giải quyết các vấn đề càng dễ dàng, công việc càng trôi chảy.

… Cốt cán không những là cái khâu liên hệ, mà lại là cái kho dồi dào cho Đảng lấy thêm lực lượng mới. Nếu cốt cán được phát triển và củng cố, thì Đảng sẽ phát triển và củng cố. Nếu không có cốt cán thì Đảng sẽ khô héo. Lời ấy càng chứng tỏ rằng giáo dục cốt cán là việc rất quan trọng và cần kíp.

Sách đã dẫn (Sđd), tập 7, tr.273-274.

Chỉnh huấn là cốt để giúp cán bộ nâng cao tư tưởng cách mạng, củng cố lập trường, rửa gột khuyết điểm, phát triển ưu điểm. Muốn có kết quả ấy thì phải:

– Mở rộng dân chủ: thật thà tự phê bình và thành khẩn phê bình.

– Chống thái độ rụt rè, nể nả giữa cấp dưới và cấp trên, giữa công nông và trí thức, giữa cán bộ ngoài Đảng và trong Đảng.

Sđd, tập 7, tr.92-93.

Muốn có nhiều cán bộ, Đảng phải giúp đỡ cho cán bộ tự học tập. Đảng đã giúp, cán bộ phải chịu học.

Sđd, tập 5, tr.552.

Cán bộ cũ phải hoan nghênh, dạy bảo, dìu dắt, yêu mến cán bộ mới. Cố nhiên cán bộ mới, vì công tác chưa lâu, kinh nghiệm còn ít, có nhiều khuyết điểm. Nhưng họ lại có những ưu điểm hơn cán bộ cũ: họ nhanh nhẹn hơn, thường giàu sáng kiến hơn. Vì vậy, hai bên phải tôn trọng nhau, giúp đỡ nhau, học lẫn nhau, đoàn kết chặt chẽ với nhau.

Sđd, tập 5, tr.237.

Phải luôn luôn dùng lòng thân ái mà giúp đỡ, lãnh đạo cán bộ. Giúp họ sửa chữa những chỗ sai lầm. Khen ngợi họ lúc họ làm được việc. Và phải luôn luôn kiểm soát cán bộ.

Sđd, tập 5, tr.275.

Chúng ta cần phải nâng cao mở rộng dân chủ ra, khuyên gắng cán bộ và đảng viên, bày cho họ suy nghĩ, bày cho họ học hỏi quần chúng, cổ động họ tìm tòi, đề nghị, làm những việc lợi cho quần chúng. Khi họ đã có nhiều sáng kiến, thì giúp đỡ cho họ phát triển, khen ngợi cho họ thêm hăng hái. Như thế, thì những tính lười, tính “gặp chăng hay chớ” ngày càng bớt, mà sáng kiến và tính hăng hái ngày càng nhiều thêm.

Sđd, tập 5, tr.245.

Khi giao công tác cho cán bộ cần phải chỉ đạo rõ ràng, sắp đặt đầy đủ. Vạch rõ những điểm chính, và những khó khăn có thể xảy ra. Những vấn đề đã quyết định rồi, thả cho họ làm, khuyên gắng họ cứ cả gan mà làm. Cũng như trong quân đội, khi chiến lược chiến thuật và nhiệm vụ đã quyết định rồi, vị Tổng tư lệnh không cần nhúng vào những vấn đề lặt vặt. Phải để cho các cấp chỉ huy có quyền “tuỳ cơ ứng biến”, mới có thể phát triển tài năng của họ. Việc gì cấp trên cũng nhúng vào, cán bộ như một cái máy, việc gì cũng chờ mệnh lệnh, sinh ỷ lại, mất hết sáng kiến.

Sđd, tập 5, tr.280.

xaydungdang.org.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh nói về công tác đảng viên

Đảng viên tốt thì chi bộ mới tốt. Muốn đảng viên tốt thì chi bộ phải thường xuyên giáo dục mỗi đồng chí. Nhiệm vụ của đảng viên là gì? Tư cách của đảng viên là thế nào? Đồng thời giúp đỡ đảng viên hằng ngày tự kiểm điểm mình.

Về việc này, Bác có vài ý kiến để các đồng chí tham khảo:

ý kiến thứ nhất là nên in 10 nhiệm vụ của đảng viên phát cho từng đồng chí để hằng ngày ghi nhớ và thực hiện.

Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, H.2000, tập 12, tr.80.

Đối với các hạng đảng viên

… Một khi họ đã theo Đảng thì Đảng phải cảm hoá họ, dạy dỗ họ, nâng cao sự hiểu biết và lòng phụ trách của họ lên dần dần. Trong sự huấn luyện và tranh đấu lâu dài, họ rất có thể thành những người chiến sĩ khá.

Đối với những người không chịu nổi khó nhọc, không chịu nổi kỷ luật nghiêm khắc mà xin ra khỏi Đảng, thì Đảng vẫn bằng lòng để họ ra. Đảng chỉ yêu cầu một điều là: họ thề không lộ bí mật của Đảng, không phản Đảng, không phá hoại Đảng. Như thế thì Đảng vẫn giữ cảm tình thân thiện với họ.

Sách đã dẫn (Sđd), tập 5, tr.254.

trong lúc đề bạt cán bộ trẻ, phải chú ý đến sự đoàn kết giữa đảng viên cũ và đảng viên mới. Trong Đảng ta có nhiều đảng viên già, nhiều đảng viên trẻ. Đảng viên nhiều tuổi thì từng trải. Đảng viên trẻ tuổi thì hăng hái. Cho nên đảng viên phải giúp đỡ lẫn nhau cùng nhau tiến bộ. Công việc cách mạng rất nhiều, không sợ thiếu việc. Phải chú ý phát triển Đảng vào thanh niên. Không nên hẹp hòi. Nhưng việc phát triển Đảng phải làm cẩn thận, không được cẩu thả.

Sđd, tập 12, tr.196-197.

… trong thời kỳ dự bị, Đảng phải dạy dỗ cho họ và trao việc cho họ làm. Đồng thời, Đảng phải xem xét tính nết, công tác và lịch sử của họ.

– Những người giới thiệu phải giúp đỡ họ học tập và công tác.

Sđd, tập 5, tr.266.

– Việc giáo dục đảng viên còn làm theo từng vụ, từng việc, chưa có chương trình, kế hoạch giáo dục toàn diện và lâu dài…

– Để sửa chữa những thiếu sót đó, từ nay Đảng ta cần phải quan tâm hơn nữa đến việc giáo dục đảng viên.

Sđd, tập 12, tr.93.

– Đảng viên ở nơi này đi nơi khác phải xin phép Đảng và theo cơ quan nơi đó để làm việc.

– Bất cứ về vấn đề nào đảng viên đều phải hết sức thảo luận và phát biểu ý kiến, khi đa số đã nghị quyết thì tất cả đảng viên phải phục tùng mà thi hành.

Sđd, tập 3, tr.6-7.

xaydungdang.org.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh nói về bầu cử đại biểu Quốc hội

Luật bầu cử của ta thật là dân chủ. Tất cả công dân, gái cũng như trai, từ 18 tuổi trở lên đều có quyền bầu cử, tự do lựa chọn người thay mặt cho mình ở Quốc hội.

Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, H.2002, tập 10, tr.129.

Do Luật bầu cử của ta thật sự dân chủ, cho nên Quốc hội ta thật sự đại biểu cho lợi ích của nhân dân.

Sách đã dẫn (Sđd), tập 10, tr.130.

Nhân dân sử dụng quyền lực của mình thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân.

Chế độ tuyển cử của chúng ta thực hiện dân chủ đồng thời thực hiện sự đoàn kết toàn dân. Mọi công dân từ 18 tuổi trở lên đều có quyền bầu cử, từ 21 tuổi trở lên đều có quyền ứng cử.

Việc tuyển cử tiến hành theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín.

Nhân dân có quyền bãi miễn đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân nếu những đại biểu ấy tỏ ra không xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân.

Sđd, tập 9, tr.590, 591.

Lá phiếu của người cử tri tuy khuôn khổ nó bé nhỏ, nhưng giá trị của nó thì vô cùng to lớn. Nhân dân ta đã trải qua biết bao gian khổ, hy sinh biết bao xương máu trong cuộc cách mạng đánh đổ thực dân và phong kiến mới giành được nó. Nó chứng tỏ chế độ dân chủ và tự do của Nhà nước ta và quyền làm chủ thật sự của mỗi người công dân ta. Vì vậy, đi bỏ phiếu trong cuộc tổng tuyển cử vừa là quyền lợi quý báu, vừa là nghĩa vụ thiêng liêng của mỗi người cử tri. Phải đi bỏ phiếu để tự mình lựa chọn những người xứng đáng thay mặt cho mình trong Quốc hội.

Sđd, tập 11, tr.247.

Quốc hội phải có những đại biểu thật xứng đáng, những đại biểu một lòng một dạ phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân và phục vụ chủ nghĩa xã hội.

Lựa chọn những đại biểu như vậy là quyền lợi và nghĩa vụ của người cử tri.

Sđd, tập 10, tr.130.

Chúng tôi nhận rằng được đồng bào đưa ra ứng cử là một vinh dự lớn. Người được bầu và người không được bầu sẽ đều vui vẻ, phấn khởi và đều cảm ơn đồng bào.

Sđd, tập 10, tr.131.

Để xứng đáng là người đày tớ trung thành của nhân dân, nhiệm vụ của mỗi vị đại biểu là phải:

– Thực hành cần kiệm liêm chính, chí công vô tư,

– Một lòng một dạ phục vụ nhân dân, phục vụ chủ nghĩa xã hội,

– Làm gương mẫu trong việc thi đua tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, tham ô.

Sđd, tập 10, tr.172

xaydungdang.org.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh nói về chi bộ

Chi bộ là nền móng của Đảng, chi bộ tốt thì mọi việc sẽ tốt.

Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, H.2002, tập 12, tr.210.

Tổ chức gốc rễ của Đảng là chi bộ. Chi bộ do chi ủy lãnh đạo; các đảng viên chịu sự lãnh đạo của chi ủy.

Sách đã dẫn (Sđd), tập 7, tr.240.

Mỗi chi bộ ta phải là một hạt nhân vững chắc, lãnh đạo đồng bào thi đua yêu nước, cần kiệm xây dựng nước nhà.

Sđd, tập 10, tr.205.

Tác dụng của chi bộ là cực kỳ quan trọng, vì nó là sợi dây chuyền để liên hệ Đảng với quần chúng. Nhiệm vụ của chi bộ là:

– Luôn luôn tuyên truyền cho nhân dân và tổ chức nhân dân, để thực hiện khẩu hiệu và chính sách của Đảng.

– Luôn luôn chú ý đến tư tưởng và nhu cầu của nhân dân và kịp thời báo cáo cho cấp trên biết rõ.

– Luôn luôn quan tâm đến đời sống kinh tế, chính trị và văn hoá của nhân dân, đồng thời giáo dục nhân dân, tổ chức nhân dân để giải quyết các vấn đề cho nhân dân.
Chỉ có làm đầy đủ những công việc ấy, thì Đảng mới liên hệ chặt chẽ với quần chúng.

– Chọn lọc đảng viên mới cũng là một nhiệm vụ quan trọng. Chi bộ cần thường xuyên giáo dục quần chúng, bồi dưỡng những phần tử hăng hái, nâng cao trình độ giác ngộ của họ đến tiêu chuẩn đảng viên. Khi giới thiệu họ vào Đảng, thì phải hết sức cẩn thận.

Sđd, tập 7, tr.243.

Chi bộ kém là vì đảng viên và cán bộ không một lòng một dạ phục vụ nhân dân; không lãnh đạo nhân dân tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm. Một số đảng viên và cán bộ còn mang nặng những thói xấu như tham ô, ích kỷ… họ đã không làm kiểu mẫu tốt, mà lại nêu gương xấu.

Sđd, tập 11, tr.171.

Để tránh tình trạng có đảng viên kém, có chi bộ kém, từ nay các huyện ủy, thành ủy, tỉnh ủy cần phải đi sâu đi sát đến các chi bộ, cần phải giúp đỡ các chi bộ một cách thiết thực và thường xuyên.

Sđd, tập 12, tr.79.

Đảng viên tốt thì chi bộ mới tốt. Muốn đảng viên tốt thì chi bộ phải thường xuyên giáo dục mỗi đồng chí. Nhiệm vụ của đảng viên là gì? Tư cách của đảng viên là thế nào? Đồng thời giúp đỡ đảng viên hằng ngày tự kiểm điểm mình.

Sđd, tập 12, tr.80.

xaydungdang.org.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng chính thể dân chủ và nhà nước pháp quyền để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân

Trong hệ thống di sản Tư tưởng Hồ Chí Minh, tư tưởng của Người về dân chủ và xây dựng chính thể dân chủ, về nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân để thực hiện quyền làm chủ thực chất của nhân dân là một tư tưởng lớn, nổi bật và nhất quán.

Là một nhà tư tưởng kiệt xuất của cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX, Hồ Chí Minh chẳng những đã phát hiện ra quy luật phát triển của cách mạng Việt Nam trong thời đại mới là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội mà còn dành cả cuộc đời và sự nghiệp của mình cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội và giải phóng con người khỏi ách áp bức, bóc lột và nô dịch của chủ nghĩa tư bản, đế quốc và thực dân, để đem lại quyền sống, quyền tự do và mưu cầu hạnh phúc cho tất cả mọi người. Đó là lý tưởng, mục tiêu cao cả, thấm nhuần sâu sắc chủ nghĩa nhân đạo cách mạng, chủ nghĩa nhân văn cộng sản của Hồ Chí Minh. Người suốt đời thực hành lý tưởng và mục tiêu ấy với một động cơ và lẽ sống cao thượng, với một nghị lực phi thường vượt qua mọi gian lao và thử thách trong cuộc đấu tranh chống cường quyền và bạo ngược, nêu cao bản lĩnh và dũng khí vì tự do và nhân phẩm con người.

Sự nghiệp vĩ đại của Hồ Chí Minh là ở chỗ, chứng thực rằng, “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết, thành công, thành công, đại thành công”. Đó là quy luật của muôn đời mà cũng là chân giá trị của lịch sử đấu tranh cách mạng thời hiện đại. Đó còn là tri thức cốt yếu nhất, đáng tin cậy và có sức thuyết phục lớn nhất của mọi tri thức khoa học xã hội – nhân văn thể nghiệm trong đấu tranh chính trị, làm nên một chất lượng nhân văn hiện đại của văn hóa chính trị Hồ Chí Minh, văn hóa chính trị Việt Nam. Trong cuộc đời mình, Người đã dường như dành hết trí lực và tâm lực, cả nỗ lực và tinh lực của mình cho thực hành đoàn kết, đại đoàn kết trong dân, trong Đảng, từ dân tộc đến quốc tế. Người đã đề cập đến vấn đề hệ trọng và thiêng liêng này trong Di chúc, ở đó có cả tư tưởng và tâm trạng, có cả niềm tự hào, tin tưởng mà cũng xen lẫn cả lo âu và những nỗi đau lòng. Riêng điều ấy thôi cũng đủ làm hiển hiện tầm vóc vĩ đại và cao thượng của Hồ Chí Minh, cũng đủ tỏa sáng một phương diện cốt yếu của văn hóa và chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh. Đây chính là nền tảng sâu xa, bền vững nhất để tạo dựng chủ kiến và chủ thuyết Hồ Chí Minh về dân chủ và pháp quyền, về chính thể dân chủ cộng hòa và quyền làm chủ của nhân dân.

Sự nghiệp vĩ đại của Hồ Chí Minh còn ở chỗ, Người với tầm nhìn xa trông rộng, nói như Chế Lan Viên, đó là “tầm mắt đại dương” đã không chỉ thấy sự cần thiết phải giải phóng cho dân tộc mà còn trù tính và hành động để phát triển dân tộc Việt Nam. Muốn giải phóng phải làm cách mạng đến nơi, phải có Đảng cách mạng chân chính dẫn đường, Đảng phải có chủ nghĩa làm cốt, lại phải giữ chủ nghĩa cho vững, và người cách mạng vì nước, vì dân thì phải biết hy sinh, phải ít lòng ham muốn vật chất, đủ sức mạnh, bản lĩnh và dũng khí để đánh bại chủ nghĩa cá nhân. Để phát triển, phải không ngừng chăm lo xây dựng chính thể dân chủ, thực hành dân chủ rộng rãi, phải phát triển sản xuất, kinh tế, làm cho dân có ăn, có mặc, có nhà ở, được học hành, tiến bộ. Lo lợi ích công bằng, chính đáng cho dân, làm điều lợi, tránh điều hại cho dân, phải chống bằng được quan liêu, lãng phí, tham ô là những kẻ thù của dân, của cách mạng. Lại phải nâng cao dân trí, làm cho dân từ chỗ thất học, tăm tối, dốt nát do giặc thực dân gây ra đến chỗ có học vấn, học thức, phát triển giáo dục, khoa học, văn hóa để dân ta nhất định phải trở thành một dân tộc thông thái, xã hội Việt Nam làm một xã hội văn hóa cao. Đó là chỗ đi tới của CNXH.

Phát triển dân tộc, do đó theo Hồ Chí Minh là đưa dân tộc ta từ độc lập dân tộc, tiến bước tới dân chủ và xây dựng thành công CNXH. Đó là một tư tưởng chiến lược tổng quát, vạch ra con đường phát triển của Việt Nam. Muốn vậy, trước hết phải có con người XHCN, đức là gốc, tài là quan trọng, đức đảm bảo cho tài, tài để thực thi cái đức lớn, cái đạo lý, đạo nghĩa lớn nhất là vì dân, suốt đời tận tụy phục vụ dân, làm cho dân có tự do và hạnh phúc trong một nước có độc lập và chủ quyền. Với Hồ Chí Minh, chân lý không chỉ là khoa học mà còn là đạo đức. Cái gì tốt cho dân, lợi cho dân, cái đó là chân lý. Phục vụ nhân dân là phục tùng chân lý lớn nhất. Làm đầy tớ, công bộc của dân là lẽ sống cao thượng nhất.

Hồ Chí Minh kiên trì, bền bỉ thực hành chân lý ấy suốt đời và cũng suốt đời chăm lo giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên công chức cùng thực hành chân lý ấy mà Người luôn nêu gương, làm gương cho tất cả mọi người noi theo. Người đúc rút thành phương châm và phương pháp, coi gương mẫu là cách lãnh đạo tốt nhất. Ở đây tinh tế và sâu sắc biết bao, khi Người nhận ra, sức mạnh tự bảo vệ của Đảng, của Nhà nước, của chế độ bắt nguồn từ sức mạnh đạo đức khi cầm quyền. Mọi sự tha hóa dẫn đến suy đồi thể chế và đổ vỡ cả sự nghiệp, phải trả giá đau đớn mà lịch sử đã chứng kiến càng cho thấy sức tỏa sáng của tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh.

Trong học thuyết giải phóng và trong chủ thuyết Phát triển Hồ Chí Minh còn thấm nhuần sâu sắc triết lý nhân sinh và triết lý hành động của Người. Tất cả quy tụ vào một chữ “Dân” mà thôi. Chắt lọc cái tinh túy của triết lý phương Đông và nâng cao tầm tư tưởng của truyền thống dân tộc, noi theo gương sáng của ông cha ta từ bao đời nay trong dựng nước và giữ nước, Người thấu hiểu “việc nhân nghĩa cốt ở yên dân”, “dân là gốc của nước”, cho nên suốt một đời, Người đã chăm lo phát triển sức dân, bồi dưỡng sức dân và tiết kiệm sức dân. Triết lý ở đời và làm người đòi hỏi phải thân dân và chính tâm. Người đã tựa vững từ nền tảng truyền thống ấy để vượt lên, để phát triển xa hơn, vượt qua giới hạn của ý thức hệ truyền thống mà đạt tới chất lượng mới của thời đại mới, từ thân dân tiến tới dân chủ, từ chính tâm trong giới hạn chật hẹp của tu dưỡng tâm tính cá nhân theo mẫu nhân cách hiền nhân quân tử bề trên trong đạo thánh hiền, mà xác lập các chuẩn mực đạo đức cách mạng: Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, coi đó là nguyên tắc của đạo làm người của người cách mạng.

Bởi thế, lý luận hay học thuyết dân chủ của Hồ Chí Minh là khoa học và cách mạng. Trong hàng trăm, hàng nghìn câu nói của Người về dân chủ đều luôn luôn nổi bật vai trò chủ động, tích cực của dân, đều luôn luôn nhất quán với tinh thần trọng dân gắn liền với trọng pháp. Nhà tư tưởng Mác-xít sáng tạo đồng thời là nhà cách mạng của thời đại mới, Hồ Chí Minh rành mạch và tường minh trong những khẳng định sau đây:

– Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trên thế giới không có sức mạnh nào mạnh bằng sức mạnh đoàn kết của nhân dân.

– Dân chủ nghĩa là dân là chủ và dân làm chủ. Dân chủ là của quý báu nhất trên đời của dân.

– Thực hành dân chủ rộng rãi sẽ là chiếc chìa khóa vạn năng để giải quyết mọi khó khăn.

– Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân. Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân. Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân. Chính quyền từ xã đến Chính phủ Trung ương là do dân cử ra. Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên. Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng, đều ở nơi dân …

Người còn nhấn mạnh, trong một nước dân chủ thì nhân dân là chủ. Cán bộ, đảng viên cũng như nhiệm vụ của chính quyền ta và đoàn thể ta là phụng sự nhân dân. Nghĩa là làm đầy tớ cho dân. Dân đã có quyền làm chủ thì cũng phải thi hành nghĩa vụ của người chủ. Đây là những tóm tắt cô đọng nhất bản chất của dân chủ và quyền làm chủ, có giá trị như những định nghĩa kinh điển về dân chủ. Mấu chốt của vấn đề là ở chỗ, dân là chủ thể gốc của quyền lực. Dân ủy quyền cho Nhà nước để Nhà nước thực hiện quyền lực nhân dân, phụng sự lợi ích, nhu cầu và cả ý chí của dân. Đảng cũng chỉ vì dân mà tồn tại. Nhân dân phải chủ động xây dựng Đảng và Nhà nước tham gia vào công việc quản lý, kiểm tra giám sát, góp ý, phê bình, giúp đỡ để cho đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước được đúng đắn, hợp với tình hình, hợp với lòng dân, ý dân, cũng để cho tổ chức bộ máy được trong sạch, vững mạnh, luật pháp, thể chế, kỷ luật, kỷ cương được nghiêm minh và thi hành có hiệu quả, để cho cán bộ đảng viên công chức phải luôn luôn ghi nhớ, thực hành hai chữ dân chủ chứ đừng biến thành “quan chủ”, là đầy tớ công bộc trung thành, tận tụy của dân chứa không được lên mặt “quan cách mạng”.

Dân chủ và quyền làm chủ của dân phải trở thành một giá trị thực tế chứ không phải một lời nói suông. Dân chỉ biết đến dân chủ, công bằng, bình đẳng khi dân được ăn no, mặc ấm. Độc lập tự do phải tranh đấu mà có được thì phải làm sao cho dân được ấm no, tự do, hạnh phúc. Đã tranh được tự do độc lập rồi mà dân vẫn đói rét, cực khổ, lạc hậu thì độc lập tự do cũng chẳng để làm gì. Thiết thực đến như vậy cho nên chúng ta phải làm ngay, làm cho dân có ăn, làm cho dân có mặc, làm cho dân có chỗ ở, được học hành tiến bộ, được tự do đi lại, được chăm sóc sức khỏe, được hưởng quyền tự do, hạnh phúc mà họ xứng đáng được hưởng. Tầm nhìn và hành động Hồ Chí Minh là như vậy. Người đòi hỏi, phải phấn đấu hy sinh đến cùng để dân thực sự có quyền tự do dân chủ, có hạnh phúc. Phải yêu dân, kính dân, lại phải gần dân, hiểu dân, học dân, hỏi dân, tin dân và làm tất cả những gì có lợi, mưu lợi cho dân, tránh tất cả những gì gây hại cho dân, dù chỉ là một cái hại nhỏ. Phải để cho dân tỏ rõ thái độ thẳng thắn của mình, góp ý phê bình xây dựng cho Nhà nước của mình, cho công chức của mình. Là công dân của một nước độc lập, có tự do, dân chủ thì dân phải được “mở mồm ra”. Đó là dân chủ thực chất để làm chủ thực chất, không hình thức giả dối, cũng không phù phiếm giả tạo.

Chống lại mọi khuyết tật, mọi thói xấu xa, hư hỏng, lợi dụng địa vị, quyền hành của nhà nước và người của nhà nước thì phải dựa thẳng vào dân, phát huy mọi tính chủ động, tháo vát, sáng kiến, trách nhiệm của dân. Có lỗi phải thật thà nhận lỗi và công khai sửa lỗi trước dân, không được xa dân, khinh dân, ghét dân, không tin dân, coi thường dân. Đó là căn nguyên và chứng bệnh của quan liêu. Kẽ hở này dẫn tới tham nhũng. Hồ Chí Minh đã chỉ rõ nguyên nhân của quan liêu, tham nhũng không chỉ từ những khuyết lỗi của thiết chế, thể chế mà còn từ đạo đức công chức yếu kém, kỷ luật công vụ xộc xệch, làm biến chất dân chủ và các tổ chức công quyền. Người cho rằng, muốn chống được quan liêu tham nhũng thì phải ra sức thực hành dân chủ, dựa vào dân từ cơ sở, cũng như có đánh bại được giặc nội xâm là chủ nghĩa cá nhân thì mới xây dựng thành công CNXH.

Để thực hiện và thực hành dân chủ, để đảm bảo và không ngừng phát huy quyền làm chủ của nhân dân, Hồ Chí Minh đặc biệt đề cao sức mạnh của luật pháp, của pháp chế và pháp quyền. Do đó, muốn có dân chủ, muốn thực sự tôn trọng quyền làm chủ của dân phải xây dựng nhà nước pháp quyền, trong đó luật pháp là tối thượng, phải làm cho pháp luật có sức mạnh của “thần linh pháp quyền”, tất cả mọi người, từ Chủ tịch nước đến mọi người dân phải tuân thủ luật pháp, bình đẳng trước pháp luật. Để bảo vệ dân, giữ vững chế độ, pháp luật phải nghiêm minh, nền hành chính công phải minh bạch, phải nghiêm trị tất cả những kẻ bất liêm, bất kể chúng là ai.

Một trong những tác phẩm nổi tiếng của Người là bản “Quốc lệnh”, trong đó ghi rõ thưởng phạt công khai, công bằng, nghiêm minh. Mọi tội lỗi gây ra làm phương hại tới dân, tới chế độ dân chủ, Người đều ghi mức án cao nhất là tử hình.

Trọng dân nên phải trọng pháp và trọng pháp là để trọng dân, theo nghĩa phục vụ dân, bảo vệ dân, bảo vệ cái thiện và sự lương thiện, trừng trị cái ác, cái xấu, hại dân, hại nước.

Xây dựng chính thể dân chủ, xây dựng nhà nước pháp quyền, xây dựng xã hội dân chủ để nhân dân là chủ và làm chủ, Hồ Chí Minh đã công phu chỉ đạo xây dựng Hiến pháp, hoàn thiện luật pháp, chú trọng hành pháp của các cơ quan Chính phủ, tính công bằng, nghiêm minh, quang minh chính đại, thiết diện vô tư của ngành tư pháp, kết hợp đức trị với pháp trị, sớm có chủ trương chuyên nghiệp hóa và hiện đại hóa công chức và nền hành chính công vụ, cải cách và đổi mới thường xuyên tổ chức bộ máy cùng với nội dung, phương thức hoạt động của hệ thống công quyền, siết chặt kỷ luật, kỷ cương, phép nước theo các chuẩn mực dân chủ. Tất cả đều vì lợi ích, quyền lực của dân. Một nhà nước mạnh, có thực lực và thực quyền phải chú trọng vào lập pháp, hành pháp và tư pháp, đề cao luật pháp dân chủ và tiến bộ, bảo vệ quyền cơ bản của công dân, đảm bảo tốt dân quyền để thực hiện đầy đủ nhân quyền, không chỉ tôn trọng quyền sở hữu tài sản của công dân mà còn trọng nhân cách con người. Xây dựng một nhà nước mạnh thì phải chú trọng sự trong sạch của bộ máy, tính liêm khiết của công chức, phải là một chính phủ hành động, trọng công việc thực tế. Công chức phải thạo chính trị, giỏi chuyên môn, tinh thông nghiệp vụ, tận tụy, mẫn cán, hết lòng, hết sức phục vụ dân, tuyệt đối trung thành với chính phủ, kính trọng, lễ phép với dân chúng. Do đó, trong chính thể dân chủ cộng hòa, địa vị cao nhất là dân, quyền lực cao nhất cũng là của dân, nhà nước vừa mạnh về luật pháp, vừa giỏi giang thông suốt trong quản lý, lại phải đảm bảo đạo đức công chức và công vụ cũng như văn hóa nơi công sở thực sự là văn hóa dân chủ. Hễ chính phủ không còn xứng đáng với lòng tin cậy của dân thì dân không cần đến nữa, dân đuổi chính phủ đi, tức là bãi nhiệm. Đủ thấy, Hồ Chí Minh chú trọng pháp quyền nhân nghĩa, chính trị dân chủ, đoàn kết và thanh khiết đến thế nào. Nhân dân làm chủ bằng nhà nước của mình, đó là một kênh chủ yếu và quan trọng trực tiếp nhất. Từ Quốc dân Đại hội ở Tân Trào lịch sử, trong những ngày sôi động của Cách mạng Tháng Tám, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương Đảng và Bác Hồ ta đã thấy hình bóng của một nhà nước dân chủ đang định hình. Từ chính phủ lâm thời, ngay sau lễ Tuyên ngôn Độc lập đã bắt tay ngay vào công việc quản lý, làm tất cả để lo cho cuộc sống của dân, tập trung sức chống giặc đói, chống giặc dốt đi liền với xây dựng chính thể, củng cố nền tảng sức mạnh là lòng dân để sẵn sàng chống giặc ngoại xâm, bảo vệ nền độc lập tự do non trẻ mới ra đời. Từ Chủ tịch Chính phủ đến các vị bộ trưởng, thứ trưởng và công chức các cơ quan theo lời kêu gọi của Bác Hồ, mười ngày nhịn ăn một bữa để lấy gạo nuôi dân. Sự kiện này đã đi vào lịch sử như một nét đẹp cao quý của chế độ dân chủ được lòng dân nhất, cũng vì thế dân hết lòng ủng hộ Chính phủ, ai ai cũng một lòng, một chí, quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh, thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu làm nô lệ. Rõ ràng dân chủ và pháp quyền nhân nghĩa theo tư tưởng và đạo đức Hồ Chí Minh đã khơi dậy động lực vĩ đại của nhân dân, của dân tộc, tạo ra sức mạnh đánh bại mọi kẻ thù.

Đảng lãnh đạo và cầm quyền sao cho Nhà nước mạnh, có thực lực và thực quyền để nhân dân làm chủ. Đó là trách nhiệm nặng nề và sứ mệnh vẻ vang của Đảng. Hồ Chí Minh đứng đầu Đảng và Nhà nước 24 năm liền (1945-1969) là người thấu hiểu hơn ai hết quan hệ máu thịt giữa Đảng với dân, giữa Nhà nước với dân, cũng tức là giữa cán bộ, đảng viên, công chức với công dân và nhân dân của mình. Người đã viết ra 12 điều xây dựng Đảng chân chính cách mạng trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” (1947) chỉ vẻn vẹn 456 chữ thôi mà tỏ rõ cả một chủ thuyết về Đảng cầm quyền, tiêu biểu cho đạo đức và văn minh . Thông điệp mà Người nhắn gửi chúng ta được nói rõ ngay từ điều đầu tiên, Đảng là một tổ chức cách mạng, phục vụ giai cấp, dân tộc, nhân dân và nhân loại. Vào Đảng để phấn đấu hy sinh cho lý tưởng phụng sự Tổ quốc và nhân dân chứ không phải mưu danh cầu lợi, Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài. Cho đến Di chúc 1.000 từ để lại mang ý nghĩa của một đại tổng kết về lý luận cách mạng và trù tính bao điều hệ trọng cho tương lai, trước sau cũng chỉ vì dân, vì dân chủ và quyền làm chủ của dân. Người nói cùng Đảng, cùng dân, từ biệt thế giới này Người không có gì phải ân hận, Người chỉ tiếc là tiếc rằng không được phục vụ nhân dân nhiều hơn nữa, lâu hơn nữa. Trí tuệ ấy, đạo đức và nhân cách ấy làm xúc động triệu triệu con người, là gương sáng đẹp đẽ, lớn lao, cao thượng cho muôn đời noi theo.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ và quyền làm chủ của dân gắn liền làm một với thực hành, biến tư tưởng thành hiện thực. 65 năm trong lịch sử chính thể dân chủ cộng hòa với Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất của dân, với Chính phủ do dân ủy thác quyền hành và hành động vì dân đã tỏ rõ giá trị, ý nghĩa và sức sống của những tư tưởng cao quý đó của Người.

Gs,Ts. Hoàng Chí Bảo. Hội đồng Lý luận Trung ương
Nguồn: Báo Cần Thơ điện tử

xaydungdang.org.vn

Tôi chỉ có một sự ham muốn…

Mùa xuân năm 1962, trước tết Nhâm Dần, Bác muốn thăm những gia đình thật sự còn nghèo túng ở Thủ đô trong dịp giao thừa. Bác thương cảm vô cùng trước số phận người phụ nữ Nguyễn Thị Tín tần tảo đêm 30 Tết phải đi gánh nước thuê để lấy tiền đong gạo. Câu nói của Bác “Nhà cháu mà không đến thì Bác còn đến nhà ai!” đã để lại dấu ấn sâu đậm trong tâm thức của biết bao người dân Việt Nam về nhân cách của một con người Việt Nam vĩ đại nhất. Bài học sâu sắc nhất Bác để lại là tinh thần “lá lành đùm lá rách”, lớn hơn là trách nhiệm của Chính phủ với nhân dân.

Bác Hồ – tên gọi thân thương mà tất cả người Việt Nam muốn dành cho Chủ tịch Hồ Chí Minh muôn vàn kính yêu. Người là hiện thân của khát vọng đấu tranh giành độc lập dân tộc, hạnh phúc cho con người, đúng như cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng nhận định: “Chủ tịch Hồ Chí Minh cao mà không xa, mới mà không lạ, to lớn mà không làm ra vĩ đại, sáng chói mà không gây choáng ngợp, gặp lần đầu mà như thân thuộc từ lâu”.

Suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến con người, chăm lo phát triển con người. Người tâm niệm: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành” (1). Đó là thông điệp Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi đến quốc dân đồng bào mục đích phấn đấu suốt đời của mình là vì độc lập, tự do của dân tộc, ấm no, hạnh phúc của nhân dân. Người đã dành tất cả tình yêu thương cho đồng bào, đồng chí, cho già, trẻ, gái, trai, từ miền xuôi đến miền ngược, từ Bắc đến Nam…

Trước tình thương vô hạn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhà thơ Tố Hữu trân trọng viết:

“Bác sống như trời đất của ta
Yêu từng ngọn lúa, mỗi nhành hoa
Tự do cho mỗi đời nô lệ
Sữa để em thơ, lụa tặng già”
(Bác ơi)

Sinh thời, Người thường nhận được tặng phẩm do đồng bào và bạn bè quốc tế biếu, tặng, nhưng thật đáng trân trọng khi Bác dành những tình cảm đó cho các phụ lão, chiến sĩ, bộ đội, thương bệnh binh và những người có nhiều thành tích trong học tập, chiến đấu, lao động sản xuất, đặc biệt là những gia đình nghèo khó. Trong khi đó, Bác vẫn mặc áo sờn vai, vá nhiều chỗ. Bác nói: “Chủ tịch Đảng, Chủ tịch Nước mặc áo vá vai thế này là cái phúc của dân đấy, đừng bỏ cái phúc ấy đi”. Câu nói của Người đã cảm hóa biết bao người, là lời dạy có ý nghĩa vô cùng sâu sắc đối với người cán bộ cách mạng. Đọc những mẩu chuyện về tấm gương đạo đức và đời sống giản dị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chúng ta mới thấm thía về tình thương vô hạn của Người đối với nhân dân, đặc biệt là đối với những người nghèo khổ. Người luôn dành tình cảm đặc biệt trước những số phận côi cút, những người phụ nữ tần tảo, đảm đang.

Mùa xuân năm 1962, trước tết Nhâm Dần, Bác muốn thăm những gia đình thật sự còn nghèo túng ở Thủ đô trong dịp giao thừa. Bác thương cảm vô cùng trước số phận người phụ nữ Nguyễn Thị Tín tần tảo đêm 30 Tết phải đi gánh nước thuê để lấy tiền đong gạo. Câu nói của Bác “Nhà cháu mà không đến thì Bác còn đến nhà ai!” đã để lại dấu ấn sâu đậm trong tâm thức của biết bao người dân Việt Nam về nhân cách của một con người Việt Nam vĩ đại nhất. Bài học sâu sắc nhất Bác để lại là tinh thần “lá lành đùm lá rách”, lớn hơn là trách nhiệm của Chính phủ với nhân dân. Bác nhắc nhở: “Một Đảng cầm quyền mà để cho người dân nghèo hết còn chỗ để nghèo thì đó là lỗi của Đảng với nhân dân…”, “nếu dân đói, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân rét, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân dốt là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân ốm là Đảng và Chính phủ có lỗi”(2). Vì vậy, chính sách của Đảng và Chính phủ là phải hết sức chăm nom đến đời sống của nhân dân, đặc biệt là người nghèo.

Xúc động làm sao trước hình ảnh một vị Chủ tịch nước đã ân cần đi sâu, đi sát vào đời sống của nhân dân, đã không còn ranh giới giữa người đứng đầu đất nước với một gia đình lao động nghèo. Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nói: “Hồ Chí Minh là một con người phi thường và xuất chúng. Tuy nhiên, khi gặp Hồ Chí Minh, mọi người cảm thấy như thân thuộc từ lâu, dễ dàng nói chuyện cởi mở, tự nhiên, không chút nào cách bức”(3). Bác Hồ như người cha bao dung, trìu mến, đặc biệt là cái cách Người đến với nhân dân cũng làm chúng ta phải suy ngẫm. Đối với nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu người cán bộ cách mạng phải biết tôn trọng và lễ phép; phải thương yêu, quý trọng con người, biết đồng cảm trước những khó khăn, đau khổ của nhân dân. Hoạt động hành chính phải dựa vào dân, lấy dân làm gốc, luôn chăm lo đến nhân dân. Người nói: “Gốc có vững cây mới bền, xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân”.

Ngày nay, quán triệt Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng con người mới, Đảng và nhân dân ta càng thấy rõ việc chăm lo phát triển nông thôn và đẩy mạnh xóa đói giảm nghèo đối với Việt Nam là một trụ cột của chiến lược tăng trưởng và phát triển bền vững. Theo đó, Đảng và Nhà nước phải “hết sức chăm lo đời sống nhân dân. Phải ra sức phát triển sản xuất và thực hành tiết kiệm, lại phải phân phối cho công bằng hợp lý, từng bước cải thiện việc ăn, mặc, ở, học, phục vụ sức khoẻ và giải trí của nhân dân. Đặc biệt chú trọng các vùng bị chiến tranh tàn phá, các cháu mồ côi, các cụ già yếu và gia đình các liệt sĩ, thương binh, bộ đội, thanh niên xung phong” (4).

Những tình cảm và tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh mãi mãi là ánh đuốc soi sáng cho tâm hồn, cho trí tuệ, cho tình cảm, cho đạo đức của mỗi chúng ta, nâng bước ta đi trên những chặng đường gian lao mà đầy vinh quang phía trước.

________________________

(1) Hồ Chí Minh toàn tập, NXB CTQG, Hà Nội, 1995, tập 4, tr.161-162
(2) Sách đã dẫn, t.7, tr.572.
(3) Phạm Văn Đồng: Hồ Chí Minh một con người, một dân tộc, một thời đại, một sự nghiệp, NXB Sự thật, Hà Nội, 1990, tr.62-63
(4) Sđd, t.10, tr.621.

Nguyễn Văn Quang
Giảng viên Trường Đại học Sư phạm Huế

xaydungdang.org.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh về nghề thầy thuốc

Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm bệnh xá ở Tp.Nam Định

Vào ngày 27 tháng 2 năm 1955, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có thư gửi Hội nghị cán bộ y tế. Đảng và Nhà nước ta đã lấy ngày 27 tháng 2 là ngày Thầy thuốc Việt Nam.

1. Công tác y tế và sức khỏe cho con người trong Tư tưởng Hồ Chí Minh.

Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình Chủ tịch Hồ Chí Minh đều hướng tình thương yêu và sự quan tâm đặc biệt đến sức khỏe của người dân. Người mong muốn và căn dặn: “Chính sách của Đảng và Chính phủ phải hết sức chăm nom đến đời sống của nhân dân. Nếu dân đói là Đảng và Chính phủ có lỗi, nếu dân rét là Đảng và Chính phủ có lỗi, nếu dân dốt là Đảng và Chính phủ có lỗi, nếu dân ốm là Đảng và Chính phủ có lỗi” (Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, H,1996, t7, tr.572). Trong thư gửi Hội nghị cán bộ y tế năm 1955, Người định hướng xây dựng một nền y học nước nhà thích hợp với nhu cầu của nhân dân và dựa trên nguyên tắc khoa học, dân tộc và đại chúng. Công tác y tế dự phòng cũng được Hồ Chí Minh quan tâm, Người nói: “Phòng bệnh cũng cần thiết như chữa bệnh”, “phòng bệnh hơn trị bệnh”, “mọi người từ già trẻ, trai gái đã là người dân yêu nước đều phải quan tâm đến vấn đề vệ sinh, giữ gìn sức khoẻ”. Trong tác phẩm “Đời sống mới”, Người viết: “Sạch sẽ là một phần của đời sống mới, sạch sẽ thì dân ít ốm, khoẻ mạnh thì làm được việc, làm được việc thì có ăn” (Một số vấn đề xây dựng ngành y tế phát triển ở Việt Nam. Nxb Y học, H.1998, tr.167). Chủ tịch Hồ Chí Minh coi việc chăm sóc sức khỏe cho nhân dân là nhân tố rất quan trọng có ý nghĩa quyết định đến sự thắng lợi của sự nghiệp cách mạng. Người chỉ rõ: “giữ gìn dân chủ, xây dựng nước nhà, gây đời sống mới, việc gì cũng cần có sức khoẻ mới thành công”, “sức khoẻ của cán bộ và nhân dân được bảo đảm thì tinh thần càng hǎng hái; tinh thần và sức khoẻ đầy đủ thì kháng chiến càng nhiều thắng lợi, kiến quốc càng mau thành công”.

Đối với mỗi người dân, chưa đầy một năm sau ngày khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Bác đã khuyên nhủ mọi người rằng: “Giữ gìn dân chủ, xây dựng nước nhà, gây đời sống mới, việc gì cũng cần có sức khỏe mới làm thành công. Mỗi một người dân yếu ớt, tức là cả nước yếu ớt. Mỗi một người dân mạnh khỏe tức là cả nước mạnh khỏe. Vậy nên, luyện tập thể dục, bồi bổ sức khỏe là bổn phận của mỗi một người yêu nước. Việc đó không tốn kém, khó khăn gì. Gái trai, già trẻ ai cũng nên làm và ai cũng làm được… Dân cường thì nước thịnh. Tôi mong đồng bào ta ai cũng gắng tập thể dục. Tự tôi, ngày nào tôi cũng tập” (Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, H.1996, t4, tr.212). Cho nên, đối với mọi tầng lớp, lứa tuổi, ngành nghề đều phải giữ gìn và nâng cao sức khỏe. Người khuyên các cháu thiếu nhi “Phải siêng tập thể thao cho mình mẩy được nở nang”, không những phải “Yêu Tổ quốc, yêu đồng bào/ Học tập tốt, lao động tốt/ Đoàn kết tốt, kỷ luật tốt” mà còn phải “Giữ gìn vệ sinh thật tốt”. Trong nhà máy, xí nghiệp, vấn đề sức khỏe cho công nhân cũng quan trọng: “Nếu công nhân đủ ăn, đủ mặc thì họ mới đủ sức; đủ sức thì làm được việc. Một con ngựa ăn no mới chạy nhanh. Một cái máy đủ dầu mỡ mới quay đều. Người ta cũng thế”. Với Người, vấn đề vệ sinh, sức khỏe, bất luận là giàu hay nghèo đều phải thực hiện thật tốt. Nếu “người giàu không giúp cho dân nghèo ăn ở đúng vệ sinh, đến khi có bệnh dịch thì người giàu cũng khó sống”. Đối với vấn đề vệ sinh, để bảo vệ sức khỏe chung cho cộng đồng, cũng có những trường hợp phải cưỡng bách người vi phạm phải tuân theo lợi ích sức khỏe chung như “trong làng nhiều ao, nhiều muỗi, thường có đau ốm, người làng biết vậy, ai cũng bằng lòng lấp ao của mình. Chỉ một hai người không chịu theo, để người làng vì muỗi mà đau ốm liên miên. Vì vệ sinh chung làng có quyền buộc một hai người kia phải lấp ao”. Vì thế, những gì liên quan có lợi cho sức khỏe con người, Bác đều biểu dương khen ngợi: “Chúng ta tự hào có nhiều cụ ông, cụ bà ngoài 70, 80 tuổi vẫn hăng hái học tập và lao động, lập ra những đội “bạch đầu quân” trồng cây, gây rừng, đôn đốc phong trào bình dân học vụ và vận động vệ sinh phòng bệnh”. (Sđd, t11, tr.224).

Hồ Chí Minh cũng đã đánh giá rất cao những thành quả đạt được của ngành y nước nhà “Công tác y tế đã có nhiều thành tích, đã ngăn chặn được nhiều dịch bệnh và bệnh xã hội cũ, sức khỏe của nhân dân được nâng cao. Trẻ em ngày càng được săn sóc chu đáo hơn”. (Sđd, t11, tr.224). Ngày 2-1-1947, Người đã có thư khen ngợi sự tận tâm của các y, bác sĩ, khán hộ cứu thương, trong đó có đoạn: “Tôi được báo cáo rằng: Các thầy thuốc và khán hộ đều hết lòng săn sóc thương binh một cách chu đáo. Thế là các bạn cũng trực tiếp tham gia kháng chiến cứu quốc”.

2. “Lương y phải như từ mẫu” – yếu tố cốt lõi của đạo đức ngành y.

Dân tộc ta có truyền thống tôn sư trọng đạo, rất quý trọng người thầy: Thầy giáo và thầy thuốc. Nhân dân ta đặt địa vị người thầy dạy chữ ngang hàng với cha, người thầy thuốc như mẹ, bởi nghề thầy thuốc là nghề chữa bệnh cứu người, là người mẹ thứ hai của những người bệnh. Để chǎm sóc sức khoẻ con người, cần có đội ngũ những người thầy thuốc giỏi về chuyên môn, có lương tâm nghề nghiệp. Sau ngày thành lập nước Việt nam dân chủ cộng hòa (2-9-1945), Đảng và Chính phủ đã đào tạo, bồi dưỡng được đội ngũ y tá, y sĩ, bác sĩ, lương y chữa bệnh bằng thuốc tây, thuốc nam, thuốc bắc và các phương tiện y học tiên tiến, có y đức và y thuật cao. Giáo sư Hồ Đắc Di, Giáo sư, bác sĩ Tôn Thất Tùng, bác sĩ Đặng Văn Ngữ, bác sĩ Vũ Đình Tụng, Giáo sư Đặng Văn Chung… là những giáo sư, bác sĩ đầu ngành của nền y học Việt Nam thời hiện đại, có công rất lớn trong sự nghiệp cách mạng nước nhà.
Hồ Chí Minh là người rất quan tâm đến vấn đề y đức, một người thầy thuốc giỏi đồng thời phải là một người mẹ hiền hết lòng vì bệnh nhân. Trong thư gửi Hội nghị cán bộ y tế toàn quốc năm 1953, Người viết: “Cán bộ y tế (bác sĩ, y tá, những người giúp việc) cần phải: Thương yêu người bệnh như anh em ruột thịt. Cần phải tận tâm tận lực phụng sự nhân dân. Lương y phải kiêm từ mẫu” (Sđd, t7, tr.88). Trong Tư tưởng Hồ Chí Minh, đạo đức là gốc rễ của con người, của tài năng. Với các thầy thuốc, Bác càng đặc biệt chú ý hơn về đạo đức. Bác dặn: “Người bệnh phó thác tính mệnh của họ nơi các cô, các chú. Chính phủ phó thác cho các cô, các chú việc chữa bệnh tật và giữ sức khỏe cho đồng bào. Đó là một nhiệm vụ rất vẻ vang. Vì vậy, cán bộ cần phải thương yêu, săn sóc người bệnh như anh em ruột thịt của mình, coi họ đau đớn cũng như mình đau đớn. Lương y phải như từ mẫu, câu nói ấy rất đúng” (Sđd, t7, tr.476). Điều này thể hiện tinh thần nhân văn cao cả, tấm lòng nhân hậu hết mực vì nhân dân, vì con người của Hồ Chí Minh.

Người thầy thuốc không những cứu chữa cho người bệnh về thể xác mà còn phải động viên, khích lệ và cảm thông về mặt tinh thần. Trong thư gửi Hội nghị quân y (3-1948), Người viết: “Người thầy thuốc chẳng những có nhiệm vụ cứu chữa bệnh tật mà còn phải nâng đỡ tinh thần những người ốm yếu”. Thầy thuốc như mẹ hiền còn phải được thể hiện ở sự hết lòng với người bệnh, vì mục đích cứu người nên không phân biệt sang hèn, giàu nghèo, thân sơ, không được cầu lợi, kể công mà cǎn cứ vào bệnh nặng, nhẹ, nguy, lành mà sắp xếp việc cứu chữa.

Hồ Chí Minh không chỉ coi lương y phải như từ mẫu mà còn vạch rõ phương hướng đào tạo đội ngũ thầy thuốc Việt Nam thành những “lương y kiêm từ mẫu”. Đó là “về chuyên môn: cần luôn học tập, nghiên cứu để luôn luôn tiến bộ, nhưng phải chú trọng cái gì thiết thực và thích hợp với hoàn cảnh kháng chiến của ta”. “Về chính trị: cần trau dồi tư tưởng và đạo đức của người cán bộ trong chế độ dân chủ: yêu nước, yêu dân, yêu nghề, đoàn kết nội bộ, thi đua học tập, thi đua công tác …” (Sđd, t7, tr.88). Để thực hiện được những nhiệm vụ mà Đảng và Chính phủ giao phó, Bác ân cần căn dặn cán bộ ngành y tế: “Trước hết là phải thật thà đoàn kết… Đoàn kết giữa cán bộ cũ và cán bộ mới. Đoàn kết giữa tất cả những người trong ngành y tế, từ các bộ trưởng, thứ trưởng, bác sĩ, dược sĩ cho đến các anh chị giúp việc. Bởi vì công việc và địa vị tuy có khác nhau, nhưng người nào cũng là một bộ phận cần thiết trong ngành y tế, trong việc phục vụ nhân dân” (Sđd, t7, tr.476).

Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác y tế và sức khoẻ là kim chỉ nam giúp Đảng ta xây dựng những quan điểm cơ bản có ý nghĩa định hướng cho sự phát triển một nền y học Việt Nam hiện đại và một ngành y tế xã hội chủ nghĩa có tính ưu việt trong thực hiện nhiệm vụ chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ nhân dân.

Phạm Văn Hòa
Học viện Chính trị – Hành chính khu vực III

xaydungdang.org.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh về “Ðảng cầm quyền”

Trong Báo cáo chính trị tại Ðại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Ðảng, năm 1951, khi nói về thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám 1945, Bác viết: “Chẳng những giai cấp lao động và nhân dân Việt Nam ta có thể tự hào, mà giai cấp lao động và những dân tộc bị áp bức nơi khác cũng có thể tự hào rằng: lần này là lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, một Ðảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc”(*).

Story1.axd.jpg

Và trong Di chúc để lại, tác phẩm cuối cùng của đời mình, khi nói về Ðảng, một lần nữa Bác viết: “Ðảng ta là một đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Ðảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”.

Khái niệm về “Ðảng cầm quyền” thật ra không có gì xa lạ đối với các nước tư bản chủ nghĩa với nền chính trị đa đảng. Ở đấy, Ðảng nào giành thắng lợi trong tranh cử thì đứng ra lập chính phủ của mình và trở thành “đảng cầm quyền”. Cũng có nước, một số thế lực chính trị (hay quân sự) giành lấy chính quyền thông qua đảo chính hay lật đổ.

Ðối với Ðảng ta, vấn đề chính quyền đã được giải quyết thông qua con đường cách mạng, phù hợp với những điều kiện lịch sử của nước mình. Trước kia, khi nhân dân ta còn sống trong vòng nô lệ thì nhiệm vụ hàng đầu của Ðảng là lãnh đạo nhân dân làm cách mạng lật đổ ách thống trị của chủ nghĩa thực dân phong kiến, giành chính quyền về tay nhân dân. Và sau khi đã giành được chính quyền rồi thì trọng trách của Ðảng là lãnh đạo gìn giữ chính quyền, bảo vệ Tổ quốc, làm cho chính quyền ấy thực hiện tốt các nhiệm vụ của cách mạng, trước hết và trên hết là vì lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân.

Theo tư tưởng của Bác Hồ và của Ðảng ta từ trước đến nay, khái niệm Ðảng “nắm chính quyền” hay “cầm quyền” là đồng nghĩa với Ðảng lãnh đạo chính quyền.

Năm 1947, trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, Bác Hồ viết: “Ðảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài. Nó phải làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng”.

Năm 1960, trong bài nói tại lễ kỷ niệm 30 năm Ngày thành lập Ðảng, Người nhấn mạnh: “Ðảng ta vĩ đại, vì ngoài lợi ích của giai cấp, của nhân dân, của dân tộc, Ðảng ta không có lợi ích gì khác”.

Quan điểm xuyên suốt trong các tác phẩm của Bác là Ðảng (nói chung) và cán bộ, đảng viên (nói riêng) “phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”. Muốn vậy, Ðảng và cán bộ, đảng viên phải không ngừng rèn luyện, nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân.

Năm 1953, trong thư gửi Lớp chỉnh Ðảng Liên khu 5, Bác viết: “Mục đích chỉnh Ðảng là để dùi mài cán bộ và đảng viên thành những chiến sĩ xứng đáng là người đầy tớ của nhân dân”.

Năm 1968, làm việc với một số cán bộ Ban Tuyên huấn Trung ương Ðảng về việc xuất bản loại sách “Người tốt, việc tốt”, Bác nói: “Một dân tộc, một Ðảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Ðảng, nói chung và về Ðảng cầm quyền nói riêng luôn được Ðảng ta trung thành, vận dụng sáng tạo và phát triển. Nói Ðảng cầm quyền hoàn toàn không có nghĩa là Ðảng tự biến mình thành chính quyền, một mình mình nắm giữ chính quyền và làm chức năng của chính quyền. “Ðảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” là cơ chế vận hành của chế độ ta. Theo cơ chế ấy, Ðảng, Nhà nước và nhân dân đều là những chủ thể của quyền lực, nhưng quyền lực của mỗi chủ thể ấy lại không giống nhau. Quyền lực của Ðảng là quyền lãnh đạo, bao gồm cả quyền lãnh đạo chính quyền, nhưng bản thân Ðảng lại không phải là chính quyền nhà nước, không làm thay cho Nhà nước. Quyền lực nhà nước bao gồm các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, nhưng quyền lực ấy không phải do Nhà nước tự có mà là do nhân dân giao phó cho những cơ quan quyền lực do mình cử ra. Quyền lực của nhân dân là quyền của người làm chủ đất nước và quyền làm chủ ấy được thực hiện thông qua các hình thức dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp, kể cả dân chủ tự quản ở cơ sở. Mẫu số chung của ba loại quyền lực nêu trên (lãnh đạo, quản lý và làm chủ), xét cho cùng, là tư tưởng Bác Hồ từng nêu lên trong bài báo “Dân vận” viết năm 1949 cách đây đúng 61 năm: “Nước ta là nước dân chủ. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân… Chính quyền từ xã đến Chính phủ Trung ương đều do dân cử ra… Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”.

Cơ chế “Ðảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” thực chất là phương thức tổ chức nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

Cương lĩnh năm 1991 của Ðảng và những điều bổ sung, phát triển các quan điểm về Ðảng và Ðảng cầm quyền qua các kỳ Ðại hội của Ðảng và các khóa Trung ương từ bấy đến nay đều xác định: Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội do nhân dân làm chủ. Dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ ta; phải xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, thể hiện và thực hiện ý chí và quyền lực của nhân dân. Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân có vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân, đại  diện và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân, có nhiệm vụ không chỉ động viên, giúp đỡ đoàn viên, hội viên tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội mà còn thực hiện vai trò phản biện và giám sát. Ðảng Cộng sản Việt Nam là Ðảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Ðảng lãnh đạo bằng cương lĩnh, chiến lược, các định hướng về chính sách và chủ trương lớn; thống nhất lãnh đạo hệ thống chính trị, đồng thời là bộ phận của hệ thống ấy. Ðảng gắn bó mật thiết với nhân dân, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.

Ðại hội X của Ðảng, khi đề cập nhiệm vụ đổi mới và chỉnh đốn Ðảng, đã đặt lên hàng đầu nhiệm vụ “Nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền, hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách; tổ chức thực hiện có hiệu quả đường lối”. Ðại hội cũng chủ trương, về mặt lý luận, phải tiếp tục làm sáng tỏ những vấn đề về xây dựng Ðảng và về đảng cầm quyền. Ðiều quan trọng hơn nữa là để xứng đáng là đảng cầm quyền, Ðảng phải làm những gì và làm như thế nào?

Cương lĩnh năm 1991 của Ðảng, trong khi nêu lên những bài học lớn, đã khẳng định: “Sự lãnh đạo đúng đắn của Ðảng là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam”. Ðảng không có lợi ích nào khác ngoài việc phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Mọi đường lối, chủ trương của Ðảng phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng quy luật khách quan. Phải phòng và chống những nguy cơ lớn: sai lầm về đường lối, bệnh quan liêu và sự thoái hóa, biến chất của cán bộ, đảng viên.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Ðảng và về Ðảng cầm quyền chắc chắn sẽ còn được làm sáng tỏ hơn nữa trong các văn kiện Ðại hội XI của Ðảng sắp tới.

(Nguồn: Báo Nhân Dân)

(*) Những trích dẫn lời Bác trong bài đều lấy từ “Hồ Chí Minh tuyển tập”, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002.

xaydungdang.org.vn

Di chúc Hồ Chí Minh, nhìn từ duy vật nhân văn và thực tiễn hiện nay

Bàn, nghiên cứu Di chúc Hồ Chí Minh đã có nhiều bài viết. Học tập, nhận thức và làm theo Di chúc của Người vừa dễ vừa khó, và đó là một quá trình. Chúng tôi cũng có một số bài nghiên cứu về Di chúc (Di chúc Hồ Chí Minh dự cảm một tinh thần đổi mới; Di chúc Hồ Chí Minh và cơ sở triết học của chủ nghĩa nhân văn cách mạng; Về dân giàu nước mạnh và hạnh phúc theo Di chúc và tư tưởng Hồ Chí Minh; Chủ nghĩa nhân VN- Hồ Chí Minh, một tầm nhìn triết học; .. ); Di chúc Hồ Chí Minh – dự cảm một tinh thần đổi mới…

TS. Hồ Bá Thâm
Viện Nghiên cứu phát triển tp. HCM

95311242527383.bmp

Lần này, xin viết về chủ để bao quát hơn, có tính chất phương pháp luận, gợi mở: Di chúc Hồ Chí Minh, nhìn từ chủ nghĩa duy vật nhân văn và thực tiễn hiện nay. Trong nghiên cứu, cũng có một số vấn đề còn băn khoăn cần trao đổi, tranh luận, nên theo chúng tôi, cần nêu vấn đề để tranh luận mới sáng tỏ và có chiều sâu.

Bài viết là một cách tiếp cận triết học nhân văn khi nghiên cứu Di chúc Hồ Chí Minh nói riêng và tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung

1-Những tư tưởng trong Di chúc và nội dung bao trùm. Khẳng định và dự báo, đề xuất

Tư tưởng chủ đạo và bao trùm trong vẫn là tư tưởng: Không có gì quý hơn độc lập – tự do, Hòa bình- Thống nhất, Dân chủ và Dân giàu nước mạnh, tất cả vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, gỉải phóng con người, vì hạnh phúc của con người. Nghĩa là Di chúc thấm đượm tư tưởng và triết lý của Hồ Chí Minh về chủ nghĩa nhân văn VN- Hồ Chí Minh, nhưng được thể hiện bằng văn bản có tính Di chúc và nó về những việc cụ thể chung cho Đảng, cho Dân và cho mỗi người VN ta và cả đời riêng của Người.

Có thể tóm tắt mấy ý chính từ Di chúc (qua các bản viết từ năm 1965 đến 1968) như sau:

– Vấn đề quyết tâm giành thắng lợi hoàn toàn trong thời kỳ cuối cùng của cuôc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, để đạt được mục tiêu độc lập dân tộc, hòa bình, thống nhất đất nước.

– Vấn đề phải có kế hoạch chu đáo, chủ động (“tránh bị động, thiếu sót, sai lầm”) khắc phục hậu quả chiến tranh trên các lĩnh vực kinh tế xã hội; tình thương và trách nhiệm con người và các tầng lớp xã hội (thư tháng 5/1968).

– Vấn đề kế hoạch phát triển về kinh tế xã hội, sinh thái, xây dựng lại quê hương đất nước nhằm phục vụ con người, nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho nhân dân.

– Vấn đề mục tiêu và động lực cách mạng và phát triển: độc lập – tự do, Hòa bình- Thống nhất, Dân chủ và giàu mạnh,

– Vấn đề cái cách, đổi mới, chống trì trệ, bảo thủ, hư hỏng và mở rộng dân chủ,

– Vấn đề Đảng cầm quyền (chỉnh đốn lại Đảng). Đạo đức cách mạng của người cán bộ đảng viên.

– Vấn đề đoàn kết trong Đảng, trong nhân dân và đoàn kết quốc tế, niềm tin ở sức mạnh của nhân dân..

– Vấn đề xây dựng lực lượng cách mạng cho đời sau.

– Vấn đề phong trào cộng sản thế giới và việc cảm ơn nhân dân các nươc giúp đỡ cuộc khàng chiến của VN. Vấn đề đền ơn đáp nghĩa những người đã hy sunh, thương binh, gia đình có công với cách mạng.

– Vấn đề quan niệm về cuộc sống và cái chết, với việc ứng xử với chính thi hài của Người và việc riêng, vấn đề văn hóa đối với người đã khuất.

Như vậy là có 10 vấn đề mà Hồ Chí Minh đề cập trong Di chúc, toát lên tinh thần duy vật nhân văn và tinh thần đổi mới – phát triển.

Những nội dung quan trọng ấy là hết sức căn bản thể hiện tinh thần nhân văn và sự phát triển liên quan tói số phận và sự nghiệp của dân tộc, của nhân dân, của Đảng và mỗi người VN ta. Hồ Chí Minh quan tâm đến những vấn đề mà Người trăn trở nhiều và cốt yếu đối với cách mạng. Dù gắn với thời điểm lịch sử cuối cuộc chiến tranh và sau chiến tranh nhưng nhiều vấn đề có ý nghĩa chiến lược lâu dài.

620.jpg

Trong những nội dung ấy có nội dung mang tính khẳng định và có nội dung mang tính dự báo. Như, khẳng định cuộc kháng chiến nhất định sẽ giành thắng lợi hoàn toàn; và dự báo là chỉ mấy năm nữa. Hoặc có những dự báo và đề xuất như về trước hết phải chỉnh đốn Đảng, hoặc vấn đề miễn thuế nông nghiệp cho nông dân- khoan thư sức dân, vấn đề cải cách giáo dục, vấn đề chống bảo thủ, hư hỏng, dự cảm về đổi mới…

Tuy nhiên, tôi có băn khoăn.

2- Những băn khoăn

Băn khoăn thứ nhất là tại sao Hồ Chí Minh không nhắc đến nhà nước, cải cách nhà nước mà chỉ nói chỉnh đốn Đảng. Đảng cầm quyền thì liên quan nhiều đến nhà nước, chỉnh đốn Đảng cầm quyền là tiền đề để chỉnh đối nhà nước, nhưng thật ra chưa phải trực tiếp là vấn đề nhà nước, hoặc lúc ấy vấn đề cải cách nhà nước chưa đặt ra.

Băn khoăn thứ hai là nói phát triển kinh tế, nhưng theo hướng và mô hình như thế nào? Vẫn như mô hình thời tập trung, bao cấp chăng? Đúng là lúc này Người chưa thể thấy được những vấn đề mà chỉ đến thời Đổi mới, Đảng và nhân dân ta mới nhận thức ra, cái gì lạc hậu và cái gì phải thay đổi và vươn tới trong lĩnh vực kinh tế, lĩnh vực nhà nước.

Băn khoăn thứ ba là Ta thấy Hồ Chí Minh nêu lên vấn đề điện táng, hỏa táng và tự mình muốn thực hiện điều đó sau khi mất, phải chăng ngoài ý nghĩa sinh thái và tiết kiệm tiền bạc, phải chăng còn là Người muốn nêu gương, trong khi tập quán này còn hạn chế ở nước ta. Nhưng chúng ta không theo ý Bác mà lại thực hiện hình thức ướp di hài và làm lăng, với lý do riêng và có ý nghĩa riêng của nó. Thế thì hiện nay, chúng ta thực hiện chủ trương nhân rộng hình thức hỏa táng/ điện táng như thế nào?

Băn khoăn thứ tư: Trong khi nói về xây dựng nước VN mới ngoài mục tiêu hòa bình, thống nhất Hồ Chí Minh chỉ nhấn mạnh xây dựng Dân chủ và Giàu mạnh. Còn các mục tiêu khác như Tự do, Hạnh phúc thì không thấy Di chúc nhắc tới. Vậy thì dân chủ và tự do phải chăng là đồng nhất? Ta hay nói tự do dân chủ. Trong trường hợp này, tự do như quyền công dân lthì nó gắn liền với dân chủ. Nhưng quyền tự do độc lập của dân tộc và tự do cá nhân trong bản thân họ thì nó là tự do chứ không đơn giản chỉ thuộc phạm trù dân chủ như là quyền công dân. Do vậy không chỉ là quyền dân tộc, quyền công dân mà còn là quyền làm người, như quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc. Cho nên không chỉ là dân chủ, công bằng mà còn là tự do hạnh phúc là những mục tiêu lớn của cách mạng xã hội chủ nghĩa, của chế độ mới do cách mạng ấy tạo ra và phát triển.

– Về hạnh phúc thì trong tư tưởng Hồ Chí Minh thường được đề cập tới. Nó là một mục tiêu lớn không chỉ hạnh phúc cá nhân, gia đình như trong văn kiện Đảng đại hội X khi nói về con người, mà ngày nay còn có phạm trù hạnh phúc xã hội, hạnh phúc quốc gia, như xây dựng nền kinh tế hạnh phúc, xây dựng xã hội hạnh phúc. Giàu mạnh là cần nhưng chưa đủ mà còn là tự do và hạnh phúc.

– Về dân chủ, ngày nay ta hay nói phát huy dân chủ XHCN, nhưng Hồ Chí Minh rất nhấn mạnh thực hành dân chủ rộng rãi, hoặc mở rộng dân chủ. Hơn nữa nếu không tiếp tục xây dựng, phát triển nền dân chủ mới theo hướng xã hội chủ nghĩa thì không thể nói phát huy và khó mà có được dân chủ XHCN, vì nền dân chủ ở VN còn hạn chế và thấp, nhiều cơ chế chưa thích hợp.

Về những “hạn chế” nói trên, có thể giải thích rằng, Hồ Chí Minh chỉ nhấn mạnh những mục tiêu cốt lõi nhất chăng?

– Cần nêu thêm một đề nữa là so với bản Di chúc mà BCH TW công bố chính thức với các bản bổ sung của Hồ Chí Minh thì thấy còn sót vấn đề gì quan trọng nhất. phải nó rằng bản Di chúc công bố chính thức đã bổ sung và sắp xếp theo lôgích và đảm bảo các ý tứ chính của Hồ Chí Minh rất thuyết phục. Nhưng có 4 ý quan trọng đang bị bỏ sót hay chưa chú ý:

1) là vấn đề chỉnh đốn lại Đảng (đây là vấn đề quan trọng bậc nhất);
2) bỏ thuế nông nghiêp một năm cho nông dân;
3) vấn đề đấu tranh chống lại nhũng gì cũ kỹ, hư hỏng, trong đó chú ý vấn đề sửa dổi chế độ giáo dục, tạo ra những cái mới tốt tươi, và phải dưạ vào sức mạnh nhân dân mới có thể giải quyết được.
4) vấn đề Hồ Chí Minh nói về hỏa táng và chôn cất như thế nào;

Có thể lúc ấy, những vấn đề này công bố chưa thích hợp, hoặc chúng ta chưa thấy hết ý nghĩa thực tiễn của nó, hoặc có nhận thức khác.

Dầu sao thì tất cả những vấn đề đó đã được công khái trong thời kỳ đổi mới (HCM toàn tập, tập 12) và được Trung ương giải thích.

3- Góc nhìn chủ nghĩa duy vật nhân văn và ý nghĩa lý luận

Chủ nghĩa duy vật nhân văn là lý luận triết học tổng quát, hoàn chỉnh nghiên cứu nguồn gốc, bản chất, cơ cấu, hoạt động của con người và sự nghiệp giải phóng, phát triển con người, khắc phúc những quan niệm duy tâm, phiến diện, siêu hình và duy vật tầm thường, phản nhân văn về con người và sự nghiệp giải phóng phát triển con người tự do, toàn diện.

Tư tưởng Hồ Chí Minh hay nội dung trong Di chúc là sự quan tâm tới con người, tin tưởng ở con người, cá nhân, tầng lớp, giai cấp mà cả dân tộc, toàn dân với tình thương, lẽ phải và trách nhiệm, nhất là vấn đề dân sinh sau thời kỳ chiến tranh với nhiều hậu quả nặng nề…, của một Đảng cầm quyền, của những người cộng sản.

– Muốn vậy phải phát triển kinh tế và văn hóa xã hội, nâng cao đời sống của nhân dân cả về vật chất và tinh thần. Nghĩa là độc lập dân tộc phải vươn tới nội dung mới: tự do, dân chủ, giàu mạnh, công bằng và hạnh phúc cho mọi người.

– Để thực hiện nhiệm vụ đó phải đoàn kết từ trong Đảng ra ngoài xã hội, đoàn kết quốc tế, phải dựa vào sức mạnh nhân dân, thực hiện (thực hành) dân chủ rộng rãi; phải cả́i cách, đổi mới chống sự trì trệ, bảo thủ, hư hỏng và mở rộng tư do và dân chủ, phải xây dựng con người mới, lực lượng cách mạnh, nhất là thế hệ trẻ, phát triển và phát huy nhân tố con người.

– Đó là một sự thay đổi có tính cách mạng lâu dài, sau khi hoàn thành cách mạng giải phóng dân tộc, phải tiếp tục cách mạng dân chủ nhân dân và cách mạng xã hội chủ nghĩa, vừa dổi mới, cải cách và phát triển, quá độ và rút ngắn, từng bước tiến lên chủ nghĩa xã hội.

– Mỗi người chủ động phát huy năng lực của mình, vừa cải tạo xã hội vừa cải tạo bản thân minh, vừa qua thực tiễn vừa qua giáo dục và tự giáo dục cả về chân – thiện – thể- mỹ.

– Sống là cống hiến, hiến thân, phấn đấu vì sự nghiệp độc lập, thống nhất của dân tộc, dân chủ và giàu mạnh của quốc gia và hạnh phúc của đồng bào. Chết là thanh thản trở về với thiên nhiên, với ông bà tổ tiên và các vị tiền bối cách mạng, và để lại tình thương yêu cho thế hệ trẻ và tinh thần, trí tuệ, đạo đức cho dân cho nước, tạo nên nguyên khí quốc gia, hồn thiêng sông núi, tiếp tục sống mãi với non sông đất nước, góp phần thúc đẩy sự nghiệp cách mạng tiến lên. Đúng là “Sống là cho và chết cũng là cho” (Tố Hữu).

Tinh thần ấy là tinh thần của chủ nghĩa duy vật nhân văn, và nó có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn dài lâu trong sự nghiệp cách mạng và phát triển của dân tộc ta. Nói cách khác, đó là “tiếp cận nhân văn” (GS VS Phạm Minh Hạc) tất nhiên không chỉ trong lĩnh vực giáo dục đào tạo mà là đối với sự phát triển nói chung.

4- Vấn đề thực hiện Di chúc

Như nói ở trên, việc nhận thức và công bố trọn vẹn Di chúc cũng là phải có thời gian, có khi do hoàn cảnh lịch sử chưa cho phép, hay nhận thức chưa thống nhất.

Chưa thấy rõ hay chưa thống nhất: 1) là vấn đề chỉnh đốn lại Đảng;2) bỏ thuế nông nghiệp một năm cho nông dân; 3) vấn đề đấu tranh chống lại nhũng gì cũ kỷ, hư hỏng, trong đó chú ý vấn đề “sửa đổi chế độ giáo dục”, tạo ra những cái mới tốt tươi, và nhất thiết phải dưạ vào sức mạnh nhân dân. 4) vấn đề Hồ Chí Minh nói về hỏa táng và chôn cất như thế nào. Riêng vấn đề cuối cùng này thì BCT có quyết định khác. Nhưng đây là vấn đề Hồ Chí Minh suy nghĩ rất kỹ và nhắc lại ít nhất là 2 lần và nói khá tỉ mỉ. Tuy nhiên con cháu của Bác mà cụ thể là BCT, vì nhiều lý do đã chọn một cách khác cũng rất có ý nghĩa.

40 năm thực hiện Di chúc cũng là một chặng đường không ngắn. Trong thời kỳ này chúng ta đã giành được 2 thắng lợi có tầm chiến lược và có ý nghĩa lịch sử to lớn là kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và sự nghiệp đổi mới. Nhưng trong thời kỳ sau chiến tranh cũng đã phạm nhiều sai lầm duy ý chí và giáo điều. Trong thời kỳ đổi mới cũng có lúc chận chạp, diể lỡ cơ hội phát triển và cũng có những nhược đểm sai lầm và sai sót, chưa thật sự dựa vào phương pháp luận khoa học và biện chứng, chưa thật sự dựa vào dân, thực hiện và phát huy dân chủ, phát huy nội lực để giải quyết vấn đề.

Trong một cuộc hội thảo về Di chúc gần đây có ý kiến cho rằng, chúng ta chưa thực hiện nghiêm túc Di chúc của Hồ Chí Minh. Điều này có mặt đúng, nhưng nếu cho rằng chúng ta thực hiện ngược Di chúc thì phải là thêm. Có lẽ ý kiến này muốn nói về việc chúng ta không hỏa táng Bác, hay thực hiện chậm miễn thiếu nông nghiệp cho nông dân, chậm đỉnh đốn Đảng… Điều này là một thực tế, nhưng không nên/ không thể nói rằng thực hiện ngược lại mà nên hiệu thực hiện có phần khác đi và thực hiện chậm, có mặt thiếu nghiêm túc.

Tất nhiên, cần hiểu rằng thực hiện Di chúc là một quá trình, với các mức độ khác nhau. Trên nét lớn là chúng ta đã thực hiện từng nhiệm vụ mà HCM nhắc nhở trong Di chúc và có nhiều mặt sáng tạo do hoàn cảnh mới mà trước đó HCM cũng không thể hình dung ra và nhắc tới, nhất là về đường lối và sự nghiệp đổi mới.

Quả là nhiều vấn đề mới, nhiều vấn đề phức tạp trong bối cảnh thực huện kinh tế thị trường, đô thị hóa và công nghiệp hóa, hiện đại hóa cũng như hội nhập quốc tế mà thời Hồ Chí Minh chưa thể hình dung và dự báo. Ngay vấn đề tham nhũng thì thời trước chỉ là tham ô nhỏ và chưa thật sự phổ biến, rộng lớn, mang tính hệ thống, chùm dây, kiểu mafia, đầy thế lực, rất phức tạp như bây giờ.

Cần nhấn mạnh vào sự gương mẫu, đề ra và thực thi chính sách đúng, cần có những thể chế, cơ chế thích hợp và thực hiện nghiêm chinh nhưng cũng cần lưu ý cơ sở, điều kiện khách quan, của quá trinh phát triển cho phép và có thể đến mức nào.

Qua nội dung cơ bản của Di chúc, chúng ta thấy nổi lên 2 loại quan điểm chính như: 1) về gắn độc lập dân tộc, dân chủ với việc chấn hưng, đổi mới, chống trí trệ, bảo thủ nhằm phát triển đất nước bền vững theo con đường xã hội chủ nghĩa; 2) quan điểm nhân dân, nhân văn, quan tâm đến số phận con người và phát huy cao độ tính chủ động của con người, dựa vào nhân dân, đoàn kết, nhất là trong đảng để cùng phát triển…

Từ đó, căn cứ vào tình hình hiện nay, cần tập trung giải quyết một số vấn dề như tiếp tục chỉnh đốn, đổi mói Đảng, nhất là: 1) về chống tham nhũng, củng cố và xây dựng đạo đức cách mạng nhất là trong đội ngũ cán bộ các cấp; 2) về đổi mới phương thức lãnh đạo và cầm quyền của Đảng; 3) mở rộng dân chủ, đặc biệt trong công tác cán bộ, tạo cơ chế thật sự phát hiện và sử dụng nhân tài, nhân lực chất lượng cao; 4) tăng cường giám sát và phản biện xã hội…

Hoặc 5) tập trong giải quyết các vấn đề của nông dân, công nhân lao động, nhất là các vấn đề an sinh xã hội, công bằng xã hội, trong quá trình phát triển, tránh gạt họ khỏi lợi ích của sự tăng trưởng kinh tế, tránh bất ổn và thiệt thòi cho họ đang rất nóng bỏng hiện nay; 6) kiên quyết cải cách giáo dục một cách cơ bản, toàn diện nhắm vào mục tiêu phát huy cao nhất năng lực, trí tuệ và nhân cách của con người, tạo nên nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu phát triển nhanh và năng động ngày nay, vv và vv…

“Đây là một cuộc chiến đấu chống lại những gì đã cũ kỹ hư hỏng, để tạo ra những cái mới mẻ tốt tươi. Để giành lấy thắng lợi trong cuộc chiến đấu khổng lồ này cần động viên toàn dân, tổ chức và giáo dục toàn dân, dựa vào lực lượng vĩ đại của toàn dân”.

Đúng là hiểu rõ và thực hiện triệt để những tư tưởng của Hồ Chí Minh không phải dễ.

Chẳng hạn, hiện nay, dư luận và các nhà khoa học nêu vấn đề: thế nào là phát huy sức mạnh của nhân dân, dựa vào sức mạnh của nhân dân, sức mạnh dân chủ? Phải chăng sức mạnh đó chỉ là sức mạnh hành động thực tiễn mà còn là, trước hết là sức mạnh trí tuệ, ý chí, cảm xúc thông qua giám sát, phản biện xã hội, dư luận quần chúng, là dân ý, là dân chủ tham dự trong cả quyết sách và cả trong công tác cán bộ (tuyển chọn, bầu cử, bổ nhiệm, đánh giá). Không có xã hội dân sự phát triển có thực sự phát huy được sức mạnh ấy hay không, có dân chủ thật sự hay không?

Dân chúng nêu vấn đề: chính quyền của chúng ta có thật sự của dân, do dân vì dân và có thật sự thực hiện Di chúc, tư tưởng Hồ Chí Minh hay không, khi trong chính sách, luật pháp và các dự án còn nhiếu bất cập, sơ hở chậm được sửa đổi để cho những kẻ cơ hội trục lợi trong chính quyền lấy đất của dân và để họ đi đến bần cùng, nếu còn “nhẹ trên năng dưới”, không nghiêm trị họ triệt để, bình đẳng. Không thể “vơ đũa cả nắm”, nhưng không thể thỏa mãn với cách giải quyết hiện nay.

Quả thật là khi đào sâu vào từng vấn đề, chúng ta thấy còn nhiều bài toán chưa có lời giải thỏa đáng.

Như vậy, là cần tiếp tục nghiên cứu sâu và rà soát lại các tư tưởng quan trọng trong Di chúc nói riêng và tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung để triệt để vận dụng sáng tạo và phát triển trong thời kỳ mới…

Tài liệu tham khảo:

1) Hồ Chí Minh , Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, tập 12, năm 2000
2) Hồ Bá Thâm, Chủ nghĩa duy vật nhân văn và định hướng nhân văn của sự phát triển xã hội, Nxb Văn hóa – thông tin, 2005; Phương pháp luận duy vật nhân văn nhận biết và ứng dụng, Nxb Văn hóa – thông tin, 2005;
3) Hồ Bá Thâm- Chủ nghĩa nhân văn Mác- Hồ Chí Minh và sự định hướng XHCN ở nuớc ta. Hoặc Chủ nghĩa nhân văn Việt Nam – Hồ Chí Minh- một tầm nhìn triết học, trên Chungta,com.
4) Thư của PGS Thành Duy: Ngày 28/7/2009, Thành Duy <thanhduy1930@gmail.com> đã viết: “quan điểm của tôi rất nhất trí với anh về chủ nghĩa duy vật nhăn văn. Tôi cho rằng khái niệm về chủ nghia duy vật nhân văn của anh có nhiều sáng tạo, hay hơn dùng khái niệm chủ nghĩa nhân văn mới”
5) Tuanvietnam, những bài viết liên quan tới tạo động lực tiếp tục đổi mới (trực tuyến phỏng vấn các nhà – nguyên là lãnh đạo và chuyên gia).
6) Phạm Minh Hạc: Tiếp cận nhân văn trong giáo dục đào tạo, trên Chungta.com.
7) Hồ Bá Thâm, Dân chủ và giàu mạnh với vấn đề hạnh phúc trong tư tưởng và Di chúc HCM (Hội thảo về 40 năm thực hiện Di chúc Hồ Chí Minh với vấn đề Dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, 5-2009). Xem Chungta.com
8).Thành Duy, Về chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh, Nxb. Khoa học xã hội, 2008
9) Song Thành, Hồ Chí Minh nhà tư tưởng lỗi lạc, Nxb. Lý luận chính trị, 2005.
10) Nguyễn Ngọc Giao, Xã hội dân sự, Trung Quốc và Việt Nam, Tạp chí Thời đại, Chungta.com, đăng 31/07/2009

Nguồn: chungta.com

hochiminhhoc.com

Hồ Chí Minh sớm có tư tưởng tiên phong mở cửa

Từ rất sớm, Hồ Chí Minh đã có những tư tưởng tiên phong theo xu hướng mở cửa, đa dạng hóa quan hệ với các nước, thu hút đầu tư, thúc đẩy quan hệ buôn bán với nước ngoài.

BacHo copy (Small).jpg

Ngay từ đầu tháng 12-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư cho những người đứng đầu các nước Anh, Trung Quốc, Mỹ, Liên Xô và Liên hợp quốc nêu rõ chính sách của Việt Nam là thực hiện chính sách mở cửa và hợp tác, mời các nhà đầu tư, các nhà kỹ thuật nước ngoài vào kinh doanh tại Việt Nam, sẵn sàng mở các cảng, sân bay và đường giao thông cho việc buôn bán và quá cảnh quốc tế, chấp nhận tham gia mọi tổ chức hợp tác kinh tế quốc tế dưới sự lãnh đạo của Liên hợp quốc.

Trong suốt hai cuộc kháng chiến chống ngoại xâm của dân tộc, theo tư tưởng Hồ Chí Minh, Việt Nam luôn nêu cao ngọn cờ hòa bình, đưa ra nhiều sáng kiến hòa bình đồng thời đẩy mạnh hoạt động ngoại giao làm cho dư luận thế giới thấy được bản chất của tình hình Việt Nam, chiến tranh xâm lược của thực dân, đế quốc và luận điệu hòa bình giả dối của chúng.

Trong thư gửi cho người đứng đầu nhà nước và chính phủ của gần 70 nước trên thế giới trình bày tình hình chiến tranh Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: Trải qua hơn 20 năm chiến tranh, hơn ai hết nhân dân Việt Nam rất thiết tha với hòa bình để xây dựng đời sống của mình. Hồ Chí Minh không đề cập hòa bình và chiến tranh một cách trừu tượng. Trong thư gửi Đại hội Nhân dân Việt Nam bảo vệ hòa bình, Người nêu rõ phong trào hòa bình phải gắn liền với phong trào độc lập dân tộc.

Người luôn lấy hòa bình hữu nghị và đạo lý làm tiêu chí để phân biệt bạn thù, phân biệt dân tộc với bọn phản động, hiếu chiến trong chính phủ của đối phương, luôn nêu cao ngọn cờ hòa bình, tập hợp rộng rãi nhân dân tiến bộ trên toàn thế giới chống lại các thế lực gây chiến tranh xâm lược. Đó là nét đặc trưng của “ngoại giao tâm công” Hồ Chí Minh. Thực hiện đường lối “ngoại giao tâm công” với tinh thần đem đại nghĩa thắng hung tàn, lấy chí nhân thay cường bạo, ta đã tranh thủ được một mặt trận rộng rãi nhân dân thế giới ủng hộ nhân dân Việt Nam chống Mỹ xâm lược.

Đối với Người, ai làm gì lợi ích cho nhân dân, cho Tổ quốc ta đều là bạn. Bất kỳ ai làm điều gì có hại cho nhân dân và Tổ quốc ta là kẻ thù… Phải yêu Tổ quốc, yêu nhân dân. Phải có tinh thần dân tộc vững chắc và tinh thần quốc tế đúng đắn và phải làm cho nước mình ít kẻ thù hơn hết và nhiều bạn đồng minh hơn hết. Đối với nước Pháp và Mỹ, Hồ Chí Minh phân biệt nhân dân với các chính phủ cầm quyền, để tranh thủ lực lượng tiến bộ và thúc đẩy phong trào phản chiến của nhân dân các nước này, cô lập lực lượng hiếu chiến.

Hồ Chí Minh chủ trương tập hợp lực lượng rộng rãi. Theo Người, không có khối phương Đông và khối phương Tây, mà chỉ có những người yêu chuộng hòa bình và có những kẻ chủ trương chiến tranh.

Quan điểm về đa dạng hóa quan hệ quốc tế, làm bạn với tất cả các nước dân chủ đã hình thành trong tư tưởng Hồ Chí Minh từ rất sớm. Đây là một tư tưởng vượt thời đại xét trong bối cảnh phân cực sâu sắc của chính trị quốc tế từ sau Chiến tranh Thế giới thứ hai.

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: Việt Nam muốn làm bạn với tất cả mọi nước dân chủ và không gây thù oán với một ai. Việt Nam sẽ hợp tác với mọi nước vui lòng hợp tác thật thà và bình đẳng với Việt Nam.

Chủ nghĩa yêu nước và tinh thần dân tộc cũng thấm đượm trong tư tưởng đối ngoại Hồ Chí Minh. Điểm then chốt để “neo” thế giới quan của Hồ Chí Minh vẫn là chủ nghĩa yêu nước, tinh thần dân tộc và đi cùng với nó là tư tưởng đặt lợi ích dân tộc lên trên hết. Phân tích tình hình thế giới là để giúp Người nhìn ra mối dây liên hệ giữa Việt Nam với thế giới và đánh giá đặc điểm quan hệ quốc tế là để giúp tìm lối đi cho con thuyền cách mạng Việt Nam.

Từ rất sớm, Hồ Chí Minh đã có tư tưởng tiên phong theo xu hướng mở cửa, đa dạng quan hệ, thu hút đầu tư, thúc đẩy buôn bán với nước ngoài. Đối với Người, khoa học là để phục vụ cách mạng và cụ thể hơn là phục vụ sự nghiệp giải phóng dân tộc, độc lập dân tộc, thống nhất đất nước và xây dựng dân giàu nước mạnh. Như vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh – vốn đã mạnh bởi cơ sở khoa học của nó – lại càng mạnh hơn vì đã dựa được vào sức mạnh của truyền thống dân tộc và giành được tính chính danh vì phục vụ lợi ích dân tộc.

Hồ Chí Minh nhiều lần khẳng định tiến lên chủ nghĩa xã hội phải từng bước phát triển kinh tế và văn hóa – xã hội; nâng cao đời sống vật chất của xã hội phải đồng thời với nâng cao đời sống tinh thần của con người; vấn đề không chỉ là sản xuất ra nhiều của cải, mà điều quan trọng hơn là chất lượng của cải phải ngày càng cao, và làm sao nâng cao được chất lượng sống cho nhân dân. Người cho rằng, chúng ta xây dựng chủ nghĩa xã hội mà dân không được hưởng hạnh phúc thì chủ nghĩa xã hội đó cũng không có nghĩa lý gì.

Trong hệ thống các yếu tố của phát triển, Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến chủ thể của quá trình phát triển – Đảng Cộng sản. Sự lãnh đạo của một đảng cộng sản chân chính, trí tuệ và sáng tạo là yếu tố đầu tiên và cũng là yếu tố cuối cùng có tính quyết định đối với sự định hướng và xây dựng một xã hội mới. Bởi theo Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng của nhân dân, của cách mạng; mục đích của Đảng không có gì khác là đem lại cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Đó cũng thật sự là mục tiêu của bất kỳ một triết lý phát triển nào nhằm mục tiêu phát triển xã hội bền vững.

Ngày nay, với chủ trương xây dựng và chấn hưng đất nước, coi xây dựng kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt, coi văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy kinh tế – xã hội phát triển, thực chất là Đảng và Nhà nước ta đã và đang thực hiện triết lý phát triển theo tư tưởng Hồ Chí Minh, đặc biệt là văn hoá đạo đức của Người.

Hơn nữa, với chủ trương tiến hành Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, rõ ràng Đảng ta đã thật sự thấm nhuần quan điểm phát triển xuất phát từ cách tiếp cận với văn hoá đạo đức, lấy đạo đức cách mạng làm gốc của người cách mạng chân chính.

Triết lý phát triển theo chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh gắn liền với bản chất chế độ ta, gắn liền với những thành tựu của sự nghiệp cách mạng Việt Nam mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đang ra sức phấn đấu theo mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Điều đó cũng có nghĩa là triết lý hành động theo chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh chỉ có thể trở thành hiện thực khi mục tiêu cách mạng theo con đường Hồ Chí Minh đã chọn được thực hiện thành công ở nước ta.

hochiminhhoc.com

Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ trong chính trị

Chủ tịch Hồ Chí Minh làm việc trong ngôi nhà sàn ở chiến khu

Trong suốt quá trình hoạt động lý luận và thực tiễn chỉ đạo cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác lập và hiện thực hóa hệ thống quan điểm về dân chủ trong tổ chức xây dựng xã hội mới trên tất cả các lĩnh vực. Tư tưởng của Người về dân chủ trong chính trị đã trở thành một bộ phận văn hóa của dân tộc Việt Nam. Người xứng đáng với danh hiệu “Nhà thực hành dân chủ vĩ đại của thế kỷ XX”. Khi nghiên cứu Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ trong chính trị, cho thấy nổi lên những nội dung lớn sau:

Một là. Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ trong chính trị xuất phát từ truyền thống văn hoá dân tộc, được kết tinh qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước; là sự kết hợp những tinh hoa giá trị dân chủ của văn hóa phương Đông và phương Tây, đặc biệt là lý tưởng giải phóng dân tộc gắn với giải phóng xã hội, giải phóng con người của Chủ nghĩa Mác – Lênin.

Hai là. Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ trong chính trị được thể hiện ở việc khẳng định quyền lực của nhân dân trong hiến pháp và pháp luật; đảm bảo tổ chức nhà nước dân chủ của dân, do dân và vì dân.

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ”(1). Quan niệm địa vị cao nhất là dân được Hồ Chí Minh giải thích rất ngắn gọn “dân là chủ”, mọi quyền hành và lực lượng là của nhân dân, mọi công việc đều do dân và do đó thành quả của nền dân chủ mới thuộc về đại đa số quần chúng nhân dân chứ không phải của bất cứ một số ít dân cư nào. Trong Chương trình hành động của Mặt trận Việt Minh, Hồ Chí Minh đã đưa ra những nội dung cơ bản về chế độ dân chủ cộng hòa cho nước ta sau khi giành chính quyền. Nhờ hướng đến mục tiêu dân chủ mà Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã thức tỉnh quần chúng nhân dân làm nên thắng lợi vẻ vang của Cách mạng Tháng Tám.

Vấn đề làm chủ của nhân dân, của các giai tầng trong xã hội được pháp điển hóa trong các bản Hiến pháp (1946 và 1959). Hiến pháp năm 1946 bảo đảm “Quyền tư hữu tài sản của công dân Việt Nam” (Điều 12), “Quyền lợi các giới cần lao trí thức và chân tay” (Điều 13). Hiến pháp năm 1946 còn tuyên bố: “Nghị viện nhân dân là cơ quan có quyền cao nhất nước Việt Nam dân chủ cộng hòa” (Điều 22), Ban Thường vụ Nghị viện có quyền “kiểm soát và phê bình Chính phủ” (Điều 36)…

Quan điểm “quyền lực thuộc về nhân dân” còn được Hồ Chí Minh nói rõ trong bản Hiến pháp năm 1959. Điều 6 của bản Hiến pháp này nêu rõ: “Tất cả các cơ quan nhà nước là phải dựa vào nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự kiểm soát của nhân dân. Tất cả nhân viên nhà nước đều phải trung thành với chế độ dân chủ nhân dân, tuân theo Hiến pháp và pháp luật, hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân”.

Những quan điểm của Hồ Chí Minh về xây dựng hiến pháp dân chủ, xác định quyền làm chủ của nhân dân trong thực tiễn là những quan điểm căn bản cho việc xây dựng hệ thống chính trị dân chủ ở nước ta, thể hiện qua việc xây dựng Nhà nước dân chủ của dân, do dân và vì dân.

Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, nhà nước của dân là nhà nước trong đó dân là chủ; dân là người có địa vị cao nhất, có quyền quyết định những vấn đề quan trọng nhất của đất nước, dân tộc. Người khẳng định: “Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo”(2).

Nhà nước do dân nghĩa là dân làm chủ nhà nước, nhà nước phải tin dân và dựa vào dân. Nội dung quyền làm chủ nhà nước của dân được thể hiện: Nhân dân là người tổ chức nên các cơ quan nhà nước từ trung ương đến địa phương thông qua thực hiện chế độ tổng tuyển cử phổ thông. Nhân dân có quyền bầu cử, ứng cử, đồng thời có quyền thực hiện chế độ bãi miễn. Người viết: “Nếu Chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi Chính phủ”(3). Dân phải có trách nhiệm, nghĩa vụ đóng góp trí tuệ, sức người, sức của để tổ chức, xây dựng, bảo vệ và phát triển nhà nước. Đồng thời, nhân dân có quyền tham gia vào công việc quản lý nhà nước, phê bình, kiểm tra, kiểm soát, giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước, các đại biểu do mình cử ra.

Nhà nước vì dân, theo Hồ Chí Minh, là nhà nước phục vụ nhân dân, đem lại lợi ích cho nhân dân. Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo một mục tiêu cao nhất là không ngừng cải thiện và nâng cao đời sống của nhân dân đúng với phương châm “Việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì hại đến dân phải hết sức tránh”. Nhà nước phải chăm lo mọi mặt đời sống của nhân dân, thoả mãn các nhu cầu thiết yếu nhất: làm cho dân có ăn, làm cho dân có mặc, làm cho dân có chỗ ở, làm cho dân được học hành, làm cho dân có điều kiện khám chữa bệnh, chăm sóc sức khoẻ…

Bản chất dân chủ của Nhà nước Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí Minh được Đại hội X xác định rất rõ: “Nhà nước là đại diện quyền làm chủ của nhân dân, đồng thời là người tổ chức thực hiện đường lối chính trị của Đảng. Mọi đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước đều phản ánh lợi ích của đại đa số nhân dân. Nhân dân không chỉ có quyền mà còn có trách nhiệm tham gia hoạch định và thi hành các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của nhà nước”(4).

Ba là. Để phát huy dân chủ của nhân dân, xây dựng Nhà nước thực sự là của dân, do dân và vì dân, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ phải xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam nhằm làm cho hoạt động của Nhà nước đem lại hiệu quả xã hội thực sự. Nhà nước pháp quyền là nhà nước mà mọi người được tôn trọng, dân chủ được mở rộng, người dân sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật. Nhà nước pháp quyền là nhà nước phải thể hiện được việc điều hành và quản lý xã hội bằng hệ thống luật.

Ngày nay, theo Tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đảm bảo nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân; quyền lợi nhà nước là thống nhất, có sự phân công phối hợp giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp; hoàn thiện hệ thống, xây dựng và hoàn thiện cơ chế kiểm tra, giám sát trong các hoạt động và quyết định của các cơ quan công quyền.

Bốn là. Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ trong chính trị có giá trị lý luận và thực tiễn vô cùng sâu sắc đối với cách mạng Việt Nam qua các thời kỳ. Quán triệt những nội dung của tư tưởng dân chủ Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam trong thực tiễn lãnh đạo cách mạng đã kế thừa, vận dụng và không ngừng phát triển sáng tạo tư tưởng của Người nhằm mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, đưa đất nước tiến lên chủ nghĩa xã hội. Đây là mục tiêu xuyên suốt, mục tiêu cao cả và là điểm tựa về đường lối, chủ trương, chính sách để đoàn kết toàn dân thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Thực hiện mục tiêu xuyên suốt đó cũng chính là vận dụng và phát triển những kiến giải sáng tạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh về dân chủ.

1. Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t. 6, tr. 515.
2. Sđd, t. 7, tr. 218.
3. Sđd, t. 5, tr. 60.
4. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2006, tr. 44.

Nguyễn Văn Quang
Khoa Giáo dục Chính trị – Trường Đại học Sư phạm Huế

xaydungdang.org.vn