Tag Archive | Văn hóa – Xã hội

Bác Hồ với mùa xuân thành lập Đảng

Trong cuộc đời hoạt động của mình, với 30 năm đi khắp thế giới tìm con đường cứu nước, Bác Hồ của chúng ta đã có biết bao những mùa xuân đáng ghi nhớ. Bác đã từng đón rất nhiều cái Tết Nguyên đán Việt Nam ở xứ người. Những cái tết đạm bạc nhiều khi chỉ là bát cháo và cái bánh mỳ rẻ tiền ở một quán ăn nhỏ. Những ngày Tết, Bác nhớ đất nước quê hương da diết cùng với bao những dự định lớn lao. Nhưng mùa xuân năm 1930 có thể nói là mùa xuân lịch sử của Chủ tịch Hồ Chí Minh và cũng là mùa xuân lịch sử của cách mạng Việt Nam.

Mùa xuân Canh Ngọ 1930, nhận được liên lạc của Quốc tế cộng sản, Bác Hồ của chúng ta từ một vùng quê ở Thái-lan, đáp xe lửa đi Băng-Cốc, rồi đi tàu thuỷ đến Xanh-ga-po. Tại đây, Người chuyển sang một con tàu khác đi Hồng-Kông. Ngồi trên tàu, qua cánh cửa, Bác được nhìn thấy bờ biển Tổ quốc thấp thoáng nơi chân trời. Nỗi nhớ nước, thương nhà làm tim Người thắt lại! Nỗi đau riêng của gia đình (cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc, thân sinh ra Người đã qua đời) hoà trong nỗi đau chung của cả một dân tộc. Bác nghĩ đến những đêm dài nô lệ, biết bao sĩ phu yêu nước đã tập hợp nhân dân, giương cao ngọn cờ chống giặc ngoại xâm. Nhưng những cuộc nổi dậy ấy đều bị dìm trong biển máu. Và trách nhiệm lịch sử nặng nề ấy đã đặt lên vai những người cộng sản. Ba tổ chức cộng sản ở Bắc, Trung, Nam được thành lập. Song yêu cầu bức thiết của cách mạng Việt Nam lúc này là phải có một Đảng thống nhất trong nước. Các đồng chí Hồ Tùng Mậu và Lê Hồng Sơn đã bí mật ra tận cảng biển để đón Bác.

Sau khi bàn bạc với các đồng chí của mình, liên lạc với các đồng chí quen biết cũ của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Bác quyết định tổ chức hội nghị hợp nhất các Đảng Cộng sản ở Việt Nam vào đúng dịp Tết Nguyên đán. Ở Việt Nam và Trung Quốc, Tết Nguyên đán là ngày hội cổ truyền, thường kéo dài hàng tuần, người đi lại rất đông. Chính trong dịp này, những đại biểu tham dự hội nghị có thể đi khỏi đất nước mà không ai để ý. Hội nghị họp từ ngày 3 đến mồng 7 tháng 2 năm 1930 tại Cửu Long (Trung Quốc) thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Thế là kể từ ngày rời bến Nhà Rồng năm 1911, ước mơ thiêng liêng của Người nay đã thành sự thật. Ngày cuối cùng của hội nghị, Bác tổ chức một bữa cơm nhỏ ngay tại phòng ở của mình. Khi các đại biểu đã ngồi xung quanh bàn. Người xúc động nói: “Các đồng chí! Hôm nay là ngày lịch sử của chúng ta. Lênin vĩ đại đã nói: Chỉ Đảng nào có được một lý luận tiên phong, mới có khả năng làm tròn vai trò chiến sĩ tiên phong. Bây giờ chúng ta đã có một Đảng như thế rồi – Đảng của giai cấp công nhân Việt Nam. Nhân dân ta từ xưa đã có truyền thống đấu tranh anh dũng, nhưng suốt những năm ấy nhân dân ta lại thiếu người cầm lái sáng suốt. Giờ đây, Đảng của chúng ta phải gánh lấy vai trò này, và tôi tin rằng Đảng ta sẽ dẫn dắt nhân dân ta đến thắng lợi trong cuộc đấu tranh giành Độc lập, Tự do cho Tổ quốc thân yêu”. Thế là mơ ước thiêng liêng và mục tiêu cao cả, mà gần hai mươi năm qua, kể từ khi Người ra đi từ bến Nhà Rồng để tìm đường cứu nước, nay đã trở thành sự thật. Cách mạng Việt Nam từ nay đã có một đội quân tiên phong đoàn kết chiến đấu.

Trong suốt những năm tháng lãnh đạo nhân dân ta làm cách mạng, Đảng ta luôn luôn làm theo lời Bác, luôn gắn bó máu thịt với nhân dân, đoàn kết nhân dân thành một khối vững chắc để đánh giặc giữ nước và xây dựng nước nhà. Đảng ta luôn coi ý kiến, nguyện vọng của nhân dân là nguồn gốc hình thành đường lối đổi mới của Đảng.

Đón xuân mới, cùng với kỷ niệm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, chúng ta lại nhớ đến Bác Hồ kính yêu – Nhà lãnh đạo thiên tài. Không những chúng ta mà bạn bè thế giới đã nói: Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là “một cuộc đời, một bước ngoặt kỳ diệu, một sự nghiệp vĩ đại…”.

(Theo canbotre.danang.vn)
tinhdoanbinhthuan.vn

Bác Hồ với thực hành tiết kiệm trong dịp Tết

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm và đề cao tiết kiệm. Người thường dùng hình ảnh “Sản xuất mà không tiết kiệm như gió vào nhà trống”. Người đặc biệt chú trọng kêu gọi, nhắc nhở cán bộ và nhân dân thực hành tiết kiệm trong dịp Tết.

Vào dịp sắp Tết Nguyên đán năm Ất Mùi, ngày 5-2-1955, Bác Hồ ra lời kêu gọi thi đua sản xuất tiết kiệm mùa xuân, gửi đồng bào và cán bộ các địa phương. Bác chỉ rõ hòa bình đã trở lại miền Bắc, nhiều nơi đang chuẩn bị giảm tô và cải cách ruộng đất, đó là những điều kiện để phát triển nông nghiệp.

Song khó khăn vẫn còn nhiều như hạn hán, sâu bọ, ruộng bị bỏ hoang, công trình thủy lợi bị hư hỏng. Vì vậy, Bác Hồ kêu gọi “Ra sức thi đua trong mùa xuân này” thực hiện 6 nhiệm vụ, trong đó có nhiệm vụ tiết kiệm về mọi mặt.

Trong lời kêu gọi đồng bào tăng gia sản xuất và tiết kiệm, vào dịp Tết Đinh Dậu (1957), Bác viết: “Tôi thân ái chúc đồng bào và cán bộ vui vẻ ăn Tết trong phong trào thi đua sản xuất và thực hành tiết kiệm”.

Đầu năm 1958, Bác về tham gia chống hạn ở xã Mễ Trì, Từ Liêm, Hà Nội. Khi ấy còn 1 tháng 10 ngày nữa mới đến Tết Nguyên đán (Mậu Tuất 1958), tại buổi nói chuyện với nhân dân trong xã, Bác góp ý: “Năm ngoái bà con ăn Tết mổ lợn, mổ bò… rồi thiếu trâu bò cày. Đấy là chưa kể rước sách linh đình, đồng bóng bói toán thật là lãng phí, ảnh hưởng không tốt đến thuần phong mỹ tục. Năm nay nhất định sửa. Tết năm nay phải là Tết vui vẻ, lành mạnh, tiết kiệm”.

Bác Hồ về thăm lại đồng bào Păc Bó - Cao Bằng, năm 1961Bác Hồ về thăm lại đồng bào Păc Bó – Cao Bằng, năm 1961

Vào dịp Tết, Bác thường xuống cơ sở để thăm tình hình nhân dân ăn Tết. Sáng 28 tháng Chạp năm Bính Thân, nghĩa là chỉ còn 2 ngày nữa là Tết Đinh Dậu (1957), Bác tiếp đoàn đại biểu xã Nhật Tân (Từ Liêm, Hà Nội) đến chúc Tết Bác và biếu Bác cây đào để đón xuân. Bác hỏi tình hình đón Tết của đồng bào.

Đồng chí Bí thư chi bộ kiêm Chủ tịch Ủy ban hành chính xã thưa với Bác rằng, Tết năm ngoái nhân dân toàn xã ăn Tết rất phấn khởi, Tết năm nay còn phấn khởi hơn vì cải cách ruộng đất đã thắng lợi, nhân dân đã thực sự làm chủ ruộng đất nên đã chủ động chung nhau lợn, trâu, bò để mổ ăn Tết. Nghe vậy, Bác không vui và ân cần căn dặn: “Các chú tổ chức cho nhân dân ăn Tết phấn khởi đấy, nhưng phải nhớ tiết kiệm.Vì đất nước còn nghèo, lại vừa trải qua chiến tranh, còn phải làm nhiều việc lớn hơn”. Những người có mặt lúc đó đều thấm thía lời dạy của Bác. Mấy ngày sau, câu chuyện được gặp Bác và những lời cặn dặn của Người được các vị cao niên trong đoàn đại biểu kể lại cho dân làng nghe tại sân đình các thôn trong xã. Tết năm sau (1958) cả xã không còn mổ trâu bò ăn Tết nữa.

Bác Hồ không chỉ khuyên nhủ đồng bào ăn Tết Nguyên đán tiết kiệm, chính Người là tấm gương sáng. Nhân dân ta còn nhớ mùa xuân cuối cùng trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Người, Bác về trồng cây trên đồi Đồng Váng, thôn Yên Hồ, xã Vật Lại (Sơn Tây – Hà Nội ngày nay). Trước khi đi, Bác nhắc nhở các đồng chí phục vụ mang theo cơm nước. Bác cùng đồng bào và cán bộ trồng cây xong, lúc ấy gần 12 giờ trưa. Bác mời đồng chí Bí thư Tỉnh ủy và đồng chí Chủ tịch tỉnh Hà Tây cùng Bác ăn Tết ngay trên chiếc chiếu trải trên đồi. Bữa cơm thân mật Bác cùng khách thưởng thức thật đơn giản, có bánh chưng, giò với dưa hành, canh nóng đựng trong phích. Hôm ấy là ngày mùng 1 Tết Kỷ Dậu 1969.

Ngày nay, mức sống của nhân dân ta đã được nâng lên rất nhiều, một cái Tết “to” cách đây nửa thế kỷ trước so với bây giờ thì quá bình thường, nhưng những lời căn dặn của Bác “Ăn Tết tiết kiệm” vẫn còn giữ nguyên giá trị giáo dục và có ý nghĩa biết bao trong bối cảnh hiện nay…

P.V (Tổng hợp)
baokhanhhoa.com.vn

Bác Hồ và ba mùa xuân đáng nhớ

(BNS) Trong những năm bôn ba nước ngoài tìm đường cứu nước, Bác Hồ từng đón xuân ở nhiều nước như: Mỹ, Anh, Pháp, Liên Xô, Trung Quốc, Thái Lan… Trong đó, có ba mùa xuân đáng nhớ, đánh dấu những mốc quan trọng trên hành trình tìm đường cứu nước của Người và của cách mạng nước ta.

XUÂN 1930, XUÂN KHỞI ĐẦU CỦA ĐẢNG

Bác Hồ chúc TếtĐầu năm 1930, Nguyễn Ái Quốc đang hoạt động ở Thái Lan thì được tin Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí Hội bị tan rã. Người lập tức từ Thái Lan về Trung Quốc để chuẩn bị việc hợp nhất các tổ chức cộng sản, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Đến Thượng Hải, Người tìm gặp đồng chí Nguyễn Lương Bằng và một số đồng chí Việt Nam khác để tìm hiểu kỹ tình hình trong nước. Người cũng đã tìm cách liên lạc với các cơ quan của Đảng Cộng sản Trung Quốc ở Hồng Kông, gặp các đồng chí Nhiêu Vệ Hoa, Lý Phú Xuân và Thái Sướng… để tham khảo ý kiến.

Để giữ bí mật, khi bàn bạc việc chuẩn bị hội nghị, Nguyễn Ái Quốc và các đồng chí Việt Nam lúc giả đánh “mạt chược” ở khách sạn, khi vờ xem đá bóng ở sân vận động. Sau những buổi bàn luận kỹ càng, Người đã quyết định triệu tập Hội nghị hợp nhất thành lập Đảng. Nhận được tin, các đoàn đại biểu của Đông Dương Cộng sản Đảng và của An Nam Cộng sản Đảng lần lượt đến Hồng Kông vào những ngày giáp Tết. Hội nghị bắt đầu ngày mùng năm Tết Canh Ngọ (tức ngày 3-2-1930), khi không khí Tết ở Hồng Kông còn rộn ràng.

Sau năm ngày thảo luận sôi nổi và khẩn trương, hội nghị đã nhất trí tán thành hợp nhất các tổ chức cộng sản ở Việt Nam thành một Đảng duy nhất là Đảng Cộng sản Việt Nam. Đây là một thắng lợi có ý nghĩa to lớn đối với cách mạng Việt Nam. Trước đây, các tổ chức này đã nhiều lần gặp nhau bàn việc hợp nhất, nhưng không thành vì có những ý kiến khác nhau và thiếu người có đủ uy tín đứng ra chủ trì. Hội nghị cũng đã nhất trí thông qua Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Chương trình tóm tắt, Điều lệ vắn tắt của Đảng do Nguyễn Ái Quốc khởi thảo. Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản có ý nghĩa như một đại hội thành lập Đảng. Sự nhất trí cao và nhanh chóng của hội nghị là nhờ vào vai trò lãnh đạo, hướng dẫn của Nguyễn Ái Quốc. Nhờ uy tín và công lao to lớn của Người, Đảng ta đã ra đời, đảm nhận sứ mệnh cao cả và thiêng liêng lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi tới thắng lợi.

Dịp này, để mừng Đảng ra đời và mừng xuân, Người đã đãi các đồng chí dự họp một bữa cơm Tết Nguyên đán trong không khí ấm tình đồng chí, đồng bào.
Tin mừng về việc thành lập Đảng làm cho nhân dân ta vô cùng phấn khởi, từ đó đồng tâm nhất trí đưa cách mạng vượt mọi thác ghềnh, không ngừng tiến lên.

XUÂN 1933: XUÂN HƯƠNG CẢNG THOÁT KHỎI NGỤC TÙ

Tháng 6-1931, Nguyễn Ái Quốc lúc đó lấy tên là Tống Văn Sơ, bị cảnh sát Anh bắt tại số nhà 186 phố Tam Lung (Cửu Long) và giam ở nhà tù của thực dân Anh ở Hồng Kông. Được tin Nguyễn Ái Quốc bị bắt, thực dân Pháp ở Việt Nam rất vui mừng. Chúng phái cả bầy mật thám sang chầu chực ở Hồng Kông, tìm mọi cách vận động chính phủ, tòa án và cảnh sát Anh trao Nguyễn Ái Quốc cho chúng. Chúng đưa tàu thủy chực sẵn ở Hồng Kông, nếu tòa án Anh ký lệnh “trục xuất” là chúng bắt ngay Nguyễn Ái Quốc và đưa về Việt Nam.

Nhưng thực dân Pháp đã thất bại, Nguyễn Ái Quốc đã được Lô-dơ-bai, một luật sư người Anh có thiện tâm, tìm mọi cách giúp đỡ. Qua Lô-dơ-bai, Người đã tiếp bà Xten-la Ben-xơn, một nhà hoạt động văn học và sân khấu, vợ của Phó thống đốc Hồng Kông. Cảm phục về thái độ và trí tuệ của Nguyễn Ái Quốc, bà đã yêu cầu chồng mình giúp đỡ Người.

Từ tháng 6 đến tháng 9-1931, tòa án họp chín phiên, vẫn quyết định đuổi Bác về Đông Dương. Luật sư Lô-dơ-bai chống án lên Hội đồng nhà vua Anh và nhờ luật sư Nô-oen Pơ-rit (Nowell’Pritt) ở Luân Đôn cãi hộ cho Nguyễn Ái Quốc.

Khoảng cuối tháng 1-1933, gần Tết Âm lịch, Hội đồng Nhà vua xóa án và ra lệnh cho phép Nguyễn Ái Quốc tự do, miễn là ra khỏi Hồng Kông.

Với sự giúp đỡ của Lô-dơ-bai và của vợ chồng Phó thống đốc Hồng Kông, Người đã rời Hồng Kông một cách an toàn. Đúng ngày 30 tháng Chạp năm Nhâm Thân (tức ngày 25-1-1933), Người đến Hạ Môn (Trung Quốc) nơi mà lãnh sự Anh và lãnh sự Pháp không có quyền can thiệp.

Tức tối vì không bắt được Nguyễn Ái Quốc, giận dữ đối với người Anh, các báo thực dân Pháp bịa đặt rằng, Nguyễn Ái Quốc mắc bệnh lao trong nhà lao Anh và đã chết (!).

Việc Nguyễn Ái Quốc thoát khỏi nhà tù của thực dân Anh là niềm vui, sự may mắn rất lớn cho cách mạng Việt Nam. Chúng ta biết rằng, tháng 11-1929, thực dân Pháp và triều đình nhà Nguyễn đã xử Nguyễn Ái Quốc vắng mặt với mức án tử hình. Chúng chỉ chờ bắt được Người là thi hành án. Thực dân Pháp cũng đã treo giải thưởng 75 ngàn đồng tiền Đông Dương (một số tiền rất lớn hồi đó) cho ai bắt được Người (1).

Thoát khỏi cảnh tù ngục, nhận lời mời của đồng chí và bầu bạn, Người đã lưu lại Hạ Môn nhiều tháng, vừa tìm cách bắt liên lạc với tổ chức, vừa tránh sự theo dõi của mật thám. Sau đó Người đi Thượng Hải.

Vào một ngày đầu xuân năm 1934, Người lên một chiếc tàu hàng Xô Viết ở Thượng Hải để đi Liên Xô. Sau khi tới cảng Vla-đi-vô-xtôc (Liên Xô), Người đến Mát-xcơ-va. Tại đây, Người đã gặp lại đông đảo đồng chí, bạn bè thân thiết trong niềm vui lớn.

XUÂN 1941: TỔ QUỐC VÀO XUÂN

Lúc còn ở Quế Lâm (năm 1940), Nguyễn Ái Quốc đã nhận định rằng thời cơ về nước đã tới. Đến cuối năm đó, Người cùng một số cán bộ Việt Nam rời Quế Lâm, đến Nam Ninh rồi đến Tỉnh Tây. Tại đây, Người đã cùng các đồng chí Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Phùng Chí Kiên… mở lớp huấn luyện cán bộ trước khi về nước. Bốn mươi ba cán bộ cách mạng Việt Nam đã theo học lớp này tại làng Nậm Quang (Tỉnh Tây, Quảng Tây, Trung Quốc). Ngày 29 tháng Chạp năm Canh Thìn (tức ngày 26-1-1941), lớp học làm lễ bế mạc dưới lá cờ đỏ sao vàng năm cánh, trong khu rừng vắng vẻ rìa làng Nậm Quang. Hôm sau, ngày mùng một Tết Tân Tỵ, Nguyễn Ái Quốc cùng với anh em cán bộ đi chúc Tết bà con dân làng Nậm Quang.

Ngày mùng Hai tháng Giêng âm lịch, giữa lúc nhân dân Nậm Quang và khắp nơi đang vui vẻ ăn Tết thì Người lên đường trở về nước, với sự tháp tùng của các đồng chí: Lê Quảng Ba, Phùng Chí Kiên và một số đồng chí khác. Đồng chí Lê Quảng Ba, trong bài viết “Bác Hồ về nước” kể: “Chúng tôi ăn cơm sớm đi chào bà con rồi lên đường”.

“Trong bộ quần áo chàm Nùng, Bác như gầy hơn. Ngước nhìn gương mặt sạm sương gió của Người, tôi thấy một dáng vẻ ung dung, điềm tĩnh rất thân quen. Tôi dẫn Bác theo những vệt đường mòn lượn giữa các nếp núi tiếp nối nhau ở vùng biên giới hướng về Cao Bằng. Bác cầm một cây gậy nhỏ, nhưng chỉ khi xuống dốc Bác mới chống. Chân Bác bước mau lẹ, dẻo như thanh niên”.

Hồi ký của T.Lan cũng kể lại tâm trạng của Nguyễn Ái Quốc lúc đó: “Xa rời Tổ quốc đã hơn 30 năm, đã mất bao nhiêu thời giờ và sức lực tìm liên lạc mà không được. Bao nhiêu năm thương nhớ đợi chờ. Hôm nay mới bước chân về nơi non sông gấm vóc của mình. Khi bước qua cái bia giới tuyến, lòng Bác vô cùng cảm động…” (2).

Sau đó ít ngày, Người đến ở hang Pắc Bó, với bí danh già Thu. Cũng trong mùa xuân này, Người đã sáng tác bài thơ tả cảnh Pắc Bó hùng vĩ:

Non xa xa, nước xa xa,
Nào phải thênh thang mới gọi là…
Đây suối Lê-nin, kia núi Mác,
Hai tay xây dựng một sơn hà.

Cũng tại đây, Người tiếp tục dịch cuốn Lịch sử Đảng Cộng sản (b) Nga ra tiếng Việt, để làm tài liệu huấn luyện đảng viên. Người cũng đã sáng tác bài thơ Tức cảnh Pắc Bó:

Sáng ra bờ suối, tối vào hang
Cháo bẹ rau măng vẫn sẵn sàng
Bàn đá chông chênh dịch sử Đảng
Cuộc đời cách mạng thật là sang.

Tháng 5-1941, Người chủ trì Hội nghị Trung ương lần thứ 8. Hội nghị đã xác định rõ nhiệm vụ giải phóng dân tộc là nhiệm vụ bức thiết của cách mạng Đông Dương. Hội nghị đã quyết định thành lập Mặt trận Dân tộc thống nhất rộng rãi, lấy tên là Việt Nam Độc lập đồng minh (gọi tắt là Việt Minh), nhằm liên hiệp hết thảy các giới đồng bào yêu nước không phân biệt giàu nghèo, già trẻ, gái trai, không phân biệt tôn giáo và xu hướng chính trị, đặng cùng nhau mưu cuộc giải phóng dân tộc và sinh tồn.

Với sự ra đời của Mặt trận Việt Minh, cách mạng Việt Nam chuyển hẳn sang một thời kỳ mới. Hơn 4 năm sau, Cách mạng Tháng Tám thành công, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Cũng chính từ đó, Tổ quốc ta bước vào một mùa Xuân mới – Xuân của độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội – từ sức xuân truyền thống của mình.

(Sưu tầm tài liệu và biên soạn theo “Chuyện xưa góp nhặt” của Nguyễn Trọng Thu – cán bộ tiền khởi nghĩa)
(1) Một tạ gạo chỉ 3 đồng
(2) T.Lan: Vừa đi đường vừa kể chuyện, NXB Sự Thật, Hà Nội, tr 73

ĐOÀN MINH TUẤN
congan.com.vn

Tết kháng chiến

Năm 1947, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta bước sang năm thứ hai. Trong ngày Tết cổ truyền của dân tộc năm ấy, Bác Hồ kính yêu vẫn làm việc như mọi ngày và vẫn ăn ngày hai bữa cơm độn sắn như những bữa bình thường của một gia đình nông dân nghèo Việt Nam.

Đêm cuối năm, trời se se lạnh, mưa phùn không ngớt. Sáng ngày 30 Tết, Bác vẫn tranh thủ thời gian ngồi đọc tài liệu. Buổi chiều Bác đi họp Hội đồng Chính phủ. Sau khi họp xong, Bác lên ô tô đi đến Đài phát thanh để kịp đọc lời chúc mừng năm mới gửi đồng bào, chiến sĩ cả nước và kiều bào ta ở nước ngoài.

Lúc bấy giờ, Đài Tiếng nói Việt Nam sơ tán về ở chùa Trầm thuộc tỉnh Hà Đông (nay là thành phố Hà Nội). Trời tối, gió rét, đường lầy lội, nhưng không quản vất vả, khó khăn Bác vẫn quyết tâm đi đến Đài kịp trước giao thừa. Có lúc xe của Bác bánh bị ngập bùn quá nửa, đi không được, phải xuống đẩy.

Đến gần 12 giờ đêm, trong lúc mọi nhà chuẩn bị đón giao thừa, mừng năm mới, đang quây quần sum họp bên bàn thờ tổ tiên, thì Bác cũng vừa đi đến Đài phát thanh. Bác vui vẻ thăm hỏi mọi người rồi đi thẳng đến Đài đọc lời chúc mừng năm mới. Giọng của Bác âm vang, qua làn sóng điện của Đài Tiếng nói Việt Nam được truyền đến mọi nhà, mọi người.

Sau khi đọc xong, Bác Hồ lên xe trở về nhà. Xe chạy được một quãng cách chỗ ở 2 km thì bị tụt xuống hố, không chạy được nữa. Bác và anh em cùng nhau phải đi bộ dưới trời mua rét của đêm 30 Tết năm ấy.

Đến gần 3 giờ sáng, ngày mồng 1 Tết, Bác mới về đến nơi ở. Lúc bấy giờ thôn xóm đã im lìm trong đêm đầu năm.

Rửa chân tay xong, Bác cùng đồng chí giúp việc chưa đi ngủ mà còn giở cuốn sách của một nhà văn nổi tiếng của Pháp ra đọc.

Khoảng gần 5 giờ sáng ngày mồng một, lúc thôn xóm còn tĩnh mịch đã lên đèn, khói bếp các nhà đã lan tỏa, hòa vào sương sớm, Bác Hồ mới tắt đèn để lên giường nghỉ.

Đến 6 giờ 30 phút sáng, Bác lại trở đậy để làm việc như thường ngày.

Cổng TT-GTĐT sưu tầm
vinhphuc.gov.vn

Tết đầu tiên sau 30 năm xa Tổ quốc

Năm 1941, sau 30 năm trời xa Tổ quốc để tìm đường cứu nước, giải phóng đồng bào, Bác Hồ bí mật trở về Pắc Bó (Cao Bằng) để trực tiếp cùng Trung ương Đảng lãnh đạo cuộc đấu tranh giành độc lập cho dân tộc.

Bác Hồ về nước (28/1/1941)

Bác Hồ về Pắc Bó vào một ngày gần Tết. Và có lẽ đó là một trong những Tết đáng ghi nhớ nhất trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Người. Bởi vì, đây là lần đầu tiên sau những năm tháng ở nước ngoài, Bác Hồ được đón giao thừa trên mảnh đất của Tổ quốc, tuy còn gian khổ, khó khăn, nhưng ấm tình dân tộc, nghĩa đồng bào.

Vào dịp đón xuân mới năm 1961, TLan đã viết một bài báo nhan đề: “Bác ăn Tết với chúng tôi” kể về cái Tết năm 1941 như sau:

“Lớp huấn luyện vừa xong thì cũng vừa đến ngày Tết. Nhân lúc đi lấy củi trên rừng, Bác bàn với chúng tôi (trước khi làm việc gì, Bác cũng đưa ra bàn để chúng tôi phát biểu ý kiến).

– Dù chúng ta rất ít tiền, nhưng cũng phải “nhập gia tùy tục”. Đến Tết; chúng ta nên có một cuộc chiêu đãi đơn giản để tỏ lòng biết ơn người làng đã giúp đỡ chúng ta. Các chú nghĩ thế nào?

Chúng tôi đều tán thành ý kiến của Bác.

Sáng 30 Tết, chúng tôi làm mấy mâm cơm nếp và thịt lợn mời các vị phụ lão và những người tai mắt trong làng đến chén một bữa vui vẻ.

Để khỏi chạm với phong tục mê tín của dân làng, Bác dặn chúng tôi: “Mồng một Tết các chú phải ở trong nhà, không được đi ra ngoài. Nếu các chủ nhà mời ăn Tết, thì mỗi tổ cử một vài người đi thôi…”

Chúng tôi vào làng mượn rơm, mượn ván đế tổ chức “đại bản doanh” trong hang. Bác và các anh tổ trưởng thì bàn kế hoạch công tác. Tối hôm đó, trong lúc đồng bào đang vui Tết, chúng tôi từng nhóm bí mật về các địa phương bắt đầu hoạt động.

Các anh Quảng Ba và Hoàng Sâm ở lại Pắc Bó với Bác. Chỉ trong vài tuần chúng tôi đã xây dựng được một số cơ sở Việt Minh và trở về Pắc Bó báo cáo xin kế hoạch mới.

Từ đó, phong trào phát triển rất nhanh, chẳng bao lâu tổ chức Việt Minh đã xây dựng được nhiều căn cứ vững chắc của cách mạng. Cách một năm sau, tổ chức Việt Minh đã có khắp tỉnh Cao Bằng và lan đến các tỉnh lân cận. Chúng tôi lại được ăn Tết với Bác ở Pắc Bó, một cái Tết rất là vui vẻ.

Cổng TT-GTĐT sưu tầm
vinhphuc.gov.vn

Nhớ bài thơ chúc Tết Mậu Thân 1968 của Bác Hồ

(VOH) – Trong không khí ấm áp, hân hoan chào đón Tết cổ truyền dân tộc – Xuân Quý Tỵ 2013 cũng là thời điểm toàn Đảng, toàn dân kỷ niệm 45 năm Tết Mậu Thân 1968, quân và dân miền Nam đồng loạt tấn công Mỹ nguỵ ở các đô thị trong vùng bị địch còn tạm chiếm. Nhớ lại cách đây 45 năm trong đêm giao thừa, Chủ tịch Hồ Chí Minh chúc Tết đồng bào chiến sĩ cả nước bằng bốn câu thơ:

Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua
Thắng trận tin vui khắp nước nhà
Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ
Tiến lên! Toàn thắng ắt về ta

Bác Hồ đọc thơ chúc tết. (ảnh tư liệu)

Sau lời chúc Tết, Đài Tiếng nói Việt Nam kịp thời đưa tin đồng bào, chiến sĩ miền Nam mở đợt tấn công vào kẻ thù ở nhiều nơi…Đồng chí Vũ Kỳ – thư ký riêng của Bác kể lại rằng, Bác đã chuẩn bị thư chúc Tết Mậu Thân 1968 từ độ ba tháng trước. Sáng chủ nhật 31/12/1967, Bác ra Phủ Chủ tịch để đọc ghi âm thư chúc Tết. Chị Trần Thị Tuyết ngâm bài thơ chúc tết vừa để Bác nghe, vừa để ghi âm phát lúc giao thừa. Sáng ngày 01/01/1968, Bác gửi Thư chúc mừng năm mới tới toàn thể cán bộ và đảng viên cả nước. Trong thư, Bác gửi lời chúc mừng đến các nước XHCN anh em, các nước bầu bạn và nhân dân toàn thế giới, kể cả nhân dân tiến bộ Mỹ, đã nhiệt liệt ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân ta; chúc kiều bào ta ở nước ngoài, năm mới cố gắng mới, tiến bộ mới!. Đối với đồng bào và chiến sĩ cả nước luôn khăc ghi mãi lời Bác, Đại tá Đặng Xuân Tẻo, nguyên Chính trị viên Đội 4 – biệt động Sài gòn – đơn vị được giao nhiệm vụ đánh chiếm Đài Phát thanh Sài gòn năm 1968 nhớ lại:

Khi ấy Bác đang nghe qua Đài Tiếng nói VN,và khi đài phát xong câu cuối Tiến lên! Toàn thắng ắt về ta!, Bác nói khẽ: Giờ này, miền Nam đang nổ súng! Và Bác đã chỉ ra kẻ thù số một của dân tộc Lạc Hồng là đế quốc Mỹ trong khi chúng cố đưa quân ào ạt vào miền Nam, đánh phá bằng không quân ra miền Bắc XHCN…

Nếu mừng xuân của Bác trong năm 1968 là lời chúc đầu năm mới mang tính khẳng định lại nét truyền thống trên chiến trường chống Mỹ, Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua; thì đến tháng 3 năm 1968 Bác viết bài Không đề với tâm trạng rạo rực tin vui của một thi nhân.

Vì độc lập, vì tự do
Đánh cho Mỹ cút, đánh cho nguỵ nhào
Tiến lên !Chiến sỹ đồng bào
Bắc Nam sum họp Xuân nào vui hơn…..

Những bài thơ chúc Tết của Bác Hồ trong mỗi dịp Tết đều toát lên tư tưởng chỉ đạo của Đảng ta trong một giai đoạn lịch sử, đặc biệt là năm Bác mừng xuân mới. Những vần thơ trong thư chúc Tết, được Bác tổng quát hoá tư tưởng lớn với ngôn ngữ giản dị, trong sáng tiếng Việt. Bà Lê Thị Thanh Hải, nguyên Phó Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh – người chuyên nghiên cứu về cuộc đời và sự nghiệp Hồ Chí Minh bày tỏ suy nghĩ của mình :

Lời thơ chúc Tết của Bác đồng thời cũng là hiệu lệnh mở đầu cuộc tiến công và nổi dậy và truyền đi khắp mọi miền đất nước. Tinh thần mạnh mẽ của cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 của quân và dân ta buộc Mỹ phải xuống thang chiến tranh, chấm dứt ném bom và đánh phá miền Bắc, thừa nhận chính thức Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, ngồi vào bàn đàm phán Paris để giải quyết chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam..Xuân Quý Tỵ 2013 đã đến, hòa chung không khí đón xuân mới và kỷ niệm 45 năm cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, chúng ta được sống lại không khí hào hùng của dân tộc “Tiến lên! Toàn thắng ắt về ta” trong cuộc đấu tranh chống Mỹ cứu nước; đồng bào và chiến sỹ ta lại được tận hưởng tư tưởng, tình cảm cao đẹp của Bác Hồ yêu nước, yêu dân, tin dân, tin cách mạng, tin vào thắng lợi qua những vần thơ Tết Xuân Mậu Thân, cho ta soi mình vào tâm đức tổ tiên, và ra sức học tập và làm theo tấm gương phong cách, đạo đức của Người. Đây chính là suy nghĩ của ông Kiều Bình Chung, Phó Bí thư thường trực quận ủy Tân Bình khi nghĩ về bài thơ chúc Tết Mậu thân 1968 của Bác kính yêu :

Thành Sang
voh.com.vn

Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Nhân dịp đón xuân Quý Tỵ – 2013, sáng ngày 10/2/2013 (tức sáng mùng Một Tết), Thượng tướng Đỗ Bá Tỵ – Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam và đồng chí Trung tướng Mai Quang Phấn – Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam đã vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh, thắp hương tưởng niệm Người tại Nhà T67 (nơi Bác Hồ đã sống những ngày cuối cùng trong cuộc đời) và tới thăm, chúc Tết tại Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Thuong tuong tang quaThượng tướng Đỗ Bá Tỵ – Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam thăm và chúc Tết đơn vị

Sau khi nghe lãnh đạo, thủ trưởng Bộ Tư lệnh báo cáo công tác chuẩn bị cũng như việc triển khai các công việc phục vụ việc đón Tết, Thượng tướng Đỗ Bá Tỵ đã biểu dương tinh thần chủ động, sáng tạo của đơn vị trong việc bảo đảm an ninh, an toàn cho công trình Lăng cũng như đồng bào, khách quốc tế tới viếng Bác và du xuân tại khu vực Quảng trường Ba Đình. Đồng thời, phối hợp có hiệu quả với các cơ quan, ban, ngành có liên quan tổ chức các hoạt động văn hóa, nghệ thuật phục vụ nhân dân tại các tuyến phố đi bộ xung quanh Lăng Bác. Nhân dịp đầu xuân, Thượng tướng Đỗ Bá Tỵ và Trung tướng Mai Quang Phấn chúc cán bộ, công nhân viên, chiến sỹ Bộ Tư lệnh sức khỏe, hạnh phúc, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị đặc biệt mà Đảng, Nhà nước, Quân đội và nhân dân đã tin tưởng giao cho.

Mai quang phan chuc tetTrung tướng Mai Quang Phấn – Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam đã vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Thuong tuong vieng bacThượng tướng Đỗ Bá Tỵ cùng các đại biểu vào Lăng viếng Bác dịp đầu xuân mới

Cũng vào sáng ngày mùng Một Tết, Bộ Tư lệnh đã đón tiếp tận tình, chu đáo hơn 5000 lượt đồng bào và khách quốc tế đến dâng hương tưởng niệm và vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh./.

Nguyễn Văn Vượng
bqllang.gov.vn

Thơ chúc Tết của Bác – quà quý đầu xuân

(Chinhphu.vn) – Đã từ lâu, lặng đi trong thời khắc Giao thừa để lắng nghe thơ chúc Tết của Bác Hồ đã trở thành tục lệ của đồng bào ta. Từ các cụ già râu tóc bạc phơ đến bầy em nhỏ, tất cả đều cảm thấy lòng lắng dịu khi nghe giọng nói ấm áp, thiết tha của Người đọc thơ chúc Tết.

Ảnh tư liệu

Và cả khi Người không còn nữa, Tết đến mọi nhà vẫn ước mong:

Bác ơi!
Tết đến. Giao thừa đó
Vẫn đón nghe thơ Bác mọi lần
Ríu rít đàn em vui pháo nổ
Tưởng nghìn tay Bác vỗ sang xuân …
(Tố Hữu)

Đúng vậy, có một món quà luôn được Chủ tịch Hồ Chí Minh dành tặng đồng bào mình vào mỗi dịp Tết cổ truyền, đó là những bài thơ chúc Tết giản dị nhưng rất đỗi thân thương của Người. Có lẽ Người là vị lãnh tụ của một đất nước duy nhất trên thế giới thường xuyên có thơ Xuân, thơ chúc Tết vào mỗi dịp Tết cổ truyền của dân tộc.

Kể từ bài thơ chúc Tết đầu tiên khi Người trở về nước sau nhiều năm bôn ba tìm đường cứu nước năm 1942 cho đến lúc ra đi, Người đã viết hơn 20 bài thơ chúc Tết. Dễ nhớ, dễ thuộc là điều dễ nhận thấy trong các bài thơ chúc Tết của Người, nhưng điều khiến cho mỗi bài thơ Tết của Bác trở nên đặc biệt hơn những lời chúc Tết thông thường là bởi đó không chỉ là tấm lòng của Bác với nhân dân, đất nước mà còn là lời hiệu triệu, cổ vũ, động viên và cả sự tiên đoán thần kỳ tiền đồ tươi sáng của cách mạng. Mỗi bài thơ không chỉ là sự tổng kết thành quả của cách mạng trong năm cũ mà còn là chỉ dẫn cho những chặng đường tiếp theo của cách mạng.

Một nhà cách mạng Cuba đã từng nói: Bác Hồ lãnh đạo cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam chính bằng thơ.

Trong 24 năm làm Chủ tịch nước, thường trước Tết 3 tháng, Bác đã nhắc nhở các cơ quan, các ngành chuẩn bị Tết cho dân. Riêng Bác cũng chuẩn bị từ rất sớm: tìm ý thơ cho bài thơ mừng năm mới. Những bản thảo còn lưu giữ tại Bảo tàng Hồ Chí Minh cho thấy, viết mỗi bài thơ Người cũng dày công và kỹ lưỡng như thế nào. Có thể vì thế, những bài thơ chúc Tết của Người luôn vượt qua khuôn khổ những bài thơ chúc Tết đơn thuần.

Cách mạng tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, tổng tuyển cử bầu Quốc hội khóa đầu tiên… một loạt các sự kiện ghi dấu son lịch sử đã mang đến cho nhân dân cả nước một mùa xuân đầy hào khí của bài ca thắng lợi. Trong cái Tết đặc biệt này, Bác Hồ đã viết 3 bài thơ Xuân chúc Tết đồng bào và chiến sĩ cả nước, đó là các bài: Chúc Tết Bính Tuất – 1946,Mừng báo Quốc gia và Gửi chị em phụ nữ xuân Bính Tuất.

Lần đầu tiên nhân dân cả nước được hưởng một mùa xuân mới sau bao nhiêu năm đất nước chìm trong đêm trường nô lệ. Bác khẳng định:

Tết này mới thực Tết dân ta
Mấy chữ chào mừng báo Quốc gia
Độc lập đầy vơi ba chén rượu
Tự do vàng đỏ một rừng hoa
Mọi nhà vui đón Xuân Dân chủ
Cả nước hoan nghênh phúc Cộng hòa.

Từ năm 1945 đến năm 1954, thời kỳ “Toàn quốc kháng chiến – toàn diện kháng chiến”, trong mỗi bài thơ chúc Tết của Bác, chúng ta đều như nhìn thấy, nghe thấy diễn biến của cuộc kháng chiến 9 năm trường kỳ, tràn đầy hào khí của dân tộc. Điều này có thể nhận thấy được ở thơ chúc Tết xuân Đinh Hợi – 1947:

Cờ đỏ sao vàng tung bay trước gió
Tiếng kèn kháng chiến vang dậy non sông
Toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến
Chí ta đã quyết, lòng ta đã đồng
Tiến lên chiến sĩ! Tiến lên đồng bào!
Sức ta đã mạnh, người ta đã đông
Trường kỳ kháng chiến, nhất định thắng lợi!
Thống nhất độc lập, nhất định thành công!

Giữa năm 1967, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta xuất hiện tình thế mới, có lợi cho ta. Tháng 12/1967, Bác Hồ chủ tọa cuộc họp Bộ Chính trị, phân tích tình hình, quyết định mở đợt tổng công kích, tổng khởi nghĩa Tết Mậu Thân 1968, để giành thắng lợi quyết định.

Ảnh tư liệu

Năm 1968, Bác Hồ viết nhiều thơ xuân nhất. Điều đặc biệt là chùm thơ xuân gồm 6 bài được viết ở những thời khắc khác nhau, với những nội dung và cách biểu đạt khác nhau, nhưng tất cả đều khởi nguồn từ niềm tin và niềm vui chiến thắng của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968.

Chiến công nối tiếp chiến công. Tin thắng trận từ khắp các chiến trường miền Nam dồn dập báo về chính là nguồn thi hứng dạt dào với Người. Giữa mùa Xuân chiến thắng ấy, Người mượn cớ đã lâu không làm thơ, đọc cho đồng chí Vũ Kỳ, là thư ký của Người, chép bài thơ Không đề gửi một đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng:

Đã lâu chưa làm bài thơ nào
Đến nay thử làm xem ra sao
Lục mãi giấy tờ vẫn chưa thấy
Bỗng nghe vần thắng vút lên cao.

Chỉ một vần “thắng”, mãnh liệt và truyền cảm, câu thơ đã đem đến niềm xúc động cho bao người, những người chiến sĩ, những đồng bào đang một lòng hướng tới miền Nam thân yêu, ruột thịt.

Vần “thắng” của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 của quân và dân ta đã buộc Mỹ phải xuống thang chiến tranh, chấm dứt ném bom và đánh phá miền Bắc, thừa nhận chính thức Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, ngồi vào bàn đàm phán Paris để giải quyết chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam.

Năm 1969, sức khỏe Bác giảm sút nhiều nhưng Bác vẫn làm thơ chúc Tết và cũng là bài thơ chúc Tết Bác tự đọc – món quà cuối cùng cũng là lời tiên đoán thần kỳ về con đường giải phóng đất nước trước lúc Bác đi xa.

Hơn 6 năm sau bài thơ Chúc Tết năm 1969, ngày 30/4/1975, những lời tiên đoán của Bác về một mùa Xuân đại thắng đã trở thành sự thật. Thành quả cuối cùng của sự nghiệp giải phóng dân tộc đã không nằm ngoài sự tiên đoán trong bài thơ chúc Tết cuối cùng của Người, đó là khi Bắc Nam sum họp xuân nào vui hơn!

Nguyễn Chiến
chinhphu.vn

Thơ Bác gọi xuân sang

Đồng chí Vũ Kỳ, thư ký của Bác Hồ đã viết: “Từ ngày đất nước có Cụ Hồ làm Chủ tịch, dân tộc Việt Nam có thêm một phong tục mới, mỗi lần Xuân đến. Đó là giao thừa đón nghe lời Bác đọc Thơ Xuân!”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh làm việc tại Phủ Chủ tịch, Hà Nội.Chủ tịch Hồ Chí Minh làm việc tại Phủ Chủ tịch, Hà Nội.

Từ xưa, trong truyền thống văn hoá của dân tộc mình, mỗi dịp tiễn đưa năm cũ, đón chào năm mới, các cụ ta thường làm thơ khai bút, hoặc viết những bài thơ, những câu đối để mừng Xuân, đón Tết!

Việt Nam là một dân tộc yêu thơ ca. Những đỉnh cao văn hoá của chúng ta cũng là những tác phẩm của các nhà thơ nổi tiếng: Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Đình Chiểu… Nhà thơ Huy Cận đã viết: “Tháng ngày con mẹ lớn khôn. Yêu thơ, thơ kể lại hồn ông cha”. Thơ ca là tâm hồn dân tộc, và Bác Hồ kính yêu của chúng ta là người đã phát huy truyền thống văn hoá ấy, sáng tạo ra một loại thơ Chúc Tết, sáng tạo ra một phong tục mới đầy thi vị, gắn bó cả dân tộc trong giờ phút đón chào năm mới!

Chúc mừng năm mới, có lẽ là phong tục tập quán của nhiều dân tộc. Nhưng chúc mừng năm mới bằng một bài thơ, đó là nét độc đáo của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Trong giờ phút giao thừa thiêng liêng, năm cũ đã qua, năm mới đang đến, đất trời giao cảm, muôn vật như ngưng đọng lại trong giây phút, trong lòng mỗi người như cũng đang chờ đón những điều tốt lành, những ước mơ, hy vọng. Ai cũng mong muốn cho gia đình mình, cho đất nước mình, năm mới cố gắng mới, thắng lợi mới, mong muốn cho xuân này hơn hẳn những xuân qua. Thì chính trong cái giờ phút rạo rực, thiêng liêng ấy, nhân dân cả nước ta lại hồi hộp đón chờ và sung sướng lắng nghe lời thơ của Bác chúc Tết đồng bào.

Thơ Chúc Tết của Bác Hồ thường ngắn gọn, súc tích, mang phong vị của thể thơ truyền thống. Bác tổng kết những thắng lợi của năm cũ và nêu lên nhiệm vụ của năm mới, tuy vậy những bài thơ Chúc Tết thường cũng chỉ có từ 4 đến 10 dòng. Bác viết bằng một thứ ngôn ngữ giản dị, dễ hiểu, dễ nhớ, song vẫn chan chứa những ý thơ và tràn đầy những cảm hứng lớn lao của lịch sử.

Mùa xuân 1941, Bác Hồ trở về Pác Bó trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Và bài thơ “Mừng Xuân 1942” chính là bài thơ mở đầu cho những bài thơ Chúc Tết của Bác Hồ. Dấu ấn lịch sử của một thời còn ghi lại trong những vần thơ, hình ảnh cờ đỏ sao vàng và Việt Minh lần đầu xuất hiện trong thơ Bác: “… Chúc đồng bào ta đoàn kết mau. Chúc Việt Minh ta càng tiến tới. Chúc toàn quốc ta trong năm nay. Cờ đỏ sao vàng bay phấp phới”.

Đến nay, Bác còn để lại cho chúng ta tất cả 22 bài thơ Chúc Tết. Bài nào Bác cũng chỉ viết từ 4 đến 10 câu. Nhân đón Xuân Quý Tỵ năm 2013, chúng ta cùng nhau đọc lại hai bài thơ Chúc Tết Năm Tỵ của Bác.

 Thơ Chúc Tết  Xuân Quý Tỵ 1953

Mừng năm Thìn vừa qua
Mừng Xuân Tỵ đã tới
Mừng phát động nông dân
Mừng hậu phương phấn khởi
Mừng tiền tuyến toàn quân
Thi đua chiến thắng mới
Mừng toàn dân kết đoàn
Mừng kháng chiến thắng lợi
Mừng năm mới nhiệm vụ mới
Mừng toàn thể chiến sĩ và đồng bào
Mừng phe dân chủ hoà bình thế giới  

                                         Hồ Chí Minh

Thơ Chúc Tết Xuân Ất Tỵ 1965

Chào mừng Ất Tỵ Xuân năm mới
Nhà nước ta vừa tuổi hai mươi
Miền Bắc xây dựng đời sống mới vui tươi
Miền Nam kháng chiến ngày càng tiến tới
Đồng bào hai miền thi đua sôi nổi
Đấu tranh anh dũng cả nước một lòng
Chủ nghĩa xã hội ngày càng thắng lợi
Hoà bình Thống nhất ắt hẳn thành công

                                                   Hồ Chí Minh

Những bài thơ Chúc Tết của Bác là tình cảm của Người gửi đến toàn dân. Đây cũng là những lời dặn dò, những ước mong của Bác trong không khí thiêng liêng của một năm mới đang đến. Và đó cũng chính là phong cách Hồ Chí Minh giản dị mà gần gũi, yêu dân và trọng dân. Người luôn đến với chúng ta trong mỗi căn nhà, trong mỗi trái tim Việt Nam.

Ăng-ghen đã nói: “Lịch sử là một nhà thơ lớn nhất”. Và nếu chúng ta đem xếp thứ tự những bài thơ Chúc Tết của Bác Hồ lại, thì đó cũng chính là một biên niên sử quan trọng nhất của Cách mạng Việt Nam.

Trong bài “Việt Nam mãi mãi có Người”, một nhà báo nước ngoài đã viết: “Tình yêu của nhân dân đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh sâu xa vô tận, và chúng ta có thể cảm thấy điều đó ở từng người Việt Nam”.

Mối liên hệ giữa Chủ tịch Hồ Chí Minh với đất nước và đồng bào của mình là một mối liên hệ đặc biệt. Đó chính là niềm tin tưởng sắt đá, lòng biết ơn vô hạn, là sự kính trọng… nhưng trên tất cả, Bác Hồ là người Bác, người Ông thân thiết nhất của tất cả chúng ta!.

Nhà thơ Vũ Cao đã viết:

“Cho con ước tự bây giờ
Mỗi năm vào buổi giao thừa mỗi năm
Bác về cùng với nhân dân
Đọc Thơ Tết lấy một lần, hãy đi!”
Giờ phút Giao thừa đã đến!
Mừng năm Thìn vừa qua
Mừng Xuân Tỵ đã tới…

Chúng ta cảm thấy như Bác đang đọc Thơ Chúc mừng Năm Mới của Mùa Xuân này và Người lại đang cùng với nhân dân đi trồng cây làm cho đất nước càng ngày càng Xuân!

Bùi Công Bính
baonamdinh.com.vn

Những đêm giao thừa Bác đến với người nghèo

Xuân Tân Tỵ, năm 1941, Bác mới được đặt chân trở về giữa lòng Tổ quốc thân yêu sau đúng 30 năm trời ra đi tìm đường cứu nước (1911-1941). Hành trang theo Bác trở về vẻn vẹn chỉ có một chiếc va ly xách tay bằng mây, trong đựng hai bộ quần áo đã cũ và tập tài liệu Con đường giải phóng tập hợp những bài giảng trong lớp huấn luyện ở Nậm Quang (Quảng Tây, Trung Quốc) do Bác phụ trách vừa mới kết thúc trước Tết mấy hôm.

Tấm thiệp chúc tết cuối cùng của Bác Hồ

Mùa Xuân năm ấy, từ hang Pác Bó đã ra đời một bài thơ xuân tuyệt đẹp của Bác Hồ:

“Non xa xa, nước xa xa
Nào phải thênh thang mới gọi là
Đây suối Lênin, kia núi Mác
Hai tay xây dựng một sơn hà”

Chỉ hơn bốn năm sau, ngày 2-9-1945, sơn hà của Tổ quốc đã được thu về một mối, từ Lạng Sơn đến mũi Cà Mau. Hồ Chí Minh trở thành vị Chủ tịch đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Và mùa Xuân độc lập đầu tiên, Xuân Bính Tuất năm 1946 đã trở về trên toàn cõi đất nước với một sắc màu khác lạ làm gợi nhớ đến một thời Nghiêu Thuấn xa xưa. Vào thời khắc mọi gia đình quây quần bên nhau chuẩn bị đón giao thừa thì vị Chủ tịch nước xắn quần, bước thấp bước cao đến các ngõ hẻm ở phố Sinh Từ, phố Hàng Lọng… để được chính mắt nhìn thấy cảnh Tết vừa, Tết nghèo của bà con lao động Hà Nội mới vừa thoát khỏi ách thực dân phong kiến.

Chính trong cuộc “vi hành” đêm Ba mươi Tết của mùa Xuân độc lập đầu tiên đó, Bác Hồ đã chứng kiến cảnh gia đình một người đạp xích lô “Tết mà không có Tết” ngoài một nén hương đang cháy dở trên bàn, còn chủ nhà thì đang đắp chiếu nằm mê mệt vì ốm. Bác đã xúc động lấy khăn lau nước mắt, lặng lẽ bước ra khỏi nhà, bảo đồng chí thư ký ghi lại địa chỉ để hôm sau báo cáo cho đồng chí Chủ tịch Hà Nội biết.

Cũng đêm Ba mươi Tết Bính Tuất đó, đúng giờ giao thừa, khi Đài Tiếng nói Việt Nam truyền khi khắp đất nước lời chúc mừng năm mới của Chủ tịch Hồ Chí Minh, thì chính Người lại đang vui Xuân cùng nhân dân ở đền Ngọc Sơn, trong vai một cụ già cùng cháu đi hái lộc.

Lần đầu tiên nhân dân Hà Nội, nhân dân cả nước, được hưởng một mùa Xuân mới mẻ, giao thừa nghe đọc thư chúc Tết của Bác Hồ:

“Hỡi đồng bào cả nước!

Hôm nay là mùng một Tết năm Bính Tuất, ngày Tết đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Tôi thay mặt Chính phủ chúc đồng bào năm mới muôn sự tốt lành” .

Cuối thư là một bài thơ ngắn:

“Trong năm Bính Tuất mới
Muôn việc đều tiến tới
Kiến quốc chóng thành công
Kháng chiến mau thắng lợi”

Kể từ mùa Xuân đầu tiên đó, suốt 24 năm làm Chủ tịch nước, mỗi lần Tết đến, Xuân về, Bác lại nghĩ đến dân, lo sao cho dân có một mùa xuân ấm no, hạnh phúc. Thường thì trước Tết ba tháng, Bác đã nhắc các cơ quan, các ngành chuẩn bị Tết cho dân. Riêng Bác cũng tự mình chuẩn bị sớm ba việc. Tìm ý thơ cho bài thơ mừng năm mới, nhắc văn phòng chuẩn bị thiếp “Chúc Mừng Năm Mới” để kịp gửi đến những nơi xa xôi nhất, kể cả bộ đội ở các vùng rừng núi, hải đảo xa xôi và cán bộ công tác ở nước ngoài.

Và cuối cùng là một chương trình đi thăm dân không thể thiếu đối với Bác, một chương trình riêng mà chỉ Bác và các đồng chí cảnh vệ biết.

Tối Ba mươi Tết năm 1960, Bác đến thăm gia đình mẹ con chị Tín, một lao động nghèo ở phố Hàng Chĩnh, Hà Nội. Chiều mùng hai Tết năm 1961, Bác đến Văn Miếu dự buổi bình thơ Xuân của các cụ. Mùng hai Tết năm 1962, Bác đến thăm các cháu học sinh miền Nam ở Hải Phòng. Chiều 29 Tết năm 1963, Bác cải trang thành một cụ già theo cháu đi chợ hoa và chợ Đồng Xuân… Tất cả đều bí mật bất ngờ và do đó bao giờ cũng tạo hiệu quả lớn.

Như Tết năm 1960, nếu Bác chỉ đến thăm các gia đình theo chương trình của các cơ quan đã bố trí thì làm sao Chủ tịch nước biết được gần đến giao thừa rồi mà chị Tín vẫn còn phải đi gánh nước thuê đổi gạo để sáng mai mùng một Tết có cơm ăn cho bốn đưa con của mình. Gặp Bác, chị Tín xúc động để rơi cả đôi thùng gánh nước xuống đất, run run cầm lấy bàn tay của Bác:

– Cháu không ngờ lại được Bác đến thăm…

Chỉ nói được vậy, chị đã oà lên khóc nức nở.

Vị Chủ tịch nước đã an ủi chị:

– Bác không đến thăm những gia đình như cô thì thăm ai…

Và Bác đã vào nhà thăm hỏi khá lâu năm mẹ con chị Tín. Gọi là nhà nhưng đâu có phải là nhà mà là một cái chái như một túp lều. Chồng chị Tín là công nhân khuân vác ở bến Phà Đen đã mất cách đó bốn năm, còn chị thì cho đến lúc này vẫn chưa có việc làm ổn định. Cảnh nghèo của gia đình đã phũ phàng hiện ra trước mắt Bác. Trên chiếc bàn gỗ mục chỉ có một nải chuối xanh và một gói kẹo. Đúng là “Ba mươi Tết mà không có Tết”. Cách đây 15 năm, Tết độc lập đầu tiên, Bác đã đau lòng chứng kiến cảnh một gia đình “Tết mà không có Tết” ở ngõ hẻm Sinh Từ. Đó là khi đất nước mới thoát khỏi vòng nô lệ. Còn bây giờ, kháng chiến đã thắng lợi, hoà bình đã sáu năm, mà lại còn cái cảnh này sao? Không phải ở đâu xa mà ở ngay Thủ đô Hà Nội… Vậy còn bao nhiêu gia đình như thế này ở khắp mọi miền đất nước? Cứ ngồi nghe báo cáo thì đâu cũng là no ấm, tươi vui…

Đêm ấy, trên đường về, ngồi trên xe, Bác Hồ trầm ngâm suy nghĩ. Vẻ đăm chiêu thoáng hiện trên gương mặt của Người. Bác đã từng tâm sự với các đồng chí phục vụ: “Một ngày dân chưa đủ ăn, áo chưa đủ mặc, các cháu chưa được học hành, mọi người còn khổ thì Bác ăn không ngon, ngủ không yên”.

Về đến nhà, các đồng chí Bộ Chính trị đang chờ Bác để chúc mừng năm mới. Mọi người băn khoăn khi thấy Bác không vui. Bác kể lại hoàn cảnh gia đình chị Tín cho mọi người nghe. Cuối câu chuyện Bác nói “Ta có chính quyền trong tay, nhưng chính quyền đó chưa thực sự là do dân, vì dân. Một số lãnh đạo các địa phương còn quan liêu và nặng về hình thức. Họ không chịu đi sâu, đi sát quần chúng, nên phục vụ quần chúng chưa tốt. Nếu chúng ta chỉ nghe báo cáo của họ thì sẽ không bao giờ nắm được chính xác tình hình để có chủ trương, nghị quyết đúng đắn. Đảng quan liêu, chính quyền quan liêu, thực sự là một nguy cơ đối với đất nước chúng ta.

Vũ Kỳ – Thư ký Bác Hồ kể chuyện.
Việt Nam – Hồ Chí Minh

Ngày xuân, đọc thơ xuân của Bác

(Dân trí) – Tính đến mùa xuân này là tròn 44 mùa xuân Bác Hồ mãi mãi ra đi. Và cũng có nghĩa là 44 giao thừa không còn có được sự hồi hộp chờ đợi giây phút thiêng liêng: Bác Hồ đọc thơ chúc Tết trên Đài tiếng nói Việt Nam.

(Niềm vui ngày Bắc - Nam sum họp)(Niềm vui ngày Bắc – Nam sum họp)

Ngày xuân, đọc thơ xuân của Bác

“Năm qua thắng lợi vẻ vang
Năm nay tiền tuyến chắc càng thắng to
Vì độc lập, vì tự do
Ðánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào
Tiến lên chiến sĩ đồng bào
Bắc- Nam sum họp, xuân nào vui hơn!”.

                                                  Chủ tịch Hồ Chí Minh

BLOG Người yêu thơ:

Nhớ ngày Bác chưa đi xa, cứ đúng thời khắc chuyển giao năm cũ sang năm mới, tất cả đất trời đang rộn rã tiếng pháo bỗng dưng im bặt. Trong mỗi căn nhà, mọi người như nín thở chờ đợi từ chiếc đài đường dây sau một hồi rẹt rẹt chợt lặng đi rồi bỗng cất lên tiếng cô phát thanh viên: Nhân dịp năm mới, mời đồng bào, chiến sĩ trong cả nước và kiều bào ở nước ngoài lắng nghe thơ chúc Tết của Hồ Chủ tịch. Sau đó là lời đầm ấm của Bác vang lên: Đồng bào, chiến sĩ và kiều bào ở nước ngoài thân mến! Các cháu thanh thiếu niên yêu quý…

Trong suốt cuộc đời mình, Bác đã làm tất cả 22 bài thơ chúc Tết. Có năm Bác đọc thơ sau lời chúc Tết nhưng cũng có năm Bác chúc Tết bằng thơ. Bài thơ đầu tiên là Thơ chúc Tết Xuân Nhâm Ngọ (1942), Bác đã viết: “Chúc đồng bào ta đoàn kết mau/Chúc Việt Minh ta càng tấn tới/Chúc toàn quốc ta trong năm này/Cờ đỏ ngôi sao bay phất phới!”.

Bài thơ cuối cùng Bác viết vào năm Kỷ Dậu (1969), trước lúc Người đi xa.

Nhà thơ Bùi Hoàng Tám tuyển chọn và giới thiệu.
dantri.com.vn

Bác Hồ chúc Tết những người con Đà Nẵng

Sinh thời, cứ mỗi độ Xuân về, Bác Hồ thường lặng lẽ đi thăm hoặc gửi quà Tết, thiệp Xuân đến nhiều cán bộ, nhân dân. Từng lá thư, từng cánh thiệp Xuân, từng câu đối… được Người gửi đi, như một lời động viên, khích lệ, cầu mong bao điều tốt đẹp cho mỗi người, dẫu họ là Bộ trưởng hay một thường dân. Nhân dịp Tết đến, Xuân về, chúng tôi xin giới thiệu một số thiệp chúc Tết của Bác dành cho những người con Đà Nẵng mà ít người được biết…

Chính phủ Cụ Hồ - ông Hiến (áo trắng ngồi ngoài cùng bên phải). 				Ảnh tư liệuChính phủ Cụ Hồ – ông Hiến (áo trắng ngồi ngoài cùng bên phải). Ảnh tư liệu

1. “Thân gửi ông Lê Văn Hiến!”

Tôi nhiều lần được gặp và làm việc cùng ông Phan Vịnh, anh trai ông Phan Diễn – nguyên Bí thư Thành ủy Đà Nẵng, mỗi lần gặp, ông thường nhắc đến “bố tôi” và “ba tôi”. Ông gọi “ba tôi” là để chỉ ông Phan Thanh – dân biểu danh giá nhất Trung kỳ, là cha ruột của ông và ông Diễn; “bố tôi” là để chỉ ông Lê Văn Hiến – vị Bộ trưởng Bộ Tài chính lừng danh của cách mạng Việt Nam, người chưa từng qua một trường đại học nào. Và, ông Vịnh đã cho tôi xem nhiều di vật của “bố tôi” lẫn “ba tôi”, trong đó tôi chú ý đến tấm thiệp chúc Tết của Bác Hồ dành cho Bộ trưởng Hiến vào năm 1951.

Có lần, trong một bữa ăn tối sau phiên họp Hội đồng Chính phủ, Hồ Chủ tịch có ra một câu đối vui: “Giáp phải giải Pháp”. Ông Tôn Quang Phiệt liền đối lại “Hiến tài hái tiền”. Cái hay của câu đối không chỉ ở vần, ở chữ, hai chữ đầu nói lái sẽ ra hai chữ cuối, mà còn ở chỗ nói được hai nhiệm vụ quan trọng của cách mạng lúc đó là: Bộ trưởng Quốc phòng Võ Nguyên Giáp phải “giải giáp” quân Pháp; Bộ trưởng Tài chính Lê Văn Hiến phải “hái ra tiền” cho công cuộc kháng chiến, kiến quốc! Trong suốt 12 năm liền (1946-1958), với cương vị là Bộ trưởng Tài chính, Lê Văn Hiến quả thật đã đạt được những thành quả đáng kinh ngạc cho nền tài chính non trẻ Việt Nam. Ông đã tổ chức phát hành “Giấy bạc cụ Hồ”, phát hành công phiếu kháng chiến, đẩy mạnh tăng gia sản xuất, thực hiện tiết kiệm gạo để nuôi quân… Chính ông là người có sáng kiến phát hành “Giấy bạc cụ Hồ”, đúc đồng bạc bằng vàng ròng, nhất là nêu danh bộ đội nào có chiến công oanh liệt vào serie giấy bạc đặc biệt, để phát hành trong toàn quốc… Vì vậy, nhân dịp Tết năm 1950, cụ Hồ đã gửi thiệp chúc mừng ông Hiến với nội dung sau: “Thân gửi ông Lê Văn Hiến – Bộ trưởng bộ Tài chánh. Chúc năm mới kháng chiến Thắng lợi, Tài chánh phát đạt”… Và, ông Hiến đã giữ nó như một báu vật của riêng mình. Hiện nay, Bảo tàng Hồ Chí Minh đang lưu giữ, trưng bày tấm thiệp này.

2. Thân tặng chú Lang!

Tôi có may mắn được ông Nguyễn Văn Lang (tức Lang Đen) giao phó việc viết cuốn hồi ký “Một người Việt da đen” cho ông. Chàng “trung phong của đội bóng đá Đà Nẵng” và là “danh thủ bóng đá Trung kỳ” ngày ấy, sau này tập kết ra Bắc, được Đảng giao nhiều nhiệm vụ quan trọng: Giám đốc mỏ Apatite Lào Cai, Giám đốc mỏ than Hòn Gai… Nhiều lần được gặp Bác Hồ và rất được Người yêu mến!

Về lá thư và tấm thiệp Tết mà ông Lang được Bác Hồ tặng, được ông kể lại như sau: “Ngày 23-9-1958, Bác Hồ đến thăm mỏ Apatite Lào Cai. Sau khi thăm mỏ một vòng, Bác quay sang hỏi tôi: “Sau khi Bác thăm mỏ về, cháu sẽ làm những gì?”. “Thưa Bác, hôm nay Bác sẽ gặp cán bộ, công nhân viên khu mỏ và nhân dân các dân tộc xã Cam Đường, Bác sẽ có những lời chỉ bảo, từ lời dạy của Bác, cháu sẽ phát động phong trào thi đua làm theo lời Bác để hoàn thành vượt mức kế hoạch năm 1958 này ạ!”. “Thế là tốt!”. “Đến lúc nào thì các cháu không cần mời chuyên gia nước ngoài nữa?”. “Thưa Bác, đến hết năm 1962, chúng cháu sẽ tự lực được!”. Thực hiện lời hứa với Bác, năm đó, chúng tôi vượt gấp hai lần kế hoạch được giao so với năm 1957. Tin vui đó đến với Bác, vì vậy, Tết năm 1959, Bác gửi cho chúng tôi một lá thư do Người tự tay viết: “Thân ái gửi công nhân và cán bộ Mỏ Apatite Lào Cai! Bác vui lòng khen các cô, các chú đã làm đúng lời hứa, đã thi đua hoàn thành vượt mức kế hoạch 100%. Mong các cô, các chú tiếp tục cố gắng hơn nữa, để hoàn thành và hoàn thành vượt mức kế hoạch năm nay. Bác hỏi thăm các đồng chí chuyên gia. Chúc các cô, các chú đoàn kết chặt chẽ và tiến bộ nhiều!”. Riêng tôi, Bác gửi tặng một tấm thiệp Xuân trên đó in hình một cành mai và ghi rõ “Thân tặng chú Lang! Bác Hồ”, tiếc thay tấm thiệp bị lạc mất cách đây vài năm. Đó là kỷ niệm mà tôi không bao giờ quên được!”.

Một số thiệp chúc Tết của Bác Hồ. 							     Ảnh tư liệuMột số thiệp chúc Tết của Bác Hồ. Ảnh tư liệu

3. “Tặng cháu Lý!”

Còn nhớ, sắp Tết năm 1958, một cuộc chiến truyền thông vô tiền khoáng hậu đã nổ ra giữa chính quyền Hà Nội và chính quyền Ngô Đình Diệm, xung quanh việc chính quyền Diệm sử dụng những nhục hình thời trung cổ “điện giật, dùi đâm, dao cắt, lửa nung” đối với Trần Thị Lý.

Từ khi được giải thoát và đưa ra Hà Nội, Trần Thị Lý rất nhiều lần được gặp Bác Hồ. Tình cảm của Bác dành cho nữ Anh hùng Trần Thị Lý thì nhiều người đã biết song qua từng tấm thiệp Xuân mà Người “gửi cháu Lý”, được chị nâng niu như báu vật thì ít người biết đến. Trước khi qua đời tại Đà Nẵng, một lần chị Lý đã xúc động kể cho chúng tôi: “Tôi còn nhớ chiều Xuân 1968, tôi được vào thăm Bác. Các chú cho tôi đến trước giờ hẹn, Bác đang làm việc trên một chiếc bàn đơn sơ. Tôi rón rén lại, Bác bảo: “Lý đó à? Cháu chờ Bác làm việc xong, một lát thôi!”. Tôi thưa với Bác: “Thưa Bác, Bác làm việc nhiều quá. Tuổi Bác ngày càng cao, Bác giữ gìn sức khỏe để vào thăm đồng bào miền Nam!”. Bác xúc động nói: “Bác phải làm việc nhiều thì miền Nam mới mau thống nhất, Bác sẽ vui nhiều, khỏe nhiều!”. Lần gặp đó, tôi lại được Bác tặng chiếc thiệp Xuân này!”. Đó là tấm thiệp Xuân năm 1968 có in bài thơ “Xuân này, hơn hẳn mấy Xuân qua…”. Hiện nay, tại nhà riêng của chị Lý, còn lưu giữ 3 tấm thiệp chúc Tết của Bác Hồ dành cho chị vào các Tết 1967, 1968 và 1969.

Từ hiện thực cuộc sống hôm nay, từ những cánh thiệp Xuân, cùng phong cách bình dị, xuất phát từ trái tim và nhân cách lớn như Bác Hồ tặng cho những người con Đà Nẵng, mới hay rằng: Có một cách chúc Tết vừa đậm đà tính dân tộc, vừa thể hiện trọn vẹn tình yêu thương, sự giản dị, nghĩa tình sâu sắc của một nguyên thủ quốc gia dành cho mọi người.

LƯU ANH RÔ
baodanang.vn