Tag Archive | Văn hóa – Xã hội

Tìm thấy 33 hài cốt liệt sĩ tại hố chôn ở Quảng Ngãi

Quả lựu đạn này được tìm thấy lẫn trong những hài cốt liệt sĩ. (Ảnh: tuoitre)

Sau 2 ngày khai quật hố chôn liệt sĩ tập thể tại tổ 9, phường Trần Phú, ngày 3/12, lực lượng tìm kiếm của Ủy ban Nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi và Ban chỉ huy quân sự thành phố đã tìm thấy 33 hài cốt liệt sĩ.

Ông Nguyễn Mạnh Hùng, Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân thành phố Quảng Ngãi cho biết, qua xác minh thông tin và các hiện vật tìm thấy như võng dù, biđông đựng nước, lựu đạn, dép caosu, gương, lược, các di ảnh…các cơ quan chức năng đã xác nhận đây là các chiến sĩ thuộc Đại đội đặc công 506A thuộc Tỉnh đội Quảng Ngãi, hy sinh khi đánh vào nhà lao Quảng Ngãi Tết Mậu Thân năm 1968.

Sau khi các chiến sĩ hy sinh, địch đã gom xác lại và lấp vào hố chôn chung này.

Hiện các ngành chức năng của tỉnh, Ủy ban Nhân dân thành phố và Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh đã làm báo cáo gửi Quân khu V; đồng thời đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng để nhân dân trong và ngoài tỉnh biết, có thể liên lạc tìm thân nhân đã hy sinh trong trận đánh Tết Mậu Thân 1968.

Cả 33 hài cốt liệt sĩ được đưa về Nhà tang lễ để nhân dân đến dâng hương tưởng niệm.

Dự kiến lễ truy điệu và an táng sẽ được tổ chức vào ngày 5/12./.

(TTXVN/Vietnam+)
vietnamplus.vn

TP.HCM xây khu tưởng niệm liệt sỹ Tết Mậu Thân 1968

Lễ khởi công xây dựng Khu tưởng niệm liệt sĩ Tết Mậu Thân 1968. (Ảnh: Thế Anh/TTXVN)

Ngày 1/2, Ủy ban Nhân dân huyện Bình Chánh và Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thành phố Hồ Chí Minh đã tổ chức khởi công xây dựng Khu tưởng niệm liệt sỹ Tết Mậu Thân 1968 nhân dịp kỷ niệm 45 năm cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1968.

Khu tưởng niệm có tổng diện tích 12 hecta tại xã Tân Nhựt, tổng kinh phí đầu tư xây dựng là 260 tỷ đồng, trong đó phần hạ tầng kỹ thuật là 130 tỷ đồng. Công trình gồm 13 hạng mục với các khối công trình chính gồm cổng tam quan, tượng đài chiến thắng kết hợp với nhà bảo tàng, tường vẽ tranh chiến thắng, nhà bia.

Ông Kiều Ngươn Toàn, Phó giám đốc Ban quản lý Đầu tư xây dựng công trình huyện Bình Chánh, cho biết: Nhà bia là được xem là điểm nhấn của toàn Khu tưởng niệm với thiết kế hình ngũ giác có diện tích 530m2 tượng trưng cho tinh thần tiến công và nổi dậy của quân ta từ 5 hướng và đặt quanh đài chiến thắng.

Về hình thức kiến trúc, các công trình trong Khu tưởng niệm được thiết kế mang tính đồng bộ và thống nhất theo hình thức kiến trúc đình truyền thống Nam bộ, có thể được cách điệu phù hợp với tính năng và kết cấu từng công trình. Tất cả đều thể hiện sự trang nghiêm và gần gũi với nhân dân. Ngoài ra, công trình còn có các khu chào cờ, tổ chức lễ, khu vui chơi giải trí, khu điều hành, sân khấu ngoài trời, nhà nghỉ.

Theo Ủy ban Nhân dân huyện Bình Chánh, công trình thể hiện sâu sắc tinh thần “Uống nước nhớ nguồn” của quân và dân Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng và cả nước nói chung tri ân những người đã ngã xuống giành độc lập tự do cho dân tộc. Khi hoàn thành sẽ là địa chỉ đỏ, về nguồn của nhiều thế hệ người Việt Nam nhằm giữ gìn, phát huy truyền thống đấu tranh anh dũng của cha anh.

Công trình này cũng sẽ góp phần xây dựng môi trường văn hóa, thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội của nhân dân trên địa bàn xã Tân Nhựt, một xã anh hùng trong kháng chiến chống Mỹ./.

Hoàng Anh Tuấn (TTXVN)
vietnamplus.vn

Chuyện cô gái mồ côi tham gia biệt động Sài Gòn

Ảnh chỉ mang tính minh họa. (Nguồn: Báo ảnh Việt Nam)

Tìm đến căn nhà nhỏ trên đường Hưng Phú, quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh vào những ngày tháng 4 này, chúng tôi gặp bà Nguyễn Thị Bích Nga, cựu chiến sĩ biệt động Sài Gòn, giờ là thành viên Ban chủ nhiệm Câu lạc bộ Biệt động khu Sài Gòn-Gia Định.

Nhìn dáng bà nhỏ nhắn, chúng tôi không khỏi ngạc nhiên khi cách đây 45 năm, chính bà là người trực tiếp tham gia pháo kích vào Sở chỉ huy của tướng Mỹ Westmoreland tại Sài Gòn.

Cuộc đời bà Nga trải nhiều thăng trầm. Quê bà ở huyện Đức Phổ (Quảng Ngãi), mồ côi cha mẹ từ nhỏ, người anh ruột thì thất lạc, còn bà được một chiến sĩ bộ đội nhận làm con nuôi lúc 2 tuổi. Do cha nuôi tập kết ra Bắc năm 1954 và chết 2 năm sau đó vì bệnh nặng, nên mọi gốc gác về người thân ruột thịt của bà đều mù mờ.

Bà nhớ mơ hồ mình sinh năm 1951 nhưng không rõ ngày tháng sinh. Được những người thân của cha nuôi ở huyện Đức Phổ đùm bọc, nuôi dưỡng, cho đến năm 12 tuổi bà vào Sài Gòn mưu sinh.

Bà Nga sớm giác ngộ cách mạng, thoát ly tham gia vào lực lượng bộ đội năm 15 tuổi. Nhận thấy khả năng nhanh nhẹn, tháo vát của bà, tổ chức cử vào căn cứ ở Dầu Tiếng tham gia một khoá đào tạo pháo binh.

Sau đó, bà được phân công về hoạt động tại B8 Biệt động thành Sài Gòn từ tháng 10/1966 nhằm thâm nhập vào nội thành tham gia chiến dịch pháo kích cuộc diễu binh của chính quyền Sài Gòn ngày 1/11/1966.

Trong cuộc đời làm biệt động, bà Nga trải qua nhiều trận đánh lớn nhỏ và được tổ chức giao nhiệm vụ quan trọng là “xạ thủ” gắn liền với khẩu cối 82 ly. Đến giờ, bà vẫn nhớ như in trận pháo kích Sở chỉ huy tướng Westmoreland (tướng chỉ huy quân Mỹ trong chiến tranh Việt Nam ) tại Sài Gòn ngày 13/1/1967. “Đó là trận đánh đáng nhớ cả đời”, bà Nga bồi hồi nhớ lại.

Mùa xuân 1967, quân Mỹ và chính quyền Sài Gòn tung lực lượng càn quét, tàn phá tại vùng tam giác sắt (Bến Súc, Hố Bò, Củ Chi). Để lật ngược thế cờ, Biệt động Sài Gòn được Bộ chỉ huy quân khu chỉ đạo tổ chức pháo kích vào Sở chỉ huy của tướng Westmoreland. Bà Nga cùng đồng đội cấp tốc vào nội thành Sài Gòn chuẩn bị trận địa.

Để địch không nghi ngờ, bà cùng một đồng đội đóng vai cặp vợ chồng mới cưới, thuê nhà ở khu vực Vườn Chuối (nằm gần mục tiêu pháo kích), ngày đêm nghiên cứu địa hình, chuẩn bị trận đánh lớn. Sau thời gian điều nghiên, công việc chuẩn bị vũ khí cất giấu trong căn nhà thuê đã hoàn tất.

Đến thời điểm chín muồi, 6 giờ sáng 13/1/1967, từ căn nhà thuê, bà Nga (với vai trò xạ thủ số 2) cùng 3 đồng đội khác bắt đầu sử dụng pháo cối 82 ly pháo kích vào Sở chỉ huy tướng Westmoreland nằm trên đường Phan Đình Phùng cũ (nay là đường Nguyễn Đình Chiểu) với hàng loạt quả pháo liên tiếp rơi vào khuôn viên Sở chỉ huy địch.

Những tiếng nổ dữ dội của pháo kích khiến hàng chục tên lính Mỹ, ngụy thương vong, cả Sở chỉ huy hoảng loạn. Dự đoán bọn địch sẽ truy tìm điểm đặt pháo kích, bà Nga cùng đồng đội nhanh trí cho đặt lại 5kg thuốc nổ vào nơi đặt nòng pháo rồi tẩu thoát.

Khi toán lính ngụy đến khám xét căn nhà trên thì khối thuốc phát nổ làm chết thêm một Phó Ty Cảnh sát ngụy ở quận 3 (cũ) cùng 2 thủy quân lục chiến và một số cảnh sát ngụy.

Sau trận đánh gây tổn thất lớn cho địch, bà Nga bị nhận diện và truy lùng gắt gao. Đến chiến dịch Mậu Thân 1968, bà Nga được tổ chức tin tưởng phân công vào nhóm xạ thủ để pháo kích vào Dinh Độc Lập; tuy nhiên, trên đường vào nội thành, bà bị địch bắt. Chúng biệt giam bà với những trận đòn tra tấn khốc liệt lần lượt từ Trại giam Thủ Đức cho đến Khám Chí Hoà, Trại giam Tân Hiệp.

Trong thời gian này, bà ở chung phòng giam với các nữ tù chính trị nổi tiếng như bà Trương Mỹ Hoa (nguyên Phó Chủ tịch nước), bà Võ Thị Thắng (nguyên Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch). Sau các trận đòn tra tấn dã man, chúng đày bà ra biệt giam trong chuồng cọp ở Côn Đảo cho đến ngày giải phóng mới được trở về Sài Gòn với sức khỏe gần như suy sụp.

Sau giải phóng, dần dần phục hồi sức khỏe, bà được bố trí làm việc ở Ủy ban Nhân dân quận 1, Công ty xăng dầu Thành phố Hồ Chí Minh sau đó chuyển về công tác tại Công ty Vật tư tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh cho đến khi nghỉ hưu sớm vì sức khỏe yếu vào năm 1993.

Tuy nhiên, nỗi khoắc khoải về nguồn cội luôn thúc giục bà lặn lội tìm kiếm người thân suốt từ năm 1975 đến nay. Bà chỉ biết cha đẻ tên là Thông An, không biết họ, thời trước dạy chữ nho, chết sớm do bệnh, dường như được chôn cất ở thôn Lâm Bình, xã Phổ Cường, huyện Đức Phổ (Quảng Ngãi). Còn người mẹ đẻ cũng chết sớm vì bệnh hiểm nghèo, không rõ họ tên, nơi chôn cất. Bà chỉ còn một người anh ruột.

Bà Nga nhớ lại: “Khoảng năm 1962, sau thời gian dò la tung tích thì người anh ruột có đến nhà tìm gặp nhưng tôi không hỏi địa chỉ và không nhớ tên, sau đó do chiến tranh loạn lạc nên không còn gặp nữa.”

Từ ngày giải phóng đến nay, bà Nga đã nhiều lần lặn lội trở về miền quê ở Quảng Ngãi để tìm tung tích người anh trai nhưng trước những thông tin mơ hồ khiến việc tìm kiếm không thành làm cho bà luôn đau đáu. Bà chia sẻ: “Đến giờ tôi vẫn không biết anh trai đang ở đâu, cả gốc gác của mình tôi cũng không rõ.”

Mỗi khi xem chương trình “Như chưa từng có cuộc chia ly” phát sóng trên Đài Truyền hình Việt Nam là bà Nga lại ngậm ngùi khi chứng kiến một gia đình thất lạc được đoàn tụ. Bà mơ ước đến ngày nào đó mình cũng sẽ được như họ. Vì thế, nhiều lần bà liên lạc với tổng đài của chương trình này nhờ giúp đỡ để tìm kiếm người anh bị thất lạc 57 năm nay.

Thậm chí bà cũng nhờ chính quyền địa phương ở Quảng Ngãi dò la tung tích và đã nhiều lần đăng báo tìm người anh bị thất lạc. Nhưng mọi cố gắng, nỗ lực tìm kiếm của bà đều không thành. Bà Nga nghẹn ngào nói: “Tôi chỉ mong gần đến cuối đời mình biết được gốc gác người thân thì mới yên lòng!”/.

Thế Vinh (Vietnam+)
vietnamplus.vn

Sáng mãi các chiến công của 11 cô gái Sông Hương

Tiểu đội nữ du kích sông Hương. Ảnh tư liệu. (Nguồn: thuathienhue.gov.vn)

Thời gian trôi qua, những gì thuộc về quá khứ có thể bị mờ dần hoặc lãng quên theo năm tháng, nhưng với dân tộc, quân đội Việt Nam và với những người trải qua những mùa chiến dịch, những trận chiến các liệt trên chiến trường chống Mỹ, thì cuộc Tổng tấn công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 là ký ức lịch sử không thể nào quên, nhất là đối với những người nữ du kích của Tiểu đội 11 cô gái sông Hương ngày ấy.

Thành phố Huế đã dựng bia tưởng niệm và ghi công 11 cô gái sông Hương tại phường Xuân Phú, nơi gắn với những chiến công của họ trong những ngày đánh Mỹ.

Nơi đây đã trở thành địa điểm sinh hoạt văn hoá, thắp lửa truyền thống cho đoàn viên thanh niên và các thế hệ cách mạng, nhất là trong những ngày Tết đến Xuân về.

Nói về chiến công của tiểu đội du kích 11 cô gái sông Hương ngày ấy, ông Hoàng Lanh, nguyên Bí thư thành ủy Huế lúc bấy giờ cho biết ban đầu, họ tập hợp nhau lại trong một tiểu đội xung phong làm nhiệm vụ tải thương, dẫn đường cho bộ đội tiến công vào giải phóng thành phố.

Về sau, chính họ đã anh dũng chiến đấu đẩy lùi một tiểu đoàn thủy quân lục chiến Mỹ được trang bị vũ khí hiện đại, có xe tăng, máy bay yểm trợ ngay giữa lòng thành phố Huế.

Riêng với chị Hoàng Thị Nở, một trong số các cô gái Sông Hương thì nhớ như in tất cả các cô gái sinh ra và lớn lên tại làng nón Thủy Thanh, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên-Huế, nhưng đều lấy tên sông Hương làm tên chung.

Cuối năm 1967, họ tình nguyện tham gia đội nữ vũ trang bí mật gồm 11 người, với nhiệm vụ được giao là nắm tình hình hoạt động của bọn địch tại địa bàn các xã vùng ven như Thuỷ Thanh, Thuỷ An, đến Xuân Phú (thành phố Huế); tham gia chuyển thương binh ra ngoài, và bổ sung lực lượng chiến đấu khi cần thiết.

[Tổng tấn công Mậu Thân 1968: Đòn tấn công mở đầu]

Xuân Mậu Thân năm 1968, bộ đội bắt đầu đánh lớn ở thành phố Huế. Do thông thuộc địa bàn, 11 cô gái sông Hương được tổ chức thành một tiểu đội, ban ngày đi tổ chức xây dựng lực lượng nòng cốt, chiều tối đi gài đặt lựu đạn giết ác ôn và tổ chức đưa đón, dẫn đường cho các chiến sĩ vào chiến đấu giải phóng thành phố.

Riêng trận đánh đêm 11 sáng 12/2/1968 cả tiểu đội 11 cô gái sông Hương, với các vũ khí được trang bị AK, K44, một số mìn và lựu đạn nhưng đã dàn trận khắp các địa điểm tại khách sạn Hương Giang, Đại học sư phạm, chợ Cống, Xuân Phú để cầm cự và đánh lui cả một tiểu đoàn lính Mỹ có nhiều xe bọc thép và máy bay chiến đấu yểm trợ, diệt 70 lính và 4 xe tăng, thu nhiều vũ khí của địch để trang bị lại phục vụ cho chiến đấu.

[Quần chúng góp phần quan trọng trong chiến thắng]

Chị em háo hức đánh giặc quên ăn quên ngủ, lúc xông xáo với việc thả truyền đơn, đậy hầm bí mật nuôi giấu cán bộ, lúc liên lạc và vận động binh lính ngụy trở về với nhân dân. Bất chấp hiểm nguy, trong công sự, chị em còn đùa nhau lính Mỹ to xác càng dễ bắn, chị em mình phải nhanh chóng, quyết liệt để chúng không thể trốn thoát.

Xuân năm ấy se lạnh, Huế rét ngọt, mưa phùn lất phất. Chị em vừa chiến đấu, vừa ăn Tết ngay trên công sự khét lẹt mùi khói thuốc. Bánh Tết được các mẹ, các chị trong phố đem ra tiếp tế.

Nhiều chị em đã anh dũng hy sinh ngay trong trận chiến đấu đó, trong đó có tiểu đội trưởng Phạm Thị Liên và tiểu đội phó Đỗ Thị Cúc khi tuổi đời họ còn rất trẻ.

Chiến công của 11 cô gái sông Hương đã được Bác Hồ gửi thư khen:

“Dõng dạc tay cầm khẩu súng trường
Khôn ngoan dàn trận khắp trong phường
Bác khen các cháu dân quân gái
Đánh giặc Hoa Kỳ phải nát xương”

Năm 2009, tiểu đội du kích 11 cô gái sông Hương còn vinh dự được Chủ tịch nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân vì những chiến công xuất sắc trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Gặp lại chị Hoàng Thị Nở tại ngôi nhà số nhà 131/1 đường Bà Triệu, thành phố Huế bây giờ, chị cho biết sau giải phóng, trở về với đời thường, 5 trong số 11 cô gái sông Hương ngày ấy còn sống đã có 4 lần gặp lại nhau trong các chương trình giao lưu các thế hệ phụ nữ tham gia kháng chiến.

Những người đồng đội từng chung một chiến hào xưa thì nay mỗi người sinh sống một nơi. Chị Chế Thị Mừng và Nguyễn Thị Xê lấy chồng xa ở thành phố Hồ Chí Minh và Nam Định; còn lại các chị Nguyễn Thị Hoa, Nguyễn Thị Hợi, và chị Hoàng Thị Nở đều ở tại Thừa Thiên-Huế.

Chị Nguyễn Thị Hoa sau giải phóng về tham gia làm công tác ở Ban quản lý chợ Đông Ba, chị Chế Thị Mừng làm y sĩ ở phòng khám khu vực 3, chị Hoàng Thị Nở làm Chủ tịch Hội Nông dân thành phố Huế, nay tất cả đã ngoài 60 tuổi và đều nghỉ hưu.

Mỗi người mỗi hoàn cảnh và còn nhiều khó khăn, vất vả nhưng các chị đã vượt lên tất cả, xứng danh người phụ nữ “anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang”…/.

Quốc Việt (TTXVN)
vietnamplus.vn

Quần chúng góp phần quan trọng trong chiến thắng

Ảnh tư liệu. (Nguồn: daibieunhandan.vn)

Nói đến Xuân Mậu Thân 1968, nhiều người không thể nào quên hình ảnh nhân dân đón bộ đội như những người thân đi xa lâu ngày trở về. Chính lực lượng quần chúng mến yêu ấy là động lực, là cội nguồn tiếp thêm sức mạnh đi đến ngày thắng lợi vinh quang…

Đó là cảm nhận của các ông Nguyễn Trung Chính, Phan Nam, nguyên là những chỉ huy mặt trận Huế trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968.

Ngay từ phút phát lệnh nổ súng (2 giờ 33 phút), tất cả các hướng, mục tiêu tấn công, nổi dậy đã đồng loạt, hợp đồng mạnh mẽ, nổ súng. Kẻ thù không kịp trở tay đối phó, bị cô lập, rối loạn, bị chia cắt không ứng cứu, chi viện cho nhau được, bị tổn thất nặng nề.

8 giờ 30 phút ngày mồng 2 Tết, cùng thời điểm lá cờ Liên minh Dân tộc – Dân chủ – Hòa bình tung bay trên đỉnh cột cờ Phu Vân Lâu, tất cả các đội công tác chính trị-vũ trang, các “tụ điểm” quân, khu phố, đường phố, các đội Biệt động, đội An ninh vũ trang các lực lượng cán bộ thành tăng cường, lực lượng tụ điểm của học sinh, sinh viên thanh niên đồng loạt xuất hiện hành động, cùng các lực lượng vũ trang sẵn sàng chiến đấu, đánh trả bọn địch ngoan cố, bảo vệ, hỗ trợ quần chúng nổi dậy.

Địa bàn nội thành rộng lớn được giải phóng. Lực lượng to lớn nổi dậy đã lên đến hàng chục vạn dân, sức mạnh mới tại chỗ – “hậu phương” rộng lớn mới được giải phóng, làm chủ, tạo thuận lợi cho lãnh đạo, chỉ huy mặt trận triển khai tiếp, nhanh chóng phát huy nội lực, bảo vệ thành quả thắng lợi giành được, chống địch phản kích, tái chiếm Huế.

Không khí vui mừng, phấn khởi buổi đầu hiện rõ và ngày một thể hiện rõ hơn trong những công việc do các đội công tác đường phố đề ra, được đông đảo nhân dân hăng hái tham gia thực hiện.

Mối quan hệ gắn kết giữa quân – dân ngày một gần gũi, chặt chẽ, thuận lợi hơn, tăng thêm sức mạnh mới – sức mạnh của sự nổi dậy làm chủ, kiểm soát, bảo vệ thành quả chung, từ sự kết hợp chặt chẽ tấn công quân sự, đồng loạt nổi dậy của nhân dân ở đô thị lớn.

Bà con ở nội thành đã nhanh chóng tin tưởng, hăng hái làm theo sự kêu gọi, dắt dẫn của các đội công tác, cán bộ thành tăng cường về các khu phố địa bàn. Nhất là vai trò tích cực, phát huy tác dụng nhanh của những người từng hướng dẫn quần chúng nội thành nổi dậy đấu tranh chống Mỹ và tay sai trước đây mà họ đã nhận ra. Hoặc số cán bộ cốt cán cơ sở tại chỗ, số do các huyện bí mật đưa vào từ trước chưa kịp giới thiệu cho thành phố, nay xuất hiện như những “người thân” đi lâu mới về.

Đối với những người, gia đình có tham gia hoặc quan hệ làm ăn với bộ máy ngụy quân, ngụy quyền…lúc đầu số đông tỏ ra lo ngại, lúng túng, bị động, hoang mang chờ đợi, dè dặt, lo sợ…Số gia đình có người đã gây tội ác, có nợ máu thì càng lo lắng, sợ cách mạng trừng trị.

Nhưng từng bước, họ cũng yên lòng, ổn định khi đã nghe và được giải thích – “tai nghe mắt thấy”, được đối xử khoan hồng trong và sau khi trình diện, nộp vũ khí, tài liệu ngụy tại các điểm tiếp nhận, về gia đình sống bình thường.

[Tổng tấn công Mậu Thân 1968: Đòn tấn công mở đầu]

Ông Hoàng Lanh nguyên Ủy viên Thường vụ Thành ủy, Phó Chính ủy Mặt trận cánh Nam Huế nhớ tường tận vào khoảng 9 giờ ngày mồng 3 Tết, cuộc míttinh chào mừng thắng lợi của cách mạng được tổ chức trọng thể tại Thành Nội.

Khác với sự cẩn trọng ban đầu, người dân thành phố Huế đã xuống đường. Nhiều người nắm áo chúng tôi, nước mắt rưng rưng: “Các anh về đây rồi thiệt à? Cánh mạng đã về rồi thiệt à”.

Cuộc míttinh thu hút vài trăm người, trong đó có các anh Nguyễn Đắc Xuân, Hoàng Phủ Ngọc Phan, chị Lê Thị Mai (em đồng chí Lê Quang Vịnh). Những người dân Huế đã từng sống trong ách cai trị của chế độ Mỹ – Nguỵ khi nghe nói “Thưa đồng bào, bây chừ cách mạng đã về” thì vỗ tay ào ào và hết sức xúc động.

Ông Lanh nhớ mãi hôm ấy, chỉ những lời nói giản dị dưới lá cờ Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam vậy thôi mà đã làm cho mọi người mừng rơi nước mắt.

Ông cũng lặng người đi vì tự hào và sung sướng. Đó là những giọt nước mắt chờ đợi, tủi hờn và hơn thế là những giọt nước mắt tin yêu cách mạng của những người dân Huế bình thường một lòng tin theo cách mạng mà suốt đời ông chẳng thể nào quên.

Đối với ông Phan Nam, nguyên Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Huế thì người dân Huế đã đóng góp sức người, sức của làm nên thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968.

Tiếp theo những thắng lợi có ý nghĩa quyết định trên chiến trường, ở hậu phương, những người có uy tín, kinh nghiệm và nhiệt tình đã tự nguyện đứng ra tổ chức quyên góp tiền bạc, lương thực, thực phẩm ủng hộ bộ đội nuôi quân.

Có nhà ủng hộ cả tấn hàng, hàng chục tấn gạo, thực phẩm, mắm muối, chất đốt. Hàng vạn nhân dân Huế “có chi góp nấy” miễn sao bộ đội được ăn no đánh thắng quân địch, bảo vệ thắng lợi thành quả cách mạng đã giành được.

Sau này, Bác Hồ đã tặng cho quân và dân thành phố Huế 8 chữ vàng “Tấn công, nổi dậy, anh dũng, kiên cường”. Đây mãi mãi là niềm tự hào cho các thế hệ cách mạng, là nguồn sức mạnh để người dân Huế vượt qua muôn vàn khó khăn của những năm tháng chiến tranh ác liệt cho đến ngày đất nước toàn thắng.

45 năm đã trôi qua nhưng những bài học về chỉ đạo chiến lược, về nghệ thuật phát hiện và chớp thời cơ để chủ động giáng đòn quyết định làm chuyển biến cục diện chiến tranh, nghệ thuật tiến công bằng cách đánh chiến lược mới, giành thế bất ngờ, đưa chiến tranh vào thành thị, nghệ thuật tổ chức, bố trí và sử dụng lực lượng để lấy nhỏ đánh lớn, lấy ít địch nhiều…

Cuộc Tổng tấn công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 giữ một vai trò to lớn trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân và đi vào lịch sử đấu tranh cách mạng của dân tộc Việt Nam như một chiến công bất hủ; là một biểu hiện tập trung của ý chí và sức mạnh quật cường của con người Việt Nam, dân tộc Việt Nam, biểu hiện sức sáng tạo và tài thao lược trong chỉ đạo chiến tranh của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh./.

Quốc Việt (TTXVN)
vietnamplus.vn

Tổng tấn công Mậu Thân 1968: Đòn tấn công mở đầu

Đã 45 năm trôi qua, nhưng ký ức về cuộc Tổng tấn công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 ở Huế không thể phai mờ trong ký ức của Thiếu tướng Nguyễn Văn Thu, nguyên Tham mưu phó Quân khu Trị Thiên, Chỉ huy trưởng cánh Bắc đánh vào Huế trong cuộc Tổng tấn công và nổi dậy năm ấy.

Đã gần 80 tuổi, ông vẫn minh mẫn và đặc biệt là nhớ rất rõ, đến từng chi tiết của từng trận đánh mùa Xuân năm ấy.

Chiều 30/1/1968, từ núi rừng Hương Trà, cánh quân chủ yếu phía Bắc Huế cùng với toàn mặt trận bắt đầu xuất quân. Mỗi cánh quân, ngoài lực lượng bộ đội trong đội hình còn có các đội biệt động, đội công tác khởi nghĩa, cán bộ dân vận mặt trận trên 2.500 người, kéo dài trên 2km.

Cuộc hành quân bí mật, phải vượt qua đồi núi, khe suối, sông ngòi, làng mạc. Đặc biệt nhất là vượt qua vành đai tai mắt bảo vệ vòng ngoài của địch để tiếp cận mục tiêu bí mật, an toàn, đúng giờ quy định.

Từ các hướng, các mũi tiếp cận mục tiêu đã giữ được bí mật trước giờ nổ súng. Kết quả đó là nhờ công tác chuẩn bị chiến trường với thế trận chiến tranh nhân dân của các cấp ủy địa phương và các đơn vị với tinh thần trách nhiệm cao, chấp hành nghiêm ý thức kỷ luật của cán bộ, chiến sỹ.

Điều đáng nói là có đồng chí khi vượt sông cạnh vị trí địch đóng quân, xuồng bị chìm nhưng không một lời kêu cứu, gặp hiểm nguy sẵn sàng hy sinh, không làm lộ bí mật.

Đúng giờ G – 2 giờ 33 phút ngày 31/1/1968 (rạng sáng Mồng 2 Tết Mậu Thân), từ tuyến xuất phát xung phong, các mũi tấn công bằng đòn chiến đấu đồng loạt, dũng mãnh, nhanh chóng đánh chiếm các mục tiêu như Mang Cá, cửa An Hòa, cửa Chánh Tây, sân bay Tây Lộc, Cửa Hữu, Đại Nội, Cột Cờ, cửa Thượng Tứ, cửa Đông Ba.

Cánh phía Nam diệt Trung đoàn thiết giáp ngụy ở Tam Thai, khu Nam Giao, Kho Rèn, Sở cảnh sát, Đài phát thanh, Tòa tỉnh trưởng, tiểu khu Thừa Thiên Phan Sào Nam, khách sạn Thuận Hóa.

Sau 3 giờ chiến đấu, ta đã chiếm được các mục tiêu trọng yếu cả quân sự lẫn chính trị và làm chủ cơ bản thành phố Huế cả phía Bắc lẫn phía Nam. Cùng với đòn tấn công quân sự, nhân dân thành phố Huế, dưới sự chỉ đạo của cấp ủy, cùng đồng loạt nổi dậy làm chủ từng khu phố như Đông Ba, Gia Hội (gồm 3 phường) và Cồn Hến.

Khoảng 7 giờ 30 phút ngày 31/1/1968, lá cờ Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tung bay trên đỉnh cột cờ trước Ngọ Môn, báo hiệu thành phố Huế được giải phóng. Cùng với đó là các đội bình định, phòng vệ dân sự ở nông thôn, vùng ven bị các lực lượng bộ đội địa phương, biệt động, dân quân du kích bao vây, tiêu diệt, bức hàng, bức rút. Nhân dân đồng loạt, nhất tề đứng dậy làm chủ thôn xóm, quê hương mình.

Đòn tấn công mở đầu trong cuộc Tổng tấn công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 ở Huế giành được thắng lợi ngay từ phút đầu, giờ đầu, ngày đầu.

Địch bị đánh bất ngờ, cả về mục tiêu, thời gian, lực lượng và phương pháp tấn công, bị đánh cả bên trong lẫn bên ngoài thành phố, cả vùng nông thôn và đồng bằng. Bị động, địch hoang mang, lúng túng, không nơi nào đối phó, ứng cứu cho nhau được.

Trong 3 ngày đầu, các đơn vị của ta vừa củng cố mục tiêu chiếm được, vừa mở rộng vùng giải phóng, cùng nhân dân lùng bắt bọn địch chạy trốn thoát, diệt bọn ác ôn, đầu sỏ, các đảng phái phản động.

Tất cả 36 cơ quan ngụy quyền thuộc thành phố Huế và trung phần đều bị ta đánh chiếm, đập tan bộ máy ngụy quyền của địch từ tỉnh, thành phố xuống tận thôn xã. Ta thiết lập chính quyền cách mạng trong các quận, phường thành phố Huế và các xã vùng ven đô, nông thôn của tỉnh.

Đánh chiếm và giữ thành phố Huế liên tục trong 25 ngày đêm, ta vẫn giữ được thế chủ động ở từng khu vực, từng mục tiêu, dù địch đã tăng viện quân lên nhiều lần. Có thời điểm trong thành phố có tới 8-9 tiểu đoàn Mỹ ngụy. Đòn đánh phản kích địch ở cống Thủy Quan của d7/F325 diệt 200 tên địch; đánh quỵ c/D4 ngụy, đại đội thám báo bắt nhiều tù binh, thu giữ 40 súng, giữ vững tuyến hành lang từ cửa Chánh Tây sang Cửa Hữu.

Đòn phản kích địch ở ngã tư Mai Thúc Loan – Đinh Tiên Hoàng, đánh thiệt hại nặng tiểu đoàn ngụy, diệt 120 tên, phá hủy 3 xe M113, giữ vững phía sau đội hình các đơn vị ở cửa Thượng Tứ, Đại Nội, cửa Đông Ba. Một bộ phận d2/e6 ở cửa Đông Ba đánh phản kích 1 đại đội Mỹ, diệt 50 tên, thu nhiều súng đạn.

Điển hình như d6/e6 đánh tan tiểu đoàn ngụy tại cầu An Hòa, diệt 200 tên địch, bắn cháy 5 xe M113 buộc chúng phải rút lui về sau cống Rớ.

Đại đội 5, Tiểu đoàn 7 Kỵ binh bay của Mỹ tiến vào Liễu Cốc bị c1/d816/e9 đánh tan, diệt 50 tên, bắn rơi 1 máy bay lên thẳng, bắn cháy 3 xe M113… giữ vững hành lang phía Tây Bắc Huế, đảm bảo cho các lực lượng vận chuyển thương binh, và đưa cán bộ, nhân dân, thanh niên, học sinh, sinh viên ra khu căn cứ an toàn.

Về phía Nam, phía Đông thành phố Huế, địch tập trung lực lượng phản kích ra các nơi như An Cự, cầu Lòn, kho Rèn, ngã 6, sân vận động đều bị ta chặn đánh quyết liệt, diệt trên 2.000 quân Mỹ ngụy, bắn cháy 10 xư M113. Cùng với bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích, đặc công vừa tiêu diệt địch, vừa giữ thế chủ động đánh địch, hoàn thành được nhiệm vụ đề ra…

Riêng trận đánh tại nhà lao Thừa Phủ, tại đây địch đang giam giữ hơn 2.000 tù nhân, được canh gác cẩn mật, chúng cho cài mìn clâymo để bảo vệ và ra sức chống trả các đợt tiến công của quân ta. Các chiến sỹ trinh sát vũ trang và biệt động đã kết hợp bao vây, khống chế, dùng lao thông báo tin chiến thắng của cách mạng và tìm cách đột nhập vào bên trong động viên cán bộ, bộ đội đang bị giam giữ nổi dậy kêu gọi bọn cai ngục, lính canh đầu hàng.

Nửa đêm 2/2/1968, một người lính ngụy đang bị địch giam trong lao trốn được ra ngoài, đầu hàng và nói: có đường hầm bí mật vào lao và dẫn các chiến sỹ vào giải phóng nhà lao theo đường hầm bí mật đó. Thế là từ ngoài đánh vào, trong đánh ra địch không kịp trở tay, nhà lao được giải phóng…

Theo Trung tướng Đoàn Sinh Hưởng, nguyên Tư lệnh Quân khu 4, Trong cuộc Tổng tấn công và nổi dậy tại Trị Thiên-Huế, ta đã giải phóng 227.300 dân, 40 xã và 296 thôn.

Ủy ban Nhân dân cách mạng một số huyện và thành phố được thành lập. Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình Việt Nam thành phố Huế ra đời.

Thắng lợi quan trọng này, cùng với thắng lợi trên toàn chiến trường miền Nam đã làm lay chuyển ý chí xâm lược của Mỹ, buộc Tổng thống Johnson phải “xuống thang” chiến tranh, chịu ngồi lại đàm phán với ta ở Paris.

Phía Mỹ phải thay Bộ trưởng Bộ quốc phòng và Tổng chỉ huy quân viễn chinh Mỹ ở miền Nam Việt nam. Johnson thôi không ứng cử nhiệm kỳ 2.

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân về cơ bản đã đánh bại chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của Mỹ, mở ra cho ta khả năng thực hiện trọn vẹn chiến lược “đánh cho Mỹ cút,” để tiến tới “đánh cho ngụy nhào,” giành độc lập thống nhất Tổ quốc…/.

Quốc Việt (TTXVN)
vietnamplus.vn

Bác Hồ và mùa xuân cách mạng 72 năm trước (*)

Tháng 10-1938, Bác Hồ từ Nga trở lại Trung Quốc. Giữa năm 1940, xe tăng của phát xít Hit-le tràn vào Pa-ri, và ngày 20-6-1940, nước Pháp đầu hàng. Đang ở Côn Minh (Vân Nam, Trung Quốc), Bác chủ trương chuyển hướng hoạt động đến biên giới Việt – Trung, rồi về hẳn trong nước trực tiếp chỉ đạo cách mạng Việt Nam.

Trưa ngày 8-2-1941, đồng chí Vũ Anh ra đón Bác ở chân một ngọn núi đá cạnh mấy đám ruộng vừa mới gặt xong. Mặt trời đã ngả sang chiều thì Bác và các đồng chí Lê Quảng Ba, Phùng Chí Kiên, Hoàng Văn Lộc, Thế An, Đặng Văn Cáp đã về bên này cột mốc biên giới. Khi đến cột mốc 108 – cột mốc bằng đá như một tấm bia, hai mặt có khắc chữ Trung Quốc và chữ Pháp – Bác dừng lại, cúi đọc những chữ khắc sâu trong đá, rồi hướng tầm mắt nhìn vọng hồi lâu tới dải đất Tổ quốc trùng điệp.

Sau 30 năm đi tìm đường cứu nước, qua nhiều quốc gia ở châu Á, châu Âu, châu Phi, châu Mỹ, Bác Hồ về Tổ quốc vào mùa Xuân Tân Tỵ 1941.

Khi ra đi từ bến cảng Nhà Rồng (Sài Gòn), Bác 21 tuổi, đến khi trở về 51 tuổi, tóc đã hoa râm, song tầm vóc chính trị vượt xa các nhà lãnh đạo cách mạng ở trong nước lúc bấy giờ.

Pác Bó thay mặt Đất Mẹ, đón người con vĩ đại nhất của dân tộc, sau 30 năm xa cách, lần đầu tiên vui Xuân trên mảnh đất thân yêu của Tổ quốc.

“Ôi sáng Xuân nay, Xuân 41
Trắng rừng biên giới nở hoa mơ
Bác về…Im lặng. Con chim hót
Thánh thót bờ lau, vui ngẩn ngơ”

                                     (Tố Hữu)

Pác Bó là nơi đặt chân đầu tiên của Bác khi về nước, và sau đó vẫn là nơi đóng cơ quan của Bác cho đến lúc Bác chuyển về Tân Trào (4 tháng 5 năm 1945).

Pác Bó là một bản nhỏ thuộc xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng, nằm sát biên giới Việt – Trung, cách thị xã Cao Bằng gần 60 km. Nhân dân trong vùng chủ yếu là người Nùng.

Tài sản của Bác sau bao nhiêu năm đi khắp năm châu bốn biển, giờ đây vẫn chỉ một chiếc va-li con, trong đựng một ít tài liệu quan trọng và một chiếc máy chữ của các đồng chí trong nước gửi cho trước đây.

Trong sương giá lạnh của miền núi đá biên cương, Bác sống và làm việc trong hang Pác Bó. Trong hang, có dòng suối chảy về xuôi và dãy núi đá xanh. Cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ đó đã được Bác thể hiện trong bài thơ “Pác Bó hùng vĩ”:

“Non xa xa, nước xa xa
Nào phải thênh thang mới gọi là.
Đây suối Lê-nin, kia núi Mác
Hai tay xây dựng một sơn hà”.

Từ suối Lê-nin, từ núi Mác, ánh sáng cách mạng đã tỏa rộng muôn nơi…

Câu đối dưới đây Bác làm ngay trong rừng sâu Pác Bó đã nói lên mong muốn và quyết tâm của Bác đối với dân, với nước từ những ngày đầy gian khó:

– Nước mới quyết làm cho nước mới
– Non sông Hồng Lạc gấm thêu hoa. (1)

Ở Pác Bó, cuộc sống tuy vô cùng khó khăn, kham khổ, nhưng Bác vẫn ung dung, thanh thản, luôn lạc quan, tin tưởng vào tiền đồ tươi sáng của cách mạng:

“Sáng ra bờ suối, tối vào hang
Cháo bẹ, rau măng vẫn sẵn sàng
Bàn đá chông chênh dịch sử Đảng
Cuộc đời cách mạng thật là sang”.

Tư thế của nhà thơ là tư thế đứng trên đầu mọi gian khó, hiểm nguy. Bài thơ đã làm sống lại cuộc đời của một nhà hoạt động chính trị bí mật trong thời kỳ cách mạng còn trứng nước. Năm 1961, về thăm lại Pác Bó, Bác xúc động cảm tác:

“Hai mươi năm trước ở hang này
Đảng vạch con đường đánh Nhật Tây;
Lãnh đạo toàn dân ra chiến đấu
Non sông gấm vóc có ngày nay”

Bài thơ bốn câu ngắn gọn đã phác họa con đường lịch sử 20 năm của dân tộc.

Cũng chính tại Pác Bó, Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8 (từ 10 đến 19-5-1941) do Bác triệu tập và chủ trì, họp ở rừng Khuổi Nậm, đã nhận định thời cơ giải phóng dân tộc đang đến gần, quyết định thành lập Việt Nam độc lập đồng minh (gọi tắt là Việt Minh) để tập hợp lực lượng toàn dân. Hội nghị đã hoàn chỉnh đường lối cứu nước giải phóng dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh.

Rõ ràng, Bác Hồ về Tổ quốc mùa Xuân 1941 là một sự kiện vô cùng quan trọng cho cách mạng Việt Nam. Bốn năm sau, năm 1945, Tổng khởi nghĩa thắng lợi trong cả nước. Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời. Mười ba năm sau, năm 1954, chiến thắng Điện Biên Phủ chấn động địa cầu, dẫn tới Hiệp định Giơ-ne-vơ chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương (20-7-1954). Cuộc kháng chiến của nhân dân ta chống thực dân Pháp xâm lược từ ngày 23-9-1945 đã kết thúc. Hòa bình được lập lại trên miền Bắc nước ta. Ba mươi tư năm sau, năm 1975, Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử đã giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc, mở ra một mùa Xuân vĩnh viễn cho đất nước.

NGUYỄN XUYẾN
thuathienhue.edu.vn

—————————

(*) Bìa viết này được đăng vào năm 2011 nên Vkyno xin sửa lại tiêu đề cho phù hợp với hiệu niên

Đồng bào Tây Nguyên vui Xuân bên tượng Bác Hồ

Ông Nay Pơ, dân tộc Ja Rai, ngày nào cũng đi bộ ra quảng trường để chiêm ngưỡng tượng vị lãnh tụ vĩ đại nhưng vô cùng gần gũi.

Cuối năm 2012 đồng bào các dân tộc Tây Nguyên hân hoan trong lễ khánh thành tượng đài Bác Hồ với các dân tộc Tây Nguyên tại Quảng trường Đại đoàn kết, thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai. Từ ngày đó đến nay, nhất là trong những ngày xuân này, ngày ngày, có hàng nghìn người đến với Quảng trường Đại Đoàn Kết để thể hiện lòng tôn kính với Bác.

Ông Nay Pơ, dân tộc Ja Rai, 81 tuổi đời, 51 năm tuổi Đảng, ở phường Tây Sơn, thành phố Pleiku cho biết, từ khi công trình tượng đài Bác Hồ với các dân tộc Tây Nguyên khánh thành, ngày nào ông đi bộ từ nhà ra quảng trường Đại đoàn kết để ông chiêm ngắm hình ảnh giản dị, gần gũi nhưng sáng ngời và vĩ đại của Bác –  người đã dành cả cuộc đời vì nước, vì dân.

Vinh dự lớn nhất đời ông Nay Pơ là 4 lần được gặp Bác Hồ. Những lời Bác dạy ông vẫn khắc ghi trong tim, đồng bào Kinh, Ba Na, Ja Rai, hay Ê Đê, Xê Đăng … đều là anh em một nhà, đồng bào phải biết đoàn kết, vượt qua mọi khó khăn, xây dựng quê hương giàu đẹp.

Hơn 37 năm kể từ ngày giải phóng, ông chưa có dịp ra thủ đô Hà Nội, ra thăm lăng Bác, nên hôm nay đây, trong những ngày xuân mới này, ông rất phấn khởi vì Đảng và Nhà nước đã quan tâm, xây dựng tượng đài Bác Hồ ngay tại Tây Nguyên. Ông cũng như nhiều đồng chí, đồng đội, nhiều đảng viên có cơ hội được tỏ lòng tôn kính với Bác ngay tại quê nhà. Đối với ông, đó là niềm hạnh phúc lớn nhất trong những ngày cuối đời.

Ông nhớ lại buổi lễ khánh thành công trình Tượng đài Bác Hồ với các dân tộc Tây Nguyên (tối 9/12/2012), trong đó Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nêu rõ: ‘Công trình Tượng đài Bác Hồ với các dân tộc Tây Nguyên là một công trình có ý nghĩa văn hóa lịch sử và nhân văn tiêu biểu của đồng bào 5 tỉnh Tây Nguyên và là niềm vui chung của cả nước. Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh chưa có điều kiện đến thăm Tây Nguyên, nhưng từ trong sâu thẳm trái tim, Người lúc nào cũng đau đáu một niềm thương nhớ, yêu quý đồng bào các dân tộc Tây Nguyên. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tin tưởng rằng,  với truyền thống đoàn kết, tự lực, tự cường, tỉnh Gia Lai và các tỉnh Tây Nguyên nói chung sẽ tiếp tục vững bước tiến lên, đạt nhiều thành tựu và đóng góp to lớn hơn nữa cho sự nghiệp cách mạng của toàn Đảng và toàn dân tộc’.

Hôm nay đây, tượng đài Bác Hồ được dựng lên giữa đất trời Tây Nguyên, Người đứng đó, cao sang mà gần gũi, vĩ đại mà giản dị như chính cuộc đời của Người – vị lãnh tụ suốt đời vì nước vì dân. Đồng bào Tây Nguyên nhớ ơn và luôn khắc ghi lời dạy của Bác, luôn mang trong tim hình ảnh Bác Hồ như điểm tựa tinh thần, vượt qua mọi khó khăn, gian khổ cùng cả nước hoàn thành sự nghiệp giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước và ngày nay đang tiến hành công cuộc đổi mới đi lên chủ nghĩa xã hội, góp phần từng bước làm cho Tây Nguyên ngày càng trở nên trù phú.

Tối nay (9/2), đêm giao thừa đầu tiên nhân dân các dân tộc tỉnh Gia Lai mở hội mừng xuân ngay tại Quảng trường Đại đoàn Kết, ngay dưới chân tượng đài Bác Hồ. Qua đó, nhân dân báo cáo với Bác, năm qua, tỉnh Gia Lai nói riêng và các tỉnh Tây Nguyên nói chung đạt được nhiều thành tựu về kinh tế – xã hội, an ninh chính trị được đảm bảo, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân tiếp tục được nâng lên. Đồng thời, hứa với Bác, đồng bào các dân tộc Tây Nguyên sẽ tiếp tục phấn đấu để xây dựng Tây Nguyên ngày càng vững mạnh, giàu đẹp như niềm mong mỏi của Bác./.

Vài hình ảnh về nhân dân Tây Nguyên bên tượng đài Bác Hồ:

Đồng bào Tây Nguyên hân hoan trong lễ khánh thành tượng đài Bác Hồ

Tượng đài Bác Hồ với các dân tộc Tây Nguyên là một công trình có ý nghĩa văn hóa lịch sử và nhân văn tiêu biểu

Công Bắc/VOV-Tây Nguyên
daklak24h.com

Bác với Đảng – Những mùa xuân ghi nhớ

Xây dựng ĐảngSau mùa đông lạnh lẽo, muôn vật tiêu điều, và tạo hoá lại cho mùa Xuân mang đến cho thế gian vẻ tốt tươi ấm áp, muôn hoa tươi thắm, ngàn lá đua xanh. Loài động vật cũng nhờ Xuân mà khôi phục lại sinh khí. Vậy nên gọi là Xuân sinh.

Mỗi độ Xuân về, mỗi người Việt Nam lại bồi hồi nhớ lời Bác Hồ dặn về “Chào Xuân”:

Năm cũ lịch cũ vừa qua,
Năm mới lịch mới lại tới!

Sau mùa đông lạnh lẽo, muôn vật tiêu điều, và tạo hoá lại cho mùa Xuân mang đến cho thế gian vẻ tốt tươi ấm áp, muôn hoa tươi thắm, ngàn lá đua xanh. Loài động vật cũng nhờ Xuân mà khôi phục lại sinh khi. Vậy nên gọi là Xuân sinh.

Loài người lợi dụng cái luật tự nhiên của tạo hoá, chẳng những hưởng thụ cái hạnh phúc khoái lạc của mùa Xuân, mà lại nhận cái không khí phồn vinh của ngày Xuân để sắp đặt cái kế hoạch hoạt động và sống còn cho cả năm, nên tục ngữ có câu “nhất niên chi kế, thi ư Xuân” (suốt năm kế hoạch, định từ mùa Xuân). Cũng vì thế cho nên năm mới thì người ta có những cuộc vui vẻ, sung sướng cho xứng đáng với Xuân và để mừng Xuân.

Với ý nghĩa của ngày Xuân như vậy, Bác đã đưa đến cho Đảng ta cuộc đời gắn với mùa Xuân: Ngày Xuân 3-2-1930, Bác đã sáng lập Đảng ta. Và sau đó vài ngày (khoảng từ ngày 5 đến ngày 8), Bác đã “đãi” một bữa cơm Tết Nguyên đán vừa tiết kiệm, vừa linh đình để chúc mừng ngày Đảng chào đời. Bắt đầu từ Xuân và mãi mãi về sau, cứ mùa Xuân đến là mùa Xuân mừng Đảng ra đời, là mùa Xuân để Đảng sắp đặt cái kế hoạch hoạt động và sống còn cho cả năm.

Và từ khi về nước (28-1-1941) để trực tiếp lãnh đạo cách mạng sau 30 năm đi tìm đường cứu nước, cứu dân, cứ ngày Xuân đến, Bác Hồ đã đưa đến cho toàn dân hưởng cảnh Xuân vui vẻ, đón Xuân, mừng Xuân bằng những lời chúc Xuân ấm áp, mang nặng nghĩa “Xuân sinh” và đặc biệt mang đến cho mọi người “kế hoạch hoạt động và sống còn” cho cuộc sống. Mùa xuân 1942, Bác Hồ đã đưa đến cho toàn dân cảnh đón Xuân, mừng Xuân, vui với Xuân với những lời thơ chúc Tết đầu tiên của Người:

Tháng ngày thấm thoắt chóng như thoi,
Năm cũ qua rồi, chúc năm mới.
Chúc phe xâm lược sẽ diệt vong,
Chúc phe dân chủ sẽ thắng lợi.
Chúc đồng bào ta đoàn kết mau!
Chúc Việt minh ta càng lấn tới,
Chúc toàn quốc ta trong năm này,
Cờ đỏ ngôi sao bay phấp phới!
Năm nay là năm rấtt vẻ vang,
Cách mệnh thành công khắp thế giới “.

Và cũng mùa Xuân này, Bác Hồ đã chỉ rõ bổn phận của người dân Việt Nam qua cuốn “Lịch sử nước ta” mà Bác viết cho dân, cho nước vào tháng 2-1942:

“Dân ta phải biết sử ta,
Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam.
Kể năm hơn bốn ngàn năm,
Tổ tiên rực rỡ anh em thuận hoà…
Trên vì nước, dưới vì nhà,
ấy là sự nghiệp, ấy là công danh”…

Ngày 6-1-1946, ngày quốc dân đi bỏ phiếu bầu Quốc hội đầu tiên của nước nhà, Bác Hồ – lãnh tụ của Đảng, lãnh tụ tối cao của dân tộc đã trúng cử với số phiếu cao nhất là 98,4%. Đó là Xuân “đưa quốc dân ta lên con đường mới mẻ”; là Xuân “đầu tiên trong lịch sử Việt Nam mà nhân dân ta bắt đầu hưởng dựng quyền dân chủ của mình”; là Xuân “mỗi người đều nên vui vẻ hưởng quyền lợi của một người dân độc lập, tự do”.

Đúng vào lúc giao thừa của Tết cổ truyền dân tộc năm 1947 – Tết đầu tiên sau khi nhân dân Việt Nam bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp xâm lược theo lời hiệu triệu “Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”, lần đầu tiên nhân dân ta được trực tiếp nghe lời chúc Tết của Bác Hồ trên Đài Tiếng nói Việt Nam đặt tại chùa Trầm huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Đông, nay là tỉnh Hà Tây, vào lúc gần 24 giờ ngày 21-1-1947 (tức ngày 30 Tết Nguyên đán) :

“Cờ đỏ sao vàng tung bay trước gió,
Tiếng kèn kháng chiến vang dậy núi sông.
Toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến.
Chí ta đã quyết, lòng ta đã đồng,
Tiến lên chiến sĩ! Tiến lên đồng bào!
Sức ta đã mạnh, người ta đã đông,
Trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi
Thống nhất độc lập nhất định thành công”.

Mùa Xuân năm 1951, Đảng ta tiến hành Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II. Đó là Đại hội:

“- Xây dựng một Đảng Lao động Việt Nam rất mạnh mẽ,
– Đưa kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn
– Xây dựng Việt Nam dân chủ mới
– Góp sức vào việc giữ gìn dân chủ thế giới và hoà bình lâu dài”.

Bằng sức mạnh của dân tộc, đất nước trong sự nghiệp dựng nước, giữ nước: “Dân tộc ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước”.

Xuân 1960, Xuân “mừng Nhà nước ta 15 xuân xanh. Mừng Đảng chúng ta 30 tuổi trẻ”- Xuân cho ta niềm tự hào lớn lao về Đảng, như Bác Hồ đã nói tại lễ kỷ niệm Đảng 30 tuổi:

“Đảng ta vĩ đại như biển rộng, như núi cao,
Ba mươi năm phấn đấu và thắng lợi biết bao nhiêu tình
Đảng ta là đạo đức là văn minh,
Là thống nhất độc lập, là hoà bình ấm no”.

Và bắt đầu từ Xuân này, nhân dân ta thực hiện 2 nhiệm vụ chiến lược trên đất nước Việt Nam, như Bác Hồ đã có thơ chúc Tết:

“Chúc đồng bào ta đoàn kết thi đua
Xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa
Chúc đồng bào ta bền bỉ đấu tranh
Thành đồng miền Nam vững bền mạnh mẽ.
Cả nước một lòng hăng hái tiến lên.
Thống nhất nước nhà Bắc Nam vui vẻ”.

Xuân Mậu Thân năm 1968, đã đi vào lịch sử, đó là mùa Xuân Tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt của quân dân miền Nam tạo ra một bước ngoặt lịch sử trong cuộc chiến tranh, buộc địch phải lùi vào chiến lược phòng ngự trên toàn chiến trường. Cuộc Tổng tiến công này là bước tập dượt cho cuộc Tổng tiến công toàn thắng mùa Xuân năm 1975. Vì thế, đất nước vào Xuân 1968 với khí thế như Bác Hồ đã có thơ chúc Tết:

“Xuân này hơn hẳn mấy Xuân qua,
Thắng trận tin vui khắp nước nhà
Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ
Tiến lên !
Toàn thắng ắt về ta”.

Cuộc tổng tiến công của quân dân miền Nam, với chiến dịch mang tên người anh hùng dân tộc vĩ đại Hồ Chí Minh, mùa Xuân 1975, đã đánh bại đế quốc Mỹ, đưa giang sơn Việt Nam thu về một mối, cả nước chung sức chung lòng bảo vệ nền độc lập thống nhất và đi lên CNXH. Như lời chúc Tết của Bác Hồ năm 1969:

‘Tiến lên chiến sĩ đồng bào
Bắc Nam sum họp Xuân nào vui hơn”.

Mùa Xuân năm 2000, đó là mùa Xuân cuối cùng của thế kỷ XX, thế kỷ mà với dân tộc Việt Nam, đất nước Việt nam dưới sự dẫn dắt của người anh hùng dân tộc Hồ Chí Minh thực hiện nghĩa vụ thiêng liêng: “Các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”; đó là mùa Xuân, Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh kỷ niệm 70 tuổi, tổng kết đợt 1 của công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng để Đảng thật sự là Đảng cầm quyền, tiếp tục lãnh đạo dân tộc, đất nước và cùng với đất nước, dân tộc bước sang thế kỷ XXI, thế kỷ mà đất nước đã độc lập thống nhất, đi vào xây dựng cơ đồ Việt Nam đàng hoàng, to đẹp và văn minh.

Xuân 2001, mùa Xuân Đảng ta tiến hành Đại hội IX – Đại hội phát huy sức mạnh toàn dân tộc, tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN; Xuân cả nước một lòng vượt qua khó khăn, tất cả để năm đầu tiên của thế kỷ mới với Nghị quyết IX của Đảng soi sáng sẽ giành thắng lợi to lớn và toàn diện. Xuân đầu tiên Đảng, dân tộc thực hiện hành trang mà Bác Hồ chuẩn bị cho mọi người làm hành trình đi trong thế kỷ mới “Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”.

Tới Xuân 2006, Đảng ta tiến hành Đại hội X – Đại hội đánh dấu thời điểm có ý nghĩa trọng đại: đất nước đã qua 5 năm đầu tiền của thế kỷ XXI thực hiện đường mối đổi mới; Xuân thứ 60, nhân dân ta hưởng dụng quyền dân chủ và quyền lợi của một người dân độc lập, tự do.

Năm 2010 đã đi qua, năm mà đảng ta kỷ niệm nhiều sự kiện trọng đại của đất nước: kỷ niệm 80 năm ra đời và trưởng thành của Đảng, 1000 năm Thăng Long đông đô Hà Nội, 35 năm giải phóng miền nam thống nhất đất nước, 120 năm ngày sinh Hồ Chủ tịch, năm 5 học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Người,…Trong niềm vui hân hoan đó, nhân dân trong cả nước ra sức thi đua lao động xây dựng đất nước tiến lên theo con đường CNXH mà Bác và Đảng đã vạch ra.

Chỉ còn không ít giờ nũa, một mùa xuân mới lại về. Xuân mới, lịch mới năm 2011 này, Đảng ta “sắp đặt và lên kế hoạch hoạt động cho cả năm” mà mở đầu là diễn ra Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng (01/2011), kỷ niệm 81 năm thành lập Đảng (03/02/1930-3/02/2011), năm đầu tiên của thập kỷ thứ hai giai đoạn 2010-2020…những kế hoạch trên một lần nữa khẳng định sự lãnh đạo sáng suốt, đúng đắn của Đảng, tinh thần chiến đấu của nhân dân ta vì sự nghiệp đấu tranh thống nhất Tổ quốc; giáo dục truyền thống yêu nước, ý chí độc lập, tự chủ, niềm tự hào dân tộc đã tạo nên bởi những mùa Xuân dựng nước, giữ nước. Để Xuân Tân Mão này – năm bản lề của giai đoạn phát triển kinh tế 2010-2020 và cũng là năm Đảng ta kiện toàn tổ chức, nâng cao năng lực và sức chiến đấu của trong hoàn cảnh đất nước đang không ngừng đổi mới, đang phấn đấu cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; lại thêm một năm chí Đảng đã quyết, lòng dân đã đồng, kiên quyết, kiên trì tiêu diệt “giặc nội xâm”, “giặc quốc nạn”, “giặc trong lòng”, loại giặc quan liêu, tham nhũng, lãng phí ở bộ phận người có chức, có quyền đã biến chất đang làm băng hoại đạo đức xã hội, băng hoại truyền thống nhân văn của dân tộc, đang là thách thức lớn nhất của công cuộc đổi mới đất nước, làm mất thanh danh uy tín của Đảng, Nhà nước, làm xói mòn lòng tin của dân chúng vào Đảng, là nguy cơ đe doạ sự sống còn của chế độ ta. Vì vậy, bước vào mùa Xuân 2011 này, chúng ta như được thúc giục bởi lời chúc Xuân Mậu Thân 1968 của Bác Hồ:

“Tiến lên!
Toàn thắng ắt về ta”./.

Bá Dương
busta.vn

Những bài thơ xuân của Bác Hồ 40 năm về trước

Người là niềm tin tất thắng    Thơ Xuân là một phần “đặc biệt” trong thơ của Bác Hồ. Đặc biệt bởi lời thơ ngắn gọn, ngôn từ và cách diễn đạt dễ hiểu như lời Người tâm sự, đó là: Mấy lời thân ái nôm na, Vừa là kêu gọi, vừa là mừng xuân. Đặc biệt bởi lối viết nôm na, kêu gọi ấy, trong mỗi câu, mỗi bài đều chan chứa ý thơ, tràn đầy sắc xuân, vừa độc đáo, hào hùng, vừa ấm áp thương yêu. Hơn thế, đó không chỉ vì thơ, vì Tết, vì xuân, mà là truyền thống của dân tộc, là tình cảm, là tấm lòng, là món quà đầu năm mới Người gửi tặng đồng bào và chiến sĩ cả nước, là những định hướng chiến lược, là những lời đúc kết, đánh giá những thắng lợi trong năm qua và đề ra phương hướng nhiệm vụ của năm tới, là những lời động viên, cổ vũ toàn dân tộc cùng nhau đoàn kết một lòng, vững bước tiến lên trong đấu tranh cách mạng, trong lao động và sáng tạo để xây dựng quê hương, đất nước…

     Xuân này, chúng ta kỷ niệm bốn mươi xuân – Xuân Bác Hồ viết nhiều thơ xuân nhất (1968 -2008). Điều đặc biệt là chùm thơ xuân ngày ấy (gồm 6 bài) được viết ở những thời khắc khác nhau, với những nội dung và cách biểu đạt khác nhau, nhưng tất cả đều khởi nguồn từ niềm tin và niềm vui chiến thắng của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu thân 1968. Có thể nói, đây là một trong những thời điểm đặc biệt của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta, thời điểm mà sự vươn lên của mỗi con người, mỗi chiến công, mỗi khoảng đất của Tổ quốc, mỗi bước đi của thời gian đang dần trở thành lịch sử, thành hùng văn về chủ nghĩa anh hùng cách mạng của dân tộc Việt Nam.

     Tháng 12-1967, Hội nghị Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá III họp dưới sự chủ toạ của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trên cơ sở phân tích tình hình trong nước và thế giới, đã quyết định mở đợt Tổng tiến công và nổi dây Tết Mậu Thân (1968).

     Tinh thần và quyết tâm của Bộ Chính trị chuyển cuộc chiến tranh cách mạng của nhân dân ta ở miền Nam sang một thời kỳ mới, thời kỳ tiến công và nổi dậy giành thắng lợi quyết định được Chủ tịch Hồ Chí Minh truyền tới đồng bào và chiến sĩ cả nước qua thư Chúc mừng năm mới, ngày 1 thăng 1 năm 1968. Sau khi điểm lại những thắng lợi của quân và dân ta ở cả hai miền Nam – Bắc trong năm 1967, Người chỉ rõ “Sang năm nay, bọn Mỹ xâm lược ngày càng bị động, càng lúng túng, quân và dân ta thừa thắng xông lên, nhất định giành được nhiều thắng lơi to lớn hơn nữa”. Cuối thư, Người chúc đồng bào và chiến sĩ cả nước bằng bằng những vần thơ xuân quen thuộc:

“Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua,
Thắng trận tin vui khắp nước nhà.
Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ,
Tiến lên!
Toàn thắng ắt về ta!”

     Thật tài tình! Chỉ với một bài thơ thất ngôn tứ tuyệt, vừa ngắn gọn, dễ hiểu, Bác Hồ đã cho chúng ta cả một bài ca chiến thắng, một dự đoán thiên tài về sự tất thắng của quân và dân ta trong trận đánh lịch sử mừng xuân này. Điệp khúc “thắng trận”, “toàn thắng” vừa động viên khích lệ, vừa thôi thúc lòng người, dục giã mỗi bước chúng ta đi. Ở câu cuối, sự đột ngột ngắt câu, chuyển dòng, lời thơ như một mệnh lệnh để cả dân tộc muôn người như một, cùng hăng hái tiến lên, quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược… Vâng lời Bác, toàn dân ta đã cùng lên đường ra trận, quyết chiến đấu và chiến thắng.

     Chủ tịch Hồ Chí Minh đã theo dõi sát và động viên kịp thời từng chiến công của quân và dân ta trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy giữa mùa xuân ấy. Đặc biệt ở Huế, ngay từ đêm 31-1-1968, quân và dân ta đã anh dũng chiến đấu, đồng loạt tiến công vào 40 mục tiêu địch trong nội và ngoại thành phố Huế, thành lập chính quyền cách mạng ở nhiều nơi… Ngay trong những ngày sôi động ấy, Người đã gửi thư khen thành tích chiến đấu của quân và dân Huế đánh giỏi, công tác giỏi, thu được nhiều thắng lợi. Khi được tin, tiểu đội nữ du kích thôn Vân Thê, xã Thanh Thuỷ, huyện Hương Thuỷ – trong Tổng tiến công Xuân Mậu Thân được giao nhiệm vụ bảo vệ Sở chỉ huy cánh Nam, tham gia chuyển thương binh và tiếp đạn – khi địch chuyển sang phản kích giải vây Huế, đã xin được trang bị vũ khí, tiếp tục chiến đấu và đã chiến đấu vô cùng anh dũng cảm, đẩy lui nhiều đợt phản kích của địch, Bác Hồ đã gửi thư khen và tặng 11cô gái sông Hương bài thơ:

“Dõng dạc tay cầm khẩu súng trường,
Khôn ngoan dàn trận khắp trong phường.
Bác khen các cháu dân quân gái,
Đánh giặc Hoa Kỳ phải nát xương”.

     Chiến công nối tiếp chiến công. Tin thắng trận từ khắp các chiến trường miền Nam dồn dập báo về chính là những bông hoa thơm dâng Bác, làm xúc động lòng Người. Và, giữa mùa xuân chiến thắng ấy, Người đã mượn cái cớ đã lâu không làm thơ, đọc cho đồng chí thư ký chép bài thơ “Không đề” với vần “thắng” bất ngờ và thú vị, gửi một đồng chí Uỷ viên Trung ương Đảng:

“Đã lâu chưa làm bài thơ nào,
Đến nay thử làm xem ra sao.
Lục mãi giấy tờ vẫn chưa thấy,
Bỗng nghe vần thắng vút lên cao”.

     Bài thơ đã nhanh chóng lan xa và làm xúc động lòng người. Nhà thơ Chế Lan Viên đã kể về niềm sung sướng, hạnh phúc khi được nghe bài thơ xuân “độc đáo” này: “Tôi nhớ lại một cuộc họp ở Pari năm 1968, khi bộ trưởng Hoàng Minh Giám trong diễn văn của mình đã đọc một bài thơ tứ tuyệt của Bác thì cả hội trường trí thức Pháp đã vỗ tay và đứng dậy. Hàng trăm Việt kiều và chúng tôi lúc ấy đã ràn rụa nước mắt. Tự hào và sung sướng cho dân tộc ta biết nhường nào…”.

     Tin thắng lợi của cuộc tiến công và nổi dây đồng loạt của quân và dân ta trên khắp các chiến trường miền Nam càng khẳng định sức mạnh lớn của quân dân ta trong những thử thách vô cùng quyết liệt của cuộc chiến đấu có một không hai này. Còn có công việc nào trọng đại hơn công việc đánh giặc giữ nước và niềm vui nào lớn hơn niềm vui thắng trận. Giữa xuân này, Bác viết bài thơ bằng chữ Hán “Mậu Thân Xuân tiết” (Tết Mậu Thân):

“Tháng tư hoa nở một vườn đây,
Tía tía, hồng hồng đua sắc tươi.
Chim trắng xuống hồ tìm bắt cá,
Hoàng oanh vút tận trời.
Trên trời mây đến rồi đi,
Miền Nam thắng trận báo về tin vui”.

     Hoà cùng niềm vui chiến thắng chung của dân tộc trong mùa xuân chiến thắng ấy, Bác Hồ cũng góp thêm một “chiến công” thầm lặng của mình. Đó là, từ năm 1966, khi sức khoẻ của Bác Hồ đã suy giảm nhiều so với những năm trước, thấy Người ho nhiều, để giữ gìn sức khoẻ cho Người, các bác sĩ đã đề nghị “hai chớ” (chớ hút thuốc, chớ uống rượu). Về chuyện này, theo lời kể của đồng chí Vũ Kỳ, Bác Hồ tâm sự, nếu bỏ được thì tốt, nhưng vì Bác đã hút thuốc lá đã nhiều năm, nên đó là một việc không dễ, và Người đề nghị: các chú phải giúp Bác bỏ tật xấu này. Sau đó, Bác Hồ định ra kế hoạch bỏ thuốc lá, rồi nghiêm túc thực hiện. Người giao thuốc cho đồng chí giúp việc quản lý, mỗi ngày chỉ hút ba lần và hút giảm dần: tuần đầu mỗi lần hút 2/3 điếu, tuần thứ hai hút 1/2 điếu, tuần thứ ba hút 1/3 điếu, tuần thứ tư chỉ một vài hơi. Người bỏ luôn cả cà phê sáng và nhờ đồng chí thư ký uống hộ. Người bảo: cà phê ngon, nhưng uống thì Bác lại nhớ thuốc lá. Khi bỏ thuốc, Người cũng thôi uống rượu.

      Vui niềm vui của riêng mình, giữa mùa xuân chiến thắng ấy, Bác Hồ đã “tự mình đề thơ làm chứng” về quá trình rèn luyện này. Đó là bài Nhị vật bằng chữ Hán:

“Thuốc không, rượu chẳng có mừng xuân,
Dễ khiến thi nhân hoá tục nhân,
Trong mộng thuốc thơm và rượu ngọt,
Tỉnh ra thêm phấn chấn tinh thần” .

     Từ bỏ một thói quen đã lâu năm mà nỗi nhớ đi cả vào trong mộng thì quả là bỏ không phải là điều dễ dàng. Nhưng, Người đã quyết tâm và thực hiện thành công. Đó là kết quả của ý chí và sự kiên trì. Và niềm vui phấn chấn tinh thần ấy lại được Người viết tiếp trong bài thơ “Vô đề” bằng chữ Hán:

“Thuốc kiêng, rượu cữ đã ba năm,
Không bệnh là tiên sướng tuyệt trần.
Mừng thấy miền Nam luôn thắng lớn,
Một năm là cả bốn mùa xuân” .

      Xuân này, đọc lại những vần thơ xuân của Bác Hồ 40 xuân trước càng thấy rõ hơn những lời tâm tình trong thơ Bác vừa tràn ngập sắc xuân, vừa toát lên tinh thần lạc quan, khoẻ khoắn của một ý chí lớn: ý chí cách mạng tiến công. Tinh thần ấy, ý chí ấy đã giúp Người vượt lên những hạn chế của tuổi tác, giữ được sự hài hoà giữa vật chất và tinh thần, chan hoà và gắn bó làm một với phong trào cách mạng, với cuộc sống mới đang dựng xây và phát triến của non sông đất nước.

     Vui đón Xuân về, đọc lại những vần thơ xuân của Bác để nhớ mãi ơn Người, nguyện học tập và làm theo lời Người để mỗi cuộc đời mãi mãi: Một năm là cả bốn mùa xuân!

T.s. Chu Đức Tính
Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh

lichsuvietnam.vn

Đọc tâm hồn xuân Bác Hồ

Theo gương Bác Hồ làm báoNhư một hoài niệm thấm đượm tâm hồn Việt, cứ mỗi độ xuân về, ký ức con người lại dấy lên những vần thơ Xuân Bác Hồ. Ấy là vì, như thành lệ, khi xuân đến trong cảnh đất trời rực rỡ, lòng người lại xốn xang chờ đợi những lời chúc mừng năm mới của lãnh tụ: “Vừa là kêu gọi, vừa là mừng Xuân”. Xuân về, nhớ Bác là tình cảm thiêng liêng tự nhiên.

Gần như suốt những năm với cương vị người đứng đầu Nhà nước, Bác Hồ đều gửi thu bằng thơ mừng xuân như một phong tục đẹp mới vừa truyền thống, vừa rất cách mạng.

Trong tâm hồn người cầm súng tự vệ mùa xuân Đinh Hợi 1947 là lồng lộng tung bay lá cờ đỏ sao vàng và rộn rã “Tiếng kèn kháng chiến vang dậy non sông”. Lời lãnh tụ từ đài Tiếng nói Việt Nam ở cơ sở Chùa Trầm, ngay sát Thủ đô khói lửa, có sức kêu gọi ghê gớm cả lớp thanh niên Quyết tử quân mùa xuân ấy. Rồi cả nước, từ hải đảo xa xôi đến vùng biên hẻo lánh nghe Bác Hồ cất tiếng nói Mừng Xuân 1968 kêu gọi trong niềm hy vọng cháy bỏng: “Tiến lên!/Toàn thắng ắt về ta”

Mùa xuân Kỷ Dậu 1969, không ai ngờ Mừng Xuân như một lời gĩa biệt trước khi Người đi xa mãi mãi.

Nếu ngược dòng thời gian ta sẽ nhớ lại những mùa xuân trọng đại từ trước Cách mạng của Bác Hồ.

Mùa xuân Canh Ngọ, sau nhiều năm bôn ba hải ngoại tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh trở về trực tiếp lãnh đạo cách mạng : Ôi sáng xuân nay, Xuân 41/ Trắng rừng biên giới nởhoa mơ” (Theo chân Bác – Tố Hữu). Năm sau, đúng ngày 01/01/1942, Mừng xuân 1942 là bài thơ khởi đầu cho chùm hơn hai chục bài thơ vào dịp năm mới của vị Nguyên thủ Quốc gia tương lai.

Hồ Chí Minh gắn bó với Mùa xuân – một sự gắn bó mật thiết từ trong tâm hồn. Không phải đợi đến kỳ chuyển giao thời tiết mà, đối với Người, mỗi năm không chỉ có một mà là những bốn mùa xuân – như một ý thơ mừng xuân.

Mùa xuân là “mùa xanh” của vạn vật, mùa của đâm chồi nảy lộc, của sinh sôi cây lá. Bức tranh thiên nhiên xanh tuyệt đẹp ấy chính là phiên bản của một “tâm hồn xanh” – tâm hồn vui tươi yêu đời lạc quan tột độ.

Không chỉ là phong cách mà chính là cốt cách. Hồ Chí Minh là người ưa sống với thiên nhiên, bầu bạn với thiên nhiên. Chủ tịch phủ gắn với Bách thảo như một khu rừng với cây cao bóng cả. Riêng Vườn Bác đã là một bảo tàng sống thực vật “Cõi Bác” tiên cảnh mà đời thường “Đường xoài hoa trắng nắng đu đưa, Có bốn mùa rau tươi tốt lá… ” (Tố Hữu). Sở thích riêng là tính cách con người hòa nhập tự nhiên theo một quan niệm triết lý.

Từ bạt ngàn xanh Chủ tịch phủ “Lộc non về như trận thắng Mùa Xuân”, Người muốn “Lộc của đời chia đến mỗi người dân” (Lộc của đời-Chế Lan Viên). Màu “xanh” chính là màu “xuân” – báu vật của thiên nhiên và đời người.

Mùa xuân là mùa hy vọng, mùa của những ước mơ.

Đông qua, xuân tới. Mỗi khi năm hết tết đến, trong thâm tâm Bác Hồ lại nổi lên lòng trắc ẩn, nỗi niềm đồng chí, đồng bào, tình yêu con người.

Năm 1948, người viết bài thơ Tư chiến sĩ (Nhớ chiến sĩ) có câu : “Gửi mau áo rét ra tiền tuyến/ Nhờ ấm truyền tin xuân sắp sang”. Lòng người trĩu nặng tình cảm gắn liền trách nhiệm trước mùa xuân nhân sinh.

Ưu tư nhưng vẫn thanh thản, đó là cốt cách của bậc đại nhân. Nguyên tiêu viết trong kháng chiến thể hiện rất rõ một tâm hồn tuyệt đẹp qua một bài thơ tuyệt bích/Rằm xuân lồng lộng trăng soi/Sông xuân nước lẫn màu trời thêm xuân/ Giữa dòng bàn bạc việc quân/ Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền.

Từ lâu lý tưởng cao đẹp nhất của Người là đấu tranh vì độc lập, tự do và hạnh phúc cho dân tộc và nhân loại. Lý tưởng ấy chính là mùa xuân của loài người. Đấu tranh cho một mùa xuân vĩnh viễn là tất cả tâm can, ý chí và ước vọng của người.

Mừng xuân, xuân cả thế gian.

Mùa xuân là mùa trăm hoa đua nở, muôn hồng nghìn tía.

Trong mùa xuân của thơ Bác không có những cảnh tượng thiên nhiên rực rỡ mặc dầu nhà thơ Hồ Chí Minh thừa sức mô tả.

Có hoa nhưng nổi lên là “hoa lao động” : “Bốn mùa hoa Duyên Hải, Đại Phong”, nhất là “hoa chiến đấu” : “Tin vui thắng trận nở như hoa”. Trong kháng chiến phải là những bó “hoa lửa” chiến công. Nhưng năm cuối đời, với tâm trạng “Lắng mỗi tin mừng, tiếng súng xa” (Bác ơi – Tố Hữu), tâm hồn lãnh tụ chói ngời hy vọng, niềm tin sắt đá chiến thắng. Bài thơ lớn của Bác vang lên âm thanh của chiến trận. Tin vui lớn là tin vui thắng trận : “Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua/Thắng trận tin vui khắp nước nhà”

Lời mừng xuân cũng là lời chúc thắng lợi : “Tiến lên!/Toàn thắng ắt về ta” (Mừng xuân – 1968).

Như để đáp lại tấm lòng mong mỏi của Bác Hồ qua thơ Mừng xuân 1969, nhà thơ Tố Hữu diễn đạt ý thơ của Người qua vần thơ Xuân 69 : “Tưng bừng năm 68 chuyển nhanh/ Như một chuyến tốc hành chở đầy hoa chiến thắng/ Hoa Việt Nam – Hoa bốn mùa mưa nắng” Tứ thơ gói gọn ý Bác, lòng Dân.

***

Nghe thơ chúc mừng đầu năm của Bác, lòng người phấn khích tưng bừng nở hoa cùng với đất trời vào xuân :

Xuân về xin có một bài ca

Đúng, đó là một bài ca, bài ca chiến thắng, bài ca hy vọng.

Nhưng hơn thế, đó còn là một lời “kêu gọi” vang lên giọng đanh chắc như một mệnh lệnh thép có sức chấn động lương tâm, ý thức con người, như lời truyền hịch hào hùng.

Qua thơ mừng xuân của Người, người dân đọc được bản tổng kết “thắng lợi vẻ vang” và hướng tới nhiệm vụ thời sự, đường hướng chiến lược mới “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy” (Mừng xuân 1969) .Lịch sử đã diễn ra đúng như dự cảm, tiên đoán của lãnh tụ thiên tài.

Nhưng lẽ trời là thế “Ví không có cảnh đông tàn/ Thì đâu có cảnh huy hoàng ngày xuân (Tự miễn, Nhật ký trong tù). Lẽ đời cũng vậy. Với Người, vượt lên bức xúc, phiền hà, gian khó, hiểm nguy là lòng yêu đời lạc quan tin tưởng.

Dự cảm tương lai của Hồ Chí Minh là cực kỳ mạnh mẽ, nhanh nhạy. Thăm bạn, trên đường về, chợt thấy cây mai núi mà lòng Người đã xốn xang (Tầm hữu vị ngộ).

Mỗi đóa hoa vàng một điểm xuân

Rất nhạy cảm với tín hiệu, nhiều khi còn ở dạng ẩn hiện, thấp thoáng, mơ hồ. Với thiên nhiên là vậy, với công cuộc đấu tranh lại càng như vậy!

Mừng thấy miền Nam, luôn thắng lớn
Một năm là cả bốn mùa xuân
(Vô đề – 1963)

Với Hồ Chí Minh, trong đời Người, mùa xuân như bao trùm hết – trong bốn mùa, trên cả bốn mùa. Ấy là mùa xuân trong tâm tưởng – mùa xuân tâm hồn.

Bình sinh, Người mong ước một Đất nước xanh tức một Đất đẹp, tràn đầy sức sống. Như câu thơ tươi trẻ: “Mùa xuân là tết trồng cây/ Làm cho Đất nước mỗi ngày một xuân”.

Trước lúc ra đi mãi mãi, Người còn để lại thông điệp lạc quan. Đời người là liên tục những mùa xuân như tinh thần Di chúc : “Khi người ta đã ngoài 70 xuân”.

Đặc biệt Người rất coi trọng tuổi thanh xuân .Trong mấy lời Gửi thanh niên và nhi đồng toàn quốc nhân dịp Tết sắp đến, Người nói: “Một năm khởi đầu từ mùa xuân. Một đời khởi đầu từ tuổi trẻ. Tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội.”

Qua cuộc đời anh hùng của Người, qua thơ của bậc danh nhân văn hóa thế giới, có thể thâu tóm một nhận định như chân lý nhân sinh và nghệ thuật.

Hồ Chí Minh -một con người sống đầy xuân sắc
Hồ Chí Minh- một cuộc đời sáng mãi mùa xuân
Hồ Chí Minh -một tâm hồn xuân

Thành phố Hồ Chí Minh
Tất niên Nhâm Thìn, nghênh xuân Quý Tỵ
Đoàn Trọng Huy(*)

CHÚ THÍCH:

1.Tất cả thơ văn trích dẫn đều lấy từ Hồ Chí Minh -Thơ – toàn tập, Danh ngôn Hồ Chí Minh – Nhà xuất bản Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh và Trung tâm Nghiên cứu Quốc học, 2000; Nhà xuất bản Văn học – Trung tâm Nghiên cứu Quốc học, 2011.

2.Tất cả thơ Tố Hữu lấy từ Tố Hữu toàn tập – Thơ ca Nhà xuất bản Văn học , Hà Nội, 2008.

* Tác giả Đoàn Trọng Huy nguyên là nhà giáo, đã từng dạy học ở Tây Bắc từ năm 1953-1958, chuyên gia giáo dục ở Angola, hiện đã về hưu và sống tại thành phố Hồ Chí Minh

(Theo Bản tác giả gửi NBĐ)
Theo Nguoibanduong.net

nguoixunghekiev.vn

Bác Hồ khai bút đầu xuân

Bác Hồ chúc TếtNgoài những thư và thơ chúc tết gửi đồng bào và chiến sĩ cả nước, đầu xuân Bác Hồ thường khai bút bằng những bài báo với nhiều bút danh khác nhau, khi thì C.B, T. Lan hoặc Trần Lực (T.L). Thường mỗi tết, Bác viết từ một đến hai bài báo. Đặc biệt tết năm 1960, Bác viết tới 4 bài báo. Chủ đề Bác viết rất phong phú, bài viết ngắn gọn, súc tích, dễ hiểu. Có bài Bác viết tố cáo kẻ thù xâm lược bị nhân dân lên án như “Mỹ không mừng xuân” (T.L 1961).

Khi phê phán tệ nạn lãng phí xa hoa, lấy tiền công quỹ để chè chén lu bù, trong ngày lễ, ngày tết – Bác viết bài: “Mừng Tết Nguyên đán như thế nào?” (T.L 1960). Bác lên án những kẻ “đục khoét” của dân là những kẻ bất nhân, có tội với dân. Đồng thời, Bác khen ngợi cán bộ của hai HTX vì dân đã không những không chè chén mà còn biết động viên dân ăn tết tiết kiệm, lấy tiền dự định liên hoan đầu tư vào sản xuất và trích thưởng nếu tăng năng suất. Bác kết luận, như vậy cán bộ ở đó biết nâng cao đời sống cho dân và làm cho dân yêu quý HTX, tin tưởng ở cán bộ hơn. Bác nhắc nhở tiết kiệm là quốc sách, làm giàu đất nước, tạo cho con người nếp sống văn minh lành mạnh, làm việc vì mọi người, khi ăn uống biết nghĩ đến người nghèo. Trong bài viết khai bút đầu xuân, Bác đề xướng phong trào “Tết trồng cây”, giữ mãi trong chúng ta hình ảnh đẹp đẽ đầu xuân Bác đi trồng cây. Trong di sản những bài báo ký nhiều bút danh, có nhiều bài cổ vũ Tết trồng cây. Bác nêu gương những người trồng cây giỏi, như cụ Vũ Văn Lân ở Hưng Yên tuy đã 104 tuổi, tự mình trồng và chăm bón cây tốt. Anh Cao Xuân Nhĩ ở Vĩnh Phúc, tuy kém cả hai mắt nhưng vẫn trồng được 6.000 cây. Bác khen những địa phương có phong trào trồng cây tốt như Lạc Trung, Ngọc Long (Vĩnh Phúc), Vĩnh Thành (Nghệ An), Nà Vó (Hòa Bình), Vinh Quang (Phú Thọ), Lê Hồng Phong (Hà Tĩnh)…

Bác khen Đoàn thanh niên thực sự là đội quân chủ lực của phong trào trồng cây. Riêng năm 1963, Đoàn thanh niên đã trồng được hàng triệu cây. Thanh niên tỉnh Hải Dương đã biến 1.500ha đồi trọc thành rừng cây. Bác khích lệ: “Vì lợi ích 10 năm trồng cây” để có gỗ làm nhà, có củi đun, có bóng mát, góp phần cho bầu không khí trong lành. Trồng cây có lợi cho xuất khẩu, cho công nghiệp như cây keo lá tràm, cây trẩu, quế, hồi… Trồng cây chắn sóng, chắn cát, chắn gió. Trồng cây cho quả ăn, tăng thu nhập kinh tế gia đình như cam, quýt, mận, mơ, nhãn, vải… mang lại lợi ích gần gũi với người dân. Đặc biệt, Bác động viên không những đồng bào miền xuôi trồng cây mà đồng bào miền ngược cũng phải tích cực trồng cây, phủ xanh đồi núi trọc, có rừng cây xanh giữ nước tránh lụt, giữ đất tránh khỏi bạc màu. Bác kết luận, lợi ích trồng cây là cho hôm nay và cho cả mai sau. Bác mong muốn thiết tha là phong trào trồng cây phải được giữ gìn, phát huy mãi mãi, vì nó luôn gắn với sự tồn vong và phồn vinh của đất nước.

Có bài khai bút đầu xuân, Bác nhắn nhủ vui xuân mới không quên xuân cũ, những cái tết thiếu thốn, gian khổ, ác liệt đã qua. Bác nhắc nhở mỗi một chúng ta, ăn tết sung sướng hôm nay là nhờ những ngày gian khổ hôm qua, không được quên đi quá khứ, không được quên đi lịch sử. Bác nhắc nhở không được quên nhân dân lao động vì cách mạng mà nay vẫn còn thiếu thốn, nghĩa cử “uống nước nhớ nguồn” là lẽ sống của người cách mạng.

QUỲNH LINH
baophuyen.com.vn