Tag Archive | Văn hóa – Xã hội

Sự kiện Tết Mậu Thân 1968 theo đánh giá của người Mỹ và người nước ngoài

Cách đây vừa tròn 45 năm, vào Tết Mậu Thân năm 1968, quân và dân ta đã mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt vào 4/6 thành phố, 37/46 thị xã và hàng trăm thị trấn trên toàn miền Nam. Trong lịch sử chiến tranh thế giới cũng như lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc ta, chưa bao giờ có cuộc tiến công đồng loạt, đều khắp và rộng lớn như Mậu Thân 1968.

Sài Gòn hỗn loạn trong dịp Tết Mậu Thân 1968.Sài Gòn hỗn loạn trong dịp Tết Mậu Thân 1968.

Mậu Thân 1968 với hiệu lực chiến đấu “cộng hưởng” lớn lao chưa từng có đã làm rung chuyển cả Nhà Trắng và Lầu Năm góc. Cũng chính vì vậy, nó gây chấn động dữ dội trong dư luận không chỉ ở nước Mỹ mà trên toàn thế giới. Sự chấn động ấy được thể hiện qua một số sách báo xuất bản lúc đó và cả sau này.

Nhà sử học Mỹ Gabriel Kolko trong tác phẩm Giải phẫu một cuộc chiến tranh xuất bản tại New York năm 1985, đánh giá: “Cuộc tiến công Tết là sự kiện quan trọng nhất và phức tạp nhất của chiến tranh Việt Nam”. Theo ông, với Mậu Thân 1968, “Việt Nam đã trở thành cuộc chiến tranh nước ngoài đầu tiên của Mỹ kể từ năm 1882 đã gây ra cuộc khủng hoảng xã hội, nội bộ sâu sắc và một sự phân hóa về chính trị”.

Còn tướng Maxwell D. Taylor – cựu đại sứ Mỹ ở Sài Gòn, sau khi từ chức (tháng 6-1965) về làm cố vấn đặc biệt của Tổng thống Johnson, trong hồi ký Thanh gươm và lưỡi cày  xuất bản tại New York năm 1972 đã thừa nhận: “Ngày 31-1-1968, quân địch (tức quân giải phóng) tiến công và chỉ trong vòng 2 ngày họ đã tiến vào 5 đô thị lớn, 39 tỉnh lỵ và nhiều thành phố. Những trận tiến công của họ đã được báo chí Mỹ tường thuật dưới dạng những hàng tít lớn được chiếu trên các màn ảnh vô tuyến truyền hình và đã làm cho phần lớn dân chúng Mỹ và một số quan chức kinh hoàng. Phải rất lâu họ mới hoàn hồn và trong một số trường hợp, sự hoàn hồn đó mãi mãi không bao giờ được khôi phục lại hoàn toàn”.

Taylor còn nói: “Những điều bất ngờ thực sự mà cuộc tiến công Tết 1968 đã gây cho tôi không phải là việc đối phương đã mở được một cuộc tiến công lớn mà chính là việc họ đã mở cùng một lúc nhiều trận tiến công mãnh liệt đến như thế”.

Westmoreland – nguyên Tư lệnh Bộ chỉ huy quân Mỹ ở miền Nam Việt Nam viết trong Một quân nhân tường trình xuất bản ở New York năm 1976: “Việt Cộng đã đưa chiến tranh đến các thành phố, các đô thị, đã gây thương vong thiệt hại và nền kinh tế bị phá hoại… các trung tâm huấn luyện bị đóng cửa… Nói theo quan điểm thực tế thì chúng ta (Mỹ) phải công nhận, đối phương đã giáng cho chính phủ Nam Việt Nam một cú đấm nặng nề”. Westmoreland còn nhận xét một cách bi quan rằng: “Chiến tranh đã trở thành một vấn đề chính trị với triển vọng địch (QGP) có thể thắng ở Washington như họ đã thắng ở Genève 1954. Ý chí của các chính khách Mỹ đang suy giảm”.

Cựu tổng thống Mỹ Eisenhower, ngày 27-3-1968 nghĩa là chưa đầy 2 tháng sau khi ta mở cuộc tiến công đã phải than thở: “…Chưa bao giờ gặp phải tình trạng đáng buồn như tình cảnh hiện nay của nước Mỹ bị chia rẽ sâu sắc về chiến tranh”.

Ngay đương kim Tổng thống Johnson lúc bấy giờ cũng tỏ ra chán nản, dao động sâu sắc. Trong hai ngày 25 và 26-3-1968, ông ta đã triệu tập một cuộc họp “những nhân vật am hiểu tình hình nhất”. Phiên họp kéo dài với những thành viên hội nghị gồm những người nắm những địa vị then chốt nhất trong chính phủ Mỹ, Johnson đã hỏi quan điểm từng người một. Và, “Tổng thống đã nhận được những câu trả lời vô cùng bi quan của những người từ trước đến nay được xem là loại cứng rắn… Cuối cùng, Tổng thống quyết định rời khỏi sân khấu chính trị với hy vọng thống nhất lại một quốc gia đang bị chia rẽ ngay trong những người thân cận nhất của Tổng thống”. Sau đó, Nixon gặp Nguyễn Văn Thiệu tại đảo Midway để bàn về việc Mỹ sẽ rút quân khỏi Việt Nam. Henry Kissinger, ngoại trưởng Mỹ nhận xét: “Việc Tổng thống chúng ta chỉ có thể gặp người lãnh đạo một nước mà hơn 30.000 người Mỹ đã chết vì nó trên một hòn đảo hiu quạnh trong một khung cảnh đẹp trời của Thái Bình Dương chứng minh tình hình rối như tơ vò mà chiến tranh Việt Nam đã dìm xã hội chúng ta vào”.

Đó là lời của các nhân vật chóp bu trong giới cầm quyền Mỹ. Còn báo chí Mỹ thì sao?

Tờ tin tức Hoa Thịnh Đốn ngày 31-1-1968 đã viết: “Các cuộc tiến công ồ ạt, táo bạo của Cộng sản ngày 31-1 vào Sài Gòn, 8 tỉnh lỵ và 30 thị trấn nhỏ hơn là một điều đáng kinh ngạc. Cảnh sát quân sự Mỹ đã phải đổ bộ bằng máy bay lên thẳng xuống nóc nhà sứ quán Mỹ ở Sài Gòn trong khói đạn để giành lại ngôi nhà được coi là “chống du kích” nhưng lại bị cộng sản chiếm trong 6 giờ liền. Chỉ riêng cảnh tượng đó cũng đủ để buộc chính phủ Johnson dẹp đi, coi là không có giá trị những nhận định lạc quan của mình”.

Thời báo New York, tờ báo lớn nhất của Mỹ số ra ngày 1-2-1968 bình luận: “Cuộc tiến công của đối phương đột nhập cả đại sứ quán Mỹ ở Sài Gòn cho thấy thêm những bằng chứng đau xót về sức mạnh có hạn của Mỹ ở châu Á. Bằng chứng cuộc tiến công táo bạo vào những thành phố chính ở miền Nam Việt Nam và bằng sự tập trung quân ở Khe Sanh, cộng sản đã làm tiêu tan niềm lạc quan bao trùm lên Hoa Thịnh Đốn và Sài Gòn trong mấy tháng qua. Đây rõ ràng không phải là hành động của một đối thủ đang yếu dần như các nhà quân sự Mỹ đã khẳng định hồi tháng 11-1967”.

Một chiến sĩ Giải phóng quân đang cài mìn đánh địch trong dịp Tết Mậu Thân 1968.Một chiến sĩ Giải phóng quân đang cài mìn đánh địch trong dịp Tết Mậu Thân 1968.

Cũng tờ báo này, trong số ra ngày hôm sau 2-1-1968 có đoạn: “Chiến thắng của Việt Cộng chứng minh sự suy yếu của cơ cấu chính trị mà Mỹ dùng làm chỗ dựa trong cố gắng chiến tranh và đe dọa thủ tiêu hoàn toàn các cơ cấu chính trị đang suy  yếu”. Tác giả bài báo tỏ ý lo ngại rằng: “Hậu quả chính trị do thắng lợi đáng kinh ngạc của Việt Cộng gây ra lần này mới là nguy hại nhất”.

Không chỉ báo chí Mỹ, các báo phương Tây và các nước trên thế giới ở góc độ này hay khác đều đưa tin và bình luận về sự kiện lịch sử này.

Hãng thông tấn Reuters của Anh ngày 3-2-1968 nói: “Quy mô và tính chất ác liệt của các trận tấn công phối hợp ở Sài Gòn và ở các trung tâm chủ chốt khác tại Nam Việt Nam làm cho Mỹ và các nước đồng minh rất đỗi ngạc nhiên”. Kế đó, ngày 5-2-1968 hãng này thống kê: “Mỹ có đến nửa triệu quân ở Nam Việt Nam, đã mất 13 năm và đã tiêu mỗi ngày 60 triệu đô la mà vẫn không bảo vệ được một tấc vuông đất nào ở miền Nam Việt Nam cả”. Trong khi đó, báo Người quan sát (Anh) tỏ ra ngạc nhiên khi than rằng: “Người ta không thể tin là một tình hình như thế lại có thể xảy ra”.

Báo Pháp “Thế giới” (Le Monde) ngày 1-2-1968 mỉa mai: “Người Mỹ đã từng khẳng định dân chúng Nam Việt Nam chịu đựng hơn là ủng hộ Mặt trận Dân tộc giải phóng, giờ đây liệu họ còn có thể nêu lên những lý lẽ như thế nữa không sau khi đã xảy ra một cuộc biểu dương đáng khâm phục về sức mạnh và lòng dũng cảm của Việt Cộng như vậy”. Báo Chiến đấu ngày 1-2-1968 khẳng định: “Điều hiển nhiên là người Mỹ đã thua đứt về mặt chính trị trong cuộc chiến tranh này rồi. Những gì xảy ra ở Sài Gòn cũng đủ cho thấy Mặt trận Dân tộc giải phóng đã nắm được các tầng lớp dân chúng ở miền Nam Việt Nam trong mức độ lớn biết nhường nào”.

Tờ Le Figaro (Pháp) ngày 2-2-1968 ca ngợi: “Cuộc tiến công lừng danh của Việt Cộng cho ta thấy trước hết cái tài tình của những người chỉ huy trong việc hướng dẫn cuộc chiến tranh vừa quân sự, vừa chính trị này. Về mặt đối nội, họ vừa thu được một thắng lợi lớn; họ chứng tỏ cho nhân dân Việt Nam thấy rằng, họ có thể đánh nơi nào và lúc nào cũng được hết. Họ làm cho chính phủ Sài Gòn và quân đội của chính phủ này trở thành một trò cười. Họ tăng cường sự kiểm soát của họ, và do đó, làm giảm bớt sự kiểm soát của chế độ Sài Gòn đối với dân thường, những người dân thường này thì đầy lòng kính nể và khâm phục đối với Mặt trận Dân tộc giải phóng.

Nhiều báo của các tổ chức Đảng Cộng sản và công nhân ở các nước tư bản đều tỏ thái độ khâm phục với cuộc chiến đấu chống Mỹ của nhân dân ta qua sự kiện Tết. Báo Nhân dân – cơ quan Trung ương của Đảng Cộng sản Pháp ngày 1-2-1968 đã ca ngợi: “Đây là cuộc tiến công lớn nhất của các lực lượng vũ trang giải phóng. Những người yêu nước miền Nam Việt Nam đã chứng tỏ rằng ở khắp nơi, quyền chủ động đang thuộc về họ, họ có thể quyết định địa điểm, thời gian của các cuộc tiến công làm cho Bộ chỉ huy Mỹ luôn luôn bở hơi tai”.

Người dân Mỹ biểu tình chống chiến tranh tại California, Mỹ (năm 1968).Người dân Mỹ biểu tình chống chiến tranh tại California, Mỹ (năm 1968).

Các nước trong phe XHCN lúc đó thì vui mừng. Hầu như báo của nước nào trong ngày 31-1 và 1-2 cũng đăng bài biểu lộ niềm hân hoan trước thắng lợi của nhân dân ta. Tiêu biểu là tờ Diễn đàn nhân dân Ba Lan, có đoạn: “Các trận đánh táo bạo được chuẩn bị tốt của những người yêu nước miền Nam Việt Nam là sự phát triển của các cuộc tiến công trên một quy mô rộng lớn mà Quân giải phóng đã mở đầu trong tháng Giêng năm nay vào những lúc, ở những nơi và với hình thức mà họ lựa chọn. Quân giải phóng trên thực tế đã trói chân, khóa tay tất cả các lực lượng chiến đấu của quân thù trong khắp các tỉnh”.

Qua một số sách, báo Mỹ và nước ngoài nói về sự kiện Tết Mậu Thân 1968 có thể nhận thấy: dù ở góc độ nào, dưới con mắt của các nhà khoa học quân sự, nhà chính trị, nhà sử học hay nhà báo, từ người dân bình thường đến các tướng lĩnh cao cấp, thậm chí cả Tổng thống đương nhiệm của nước Mỹ lúc bấy giờ đều phải thừa nhận tác động to lớn của sự kiện Tết Mậu Thân 1968 đối với toàn bộ cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Việt Nam. Điều này chứng tỏ tầm vóc và ý nghĩa sâu sắc của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1968 của quân và dân ta ở miền Nam. Nó đập tan những luận điểm sai trái và xua đi những nghi ngờ về thắng lợi của ta trong lịch sử Tết Mậu Thân 1968.

Đại tá, PGS. TS Trần Nam Chuân
baodongnai.com.vn

26 ngày đêm Tết Mậu Thân 1968

(TTH) – 2 giờ 33 phút ngày 31/1/1968, tức mồng Một Tết Âm lịch, giờ phút mở đầu Tết Mậu Thân, giờ phút thiêng liêng đáng ghi nhớ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước ở quê hương Thừa Thiên Huế chúng ta, ở chiến trường Trị Thiên.Như bao lần Tết, cứ đến giao thừa việc đầu tiên của mọi người là mở Đài Tiếng nói Việt Nam để đón nghe Thơ mừng Xuân, chúc Tết của Bác Hồ.

Đúng lúc, những phát pháo lệnh của chỉ huy vạch những đường đỏ hồng thẳng lên vòm trời cao. Một mũi tiến quân của đơn vị tinh nhuệ cũng vừa cắt xong dây thép gai ở cống Thủy Quan – cống ngầm dưới thành thông ra sông Kẻ Vạn với sông Ngự Hà, chạy dài cắt đôi khu Thành NộiMen theo sông Ngự Hà, các chiến sĩ tiến vào góc Tây Nam sân bay Tây Lộc, đánh chiếm khu nhà lính bảo vệ sân bay. Một mũi quân khác từ cửa Chánh Tây theo đường Thái Phiên vào chiếm khu thông tin và kho đạn phía Tây sân bay, phá hủy một số máy bay lên thẳng, máy bay trinh sát và vận tải.

Liệt sĩ Phạm Thị Liên, Tiểu đội trưởng 11 cô gái Sông Hương trong Chiến dịch Huế-Xuân 1968 (đơn vị Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân). Ảnh:TL

Địch bị đánh bất ngờ, không chống cự nổi. Một số thoát chết chạy về khu quân cụ ở Nam sân bay, hợp lại với bọn nhân viên kỹ thuật bắn trả lại. Quân ta quyết đánh, dựa vào hào giao thông và các vật chướng ngại tại chỗ, bám chặt sân bay, giữ vững vị trí đã chiếm được.Ban chỉ huy Trung đoàn cho một tiểu đoàn mở đợt tấn công tiếp vào sân bayTrận đánh diễn ra từ nửa đêm đến sáng mới kết thúc. Ta chiếm được sân bay, phá hủy 40 máy bay các loại, 100 chiếc xe, 1 kho đạn, 1 kho xăng, thu nhiều vũ khí và đồ dùng quân sự. Sau đó quân địch phản kích chiếm sân bayTa lại tổ chức tập kích vào sân bay một lần nữa… Trận đánh giành giật sân bay Tây Lộc diễn ra ác liệt và liên tục trong suốt thời gian ta chiếm giữ thành phố Huế.

Lễ xuất quân trong Chiến dịch Huế Xuân 1968. Ảnh: TL

Nhìn toàn cục chiến dịch khi ấy đến 2 giờ 40 phút ngày 31/1/1968, khi chiếm xong cửa Hữu, ta từ đó mở 3 mũi tiến công.

Mũi thứ nhất đánh vào cửa Ngọ Môn và Cột Cờ. Địch ở đây có 1 trung độinhưng lúc đó chỉ có 6 tên.Một tiểu đội của ta bí mật tiến vào và diệt gọn địch ngay từ những phút đầu.Ta chiếm xong cửa thành và Cột cờ Ngọ Môn vào lúc 6 giờ sáng, chiếm toàn bộ kho tàng, vũ khí, trong đó có 2 khẩu trọng liên 12 ly 7.

Mũi thứ hai theo đường Yết Kiêu, đường Lê Xuân đánh chiếm khu Đại NộiTrên đường tiến, ta bắt được một tên cảnh sát ngụy, thuyết phục nó đi theo ta. Tên này đã dẫn bộ đội đi thẳng vào cổng chính, diệt 1 đại đội thám báo, 1 đại đội cảnh sát, bắt 26 tù binh, chiếm hoàn toàn khu Đại Nội.

Mũi thứ ba gồm 2 trung đội bộ binh được 1 tổ du kích dẫn đường, tiến theo đường Yết Kiêu, Mai Thúc Loan ra chiếm cửa Thượng Tứ, cửa Đông Ba, rồi từ đó phát triển chiếm cầu Thanh Long mạn Đông Bắc thành phố và cầu Trường Tiền, chiếm các sở, ty, kho tàng trong thành phố.

Lá cờ của địch bị hạ xuống, cờ Mặt trận xanh đỏ với ngôi sao vàng tung bay trên đỉnh cột cờ Ngọ Môn vào lúc 8 giờ sáng ngày 31/1/1968. Chính Nguyễn Văn Truyền, người chiến sĩ dũng cảm của đại đội 3, tiểu đoàn 2, Trung đoàn 6 đã cùng đồng đội treo lá cờ cách mạng lên cột cờ cao nhất thành phố. Từ hôm đó, lá cờ vẻ vang của nhân dân miền Nam anh hùng phất phới bay cao trên thành phố cổ kính của niềm tin, soi bóng hồng xuống dòng sông Hương xinh đẹp.

Cùng lúc đó, mũi bộ đội tinh nhuệ và bộ binh từ cửa An Hòa tiến nhanh về mạn Tây Mang Cá, mở đường tiến công đưa được 12 chiến sĩ vào đồnHai mũi hợp lực chiến đấu dũng mãnh kiên cường cho đến sáng thì chiếm được khu Cải huấn, phòng Chiến tranh Tâm lý, đại đội Quân y, làm chủ 1/3 đồn Mang Cá. Đến 6 giờ sáng, Ban chỉ huy Trung đoàn phái đồng chí Tham mưu phó chỉ huy 1 đại đội bộ binh với 4 khẩu DKZ 75 đến tăng cường cho lực lượng tiến công. Nhưng vì địch đã dàn quân đối phó, xe thiết giáp của chúng đã bịt cửa thành nên cuộc chiến đấu hết sức gay go. Đến 11 giờ ngày 3-1 quân ta bị đánh bật khỏi Mang Cá.

Các trận tiến công giải phóng vùng ngoài thành phố ở phía Bắc diễn biến thuận lợi. Chỉ trong vòng 30 phút, Tiểu đoàn 6 đã đánh chiếm xong các làng An Hòa, Đốc Sơ, chiếm cầu và đồn An Hòa, bắt sống gần hết bọn dân vệ, thu nhiều vũ khí. Đến 8 giờ ngày 3-1, Tiểu đoàn Dù số 7 của địch cùng chi đoàn thiết giáp từ An Lỗ theo đường số 1 kéo vào cứu nguy cho Huế, đến An Hòa thì bị Tiểu đoàn 6 của ta bao vây đánh. Sau khi đánh bại nhiều đợt xung phong của địch, ta diệt hàng trăm tên, phá hủy 5 xe M113, bắt sống 3 xe, dùng súng trung liên trên xe địch đánh lại địch. Tiểu đoàn Dù số 7 nguy bỏ chạy theo đường cửa Hậu rút vào Mang Cá.

Một đơn vị bộ binh khác của ta tiến công chiếm các ấp “Tân sinh” Quê Chữ, La Chữ, An Hòa, Bồn Trì, Bồn Phố, tiêu diệt 1 đại đội cộng hòa và 70 tên ác ôn dân vệ bắt sống và gọi hàng trăm tên, thu toàn bộ vũ khí, phát động quần chúng giành quyền làm chủSáng hôm sau, cả 1 trung đội dân vệ ở Triều Sơn Tây mang vũ khí ra hàng quân Giải phóng.

Một tiểu đoàn khác đột nhập đánh chiếm các ấp Kẻ Vạn, Kim LongQuân ngụy ở đây, ngoài các trung đội dân vệ và bọn ác ôn kìm kẹp quần chúng, còn có 1 tiểu đoàn bộ binh của Trung đoàn 2 bị đánh bại ở Gio Linh về củng cốĐịch bị đánh bất ngờ bỏ chạyTa truy kích diệt một số. Tiểu đoàn này 2 hôm sau được đưa về Mang Cá.

Tối 31/1, ta tiến công bốt Bạch Hổ. Bốt này có 1 đại đội bảo an và 1 tiểu đoàn cảnh sát dã chiến. Vì địch có đông quân lại dựa vào lô cốt kiên cố nên ta đánh không được, phải chuyển qua bao vây khống chếNgày 1-2 ta mở đợt tấn công thứ 2. Sau khi dùng hỏa lực đánh vỡ lô cốt, địch bỏ chạy một số, còn bị bắt sống 60 tên.

Một đội biệt động gồm 14 chiến sỹ trong đêm 30/1 đã bí mật vào Bao Vinh, vượt qua sông Hương lên làng Tiên Nộn rồi vượt sông Hương một lần nữa tiến vào khu phố Gia Hội, được du kích bí mật tại chỗ giúp sức đã nhanh chóng chiếm bốt cảnh sát khu phố, chiếm quận lỵ. Hôm sau, khi trời vừa sáng, đội biệt động biến thành đội quân khởi nghĩa, chia làm nhiều mũi vũ trang tuyên truyền, treo cờ, kêu gọi quần chúng đứng lên giành chính quyền, làm chủ toàn khu phố 4.

Cùng lúc, một đội du kích bí mật với một đội biệt động khác đánh chiếm bốt cảnh sát Đông Ba, phát triển ra chiếm đường phố Trần Hưng Đạo. Đến 8 giờ ta làm chủ chợ Đông Ba, Gia Hội, ngoại ô và huyện Hương Trà từ Văn Xá, La Chữ, Kim Long, Xuân Hòa.

Thế là sau 2 ngày tiến công, cánh Bắc đã đánh chiếm xong Thành Nội, Đông Ba, Gia Hội và Hương Trà, trừ Mang Cá địch còn giữ được.

Về cánh Nam Huế, ta tiến hành bằng nhiều mũi và thực hiện bằng nhiều hình thức tác chiến khác nhau, quá trình tiến công và nổi dậy kéo dài mấy ngày liền.

Đơn vị bộ đội tinh nhuệ giấu quân ở Phú Vang, được ăn Tết với đồng bào, được đồng bào cho xuống nằm đò “chở” đi nhà thương Huế”. Chiều hôm đó, họ ăn Tết ở Vĩnh Lưu, Giang Đông, rồi hành quân trong đêm tối, vượt sông Lợi Nông, đến 2 giờ sáng ngày 31/1 thì tiến vào khu Đông Nam Huế. Ở đây, pháo lớn của ta bắn áp vào khu Tam giác. Quân ta chia làm nhiều mũi tiến công dồn dập vào hang ổ của địch. Một đội đánh diệt đồn Đội Cung và phát triển vào Khách sạn Hương Giang. Đội thứ hai đánh vào Khách sạn Thuận Hóa – nơi ở của bọn cố vấn Mỹ. Đến 4 giờ thì đánh chiếm xong các khu nhà trên mặt đất. Địch còn lại chui xuống hầm kháng cự. Một đội đánh vào Sở Mật thám Huế, chiếm nhà lao, giải phóng cho 107 đồng bào bị giam giữ. Một bộ phận nhỏ đánh chiếm khu Chợ Cống, Sân Vận độngMột đội biệt động gồm 14 đội viên đánh vào An Cựu, diệt 2 đoàn “bình định” rồi nhanh chóng phát triển lên cầu Kho Rèn, diệt 3 xe thiết giáp, bắt sống 1 xe ô tô và 9 tên cảnh sát.

Mũi tiến công thứ 2 từ Dương Hòa xuống. Sau đợt pháo kích của 1.000 quả DKB, quân địch hoảng loạn. Tiểu đoàn tinh nhuệ số 1 của ta đánh tiêu diệt Trung đoàn Thiết giáp số 7 ngụy ở Tam Thai. Mấy phút đầu, ta chiếm được 2 lô cốt lớn trên cao, rồi từ đó đánh xuống đồn chínhĐịch kháng cự yếu ớt. Đến gần sáng ta chiếm được đồn, phá hủy 30 xe thiết giáp và xe tăng. Địch còn 1 trung đội và 1 xe tăng bám vào một góc đồn cố thủ, chờ bọn Mỹ ở Phú Bài đến cứu, nhưng bị ta diệt. Trận đánh đã tiêu diệt Trung đoàn Thiết giáp, đập nát đội xung kích cơ động của địch, làm chúng mất hẳn lực lượng nòng cốt bảo vệ Huế.

Tiểu đoàn 4 tiến đánh bốt Ngã Năm (đường Duy Tân), đánh từ 8 giờ đến 11 giờ mới chiếm được đồn. Một đội khác đánh chiếm Ngã Sáu Chaffanjon, chiếm các sở Bưu Điện, Ngân khố, chiếm Đài Phát thanh Huế ở sát cầu Trường Tiền. Một đội đánh tiêu diệt đoàn vận tải ở Trại Lê Lợi (An Cựu), tiêu diệt toàn bộ tiểu đoàn vận tải, phá hủy 100 xe.

Ở mũi tiến công thứ 3, đến 6 giờ ta mới chiếm được cầu Bến Ngự và cầu Nam Giao. Từ đó, ta nhanh chóng tiến vào chiếm Trường Quốc Học, Trường Đồng Khánh và dinh tỉnh trưởng. Một lá cờ nữa của cách mạng lại tung bay trên dinh tỉnh trưởng, hòa nhịp với lá cờ xanh đỏ ngôi sao vàng trên cột cờ Ngọ Môn.

Cuộc tấn công vào nhà lao đợt 1 không thành công. Ta lui ra củng cố và trang bị lại cho đơn vị. Một cuộc họp chi bộ, phát động tư tưởng được triển khai để chuẩn bị tổ chức trận chiến đấu mới, chuẩn bị đến 23 giờ 30 xuất phát tiến công.

Đến 24 giờ, một đào binh là Trần Văn Phiêu mang súng ra hàng, nói bọn địch rất dao động và xin dẫn đường cho bộ độiTa bí mật tiến công vào đánh chiếm bốt gác, phối hợp với anh chị em trong nhà lao nổi dậy, đánh chiếm toàn bộ nhà lao, giải phóng 2.200 người bị giam giữHọ sung sướng ôm chầm lấy các anh Giải phóng quân. Biết bao cảnh cảm động, cha gặp con, vợ gặp chồng, anh gặp em. Rồi tất cả tập hợp về chùa Từ Đàm. Một số xin gia nhập Giải phóng quân, tham gia các đội công tác dẫn đường cho bộ đội tiếp tục tấn công. Quân ta tiếp tục phát triển qua nhà ga Huế, bao vây đồn Bồ Ghè trong có 1 tiểu đoàn công binh. Ngày 4-2, ta tiến công chiếm khu quân cụ Quang Trung và trại Lê Lợi, thu 2.000 súng các loại, có hàng trăm khẩu đại liên, 8 xe tăng và nhiều đồ dùng quân sự. Ở vòng ngoài ta diệt đồn địch ở Nam Giao, các đồn Phước Quả, Phú CamNgày 6/2, ta phục kích tiêu diệt 1 đoàn xe 12 chiếc của Mỹ ở núi Ngự Bình, trong đó có 2 chiếc xe tăng.

Nhờ nhân dân dẫn đường, ta bắt được nhiều sỹ quan cố vấn và tình báo CIA Mỹ, bắt được nhiều tên Việt gian đầu sỏ, trong đó có 4 tên Phó tỉnh trưởng tỉnh Thừa Thiên. Còn tên Tỉnh trưởng Phan Văn Khoa cải trang trốn biệt tích từ mấy ngày trước.

Trận tập kích chiến lược vào Huế đã kết thúc thắng lợi sau 4 ngày đêm liên tục tiến công. Hầu hết các mục tiêu lớn ta đều đánh chiếm được, nhưng địch không bị tiêu diệt hoàn toàn. Ở cánh Bắc, chúng còn cố thủ ở Mang Cá. Ở cánh Nam, Mỹ chiếm lại được Khách sạn Thuận Hóa, cố thủ đồn Bồ Ghè

Ta tiếp tục giữ Huế 26 ngày đêm, tiếp tục phát động quần chúng, lập chính quyền cách mạng, xây dựng lực lượng, tiếp tục đánh phản kích.

*

45 năm trôi qua, nhớ lại ký ức ngày giải phóng, với lực lượng khi đó không đông, chỉ hơn vài nghìn quân, mà ta đã làm nên lịch sử, giải phóng Huế và làm chủ thành phố 26 ngày đêm, cùng với 65 thành phố, thị xã, thị trấn toàn miền Nam đồng loạt nổi dậy, tạo áp lực buộc quân Mỹ phải xuống thang chiến tranh, ngồi vào bàn đàm phán tại Paris. Chúng ta thực hiện được lời Bác Hồ: Đánh cho Mỹ cút và tiến tới: Đánh cho ngụy nhào, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Với chiến thắng của quân và dân Trị Thiên Huế trong cuộc tấn công nổi dậy Tết Mậu Thân 1968. Trung ương đã khen tặng 8 chữ vàng Tấn công – Nổi dậy – Anh dũng – Kiên cường”.

Thiếu tướng Trần Minh Đức
baothuathienhue.vn

Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 ở Huế – 45 năm nhìn lại

(TTH) – Cách đây tròn 45 năm, quân dân ở mặt trận Huế đã hoàn thành nhiệm vụ lịch sử của một trong những trọng điểm Tổng tiến công – nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 (Sài Gòn, Huế, Đà Nẵng), góp phần thực hiện Nghị quyết 14 của Trung ương Đảng (tháng 01/1968) là “phải tạo ra một bước nhảy vọt bằng chọn chiến lược hiểm và dùng cách đánh mới, giáng một đòn bất ngờ thật mạnh vào ý chí xâm lược của Mỹ”.

Để thực hiện được yêu cầu trên, trong quá trình lãnh đạo, cuộc chiến đấu ở chiến trường, Khu ủy Trị Thiên – Huế đã tổ chức tiến công và nổi dậy liên tục trên cả ba mũi giáp công, ba vùng chiến lược, ba thứ quân, liên tục giành thắng lợi vẻ vang trong chống “Chiến tranh đặc biệt”, “Chiến tranh cục bộ”, nhất là những năm 1966 – 1967 khi Trung ương mở Mặt trận Đường 9 và đã xây dựng được lực lượng vũ trang, chính trị ở nội thành Huế, đưa chiến tranh vào vùng ven đô. Dưới sự lãnh đạo của Quân ủy Trung ương, căn cứ vào nhiệm vụ được giao trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, Khu ủy Trị Thiên – Huế đã sớm tổ chức hội nghị chuẩn bị phương hướng tiến công địch ở TP Huế, chuẩn bị lực lượng, tổ chức chiến trường. Theo đó, ta hình thành lực lượng lớn ở hai cánh Nam – Bắc sông Hương, từ vùng núi vượt qua làng mạc, sông suối đồn bốt địch phục kích dọc đường, tiến công mục tiêu đúng giờ quy định, tạo yếu tố bất ngờ với địch. Đây là một thành công lớn của chiến dịch Huế Tết Mậu Thân 1968.

Đồng chí Thân Trọng Một (bìa phải), Thành ủy viên, Chỉ huy trưởng Đoàn 5 (Thành đội Huế), Chỉ huy trưởng cánh Nam cùng các đồng chí Nguyễn Chi (giữa), Võ Hạp (trái), trong chiến dịch Huế – Xuân 1968. Ảnh: TL

Ở hai cánh Bắc – Nam mặt trận Huế, ta đã tiến công, tiêu diệt nhiều sinh lực quan trọng của địch, đánh mạnh vào cơ quan đầu não Mỹ – ngụy, đập nát hệ thống chính quyền Sài Gòn từ thôn đến tỉnh, đánh nát các đường giao thông chiến lược của địch. Lực lượng cách mạng nhất là lực lượng vũ trang phát triển nhanh và được tôi luyện trong cuộc chiến đấu, trưởng thành dày dạn thêm nhiều. Đêm 15/2/1968, Quân ủy Trung ương điện cho mặt trận Huế: “Phải giữ thành để phục vụ nhiệm vụ chính trị chung cho cả nước”. Tình hình lúc này rất khó khăn, ác liệt. Địch phản kích chiếm lại thành phố. Ta thương vong nhiều. Một số đơn vị đã rút ra ngoại thành. Nhưng để phục vụ nhiệm vụ chính trị, mặt trận Huế kiên quyết bám trụ, tiến công địch, chiếm giữ thành phố 26 ngày đêm kiên cường, oanh liệt.

Thắng lợi ở mặt trận Huế bắt nguồn từ sự lãnh đạo sáng suốt của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương. Với chỉ đạo là trọng điểm cuộc tiến công – nổi dậy, Trung ương và Quân ủy Trung ương đã chỉ đạo cụ thể và hết sức chi viện cho mặt trận Huế. Về mục tiêu, bất ngờ nhất với địch là ta tổ chức lực lượng đánh chiếm Huế nhanh gọn. Quân dân ta đã chuyển chiến tranh vào thành phố, dinh lũy cuối cùng của Mỹ – ngụy, biến hậu phương địch thành nơi tranh chấp và từng bước trở thành tiền phương của cách mạng.

Cùng với việc tổ chức lực lượng nhanh chóng đánh chiếm các mục tiêu quan trọng trong thành phố, Khu ủy Trị Thiên – Huế còn biết kết hợp chặt chẽ giữa tiến công quân sự với nổi dậy của quần chúng, tạo thành sức mạnh tổng hợp to lớn. Thắng lợi to lớn của đòn tiến công quân sự đã cổ vũ mạnh mẽ phong trào đấu tranh nổi dậy của quần chúng đứng lên phá tan ách kìm kẹp của bộ máy chính quyền địch, thiết lập chính quyền cách mạng, huy động sức mạnh quần chúng tham gia chiến đấu bảo vệ thành phố, chi viện tiếp tế kịp thời cho bộ đội. Do đó, ta đã giữ được thành phố gần một tháng.

Về nổi dậy của nhân dân, chúng tôi xin được trích dẫn ý kiến Thượng tướng Trần Văn Quang: “Chúng tôi ví quá trình tiến công và nổi dậy cũng như quả bom nguyên tử. Nếu là bom khinh khí thì tốt hơn. Trong quả bom nguyên tử có một quả bom làm mồi, quả bom mồi nổ gây đến nhiệt độ nhất định, quả bom nguyên tử nổ đạt đến hàng triệu độ làm cho bom khinh khí nổ. Chúng ta đánh cũng phải theo kiểu đó. Bộ đội ta là quả bom mồi, quần chúng là bom nguyên tử, khi bom nguyên tử nổ tức là quần chúng nổi dậy tạo thành sức mạnh tổng hợp. Nếu bộ đội chỉ làm quả bom thường, không phải bom mồi thì kết quả không lớn”.

Theo chúng tôi ở mặt trận Huế, quả bom mồi nhiệt độ cao tác động mạnh bom nguyên tử nổ tạo sức mạnh tổng hợp chiến đấu, phục vụ chiến đấu mà đỉnh cao của nó là đánh đổ chính quyền địch, thiết lập hệ thống chính quyền cách mạng ở xã, huyện, tỉnh Thừa Thiên Huế là địa phương lập chính quyền cách mạng đầu tiên trong chống Mỹ cứu nước, thành lập Liên minh các lực lượng Dân tộc và dân chủ TP Huế mở rộng Mặt trận đoàn kết dân tộc chống Mỹ, cứu nước.

Do phát huy được sức mạnh của quần chúng, tạo thành thế trận chiến tranh nhân dân nên khi địch tập trung lực lượng đánh phá, quân dân mặt trận Huế vẫn anh dũng kiên cường chiến đấu trở thành một điểm nóng với niềm tin yêu của nhân dân cả nước. Báo Nhân Dân số ra ngày 27/2/1968 viết: “Cả nước ta tự hào về Thừa Thiên Huế, mảnh đất yêu thương của Tổ quốc đã góp phần rất vẻ vang vào thắng lợi mở đầu cuộc Tổng tiến công và nổi dậy của miền Nam anh hùng”. Còn tờ Thế Giới ngày 13/02/1968 dưới đầu đề “Một thành phố bị hạ sát” đã viết: ”Nếu Việt Nam cần có một tượng trưng, nó đã có ngay đó là Huế, Huế sẽ ở lại như một Ghéc-ni-ca của Việt Nam”.

Với thắng lợi to lớn và toàn diện trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân – Xuân 1968, Đảng bộ TP Huế được Trung ương điện biểu dương: “Đảng bộ kiên cường về tư tưởng, vững mạnh về tổ chức, trong sạch nội bộ, đoàn kết nhất trí”. Giữa cuộc chiến đấu ngày 21/02/1968, Bộ chỉ huy các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam nhiệt liệt hoan nghênh và ghi nhớ công ơn của đồng bào và các lực lượng vũ trang nội ô và ngoại ô TP Huế đã hết lòng giúp đỡ bộ đội, phục vụ tiền tuyến, cùng chiến đấu với các lực lượng vũ trang giải phóng, góp phần quyết định vào những thắng lợi đã giành được. Ngày 01/3/1968, Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam đã tuyên dương công trạng về cuộc tiến công toàn diện đầu Xuân 1968, trong đó có tuyên dương công trạng của quân và dân Trị Thiên – Huế, tặng danh hiệu “Tấn công – Nổi dậy – Anh dũng – Kiên cường” cho quân dân tỉnh Thừa Thiên Huế.

Tết Mậu Thân – Xuân 1968, một dấu son đỏ thắm trong lịch sử Thừa Thiên Huế, mãi mãi là niềm tự hào của nhân dân TP Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế nói riêng và cả nước nói chung. Trang sử vẻ vang đó đang được viết tiếp trong thời kỳ xây dựng thành phố văn minh, hiện đại trên Cố đô có hai di sản văn hóa nhân loại, trên TP Huế anh hùng.

Ngô Kha
baothuathienhue.vn

Vai trò của quần chúng, nhân dân Trị Thiên – Huế trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968

TCCSĐT – Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, Trị Thiên – Huế là chiến trường chiếm giữ thành phố lớn được dài ngày nhất – 25 ngày đêm, để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý báu cả về tiến công và nổi dậy, nổi dậy và tiến công trên một hướng chiến lược. Đánh giá về cuộc tiến công và nổi dậy ở Trị Thiên – Huế, trong Xuân 1968, Hội nghị khoa học đợt 3 (tháng 8-1968) đã kết luận: “Xuân Mậu Thân, Huế đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, đạt được mục tiêu cao và giành thắng lợi lớn. Đặc biệt, hoạt động nổi dậy của quần chúng có tổ chức và tham gia chiến đấu, phục vụ chiến đấu của nhân dân trong thành phố thể hiện rõ hơn và đạt mức độ cao hơn”(1).

Cuộc tiến công và nổi dậy ở Trị Thiên – Huế năm 1968 đã giành được nhiều kết quả to lớn. Ta đã tiêu diệt và làm tan rã một bộ phận lớn quân địch (khoảng trên 20.000 tên), thu và phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh của Mỹ và quân đội Sài Gòn. Ngụy quân, ngụy quyền các cấp ở Huế bị sụp đổ, tan rã: ngụy quyền các xã, ấp vùng ven và nông thôn bị tê liệt cao độ. Ta đã giải phóng 296 thôn và 227.000 dân, trong đó có 240 thôn đã thành lập được chính quyền cách mạng lâm thời, có gần 10.000 du kích, trong đó có hơn 2.500 người được bổ sung cho chủ lực. Với 25 ngày đêm chiếm giữ thành phố, thắng lợi của cuộc tiến công và nổi dậy ở Huế đã có sức cổ vũ to lớn đối với quân và dân ta trên các chiến trường và gây tác động mạnh đối với bọn đầu sỏ Mỹ và chính quyền Sài Gòn.

Trong thắng lợi chung của cuộc tiến công và nổi dậy ở Trị Thiên – Huế Xuân 1968, ngoài vai trò có tính chất quyết định của bộ đội chủ lực, có sự đóng góp to lớn về sức người, sức của, chiến đấu và phục vụ chiến đấu của các tầng lớp nhân dân Trị Thiên – Huế.

Truyền thống đấu tranh cách mạng của nhân dân Trị Thiên – Huế

Tiếp giáp với miền Bắc xã hội chủ nghĩa, chiến trường Trị Thiên có một ý nghĩa chiến lược hết sức quan trọng đối với cả địch và ta trong chiến tranh. Vào cuối những năm 60 của thế kỷ trước, dân số Trị Thiên có khoảng 80 vạn người (Quảng Trị: 30 vạn và Thừa Thiên: 50 vạn).

Vốn có truyền thống đấu tranh cách mạng kiên cường, bất khuất, nhân dân Trị Thiên đã trải qua Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945, 9 năm kháng chiến chống Pháp gian khổ rồi bước vào cuộc chiến tranh chống Mỹ. Đến năm 1965, phong trào chiến tranh du kích phát triển đều và có những vùng khá mạnh. Quần chúng nhân dân Trị Thiên có lòng yêu nước nồng nàn, được tôi luyện dạn dày trong chiến tranh cách mạng.

Trị Thiên từ lâu là một vùng chiến trường trọng điểm, là nơi giành giật quyết liệt giữa ta và địch, Mỹ – Ngụy dùng nhiều bom đạn chà đi xát lại nhiều lần. Mặt khác, do thiên tai khắc nghiệt, đây là vùng đất có nền kinh tế nghèo nàn, đa số nhân dân hai tỉnh – đặc biệt là vùng rừng núi và giáp ranh, đều có cuộc sống khó khăn, lao động cực nhọc, chạy ăn từng bữa. Tuy nghèo khó, nhưng nhân dân Trị Thiên đều một lòng tin tưởng hướng về cách mạng, sẵn sàng nhường cơm sẻ áo cho bộ đội, sẵn sàng đứng lên đấu tranh quyết liệt với kẻ thù.

Là một trong 3 thành phố lớn ở miền Nam (sau Sài Gòn và Đà Nẵng), Huế có một vị trí chính trị, quân sự hết sức quan trọng. Vốn là một cố đô của triều Nguyễn cũ, trong kháng chiến chống Mỹ, Huế thuộc quyền kiểm soát của chính quyền Mỹ – Ngụy, là trung tâm chỉ đạo chiến lược của địch trên khu vực tiếp giáp đối đầu với miền Bắc. Ở đây có trên 45 cơ quan hành chính ngụy quyền, đồng thời là nơi địch bố trí một bộ máy chiến tranh khá mạnh (có khoảng từ 2,5 đến 3 vạn quân) với nhiều vũ khí, trang thiết bị tương đối hiện đại của Mỹ. Thành phần xã hội của thành phố Huế đa dạng và khá phức tạp. Số dân theo đạo Thiên chúa và Phật giáo chiếm tỷ lệ khá lớn (riêng Thiên chúa giáo ở Huế có trên 1 vạn giáo dân). Số dân thuộc thành phần công chức và gia đình binh sĩ ngụy có khoảng 3 vạn; số học sinh, sinh viên có khoảng 2,5 vạn; nhân dân lao động có khoảng 6 – 7 vạn, phần đông là gia đình tiểu thương, thợ thủ công, dịch vụ. Nhân dân nông thôn và thành phố có quan hệ chặt chẽ với nhau, nên mỗi biến chuyển về chính trị và quân sự ở nông thôn đều mau chóng ảnh hưởng trực tiếp vào thành phố.

Giữa những năm 60 của thế kỷ XX, phong trào đấu tranh chính trị của nhân dân Trị Thiên, đặc biệt là ở Huế, ngày càng phát triển mạnh. Liên tục có những cuộc đấu tranh chống Mỹ và tay sai như cuộc xuống đường chống Diệm – Nhu năm 1963, chống Khánh – Hương năm 1964, chống Mỹ – Thiệu – Kỳ hai năm 1965 – 1966; phong trào xuống đường đấu tranh của học sinh – sinh viên đòi hòa bình, dân sinh, dân chủ thì hầu như tháng nào cũng xảy ra. Những cuộc đấu tranh này của quần chúng nhân dân đã nhiều phen làm cho Mỹ – Ngụy hoảng sợ và tìm cách đối phó vất vả.

Ở nội thành Huế, lực lượng chính trị và phong trào cách mạng của quần chúng, dưới sự chỉ đạo của 8 chi bộ Đảng ta đã xây dựng được khoảng 100 cơ sở bí mật và nửa công khai. Số quần chúng hướng về cách mạng và sẵn sàng tham gia các cuộc đấu tranh, chiến đấu và phục vụ chiến đấu, ta có thể huy động từ 4.000 đến 5.000 người trong một ngày đêm. Ngoài ra, một số khá đông nhân dân lao động, viên chức, tiểu thương tuy không nằm trong các tổ chức cách mạng, nhưng có lòng yêu nước và cảm tình với cách mạng, ta có thể tranh thủ lôi kéo họ khi cách mạng nổ ra.

Trước khi nổ ra cuộc Tổng tiến công và nổi dậy, 3 huyện giáp với thành phố Huế là Hương Trà, Phú Vang, Hương Thủy có nhiều thôn xã đã được ta giải phóng và làm chủ, tạo thành vùng “đệm” quan trọng để chủ lực ta đứng chân và làm bàn đạp tiến vào thành phố. Cụ thể, ta đã giải phóng được 86/270 thôn, với trên 70.000 dân. Ở 3 huyện này, ta đã xây dựng được nhiều đội quân du kích với quân số lên tới hơn 1.000 người. Các tổ chức quần chúng như: nông hội, thanh niên, phụ nữ thu hút gần 30.000 hội viên; Đoàn thanh niên lao động cũng có gần 1.000 đoàn viên. Đây thực sự là những con số đáng kể để ta phát động, nhân rộng phong trào nổi dậy của quần chúng khi tổng công kích, tổng nổi dậy nổ ra trên địa bàn Trị Thiên – Huế.

Hoàn thành tốt nhiệm vụ chuẩn bị chiến dịch

Theo kế hoạch đề ra trước khi bước vào đợt Tổng tiến công và nổi dậy trên toàn miền Nam, Mặt trận Trị Thiên – Huế được xác định là một trong những hướng tiến công trọng điểm. Ta đã khẩn trương và ráo riết chuẩn bị mọi mặt như: làm đường tiến công, bắc cầu phà, vận chuyển lương thực, vũ khí đạn dược, thuốc men, đào hầm hào chiến đấu, chuyển quân,… đồng thời tiến hành các đợt hoạt động nghi binh, đánh lừa địch. Quần chúng nhân dân tại các vùng giải phóng cũng như vùng tạm chiếm đã có nhiều hoạt động tích cực giúp bộ đội hoàn thành tốt nhiệm vụ chuẩn bị chiến dịch. Trong các hoạt động chuẩn bị này, hàng chục ngàn nhân dân, học sinh, sinh viên, thanh niên, có cả cụ già, em nhỏ, đã tình nguyện có mặt tại các vị trí phục vụ bảo đảm chiến trường theo sự phân công của chỉ huy và các tổ chức đoàn thể. Cùng với bộ đội, nhân dân đã tu sửa và làm mới gần 100km đường tiến công, sửa chữa và bắc được hàng trăm cầu, cống, bến phà các loại, đào đắp vận chuyển trên 500.000m3 đất, đá và hàng ngàn hầm, hố phòng tránh trú ẩn.

Trước ngày tổng công kích và nổi dậy, chiến trường mới dự trữ được trên 1.500 tấn gạo, nhưng còn nằm rải rác ở vùng hậu cứ giáp ranh, dự kiến phải mất 4 đến 5 ngày vận chuyển mới đến tay bộ đội tại các hướng tiến công. Đặc biệt là mặt trận trọng điểm Huế lúc này chỉ mới có 130 tấn gạo, so với yêu cầu còn thiếu khoảng 700 tấn mới đủ dự trữ cho bộ đội chiến đấu dài ngày. Với tinh thần quyết tâm cao độ, nhân dân đã được chính quyền và chỉ huy các cấp huy động ra vận chuyển gấp số gạo trên từ các kho tập kết ở Đông Trường Sơn tới các đơn vị, vượt kế hoạch thời gian trước 2 ngày. Ngoài số gạo trên, mặt trận Trị Thiên – Huế cũng được duyệt cấp 350 tấn gạo, 400 tấn vũ khí, đạn dược, thuốc men, song số hàng trên còn nằm tại các binh trạm đường 559, cách Huế gần 100 km. Với các phương tiện vận chuyển như ghe xuồng, xe đạp thồ và bằng cả đôi vai, nhân dân tại các vùng giáp ranh đã giúp bộ đội chuyển hết số hàng trên về nơi tập kết một cách an toàn, bí mật.

Nhân dân tại các vùng địch kiểm soát và nội đô Huế đã được các tổ chức bí mật của ta tại các cơ sở huy động trong đêm tối tham gia đào được hàng trăm hầm hào chiến đấu, hầm trú ẩn, chuẩn bị các cơ sở nuôi giấu thương binh, đóng góp lương thực, thuốc men cho bộ đội. Đến ngày tổng công kích, khởi nghĩa, nhân dân tại các vùng địch kiểm soát (giáp ranh và thành phố Huế) tổng cộng đã quyên góp được 2.000 tấn gạo, 8 tấn thuốc men, dụng cụ y tế, trong đó có gần một nửa số hàng trên đã được vận chuyển tới vị trí tập kết (2).

Để chuẩn bị cho phong trào khởi nghĩa và nổi dậy của quần chúng ở các vùng địch kìm kẹp cũng như nội đô Huế, các cơ sở quần chúng bí mật của ta được trên chỉ đạo đã ráo riết in được hàng chục tấn tài liệu, sách báo học tập, tuyên truyền, truyền đơn, băng cờ, khẩu hiệu. Các tổ chức đoàn viên, học sinh, phụ nữ trong vùng nội đô đã mở được nhiều lớp tập huấn bí mật về quân sự, chính trị, công tác binh vận, địch vận, công tác cứu thương, chỉ đường hướng dẫn cho bộ đội cũng như công tác giữ gìn an ninh trật tự khi thành phố được giải phóng.

Nhiều đóng góp trong chiến đấu và phục vụ chiến đấu

Trong quá trình diễn ra các đợt tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, các tầng lớp quần chúng nhân dân, học sinh, sinh viên cũng đã có nhiều đóng góp to lớn trong chiến đấu và phục vụ chiến đấu, phối hợp với bộ đội nổi dậy giành quyền làm chủ tại hầu hết các thôn, xã, huyện, thị xã, thành phố trên địa bàn Trị Thiên – Huế, trong đó có một số hoạt động nổi bật của quần chúng nhân dân tại những hướng, vùng tiêu biểu sau:

– Trên cánh Bắc Huế, đêm 30-1-1968, một cánh quân của bộ đội ta đã đánh vào sân bay Tây Lộc. Được quần chúng cơ sở bên trong giúp đỡ và trực tiếp dẫn đường, bộ đội ta bí mật đột nhập qua cổng Thủy Quan, nhanh chóng theo sông Ngự Hà vào góc Tây sân bay, đánh chiếm khu nhà lính bảo vệ, bắn cháy 20 máy bay và nhiều xe pháo trong khu vực này. Trong lần đánh thứ hai, đêm 31-1-1968, cũng được cơ sở quần chúng dẫn đường tắt bí mật, ta diệt gọn và chiếm toàn bộ sân bay, phá 40 máy bay, 100 xe quân sự, đốt 1 kho đạn và 1 kho xăng. Nhờ có quần chúng dẫn đường, kết quả đánh sân bay đã giành thắng lợi lớn.

– Tại các mũi đánh vào nội đô Huế như Đại Nội, Cột Cờ, Ngọ Môn, cửa Đông Ba,… cũng nhờ có du kích và cơ sở ngầm dẫn đường, bộ đội chủ lực ta đã nhanh chóng đánh chiếm nhiều mục tiêu quan trọng, diệt và làm tan rã nhiều địch. Trong thành nội, ta chiếm hết các ty, sở của ngụy quyền. Quần chúng, thanh niên, học sinh, tự vệ cùng bộ đội xông vào từng khu phố, góc nhà truy bắt bọn ác ôn, phản động, kêu gọi ngụy quân, ngụy quyền ra hàng chính quyền cách mạng. Mặc bom đạn cày tung mặt đường, hàng ngàn quần chúng vẫn đổ ra đường phố tiếp tế cơm ăn, thuốc men, đạn dược cho quân ta, làm công tác cứu thương, chuyển thương binh, tử sĩ về tuyến sau… Phối hợp các mũi chủ lực đánh vào nội đô Huế, các lực lượng biệt động, du kích tự vệ mật cùng quần chúng cách mạng đã tiến công nổi dậy làm chủ khu phố Gia Hội, lùng diệt bọn ác ôn, cảnh sát ngụy, đập tan bộ máy ngụy quyền tại các phường, quận, lập chính quyền cách mạng, tổ chức và phát triển tự vệ chiến đấu, trang bị bằng vũ khí lấy được của địch. Phong trào đấu tranh của quần chúng tại nội đô phát triển rất cao từ ngày đầu đến ngày cuối, khi rút khỏi thành phố, các tầng lớp nhân dân lại chuyển sang che chở, hỗ trợ cho bộ đội rút ra được an toàn.

– Tại các vùng ngoại vi Bắc Huế như La Chữ, Quế Chữ,… lực lượng vũ trang địa phương cùng quần chúng nhân dân đã đồng loạt nổi dậy đánh chiếm các căn cứ, công sở của địch, phá ấp chiến lược, thành lập chính quyền cách mạng, xây dựng làng xã chiến đấu, đưa con em bổ sung vào lực lượng vũ trang, đóng góp nhiều của cải, vật chất ủng hộ bộ đội, triển khai lực lượng chuẩn bị đánh địch phản kích tăng viện vào Huế. Tại huyện Hương Trà, đông đảo quần chúng cách mạng cùng lực lượng vũ trang huyện, xã,… nổi dậy làm chủ trên nhiều vùng, diệt trừ ác ôn, tích cực vây lùng, gọi hàng bọn tàn binh địch. Tại đây, nhiều thôn, xã chính quyền cách mạng đã được thành lập, nhân dân lấy súng địch tự trang bị cho mình. Đối với Hương Trà, một huyện yếu ở Thừa Thiên, trước đây có nhiều cơ sở trắng, nay trong khí thế tiến công và nổi dậy đã có một phong trào phát triển cao chưa từng có. Nhân dân đã gọi hàng được một đại đội bảo an ở An Thành và 1 trung đội dân vệ ở Triều Sơn Tây, thu nhiều súng đạn,…

– Tại huyện Hương Thủy (thuộc cánh Nam), phối hợp với lực lượng vũ trang tại chỗ, quần chúng nhân dân đã nổi dậy đánh chiếm cầu An Cựu, phát triển bao vây và diệt nhiều vị trí địch ở Miếu Đại Càng, Cầu Lèn, Long Thọ,… Trước sự tan vỡ, hốt hoảng của địch, quần chúng đã nổi dậy khởi nghĩa rầm rộ, mạnh mẽ, nhất là ở các xã Mỹ Thủy, Thanh Thủy, Vân Dương, Hải Thủy, Xuân Hòa. Nhiều ổ ác ôn tập trung ở Thanh Thủy Thượng, Mỹ Thủy đã bị nhân dân trừng trị, hàng trăm tên có nợ máu đã phải đền tội. Trong khí thế cao độ, quần chúng đã kéo đến bao vây, uy hiếp các đồn bốt ở Thanh Thủy Chánh, Vân Dương, Xuân Hòa, bọn địch ở đây đã hốt hoảng rút chạy, bỏ lại nhiều súng đạn, thuốc men,… Quần chúng nhân dân với súng đạn vừa thu được của địch đã kéo ra phá các bốt dọc trên quốc lộ 1, bao vây và cắt đứt tuyến giao thông ở Phú Bài, An Cựu. Du kích, tự vệ từ các xã An Thủy, Thiên Thủy tiến vào khu phố 5, chợ Cống hỗ trợ quần chúng đô thị nổi dậy giành quyền làm chủ. Nhiều vùng trước đây còn yếu nay đã tự giải phóng, giành được quyền làm chủ với mức độ khác nhau.

– Tại huyện Phú Vang, dọc theo tỉnh lộ từ Thuận An đến Huế, quần chúng nhân dân cùng các đội du kích, các đội công tác đã tiến công, nổi dậy mạnh mẽ trên khu phố 5. Trước sức đấu tranh, nổi dậy của nhân dân, địch ở các vị trí như Phú Thiện, An Thuyền, Tài Mậu hốt hoảng tự tan vỡ,… chính quyền cách mạng đã được nhanh chóng thành lập tại các thôn, xã này.

– Đặc biệt nổi bật trên hướng Nam là sự phối hợp nhịp nhàng giữa lực lượng vũ trang, biệt động với sự nổi dậy đấu tranh chính trị, binh vận của các lực lượng quần chúng nhân dân qua hai sự kiện đánh chiếm nhà lao Thừa Phủ, dinh Tỉnh trưởng (ngày 31-1) và nhà lao Thẩm Vấn (ngày 2-2). Lúc đầu, các mũi tiến công này do các đội đặc công tiến công, nhưng không thành công do lực lượng ít, không thông thạo địa hình bố trí của nhà lao, lại gặp địch phản công quyết liệt phải chuyển sang đánh kéo dài. Sau đó, nhờ quần chúng nhân dân nổi dậy kéo đến bao vây nhà lao, thuyết phục, gọi hàng lính cai ngục, đồng thời dẫn bộ đội bí mật tiến theo các đường hầm đánh từ trong ra, cuộc đánh chiếm 2 nhà lao mới thành công. Quần chúng nhân dân cùng đặc công đã diệt gọn 1 trung đội bảo an canh giữ nhà lao, gọi hàng nhiều tên khác, giải phóng an toàn 2.300 chiến sĩ cách mạng và quần chúng yêu nước bị địch cầm giữ lâu ngày. Trong số tù chính trị này, hơn 1.000 chiến sĩ cách mạng nòng cốt đã được bổ sung ngay tại chỗ cho các mũi, hướng chiến đấu của chủ lực và địa phương.

Tóm lại, trong những ngày tiến công và nổi dậy ở Trị Thiên – Huế Xuân 1968, quần chúng nhân dân cùng lực lượng vũ trang 3 thứ quân đã phối hợp chặt chẽ giữa tiến công và nổi dậy, nổi dậy và tiến công, đánh rất trúng vào đầu sỏ ngụy quyền, tay sai, vào những cơ quan đầu não của địch trong tỉnh cho đến các cơ quan ngụy quân, ngụy quyền ở các huyện, quận, thôn, xã, gây cho địch nhiều tổn thất nặng nề, chế độ tay sai bị tê liệt trong một thời gian dài. Khí thế cách mạng của quần chúng nhân dân trong những ngày tiến công và nổi dậy đã được phát động rầm rộ và rộng khắp chưa từng có.

Nhân dân Trị Thiên – Huế như được sống lại trong những ngày quật khởi của cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945. Trong cao trào cách mạng Xuân 1968, các tầng lớp quần chúng nhân dân, thanh niên, học sinh, sinh viên, trí thức đã có một cơ hội tốt đẹp để biểu hiện tinh thần yêu nước và ý thức cách mạng bấy lâu nay bị địch kìm kẹp, lung lạc. Đã có hàng ngàn, hàng vạn quần chúng được cống hiến sức mình trong các công việc khác nhau như chiến đấu, phục vụ bảo đảm chiến đấu, làm nội ứng và chỉ đường cho bộ đội, giữ gìn an ninh trật tự, vây bắt tề điệp, phản động, đi dân công, cất giấu chăm sóc thương binh, tử sĩ, úy lạo bộ đội, đào hầm hố, xây dựng làng chiến đấu, đóng góp lương thực, thuốc men cho bộ đội. Dù công việc nào, lớn hay nhỏ, họ đều làm với tinh thần tự nguyện quên mình. Ngoài ra, còn có hàng ngàn thanh niên, học sinh, con em nhân dân đã xung phong tòng quân và vào du kích tự vệ.

Nguyên nhân và bài học kinh nghiệm

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy ở Trị Thiên – Huế Xuân 1968 đã phát động được cao độ vai trò của quần chúng nhân dân tham chiến đấu và phục vụ chiến đấu hiệu quả là vì mấy nguyên nhân sau:

Một là, nhân dân Trị Thiên – Huế từ lâu vốn có truyền thống yêu nước và cách mạng. Tuy bị địch kìm kẹp, khủng bố và lung lạc dài ngày nhưng các cán bộ, đảng viên và cơ sở Đảng của ta đã kiên trì bám trụ sâu vào lòng dân tuyên truyền, giáo dục, lôi kéo nên đa số nhân dân vẫn một lòng tin tưởng ở Đảng, hướng về cách mạng, chỉ chờ cơ hội là vùng lên. Bài học về bám trụ, bắt rễ sâu vào lòng dân của cơ sở Đảng, trực tiếp là của cán bộ chiến sĩ ta luôn có giá trị cho đến ngày nay.

Hai là, khi đặt mục tiêu Tổng tiến công và nổi dậy, chúng ta đã biết lấy quyền lợi của nhân dân và Tổ quốc đặt lên trên hết, đó là nhằm tiêu diệt và đánh đổ ngụy quân, ngụy quyền phản động tay sai, giải phóng đất đai và con người khỏi áp bức, kìm kẹp, đem lại cuộc sống hòa bình, tự do, dân sinh, dân chủ cho đại đa số nhân dân. Mục tiêu đó là phù hợp với nguyện vọng tha thiết của nhân dân nên được mọi tầng lớp nhiệt tình ủng hộ.

Ba là, trong tổng tiến công và nổi dậy, đi đôi với việc phát động quần chúng đứng lên đấu tranh, bộ đội ta từ chỉ huy đến chiến sĩ đã chấp hành nghiêm kỷ luật quân dân, một lòng đoàn kết, yêu thương và bảo vệ nhân dân nên đã gây dựng được niềm tin sâu sắc, được nhân dân coi như con em của mình và hết lòng che chở, ủng hộ.

Sau 25 ngày đêm chiếm giữ thành phố Huế, trước tình hình mới, bộ đội ta đã lần lượt rút lui khỏi thành phố và các vùng giáp ranh. Trong cuộc rút lui này, nhân dân lại một lần nữa tìm cách giúp đỡ, che chở bộ đội, tìm cách kéo địch về phía mình để bộ đội rút ra an toàn, nhanh chóng. Có thể nói, sự hy sinh về sức người, sức của của nhân dân trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 là rất lớn. Mặc dù khí thế cách mạng của quần chúng rất cao, nhưng do đòn chủ lực của ta chưa đủ sức đập tan bộ máy sinh lực địch nên tổng khởi nghĩa đã không nổ ra như dự định. Tuy vậy, tinh thần nổi dậy của nhân dân được thể hiện tuyệt vời trong Tết Mậu Thân là bằng chứng tin cậy để Đảng ta khẳng định rằng: nếu đòn chủ lực của ta đủ mạnh, nếu được chuẩn bị chu đáo về mọi mặt và thời cơ lịch sử chín muồi thì chắc chắn lần tổng tiến công và nổi dậy tiếp theo sẽ thành công trọn vẹn. Điều này được thực tế lịch sử chứng minh trong Xuân 1975: chỉ trong vòng không đầy 3 tháng quân và dân toàn miền Nam, trong đó có quân và dân Trị Thiên – Huế, đã thực hiện xuất sắc cuộc Tổng tiến công và nổi dậy, đập tan hoàn toàn bộ máy ngụy quân, ngụy quyền, giành chính quyền về tay nhân dân, giải phóng miền Nam, thu non sông về một mối./.

——————————————-

(1). Xem: Hướng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân ở Trị Thiên – Huế, Viện Lịch sử quân sự – Hà Nội 1988, tr. 91.
(2). Dẫn theo “Hậu cần Quân khu Trị Thiên – Huế trong tiến công và nổi dậy Xuân 1968”. Tập san Hậu cần số 11-1975.

Đại tá Nguyễn Văn Quang
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam
tapchicongsan.org.vn

Ý nghĩa cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968 với xây dựng chiến tranh nhân dân, bảo vệ Tổ quốc hiện nay

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968 mãi mãi khắc sâu vào lịch sử dân tộc như một bản anh hùng ca bất diệt của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, đồng thời để lại cho chúng ta nhiều bài học kinh nghiệm quý báu về nghệ thuật quân sự để vận dụng, phát triển trong điều kiện mới của chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc.

Bản anh hùng ca bất diệt

Đúng đêm giao thừa Tết Mậu Thân 1968 (ngày 30 và 31-1-1968), cuộc Tổng tiến công và nổi dậy của quân và dân ta đồng loạt nổ ra trên toàn chiến trường miền Nam, đặc biệt ở Sài Gòn, Huế và nhiều thị xã, thị trấn, các căn cứ quân sự của Mỹ – ngụy. Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy diễn ra trong bối cảnh quân Mỹ – ngụy và các nước đồng minh của chúng tham chiến với một lực lượng quân sự lớn lên tới trên một triệu quân, có vũ khí trang bị kỹ thuật hiện đại, được phòng thủ vững chắc. Nhưng bằng cuộc tiến công táo bạo, bất ngờ, ta đã đánh thẳng vào các vị trí quan trọng nhất của địch như: Đại sứ quán Mỹ, Dinh Tổng thống ngụy, Bộ Tổng Tham mưu, Nha cảnh sát, Đài phát thanh Sài Gòn, tiến công làm chủ thành phố Huế và hầu khắp các vùng nông thôn rộng lớn, tiêu diệt nhiều sinh lực, phá huỷ một khối lượng lớn vũ khí, phương tiện chiến tranh của địch.

Vì thế, xét cả về quy mô cũng như tính chất đồng loạt, tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968 đã sáng tạo ra một hình thức tiến công chiến lược mới với hiệu lực chiến đấu cao, làm lung lay ý chí xâm lược của một siêu cường, làm cho chính quyền Mỹ sững sờ, choáng váng. Chỉ trong vòng 24 tiếng đồng hồ, toàn bộ hậu phương an toàn nhất của kẻ địch, bao gồm tất cả các thành phố, tỉnh lỵ đều bị tấn công đồng loạt. Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968 không chỉ diễn ra một đợt mà diễn ra nhiều đợt, không chỉ tiến công tuần tự từ ngoài vào mà còn kết hợp từ trong ra, khiến địch đã bất ngờ càng bất ngờ hơn.

Đây là một sự kiện lớn, đánh dấu mốc quan trọng có ý nghĩa chiến lược trong cuộc chiến tranh nhân dân tổng lực của ta, giáng một đòn quyết định, làm phá sản chiến lược “chiến tranh cục bộ”, làm rung chuyển nước Mỹ, buộc chúng phải xuống thang chiến tranh, rút dần quân viễn chinh ra khỏi miền Nam, chấp nhận thương lượng để có thể kết thúc chiến tranh trong danh dự.

Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968, chúng ta đã huy động tổng lực từ bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích đến đặc công, biệt động, pháo binh…, được nhân dân hết lòng ủng hộ, tích cực phối hợp tham gia chiến đấu; kết hợp chặt chẽ giữa sự nổi dậy rộng khắp của quần chúng, sự chuẩn bị rất công phu của các lực lượng, giữ được bí mật tuyệt đối của các cấp, các địa phương, đơn vị, sự hy sinh to lớn của cán bộ, chiến sĩ và nhân dân ta để làm nên một kỳ tích “có một không hai” trong chiến tranh giải phóng dân tộc. Ta đã phát huy được sức mạnh tổng hợp giữa lực lượng chính trị của quần chúng với lực lượng vũ trang ba thứ quân; kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị, ngoại giao; đánh địch trên cả ba vùng chiến lược, bằng ba mũi giáp công; kết hợp chiến tranh du kích với chiến tranh chính quy, kết hợp đánh lớn, đánh vừa và nhỏ; thể hiện nghệ thuật đánh địch bằng mưu cao, kế hiểm. Đánh giá về thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Đó là thắng lợi của đường lối cách mạng đúng đắn của Đảng ta, thắng lợi của lòng yêu nước nồng nàn và sức mạnh của toàn dân đoàn kết quyết chiến, quyết thắng giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, tiến tới hoà bình thống nhất Tổ quốc”(1). Bộ Chính trị đánh giá: “Thắng lợi có ý nghĩa chiến lược cực kỳ quan trọng tạo ra bước ngoặt quyết định của cuộc chiến tranh, đánh dấu sự thất bại của chiến lược chiến tranh cục bộ của Mỹ, buộc Mỹ phải chuyển sang chiến lược phòng ngự trên toàn chiến trường, phải ngồi vào bàn đàm phán với ta ở Pa-ri, chấm dứt ném bóm không điều kiện, chủ trương phi Mỹ hoá chiến tranh, mở đầu thời kỳ xuống thang chiến tranh”(2).

Đúc rút và vận dụng những bài học kinh nghiệm vào chiến tranh nhân dân, bảo vệ Tổ quốc thời kỳ mới

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968 đã để lại cho các thế hệ hiện nay và mai sau niềm tự hào sâu sắc. Ý nghĩa của cuộc Tổng tiến công vẫn còn nguyên giá trị:

Một là, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nắm chắc tình hình; có các chủ trương, đường lối lãnh đạo đúng đắn, sáng tạo phù hợp với thực tiễn phát triển của chiến tranh cách mạng trong điều kiện mới của Việt Nam.

Để bảo vệ vững chắc Tổ quốc, trước hết, không ngừng tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với nền quốc phòng, xây dựng các lực lượng vũ trang nhân dân vững mạnh. Bài học kinh nghiệm của cuộc Tổng tiến công càng cho thấy, Đảng phải có đường lối đúng đắn, sáng tạo, trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, xác định rõ mục tiêu cách mạng, phát triển học thuyết quân sự Việt Nam; xuất phát từ thực tiễn, phân tích tình hình cụ thể để tìm ra quy luật và hành động theo quy luật, nhất là quy luật chiến tranh kiểu mới của địch – chiến tranh vũ khí công nghệ cao.

Cách mạng nước ta hiện nay bên cạnh những nhân tố thuận lợi thúc đẩy quá trình đối mới đất nước, giành nhiều thành tựu quan trọng (đặc biệt khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) và được bầu làm ủy viên không thường trực của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2008 – 2009, uy tín và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế không ngừng nâng cao), chúng ta cũng đang phải vượt qua nhiều khó khăn, thử thách, nhất là việc các thế lực thù địch chống phá bằng chiến lược “diễn biến hoà bình”, gây bạo loạn, lật đổ, âm mưu thúc đẩy “tự diễn biến”, tạo cớ can thiệp dưới các hình thức. Vì vậy, đòi hỏi việc phát triển chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc cần có những bước phát triển mới, cả về quy mô, tính chất, yêu cầu các cấp, các ngành phải nhạy bén, sáng tạo, thường xuyên nắm chắc tình hình, xử lý tốt những tình huống phức tạp xảy ra, không để đất nước bị động, bất ngờ về chiến lược. Thường xuyên nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, chủ động đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn thâm độc của kẻ thù, giữ vững ổn định chính trị – xã hội, tăng cường củng cố quốc phòng – an ninh, đẩy lùi nguy cơ chiến tranh, tạo môi trường hoà bình, thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước.

Hai là, phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc và yếu tố chính trị – tinh thần.

Xây dựng và phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc là vấn đề có ý nghĩa chiến lược quan trọng tạo nên sức mạnh vô địch trong chiến tranh cũng như trong hoà bình xây dựng, phát triển đất nước. Do đó, cần chăm lo khối đại đại đoàn kết ngay từ thời bình, để “lo giữ nước khi nước còn chưa nguy” theo kinh nghiệm truyền thống của cha ông. Nghị quyết Đại hội X của Đảng chỉ rõ: “Đảng ta luôn coi vấn đề dân tộc và đoàn kết các dân tộc là vấn đề chiến lược, cơ bản, lâu dài của sự nghiệp cách mạng nước ta… là nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”(3) .

Xây dựng, phát huy tốt yếu tố chính trị – tinh thần của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta là nhân tố làm chuyển hoá so sánh lực lượng để “lấy ít địch nhiều”, “lấy nhỏ thắng lớn”, là nét độc đáo của nền nghệ thuật quân sự Việt Nam cần nhân lên trong điều kiện mới. Phát huy yếu tố chính trị – tinh thần trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, khơi dậy tinh thần yêu nước, quả cảm, ý chí quyết tâm chiến đấu, trí thông minh, sáng tạo, truyền thống chống ngoại xâm trong suốt chiều dài lịch sử mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc.

Ba là, xây dựng các khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố vững chắc, làm nền tảng của thế trận chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc.

Thực tiễn sự kiện lịch sử này cho thấy, vai trò quan trọng của lực lượng tại chỗ, của thế trận chiến tranh nhân dân. Do đó, ngay từ thời bình phải chăm lo xây dựng các khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố thành thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân vững chắc, bảo đảm tính toàn diện, nhưng có trọng tâm, trọng điểm, trong đó tập trung xây dựng vững mạnh về chính trị, phát triển vững chắc về kinh tế, ổn định về xã hội. Trên cơ sở tạo thế bố trí chiến lược chung của cả nước, chú trọng vào các khu vực phòng thủ then chốt, các địa bàn chiến lược, vùng biên giới, biển, đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số; gắn kết chặt chẽ giữa kinh tế với quốc phòng và quốc phòng với kinh tế ngay trong từng dự án cũng như trong quy hoạch của từng địa phương và tổng thể cả nước. Chăm lo bảo đảm tốt đời sống của nhân dân, thực hiện dân chủ, nhất là dân chủ ở cơ sở, góp phần xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc. Đồng thời, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức đảng, hiệu lực quản lý, điều hành của chính quyền các cấp. Đẩy mạnh cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng, quan liêu, lãng phí nhằm củng cố vững chắc niềm tin của quần chúng nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa.

Bốn là, phát triển tiềm lực quốc phòng, quân sự.

Phát triển tiềm lực quốc phòng, quân sự tạo ra khả năng về vật chất và tinh thần có thể huy động được cho nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, giữ vững hoà bình, ngăn ngừa mọi âm mưu, hành động gây chiến tranh của các thế lực thù địch, sẵn sàng đánh thắng chiến tranh xâm lược ở mọi quy mô, nếu xảy ra. Sức mạnh của chiến tranh bảo vệ Tổ quốc là sức mạnh tổng hợp, vì vậy, xây dựng tiềm lực quốc phòng, quân sự phải nhằm góp phần tạo ra sức mạnh tổng hợp, chủ động chuẩn bị, gắn liền với mỗi bước tăng trưởng, phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.

Hiện nay, cần tận dụng những thời cơ thuận lợi của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế để mở rộng quan hệ hợp tác, trao đổi, học tập kinh nghiệm, nhất là về khoa học – kỹ thuật hiện đại, nhằm đi tắt đón đầu, phục vụ sự phát triển công nghiệp quốc phòng, công tác nghiên cứu khoa học quân sự và nghệ thuật quân sự, đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc.

Năm là, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân trong sạch, vững mạnh làm nòng cốt của chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc.

Xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, trước hết là quân đội nhân dân và công an nhân dân chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, xứng đáng là lực lượng chính trị tuyệt đối trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân, làm nòng cốt trong sự nghiệp củng cố quốc phòng – an ninh, bảo vệ Tổ quốc. Đồng thời, phát huy sức mạnh tổng hợp của quần chúng nhân dân, các lực lượng và cả hệ thống chính trị, trong đó lực lượng vũ trang ba thứ quân đóng vai trò chủ đạo. Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X xác định: “Nâng cao chất lượng tổng hợp, sức chiến đấu để lực lượng vũ trang thật sự là lực lượng chính trị trong sạch, vững mạnh, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân, được nhân dân tin cậy, yếu mến”(4). Theo đó, chúng ta phải thường xuyên xây dựng quân đội vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức, có số lượng và cơ cấu hợp lý, có chất lượng tổng hợp, sức chiến đấu ngày càng cao, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Trong quá trình xây dựng quân đội phải coi trọng cả lực lượng thường trực, lực lượng dự bị động viên, dân quân tự vệ, nhằm đáp ứng tốt yêu cầu ngày càng cao của cách mạng.


(1) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998, t10, tr 731
(2) Báo cáo của Bộ Chính trị tại Hội nghị Trung ương lần thứ 21 (khoá III)
(3) Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr 116
(4) Văn kiện, Sđd, tr 110

Phạm Xuân Hùng
tapchicongsan.org.vn

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 – Một mốc son có ý nghĩa chính trị và quân sự to lớn

Lịch sử các cuộc chiến tranh trên thế giới cũng như ở Việt Nam, theo nghệ thuật “truyền thống” thì giai đoạn kết thúc chiến tranh, thông thường một trong các bên tham chiến thực hiện đòn đánh tiêu diệt chiến dịch lớn hoặc đánh tiêu diệt chiến lược lực lượng quân sự, chính trị đối phương, buộc chúng phải chịu thua. Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1968 được ghi vào lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta như là một mốc son tiêu biểu, một bước ngoặt quyết định – đòn tấn công chiến lược, bất ngờ với quy mô lớn vào sào huyệt của đối phương ở các thành phố, thị xã lớn trên toàn miền Nam, làm lung lay ý chí quyết tâm xâm lược của đế quốc Mỹ, buộc chúng phải xuống thang và ngồi vào bàn đàm phán với ta tại Hội nghị Pa-ri năm 1968.

Vào đầu năm 1965, sau thất bại của “chiến tranh đặc biệt”, đế quốc Mỹ quyết định đưa quân Mỹ và quân đội một số nước “đồng minh” của Mỹ (Nam Triều Tiên, Ô-xtrây-li-a, Niu-di-lân, Thái Lan, Phi-lip-pin…) cùng một khối lượng lớn vũ khí, thiết bị chiến tranh hiện đại, đô la… ồ ạt vào miền Nam Việt Nam, thời điểm cao nhất là nửa triệu quân Mỹ trực tiếp tham chiến, thực hiện chiến lược “chiến tranh cục bộ” ở miền Nam; dùng không quân, hải quân mở rộng cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc, nhằm uy hiếp tinh thần kháng chiến của nhân dân Việt Nam. Giới cầm quyền Mỹ từng hò hét “đánh gãy xương sống Việt cộng” ở miền Nam, “đẩy lùi miền Bắc về thời kỳ đồ đá”, đưa biên giới nước Mỹ đến vĩ tuyến 17 của Việt Nam, buộc Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà phải ngồi vào bàn đàm phán theo những điều kiện áp đặt của Mỹ. Chính quyền Giôn-xơn chủ trương đưa quân Mỹ vào nhanh và rút ra nhanh, giành thắng lợi quyết định trong một thời gian ngắn, đè bẹp ý chí giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước của nhân dân Việt Nam!

Song, sau ba năm trực tiếp tham chiến, quân đội Mỹ tuy ngăn chặn được sự sụp đổ Việt Nam cộng hòa nhưng không thể bình định được miền Nam Việt Nam. Trái lại, nước Mỹ ngày càng sa lầy vào cuộc chiến tranh “tiến thoái lưỡng nan” ở Việt Nam và chưa biết bao giờ kết thúc. Vì vậy, chính phủ Mỹ không còn cách nào khác ngoài việc tiếp tục tăng quân, tăng chi phí quân sự để thực hiện chiến lược “chiến tranh cục bộ”. Cuối 1967, quân chiến đấu Mỹ có mặt ở miền Nam Việt Nam lên tới 480.000 quân và 68.800 quân của các nước phụ thuộc Mỹ. Và, nếu chi phí cho cuộc chiến tranh Việt Nam 1965-1966 là 4,7 tỉ đô-la, thì năm 1967 đã tăng lên 30 tỉ, gấp 1,5 lần Mỹ đã chi cho cuộc chiến tranh Triều Tiên. Chi phí này đã ảnh hưởng lớn đến nước Mỹ. Nền kinh tế Mỹ bắt đầu suy thoái, thâm hụt ngân sách 4 tỉ đôla, giá cả tăng vọt, lạm phát không kiểm soát được. Tại Oasinhtơn, khoảng 40.000 người, có cả những cựu chiến binh Mỹ từng tham tranh ở Việt Nam tham gia biểu tình phản đối cuộc chiến tranh của chính phủ Mỹ. Nhiều cuộc biểu tình của nhân dân Mỹ chống chiến tranh lan rộng toàn nước Mỹ đòi chăm lo cuộc sống cho người nghèo và chấm dứt chiến tranh Việt Nam. Chính phủ Mỹ phải lo đối phó với những khó khăn lớn về quân sự, chính trị và tài chính không chỉ ở Việt Nam mà ngay cả trong nước Mỹ (1). Nhiều nghị sĩ ở Thượng nghị viện và Hạ nghị viện Mỹ đã nhận thấy “tương lai không thể lường được của một cuộc chiến tranh hiện đang có tác động làm rã rời ý chí nhân dân  Mỹ (2).

Nắm được điểm yếu của Mỹ là quân đội của họ đã bị sa lầy không thể rút quân về nước, đồng thời dư luận của cả nhân dân và chính giới tại Mỹ ngày càng trở nên thiếu kiên nhẫn và  phong trào phản chiến ngày càng lên mạnh khi quân đội tham chiến quá lâu tại nước ngoài, Bộ Chính trị đã hoạch định một trận đánh nhằm gây tiếng vang lớn “Một cú đập lớn để tung toé ra các khả năng chính trị”, tạo đột phá cho chiến tranh, nhằm buộc  Hoa Kỳ xuống thang chiến tranh đi vào đàm phán.

Tháng 6-1967, Bộ Chính trị chủ trương:“Nhân lúc đế quốc Mỹ đang đứng trước thế tiến lui đều khó, lại phải tập trung vào cuộc vận động bầu cử Tổng thống Mỹ, ta cần chuẩn bị đánh một đòn quyết định tạo chuyển biến nhảy vọt cho cuộc đấu tranh cách mạng ở miền Nam, buộc Mỹ phải thua” và “phải tìm cách đánh khác để đập tan ý chí tiếp tục chiến tranh của Mỹ, làm cho Mỹ hiểu rằng không thể thắng được dân tộc Việt Nam bằng vũ khí và bom đạn  (3)Vì vậy, Cục Tác chiến  Bộ Tổng tham mưu đã bắt tay xây dựng kế hoạch tác chiến chiến lược cho năm 1968 theo tinh thần Nghị quyết Bộ Chính trị và chỉ thị của Quân uỷ Trung ương. Đồng chí Văn Tiến Dũng -Tổng Tham mưu trưởng gợi ý cho “Tổ kế hoạch”: nên nghĩ đến kế hoạch và cách đánh khác cách đánh “truyền thống” mà lâu nay quân giải phóng vẫn làm, thì mới có thể giành thắng lợi quyết định. Trong khi “Tổ kế hoạch” còn đang suy nghĩ tìm cách đánh mới, thì đồng chí Lê Duẩn, khi trao đổi với Quân uỷ Trung ương về kế hoạch chiến lược năm 1968 đã đề xuất giải pháp đánh thẳng vào sào huyệt địch trong các thành phố, thị xã. Ý kiến của đồng chí Lê Duẩn được Quân uỷ Trung ương và Tổng Tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng tán thành và trở thành ý định quyết tâm chiến lược năm 1968: chuyển hướng tiến công chiến lược chủ yếu từ rừng núi, nông thôn vào đô thị – nhất là Sài Gòn, Huế, Đà Nẵng. Tổng bí thư Lê Duẩn nhấn mạnh: “Mỹ không còn con đường nào khác là phát huy sức mạnh quân sự. Đối phó với âm mưu này của Mỹ, ta phải đưa hoạt động quân sự lên một bước mới, đến mức Mỹ không chịu nổi và phải chấp nhận thất bại về quân sự, cô lập về chính trị. Nếu ta thực hiện được, Mỹ sẽ phải rút khỏi miền Nam” (4).

Song, so sánh tương quan lực lượng quân giải phóng và quân Mỹ về quân số, vũ khí trang bị, sức cơ động và tính hiện đại thì ta đều thua kém nhiều lần, nên việc đánh tiêu diệt chiến dịch, chiến lược đối với quân viễn chinh Mỹ là điều gần như không thể thực hiện được. Bộ Chính trị chủ trương: “Phải tìm cách đánh mới khác cách đánh truyền thống là đánh bại ý chí xâm lược của Mỹ bằng phương pháp tổng tiến công đồng loạt đánh vào các trung tâm đầu não chính trị, quân sự ở các thành phố, thị xã. Tiến công vào các thành phố, thị xã sẽ tạo ra bất ngờ lớn đối với địch, làm đảo lộn thế bố trí chiến lược của chúng, làm rung chuyển nước Mỹ. Qua đó, ta chứng minh cho Mỹ thấy chúng không thể thắng trong cuộc chiến tranh này, chúng đang đứng trước nguy cơ thất bại hoàn toàn, do đó phải tìm giải pháp chấm dứt cuộc chiến trang xâm lược,rút ra khỏi cuộc chiến tranh Việt Nam” (5).

Từ nhận định trên và thực tiễn diễn ra trên chiến trường, chiến lược dần dần hình thành, từng bước trở thành quyết sách: Tổng tiến công và nổi dậy, đánh thẳng vào sào huyệt của địch trong các thành phố và thị xã. Đây chính là cơ sở, nền tảng vững chắc để Hội nghị lần thứ 14 BCHTW (khoá III) quyết định: chuyển cuộc chiến tranh cách mạng ở miền Nam sang một thời kỳ mới, thời kỳ giành thắng lợi quyết định (6). Sau khi thảo luận kỹ khả năng đánh vào thành phố của lực lượng vũ trang và khả năng nổi dậy của quần chúng, Bộ Chính trị thông qua phương án tổng công kích, tổng khởi nghĩa do Bộ Tổng tham mưu soạn thảo đã được Quân uỷ Trung ương nhất trí. Phương án xác định chiến trường trọng điểm là Sài Gòn – Gia Định, Huế, Đà Nẵng, hướng phối hợp chiến lược quan trọng là Đường 9 – Khe Sanh. Cụ thể là: cùng với đòn tiến công của bộ đội chủ lực ở hướng phối hợp chiến lược đặc biệt quan trọng là Đường 9 – Khe Sanh nhằm thu hút, giam chân lực lượng chiến lược của địch, một đòn tiến công chiến lược đánh vào thành phố, thị xã quy mô trên toàn miền Nam, kết hợp với nổi dậy của quần chúng các đô thị và nông thôn, mở đầu cho tổng công kích, tổng khởi nghĩa, lấy chiến trường chính là Sài Gòn – Gia Định, Đà Nẵng, Huế, trọng điểm là Sài Gòn – Gia Định, Huế, Đà Nẵng và các thành phố lớn. Chiến dịch Đường 9 – Khe Sanh, trước Tết Mậu Thân 10 ngày, quân Giải phóng sẽ nổ súng tiến công vào tập đoàn cứ điểm Khe Sanh để buộc Mỹ phải chú ý tập trung điều lực lượng chủ lực ra phía bắc đối phó, tạo điều kiện để giữ bí mật hướng trọng điểm và tiếp tục chuẩn bị (7).

Quán triệt phương án tổng công kích, tổng khởi nghĩa vào chiến trường trọng điểm  Sài Gòn – Gia Định, Huế, Đà Nẵng, trước đó 10 ngày, hai sư đoàn của ta đánh nghi binh, nhằm “đánh lạc hướng” đối phương bằng cuộc tấn công vào căn cứ của lính thuỷ đánh bộ Mỹ tại Khe Sanh, gây sự chú ý của Mỹ, làm cho Bộ Chỉ huy Mỹ tập trung tâm trí và binh lực lên miền núi Quảng Trị để tránh một trận Điện Biên Phủ mới, sau đó quân ta sẽ tiếp ứng thẩm thấu vào thành phố, tiếp quản các mục tiêu và tham gia chiến đấu. Cuộc tấn công của ta vào căn cứ Khe Sanh được giới chuyên môn Mỹ đánh giá như tấn công vào Oasinhtơn – gây chấn động cả nước Mỹ. Mỹ, nguỵ bị thu hút vào Khe Sanh, bất ngờ, đêm ngày 30 rạng ngày 31-1-1968 (Tết Mậu Thân), quân và dân miền Nam đã đồng loạt tiến công và nổi dậy ở 4 thành phố lớn, trọng tâm là Sài Gòn – Gia Định và Huế, Đà Nẵng, 37 thị xã và hàng trăm quận lỵ, thị trấn, tập trung đánh vào nội thành và cơ quan đầu não: Dinh Độc lập, toà Đại sứ Mỹ, Bộ Tổng tham mưu, Hải quân, Tổng nha cảnh sát, Đài phát thanh Sài Gòn, các căn cứ hậu cần, sân bay, bến cảng, nhiều sở chỉ huy cấp quân khu, quân đoàn, sư đoàn của Mỹ ngụy… Bất ngờ về mục tiêu và thời điểm tiến công, Mỹ, nguỵ đã “trở tay không kịp”, sĩ quan và binh lính đã không hề lường trước sự kiện quân giải phóng tấn công vào tận sào huyệt của chúng (kể cả Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đang về quê nghỉ Tết Nguyên đán) cũng hoàn toàn bất ngờ, đã vội vàng trở về Sài Gòn để chỉ đạo cuộc chiến. Cùng với cuộc tiến công đồng loạt vào các thành phố, thị xã, trên địa bàn nông thôn, được sự hỗ trợ của lực lượng vũ trang, nhân dân ta đã nổi dậy giành quyền làm chủ, đập tan bộ máy chính quyền của địch ở nhiều nơi. Tổng tiến công và nổi dậy diễn ra trên một không gian rộng lớn ở cả ba vùng chiến lược, nông thôn – đồng bằng, đô thị và miền núi đã phát huy cao độ ưu thế và sức mạnh của chiến tranh nhân dân, quân và dân với quyết tâm sắt đá, nêu cao ý chí quyết chiến, quyết thắng, không sợ hy sinh, gian khổ với nghị lực phi thường đã vượt qua mọi khó khăn, thử thách, cán bộ, chiến sỹ các đơn vị lực lượng vũ trang của ta đã khắc phục mọi khó khăn, đặc biệt là những khó khăn về sự gấp rút về thời gian chuẩn bị, về yêu cầu bảo đảm bí mật, đã thực hiện tốt việc quán triệt tư tưởng chỉ đạo tác chiến bất ngờ, thọc sâu, đánh hiểm, bảo đảm cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy giành thắng lợi. Những tấm gương chiến đấu dũng cảm, những cách đánh có hiệu suất cao, phá hủy nhiều mục tiêu quan trọng, tiêu diệt nhiều sinh lực địch, phá huỷ nhiều cơ sở vật chất và phương tiện chiến tranh của địch, những hành động quên mình trong chiến đấu của cán bộ, chiến sỹ và nhân dân ta xuất hiện ngày càng nhiều trên khắp các mặt trận, các chiến trường thể hiện sâu sắc tinh thần cách mạng tiến công, ý chí quyết tâm giành thắng lợi của quân dân ta. Sau gần hai tháng tiến công và nổi dậy, quân dân ta đã làm tan rã 150.000 địch, phá huỷ khoảng 34% vật tư và phương tiện chiến tranh của quân Mỹ và quân nguỵ Sài Gòn, đưa chiến tranh cách mạng vào trung tâm đầu não kẻ thù, làm rối loạn hậu phương địch.

Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân không chỉ gây bất ngờ lớn cho Mỹ mà còn làm cho dư luận Mỹ thấy rằng việc đưa quân tham chiến với nỗ lực cao không chỉ làm căng thẳng trong xã hội Mỹ, phúc lợi giảm sút, gây nhiều hệ luỵ xấu cho xã hội… mà vẫn không dứt điểm được quân đối phương, và trong tương lai chiến tranh không biết đến bao giờ kết thúc! Điều này đưa đến kết luận là Mỹ không thể thắng được trong cuộc chiến ở Việt Nam. Các chính trị gia trong Quôc hội Mỹ gây sức ép lên chính phủ đòi xem xét lại cam kết chiến tranh, đòi huỷ bỏ uỷ quyền cho chính phủ tiến hành chiến tranh không cần phê chuẩn, thúc ép giải quyết chiến tranh bằng thương lượng. Quy mô của cuộc tiến công làm dư luận Hoa Kỳ mất kiên nhẫn và sự tin tưởng với giới quân sự, họ đòi chấm dứt chiến tranh và rút quân về nước. Một mặt họ thiếu niềm tin vào hiệu quả của quân đội, mặt khác, các hành động bạo liệt mất nhân tính được trình chiếu trên tivi đánh vào lương tâm công chúng. Họ đòi hỏi phải chấm dứt chiến tranh ngay lập tức. Họ coi chiến tranh là bẩn thỉu. Ngay các nhà lãnh đạo chính phủ Hoa Kỳ cũng chia rẽ trong quan điểm sẽ làm gì tiếp theo. Với sức ép của Tết Mậu Thân, cùng với việc thay Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Tổng thống Mỹ còn cách chức William Westmosreland – Tổng chỉ huy quân Mỹ ở Việt Nam, đưa Abram lên thay. Ngày 31-1-1968, Tổng thống Giôn-Sơn tuyên bố chấm dứt ném bom miền Bắc Việt Nam, sẵn sàng đàm phán để chấm dứt chiến tranh, không tăng thêm quân theo yêu cầu của Bộ Chỉ huy chiến trường và từ chối ra tranh cử nhiệm kỳ tới. Trong hồi ký, ông viết: Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân là “một sự choáng váng đối với tất cả người Mỹ”,“cố gắng của đối phương đã gây ra một hậu quả tác động xấu đến một số người trong và ngoài Chính phủ”, nhân dân Mỹ và một số nhân vật trong chính quyền bắt đầu nghĩ rằng chúng ta đã thất bại”. Thắng lợi này đã góp phần làm lung lay ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, làm cho “quân đội Mỹ còn nguyên vẹn về thể xác nhưng tinh thần dao động hết rồi”(8).

Thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân năm 1968 là thắng lợi có ý nghĩa chính trị và quân sự to lớn. Quân và dân miền Nam đã giành thắng lợi quan trọng, đánh bại cố gắng lớn về quân sự của Mỹ, giáng một đòn quyết định, làm phá sản chiến lược “chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ, buộc chúng phải xuống thang chiến tranh, rút dần quân về nước, chấm dứt ném bom bắn phá miền Bắc và chấp nhận đàm phán với ta ở Hội nghị Pa-ri (1968-1973): Tết Mậu Thân thắng rất lớn, không phải chỉ ở chiến thuật mà nhất là đã đánh bại được ý chí xâm lược của Mỹ, tạo nên bước ngoặt quyết định của chiến tranh… (9), mở ra cục diện “vừa đánh vừa đàm” trên thực tế. Từ đây, sự kết hợp giữa đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị và đấu tranh ngoại giao của quân và dân ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước trở nên chặt chẽ và hiệu quả hơn, tạo bước ngoặt mới cho sự phát triển của cách mạng miền Nam.

Sau “Đồng khởi” năm 1960, Tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt Tết Mậu Thân năm 1968 làm rung chuyển nước Mỹ là một trong những mốc son lịch sử, sự kiện mở đầu cho chuỗi thắng lợi liên tiếp của dân tộc Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước: cuộc tiến công chiến lược năm 1972 và cuộc chiến đấu đập tan trận tập kích chiến lược bằng B52 vào Hà Nội, Hải Phòng đã lần lượt làm thất bại các chiến lược chiến tranh kiểu mới của Mỹ, buộc chúng phải ký vào Hiệp định Pa-ri năm 1973, tôn trọng độc lập chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam. Tết Mậu Thân 1968 không chỉ là đòn quyết định buộc Mỹ phải ngồi vào bàn đàm phán mà còn là cuộc tổng diễn tập lớn cho Tổng tiến công và nổi dậy của quân và dân vào mùa xuân 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

Phạm Thị Nhung
Trường sĩ quan Lục quân 2
xaydungdang.org.vn

———————————–

1. Lịch sử quân sự Việt Nam, t.11, Nxb CTQG, H. 2005, tr.205-207. 2. Tài liệu mật Bộ Quốc phòng Mỹ về chiến tranh Việt Nam, t.2, Việt Nam thông tấn xã phát hành, H.1971, tr.1263. Sđd4. Cục Tác chiến, Lịch sử cục tác chiến 1945-2000. 5. Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước 1954 – 1975, t.5: Tổng tiến công và nổi dậy 1968, Nxb CTQG, H.2001, tr. 45. 6. Nghị quyết Trung ương lần thứ 14. 7. Http://vov.vn/Home/Phan-II-Cuoc-tien-cong-va-noi-day-Tet-Mau-Than-1968/200081/77799.vov. 8. Mai-cơn Mác-lia, Việt Nam cuộc chiến tranh mười nghìn ngày, Nxb Sự thật, H.1990, tr.172. 9. Kết luận của Bộ Chính trị họp ngày 23-4-1994, số 215 – BBK/BCT.

Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968 qua đánh giá của nước ngoài

TCCSĐT – Cách đây vừa tròn 45 năm, vào Tết Mậu Thân năm 1968, quân và dân Việt Nam đã mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt vào 4/6 thành phố, 37/46 thị xã và hàng trăm thị trấn trên toàn miền Nam. Đây là một cuộc tiến công đồng loạt, đều khắp và rộng lớn, có tác động to lớn đối với toàn bộ cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ của nhân dân ta.

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968 với hiệu lực chiến đấu “cộng hưởng” lớn lao chưa từng có, đã làm rung chuyển cả Nhà Trắng và Lầu Năm góc, gây chấn động dữ dội trong dư luận không chỉ ở nước Mỹ mà trên toàn thế giới. Sự chấn động ấy được thể hiện qua một số sách báo xuất bản lúc đó và cả sau này.

Nhà sử học Mỹ Ga-bri-en Côn-cô (Gabriel Kolko) trong tác phẩm Giải phẫu một cuộc chiến tranh, xuất bản tại Niu Oóc (New York) năm 1985, đánh giá: “Cuộc tiến công Tết là sự kiện quan trọng nhất và phức tạp nhất của chiến tranh Việt Nam”. Theo nhà sử học này, với Mậu Thân 1968, “Việt Nam đã trở thành cuộc chiến tranh nước ngoài đầu tiên của Mỹ kể từ năm 1882 đã gây ra cuộc khủng hoảng xã hội, nội bộ sâu sắc và một sự phân hóa về chính trị”.

Còn tướng Mắc-xoen Tay-lơ (Maxwell D. Taylor) – cựu Đại sứ Mỹ ở Sài Gòn, sau khi từ chức (tháng 6-1965) về làm cố vấn đặc biệt của Tổng thống Lin-đơn Giôn-xơn (Lyndon B.Johnson), trong hồi ký Thanh gươm và lưỡi cày – xuất bản tại Niu Oóc năm 1972, đã thừa nhận: “Ngày 31-1-1968, quân địch (tức quân giải phóng – người viết) tiến công và chỉ trong vòng 2 ngày, họ đã tiến vào 5 đô thị lớn, 39 tỉnh lỵ và nhiều thành phố. Những trận tiến công của họ đã được báo chí Mỹ tường thuật dưới dạng những hàng tít lớn được chiếu trên màn ảnh vô tuyến truyền hình và đã làm cho phần lớn dân chúng Mỹ và một số quan chức kinh hoàng. Phải rất lâu họ mới hoàn hồn và trong một số trường hợp, sự hoàn hồn đó mãi mãi không bao giờ được khôi phục lại hoàn toàn”.

M.Tay-lơ còn nói: “Những điều bất ngờ thực sự mà cuộc tiến công Tết 1968 đã gây cho tôi không phải là việc đối phương đã mở được một cuộc tiến công lớn mà chính là việc họ đã mở cùng một lúc nhiều trận tiến công mãnh liệt đến như thế”.

Tướng W.C. Oét-mo-len (W.C.Westmoreland) – nguyên Tư lệnh Bộ Chỉ huy quân Mỹ ở miền Nam Việt Nam viết trong Một quân nhân tường trình, xuất bản ở Niu Oóc năm 1976: “Việt Cộng đã đưa chiến tranh đến các thành phố, các đô thị, đã gây thương vong thiệt hại và nền kinh tế bị phá hoại… các trung tâm huấn luyện bị đóng cửa… Nói theo quan điểm thực tế thì chúng ta (Mỹ) phải công nhận, đối phương đã giáng cho Chính phủ Nam Việt Nam một cú đấm nặng nề”. W.C. Oét-mo-len còn nhận xét một cách bi quan rằng: “Chiến tranh đã trở thành một vấn đề chính trị với triển vọng địch (tức quân giải phóng – người viết) có thể thắng ở Oa-sinh-tơn như họ đã thắng ở Giơ-ne-vơ năm 1954. Ý chí của các chính khách Mỹ đang suy giảm”.

Ngày 27-3-1968, chưa đầy 2 tháng sau khi ta mở cuộc tiến công, cựu Tổng thống Mỹ D. Ai-xen-hao (D. Eisenhower), đã phải than thở: “… Chưa bao giờ gặp phải tình trạng đáng buồn như tình cảnh hiện nay của nước Mỹ bị chia rẽ sâu sắc về chiến tranh”.

Ngay đương kim Tổng thống L. Giôn-xơn lúc bấy giờ cũng tỏ ra chán nản, dao động. Trong hai ngày 25 và 26-3-1968, ông ta đã triệu tập một cuộc họp “những nhân vật am hiểu tình hình nhất”. Phiên họp kéo dài với những thành viên hội nghị gồm những người nắm những địa vị then chốt nhất trong Chính phủ Mỹ, L. Giôn-xơn đã hỏi quan điểm từng người một. Và, “Tổng thống đã nhận được những câu trả lời vô cùng bi quan của những người từ trước đến nay vẫn được xem là loại cứng rắn… Cuối cùng, Tổng thống quyết định rời khỏi sân khấu chính trị với hy vọng thống nhất lại một quốc gia đang bị chia rẽ ngay trong những người thân cận nhất của Tổng thống”. Sau đó, ngày 8-6-1969, R. Ních-xơn (Richard M.Nixon) gặp Nguyễn Văn Thiệu tại đảo Mít-uây (Midway) để bàn về việc Mỹ sẽ rút quân khỏi Việt Nam. Hen-ry Kít-xinh-giơ (H.Kissinger), cựu Ngoại trưởng Mỹ nhận xét: “Việc Tổng thống chúng ta chỉ có thể gặp người lãnh đạo một nước mà hơn 30.000 người Mỹ đã chết vì nó trên một hòn đảo hiu quạnh trong một khung cảnh đẹp trời của Thái Bình Dương chứng minh tình hình rối như tơ vò mà chiến tranh Việt Nam đã dìm xã hội chúng ta vào”.

Đó là lời của các nhân vật chóp bu trong giới cầm quyền Mỹ. Còn báo chí Mỹ thì sao?

Tờ Tin tức Oa-sinh-tơn ngày 31-1-1968 đã viết: “Các cuộc tiến công ồ ạt, táo bạo của cộng sản ngày 31-1 vào Sài Gòn, 8 tỉnh lỵ và 30 thị trấn nhỏ hơn là một điều đáng kinh ngạc. Cảnh sát quân sự Mỹ đã phải đổ bộ bằng máy bay lên thẳng xuống nóc nhà sứ quán Mỹ ở Sài Gòn trong khói đạn để giành lại ngôi nhà được coi là “chống du kích” nhưng lại bị cộng sản chiếm trong 6 giờ liền. Chỉ riêng cảnh tượng đó cũng đủ để buộc Chính phủ Giôn-xơn dẹp đi, coi là không có giá trị những nhận định lạc quan của mình”.

Thời báo Niu Oóc, tờ báo lớn nhất của Mỹ số ra ngày 1-2-1968 bình luận: “Cuộc tiến công của đối phương đột nhập cả đại sứ quán Mỹ ở Sài Gòn cho thấy thêm những bằng chứng đau xót về sức mạnh có hạn của Mỹ ở châu Á. Bằng chứng cuộc tiến công táo bạo vào những thành phố chính ở miền Nam Việt Nam và bằng sự tập trung quân ở Khe Sanh, cộng sản đã làm tiêu tan niềm lạc quan bao trùm lên Oa-sinh-tơn và Sài Gòn trong mấy tháng qua. Đây rõ ràng không phải là hành động của một đối thủ đang yếu dần như các nhà quân sự Mỹ đã khẳng định hồi tháng 11 năm 1967”.

Cũng tờ báo này, trong số ra ngày hôm sau 2-1-1968 có đoạn: “Chiến thắng của Việt Cộng chứng minh sự suy yếu của cơ cấu chính trị mà Mỹ dùng làm chỗ dựa trong cố gắng chiến tranh và đe dọa thủ tiêu hoàn toàn các cơ cấu chính trị đang suy  yếu”. Tác giả bài báo tỏ ý lo ngại rằng: “Hậu quả chính trị do thắng lợi đáng kinh ngạc của Việt Cộng gây ra lần này mới là nguy hại nhất”.

Không chỉ báo chí Mỹ, các báo phương Tây và các nước trên thế giới đều đưa tin và bình luận về sự kiện lịch sử này.

Hãng thông tấn Roi-tơ (Anh) ngày 3-2-1968 nói: “Quy mô và tính chất ác liệt của các trận tấn công phối hợp ở Sài Gòn và ở các trung tâm chủ chốt khác tại Nam Việt Nam làm cho Mỹ và các nước đồng minh rất đỗi ngạc nhiên”. Kế đó, ngày 5-2-1968 hãng này thống kê: “Mỹ có đến nửa triệu quân ở Nam Việt Nam, đã mất 13 năm và đã tiêu mỗi ngày 60 triệu đô-la mà vẫn không bảo vệ được một tấc đất vuông nào ở miền Nam Việt Nam cả”. Trong khi đó, báo Người quan sát (Anh) tỏ ra ngạc nhiên khi than rằng: “Người ta không thể tin là một tình hình như thế lại có thể xảy ra”.

Báo Thế giới (Pháp) ngày 1-2-1968 mỉa mai: “Người Mỹ đã từng khẳng định dân chúng Nam Việt Nam chịu đựng hơn là ủng hộ Mặt trận Dân tộc giải phóng, giờ đây liệu họ còn có thể nêu lên những lý lẽ như thế nữa không sau khi đã xảy ra một cuộc biểu dương đáng khâm phục về sức mạnh và lòng dũng cảm của Việt Cộng như vậy”. Báo Chiến đấu ngày 1-2-1968 khẳng định: “Điều hiển nhiên là người Mỹ đã thua đứt về mặt chính trị trong cuộc chiến tranh này rồi. Những gì xảy ra ở Sài Gòn cũng đủ cho thấy Mặt trận Dân tộc giải phóng đã nắm được các tầng lớp dân chúng ở miền Nam Việt Nam trong mức độ lớn biết nhường nào”.

Tờ Le Figaro (Pháp) ngày 2-2-1968 ca ngợi: “Cuộc tiến công lừng danh của Việt Cộng cho ta thấy trước hết cái tài tình của những người chỉ huy trong việc hướng dẫn cuộc chiến tranh vừa quân sự, vừa chính trị này. Về mặt đối nội – họ vừa thu được một thắng lợi lớn; họ chứng tỏ cho nhân dân Việt Nam thấy rằng họ có thể đánh nơi nào và lúc nào cũng được hết. Họ làm cho chính phủ Sài Gòn và quân đội của chính phủ này trở thành một trò cười. Họ tăng cường sự kiểm soát của họ, và do đó, làm giảm bớt sự kiểm soát của chế độ Sài Gòn đối với dân thường, những người dân thường này thì đầy lòng kính nể và khâm phục đối với Mặt trận Dân tộc giải phóng”.

Nhiều báo của các tổ chức đảng cộng sản và công nhân ở các nước tư bản đều tỏ thái độ khâm phục đối với cuộc chiến đấu chống Mỹ của nhân dân ta qua sự kiện Tết. Báo Nhân đạo – cơ quan Trung ương của Đảng Cộng sản Pháp ngày 1-2-1968 đã ca ngợi: “Đây là cuộc tiến công lớn nhất của các lực lượng vũ trang giải phóng. Những người yêu nước miền Nam Việt Nam đã chứng tỏ rằng ở khắp nơi, quyền chủ động đang thuộc về họ, họ có thể quyết định địa điểm, thời gian của các cuộc tiến công làm cho bộ chỉ huy Mỹ luôn luôn bở hơi tai”.

Các nước trong phe xã hội chủ nghĩa lúc đó thì vui mừng. Hầu như báo của nước nào trong ngày 31-1-1968 và ngày 1-2-1968 cũng đăng bài biểu lộ niềm hân hoan trước thắng lợi của nhân dân ta. Tiêu biểu là tờ Diễn đàn nhân dân Ba Lan, có đoạn: “Các trận đánh táo bạo được chuẩn bị tốt của những người yêu nước miền Nam Việt Nam là sự phát triển của các cuộc tiến công trên một quy mô rộng lớn mà Quân giải phóng đã mở đầu trong tháng Giêng năm nay vào những lúc, ở những nơi và với hình thức mà họ lựa chọn. Quân giải phóng trên thực tế đã trói chân, khóa tay tất cả các lực lượng chiến đấu của quân thù trong khắp các tỉnh”.

Qua một số sách báo Mỹ và nước ngoài nói về sự kiện Tết Mậu Thân năm 1968 có thể nhận thấy, dù ở góc độ nào, dưới con mắt của các nhà khoa học quân sự, nhà chính trị, nhà sử học hay nhà báo, từ người dân bình thường đến các tướng lĩnh cao cấp, thậm chí cả Tổng thống đương nhiệm của nước Mỹ lúc bấy giờ đều phải thừa nhận tác động to lớn của sự kiện Tết Mậu Thân năm 1968 đối với toàn bộ cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Việt Nam. Điều này chứng tỏ tầm vóc và ý nghĩa sâu sắc của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1968 của quân và dân ta ở miền Nam. Nó đập tan những luận điểm sai trái và xua đi những nghi ngờ về thắng lợi của ta trong lịch sử Tết Mậu Thân năm 1968./.

Trần Nam Chuân
Đại tá, PGS, TS, Viện Chiến lược quốc phòng, Bộ Quốc phòng
tapchicongsan.org.vn

Mậu Thân 1968 – Còn mãi ký ức hào hùng

NDĐT – 0 giờ đêm Giao thừa Tết Mậu Thân 1968, tiếng súng đầu tiên đã báo hiệu cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đánh vào các trung tâm đầu não, các thành phố, thị xã, thị trấn, các căn cứ quân sự lớn, sân bay, quân cảng, kho tàng, quận lỵ…trên toàn miền Nam.

Đại tướng Phạm Văn TràĐại tướng Phạm Văn Trà

Cuộc Tổng tiến công diễn ra trong hơn 300 ngày đêm là một sáng tạo độc đáo của nghệ thuật quân sự Việt Nam, làm lung lay tận gốc ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, tạo điều kiện để quân dân ta thực hiện tiến trình vĩ đại giải phóng hoàn toàn Tổ quốc khỏi ách ngoại xâm‏.

Kỷ niệm 45 năm Tổng tiến công Tết Mậu Thân 1968, NDĐT xin giới thiệu với bạn đọc nguồn cảm xúc không thể nào quên của những người trực tiếp cầm súng chiến đấu trên các chiến trường khi đó.

Đại tướng Phạm Văn Trà, nguyên Ủy viên Bộ chính trị, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng:

Ấn tượng với tôi là ba mũi giáp công chính trị, quân sự, binh vận

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 đã trở thành sự kiện gây chấn động lớn trên thế giới về cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam chống lại sự xâm lược của đế quốc Mỹ. Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy có ý nghĩa rất lớn lao về mặt ngoại giao. Nếu không có Mậu Thân 1968, chưa chắc Mỹ đã chịu ngồi vào đàm phán ở hội nghị Pa-ri… Đây là một thắng lợi rất lớn trong cuộc chiến tranh chống đế quốc Mỹ, tiến tới thống nhất đất nước của quân và dân ta, là tiền đề để thực hiện lời huấn thị của Bác Hồ trước khi chiến dịch diễn ra là “Đánh cho Mỹ cút/ Đánh cho ngụy nhào”.

Khi đó, Thượng nghị sĩ Mỹ Robert Kennedy đã phải thốt lên rằng: Tại sao mà nửa triệu lính Mỹ và hơn 70 vạn lính Nam Việt Nam cộng tác, có ưu thế hoàn toàn trên không và ngoài biển, được cung cấp quá đầy đủ và được trang bị những vũ khí hiện đại nhất…, lại không có khả năng bảo vệ được thành phố khỏi bị đối phương tấn công.

Nhận xét đó của một chính khách Mỹ như thế cũng đủ cho thấy rằng, trong Tổng tiến công Mậu Thân 1968, chúng ta đã có nhiều cách đánh địch hiệu quả. Trong đó, ấn tượng với tôi có lẽ là ba mũi giáp công chính trị, quân sự, binh vận.

Khi Tiểu đoàn 309, Trung đoàn U Minh, Quân khu 9 của chúng tôi tiến đánh Cần Thơ, quân địch đã bị rối loạn bởi nhân dân ta ở khắp nơi biểu tình đấu tranh chính trị, kêu gọi địch đầu hàng. Điều đó tạo điều kiện rất thuận lợi cho Tiểu đoàn đánh chiếm gần hết TP Cần Thơ.

Viện sĩ, Thượng tướng Nguyễn Huy Hiệu, nguyên Ủy viên T.Ư Đảng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng:

Bài học xây dựng nghệ thuật chiến tranh Việt Nam

Khi đó, Trung đoàn 27, đơn vị tôi đánh địch trên vùng rộng lớn khu vực phía bắc Quảng Trị. Địch đánh phá điên cuồng hòng cắt đứt đường chi viện của ta cho chiến trường miền Nam. Đây là thời gian quan trọng để đơn vị và bản thân tôi đúc kết được nhiều kinh nghiệm trong cách đánh địch. Từ cách đánh nhỏ, đánh vừa, đánh tiêu hao sinh lực địch đến cách đánh lớn, đánh tập trung, đánh tiêu diệt lực lượng lớn của địch. Chúng ta phải chiến đấu trong điều kiện vô cùng khó khăn, đối đầu với một lực lượng lớn hơn ta nhiều lần, được trang bị vũ khí hiện đại, trong khi đó quân ta thiếu vũ khí, thiếu lương thực trầm trọng. Nhưng với nghệ thuật chiến tranh nhân dân, với thế đánh cài răng lược…, cùng với các chiến trường khác, chúng ta đã duy trì thành quả chiến thắng về mặt quân sự để tạo điều kiện cho thành công trên mặt trận ngoại giao.

Chiến thắng trong Tổng tiến công và nổi dậy năm 1968 khẳng định sự tài tình trong điều hành chiến tranh của Đảng ta, trong đó có sự dự báo tình hình chính xác, từ đó đưa ra chiến lược đúng đắn. Đây cũng chính là bài học quan trọng để chúng ta tiếp tục đúc kết kinh nghiệm, xây dựng nghệ thuật chiến tranh Việt Nam, đặc biệt để áp dụng xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân trong bảo vệ biên giới, bầu trời và đặc biệt là chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc.

Thiếu tướng Lê Huy Mai, nguyên Phó Chánh thanh tra Bộ Quốc phòng:

Sự tin yêu và ủng hộ của nhân dân giúp chúng tôi bám trụ

Trong Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968, chủ yếu quân chủ lực của ta từ phía núi đánh xuống đồng bằng thì Trung đoàn 803, đơn vị của tôi được lệnh luồn sâu vào lòng địch, cụ thể là luồn vào vùng bờ biển Thừa Thiên – Huế để đánh chặn đường tiếp quân của địch từ phía biển vào Huế. Đây là địa bàn hoàn toàn lạ lẫm đối với quân giải phóng. Trải qua quá trình hành quân không ít hy sinh, chúng tôi đã đến được bờ biển Vinh Xuân, Huế.

Điều bất ngờ với tôi và mọi người trong đơn vị là người dân trong lòng địch lần đầu tiên gặp quân giải phóng và họ “bị chiếm làng”, nhưng lại ủng hộ cách mạng đến vậy. Đêm đến, trong làng còn có người già tìm gặp quân giải phóng để xem có đúng như tuyên truyền “là những đứa hung ác, ăn lông ở lỗ, bốn đứa trèo lên mà không gãy nổi một cành cây đu đủ”. Sự tin yêu và ủng hộ của nhân dân nơi đây đã giúp đơn vị chúng tôi bám trụ trên chiến trường gần ba trăm ngày đêm cho đến khi có lệnh rút quân lên núi.

Còn nhớ nửa sau năm 1968, địch rêu rao “tát nước bắt cá” khi chúng lùng sục càn quét quân ta. Vậy nhưng, những chiến sĩ quân giải phóng vẫn ém mình trong đồng ruộng, trong bờ tre, trong sự đổ nát của làng mạc để đêm đêm lại đánh cho địch những đòn choáng váng.

Ông Đặng Xuân Tẻo, Đội trưởng Đặc công Biệt động 4 Sài Gòn:

Đội 11 người, chỉ còn lại mình tôi

Mũi tấn công đánh vào Đài Phát thanh Sài Gòn là mũi tấn công mà báo chí nước ngoài mô tả là một trận chiến bi hùng nhất trong cuộc Tổng tiến công Mậu Thân 1968. Theo chỉ thị cấp trên, Tôi chỉ huy Đội 4, Phân khu 6, Biệt động Sài Gòn, đánh chiếm và giữ Đài phát thanh trong một tiếng đồng hồ để bàn giao lại cho Tiểu đoàn 4 Thủ Đức và Đài phát thanh Mặt trận giải phóng Miền Nam Việt Nam.

Thời điểm ấy, chúng tôi nhận định, chiếm Đài phát thanh thì dễ, nhưng để giữ được lâu dài là rất khó, cho nên tôi đã tính phương án phải mang theo khối bộc phá từ 20-30kg phòng khi kế hoạch không thành sẽ cho phá hủy Đài phát thanh. Đồng thời cương quyết không để bị bắt, tức là anh em sẽ nổ luôn cùng trái bộc phá.

Tuy nhiên, chỉ thị cấp trên là tuyệt đối không được phá hủy Đài phát thanh. Chiếm được Đài phát thanh, 11 người chúng tôi đã phải chống lại trực thăng trên không và Lữ đoàn tăng thiết giáp cùng lính dù dưới mặt đất.

Đến 5 giờ sáng, đội chỉ còn bốn người. Vũ khí đã hết, không có tiếp viện. Tôi phải mở đường máu trở ra ngoài để xin ý kiến chỉ huy cho anh em giữ đài hay phá để thoát ra. Nhưng… đã không kịp quay trở lại.

7 giờ sang, một tiếng bộc phá nổ lớn. Lúc đó, tôi nói với anh em vòng ngoài: “Rồi! Anh em mình giờ đã giật nụ xòe cho bộc phá nổ, hy sinh theo lời thề”

11 anh em chiến đấu hy sinh mất 10, còn lại duy nhất mình tôi.

Tôi biết rằng đồng đội của tôi đã cảm tử để không bị sa vào tay quân thù. Và Quân lệnh vẫn được giữ nguyên: Đài Phát thanh không bị phá hủy.

nhandan.com.vn

Huyền thoại “Mậu Thân 1968” được kể từ những vật đời thường

(Dân trí)- Những câu chuyện giản dị đời thường đã kể lại 26 ngày đêm đẫm máu ở Huế trong chiến dịch Mậu Thân năm 1968…

 >> Lật lại những câu chuyện lịch sử “nhạy cảm” trong chiến dịch Mậu Thân 1968

Những kỷ vật bình dị nhưng chứa đầy cả một lịch sử bi thương – hào hùng của quân, dân Thừa Thiên Huế trong chiến dịch giải phóng xuân Mậu Thân 1968

B40- khẩu súng thô sơ và kỳ tích

Khẩu B40 là một loại súng chống tăng không giật dùng cá nhân, thông dụng trong thời kỳ quân dân ta đấu tranh chống Mỹ cứu nước, nhất là trong thời kỳ khó khăn nhất, vào thập niên 1960. Ngày đó, B40 là khẩu súng chủ lực để diệt xe và công sự địch. Vì nước ta lúc bấy giờ còn khó khăn nên việc sử dụng vũ khí thế nào vừa hiệu quả, vừa tiết kiệm luôn được đề cao. Vì vậy, mỗi chiến sĩ khi được cầm súng đánh giặc luôn là những người biết đặt tài năng và trách nhiệm với Tổ quốc của mình trong từng viên đạn. Những chiến thắng đầu tiên tại Ấp Bắc, Vạn Tường đã thể hiện tính năng của súng: khẩu súng của đội quân nghèo, mang nhẹ, ít lực lượng nhưng lại đánh thắng địch đông và nhiều xe pháo.

Những khẩu súng B40 cùng súng trường được trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử- Cách mạng Thừa Thiên Huế.

Cũng với khẩu súng này năm xưa, chị Phạm Thị Liên, Đội trưởng đội 11 cô gái du kích Sông Hương (đã hy sinh trước giải phóng đất nước 1975) đã đánh lùi nhiều đợt phản kích của địch trong chiến dịch mùa xuân Mậu Thân năm 1968 tại Huế. Thành quả này đã đánh dấu một mốc son cho sự hiệu quả trong việc sử dụng B40 ở mặt trận Trị Thiên Huế. Bên cạnh B40, các loại súng cối 60 ly, các- bin, khẩu đội DKZ cũng dần được sử dụng rộng rãi và được thiết kế ngày một phù hợp hơn với quân dân Việt Nam, chứng tỏ sức sáng tạo không ngừng trong những lúc nước sôi lửa bỏng của trí tuệ Việt.

Đốm lửa của bình minh

Đó chính là chiếc đèn pin của đồng chí Diệp Văn Phùng, một chiến sĩ cách mạng. Trong đêm 31/01/1968, khi quân ta tấn công vào Thành Nội Huế trong chiến dịch Tổng tấn công và nổi dậy năm Mậu Thân 1968, để làm tín hiệu mở cửa Thượng Tứ- một điểm chốt quan trọng trong chiến dịch, chiếc đèn pin “cồng kềnh” này đã góp công vào việc chỉ lối để giúp bộ đội ta đi đúng đường và tiết kiệm thời gian, làm nên chiến thắng thần tốc không cho giặc Mỹ kịp trở tay.

Chiếc đèn pin lịch sử năm xưaChiếc đèn pin lịch sử năm xưa

Chiếc đèn pin thô sơ bám bụi đất ấy lúc bấy giờ như ngọn hải đăng trên cạn xóa tan bóng tối, mở ra con đường đi của cách mạng: con đường của niềm tin vào ngày mai.

Lạc quan đi liền sáng tạo

Thành quả của những năm tháng hoạt động ở Hương Thủy của đồng chí Nguyễn Vạn, Ủy viên Khu ủy Trị Thiên Huế chính là một chiếc quạt. Chiếc quạt ấy, nhìn qua thì cũng rất bình thường nhưng thực ra, nó được làm từ vải quần áo của giặc Mỹ. Chất liệu vải rất tốt, khó thấm nước, qua bàn tay khéo léo của người Việt Nam mình đã trở thành chiếc quạt rất đẹp. Chiếc quạt màu xanh rằn ri được may bằng chỉ trắng, thêu hoa vàng ở giữa và dòng chữ nổi cách điệu “Kính Tặng Thu” màu đỏ. Đằng sau dòng chữ ấy chắc hẳn cũng là một chuyện tình đẹp…

Chiếc quạt là kỷ vật của sự sáng tạo và kiên nhẫn.Chiếc quạt là kỷ vật của sự sáng tạo và kiên nhẫn.

Nước mắt + máu = tình yêu

Khăn tang của mẹ Bếp, 72 tuổi ở xã Quảng Lộc, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên – Huế đã được kết tinh như thế. Trong những tháng ngày kháng chiến ác liệt, cũng như bao người mẹ Việt Nam khác, mẹ Bếp đã tiễn người con trai của mình ra mặt trận để rồi nhận về trên đầu một chiếc khăn tang. Không có nỗi đau nào hơn khi người đầu bạc tiễn kẻ đầu xanh, khi người con của mẹ đã vì hai tiếng thiêng liêng Tổ quốc mà hy sinh.

Chiếc khăn tang “gói” tình thương của mẹChiếc khăn tang “gói” tình thương của mẹ

Khi nhìn thấy một chiến sĩ quân giải phóng bị thương trong chiến dịch mùa xuân năm 1968, chính tay mẹ đã lấy chiếc khăn tang của mình băng vết thương của người chiến sĩ ấy để cầm máu. Một biểu tượng của tình yêu. Mẹ Bếp đã lấy nỗi đau của mình để đè lên nỗi đau của người chiến sĩ, lấy sự mất mát của mình khỏa lấp, cưu mang lấy một người con xa lạ nhưng cũng rất đỗi anh hùng. Chiếc khăn tang trở thành chiếc băng cứu thương, điều đó cũng đồng nghĩa rằng nước mắt không có chỗ trong chiến tranh mà chỉ có hành động.

“Huế là một trong những bài thơ hùng tráng chống Mỹ cứu nước. Trên ngực phía trái của bản đồ Tổ quốc, Huế nổi lên như một bông hoa đỏ thắm của chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Sông Hương nổi sóng, núi Ngự chuyển mình trong cuộc tiến công vùng dậy lịch sử”. 26 ngày đêm đẫm máu ở Huế là bản anh hùng ca bất tận, muôn đời.

Ngọc Bích – Đại Dương
dantri.com.vn

Mùa xuân, suy nghĩ về minh triết Hồ Chí Minh

Lời của Bác - Lời của non sông(NTO) Hồ Chí Minh là danh nhân văn hóa thế giới. Người đi xa, nhưng để lại cho dân tộc ta một kho tàng tư tưởng đồ sộ – tư tưởng Hồ Chí Minh. Gần đây, giới học thuật đã không dừng lại ở việc nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh mà đã xuất hiện những công trình nghiên cứu mới về “Minh triết Hồ Chí Minh”.

Minh triết, hiểu một cách chung nhất là sự sáng láng, mẫn tiệp, thông tuệ của trí tuệ mang tính cách phương Đông. Đó là những tư tưởng thuộc về nhân sinh, đạo lý, đi vào lối sống, là những đúc kết thành châm ngôn, gắn với đời sống, rất gần với thực tiễn và nó trở thành những chỉ dẫn về lối sống cho con người.

Trong cuộc đời hoạt động cách mạng sôi nổi của Bác, có thể kể ra hàng ngàn những câu chuyện về tấm gương đạo đức của Bác, mà đó có thể coi là những minh triết- minh triết Hồ Chí Minh.

Chuyện kể rằng tấm áo Bác mặc đã cũ, sờn. Các đồng chí giúp việc thương Bác quá, cứ năn nỉ đề nghị Bác thay bộ quần áo mới. Bác bảo không sao cả, Bác mặc được, cứ để Bác mặc, đỡ tốn kém. Mỗi đồng tiền, bát gạo mà chúng ta tiêu dùng đều là mồ hôi nước mắt của dân. Thương dân thì phải tiết kiệm. Lãng phí là không thương dân. Tham ô, ăn cắp của dân là có tội với dân, với cách mạng. Bác nói với các đồng chí phục vụ và ngay cả trong các phiên họp Trung ương là “Chủ tịch nước mà biết mặc áo vá là có phúc cho dân”. Đó chính là một tư tưởng minh triết. Trong điều kiện đất nước Việt Nam vừa giành được độc lập, vừa thoát khỏi trăm năm đô hộ của thực dân phong kiến, lại trải qua chín năm kháng chiến trường kỳ để bảo vệ nền độc lập, tự do vừa giành được, đời sống nhân dân còn gặp muôn vàn khó khăn, vất vả thì quan điểm, tư tưởng đó của Bác thật là thiết thực, gần gũi đời thường mà mấy người có được.

Khi bàn về chân lý, chúng ta đều hiểu một cách chung nhất chân lý là tri thức lý luận phục vụ cho việc nghiên cứu, tri thức phù hợp với khách quan. Nhưng Bác nói chân lý là cái gì tốt cho nhân dân, cái gì lợi cho nhân dân và cái gì đúng với nhân dân thì cái đó là chân lý. Đó cũng là một tư tưởng minh triết. Bác cũng nói là người có đạo đức thì tiếp thu chân lý dễ hơn. Như vậy, Bác đã soi vào chân lý từ góc độ đạo đức học. Luận điểm này của Bác rất sâu sắc, thâm thúy, tức là người có đạo đức thì dễ phục thiện hơn, dễ thừa nhận sự thật hơn, dễ thừa nhận đạo lý hơn. Và do vậy, trong khoa học có cả đạo đức. Đó là bệ đỡ tinh thần cho con người trong cuộc hành trình đi tìm chân lý.

Một chuyện nữa về Bác cũng rất đời thường. Có lần Bác mời một đồng chí Bí thư Tỉnh ủy đi tát nước với Bác. Ở khu vực đồng bằng Bắc Bộ, khi lấy nước vào các chân ruộng cao phải tát nước bằng gàu dai. Khi tát nước phải có hai người phối hợp nhịp nhàng mới tát nước được. Vào tát nước với Bác, đồng chí Bí thư Tỉnh ủy cứ lúng túng không tát được làm nước bắn tung tóe lên cả râu, lên cả áo Bác, vì cả đời có tát nước bao giờ đâu. Trong khi đó Bác tát nước thành thạo như một lão nông tri điền. Bác hỏi chú chưa tát nước bao giờ à? Đồng chí Bí thư Tỉnh ủy thưa với Bác là chưa ạ!. Bác bảo không sao cả, Bác sẽ huấn luyện cho chú biết tát nước. Sau đó Bác nói một câu là một minh triết: “Chú làm Bí thư một tỉnh nông nghiệp thì chú phải biết tát nước”. Tức là làm bí thư tỉnh ủy thì phải gắn với nhân dân, phải thấu hiểu cách nghĩ của nhân dân và sống trong cuộc sống của nhân dân thì mới lãnh đạo nhân dân được. Suy rộng ra, khi làm bất kể một công việc gì cũng cần phải sâu sát, phải thấu hiểu công việc mình làm thì mới có thể thành công. Làm người cán bộ trong bộ máy công quyền là nhằm phục vụ nhân dân, phục vụ xã hội thì cần phải hiểu nhân dân, hiểu xã hội. Trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ của người cán bộ thì người cán bộ cần phải hiểu chức trách, nhiệm vụ của mình, và thực hiện chức trách, nhiệm vụ đó phải phù hợp với điều kiện cuộc sống, tránh quan liêu bàn giấy, tránh lý luận suông mù quáng.

Chính những quan điểm, tư tưởng của Bác rất đời thường, rất dung dị và hòa với cách nghĩ, lối sống của nhân dân nhưng lại bao hàm những tư tưởng nhân sinh rộng lớn, là những tư tưởng minh triết nên ai cũng có thể hiểu Bác, ai cũng có thể học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Bác được, miễn là người đó có tâm, miễn là người đó quyết tâm học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Bác để cho “…đời ta trong sáng hơn”.

Thiết nghĩ, mỗi cán bộ, đảng viên thường xuyên học tập, rèn luyện và mỗi tổ chức cơ sở Đảng, mỗi cơ quan, đơn vị phải tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh do Đảng ta phát động, tạo thêm động lực mạnh mẽ, có sức lan tỏa rộng lớn, góp phần quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” ở nước ta trong điều kiện hiện nay.

Trương Tiến Hưng
Phó Giám đốc Sở Tư pháp
laodong.com.vn

Thiên nhiên và mùa xuân trong thơ văn của Bác

Không chỉ trong các tác phẩm văn chương nghệ thuật và những trước tác Người để lại, mà trong toàn bộ cuộc đời hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, thiên nhiên và mùa xuân đất nước luôn gắn bó mật thiết, rất gần gũi, thân quen và là đối tượng khơi nguồn cảm hứng, góp phần tạo nên sự phong phú đa dạng trong tư tưởng và tình cảm của Người.

Thiên nhiên và mùa xuân đất nước qua thơ văn của Bác

Tách mình ra khỏi tự nhiên nguyên khởi là một nỗ lực và là bước ngoặt vĩ đại nhất trong lịch sử phát triển của loài người, kể từ khi con người biết chế tác ra công cụ lao động và sử dụng ngôn ngữ như một phương tiện giao tiếp rất hữu hiệu. Điều này đã được F. Engel nói rất rõ trong tác phẩm nổi tiếng: “Biện chứng của tự nhiên”. Thế nhưng, chủ động hoà đồng trở lại với tự nhiên như một phẩm chất mang tính nhân văn sâu sắc lại chỉ có ở một số người với tư cách là nhà sáng lập ra các học thuyết tư tưởng, các nghệ sỹ lớn mà tác phẩm của họ có ảnh hưởng sâu rộng đến tiến trình phát triển của nhân loại. Trong tư tưởng và tình cảm của Chủ tịch Hồ Chí Minh dường như có cả hai phẩm chất đó: Nhà tư tưởng và nhà nghệ sỹ.

Có thể nói thiên nhiên dưới con mắt của Bác rất sống động, phong phú và đa dạng. Nó không chỉ là đối tượng để khai thác, miêu tả, là tác nhân nâng đà cho xúc cảm thẩm mỹ bay cao và vươn xa đối với quá trình sáng tạo thi ca, hơn thế nữa, nó còn tạo nên những giá trị thẩm mỹ tự nhiên cho tác phẩm nghệ thuật, tạo nên cốt cách của một thi sỹ- nhà hiền triết phương Đông Hồ Chí Minh rất độc đáo. Chính vì thế, thiên nhiên và mùa xuân đất nước trong tình cảm của Bác không còn là “Cái Tự nhiên tự nó” mà đã trở thành “Cái Tự nhiên cho ta” (ý của Hegel).

Ngay từ những ngày ở trong lao tù của Tưởng Giới Thạch, thiên nhiên đã ùa vào tình cảm của Bác hay là chính Người đã tìm đến với thiên nhiên. Có lẽ là cả hai:

Trong tù không rượu cũng không hoa
Cảnh đẹp đêm nay, khó hững hờ
Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ
Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ

(Ngắm trăng)

Hay là:

Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ
Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không.
Cô em xóm núi xay ngôi tối
Xay hết, lò than đã rực hồng

(Chiều tối)

Hoặc:

Núi ấp ôm mây, mây ấp núi
Lòng sông gương sáng, bụi không mờ
Bồi hồi dạo bước Tây phong lĩnh
Trông lại trời Nam, nhớ bạn xưa

(Mới ra tù tập leo núi)

Trở về nước sau một thời gian bôn ba ở hải ngoại, hình bóng quê hương, đất nước thân yêu như càng trở nên thiêng liêng hơn bao giờ hết đối với Bác. Người đã ôm hôn nắm đất quê hương khi mới đặt chân lên mảnh đất Cao Bằng, nơi địa đầu của Tổ quốc. Và trong thời gian lãnh đạo cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của dân tộc, mặc dù bận trăm công nghìn việc, nhưng xúc cảm về thiên nhiên và mùa xuân đất nước vẫn không hề vơi cạn trong tâm tưởng của Người:

Rằm xuân lồng lộng trăng soi.
Sông xuân nước lẫn màu trời thêm xuân.
Giữa dòng bàn bạc việc quân.
Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền.

(Rằm tháng giêng)

Tố Hữu trong một lần tháp tùng Bác Hồ về thăm Pác Bó (năm 1961) (ảnh vnca.com.vn)

Và qua những việc làm cụ thể

Tuy nhiên, tình yêu thiên nhiên, đất nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ thể hiện ở trong các tác phẩm thơ ca, như là những sáng tạo nghệ thuật mang đậm dấu ấn cá nhân, mà nó còn được thể hiện trong toàn bộ cuộc đời hoạt động cách mạng của Người. Vì thế chúng ta có thể thấy những nơi Bác chọn làm chỗ ở và làm việc đều là những địa danh vừa đảm bảo sự bí mật thiết yếu về mặt an ninh, quốc phòng, vừa gần gũi với thiên nhiên, đất nước. Những địa danh đó chính là suối Lê Nin, núi Các Mác ở Pắc Bó, Cao Bằng, lán Nà Lừa ở Tân Trào, Tuyên Quang, khu Đá Chông ở Ba Vì, Hà Tây (cũ) và ngôi nhà sàn xung quanh có vườn cây, ao cá ở giữa thủ đô Hà Nội.

Tình yêu thiên nhiên, đất nước ở Bác đã vượt lên trên việc ngắm cảnh hay ngâm vịnh, mà quan trọng hơn là tình yêu ấy đã được thể hiện thành những việc làm rất cụ thể, thiết thực trong việc bảo vệ, giữ gìn tài sản vô giá của quốc gia, dân tộc.

Sau khi hoà bình được lập lại ở miền Bắc, trong dịp nói chuyện với Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Nghệ An, ngày 8/12/1961, Bác đã nói: “Trồng cây gây rừng là rất quan trọng. Bây giờ dân chưa thấy đâu. Có khi các chú cũng chưa thấy”. Có lần Bác đã giải thích một cách giản dị về tầm quan trọng của việc trồng cây gây rừng: “Nếu rừng cạn kiệt thì không còn gỗ và mất nguồn nước thì ruộng nương mất mầu, gây ra lụt lội và hạn hán… Nếu cứ để tình trạng đồng bào phá một ít, nông trường phá một ít, công nhân  phá một ít, thậm chí đoàn thăm dò địa chất cũng phá một ít thì rất tai hại… Phá rừng thì dễ, nhưng gây lại rừng phải mất hàng chục năm. Phá rừng nhiều như vậy sẽ ảnh hưởng đến khí hậu, ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống”. Và Người xem việc phá rừng không có kế hoạch là hành vi “đem vàng đổ xuống biển”.

Trước tình trạng phá rừng thiếu ý thức của một số người dân và một bộ phận cán bộ, Bác thấy cần phải phát động một phong trào Trồng cây gây rừng vào mùa xuân. Và phong trào do Bác khởi xướng trên khắp đất nước cho đến hôm nay và chắc là mãi về sau vẫn được toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta duy trì, phát triển thành một phong trào rộng khắp trong mọi tầng lớp xã hội. Mỗi khi tết đến, xuân về, hẳn nhiều người trong chúng ta còn nhớ mãi hai câu thơ của Người về Tết trồng cây:

Mùa xuân là tết trồng cây
Làm cho đất nước càng ngày càng xuân.

Có lẽ cho đến nay, ít có một lãnh tụ, một nguyên thủ quốc gia nào như Chủ tịch Hồ Chí Minh có hành động độc đáo đến như vậy.

Trước khi đi xa, trong Di chúc, Bác có bày tỏ nguyện vọng của mình mong muốn rằng sau khi qua đời thi hài được hoả táng và an táng trên một ngọn đồi nào đó gần núi Tam Đảo hay Ba Vì. Người còn nhắc nhở Đảng và Nhà nước “nên có kế hoạch trồng cây trên và xung quanh đồi. Ai đến thăm cũng trồng thêm một cây làm kỷ niệm. Lâu ngày, cây nhiều thành rừng sẽ tốt cho phong cảnh và lợi cho nông nghiệp”.

Như vậy có thể thấy cảnh vật thiên nhiên và hình bóng mùa xuân đất nước luôn có mặt trong đời sống tinh thần của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chính thiên nhiên đã khơi nguồn cho nhiều tác phẩm thơ ca nổi tiếng và góp phần nâng vị thế danh nhân văn hoá thế giới của Người lên một tầm cao mới. Nhưng điều cần thiết phải nhấn mạnh ở đây là từ cổ chí kim, từ Đông sang Tây những kiệt tác văn chư­ơng về thiên nhiên và đất nước th­ường là sản phẩm vô giá của những nhà văn, nhà thơ lỗi lạc và đồng thời cũng là những ngư­ời có tư tư­ởng, tình cảm xuất chúng như­ Trương Kế, Thôi Hiệu, Đỗ Phủ, Lý Bạch, Chu Mạnh Trinh, Nguyễn Du, Nguyễn Trãi, Tagor, Puskin…

Còn đối với Bác những tư tưởng, tình cảm về thiên nhiên và mùa xuân đất nước không chỉ dừng lại ở những điều chỉ giáo trong các văn bản hay tác phẩm nghệ thuật, mà hơn thế nó đã trở thành những hành động sống trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của Người. Sinh thời Bác đã từng cùng các vị lãnh đạo Đảng, Nhà nước, bà con nông dân và các cháu thiếu nhi tham gia Tết trồng cây ở một số địa phương miền Bắc như Hà Nội, Hà Tây (cũ)… mỗi khi xuân về và hàng ngày Bác vẫn thường cho cá ăn và chăm sóc vườn cây quanh khu nhà ở Phủ Chủ tịch.

Những hành động ấy, ngoài ý nghĩa giáo dục, còn ẩn chứa bên trong Bác là một người yêu thiên nhiên và đất nước đến khôn cùng. Thiên nhiên và đất nước trong đời sống tinh thần của Bác không đơn giản chỉ là một thái độ ứng xử tích cực của con người đối với cuộc sống xung quanh, hơn thế sự quan tâm, bảo vệ và hoà đồng với thiên nhiên và đất nước đã trở thành một phần máu thịt, gắn quện với nhân sinh quan và thế giới quan của một chiến sỹ cộng sản lỗi lạc, thể hiện tầm độ nhận thức cực kỳ sâu sắc của Bác đối với thế giới tự nhiên và vai trò chủ động, tích cực của con người trong tiến trình biến “Cái Tự nhiên tự nó” thành “Cái Tự nhiên cho ta”. Đấy vừa là một tình cảm cao quí, vừa là một bài học lịch sử vô giá mà trước lúc đi xa Người muốn để lại cho con cháu mai sau.

Đỗ Ngọc Yên
chinhphu.vn

Bác Hồ và mùa xuân thành lập Đảng

Người là niềm tin tất thắngNguyên Tổng bí thư Lê Khả Phiêu từng nói: “Hằng năm chúng ta kỷ niệm ngày thành lập Đảng trùng với mỗi độ xuân về. Mùa xuân tiếp thêm sức sống cho con người và cảnh vật. Mùa xuân cũng là dịp để chúng ta ôn lại những chặng đường lịch sử vinh quang của Đảng, của dân tộc, cảm thấy lớn lên và vững vàng thêm bởi sức mạnh cội nguồn”. Mùa xuân năm nay, Đảng ta bước sang tuổi 81, nhân dịp này, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta lại có dịp ôn lại chặng đường lịch sử vẻ vảng của Đảng và cách mạng Việt Nam.

Tháng 12 năm 1927, đồng chí Nguyễn Ái Quốc từ Liên Xô đi Brúc-xen dự khóa họp của Đại hội đồng Liên đoàn chống đế quốc. Đây là tổ chức chống đế quốc rộng rãi đầu tiên trong mặt trận thống nhất giữa giai cấp công nhân thế giới và trí thức tiến bộ thế giới. Sau khóa họp, đồng chí Nguyễn Ái Quốc đi Pháp, rồi sang Đức, qua Thụy Sỹ, Italia, rồi Người đáp tàu Nhật Bản về Xiêm (Thái Lan), ở đây, Người vận động cách mạng trong bà con Việt Kiều và lập nên Hội Thân ái.

Một hôm nhận được liên lạc từ Hồng Kông chuyển đến, báo tin: phong trào cách mạng ở trong nước đang có những chuyển biến tốt. Cần có một đảng cộng sản thống nhất, có đường lối chính trị đúng để lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Từ một vùng quê ở Thái Lan, Bác Hồ của chúng ta đáp xe lửa đi Băng Cốc, rồi từ Băng Cốc đi tàu thủy đến Singapo. Tại đây Người xuống tàu đi Hồng Kông.

Đến nơi, các đồng chí Hồ Tùng Mậu và Lê Hồng Sơn ra tận cảng biển, bí mật đón Bác. Hai người đưa Bác về chỗ nghỉ và chuyển cho Bác bức thư của Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản. Trong thư có đoạn viết: “Việc không có một đảng cộng sản thống nhất trong lúc phong trào quần chúng công nông lên cao là một nguy cơ lớn cho cách mạng ở Đông Dương sau này… Nhiệm vụ quan trọng và vô cùng cấp bách đối với tất cả những người cộng sản Đông Dương này là thành lập một đảng cách mạng của giai cấp vô sản”.

Sau đó mọi người cùng bắt tay chuẩn bị cho hội nghị hợp nhất. Bác tìm gặp và liên lạc với các đồng chí cũ, quen biết trong Đảng Cộng sản Trung Quốc, để tạo điều kiện an toàn cho hội nghị. Cuộc họp quyết định tiến hành trong dịp tết. Vì ngày tết theo truyền thống phương Đông, mọi người đi lại rất đông, các đại biểu dự họp có thể đi khỏi đất nước dễ dàng hơn. Và ở Cửu Long, một cuộc họp như vậy cũng đảm bảo an toàn hơn.

Hội nghị bắt đầu làm việc từ ngày mồng 3 tháng 2 năm 1930. Phiên họp đầu tiên được khai mạc trong một căn buồng khách sạn loại hai, nơi phần lớn các đại biểu đang ở trọ. Trên bàn để sẵn một bộ súc sắc, để nếu có ai nghi ngờ, thì tưởng đấy là nơi tụ tập của những người ham mê cờ bạc trong dịp Tết.

Nhờ uy tín và sự phân tích của Bác, tất cả những vấn đề đã được giải quyết. Các đại biểu đã nhất trí thông qua nghị quyết về việc hợp nhất các tổ chức cộng sản trong cả nước thành một đảng cộng sản thống nhất lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam. Hội nghị đã thông qua chính cương vắn tắt và sách lược vắn tắt của Đảng do đồng chí Nguyễn Ái Quốc soạn thảo và sau đó bầu ra Ban Chấp hành Trung ương lâm thời để lãnh đạo cách mạng Việt Nam.

Để phòng xa, có ngày cuộc họp lại được chuyển đến một khán đài sân vận động ở Cửu Long, nhân một trận bóng đá. Chiều ngày cuối cùng của hội nghị, Bác tổ chức một bữa liên hoan nhỏ ngay tại phòng ở của mình. Vẫn 7 đồng chí: Hai đại biểu của Đông Dương Cộng sản Đảng, hai đại biểu của An Nam Cộng sản Đảng, các đồng chí Lê Hồng Sơn và Hồ Tùng Mậu thay mặt cho tổ chức Đảng ở nước ngoài và Bác – Nguyễn Ái Quốc đại diện cho Quốc tế Cộng sản.

Khi các đại biểu đã ngồi chung quanh bàn, Bác xúc động nói: “Các đồng chí, hôm nay ngày lịch sử của chúng ta! Lê – nin vĩ đại đã nói, chỉ có Đảng nào có được một lý luận tiên phong, mới có khả năng làm tròn vai trò chiến sỹ tiên phong. Bây giờ chúng ta đã có một Đảng như thế rồi. Nhân dân ta từ xưa đã có truyền thống đấu tranh anh dũng, nhưng suốt năm ấy, nhân dân ta thiếu người cầm lái sáng suốt. Giờ đây, Đảng của chúng ta phải gánh lấy vai trò này và tôi tin rằng Đảng ta sẽ dẫn dắt nhân dân ta đi đến thắng lợi trong cuộc đấu tranh giành độc lập và tự do cho Tổ quốc thân yêu”.

Trong giờ phút trọng đại của ngày thành lập Đảng ấy và trong câu nói ngắn ngủi ấy, Bác đã ba lần nhắc đến “nhân dân ta”. Mục đích của Đảng cũng là vì dân! Sức mạnh của Đảng cũng là từ dân! Có thể nói hình ảnh đẹp đẽ nhất trong tâm trí của Người, chính là nhân dân, là Tổ quốc!

Trong niềm vui của mùa xuân này, chúng ta càng nhớ đến Bác – Người sáng lập Đảng ta, lãnh tụ vĩ đại của nhân dân ta, nhưng cũng là người Bác thân thiết, gần gũi trong mỗi trái tim Việt Nam! Đúng như một người bạn nước ngoài đến thăm Việt Nam đã nói: “ở đất nước này đi đến đâu ta cũng cảm thấy sự hiện diện của tinh thần Hồ Chí Minh!”.

Bác vẫn ở cùng chúng ta, trong sắc xuân tràn đầy hy vọng!

Hồng Nguyên (ST)
thanhtravietnam.vn