Tag Archive | Văn hóa – Xã hội

Ngày 21 tháng 4: “Ngày vẻ vang sẽ không xa nữa”

Thứ ba, 21/04/2009, 00:55 (GMT+7)

Việt Nam - Hồ Chí MinhCách đây 67 năm, ngày 21-4-1942, Báo “Việt Nam Độc lập” xuất bản tại chiến khu Cao Bằng đăng bài thơ “Hòn đá” ký tên Nguyễn Ái Quốc. Với thể thơ 3 chữ, bài thơ dễ nhớ để phổ biến cho đồng bào bài học về đoàn kết làm nên sức mạnh, trong đó có đoạn: “Đánh Nhật, Pháp/Giành tự do/Là việc khó/Là việc to/Nếu chúng ta/Biết đồng lòng/Thì việc đó/Quyết thành công”. 

Trong tháng 4-1948, trên số báo ra mắt “Quân Sự Tập san”, đăng thư của Bác với lời căn dặn: “Nghiên cứu mà không thực hành là nghiên cứu suông. Thực hành mà không nghiên cứu thì thường hay bị mù quáng. Vậy cần phải nghiên cứu kinh nghiệm cũ để giúp cho thực hành mới, lại đem thực hành mới để phát triển kinh nghiệm cũ, làm cho nó đầy đủ, dồi dào thêm… Muốn trở nên người quân nhân mới, xứng đáng với cái vinh hạnh đứng trong quân đội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, thì mỗi chiến sĩ, từ trên đến dưới, các cấp bậc đều phải nghiên cứu, học tập, luôn luôn cầu tiến bộ. Còn những người viết thì càng phải viết một cách phổ thông, dễ hiểu, giản đơn mà rõ ràng”.

Ngày 21-4-1949, Báo Cứu Quốc đăng thư của Bác gửi Nhà in Vui Sống kèm theo một cuốn lịch, với nội dung: “Lịch này là thắng lợi phẩm của anh em du kích thủ đô biếu tôi. Tôi gửi tặng anh em. Giải thưởng này rất có ý nghĩa: mỗi ngày anh em nhớ đến chiến sĩ đang xung phong giết giặc trước mặt trận. Mỗi ngày anh em phải tiến bộ, phải tranh cho được một thắng lợi để góp vào thắng lợi chung của kháng chiến và kiến quốc”.

Trên số ra mắt của “Quân Nhân Học báo” đăng bức thư của Bác ký vào tháng 4-1949 với nội dung: “Quân nhân phải biết võ, phải biết văn. Võ là như tay phải, văn là như tay trái của quân nhân. Biết võ, biết văn mới là quân nhân hoàn toàn. Muốn biết thì phải thi đua học. Học không bao giờ cùng. Học mãi để tiến bộ mãi. Càng tiến bộ, càng thấy càng phải học thêm”.

Cũng vào thời điểm tháng 4-1949, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư tới “Đồng bào vùng Hà Nội” (lúc này địch đã tạm chiếm), biểu dương: “Đồng bào trong và ngoài Hà Nội đương đầu với giặc Pháp trước hết, lâu hơn hết. Vì vậy mà hy sinh, đau đớn, cực khổ nhiều hơn hết. Mà cũng trung thành, gan góc, kiên quyết hơn hết. Đồng bào vùng Hà Nội đang nêu gương dũng cảm cho toàn quốc. Ngày nay chịu đựng càng nhiều, mai sau kết quả càng to… Tôi và Chính phủ cùng toàn thể bộ đội, toàn thể đồng bào luôn luôn nhớ đến anh em ruột thịt đang tranh đấu hết sức gay go ở vùng Hà Nội… Tôi khuyên đồng bào vùng Hà Nội, trước đã cố gắng, nay cố gắng thêm; trước đã đoàn kết, nay đoàn kết hơn; tìm đủ mọi cách để phá hoại giặc, để giúp chiến sĩ ta. Chúng ta chắc thắng, vì chúng ta quyết thắng. Tôi viết thư này với tất cả tấm lòng thương xót, yêu mến và chắc chắn. Đồng bào cố tiến lên. Ngày vẻ vang sẽ không xa nữa”.

D.T.Q. và nhóm cộng sự
sggp.org.vn

Ngày 20 tháng 4: “Phải coi người bệnh như ruột thịt”

Thứ hai, 20/04/2009, 02:00 (GMT+7)

Việt Nam - Hồ Chí MinhCách đây 78 năm, ngày 20-4-1931, trong thư gửi Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương, Đồng chí Nguyễn Ái Quốc phê bình cuộc Hội nghị Xứ ủy Trung và Bắc kỳ về “cách khai hội”, “cách thảo luận”, “vấn đề tên Đảng” và xác định “lực lượng của Đảng”.

Nguyễn Ái Quốc đề nghị phải sửa chữa những thiếu sót, phải có chương trình hành động cụ thể cho từng huyện, từng tỉnh, cho mỗi đảng viên, với yêu cầu: “Tất cả mọi đảng viên và tất cả chi bộ phải thảo luận chỉ thị của Quốc tế Cộng sản và nghị quyết Trung ương”.

Ngày 20-4-1939, từ Quảng Tây (Trung Quốc), Nguyễn Ái Quốc viết thư (ký bút danh là “Lin”) gửi Ban Phương Đông Quốc tế Cộng sản ở Mátxcơva, trong đó đưa ra những đánh giá về tình hình ở Việt Nam: “Sự đàn áp xảy ra ở khắp nơi, đặc biệt là ở Trung kỳ, chống những phần tử cánh tả, những công nhân, nông dân hoạt động… Tôi có cảm tưởng rằng phong trào của mặt trận thống nhất ở xứ này không mạnh lắm. Trái lại, những phần tử cánh tả hoạt động khá mạnh…”.

Ngày 20-4-1948, trong thư gửi Hội nghị Tổng bộ Việt Minh, người sáng lập ra tổ chức chính trị này đã phân tích những nguyên nhân thành công là: “Đến khi Cách mạng Tháng Tám thành công, cướp được chính quyền, Việt Minh định tổ chức một chính phủ rộng rãi gồm tất cả các nhân tài trong nước để gánh vác việc quốc gia. Lúc đó có người nghĩ rằng các nhân sĩ có danh vọng chưa chắc vui lòng hợp tác với Việt Minh. Song vì Việt Minh đặt quyền lợi Tổ quốc và dân tộc lên trên hết và lấy lòng chí công vô tư mà làm việc, cho nên các bậc có tài đức danh vọng đều vui lòng hợp tác trong Chính phủ”. Bức thư còn đề cập tới những khuyết điểm do phát triển quá nhanh mà không kịp quan tâm huấn luyện cán bộ dẫn đến việc một số cán bộ thoái hóa làm sai chính sách.

Ngày 20-4-1949, Báo Cứu Quốc đăng nội dung trả lời phỏng vấn Báo “La Tribune” (Diễn đàn) của Bác. Giải thích câu hỏi “Thi đua ái quốc là gì”, Bác trả lời: “Đặc điểm của thi đua ái quốc là đưa tất cả tinh thần và lực lượng của quân và dân Việt Nam để thực hiện ba mục đích: diệt giặc đói, diệt giặc dốt và diệt giặc ngoại xâm”.

Bác cũng bày tỏ “chúng tôi hoan nghênh những đại biểu báo ngoại quốc mà ngôn luận công bằng đến vùng tự do”. Trả lời câu hỏi về thái độ với nước Pháp khi Việt Nam hoàn toàn độc lập, Bác xác nhận: “Việt Nam sẵn sàng cộng tác thân thiện với nhân dân Pháp. Những người Pháp tư bản hay công nhân, thương gia hay trí thức, nếu họ muốn thật thà cộng tác với Việt Nam thì sẽ được nhân dân Việt Nam hoan nghênh họ như anh em bầu bạn”.

Ngày 20-4-1963, Bác về thăm Bệnh xá Vân Đình, ở huyện Ứng Hòa (khi đó thuộc tỉnh Hà Đông) và căn dặn: “Trong công tác phục vụ, cần coi trọng cả hai mặt vật chất và tinh thần. Có thuốc hay, thức ăn ngon, còn cần phải có thái độ phục vụ tốt, coi người bệnh như ruột thịt. Cần đặc biệt chú ý việc phòng bệnh”.

D.T.Q. và nhóm cộng sự
sggp.org.vn

Ngày 19 tháng 4: “Vì nước quên nhà, vì công quên tư”

Chủ nhật, 19/04/2009, 01:01 (GMT+7)

Việt Nam - Hồ Chí Minh

Cách đây 63 năm, ngày 19-4-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự họp Hội đồng Chính phủ bàn về Dự án ngân sách lương thực của quân đội, vấn đề lập Nha Dân tộc thiểu số và vấn đề tài chính.

Cùng ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư tới Đại hội các dân tộc thiểu số miền Nam tổ chức tại Pleiku. Thư có đoạn viết: “Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Giá Rai hay Êđê, Xêđăng hay Ba Na và các dân tộc thiểu số khác, đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt. Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau, no đói giúp nhau… Chúng ta phải thương yêu nhau, phải giúp đỡ nhau để mưu hạnh phúc chung của chúng ta và con cháu chúng ta. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, nhưng lòng đoàn kết của chúng ta không bao giờ giảm bớt. Chúng ta quyết góp chung lực lượng lại để giữ vững quyền tự do, độc lập của chúng ta”.

Tháng 4-1949, trong bức thư ký là “Cháu: Hồ Chí Minh” gửi cho cậu (Hoàng Phan Kính) và dượng (Trần Lê Hữu), Bác bày tỏ một nỗi niềm: “Tôi chưa về thăm quê hương được, không phải vì vô tình với quê hương, nhưng vì lẽ này, trong lúc giặc Pháp đang giày xéo trên đất nước ta thì phận sự của mọi người Việt Nam là “vì nước quên nhà, vì công quên tư”. Là một người đầy tớ trung thành của đồng bào tôi càng phải như thế…”.

Phân tích những khiếm khuyết của chế độ, thư viết: “Nhân dân ta vừa đánh đổ chế độ phong kiến mấy nghìn năm, phá tan xiềng xích nô lệ gần một thế kỷ để xây dựng một nước Việt Nam mới. Trong lúc lật đổ những tường vách cũ kỹ và đang xây đắp ngôi lâu đài mới thì chắc chắn không khỏi có những mụn bào, gạch bể và những thứ ghét rác khác. Chúng ta sẽ quét sạch dần dần. Trong lúc kháng chiến kiến quốc, nhân dân ta có những thành công to lớn vẻ vang, nhưng cũng không khỏi có nhiều khuyết điểm. Chúng ta sửa chữa những khuyết điểm ấy dần dần. Chúng ta nhất định sửa chữa được vì chúng ta quyết tâm sửa chữa. Bổn phận của tôi, Chính phủ cùng cơ quan, đoàn thể địa phương, mà cũng là bổn phận của mỗi người dân là làm những việc có ích cho đồng bào, cho Tổ quốc… Tôi mong cậu, dượng cùng các vị đôn đốc đồng bào địa phương xung phong thi đua ái quốc, làm cho Nam Đàn thành một huyện kiểu mẫu, Nghệ An thành một tỉnh kiểu mẫu trong mọi công việc kháng chiến và kiến quốc”.

Ngày 19-4-1959, dự Hội nghị 16 Trung ương khóa II bàn về hợp tác hóa nông nghiệp, Bác đặc biệt lưu ý, mỗi xã phải quan tâm xây dựng nghĩa trang liệt sĩ để làm tốt chính sách và giáo dục truyền thống.

Ngày 19-4-1966, tại Hội nghị Bộ Chính trị thảo luận về tình hình đấu tranh chính trị ở miền Nam, Bác đề nghị phải chỉ đạo sát sao phong trào đấu tranh của học sinh sinh viên, phải duy trì lâu dài phong trào quần chúng, với mỗi tầng lớp nhân dân phải có khẩu hiệu đấu tranh cụ thể, phải dựa vào chiến thắng quân sự để phát huy uy thế chính trị, đẩy mạnh binh vận với cả lính Mỹ và tay sai.

D.T.Q và nhóm cộng sự
sggp.org.vn

Ngày 18 tháng 4 – “5 điểm chủ yếu của chủ nghĩa anh hùng cách mạng”

Thứ bảy, 18/04/2009, 03:03 (GMT+7)

Việt Nam - Hồ Chí MinhCách đây 88 năm, ngày 18-4-1921, báo cáo của mật thám Pháp cho biết, Nguyễn Ái Quốc cùng một số đồng bào người Việt Nam đã đến dự cuộc họp của Liên hiệp Công đoàn quận Seine.

Ngày 18-4-1928, Tập san Inprekorr của Quốc tế Cộng sản, trên các bản in bằng tiếng Pháp, Anh và Đức đăng bài viết “Nông dân Ấn Độ” của Nguyễn Ái Quốc (ký bút danh “Wang”), lúc này đang hoạt động tại Trung Quốc.

Bài báo khảo sát lực lượng nông dân của một quốc gia đông dân và là thuộc địa của thực dân Anh nên làng quê bị tàn phá, hàng triệu nông dân bị chết đói và bị đẩy ra các thành phố, trở thành tầng lớp “vô sản áo rách”.

Với cái nhìn của một nhà cách mạng, tác giả vẫn tin tưởng: “Tuy không có tổ chức hoặc tổ chức còn lỏng lẻo, người nông dân bị sự nghèo khổ thúc bách thường nổi dậy chống kẻ bóc lột”.

Tháng 4-1930, từ Hồng Công, sau khi hoàn thành sứ mệnh hợp nhất các tổ chức cách mạng trong nước để thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc qua Xiêm (Thái Lan) để đẩy mạnh cuộc vận động trong cộng đồng Việt kiều tại vùng Đông Bắc nước này.

Một thập kỷ sau, vào tháng 4-1940, Nguyễn Ái Quốc lại có mặt tại Xiêm. Với bí danh “ông Trần”, Bác đã tham gia lễ cầu hồn cho 20 Việt kiều bị bom Nhật giết hại ở Bích Sắc Trại.

Tại buổi lễ, Nguyễn Ái Quốc đã đọc bài sớ: “Nam mô Phật tổ Như Lai/ Chúng sinh nheo nhóc dưới trời Tây phương/ Trăm tầng áp bức thảm thương/ Thân gầy như củi, xác nhường thây ma…/ Thù nhà nợ nước đôi đường/ Đã vì người chết càng thương giống nòi/ Đừng tin vào số mệnh trời/ Mà do quân Nhật giết người gây nên/ Hồn ơi hồn có linh thiêng/ Hãy cùng người sống báo đền nước non/ Người còn khóc thì nước phải còn”.

Ngày 18-4-1958, tại Quốc hội khóa I, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Ban sửa đổi Hiến pháp báo cáo trước toàn thể đại biểu quá trình xây dựng “Hiến pháp sửa đổi” và hứa “sẽ tiếp tục cố gắng hoàn thành đầy đủ nhiệm vụ quan trọng mà Quốc hội đã trao cho và làm cho nước ta có một bản Hiến pháp xứng đáng với những thắng lợi và những tiến bộ vẻ vang của nhân dân ta”.

Tháng 4-1966, Bác viết tài liệu “Nội dung chủ nghĩa anh hùng cách mạng” và khái quát thành 5 điểm chủ yếu: “1. Trung với nước, hiếu với dân, vì sự nghiệp chống Mỹ cứu nước, vì chủ nghĩa xã hội, luôn luôn nêu cao tinh thần chiến đấu hy sinh, lao động quên mình. 2. Chấp hành đầy đủ chính sách của Đảng và Nhà nước, hăng hái thi đua yêu nước, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong mọi tình huống. 3. Quyết tâm đi sâu vào khoa học kỹ thuật và nghiệp vụ, phát huy tinh thần sáng tạo, dám nghĩ dám làm, ra sức học tập và vận dụng tốt sáng kiến và kinh nghiệm tiên tiến, nâng cao năng suất lao động, hiệu quả chiến đấu. 4. Nêu cao ý thức làm chủ, ý thức tổ chức kỷ luật, đoàn kết đồng chí, đoàn kết nhân dân, thực hiện đường lối quần chúng. 5. Cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, khiêm tốn, giản dị, gương mẫu về mọi mặt”.

D.T.Q và nhóm cộng sự
sggp.org.vn

Ngày 17 tháng 4: “Anh hùng là những người thật cần kiệm liêm chính…”

Thứ sáu, 17/04/2009, 03:10 (GMT+7)

Việt Nam - Hồ Chí Minh

Cách đây 63 năm, ngày 17-4-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh họp Hội đồng Chính phủ, theo dõi chặt chẽ tình hình 600 quân Pháp, sau khi đụng độ với quân Tưởng, đã đổ bộ lên Hải Phòng và xâm nhập Hà Nội từ ngày 15-4 và việc lính Pháp đã gây ra những vụ khiêu khích ở Ga Hà Nội. Hội đồng còn bàn đến việc quản lý tình hình nấu rượu, đối phó với giấy bạc Đông Dương và ngoại giao với Pháp.

Ngày 17-4-1952, Báo Nhân Dân đăng bài “Ai là anh hùng?” của Bác (ký bút danh C.B). Thông qua câu chuyện trao đổi giữa một nhóm chiến sĩ về câu hỏi này, bài báo kết luận bằng lời giải thích của chính trị viên, cũng là của tác giả bài viết:“Người anh hùng là những người thật cần kiệm liêm chính, hết lòng hết sức phục vụ kháng chiến, phục vụ nhân dân, là những người đầy tớ thật trung thành của nhân dân, của giai cấp”.

Ngày 17-4-1953, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì phiên họp Hội đồng Chính phủ và trình bày về tình hình thế giới, tình hình trong nước từ cuối tháng 3 đến trung tuần tháng 4-1953. Bác đưa ra nhận định: “Với những thuận lợi và tiến bộ đó, năm nay chúng ta có thể có sự chuyển hướng khá mạnh về chính trị, quân sự và kinh tế”.

Ngày 17-4-1959, Bác đến thăm Đại hội Liên hoan Chiến sĩ thi đua và Lao động xuất sắc năm 1958 của thủ đô Hà Nội, sau đó tiếp tục dự phiên họp của Hội nghị Trung ương 16 diễn ra buổi tối, bàn về hợp tác hóa. Bác căn dặn, hợp tác hóa không tách rời khỏi việc củng cố đê điều, xây dựng trường học và vẫn theo đuổi ý tưởng về một phong trào trồng cây của toàn dân để làm nhà cho nông dân: “Nếu mỗi nhân khẩu trồng 5 cây, có làm được không? Bộ đội ở Hòn Gai mỗi người trồng 10 cây thông, lại phải trồng thêm xoan để 5 năm nữa có thể thay đổi nhà cho nhân dân. Các địa phương nên chú ý làm việc đó”.

Ngày 17-4-1962, Bác viết bài “Cần phải ra sức trồng nhiều hoa màu” (với bút danh T.L) đăng trên Báo Nhân Dân, để lưu ý tình trạng yếu kém và chậm của một số tỉnh ở miền Bắc. Bác yêu cầu các cấp ủy từ tỉnh đến xã phải cấp tốc đến tận nơi động viên, hướng dẫn đồng bào nông dân và các cơ quan, bộ đội trồng đủ và chăm bón tốt ngô, khoai, sắn, quyết tâm thu một vụ hoa màu thắng lợi.

Ngày 17-4 một năm sau đó (1963), Bác lại dự hội nghị kiểm điểm công tác chống hạn vụ đông – xuân tại tỉnh Hà Đông và tặng nhân dân địa phương bức trướng với lời biểu dương thành tích: “Hà Đông anh dũng tuyệt vời/ Vắt đất ra nước thay trời làm mưa”.

Ngày 17-4-1966, tại Trường bắn Hòa Lạc (Hà Tây), Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhiều cán bộ quân sự cao cấp thăm Tiểu đoàn 99 pháo phản lực A12 và Trung đoàn 84A pháo phản lực ĐKB diễn tập bắn đạn thật. Đây là một vũ khí hiện đại được lực lượng pháo binh Việt Nam cải tiến và sử dụng sáng tạo, mang lại hiệu quả rất cao trên chiến trường. Bác nhắc nhở các cấp chỉ huy phải ra mệnh lệnh ngắn gọn, chính xác và căn dặn: “Pháo tốt, đạn tốt còn phải có kỹ thuật tốt và tinh thần tốt nữa”.

D.T.Q và nhóm cộng sự
sggp.org.vn

Ngày 16 tháng 4: “Báo chí phải phục vụ nhân dân lao động”

Thứ năm, 16/04/2009, 01:25 (GMT+7)

Việt Nam - Hồ Chí MinhCách đây 94 năm, ngày 16-4-1915, Nguyễn Tất Thành từ Anh viết thư gửi Toàn quyền Đông Dương qua Lãnh sự Anh tại Sài Gòn, nhờ chuyển cho cha mình là cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc (hay Huy). Nhưng bức thư (ký tên là “Paul Thành”) đã không đến tay người nhận với lý do là chính quyền không tìm ra địa chỉ.

Ngày 16-4-1923, báo cáo của mật thám cho biết Nguyễn Ái Quốc nhận được giấy mời dự Đại hội thường kỳ lần thứ 7 Hội những người bạn phương Đông của Pháp tổ chức vào 14 giờ 30 ngày 22-4-1923 tại Bảo tàng Guimet (Musée de l’ Homme) ở Paris.

Ngày 16-4-1939, từ Quế Lâm, Nguyễn Ái Quốc viết bài “Thư từ Trung Quốc” đăng trên báo Notre Voix (Tiếng nói của chúng ta) phát hành tại Hà Nội. Bài báo viết về những tổn thất của quân phiệt Nhật Bản trước “mặt trận du kích” của nhân dân Trung Quốc. Những bài báo ký tên “PC.Lin” gửi về nước trong thời gian này cũng là cách Nguyễn Ái Quốc liên hệ với lực lượng của Đảng ở trong nước vào thời điểm thế giới đang có những biến chuyển quan trọng: đại chiến sắp bùng nổ.

Ngày 16-4-1946, tại Bắc Bộ phủ, Bác cùng Bộ trưởng Bộ Nội vụ Huỳnh Thúc Kháng tiễn Đoàn Quốc hội Việt Nam do đồng chí Phạm Văn Đồng dẫn đầu sang thăm Pháp với lời căn dặn: “Có ba việc cần làm là đoàn kết, cẩn thận, làm cho người Pháp hiểu ta để gây tình hữu nghị giữa hai dân tộc”. Còn với đoàn tham gia đàm phán với Pháp do Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Tường Tam làm trưởng đoàn, bay đi Đà Lạt, Bác nhắc nhở: “Cần đặt vấn đề Nam bộ và vấn đề đình chiến lên đầu chương trình nghị sự”.

Ngày 16-4-1953, báo Nhân Dân đăng bài “Lực lượng to lớn của quần chúng” của Bác (ký tên C.B), chỉ rõ: “Lực lượng quần chúng là vô cùng to lớn. Quần chúng đã tự giác, tự động thì việc gì to mấy, khó mấy cũng làm được”.

Ngày 16-4-1958, kết thúc bài diễn văn khai mạc kỳ họp thứ 8 của Quốc hội khóa I, Chủ tịch Hồ Chí Minh bày tỏ: “Tôi tin tưởng rằng trong khóa họp này, trên cơ sở phát huy dân chủ rộng rãi, Quốc hội tập hợp được những ý kiến dồi dào của đại biểu, của nhân dân, sẽ quyết định một cách sáng suốt các công việc quan hệ tới quốc kế dân sinh mà Chính phủ sẽ trình để Quốc hội xem xét”.

Ngày 16-4-1959, đến thăm Đại hội lần thứ II Hội Nhà báo Việt Nam, lấy tư cách “một người có nhiều duyên nợ với báo chí”, Bác có một bài phát biểu dài phân tích bản chất của báo chí cách mạng, những kinh nghiệm viết báo cũng như những căn bệnh thường thấy của người làm báo.

Bác nói: “Chúng ta hãy đặt câu hỏi: Báo chí phục vụ ai?… Báo chí của ta thì cần phải phục vụ nhân dân lao động, phải có tính chất quần chúng và tinh thần chiến đấu… Tất cả những bài Bác viết chỉ có một đề tài là: chống thực dân đế quốc, chống phong kiến địa chủ, tuyên truyền độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Duyên nợ của Bác đối với báo chí là như vậy đó. Kinh nghiệm của 40 năm là không sợ khó, có quyết tâm. Không biết thì cố gắng học, mà cố gắng học thì nhất định học được”.

D.T.Q và nhóm cộng sự
sggp.org.vn

Ngày 15 tháng 4: “Phải hoan nghênh quần chúng phê bình”

Thứ tư, 15/04/2009, 00:55 (GMT+7)

Việt Nam - Hồ Chí Minh

Cách đây 64 năm, ngày 15-4-1945, từ Côn Minh Trung Quốc, Bác Hồ chọn 20 chiến sĩ của Mặt trận Việt Minh hộ tống 2 nhân viên phụ trách điện đài của Cơ quan Tình báo chiến lược Mỹ OSS trở về chiến khu của Việt Nam để duy trì liên lạc với đại bản doanh Đồng Minh. Đó là F.Tan và Mc Shin, đều là người gốc Trung Hoa.

Ngày 15-4-1946, ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh bận rộn với một chiến dịch ngoại giao nhằm tranh thủ mọi cơ hội để bảo vệ nền độc lập dân tộc. Buổi sáng, Bác cùng Chính phủ tiếp đoàn Quốc hội sang Pháp do đồng chí Phạm Văn Đồng dẫn đầu, nghe báo cáo về đoàn của Cố vấn Vĩnh Thụy đi Trùng Khánh (Trung Quốc). Buổi chiều, Bác gặp đoàn đi Đà Lạt dự Hội nghị trù bị với Pháp do Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Tường Tam dẫn đầu. Bác nêu rõ mục tiêu: “Cần căn cứ vào Hiệp định Sơ bộ để đi đến cộng tác thực thà với Pháp”.

Ngày 15-4-1949, Báo Sự Thật đăng bài “Thuốc đắng dã tật, sự thật mất lòng” của Bác, trao đổi về một vũ khí quan trọng trong công tác xây dựng tổ chức cách mạng. Bác viết: “Một đoàn thể hoặc chính quyền mà che giấu khuyết điểm của cán bộ mình, là một đoàn thể hoặc chính quyền yếu ớt, thoái bộ. Đoàn thể và chính quyền có can đảm vạch rõ khuyết điểm của cán bộ mình, có phương pháp sửa chữa cho cán bộ, thì uy tín chẳng những không giảm bớt, mà lại thêm cao. Cán bộ nào không dám công khai thừa nhận khuyết điểm của mình, e sợ lời phê bình của đồng sự và của nhân dân, không có can đảm sửa chữa khuyết điểm thì những người đó không xứng đáng là cán bộ. Việc phê bình phải từ trên xuống và từ dưới lên. Cấp trên phê bình, chưa đủ. Đồng chí, đồng sự phê bình, chưa đủ. Phải hoan nghênh quần chúng phê bình nữa, thì sự phê bình mới hoàn toàn”.

Ngày 15-4-1950, với bài báo “Sinh viên Việt Nam tại Anh với Sắc lệnh Tổng động viên” đăng trên Báo Sự Thật, Bác Hồ đã biểu dương 14 lưu học sinh Việt Nam ở London đã đánh điện về nước, ngỏ ý sẵn sàng trở về quê hương nhập ngũ kháng chiến: “Dù xa xôi, tâm trí chúng tôi vẫn luôn luôn hướng về Tổ quốc và lúc nào cũng sẵn sàng thi hành những huấn lệnh của Chính phủ”.

Ngày này 51 năm trước (15-4-1958), ngôi nhà sàn trong Phủ Chủ tịch được khởi công. Khoảng một tháng sau, ngôi nhà hoàn thành và đúng vào ngày sinh của Bác năm đó, ngôi nhà sàn được đưa vào sử dụng. Đến nay, ngôi nhà đó trở thành một di tích lịch sử quý giá.

Ngày 15-4-1960, phát biểu tại buổi bế mạc kỳ họp cuối cùng của Quốc hội Khóa 1, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: “Quốc hội ta là quốc hội dân chủ đầu tiên ở vùng Đông Nam châu Á, cũng là quốc hội đầu tiên của các nước thuộc địa cũ được độc lập tự do”; trong 14 năm qua “Quốc hội ta đã hết lòng vì dân, vì nước, đã làm tròn một cách vẻ vang nhiệm vụ của những người đại biểu nhân dân”.

Ngày 15-4-1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Bộ Chính trị nghe Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp báo cáo về tình hình chiến trường miền Nam.

D.T.Q và nhóm cộng sự
sggp.org.vn

Ngày 14 tháng 4: “Phải làm cho thủ đô ngày càng sạch sẽ vui tươi”

Thứ ba, 14/04/2009, 02:48 (GMT+7)

Việt Nam - Hồ Chí MinhCách đây 89 năm, ngày 14-4-1920, báo cáo của mật thám Pháp cho biết Nguyễn Ái Quốc đã gặp gỡ Tổng thư ký Hội Liên minh Nhân quyền. Đây là tổ chức quan tâm đến các thuộc địa và bênh vực dân bản xứ trước những chính sách cai trị của chủ nghĩa thực dân.

Ngày 14-4-1924, Nguyễn Ái Quốc chính thức được nhận vào làm việc ngoài biên chế tại Ban Phương Đông của Quốc tế Cộng sản.

Ngày 14-4-1928, Nguyễn Ái Quốc viết bài “Phong trào công nhân ở Ấn Độ” (ký bút danh là Wang), gửi đăng trên tờ Inprekorr của Quốc tế Cộng sản, với nhận định:“Mặc dầu có tình trạng vô tổ chức của thợ thuyền và thái độ hèn nhát của những người theo chủ nghĩa cải lương, nhưng sự nghèo khổ làm cho vô sản Ấn Độ cấp tiến hơn”.

Ngày 14-4-1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục dự họp Hội đồng Chính phủ và trong ngày đã ký nhiều sắc lệnh quan trọng, trong đó có các sắc lệnh phát hành “Công phiếu kháng chiến” trong cả nước (sắc lệnh số 160); tặng thưởng những tấm Huân chương Quân công hạng nhất đầu tiên cho 3 đơn vị là Đội quân Giải phóng, Đội quân Du kích Bắc Sơn và Đội quân Khởi nghĩa Nam bộ (sắc lệnh 163); đổi tên Bộ Tổng chỉ huy Quân đội Quốc gia và Dân quân tự vệ thành Bộ Tổng chỉ huy Quân đội Quốc gia và Dân quân Việt Nam (sắc lệnh 165)…

Ngày 14-4-1961, bàn về chính sách thu mua lương thực trong một phiên họp của Bộ Chính trị, Bác nêu ý kiến: Các hợp tác xã nên đặt chế độ để thóc nghĩa thương, tức là phát huy một truyền thống vốn có trong nông thôn nước ta là gây quỹ thóc để tương trợ những đồng bào thiếu ăn, đói. Bác cũng lưu ý rằng trong thời điểm còn gặp khó khăn về lương thực hiện nay, việc định mức cho dân phải được nghiên cứu, đồng thời cũng đưa ra một nhận định là “thị trường tự do nên có”.

Ngày 14-4-1964, phát biểu với bà con cử tri Hà Nội, Bác bày tỏ rằng đã tham gia Quốc hội đến nay là 20 năm, nhưng cách mạng đòi hỏi nên còn phải phấn đấu chưa thể hưởng “vui thú thanh nhàn”, vì nguyện vọng tha thiết vẫn là được chứng kiến niềm vui: “Bắc Nam sum họp một nhà/ Cho người thấy mặt thì ta vui lòng”. Bác góp ý về công tác vệ sinh đô thị của thủ đô: “Chúng ta ngày nào cũng rửa mặt đánh răng, thì thành phố của chúng ta ngày nào cũng phải quét dọn tươm tất. Chúng ta phải làm cho thủ đô ngày càng sạch sẽ vui tươi”.

Ngày 14-4-1967, Bác lên đường sang Trung Quốc chữa bệnh. Một năm sau, ngày 14-4-1968, cũng từ nơi an dưỡng, Bác làm bài thơ “Mậu Thân xuân tiết”: “Tứ nguyệt bách hoa khai mãn viên/ Hồng hồng, tử tử hỗ tranh nghiên/ Bạch điếu tróc ngư hồ lý khứ/ Hoàng oanh phi thượng thiên/ Thiên thượng nhàn văn lai hựu khứ/ Mang bả Nam phương tiệp báo truyền”. Lời dịch của Phan Văn Các: “Tháng tư hoa nở một vườn đầy/ Tía tía, hồng hồng đua sắc tươi/ Chim trắng xuống hồ tìm bắt cá/ Hoàng oanh vút tận chân trời/ Trên trời mây đến rồi đi/ Miền Nam thắng trận mang về tin vui”.

D.T.Q và nhóm cộng sự
sggp.org.vn

Nhớ lời Bác dặn: “Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau”

Suốt cuộc đời của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh hy sinh cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội và cái đích cuối cùng là giải phóng con người. Chính vì vậy, vấn đề con người luôn được Bác quan tâm chăm lo chu đáo. Trong muôn vàn mối quan hệ phong phú, phức tạp mà mỗi người đều phải xử lý hàng ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh quy vào ba mối quan hệ chủ yếu nhất: Đối với người, đối với việc và đối với bản thân mình. Trong “đối với người”, tức là mối quan hệ giữa người với người, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn chú trọng nhân lên cái thiện trong các mối quan hệ ấy. Do đó, ở Bác, chúng ta thấy thấm đượm chủ nghĩa nhân văn cả trong lời nói và hành động. Trước lúc đi xa, trong bản Di chúc để lại, Người còn căn dặn: “Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau”.

Do đặc thù hoạt động quân sự, nhất là trong chiến tranh, tình đồng chí, đồng đội trong quân đội, gắn bó sâu đậm hơn so với các hoạt động xã hội khác. Bởi, chiến tranh là sự thử thách khắc nghiệt nhất, không chỉ đối với mọi quốc gia, một dân tộc, một chế độ; mà nó còn thử thách nghiêm khắc đối với từng cá nhân, từng người lính giữa cái sống và cái chết chỉ cách nhau gang tấc. Do đó, trong chiến tranh, tình đồng đội là thiêng liêng, cao cả. Trận đánh càng ác liệt, tình thương yêu đồng đội càng cao, tất cả vì mục tiêu chiến thắng, nên mọi người không ngại hy sinh, người trước ngã xuống, người sau tiến lên; sẵn sàng xả thân, nhận khó khăn, sự ác liệt về mình, nhường thuận lợi cho đồng đội. Tình đồng đội là truyền thống tốt đẹp của quân đội ta, quân đội do Đảng và Bác Hồ sáng lập, giáo dục và rèn luyện. Nó thuộc về bản chất và truyền thống của Quân đội nhân dân, là bản chất truyền thống của Bộ đội Cụ Hồ.

nho loi bac danBác Hồ với các anh hùng, chiến sĩ thi đua miền Nam (1965) – Ảnh Vũ Đình Hồng.

Ngày nay, xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ từng bước hiện đại, trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, vấn đề đặt lên hàng đầu là xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, mặt khác phải luôn chăm lo xây dựng tình thần đoàn kết thống nhất, trên dưới một lòng. Đó chính là cội nguồn của mọi thành công trong mỗi cá nhân cũng như tập thể. Điều này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần căn dặn về xây dựng tình đồng chí đồng đội thương yêu lẫn nhau lúc thường cũng như khi ra trận. Bác cũng đã nêu lên một nhận xét rất độc đáo: Nếu thuộc bao nhiêu sách về chủ nghĩa Mác – Lênin mà sống với nhau không có tình có nghĩa thì không thể hiểu được chủ nghĩa Mác – Lênin. Sống tình nghĩa ở trong quân đội bao giờ cũng đi liền với đấu tranh tự phê bình và phê bình, điều mà Bác coi là “thang thuốc hay nhất” để cho mỗi cán bộ, đảng viên tiến bộ. Học Bác về tự phê bình và phê bình ở hai điều chính cốt nhất: Mục đích và phương pháp. Bác quan niệm mục đích của tự phê bình và phê bình là làm cho phần tốt trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân và phần xấu bị mất dần đi, cốt để giúp nhau sửa chữa sai lầm, khuyết điểm, giúp nhau tiến bộ; cốt để sửa đổi cách làm việc cho tốt hơn, đúng hơn; cốt đoàn kết và thống nhất nội bộ. Phương pháp tự phê bình và phê bình theo Bác là phải được tiến hành thường xuyên như rửa mặt hằng ngày với cái tâm trong sáng; phải ráo riết, triệt để, thật thà, không nể nang, không thêm bớt; phải vạch rõ cả ưu điểm và những khuyết điểm; chớ dùng lời mỉa mai, chua cay, đâm thọc.

Sức mạnh đoàn kết trong quân đội được tạo ra bởi tổ chức mà tổ chức đó là sự kết nối chặt chẽ giữa cán bộ, chiến sỹ với nhau. Song trước hết phải xuất phát từ mối quan hệ đoàn kết, thống nhất của cấp ủy, chỉ huy và cán bộ chủ trì trong đơn vị. Trong một cơ quan, đơn vị nào đó, nếu cán bộ chủ chốt mất đoàn kết thì chắc chắn tổ chức đó không thể nào có được bầu không khí thân thiện, đồng thuận. Đây là điều đã được Bác Hồ cảnh báo từ sớm và gọi đó là tình trạng “cấp trên và cấp dưới cách biệt nhau”, đồng chí với nhau nhưng “không nói trước mặt, chỉ nói sau lưng”. Ở đây, cần có sự gương mẫu từ trong lời nói đến hành động của cán bộ chủ chốt. Sự gương mẫu, tự nó là một sức mạnh cảm hóa con người, như Bác quan niệm rằng, “một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”. Sự cảm hóa kỳ diệu của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với những người chung quanh là ở cái tâm lành, đức dày, trí cao, sự giản dị, chân thành và ở sự gương mẫu của cái đức luôn luôn vươn tới những giá trị chân, thiện, mỹ của Người. Đó là văn hóa chính trị của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Người ta hay nói đến cái tình, cái lý trong mối quan hệ của con người đối với con người. Ở Chủ tịch Hồ Chí Minh, tình và lý quyện chặt vào nhau. Quan hệ của cán bộ, chiến sỹ trong hoạt động hằng ngày tuy phụ thuộc vào những quy định của điều lệnh, quan hệ giữa cấp trên và cấp dưới, nhưng điều rất quan trọng đó là giải quyết hài hòa mối quan hệ nhiều chiều, phong phú của cuộc sống đời thường. Tình đồng chí, đồng đội ở đây, ngoài những nguyên tắc tổ chức và điều lệnh, còn xuất phát từ tấm lòng độ lượng, khoan dung và nhân ái. Nhiều khi mất đoàn kết trong cơ quan, đơn vị lại từ những việc tưởng chừng nhỏ nhặt nhưng rất quan trọng trong đời thường. Một số người suy nghĩ và hành động không vì đại sự mà ở sự cố chấp, có người vì động cơ cá nhân đã cố tình gây ra mất đoàn kết, tạo lên sự nghi ngờ trong nội bộ. Thậm chí còn có hiện tượng đơn thư nặc danh, vu khống, nói xấu lẫn nhau, làm cho đơn vị mất ổn định…. Nhắc tới điều này, chúng ta lại nhớ tới lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong việc xây dựng tình đồng chí thương yêu lẫn nhau, đó là việc phải tạo ra một cơ sở, hay môi trường vững chắc, đồng thuận để mọi người có trách nhiệm, nghĩa vụ chung tay xây dựng cơ quan, đơn vị của mình. Đây cũng là điều kiện tiên quyết để mỗi cán bộ, đảng viên, quần chúng thể hiện tình đồng chí một cách chân thành, bền chặt nhất. Nòng cốt của vấn đề này, chính là việc xây dựng mỗi Chi bộ, Đảng bộ trở thành một pháo đài đoàn kết, thống nhất. Sự yếu kém của Chi bộ, Đảng bộ cơ sở dễ dẫn tới tha hóa đội ngũ đảng viên, mà mỗi khi đảng viên đã bị tha hóa, biến chất thì tình đồng chí cũng không còn. Tổ chức Chi bộ, Đảng bộ cơ sở chính là môi trường để đảng viên phấn đấu thực hiện thành công nghị quyết của Đảng, nơi đảng viên rèn luyện đạo đức của người cộng sản, là nơi thử thách rõ rệt nhất tình đồng chí. Thực tế cho thấy, ở Chi bộ, Đảng bộ cơ sở nào trong sạch, vững mạnh thật sự thì chính nơi đó tình đồng chí trong Đảng biểu hiện một cách trong sáng, đậm đà nhất; nơi đó sinh hoạt Đảng sinh động nhất, có tính hấp dẫn nhất, nơi đó là chỗ dựa vững chắc nhất cho lãnh đạo, chỉ huy và toàn thể đảng bộ và đơn vị.

Gần một năm qua, quán triệt Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4, Ban Chấp hành Trung ương Đảng (Khóa XI), toàn Đảng, toàn quân đã tổ chức có hiệu quả việc tự phê bình và phê bình. Mỗi cán bộ chủ trì các cấp đã nghiêm khắc tự kiểm điểm ưu điểm, khuyết điểm của bản thân và đã chân thành tiếp thu sự đóng góp phê bình của cán bộ, chiến sỹ cấp dưới. Điều đó đã tạo ra luồng sinh khí mới, sự đồng thuận cao để xây dựng tình thương yêu đồng chí, đồng đội và sự đoàn kết thống nhất trong từng cơ quan, đơn vị. Đây cũng là việc cần thiết và cấp bách để mỗi cán bộ, chiến sỹ ghi nhớ, học tập và làm theo lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau”.

Thiếu tướng, TS Đặng Nam Điền
Chính ủy Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh
bqllang.gov.vn

Những nghệ sĩ ngâm thơ chúc Tết của Bác Hồ

Trong cuộc đời làm nghệ thuật của mình, rất nhiều nghệ sĩ đã vinh dự và có niềm hạnh phúc lớn là được gặp Bác Hồ, được biểu diễn phục vụ các đoàn khách quốc tế, các đồng chí lãnh đạo của Ðảng và Nhà nước ta. Trong số đó, đặc biệt có các nghệ sĩ ngâm thơ nổi tiếng như Trần Thị Tuyết, Linh Nhâm và Kim Liên.

Những lần được gặp Bác, được ngâm thơ cho Bác nghe là những kỷ niệm lớn còn ghi mãi trong đời làm nghệ thuật của các nghệ sĩ.

Nghệ sĩ Trần Thị Tuyết là con gái của bà Nguyễn Thị Phúc – một nghệ nhân ca trù nổi tiếng, tài sắc một thời của nước ta. Thừa hưởng tài năng của mẹ và học tập không ngừng, Trần Thị Tuyết từ khi vào Ðài Tiếng nói Việt Nam đã nhanh chóng trở thành một nghệ sĩ nổi tiếng, cả nước biết tên. Một lần, chị nhận lệnh theo xe thu thanh của Ðài Tiếng nói Việt Nam vào Phủ Chủ tịch, được giao nhiệm vụ tặng hoa chúc mừng Bác Hồ vừa tròn 75 tuổi. Chị Tuyết kể: Tôi chưa kịp cầm bó hoa lên chúc Bác, thì Bác đã giơ tay chào và nói:

– Năm mới, Bác chúc các cháu khỏe!

Tôi vội vàng chạy lại:

– Thưa Bác, nhân dịp năm mới, chúng cháu ở Ðài Tiếng nói Việt mừng Bác mạnh khỏe, sống lâu trăm tuổi.

Bác Hồ nhận bó hoa, rồi vui cười nói:

– Bác cảm ơn, nhưng Bác tặng lại bó hoa đẹp này để các cô chú ở Ðài mang về đón Tết.

Vào phòng khách, Bác chỉ chỗ cho chúng tôi ngồi rồi vui vẻ trò chuyện. Ðồng chí lãnh đạo của Ðài xin phép được thu lời Chúc mừng năm mới của Bác để phát trên Ðài Tiếng nói Việt Nam vào đêm giao thừa.

ngam tho 1Nghệ sĩ Trần Thị Tuyết

Ðồng chí Vũ Kỳ chuyển đến Bác tấm thiếp chúc mừng năm mới màu hồng có in hình Quốc huy. Bác Hồ vui vẻ hỏi:

– Các chú đã chuẩn bị xong chưa? Sau đó Bác bắt đầu đọc:

“Ðồng bào thân mến!

Nhân dịp năm mới, tôi gửi lời chúc mừng thân ái nhất đến toàn thể đồng bào miền Bắc và miền Nam, toàn thể chiến sĩ và cán bộ, đến các cụ phụ lão, các cháu thanh niên và nhi đồng, đến kiều bào ta ở nước ngoài.

Tôi thay mặt đồng bào ta gửi lời chúc mừng tốt lành nhất đến nhân dân các nước anh em…”

Chúng tôi ngồi lắng nghe từng lời của Bác, thật không ngờ mình lại vinh dự là những người đầu tiên được nghe Bác chúc mừng năm mới. Tiếp đó, Bác đọc bài thơ Chúc mừng năm mới của Bác:

Chào mừng Ất Tỵ xuân năm mới
Nhà nước ta vừa tuổi hai mươi
Miền Bắc xây dựng đời sống mới vui tươi
Miền Nam kháng chiến ngày càng tiến tới
Ðồng bào hai miền thi đua sôi nổi
Ðấu tranh anh dũng, cả nước một lòng
Chủ nghĩa xã hội nhất định thắng lợi!
Hòa bình thống nhất ắt hẳn thành công!

Chúng tôi đã thu xong bài Chúc mừng năm mới của Bác, bỗng Bác quay lại phía tôi, vui vẻ:

– Cháu Tuyết thử ngâm lại cho mọi người nghe đi!

Tôi vội đứng dậy cầm lấy tấm thiếp của Bác, vừa mừng vừa lo, song tôi đã trấn tĩnh cất giọng ngâm. Nào ngờ nghe xong Bác vỗ tay khen, rồi Bác cầm những bông hoa hồng bạch trên bàn tặng chúng tôi mỗi người một bông. Ðồng chí Vũ Kỳ nói:

– Ðây là hoa trong vườn Bác, do chính tay Bác vun trồng và chăm sóc đấy!

Chúng tôi nâng niu bông hoa Bác tặng, mà thấy lòng mình rưng rưng cảm động.

Còn đây là câu chuyện về nghệ sĩ Linh Nhâm. Một lần Linh Nhâm cùng Ðoàn Ca múa quân đội vào biểu diễn ở Phủ Chủ tịch. Nghe Linh Nhâm hát, Bác Hồ khen có giọng ca tốt. Song Bác ân cần hỏi:

– Cháu có biết ngâm thơ không? Linh Nhâm thưa thật với Bác là cháu chưa biết. Bác bảo:

– Thế thì cháu phải học ngâm thơ để phục vụ bộ đội tốt hơn, vì bộ đội ta rất yêu thơ cháu ạ!

ngam tho 2Nghệ sĩ Linh Nhâm

  Từ đó, nghe lời Bác, Linh Nhâm quyết tâm học ngâm thơ. Chị mở đài nghe giọng thơ của các chị Trần Thị Tuyết, Châu Loan… lại được chồng là nhạc trưởng của Ðoàn góp thêm ý kiến. Linh Nhâm chọn những bài thơ chị thích như “Lá thư Bến Tre” của Tố Hữu, “Quê hương” của Giang Nam, “Cuộc chia ly màu đỏ” của Nguyễn Mỹ, “Chúng con chiến đấu cho Người sống mãi Việt Nam ơi” của Nam Hà để rèn luyện và tìm cho mình một phong cách riêng.

Sau này, những bài thơ ấy đã trở thành những tiết mục đặc sắc của Linh Nhâm trong các buổi biểu diễn phục vụ quân đội. Và đúng như Bác Hồ đã nói, bộ đội ta rất yêu thơ và hoan nghênh nhiệt liệt.

Còn nghệ sĩ Kim Liên, chị kể lại: Tháng Chạp năm Mậu Thân 1968, chúng tôi đang gấp rút dựng vở “Tấm vóc đại hồng” tại nơi sơ tán, thì tôi được lệnh cấp trên điều lên Hà Nội nhận nhiệm vụ mới. Tôi nghĩ, có lẽ trên muốn thu một vài bài hát Chầu văn vì Chầu văn là tiết mục của Nam Ðịnh được cả nước yêu thích. Nhưng thật bất ngờ, đến nơi thì đồng chí Trần Lâm, Giám đốc Ðài Tiếng nói Việt Nam báo cho tôi biết là chuẩn bị để ngâm bài thơ Chúc mừng Xuân mới, xuân Kỷ Dậu của Bác Hồ. Bài thơ này của Bác còn có các chị Trần Thị Tuyết và Linh Nhâm thể hiện. Tôi thật sự lo lắng. Các chị Trần Thị Tuyết và Linh Nhâm là những nghệ sĩ đã ngâm thơ chúc Tết của Bác nhiều lần, còn tôi tuy đã nhiều lần được gặp Bác, nhưng ngâm thơ chúc Tết của Bác là công việc mới mẻ.

ngam tho 3Những kỷ niệm về Bác Hồ năm xưa vẫn luôn in hằn trong ký ức của nghệ sĩ Kim Liên.

 Chị nhớ lại những lần cùng Ðoàn Chèo của quê hương lên phục vụ Trung ương, được gặp Bác và Thủ tướng Phạm Văn Ðồng. Rồi lần tham gia Ðoàn nghệ thuật sang biểu diễn tại Pháp vào dịp Hội nghị Paris đang họp, do nhà thơ Huy Cận dẫn đầu, đã được bà con Việt kiều nhiệt liệt hoan nghênh. Sau lần đó, chị vinh dự được ăn cơm trưa cùng Bác. Bác bảo Kim Liên là bông sen vàng, quê Bác cũng có nhiều sen lắm. Bác còn dặn đồng chí Vũ Kỳ chuẩn bị bánh kẹo cho Kim Liên mang về cho các cháu. Sự quan tâm của Bác, khiến bây giờ chị càng lo lắng. Chị đã đọc nhiều lần bài thơ của Bác. Bài thơ chỉ có sáu câu lục bát, nhưng là một tầm nhìn chiến lược, là mệnh lệnh cho quân dân ta tiến lên giành chiến thắng cho ngày Bắc Nam sum họp, thống nhất nước nhà. Chị đã chọn giọng sa mạc và lẩy kiều để thể hiện bài thơ của Bác.

Bài thơ Chúc mừng Xuân Kỷ Dậu lịch sử của Bác đã được ba nghệ sĩ: Trần Thị Tuyết, Linh Nhâm và Kim Liên thể hiện. Bác Hồ đã khen cả ba cô đều thể hiện thành công. Và đúng giao thừa năm ấy, các chiến sĩ và đồng bào cả nước, đồng bào ta ở nước ngoài đã được nghe bài thơ Xuân của Bác:

“Năm qua thắng lợi vẻ vang
Năm nay tiền tuyến chắc càng thắng to
Vì độc lập, vì tự do
Ðánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào
Tiến lên! Chiến sĩ, đồng bào
Bắc – Nam sum họp, Xuân nào vui hơn!”

Bùi Công Bính
Theo http://www.baothaibinh.com.vn

Thu Hiền (st)
bqllang.gov.vn

Những tâm tư tình cảm của Chủ tịch Hồ Chí Minh dành cho thanh niên qua các bài viết

tn
Chủ tịch Hồ Chí Minh nói chuyện với đại biểu dự Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ II năm 1956, tại Nhà hát Lớn Hà Nội

 Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng hết sức phong phú và sôi nổi của mình, Bác kính yêu đã dành sự quan tâm đặc biệt cho thế hệ trẻ và để lại cho thanh niên Việt Nam và thanh niên thế giới những tình cảm quí báu và những lới dạy thiết thực đối với lớp lớp con cháu.

Sau đây Ban Biên tập Trang tin điện tử Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh xin trân trọng giới  thiệu một số bức thư Bác Hồ gửi cho thanh niên Việt Nam và thanh niên thế giới:

Gửi thanh niên và nhi đồng toàn quốc nhân dịp Tết sắp đến

Hỡi thanh niên và nhi đồng yêu quý!

Một năm khởi đầu từ mùa xuân. Một đời khởi đầu từ tuổi trẻ. Tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội.

Vậy qua năm mới, các cháu phải xung phong thực hành “đời sống mới”.

Đời sống mới là:

– Hăng hái, kiên quyết, không sợ khó, không sợ khổ.

– Phải siêng học, phải siêng làm, phải tiết kiệm.

– Việc nên làm (như ủng hộ kháng chiến, tăng gia sản xuất) thì ta không chờ ai nhắc nhủ.

– Việc nên tránh (như tự tư tự lợi) thì ta không đợi ai ngăn ngừa.

Năm mới, chúng ta thực hành đời sống mới để trở nên những công dân mới, xứng đáng với nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

Việt Nam độc lập muôn năm!

Tháng 1 năm 1946

HỒ CHÍ MINH

Một tấm lòng thành thực và đau đớn

Thưa Đại tướng, thân hữu, tôi nói với ngài với một tấm lòng thành thực và đau đớn. Đau đớn vì thấy bao nhiêu chiến sĩ thanh niên Pháp và Việt đang tàn sát lẫn nhau. Những thanh niên hi vọng của hai nước chúng ta, và đáng lẽ phải sống cùng nhau như anh em…

(Trích thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi tướng Pháp Lơcléc, ngày 1 tháng 1 năm 1947 – Theo sách Lời Hồ Chủ tịch, Nhà thông tin Việt Nam, 1948, T.1, tr 17 – 18)

Thanh niên Mỹ chống chiến tranh

Bà Mácin Tô, Giám đốc một Trường Trung học Mỹ, viết trong thời báo New York : “Hiện nay thanh niên Mỹ chỉ lo phải đi lính. Những thanh niên đã đi lính trong cuộc Thế giới đại chiến thứ hai thì lo: Có phải đi lính lần nữa không?”. Những thanh niên ấy sinh trưởng trong thời kỳ kinh tế khủng hoảng. Họ thấy những việc không công bằng, rồi họ kết luận: Chỉ có những người cách mạng chống lại những sự bắt đi lính ấy. Họ xem nhiều sách quá rồi họ thất vọng và cho rằng đời sống là trống rỗng, vô ích”.

Bà Mác chỉ nói đúng một nửa. Một phần thanh niên Mỹ ghét chiến tranh, song không biết chống lại. Còn một phần thanh niên khác thì hăng hái chống đế quốc chủ nghĩa, chống chiến tranh. Họ không ở trong các Trường Trung học, cho nên bà Mác không biết họ.

(Bài viết của Bác ký bút danh Đ.X, trên báo Cứu quốc
số 1945, ngày 9-11-1951)

Thanh niên Pháp chống chiến tranh ở Việt Nam

Trong phong trào nhân dân Pháp chống chiến tranh ở Việt Nam, thanh niên Pháp rất hoạt động. Vì vậy, anh Hăngri Máctanh, chị Râymông Điêng và nhiều thanh niên khác đã bị tù (nhờ nhân dân Pháp đấu tranh mạnh, nay đã được tha).

Tại Đại hội liên hoan thanh niên thế giới ở Thủ đô nước Rumani, hồi tháng 8, có 3.500 đại biểu thanh niên Pháp, trong đó có đủ các tầng lớp và các tôn giáo. Sau một cuộc gặp gỡ rất thân mật với Đoàn đại biểu thanh niên Việt, Đoàn đại biểu thanh niên Pháp đã thông qua một nghị quyết tóm tắt như sau.

“Chúng tôi có hân hạnh lớn được gặp thanh niên Việt – Miên – Lào. Trong lúc chúng tôi hôn nhau như anh em, thì chiến tranh tàn nhẫn vẫn tiếp tục ở Đông Dương.

Chúng tôi sung sướng cảm thấy rằng thanh niên Việt – Pháp rất gần gũi nhau, có thế hiểu biết nhau và lập mối quan hệ thân thiết lâu dài với nhau. Vì vậy, cuộc gặp gỡ này cũng như một hành động hòa bình, như một sự khuyến khích thanh niên Pháp phát triển đấu tranh cho hòa bình ở Việt Nam… Thanh niên Pháp sẽ đấu tranh không ngừng, để đòi Chính phủ Pháp đàm phán với Chính phủ Hồ Chí Minh là đại biểu chân chính của nhân dân Việt Nam…

Hòa bình ở Việt Nam và nối lại quan hệ kinh tế và văn hóa với Việt Nam, thì nước Pháp sẽ gây được cảm tình thân thiện với một dân tộc lớn. Hòa bình ở Việt Nam thì nước Pháp có thể xây dựng đời sống của mình với số tiền bạc khổng lồ mà hiện nay đang hoang phí vào chiến tranh. Hòa bình ở Việt Nam là lợi ích chung của thanh niên chúng ta, là lợi ích chung của hai Tổ quốc chúng ta”.

Chiến tranh xâm lược mà thực dân Pháp theo đuổi ở Việt Nam là một cuộc chiến tranh phi nghĩa. Nhân dân thế giới nhất là nhân dân Pháp đều phản đối. Quân đội thực dân Pháp không có chỗ dựa. Trái lại, cuộc kháng chiến của ta là toàn dân kháng chiến, lại được nhân dân Pháp và nhân dân lao động thế giới ủng hộ. Vì vậy, địch nhất định thua, ta nhất định thắng.

(Bài báo của Bác Hồ, ký bút danh C.B, đăng trên Báo Nhân Dân, số 144, từ ngày 26 đến 31-10-1953).

Thư gửi thanh niên Pháp

Gửi các bạn thanh niên nam nữ Pháp,

Các bạn thân mến,

Các cháu thanh niên Việt Nam đi dự Đại hội liên hoan Bucarét về đã kể lại cho chúng tôi nghe những cử chỉ thân ái thật cảm động giữ các bạn thanh niên Pháp – Việt. Chúng tôi rất cảm kích với tấm lòng của các bà mẹ và các bạn nữ thanh niên Pháp đã gửi cho các bà mẹ và các cháu nhi đồng Việt Nam những món quà xinh và những chiếc ảnh đẹp.

Chúng tôi lại biết rằng các bạn là những người thanh niên nam nữ đang cùng toàn thể nhân dân anh dũng của nước Pháp can đảm đấu tranh chống cuộc chiến tranh bẩn thỉu ở Việt Nam. Điều đó chứng tỏ một lần nữa rằng nhân dân hai nước chúng ta sẵn một lòng thương yêu nhau và thông cảm với nhau. Chỉ có bọn thực dân Pháp và bọn can thiệp Mỹ là những kẻ duy nhất phải chịu trách nhiệm về cuộc chiến tranh phi nghĩa này, nó đã gây nên bao nhiêu khổ cực và tang tóc cho nhân dân Pháp cũng như nhân dân Việt Nam.

Cho nên các bạn và chúng tôi, chúng ta phải sát cánh cùng nhau đấu tranh kiên quyết để thắng kẻ thù chung của chúng ta. Chỉ có như thế chúng ta mới có thể thực hiện được mục đích chung của chúng ta là cộng tác thân ái với nhau trên cơ sở độc lập, tự do và hòa bình, vì lợi ích chân chính của cả hai nước chúng ta.

Hoan nghênh các bạn thanh niên Pháp đang đấu tranh cho hòa bình và dân chủ!

Tình thân ái giữa nhân dân hai nước Việt – Pháp muôn năm!

Hôn tất cả các cháu

Hồ Chí Minh
Viết cuối tháng 10-1953
Báo Nhân Dân, số 147, Từ ngày 11 đến 15-11-1953.

Bác Hồ khen ngợi thanh niên Triều Tiên

Do sự hăng hái xung phong mỗi năm làm một tháng lao động nghĩa vụ, thanh niên và học sinh đã tham gia xây dựng ngôi nhà nguy nga và đắp những con đường rộng rãi…

(Trích diễn văn trong tiệc chiêu đãi ở Bình Nhưỡng, đọc ngày 10-7-1957) – Báo Nhân Dân, số 1221, ngày 12-7-1957).

Điện gửi Tổng thống Pháp Rơnê Côty
Yêu cầu hủy bỏ án tử hình chị Giamila

Kính gửi Ông Rơnê Côty, Tổng thống nước Cộng hòa Pháp,

  Tôi vô cùng xúc động trước việc chị Giamila Buhirét, người nữ thanh niên yêu nước Angiêri, bị kết án tử hình. Thay mặt nhân dân Việt Nam, tôi đề nghị Ngài có biện pháp phù hợp với truyền thống yêu chuộng công lý và nhân đạo của nhân dân Pháp để cứu sống tính mạng của chị Giamila.

Kính gửi Ngài lời chào trân trọng.

Ngày 7 tháng 3 năm 1958

Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa

Hồ Chí Minh

Báo Nhân Dân, số 1460, ngày 11-3-1958.

Tình cảm của Bác Hồ với thanh niên

Việt Nam và Inđônêxia

Hà Nội ta có nhiều trường mà Trường Đại học của các cháu được nhiều vinh dự đón khách quý. Những khách từ các nước bạn anh em đến Việt Nam thăm các cháu.

Bác Cácnô không muốn người ta gọi Bác mà là Anh cả, là Bung Cácnô bởi vì Bác Cácnô muốn gần gũi nhiều, gần gũi mãi với thanh niên. Hôm nay Bác Cácnô đến thăm các cháu, đấy chẳng những là một vị lãnh tụ vĩ đại của một dân tộc 88 triệu dân đưa đến cho các cháu tình hữu nghị thắm thiết của nhân dân Inđônêxia, của thanh niên Inđônêxia mà Bác Cácnô đến thăm các cháu lấy danh nghĩa là cựu sinh viên. Bác Cácnô đến đây chẳng những để nói chuyện với các cháu, nhưng mà các cháu phải xem Bác Cácnô là một tấm gương cách mạng từ lúc nhỏ, từ trong trường học ra ngoài trường học, từ lúc tự do cũng như mười mấy năm tù tội, luôn luôn hy sinh phấn đấu cho độc lập dân tộc, cho dân chủ, cho hòa bình thế giới.

Bác Cácnô đã nói với các cháu những gì? Nói tương lai của loài người một phần lớn là ở các cháu thanh niên – tức là các cháu là chủ nhân, là ông chủ, bà chủ tương lai của trái đất. Nhưng muốn cho xứng đáng với ông chủ, bà chủ thì phải làm thế nào? Không phải cứ ngồi khoanh tay sẽ là ông chủ, bà chủ, mà:

1. Phải đoàn kết chặt chẽ.

2. Cố gắng học tập cho tốt.

3. Phải lao động cho tốt.

4. Vượt mọi khó khăn đề mà chiến thắng, để hưởng thụ tất cả những khoa học, những hiểu biết của thời đại thế kỷ thứ XX.

Muốn như thế thì phải thế nào? Bác Cácnô đã nói: Phải chiến thắng những tật xấu cá nhân chủ nghĩa và có tinh thần xã hội chủ nghĩa. Các cháu đã có tinh thần xã hội chủ nghĩa, còn cá nhân chủ nghĩa cũng còn nhiều. Các cháu chắc biết trong xã hội, trong một con người cũng thế, có cái thiện và ác. Hai cái nó tranh đấu vơi nhau. Nói cái “thiện” tức là tinh thần xã hội chủ nghĩa, tinh thần chiến đấu mà thắng thì cá nhân chủ nghĩa sẽ thua, mà nếu cá nhân chủ nghĩa thắng thì tinh thần xã hội chủ nghĩa sẽ thua. Các cháu là những người tiếp tục xây dựng chủ nghĩa xã hội, xây dựng đây là xây dựng chủ nghĩa xã hội cho các cháu. Bác, đàn anh có tuổi rồi, có hưởng xã hội chủ nghĩa cũng không được mấy vì già rồi, hưởng hạnh phúc xã hội chủ nghĩa là các cháu. Vì vậy các cháu phải ra sức xây dựng xã hội chủ nghĩa. Muốn xây dựng xã hội chủ nghĩa phải có tinh thần xã hội chủ nghĩa, muốn có tinh thần xã hội chủ nghĩa phải đánh bại chủ nghĩa cá nhân. Các cháu có đánh bại được chủ nghĩa cá nhân không? Có quyết tâm không? Có học được gương sáng Bung Cácnô không? Thế thì Bác và Bung Cácnô chờ đợi những thành tích của các cháu trong học tập, trong lao động, trong đoàn kết, trong việc đánh bại chủ nghĩa cá nhân và trong thắng lợi của chủ nghĩa xã hội. Các cháu có làm được không? Có chắc chắn không?

Bây giờ đây, thay mặt các cháu, Bác gửi đến các bạn thanh niên và các bạn học sinh, sinh viên Inđônêxia tất cả tình hữu nghị thắm thiết và ý chí thi đua xã hội chủ nghĩa của thanh niên và sinh viên Việt Nam.

(Bài nói chuyện của Bác Hồ với sinh viên đại học chào mừng Tổng thống Xucácnô ngày 26-6-1959 – Báo Nhân Dân, số 1929, ngày 27-6-1959)

Chế độ nào, thanh niên ấy

Ngày 17 tháng 1 năm 1960, chiếc thuyền nhỏ chở bốn thủy thủ trẻ tuổi của Liên Xô (Digansin, Palốpxki, Criútcốpxki, Phêđôtốp), bốn người thuộc ba dân tộc, đều mới vào bộ đội bị bão to cuốn ra khơi Thái Bình Dương. Máy vô tuyến điện hỏng, đứt liên lạc với trên bờ. Trên thuyền chỉ có lương thực đủ cho hai ngày và hai mươi kilo khoai. Bốn người lênh đênh phiêu bạt suốt bốn mươi chín ngày đêm. Lương thực hết, họ phải nấu giày ủng mà ăn. Ăn hết giày họ phải ăn cả chiếc đàn gió bằng da. Nước hết, họ hứng nước mưa và mỗi ngày mỗi người chỉ được uống nửa cốc. (Để chúc mừng ngày sinh của Criútcốpxki, các bạn tặng anh một cốc nước đầy, nhưng anh không nỡ uống).

Đói, khát, rét, mệt, nguy hiểm đến cực độ, nhưng bốn thanh niên anh hung ấy vẫn giữ vững tinh thần, không chút nản chí. Lênh đênh trên mặt biển, không có việc gì làm, họ thay phiên nhau ngâm thơ, đọc sách, kéo đàn (Khi chiếc đàn hẵng còn) để khuyến khích lẫn nhau.

Cuối ngày thứ bốn mươi chín, thì một chiếc tàu binh Mỹ vớt họ lên.

Đó là tiêu biểu tinh thần đoàn kết và chí khí bất khuất của thế hệ thanh niên dưới chế độ xã hội chủ nghĩa.

*

*           *

Ai cũng biết rằng ở Mỹ, số thiếu niên và thanh niên phạm tội ngày càng nhiều. Nhất là ở các thành phố lớn, ngày nào cũng xảy ra những vụ thiếu niên và thanh niên phạm tội trộm cắp, hãm hiếp, cướp của, giết người. Ví dụ: Cách đây không lâu, tên E. Pakê, mười sáu tuổi, đã bắn chết cha và em gái của cô A. Khi bị bắt, nó khai rằng có đã chuẩn bị kế hoạch từ lâu định giết cả mẹ và hai em gái của cô A. Nhưng “không may” ba người đã chạy thoát.

Vừa rồi, chỉ trong mấy ngày (từ 2-2 đến 2-3), tên D. Hoaini, mười bảy tuổi, quê ở Caliphoócni, đã giết chết năm người đàn ông, nó thản nhiên nói: “tôi định giết mười hai người. Tiếc rằng tôi chưa làm được như ý muốn”.

Đó là đầu óc hư hỏng và cử chỉ điên cuồng của thế hệ thanh niên dưới chế độ tư bản chủ nghĩa.

Hai chế độ xã hội khác nhau đã giáo dục nên hai thế hệ thanh niên khác nhau!

(Bài viết của Bác Hồ, ký bút danh T.L, đăng trên báo Nhân Dân, số 2203, ngày 30-3-1960)

Kim Yến (Tổng hợp)
bqllang.gov.vn

Ngày 13 tháng 4 – “Những chiến sĩ trên mặt trận chống giặc dốt”

Thứ hai, 13/04/2009, 03:37 (GMT+7)

Việt Nam - Hồ Chí Minh

Cách đây 105 năm, ngày 13-4-1904 (28-2 năm Giáp Thìn), bà ngoại Nguyễn Tất Thành qua đời. Đây là cái tang lớn của gia đình Bác Hồ vì cụ bà là người đã cưu mang con rể là Nguyễn Sinh Sắc học hành, đỗ đạt và chăm sóc anh chị em của Nguyễn Tất Thành khi còn nhỏ.

Ngày 13-4-1923, Báo La Vie Ouvrière (Đời sống công nhân) đăng bài “Chủ nghĩa quân phiệt thực dân” của Nguyễn Ái Quốc, tố cáo những chính sách hà khắc của các chính quyền thực dân đối với các thuộc địa. Bài báo viết: “Sự tàn ác của bọn bắt lính ở các thuộc địa tinh vi tới mức thậm chí người Pháp ở chính quốc cũng không thể hình dung được một cái gì giống như thế…”.

Tối 13-4-1946, Bác đến thăm một lớp học ở phố Hàng Trống (Hà Nội). Hồi ức của Đại tướng Võ Nguyên Giáp thuật lại: “Bàn học là những cánh cửa kê tạm. Giáo viên, một người trẻ tuổi đeo kính trắng, đang cầm phấn viết mấy chữ mẫu trên tấm bảng đen. Người học thuộc nhiều lứa tuổi, ăn mặc khác nhau. Những mái đầu cặm cụi. Mái tóc bạc phơ của một cụ già vận áo dài bên bộ tóc đen nháy của một chú bé mặc quần cộc. Bác đứng chống cây gậy tre nhìn quang cảnh này tỏ vẻ rất xúc động. Bác khuyến khích mọi người và nói: Cả người dạy và người học đều là những chiến sĩ trên mặt trận chống giặc dốt”.

Sau đó, Bác đến thăm một lớp học khác tại khu 21 Trịnh Hoài Đức và biểu dương đội ngũ các thầy cô giáo là những người tình nguyện dạy học không lương: “Anh chị em giáo viên Bình dân học vụ là những người vô danh anh hùng. Anh hùng không tên tuổi, anh hùng không ai biết đến”. Để động viên anh chị em giáo viên bình dân học vụ, Bác tự tay viết vào cuốn “Phương pháp và cách thức dạy học vỡ lòng chữ quốc ngữ” câu: “Anh chị em giáo viên Bình dân học vụ cố gắng đọc kỹ sách này, rồi tận tâm dạy bảo đồng bào thất học, làm cho nạn mù chữ chóng hết. Thế là làm tròn một nhiệm vụ thiêng liêng của mình đối với Tổ quốc”.

Ngày 13-4-1959, họp Bộ Chính trị bàn về chủ trương cải tạo công thương nghiệp tư bản chủ nghĩa, Bác lưu ý coi trọng việc giáo dục, đả thông tư tưởng đối với các nhà tư sản cho kỹ, mục tiêu cải tạo là vì tương lai của các nhà công thương, không gạt họ ra ngoài nhân dân và khi định thành phần, tránh gây căng thẳng.

Ngày 13-4-1961, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi điện mừng tới lãnh đạo Đảng Cộng sản Liên Xô nhân sự kiện ngày 12-4-1961, Liên Xô phóng thành công con tàu vũ trụ Phương Đông mang theo nhà du hành vũ trụ đầu tiên của loài người – Yuri Gagarin – lên quỹ đạo Trái đất.

Ngày 13-4-1967, Bác Hồ gửi thư khen ngợi các chiến sĩ pháo binh với truyền thống “chân đồng vai sắt” nay lại “lập được thành tích mới vẻ vang bắn trúng nhiều tàu chiến Mỹ, bắn chìm nhiều tàu biệt kích của Mỹ và tay sai, đánh trả pháo binh địch, diệt nhiều giặc Mỹ”. Bác căn dặn: “Các đồng chí chớ vì thắng lợi mà chủ quan, phải ra sức học tập và thi đua với pháo binh Quân Giải phóng miền Nam tài giỏi anh hùng… lập nhiều chiến công to lớn hơn nữa”.

D.T.Q và nhóm cộng sự
sggp.org.vn