Tag Archive | Văn hóa – Xã hội

“Chúng ta hoà để tiến!”

– Ngày 9/3/1946, Báo “Cứu Quốc” đăng “Tuyên cáo dân chúng Pháp và Việt Nam” của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Tướng Leclerc đồng ký tên nêu rõ chủ trương quân Pháp sẽ trở lại khu vực phía Bắc vĩ tuyến 16.

Bác kêu gọi “người Pháp và người Việt Nam hãy tuân lệnh những người lãnh đạo của 2 nước, thi hành các mệnh lệnh một cách triệt để, để cùng nhau xây dựng kinh tế và kiến thiết”.

Đây là những bước đi cần thiết để thúc đẩy việc thực hiện Hiệp định Sơ bộ 6/3, đấu tranh với những thế lực muốn phá hoại văn bản này nhằm đẩy tới một cuộc chiến tranh càng sớm càng tốt, với hy vọng sẽ bóp chết nhà nước cách mạng Việt Nam còn non trẻ.

Ngày 9/3/1955, Chủ tịch Hồ Chí Minh với các đại biểu dự Hội nghị Công giáo toàn quốcNgày 9/3/1955, Chủ tịch Hồ Chí Minh với các đại biểu dự Hội nghị Công giáo toàn quốc

Tướng Leclerc là người chỉ huy quân đội Pháp trong Lực lượng Đồng minh chống phát xít đã tiến vào giải phóng Thủ đô Paris của nước Pháp, là người đã tức thời muốn thúc đẩy quá trình hoà hoãn này. Có thể vì vậy mà không bao lâu sau đó, ông đã phải rời khỏi Đông Dương rồi chết trong một tai nạn máy bay một cách bí hiểm ở Châu Phi.

Ngày 9/3/1946, cũng là ngày Ban Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương (lúc này đã rút vào hoạt động không công khai) đã đưa ra bản chỉ thị lịch sử có tên “Hoà để Tiến”, với lời kết luận: “Các đồng chí, Tổ quốc đang gặp những bước khó khăn. Nhưng con thuyền cách mạng đang luồn những mỏm đá ghềnh để lướt tới. Chúng ta hoà với nước Pháp để giành lấy thời gian, bảo toàn thực lực, giữ vững lập trường đặng mau tiến tới độc lâp hoàn toàn”.

Cũng trong ngày 9/3/1946, tiếp và trả lời phỏng vấn của báo giới Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh phê phán một số quan điểm trong chính giới Pháp chưa thực sự tôn trọng nền thống nhất của Việt Nam.

Bác khẳng định: “Nếu chiến tranh kéo dài thì Khối Liên hiệp Pháp cũng hỏng, lợi quyền Pháp ở Á Đông cũng mất, nước ta sẽ bị tàn phá tiêu điều. Nhưng dù tiêu điều đến đâu, non nước này vẫn là non nước Việt Nam. Trên đống xương máu, trên đống tro tàn, thanh niên ta, con cháu ta, sẽ xây dựng một nước Việt Nam hoàn toàn độc lập”.

X&N
bee.net.vn

“Phụ nữ Việt Nam xứng đáng là con cháu của Hai Bà”

– Ngày 8/3/1952, lần đầu tiên kỷ niệm Ngày Quốc tế phụ nữ ở nước ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết “Thư gửi phụ nữ nhân dịp kỷ niệm Hai Bà Trưng và Ngày Quốc tế phụ nữ ”.

Thư viết: “Hai Bà Trưng để lại cho phụ nữ Việt Nam một truyền thống vẻ vang, là dũng cảm kháng chiến Liên đoàn Phụ nữ Dân chủ Quốc tế giúp Phụ nữ Việt Nam bồi dưỡng truyền thống ấy, hăng hái đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc xâm lược. Phụ nữ Việt Nam đã xứng đáng là con cháu Hai Bà và là lực lượng trong Quốc tế phụ nữ.

Ngày 8/3/1965, Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm Nhà máy Dệt 8/3 Hà NộiNgày 8/3/1965, Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm Nhà máy Dệt 8/3 Hà Nội

Nhân dịp 8/3, tôi kính cẩn nghiêng mình trước linh hồn các nữ liệt sĩ đã hy sinh cho Tổ quốc… Tôi kính chào các bà mẹ có con trong bộ đội và các bà mẹ cùng vợ con các liệt sĩ. Trong cuộc kháng chiến to lớn của dân tộc ta, phụ nữ ta đang gánh một phần quan trọng… Non sông gấm vóc Việt Nam do phụ nữ ta, trẻ cũng như già, ra sức thêu dệt mà thêm tốt đẹp, rực rỡ”.

Cùng ngày, Bác viết bài “Nam nữ bình quyền” với những lập luận sâu sắc: “Nhiều người lầm tưởng đó là một việc dễ, chỉ: hôm nay anh nấu cơm, rửa bát, quét nhà, hôm sau em quét nhà, nấu cơm, rửa bát thế là bình đẳng bình quyền. Lầm to! Đó là một cuộc cách mạng khá to và khó.

Vì trọng nam khinh nữ là một thói quen mấy nghìn năm để lại. Vì nó ăn sâu trong đầu óc của mọi người, mọi gia đình, mọi tầng lớp xã hội… Vì thế mà không thể dùng vũ lực mà tranh đấu…

Vũ lực của cuộc cách mạng này là sự tiến bộ về chính trị, kinh tế, văn hoá, pháp luật. Phải cách mạng từng người, từng gia đình đến toàn dân. Dù to và khó nhưng nhất định thành công”.

Ngày 8/3/1964, trên báo “Nhân Dân” dưới bút danh “Chiến sĩ”, Bác viết bài “Gửi chị em phụ nữ Hoa Kỳ” để lên án cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam không những gây đau khổ cho nhân dân và phụ nữ Việt Nam mà còn đối với cả phụ nữ Mỹ.

Bài báo viết “Nhân dân hai nước chúng ta không hề thù oán gì nhau. Chúng ta, nhất là chị em phụ nữ chúng ta đều muốn sống trong hoà bình và hữu nghị… Nếu không chấm dứt chiến tranh thì nhân dân Mỹ trước hết là chị em phụ nữ Mỹ cũng sẽ bị thêm gánh nặng đau thương vì mất chồng, mất con…

Nhân dip này, chúng tôi gửi lời chào thân ái đến 400 chị em ở các bang New York, Maryland, Virginia,Connecticut… vừa rồi biểu tình trước Phủ Tổng thống Mỹ để đòi giải quyết hoà bình vấn đề Việt Nam”.

Ngày 8/3/1965, Bác Hồ đến thăm Nhà máy Dệt 8/3 vào thời điểm chuẩn bị làm lễ khánh thành. Đây là công trình xây dựng từ nguồn vốn có phần đóng góp của phụ nữ cả nước có quy mô và trang bị hiện đại nhất miền Bắc vào thời diểm đó. Nói chuyện vói cán bộ và công nhân, Bác nhấn mạnh đến ý nghĩa như tên gọi của nhà máy là biểu dương sức mạnh và đóng góp của phụ nữ đối với đất nước.

X&N
bee.net.vn

“Tôi thà chết chứ không bán nước!”

– Ngày 7/3/1946, Hồi ức “Những năm tháng không thể nào quên” thuật lại: tại Bắc Bộ phủ, Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bộ trưởng Bội Nội vụ Huỳnh Thúc Kháng và Cố vấn Vĩnh Thuỵ đồng tiếp J.Sainteny để bàn việc triển khai tiếp bản Hiệp định sơ bộ vừa ký kết ngày hôm trước. Người đứng đầu nhà nước Việt Nam đặt vấn đề cuộc hội đàm chính thức nên được tổ chức tại Paris.

Đầu giờ chiều, Bác đạt được thoả thuận với J.Sainteny sẽ cùng ký dưới một thông báo chung để bố cáo rộng rãi trong đó có nội dung: “Chính phủ Pháp thừa nhận Việt Nam tự thành lập một chính phủ riêng của mình để cho Việt Nam hoàn toàn tự do trong việc thiết lập chính quyền.

Tháng 3/1951, Bác cùng các đại biểu phụ lão và thiếu nhi tại ĐH Thống nhất Mặt trận Liên Việt.Tháng 3/1951, Bác cùng các đại biểu phụ lão và thiếu nhi tại ĐH Thống nhất Mặt trận Liên Việt.

Chính phủ Việt Nam không phản đối việc quân đội Pháp trở lại một cách hoà bình để thay thế quân đội Trung Quốc làm nhiệm vụ ở khu vực Đông Dương từ Bắc vĩ tuyến 16 trở lên. Việc đầu tiên thực hiện Hiệp định sơ bộ là chấm dứt mọi cuộc xung đột trên lãnh thổ Đông Dương, 24 giờ sau khi bản thông báo này đựoc phát đi trên các làn sóng đài phát thanh Hà Nội và đài phát thanh Sài Gòn”.

16 giờ ngày hôm đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự cuộc mít tính lớn của đông đảo nhân dân trước Nhà Hát lớn thành phố để giải thích về nội dung bản hiệp định đã ký kết. Sau phát biểu của Võ Nguyên Giáp kết thúc bằng sự khắng định: “Tư tưởng chỉ đạo, mục đích của Chính phủ là hoà bình vì tiến bộ. Con đuờng mở ra với hiệp định chính là con đường dẫn chúng ta đến độc lập trong một ngày gần đây, thật sự và hoàn toàn. Đó là mục đích của chúng ta”, Vũ Hồng Khanh, người tham gia ký bản hiệp định cũng xác nhận : “Mục đích của chúng ta là độc lập hoàn toàn. Mục đích đó, chúng ta không chỉ một bước mà đạt được”.

Tiếp đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh lên tiếng: “Nước ta độc lập thực sự từ tháng Tám 1945. Nhưng tới nay chưa một cường quốc nào công nhận nền độc lập của ta. Cuộc điều đình với nước Pháp sẽ mở ra con đường làm cho quốc tế thừa nhận ta. Nó dẫn ta đến vị trí ngày càng chắc chắn trên trường quốc tế . Đó là một thắng lợi về mặt chính trị… Đồng bào nên bình tĩnh, đoàn kết, trong kỷ luật”.

Cuối cùng, vị Chủ tịch của nước Việt Nam Mới tuyên bố: “Tôi, Chủ tịch Hồ Chí Minh, suốt đời đã cùng đồng bào chiến đấu cho độc lập của Tổ quốc. Tôi thà chết chứ không bán nước !”. Cùng trong ngày, Bác ký giấy uỷ nhiệm cho các phái viên đặc biệt của Chính phủ là Hoàng Quốc Viêt và Huỳnh Văn Tiểng vào Nam Bộ để giải thích và thi hành Hiệp định Sơ bộ 6/3.

Một năm sau đó, ngày 7/3/1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho các vị Phạm Văn Bạch và Nguyễn Văn Tây, lãnh đạo “Phòng Nam Bộ” cơ quan trực thuộc Chính phủ theo dõi và hỗ trợ cho phong trào kháng chiến Nam Bộ. Thư có đoạn: “Dù gay go mấy, chúng ta cũng không sợ, không hoang mang, vì chúng ta biết trước những sự gay go khốn nạn đó. Vì chúng ta tự tin đủ sức khắc phục nó. Và vì chúng ta chắc thắng lợi cuối cùng sẽ về tay ta”.

X&N
bee.net.vn

Chuyện ký kết Hiệp định Sơ bộ

– Ngày 6/3/1946, hồi ức “Những năm tháng không thể nào quên” của Đại tướng Võ Nguyên Giáp thuật lại: Đó là một thời điểm nghiêm trọng.

Buổi sáng, đụng độ đã nổ ra giữa quân Pháp và quân Tưởng tại cảng biển Hải Phòng. Ngoại giao con thoi giữa tất cả các bên đều diễn ra khẩn trương để tháo ngòi nổ. Tình thế đã khiến cho cả Pháp lẫn Trung Hoa Quốc dân Đảng đều muốn Pháp – Việt có một thoả thuận, ít nhất là tạm thời để tránh xung đột nổ ra.

Ngày 6/3/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh chụp ảnh cùng các thành viên Việt - Pháp tham gia ký Hiệp định Sơ bộNgày 6/3/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh chụp ảnh cùng các thành viên Việt – Pháp tham gia ký Hiệp định Sơ bộ

Tại Bộ Nội vụ, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì Hội đồng Chính phủ họp để hoàn chỉnh dự thảo một văn bản để ký kết với Pháp. Bác thấy đã đến lúc cần đi đến một quyết định bằng cách đưa ra giải pháp “Nước Pháp công nhận nước Việt Nam là một quốc gia tự do” thay vì đòi “độc lập” mà lúc này Pháp không thể thừa nhận và cũng tránh được khái niệm “tự trị” của phía Pháp áp đặt mà chúng ta cũng không thể chấp nhận.

Toàn thể hội đồng đã nhất trí và ký vào biên bản tán thành. Buổi trưa, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ trưởng Hoàng Minh Giám tiếp tục thảo luận những nội dung cuối cùng với đại diện phía Pháp J.Sainteny .

Và 16h30 phút Hiệp định Sơ bộ đã được ký kết tại số nhà 38 Lý Thái Tổ, với những điều khoản khẳng định nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà là một quốc gia tự do, có Chính phủ, Quốc hội, quân đội và tài chính của mình; việc hợp nhất ba kỳ do nhân dân Việt Nam tự giải quyết… và nằm trong Liên bang Đông Dương cũng như trong Khối Liên hiệp Pháp.

Việc ký kết có sự chứng kiến của các bên liên quan và cả đại diện phái bộ Mỹ và lãnh sự Anh.  Phát biểu sau lễ ký kết, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Chúng tôi không thoả mãn vì chưa giành được hoàn toàn độc lập, nhưng chúng tôi sẽ giành được độc lập hoàn toàn”.

Đây là một quyết định sáng suốt nhưng đầy khó khăn. Sáng suốt bởi vì nó giúp cho lực lượng cách mạng còn quá non trẻ tránh phải đương đầu với một cuộc chiến tranh nằm trong mưu đồ của các thế lực diều hâu trong chính giới Pháp và các thế lực chống đối ở trong nước như Việt Quốc, Việt Cách… Còn khó khăn bởi vì phải làm sao cho đồng bào hiểu rằng đó là một sách lược chứ không phải từ bỏ mục tiêu giành độc lập hoàn toàn.

Trong “Lời kêu gọi sau khi ký Hiệp định Sơ bộ”, Bác chân thành bày tỏ: “Đồng bào Việt Nam nghe tôi, tin tôi, vì suốt đời tôi đã tranh đấu chống chế độ thực dân, tranh quyền độc lập cho nước nhà… Vì tin vào sự hoàn toàn độc lập tương lai của nước nhà, tôi cùng Chính phủ đã ký bản Hiệp định Sơ bộ với Chính phủ Pháp…” và kêu gọi “đồng bào hãy bình tĩnh, sẵn sàng chờ lệnh của Chính phủ”.

Vì muốn tránh một cuộc chiến tranh, Bác đã làm hết sức mình, qua nước Pháp 3 tháng rưỡi để vận động hoà bình và hợp tác, ký Tạm ước 14/9… Nhưng khi thực dân Pháp quyết xâm lược nước ta một lần nữa thì chính Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kêu gọi toàn dân nhất tề bước vào cuộc trường kỳ kháng chiến (19/12/1946)…

Chỉ một năm sau ngày ký Hiệp định Sơ bộ, ngày 6/3/1947, khi cuộc kháng chiến toàn quốc đã bước qua tháng thứ ba, gặp gỡ những người làm việc gần mình, Bác giải thích: “Sức ta bây giờ như chàng trai mười sáu mà sức giặc bây giờ như một lão già quỷ quyệt, độc ác. Nếu ta cậy sức đánh bừa thì sao chắc thắng được. Phải vừa đánh vừa nuôi sức mình cho khỏe lên…

Khi sức ta đã khoẻ, giặc suy yếu dần, ta mới lừa thế quật ngã nó, như vậy mới chắc thắng. Cho nên kháng chiến trường kỳ mới nhất định thắng lợi”.

Và những người giúp việc gần Bác nhất từ đó, mang các tên: Kháng, Chiến, Trường, Kỳ, Nhất, Định, Thắng, Lợi.

X&N
bee.net.vn

“Cốt là cuộc thắng lợi cuối cùng”

– Ngày 5/3/1947, trước tình hình quân Pháp từ Hà Nội đang âm mưu chiếm tỉnh lỵ Hà Đông để gây thanh thế, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết nhiều bức thư để ứng phó với tình hình chiến sự đang diễn ra rất gay go, ác liệt và động viên nhân dân tin tưởng vào thắng lợi cuối cùng.

Trước tiên, trong “Thư gửi đồng bào toàn quốc”, sau khi vạch trần thủ đoạn của địch, Bác động viên: “Chúng ta không hoang mang. Chúng ta phải nhẫn nại, phải cương quyết. Thắng lợi cuối cùng nhất định về tay ta”.

Quan điểm ấy được đưa ra trên cơ sở phân tích rằng: “Vì địch càng rải ra nhiều nơi thì lực lượng địch càng mỏng manh. Ta càng sẵn cơ hội mà đánh du kích để tiêu diệt nó dần dần, để đi đến thắng lợi cuối cùng… Trong cuộc kháng chiến lâu dài, tạm thời thắng hay bại là việc thường. Cốt là cuộc thắng lợi cuối cùng”.

Ngày 5/3/1959 Bác Hồ và Tổng thống Sukarno tại cuôc mít tinh của nhân dân Xurabaya.Ngày 5/3/1959 Bác Hồ và Tổng thống Sukarno tại cuôc mít tinh của nhân dân Xurabaya.

Trong “Thư gửi đồng bào hậu phương” viết cùng ngày, Bác kêu gọi: “Đồng bào tản cư đi đến đâu, thì đồng bào ở nơi đó… cần an ủi họ, giúp đỡ họ. Có cơm giúp cơm, có cháo giúp cháo. Ít nhất cũng có một bát nước chè, một lời thân ái gọi là tỏ nghĩa đồng tình: Nhiễu điều phủ lấy giá gương/ Người trong một nước phải thương nhau cùng” và kết luận: “Mỗi một đồng bào phải sẵn lòng bác ái, phải cư xử cho xứng đáng là con Rồng cháu Tiên”.

Không chỉ với đồng bào của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn viết thư gửi Quốc hội và nhân dân Pháp nêu rõ lòng mong muốn được sống hoà bình và hợp tác thân thiện với nước Pháp của nhân dân Việt Nam.

Thư lên án âm mưu gây chiến của các thế lực thực dân ở Đông Dương mà tiêu biểu là của Đô đốc D’Argenlieu và nêu rõ: “Chính sách “bắt nạt” của các người đại diện Pháp ở Đông Duơng đã bắt chúng tôi phải chịu đựng cuộc chiến tranh này. Chiến tranh chồng chất đổ nát và tang tóc kên trên đất nước chúng tôi, nhưng chúng tôi cuơng quyết chịu mọi sự hy sinh để bênh vực những nguyện vọng và quyền lợi của chúng tôi.

Chúng tôi muốn độc lâp và thống nhất. Chúng tôi muốn cộng tác với dân tộc Pháp trong Khối Liên hiệp Pháp. Chúng tôi muốn hoà bình để kiến thiết lại nước chúng tôi. Quốc hội và nhân dân Pháp cần phải làm cho cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn này chấm dứt, cần phải giải quyết vấn đề Việt – Pháp một cách xứng đáng với nước Pháp mới”.

Thư còn vạch rõ chiến dịch quân sự mà giới thực dân phát động vào ngày 2/3/1947 từ thành phố Hà Nội mới chiếm đóng tiếp tục đánh chiếm Hà Đông và một số vùng lân cận chỉ “đoạt được những đống gạch vụn. Nhưng trái lại, họ đã mở đầu cho thời kỳ chiến tranh du kích tốn kém và ác hại, có thể kéo dài tới 10 hay 20 năm”.

Bức thư kết luận: “Máu Pháp và Việt chảy đã nhiều. Chiến tranh không nên kéo dài nữa. Chiến tranh không đưa đến đâu cả. Chúng tôi sẵn sàng lập lại hoà bình. Chỉ cần Quốc hội và nhân dân Pháp có một cử chỉ thân thiện”.

X&N
bee.net.vn

“Tôi đang đứng trước con người phi thường”

– Ngày 4/3/1945, là người dứng đầu Mặt trận Việt Minh, Hồ Chí Minh qua Côn Minh (Trung Quốc) để tìm cách tiếp xúc với quân Đồng Minh, một mặt trao trả viên trung uý phi công Mỹ Shaw được Việt Minh cứu sống ở miền Bắc Việt Nam khi máy bay bị quân Nhật bắn rơi, đồng thời đặt quan hệ đồng minh với các đơn vị quân Mỹ đang có mặt tại đây, trực tiếp là cơ quan trợ giúp mặt đất (AGAS).

Trong thời gian này, Hồ Chí Minh đã tiếp xúc với Cơ quan Thông tin chiến tranh để đọc sách báo, thu thập tin tức và tìm cách liên hệ với Bộ Ngoại giao Mỹ.

Trung uý Charles Fenn, là sĩ quan của cơ quan tình báo chiến lược OSS của Mỹ là người được Bác tiếp xúc sớm nhất và chính viên sĩ quan này đã giới thiệu để người đứng đầu cách mạng Việt Nam tiếp xúc với người đứng đầu lực lượng Đồng minh ở vùng Hoa Nam là tướng Claire Chennault để từ đó xác lập mối quan hệ đồng minh chống phát xít Nhật.

Chủ tịch HCM đọc báo cáo tại kỳ họp lần thứ nhất Quốc hội khoá I ngày 4-3-1946.jpgChủ tịch Hồ Chí Minh đọc báo cáo tại kỳ họp lần thứ nhất Quốc hội khoá I ngày 4/3/1946.

Sau khi Bác Hồ qua đời, Ch. Fenn chính tay đã biên soạn cuốn tiểu sử chính trị của Hồ Chí Minh đầu tiên bằng tiếng Anh (Ho Chi Minh-a biography) được xuất bản tại Mỹ… và hơn một nửa thế kỷ sau, khi đã ngoài 100 tuổi, ông còn viết lời giới thiệu cho cuốn sách của 2 tác giả người Mỹ là Lady Borton và David Thomas xuất bản ở Việt Nam có nhan đề “Hồ Chí Minh – một chân dung”. Ông viết :

“Lần đầu gặp Hồ Chí Minh ở Trung Quốc vào tháng 3/1945, tôi không biết gì về thân thế và sự nghiệp của ông. Khi đó tôi làm việc cho Cơ quan tình báo chiến lựợc, tiền thân của CIA.

Với tôi, công lao của Hồ Chí Minh là chỉ đạo việc cứu sống một phi công Mỹ khi chiếc máy bay của anh ta bị bắn rơi ở Đông Dương. Dù quân Nhật đóng dày đặc ở biên giới Việt – Trung, viên phi công Mỹ vẫn được người Việt Nam đưa an toàn về căn cứ Mỹ ở Côn Minh. Điều đó làm cho Hồ Chí Minh có thể trở thành một đồng minh của Mỹ trong các hoạt động ở Đông Dương.

Trong tâm trạng ấy, tôi nói chuyện với Hồ Chí Minh, một người dáng nhỏ, gầy, hơi già trong chiếc áo vải bông sờn cũ. Chúng tôi nói chuyện bằng tiếng Pháp, bởi vì tôi chưa biết rằng ông còn thông thạo tiếng Anh, không kể tiếng Nga, Đức, Xiêm, hai phương ngữ Trung Hoa và tất nhiên, tiếng Việt và tiếng một vài dân tộc thiểu số ở Việt Nam.

Thoạt đầu, ông không gây cho tôi một ấn tượng gì đặc biệt. Nhưng đến khi tôi cảm nhận được ánh sáng đặc biệt của đôi mắt ông, tôi biết tôi đang đứng trước một con người phi thường.

Sau này, khi hướng dẫn cho ông nghệ thuật tình báo quân sự phương Tây, tôi mới thấy đôi mắt sáng của ông đã ánh lên thần thái một cách mạnh mẽ thế nào qua việc ông nắm vững rất nhanh môn học đầy phức tạp đó…

Nếu chúng ta so sánh Hồ Chí Minh với các lãnh tụ nổi tiếng khác của thế kỷ XX, chúng ta không thể không có ấn tượng khi biết rằng trong một thời gian dài, Hồ Chí Minh đã đi tới nhiều nơi trên thế giới và đã bắt đầu in dấu ấn của mình lên các biến cố quốc tế trước khi cả Mao Trạch Đông, Gandhi, Nehru, Roosevelt, Churchill hay De Gaulle được biết trên thế giới.

Cuộc sống cá nhân mẫu mực, tính kiên định vì nền độc lập và tự do của Việt Nam, những thành quả phi thường của ông bất chấp những khó khăn chồng chất, đã có thể đưa Hồ Chí Minh, trong sự phán xét cuối cùng của nhân loại, lên hàng đầu danh sách những lãnh tụ của thế kỷ XX”.

X&N
bee.net.vn

“Đảng LĐVN sẵn sàng vui vẻ làm trâu ngựa của dân”

– Ngày 3/3/1951, thưc hiện Nghị quyết của Đại hội II, Đảng Lao động Việt Nam tổ chức buổi “lễ ra mắt quốc dân” (một thời kỳ ngày 3/3 được coi là ngày thành lập Đảng Lao động Việt Nam).

Trong “lời kết thúc”, với cương vị là Chủ tịch Đảng mới được bầu, Bác Hồ nhấn mạnh rằng mục đích của Đảng “có thể gồm trong 8 chữ là: Đoàn kết toàn dân, phụng sự Tổ quốc”; nhiệm vụ là lãnh đạo toàn dân đi đến “Kháng chiến thắng lợi, Kiến quốc thành công”; chính sách của Đảng “có thể đúc lại trong mấy chữ là làm cho nước Việt Nam ta Độc lập – Thống nhất – Dân chủ – Phú cường”…

Ngày 3/3/1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm đền Brôbađua, nhân dịp Người thăm Cộng hòa IndonesiaNgày 3/3/1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm đền Brôbađua, nhân dịp Người thăm Cộng hòa Indonesia

“Đảng Lao động Việt Nam là đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, nghĩa là những người thợ thuyền, dân cày và lao động trí óc kiên quyết nhất, hăng hái nhất, trong sạch nhất, tận tâm tận lực phụng sự Tổ quốc và nhân dân, những người mà: Giàu sang không thể quyến rũ. Nghèo khó không thể chuyển lay. Uy lực không thể khuất phục…” vì thế “Đảng Lao động Việt Nam không sợ kẻ địch nào dù cho chúng hung tợn đến mấy, không sợ nhiệm vụ nào dù nặng nề nguy hiểm đến mấy, nhưng Đảng Lao động Việt Nam sẵn sàng vui vẻ làm trâu ngựa, làm tôi tớ trung thành của nhân dân.

Tuy vậy, Đảng Lao động Việt Nam cũng do nhiều người tổ chức lại mà thành. Mà người thì ai cũng có ít nhiều khuyết điểm. Vì vậy, Đảng Lao động Việt Nam mong mỏi và hoan nghênh sự phê bình thật thà của các đảng phái và đoàn thể bạn, của các nhân sĩ và của toàn thể đồng bào để cho Đảng tiến bộ mãi”.

Thành lập từ mùa Xuân 1930, Đảng Cộng sản Đông Dương đã tuyên bố “tự giải tán” để góp phần tăng cường khối đoàn kết toàn dân trong bối cảnh vô cùng phức tạp sau ngày  giành được độc lập. Nói cách khác, sự thành lập Đảng Lao động Viêt Nam cũng có ý nghĩa là sự “ra mắt, trở lại hoạt động” của Đảng Cộng sản ở nước ta.

Vào thời điểm này không còn quan điểm về một Đảng Cộng sản Đông Dương và ở Lào và Campuchia các đảng cộng sản cũng đã được thành lập đoàn kết cùng Đảng Lao động Việt Nam trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung.

Cùng ngày hôm đó, Bác còn tham dự lễ khai mạc Đại hội thống nhất 2 Mặt trận Việt Minh và Liên Việt và bày tỏ niềm sung sướng khi chứng kiến “rừng cây đại đoàn kết ấy nở hoa kết quả và gốc rễ của nó đang ăn sâu lan rộng khắp toàn dân và nó có một cái tương lai “trường xuân bất lão” và “chẳng những là toàn dân Việt Nam đại đoàn kết mà toàn dân 2 nước anh em là Cao Miên và Ai Lao cũng đi đến đại đoàn kết”.

X&N
bee.net.vn

Bác phê phán thói công thần của một số chính trị phạm

 – 100 ngày sau khi chiến tranh lan rộng ra cả nước, nhận thức rằng cuộc kháng chiến sẽ phải trường kỳ và vô cùng gian khổ cần đến một đội ngũ những cán bộ và chiến sĩ có đủ phẩm chất để vượt qua những thử thách, ngày 1/3/1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết “Thư gửi các đồng chí Bắc Bộ”.

Bức thư viết: “Trong lúc dân tộc đang ở ngã tư đường, chết hay sống, mất hay còn, mỗi đồng chí và toàn cả đoàn thể phải đem tất cả tinh thần và lực lượng ra để đưa toàn dân quay về một hướng, nhằm vào một mục đích đánh đuổi thực dân Pháp làm cho nước nhà thống nhất và độc lập. Vì vậy mỗi đồng chí và toàn Đoàn thể phải: sáng suốt, khôn khéo, cẩn thận, kiên quyết, siêng năng, nhất trí”.

Tháng 3/1956, Bác thăm lớp bổ túc văn hóa của bà con lao động ở khu Lương Yên, Hà NộiTháng 3/1956, Bác thăm lớp bổ túc văn hóa của bà con lao động ở khu Lương Yên, Hà Nội.

Cuộc trường kỳ kháng chiến này, tức là dân tộc cách mệnh đến trình độ tối cao. Trong lúc này, tư tưởng và hành động của mỗi một đồng chí rất có quan hệ đến toàn quốc. Nếu một sơ suất, một việc sơ suất là có thể hỏng việc to; sai một ly đi một dặm”.

Thư còn yêu cầu “chúng ta phải kiên quyết tẩy sạch những khuyết điểm” và nhà lãnh đạo cuộc kháng chiến vạch rõ những khuyết điểm đó là: “địa phương chủ nghĩa, óc bè phái, óc quân phiệt quan liêu, óc hẹp hòi, ham chuộng hình thức, làm việc lối bàn giấy, vô kỷ luật, ích kỷ hủ hoá” với những phân tích rất sâu sắc .

Ví như khi đề cập tới “óc bè phái”, Bác viết: “Ai hẩu với mình thì dù nói không đúng cũng nghe, tài không có cũng dùng. Ai không hẩu với mình thì dù có tài cũng dìm họ xuống, họ phải mấy cũng không nghe…”; với “óc quân phiệt quan liêu thì “Khi phụ trách ở vùng nào thì như một ông vua con ở đấy, tha hồ hách dịch, hoạnh hoẹ”.

Đối với cấp trên thì xem thường, đối với cấp dưới thì cậy quyền lấn át. Đối với quần chúng thì ra vẻ quan cách làm cho quần chúng sợ hãi”. Với “óc hẹp hòi”, Bác viết: “Chúng ta phải nhớ rằng: người đời ai cũng có chỗ hay chỗ dở. Ta phải dùng chỗ hay của người và giúp người chữa chỗ dở. Dùng người như dùng gỗ. Người thợ khéo thì gỗ to, nhỏ, thẳng, cong đều tuỳ chỗ mà dùng được Tư tưởng hẹp hòi thì hành động cũng hẹp hòi. Người mà hẹp hòi ít kẻ giúp. Đoàn thể mà hẹp hòi thì không thể phát triển”.

Khi nói đến khuyến điểm “ích kỷ hủ hoá”, Bác viết phê phán thói công thần của một bộ phận lãnh đạo xuất thân từ chính trị phạm: “Vẫn biết nhà pha đế quốc là nơi huấn luyện, vẫn biết Việt Minh là đoàn thể gồm những người yêu nước, chăm lo việc cứu nước. Nhưng hẳn ngoài Việt Minh còn biết bao nhiêu người hay người giỏi mà Việt Minh chưa tổ chức được.

Vả lại nếu chính trị phạm, nếu người của Mặt trận giỏi hơn ai hết  thì những người không có hân hạnh ở tù, những người chưa vào Mặt trận vô tài, vô dụng cả sao? Mỗi đồng chí chúng ta phải có thái độ khiêm tốn, càng cựu, càng giỏi, càng phải khiêm tốn, phải có lòng cầu tiến bộ, phải nhớ câu nói của ông thầy chúng ta “Phải học, Học thêm, Học mãi” (đó là câu của Lênin).

Bức thư còn nêu lên những biện pháp để thực hiện được vai trò của đội ngũ cán bộ trong đó nhấn mạnh đến công tác giao thông: “Giao thông là mạch máu của mọi việc, giao thông tắc thì việc gì cũng khó. Giao thông tốt, thì việc gì cũng dễ dàng”. Cũng với nội dung căn bản như bức thư này, Bác còn viết “gửi các đồng chí Trung Bộ”. Đây cũng có thể coi là những phác thảo chuẩn bị cho cuốn sách “Sửa đổi lối làm việc” biên soạn một cách hệ thống được xuất bản tháng 10 năm đó (1947).

X&N

cand.com.vn

Ngày Bác Hồ bắt tay viết sách

 – Ngày 28/2/1930, Nguyễn Ái Quốc viết thư gửi Văn phòng đại diện Đảng Cộng sản Anh tại Quốc tế Cộng sản đề nghị gửi cho mình các tờ báo cánh tả như các tờ “La Vie Ouvrière” (Đời sống công nhân) và tạp chí “Quốc tế Công hội Đỏ”, đồng thời đề nghị gửi cả mấy tờ báo cánh hữu, báo “tư sản”: để che mắt và ứng phó “nếu cảnh sát thấy rằng tôi đã nhận những  tờ báo chí “lật đổ”.

Cùng ngày hôm đó, nhà cách mạng Việt Nam lúc này vẫn đang ở Hồng Kông sau khi đã thông báo với Quốc tế Cộng sản về sự kiện “Đảng Cộng sản Việt Nam đã được thành lập”, đã gửi “thư cho các đồng chí Liên Xô” nói về ý định sẽ viết một cuốn sách bằng tiếng Việt để giới thiệu về đất nước Xô Viết:

Ngày 28/2/1969, Bác tiếp các anh hùng, dũng sĩ miền Nam ra thăm miền BắcNgày 28/2/1969, Bác tiếp các anh hùng, dũng sĩ miền Nam ra thăm miền Bắc

“Các đồng chí thân mến,

Người An Nam, nhất là những người lao động, muốn biết nước Nga. Nhưng các sạp báo cách mạng đều bị pháp luật hà khắc của đế quốc Pháp nghiêm cấm. Hơn nữa, công nhân và nông dân An Nam, phần lớn không biết chữ. Những người có học chút ít không biết thứ tiếng nào khác ngoài tiếng An Nam.

Nhiệm vụ của cúng tôi là phải nói với họ về Tổ quốc của giai cấp vô sản như thế nào. Để làm viêc này tôi có ý đinh viết một quyển sách, bằng tiếng An Nam, đương nhiên, dưới hình thức “Những kỷ niệm về cuộc du lịch của tôi”. Tôi  mong rằng nó sẽ sinh động, hấp dẫn, dễ đọc và có nhiều mẩu chuyện…”

Bức thư kèm theo một đề cương chi tiết về  nước Nga trước và trong cách mạng và nước Nga ngày nay. Nội dung của nó đề cập tới những thay đổi lịch sử, vai trò của các tầng lớp đối với cách mạng và các tổ chức cách mạng. Về nước Nga sau cách mạng, quyển sách sẽ giới thiệu về tổ chức nhà nước và xã hội của nước Nga mới, đời sống của các tầng lớp xã hội, vấn đề ruộng đất, chính sách “Kinh tế mới”,  các thành tựu về kinh tế giáo dục, văn hoá và y tế cùng  Quốc tế Cộng sản và các tổ chức quốc tế …

Để viết quyển sách này, Nguyễn Ái Quốc đề nghị Quốc tế Cộng sản cung cấp thêm tư liệu gửi qua Đảng Cộng sản Trung Quốc đồng thời cũng nêu khó khăn về in ấn, nhất là thiếu các con chữ la tinh đặc thù của tiếng Việt là có nhiều dấu…

X&N
bee.net.vn

“Việt Nam và Indonesia luôn gắn bó với nhau”

– Ngày 27/2/1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh  đặt chân tới thủ đô Jakartar chính thức mở đầu chuyến thăm hữu nghị nước Cộng hoà Indonesia. Tổng thống Sukarno, chính phủ và nhân dân Indonesia đã nồng nhiệt đón Đoàn.

Ngoài các cuộc đi thăm các nước xã hội chủ nghĩa, sau Ấn Độ và Myanmar, Công hoà Indonesia là quốc gia thứ ba ở châu Á và cũng là các quốc gia dân tộc chủ nghĩa mà Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã đến thăm. Riêng Cộng hoà Indonesia cũng giành được độc lập cùng thời điểm với Việt Nam khi phát xít Nhật đầu hàng Đồng Minh.

Cuối tháng 2/1957, Bác dự Đại hội Văn hóa và Văn nghệ Toàn quốc lần thứ IICuối tháng 2/1957, Bác dự Đại hội Văn hóa và Văn nghệ Toàn quốc lần thứ II

Trước khi máy bay cất cánh từ sân bay Gia Lâm (Hà Nội), Bác đã phát biểu với những người ra tiễn rằng:  “Chúng tôi sẽ thay mặt đồng bào ta mang tình hữu nghị thắm thiết đến với nhân dân Indonesia anh em. Chắc rằng lúc chúng tôi trở về sẽ đem theo món quà quý báu, tức là tình hữu nghị của nhân dân Indonesia đối với nhân dân ta”. Máy bay rời Hà Nội ngày 26/2 những phải quá cảnh tại Rangun, thủ đô Myanmar.

Phát biểu tại Quốc hội Indonesia (ngày 28/2), Bác khẳng định: “Lịch sử hai nước chúng ta chứng tỏ rằng: đoàn kết toàn dân là một yếu tố quyết định cho sự thắng lợi của chúng  ta. Sự đoàn kết chặt chẽ giữa các nước Á-Phi cũng là yếu tố quan trọng để thắng chủ nghĩa thực dân đế quốc… Nhiều nước Á Phi đã giành được độc lập. Các nước Á-Phi chúng ta ngày nay càng có quan hệ mật thiết với nhau, ủng hộ lẫn nhau, hợp tác với nhau trong sự nghiệp chung là giữ gìn hoà bình, bảo vệ độc lập và xây dựng đất nước…”.

Tại bữa tiệc do Tổng thống Indonesia Sukarno chiêu đãi, trong đáp từ, Bác chia sẻ: “Hai dân tộc Việt Nam và Indonesia đều có những giai đoạn lịch sử giống nhau, đã từng kiên quyết chiến đấu chống chủ nghĩa thực dân, đã cùng một lúc đứng lên đập tan xiềng xích nô lệ…” .

Còn trong diễn văn tại cuộc mít tinh chào mừng của nhân dân Băng Đung, Bác khẳng định ràng nhân dân hai nước “gắn bó với nhau trong cuộc cách mạng vĩ đại giành độc lập dân tộc đã luôn luôn đồng tình và ủng hộ nhau lẫn nhau, ngày nay càng đoàn kết ủng hộ nhau hơn nữa”.

Trong lời cảm ơn khi nhận bằng “bác si danh dự” của Trường Đại học Patgiangiaran (Băng Đung), Bác nói: “Thế giới ngày nay đang tiến những bước khổng lồ về mặt kiến thức của con người  Khoa học tự nhiên cũng như khoa học xã hội không ngừng mở rộng ra những chân trời mới, con người ngày càng làm chủ được thiên nhiên, cũng như làm chủ được vận mệnh của xã hội và của bản thân mình. Thế hệ thanh niên như mùa Xuân, như vì sao mới mọc, chúng tôi đặt rất nhiều hy vọng vào các bạn…”.

Còn khi nhận tấm “Huân chương Du kích” do đích thân Tổng thống Sukarno trao, Bác bày tỏ : “…tôi rất sung sướng nhận Huân chương và sẽ trao lại vinh dự này cho toàn thể nhân dân Việt Nam”.

Trên đường trở về Bác ghé qua Côn Minh (Trung Quốc) và ngày 11/3/1959 về tới Hà Nội. Ngày 24/6 cùng trong năm đó Tổng thống Sukarno bắt đầu chuyến viếng thăm Việt Nam…

X&N
bee.net.vn

“Để giữ lấy nền độc lập càng cần đoàn kết hơn”

– Ngày 26/2/1947 Chủ tịch Hồ Chí Minh thảo điện mật gửi Đặng Việt Châu, phái viên của Chính phủ tại Thanh Hoá yêu cầu nhanh chóng củng cố quyền lực của chính quyền ở 6 châu thượng du vẫn phải thuộc quyền hành chính của tỉnh và phải có đại diện chính phủ tham gia các Uỷ ban của 6 châu thượng du đó.

Đồng thời Bác nhắc Văn phòng gửi điện cho lãnh đạo tỉnh Thanh Hoá phải đăng lá thư “Gửi đồng bào thượng du” và động viên các vị quan lang và dân chúng để củng cố hậu phương vào thời điểm chiến tranh đang lan rộng.

Tháng 2/1961, Bác Hồ trở lại thăm chiến khu Cao Bằng xưaTháng 2/1961, Bác Hồ trở lại thăm chiến khu Cao Bằng xưa.

Bức thư “Gửi đồng bào thượng du” viết: “Trong cuộc kháng chiến cứu quốc này, đồng bào thiểu số đã tỏ lòng nồng nàn yêu nước… Tôi nhận được nhiều thơ của đồng bào Thổ, Mường, Nùng, Mèo, Mán… đều nói kiên quyết ủng hộ Chính phủ, kháng chiến đến cùng, chống giặc thực dân, để giữ gìn giang sơn đất nước…

Tôi thay mặt Chính phủ cảm ơn đồng bào và trân trọng hứa rằng: Đến ngày kháng chiến thành công, Tổ quốc và Chính phủ sẽ luôn luôn ghi nhớ những công lao của đồng bào…”.

Đồng bào các dân tộc ít người ở Cao Bằng đón chào BácĐồng bào các dân tộc ít người ở Cao Bằng đón chào Bác.

Trong cuộc vận động giải phóng dân tộc, Bác Hồ luôn quan tâm đến công tác vận động bà con các dân tộc ít người và trong thực tế, chiến khu cách mạng thường là địa bàn sinh sống của cộng đồng nhiều thành phần dân tộc ít người đã có những đóng góp to lớn vào thắng lợi của cách mạng.

Ngay sau ngày, giành được chính quyền, tại thủ đô Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh một mặt vẫn quan tâm cử người ở lại chiến khu củng cố căn cứ địa phòng khi phải trở lại, mặt khác luôn quan tâm đến các dân tộc ít người trong quá trình xây dựng chính sách quốc gia.

Ngày 23/11/1945, tiếp đoàn đại biểu các dân tộc thiểu số tỉnh Tuyên Quang về thăm Thủ đô, Bác phát biểu:

“Trước khi nước ta được độc lập, các đồng bào trên đó ai nấy đã nhiệt tâm yêu nước, yêu nòi, đã gắng sức giúp anh em Việt Minh trong cuộc vận động giải phóng dân tộc rất nhiều. Chính tôi có đi qua các miền anh em ở, tới đâu cũng nhận thấy anh em Thổ, Mán (nay gọi là dân tộc Dao và Tày) ai nấy đều một lòng mong Tổ quốc độc lập, ghét oán bọn giặc xâm lăng.

Trước kia, còn thời Pháp, Nhật, tất cả già trẻ, đàn ông, đàn bàn… ai cũng tham gia cách mạng hoặc ra mặt trận giết giặc, hoặc ở đằng sau trồng trọt ngô khoai, giúp cho quân lính mình. Bây giờ, nước ta độc lập, tôi thay mặt đồng bào Kinh cảm ơn anh chị em….

Bao giờ bọn giặc Pháp không trở lại được nữa, đồng bào Kinh sẽ được rảnh rang giúp đồng bào Thổ, Mán nhiều hơn. Chính phủ cũng sẽ giúp cho đồng bào Thổ, Mán như sẽ giúp cho các dân tộc nhỏ khác đuợc có đủ ruộng làm, đủ trâu bò cày…

Tôi nhờ anh chị em về nói lại với đồng bào trên ấy biết rằng đồng bào Kinh và Chính phủ thương mến đồng bào Mán, Thổ, coi như anh chị em một nhà và khuyên anh chị em gắng sức để đi tới thái bình để cùng hưởng chung”.

Và chỉ 10 ngày sau, ngày 3/12/1945, phát biểu tại Hội nghị đại biểu các dân tộc thiểu số Việt Nam họp tại Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ:

“Nhờ sức đoàn kết tranh đấu chung của tất cả các dân tộc, nước Việt Nam ngày nay được độc lập, các dân tộc thiểu số được bình đẳng cùng dân tộc Việt Nam, tất cả đều như anh chị em trong một nhà, không còn có sự phân chia nòi giống, tiếng nói gì nữa. Trước kia, các dân tộc để giành độc lập phải đoàn kết, bây giờ để giữ lấy nền độc lập càng cần đoàn kết hơn…” đồng thời nêu rõ:

“Anh em thiểu số chúng ta sẽ được: 1. Dân tộc bình đẳng, Chính phủ sẽ bãi bỏ hết những hủ tục cũ, bao nhiêu bất bình trước sẽ sửa chữa đi; 2. Chính phủ sẽ gắng sức giúp cho các dân tộc thiểu số về mọi mặt…; Các dân tộc được tự do bày tỏ nguyện vọng và phải cố gắng để cùng giành cho bằng đuợc độc lập hoàn toàn và thái bình”.

X&N
bee.net.vn

Tướng Giáp, Quốc vương Norodom Sihanouk và Việt Nam

 – Ngày 25/2/1965, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư chào mừng Hội nghị Nhân dân Đông Dương (họp tại Phnom Penh, thủ đô Vương quốc Campuchia từ 1 đến 9/3/1965) vạch rõ đế quốc Mỹ đã phá hoại Hiệp định Geneve 1954 về Đông Dương, và 1962 về Lào, xâm phạm chủ quyền các quốc gia của 3 nước Đông Dương.

Bức thư kết luận: “Nhân dân ba nước anh em Việt Nam, Campuchia và Lào vốn đã luôn luôn cùng nhau sát cánh chống kẻ thù chung là chủ nghĩa thực dân, đế quốc. Đứng trước nguy cơ một cuộc chiến tranh mở rộng do Mỹ gây nên, nhân dân ba nước chúng ta đoàn kết chặt chẽ chống đế quốc Mỹ, thì chúng ta nhất định thắng lợi”.

Trước đó, ngày 1/2/1965, báo Nhân Dân đã đăng Điện cảm ơn của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi Thái tử Quốc trưởng Vương quốc Campuchia. Norodom Sihanouk bày tỏ: “Tôi hết sức cảm kích về bức điện của Ngài nghiêm khắc lên án những hành động xâm lược gần đây của đế quốc Mỹ đối với nước Việt Nam Dân chủ Công hoà và hoan nghênh những thắng lợi của Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Sự ủng hộ hoàn toàn của Ngài đã một lần nữa biểu hiện tinh thần bất khuất của nhân dân Khơme kiên quyết chống sự can thiệp và xâm lược của đế quốc Mỹ và tay sai và biểu hiện mối tình đoàn kết anh em của nhân dân Khơme đối với nhân dân Việt Nam… Nhân dân Việt Nam quyết đoàn kết với nhân dân Khơme anh em và với các dân tộc khác ở Đông Dương trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung là đế quốc Mỹ…”.

Tháng 2/1966, Bác gặp ông Cayxỏn Phômvihản.Tháng 2/1966, Bác gặp ông Cayxỏn Phômvihản.

Và sau Hội nghị, ngày 6/3/1965, Bác cũng gửi điện cảm ơn tới Norodom Sihanouk bày tỏ cự cảm kích trước những quan điểm của “Ngài chủ tịch Hội nghị nhân dân Đông Dương” và đánh giá kết quả của Hội nghị  “là một bằng chứng tỏ rõ ý chí thống nhất của nhân dân ba nước chúng ta là kiên quyết đấu tranh chống sự xâm lược của đế quốc Mỹ và ra sức bảo vệ hoà bình, độc lập dân tộc và toàn vẹn lãnh thổ…”.

Quan điểm tích cực của Quốc trưởng Campuchia đã dẫn đến cuộc đảo chính của Lon Nol do Mỹ bảo trợ (3/1970) và tiếp tục thúc đẩy mối liên minh Việt-Miên-Lào vốn đã từng có trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Khi cuộc chiến tranh của Mỹ lan rộng khắp Đông Dương, các hội nghị cấp cao nhân dân vẫn tiếp tục được duy trì cho đến ngày Mỹ phải rút lui hoàn toàn khỏi Đông Dương (1975) và sự liên minh chiến đấu thực sự có hiệu quả.

Sau này, trong hồi ức của mình (Từ cuộc chiến chống CIA đến người tù của Khơme Đỏ ), Norodom Sihanouk viết: “Tôi không muốn khen các bạn Việt Nam quá lời cũng như không muốn bày tỏ niềm hân hoan quá đáng khi được là bạn đồng minh chiến đấu của Việt Nam.

Nhưng quả là các bạn Việt Nam đã lập nên những chiến công đáng kinh ngạc nhờ tinh thần dũng cảm và tận tuỵ. Và tướng Võ Nguyên Giáp là một thiên tài quân sự, một nhà chiến lược vĩ đại trong mọi thời đại, không còn phải bàn cãi gì nữa.

Một lần tôi đến thăm ông Giáp trong lúc quân đội Sài Gòn đang bắt đầu đánh chiếm Hạ Lào, hồi tháng 2/1971. Chúng tôi dành cả buổi chiều ngồi điểm lại tình hình Campuchia sau đó cùng ăn cơm tối. Sau bữa cơm lại cùng uống cà phê và nghe nhạc. Ông Giáp có vẻ không quan tâm gì đến thời gian. Cuối cùng, tôi đành phải nói:

– Thưa Tướng quân ! Tôi quả là có lỗi, đã làm mất thời giờ của Tướng quân quá nhiều. Tôi quả thật không hiểu được tại sao giữa lúc chiến dịch đáng diễn ra ác liệt ở Lào, Tướng quân lại vẫn tiếp đãi tôi quá lâu như vậy?

Vơi nụ cười hiền hậu điểm chút hóm hỉnh, ông Giáp trả lời: Ồ! Chiến dịch này đã được chuẩn bị kỹ từ lâu rồi. Các đồng chí Pathet Lào của chúng tôi đã có đủ mọi thứ cần thiết. Tôi không còn phải quan tâm đến vấn đề gì nữa. Sáng nay, tôi nghe đài, thấy Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố quân đội của Thiệu sẽ ở lại Lào đến tháng 6. Tôi cho rằng chậm nhất là cuối tháng 3 chúng sẽ phải rút hết.

Quả nhiên, đến ngày 25/3/1971, những đơn vị cuối cùng của Thiệu đã phải tháo chạy khỏi Lào… Như trước kia tôi đề nghị, tướng Giáp đã cử các huấn luyện viên quân sự tới giúp tôi đào tạo cán bộ quân sự và kiến thức cho những cán bộ quân sự đã có kiến thức nhất định.

Tôi yêu cầu hai nghìn người! Ông Giáp đưa sang đúng hai nghìn người, không hơn không kém và toàn là những cán bộ phẩm chất tuyệt vời. Tướng Giáp đã biết chọn lọc một cách rất đáng ca ngợi, những huấn luyện viên không những có năng lực cao về quân sự mà còn có cả đạo đức tốt của con người. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ, họ lại được lệnh rút hết về nước…Chúng tôi có những trận chiến đấu phối hợp với Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam, nhưng đều theo đúng các nguyên tắc đề ra trong Hôi nghị cấp cao nhân dân Đông Dương…

Chúng tôi luôn ghi nhớ sâu sắc công ơn của các bạn chiến đấu Việt Nam đã giúp đỡ chúng tôi trong những ngày kháng chiến, về những vũ khí mà Quân giải phóng miền Nam Việt Nam đã cung cấp cho chúng tôi, về những huấn luyện viên quân sự mà miền Bắc Việt Nam đã cử tới chỉ bảo quân đội chúng tôi. Những cán bộ đó còn giá trị gấp mười lần hàng trăm triệu đôla mà Mỹ đã cho bọn Lon Nol Xiric Matak …Có lần tôi đã nói với các bạn người Pháp: Lẽ tôi nhờ cậy Việt Minh là hợp lý vì họ là những chiến sĩ du kích giỏi nhất thế giới!”.

X&N
bee.net.vn