Tag Archive | Văn hóa – Xã hội

Cả cuộc đời vì sự chấn hưng dân tộc

Kỷ niệm 100 năm Ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước (5-6-1911/5-6-2011)

QĐND – Đã có rất nhiều học giả, nhà nghiên cứu dành không ít thời gian và tâm huyết để làm sáng rõ và hiểu sâu sắc, toàn diện hơn ý nghĩa lịch sử, giá trị thời đại của chân lý, tư tưởng Hồ Chí Minh đối với sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Nhân dịp kỷ niệm 100 năm Ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước, trong bài viết này, chúng tôi xin ghi lại buổi trò chuyện, trao đổi với PSG, nhà giáo nhân dân Lê Mậu Hãn – nguyên Chủ nhiệm Khoa Lịch sử, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (nay là Trường Đại học Khoa học-Xã hội và Nhân văn và Trường Đại học Khoa học tự nhiên thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội).

3 kỳ tích làm nên thắng lợi

Suốt cả cuộc đời, Hồ Chí Minh hiến dâng cho sự nghiệp chấn hưng của dân tộc Việt Nam. Hiện nay, dân tộc Việt Nam tiếp tục đi theo con đường của Người đã vạch ra. Đặc biệt, một điều vô cùng đáng khâm phục ở Hồ Chí Minh là Người luôn đi trước, đi trong hoặc song hành chứ không đi sau các sự kiện lớn của dân tộc và của thế giới. Nói riêng về quá trình tìm đường cứu nước của Bác, có thể đưa ra 3 luận cứ làm sáng tỏ điều này.

Nguyễn Tất Thành làm phụ bếp trên con tàu Amiran Latusơ Tơrêvin, đưa Người ra đi tìm đường cứu nước năm 1911. Ảnh tư liệu.

Thứ nhất, phải là người có tư duy mẫn cảm với thời cuộc thì Hồ Chí Minh mới có thể lựa chọn một con đường cứu nước, cứu dân mới vào đầu thế kỷ XX, khi các con đường cứu nước mà các vị tiền bối thực thi đều bế tắc và thất bại. Phải có một tinh thần phê phán đúng đắn, sự thấm nhuần vượt trội chủ nghĩa yêu nước nồng nàn, mới có được chuyến ra đi lịch sử của Người vào ngày 5-6-1911. Theo Người, con đường cứu nước của Hoàng Hoa Thám còn nặng cốt cách phong kiến đã không thể dẫn tới thắng lợi; con đường cầu viện Nhật Bản của Phan Bội Châu chẳng khác gì “đưa hổ cửa trước, rước beo cửa sau”; còn con đường cải lương của Phan Châu Trinh thì chẳng khác gì đến xin giặc rủ lòng thương. Việc không lặp lại thất bại của những người đi trước là một điều khó khăn, nhưng tìm ra một con đường mới phù hợp với quy luật phát triển của lịch sử, đưa dân tộc giành được độc lập, tự do là một điều còn khó khăn hơn nhiều lần. Đây chính là một sự khước từ cái sai để đi tìm cái đúng; sự từ bỏ cái lạc hậu, lỗi thời để đi tìm cái tiên tiến, phù hợp với thời đại mới. Đó là sự vượt qua những lối mòn cũ kỹ để đi tìm được con đường mà dân tộc cần đi. Đó là sự khẳng định một bản lĩnh, một khả năng suy nghĩ độc lập và sáng tạo mà lịch sử đang đòi hỏi.

Có thể nói, vào thời đó, yêu nước nhiệt thành thì có rất nhiều người. Nhưng yêu nước để có một tư duy mẫn cảm, tư duy phê phán sắc sảo về các con đường yêu nước trước đó hoặc đương thời của các bậc cha anh rồi ra đi tìm con đường cứu nước mới, thì dường như chỉ có ở Nguyễn Tất Thành.

Điểm thứ hai trong sự nghiệp cách mạng tìm đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc thể hiện rất rõ ở chỗ: Không phải bất cứ ai đều thành công trong việc đi tìm con đường cứu nước mới. Ở Hồ Chí Minh hội tụ đủ những yếu tố cần thiết cho sự dấn thân vào quá trình tìm đường, mở đường, dẫn đường cho dân tộc Việt Nam phát triển: Ý chí lớn lao, tinh thần ham học hỏi, sẵn sàng vượt qua mọi gian khó, sẵn sàng hòa mình vào cuộc sống của người lao động để cảm nhận thời cuộc. Người không có bằng cấp của học đường, nhưng ở Người hội tụ những tri thức uyên bác, cổ kim Đông – Tây, là sự chắt lọc, tiếp biến văn hóa, đúc kết thành khối tri thức và bản lĩnh chính trị, nhân cách cao đẹp. Nguyễn Tất Thành tiếp nhận chủ nghĩa Mác – Lê-nin, qua đó tìm thấy con đường cứu nước đúng đắn là bởi những yếu tố đó, khác với những bậc tiền bối yêu nước trước kia.

Điểm thứ ba làm nên thắng lợi trong sự nghiệp tìm đường cứu nước của Hồ Chí Minh là đã tìm được con đường cứu nước đúng đắn, nhưng phải vận dụng một cách sáng tạo, phù hợp với tình hình thực tiễn của dân tộc, của đất nước. Sau năm 1920 là thời gian trường kỳ truyền bá, huấn luyện, tổ chức để đưa con đường cứu nước đúng đắn về thực hành trên đất nước Việt Nam, mà một vấn đề có tính chất then chốt là thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam – một tổ chức để lãnh đạo, đoàn kết toàn dân tộc, hòa cùng thời thế, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại và sức mạnh quốc tế để dân tộc ta phát triển theo con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

Hồ Chí Minh luôn sống trong nhịp đập của đất nước bởi sự nghiệp của Người, tư tưởng của Người vẫn đồng hành cùng dân tộc. Tư tưởng của Người có trong hành trang của dân tộc Việt Nam và nhân loại cần lao tiến bước vào văn minh, tiến bộ. Cả cuộc đời Hồ Chí Minh là một thông điệp cho sự phát triển. Điều đó trở thành một tài sản tinh thần quý báu cho dân tộc Việt Nam, cho nhân dân lao động trên toàn thế giới.

Giá trị thời đại – nhìn từ góc độ hội nhập quốc tế

Xuất phát từ các giá trị văn hóa – văn minh nhân loại, lấy văn hóa soi đường cho quốc dân đi, đem văn minh chống lại dã man, vì vậy, sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng con người dưới sự dẫn dắt của Chủ tịch Hồ Chí Minh là sự nghiệp văn hóa – văn minh vĩ đại ở Việt Nam, trong đó, kết hợp chặt chẽ giữa giải phóng với phát triển và hoàn thiện con người. Đó là bí quyết thành công của cách mạng Việt Nam mà Người đúc rút từ tinh hoa văn hóa dân tộc và nhân loại vận dụng vào nước ta. Điều đó cắt nghĩa trong mọi hoàn cảnh lịch sử, Người luôn chủ trương nâng cao dân trí, phát triển văn hóa, đẩy mạnh giáo dục đạo đức và nhân cách cho toàn dân, đi đôi với mở cửa tiếp thu tinh hoa văn hóa – văn minh nhân loại. Xã hội mà Người chủ trương xây dựng là sự kết hợp giữa việc thừa kế, phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp của văn hóa – văn minh dân tộc với tiếp thu tinh hoa văn hóa – văn minh nhân loại, thấm nhuần sâu sắc chủ nghĩa yêu nước – nhân văn Việt Nam và chủ nghĩa quốc tế trong sáng.

Suy cho cùng, con đường mà Chủ tịch Hồ Chí Minh tìm thấy và dẫn dắt dân tộc thực hiện đã đưa tới những thắng lợi vĩ đại của dân tộc, đồng thời cũng là đóng góp vào giải quyết khát vọng lớn lao nhất, mục tiêu văn hóa – văn minh cao cả nhất của nhân loại là cải tạo thế giới để giải phóng con người.

Một thế kỷ đã trôi qua, chúng ta càng thêm thấu hiểu ý nghĩa lịch sử và giá trị thời đại của sự kiện Hồ Chí Minh “đi ra thế giới” để thâu thái những giá trị văn hóa – văn minh nhân loại, tìm đường cho sự sinh tồn và phát triển của dân tộc. Ngày 5-6-1911 không chỉ là sự kiện đánh dấu sự khởi đầu của quá trình tìm đường cứu nước của người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành, mà còn là sự kiện mở ra quá trình Việt Nam từng bước hội nhập vào dòng tiến hóa theo xu thế mới của nhân loại dưới sự dẫn dắt của Người. Trong quá trình đó, trên cơ sở tiếp nhận những giá trị văn hóa – văn minh nhân loại và nắm bắt được xu thế phát triển của loài người trong thời đại mới, thông qua con đường cách mạng mà Người đã lựa chọn, Việt Nam đã kết hợp thành công sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, tạo nên sức mạnh tổng hợp đem đến những thắng lợi vĩ đại cho cách mạng Việt Nam trong một thế kỷ qua. Mặt khác, trong quá trình đó, dân tộc ta đã góp phần vào cuộc đấu tranh chung của nhân loại, làm cho thế kỷ XX trở thành thế kỷ phi thực dân hóa, thúc đẩy lịch sử loài người tiến lên theo hướng tiến bộ. Bởi vậy, kiên trì con đường cách mạng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn không chỉ giữ vững mục tiêu độc lập – tự do – hạnh phúc cho dân tộc và mỗi người dân Việt Nam, mà còn là giữ vững các nhân tố đảm bảo cho thắng lợi của cách mạng nước ta để đất nước tiếp tục tiến bước mạnh mẽ, nhằm hoàn thiện những mục tiêu vì dân tộc, vì con người Việt Nam, góp phần vào cuộc đấu tranh chung của nhân loại vì hòa bình, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới.

Ngày nay, trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, với các giá trị trên đây, sự kiện lịch sử Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước càng có ý nghĩa thực tiễn. Với đường lối đổi mới của Đảng, trên thực tế, sự hội nhập quốc tế của Việt Nam cũng là tiếp tục quá trình dân tộc ta đi ra thế giới trong điều kiện lịch sử mới theo tư tưởng Hồ Chí Minh để thâu nhận các giá trị văn hóa – văn minh nhân loại và nắm bắt xu thế phát triển của loài người, nhằm vận dụng và tiến hành thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tạo ra các điều kiện để thực hiện ngày một hoàn chỉnh các nội dung của tiêu chí độc lập – tự do – hạnh phúc cho dân tộc và con người Việt Nam.

100 năm đã trôi qua nhưng sự kiện Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước vẫn còn nguyên ý nghĩa lịch sử và giá trị thời đại. Ngày nay, trong hành trình hội nhập cùng nhân loại đi đến tương lai, chúng ta càng tin tưởng và kiên trì phấn đấu theo con đường Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại đã chỉ ra, quyết tâm đưa ngọn cờ tiên phong của Người đến đích thắng lợi.

Đào Hồng (ghi)
qdnd.vn

Chuyến đi thay đổi vận mệnh dân tộc

Kỷ niệm 100 năm ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước

QĐND – Cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, chứng kiến cảnh nước mất, nhà tan cũng như sự tàn bạo của thực dân Pháp, cậu thiếu niên mới 13 tuổi quê ở làng Kim Liên, Nam Đàn, Nghệ An đã nung nấu ý chí một ngày nào đó sẽ tới nước Pháp để tìm hiểu cho ra nhẽ, tại sao một đất nước vốn nổi tiếng với cuộc cách mạng giành lấy tự do, bình đẳng, bác ái, nay lại đi xâm lược nước khác. Tám năm sau, ngày 5-6-1911, người thanh niên yêu nước 21 tuổi ấy đã quyết định rời Tổ quốc trên một chiếc tàu buôn của Pháp với cái tên Văn Ba để tìm hiểu sự thực về nước Pháp và con đường giải phóng cho dân tộc mình, đất nước mình.

Trong Hội thảo quốc tế Di sản Hồ Chí Minh trong thời đại ngày nay, tổ chức năm 2010, tại Hà Nội, nhiều học giả trong và ngoài nước đã đề cập khá chi tiết tới chặng đường 30 năm bôn ba ở nước ngoài của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Nguyễn Ái Quốc tại đại hội Tua (Tours, Pháp), năm 1920. Ảnh: vietnamplus.vn

Quan điểm chung của các học giả trong và ngoài nước đều nhấn mạnh, trong suốt hành trình kéo dài 30 năm, ý nghĩ duy nhất, lớn nhất của người thanh niên ấy là giải phóng đồng bào, xóa bỏ ách áp bức, bóc lột của bọn thực dân, phong kiến, giành độc lập dân tộc; khẳng định Chủ tịch Hồ Chí Minh là con người của những bước ngoặt quan trọng, có tính quyết định tới vận mệnh của đất nước và dân tộc Việt Nam. Tư tưởng cùng sự cố gắng phi thường của người Anh hùng giải phóng dân tộc, Nhà văn hóa kiệt xuất của Việt Nam đã làm thay đổi vận mệnh của dân tộc Việt Nam, từ thân phận nô lệ trở thành dân tộc tự do, độc lập, có vai trò và vị trí ngày càng lớn trên thế giới.

Từ năm 1911 tới năm 1917, Người đã đến nhiều nước châu Á, châu Âu, châu Mỹ, châu Phi, sống hòa mình với nhân dân lao động. Thông cảm sâu sắc với cuộc sống cực khổ của nhân dân lao động và các dân tộc thuộc địa cũng như nguyện vọng thiêng liêng của họ. Chứng kiến cảnh những người dân lao động ở khắp các châu lục bị chế độ thực dân cũ áp bức bóc lột, Người đã rút ra kết luận rằng “dù màu da có khác nhau, trên đời này chỉ có hai giống người: bóc lột và bị bóc lột; chỉ có một mối tình hữu ái là thật mà thôi: Tình hữu ái vô sản”. Có thể thấy rõ, ngay từ rất sớm, Người đã nhận thức rõ ràng rằng, cuộc đấu tranh giải phóng của nhân dân Việt Nam là một bộ phận trong cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới.

Cuối năm 1917, Người từ Anh trở lại Pháp tiếp tục hoạt động trong phong trào Việt kiều và phong trào công nhân Pháp. “Ở Pháp lúc đó, Hồ Chí Minh dùng hơn 200 bút danh để đấu tranh chính trị. Hồ Chí Minh chưa bao giờ rời bỏ mục tiêu của mình: đó là đem lại cho dân tộc mình, trong đó có những người thân của mình, sự tự do, nhân phẩm và quyền được làm chủ”, D.Đơ Mít-câu-lơ (D.De Miscault), Tổng biên tập Tạp chí Triển vọng Việt Nam – Pháp, nhận xét.

Theo các học giả Pháp tham dự Hội thảo, sự kiện nổi bật nhất mà Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại dấu ấn tại nước Pháp là vào năm 1919. Người lấy tên là Nguyễn Ái Quốc và thay mặt những người Việt Nam yêu nước tại Pháp gửi tới Hội nghị Véc-xây bản yêu sách đòi quyền tự do cho nhân dân Việt Nam và cũng là quyền cho nhân dân các nước thuộc địa. Tiếp đó, vào tháng 12-1920, Người trở thành một trong những người đầu tiên sáng lập Đảng Cộng sản Pháp. Năm 1921, Người cùng một số người yêu nước ở các nước thuộc địa của Pháp, không phân biệt màu da, sáng lập Hội Liên hiệp thuộc địa. Tháng 4-1922, Hội ra báo Người cùng khổ (Le Paria). Rất nhiều bài báo đanh thép tố cáo tội ác của thực dân Pháp của Người đã được đưa vào tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp.

Đánh giá về điểm sáng nhất trong 30 năm tìm đường cứu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các học giả Nga, Pháp, Trung Quốc đã nhấn mạnh quãng thời gian Người tới nước Nga và bắt gặp ánh sáng của Cách mạng tháng Mười Nga, Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của Lê-nin. Thành công của Cách mạng tháng Mười và Luận cương của Lê-nin đã giải đáp trăn trở của Người về vấn đề giải phóng các dân tộc thuộc địa, giải phóng dân tộc Việt Nam. Hồ Chí Minh đã xúc động đến phát khóc khi gặp được Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của Lê-nin, Người đã thốt lên “đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta”. Và cũng kể từ khi thực sự tìm được con đường giải phóng dân tộc mình, Người quyết tâm thực hiện bằng được sự nghiệp giải phóng dân tộc, giành độc lập dân tộc theo con đường Cách mạng tháng Mười, con đường cách mạng vô sản.

Kể từ khi gặp được ánh sáng của Chủ nghĩa Mác – Lê-nin, của Cách mạng tháng Mười, Người hoàn toàn tin theo Chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tin theo Quốc tế III. Ngay từ khi ấy Chủ tịch Hồ Chí Minh đã mong muốn xây dựng một đảng cách mạng chân chính để lãnh đạo một nước thuộc địa nửa phong kiến như Việt Nam. Và ngày lịch sử cũng đã đến. Ngày 3-2-1930, dưới sự chủ trì của Người, Đảng Cộng sản Đông Dương đã được thành lập, sau này đổi tên thành Đảng Cộng sản Việt Nam, đã đánh dấu bước đi quan trọng và quyết định của cách mạng Việt Nam. Từ khi có Đảng, dưới ánh sáng của Đảng, sự chỉ đạo sáng suốt của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cách mạng Việt Nam đã đi từ thắng lợi này tới thắng lợi khác. Chiến thắng mọi kẻ thù, xây dựng tình đoàn kết quốc tế, tạo dựng một cuộc sống tốt đẹp hơn cho nhân dân Việt Nam.

Đánh giá chung về chặng đường 30 năm bôn ba, từ ngày 5-6-1911 tới ngày 8-2-1941, các học giả quốc tế cho rằng: Trong 30 năm ấy, không lúc nào Người ngừng nghĩ về dân tộc Việt Nam, chưa bao giờ Người đòi hỏi gì cho riêng mình. Con đường đúng đắn mà Người lựa chọn đã mang lại tự do, độc lập, hạnh phúc cho toàn thể nhân dân Việt Nam. Người mãi là gương sáng của người chiến sĩ cộng sản trọn đời vì nước vì dân, là biểu tượng khí phách anh hùng, ý chí độc lập, tự cường, sáng tạo và quyết thắng, không chịu khuất phục.

HOA HUYỀN (tổng hợp)
qdnd.vn

“Bên Lăng Bác Hồ” – Bài hát đầu tiên viết về Lăng Bác

Tháng 10 năm 1974, nhạc sĩ Dân Huyền cùng Đoàn Văn nghệ sỹ Đài Tiếng nói Việt Nam đến thăm công trường xây dựng Lăng Bác. Cảnh lao động nhộn nhịp với hàng ngàn cán bộ, công nhân viên trên công trình đang khẩn trương lao động, giữa ngổn ngang những giàn giáo, nổi lên khối nhà Lăng Bác sừng sững uy nghi đang được hoàn tất. Nhạc sĩ Dân Huyền vô cùng xúc động và bài hát “Bên Lăng Bác Hồ” đã ra đời trong hoàn cảnh đó.

Ông nhớ lại: Suốt một tuần lễ mình trăn trở hoài với cảm xúc thiêng liêng ấy, cuối tuần bài hát được hoàn thành. Mình đã chọn giai điệu dân ca Nam Bộ để sáng tác bài hát, bởi như Bác Hồ đã nói: “Miền Nam trong trái tim tôi”. Viết xong nốt nhạc cuối cùng, mình hát thử cho đồng nghiệp trong Phòng Âm nhạc của Đài góp ý, lắng nghe ý kiến bổ sung chân thành của anh em. Ban đầu mình lấy tên là “Tiếng hát bên Lăng Người”, nhạc sĩ Triều Dâng, Lương Nguyên góp ý là “Tiếng hát bên Lăng Bác”, cuối cùng mình lấy tên giản dị như ngày nay “Bên Lăng Bác Hồ”.

Ca sĩ Kiều Hưng là người thể hiện bài hát này lần đầu, được đông đảo người nghe yêu thích. Trong ngày hoàn thành Lăng Bác 27/8/1975 – sau hơn hai tháng đất nước hoàn toàn thống nhất, bài hát “Bên Lăng Bác Hồ” được chọn là một trong những bài hát chính thức trình bày trong ngày vui lịch sử này. Từ đó đến nay, có nhiều nhạc sĩ đã sáng tác những bài hát hay về đề tài Lăng Bác: Hoàng Hiệp với “Vào Lăng viếng Bác” (thơ Viễn Phương), Thuận Yến với “Vầng trăng Ba Đình” (thơ Phạm Ngọc Cảnh), Nguyễn Đăng Nước với “Chúng con canh giấc ngủ cho Người”… Hôm nay chúng ta vào Lăng viếng Bác, lại được dịp nghe những bài hát xúc động này.

Nhạc sĩ Dân Huyền tên thật là Phạm Ngọc Dần, sinh năm 1938, quê ở huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An. Ngay khi còn nhỏ mẹ ông đã dạy nhiều làn điệu dân ca quê hương, tình yêu đối với dân ca sâu đậm trong trái tim ông suốt cả cuộc đời. Thuở nhỏ, ông học trong Chủng viện xứ Đoài, Nghệ An. Ở đây, ông được học lý thuyết âm nhạc, chơi đàn… Năm 1954, Dân Huyền chuyển về Đoàn Văn công Quân khu 4 với vị trí nhạc công, rồi về công tác tại Ty Văn hoá Nghệ An. Năm 1959, ông được về học tại Trường Tuyên huấn Trung ương. Ra trường, ông được cử về làm cán bộ văn nghệ của Nhà máy ô tô “Mồng một tháng năm” ở Hà Nội. Ông tham gia viết báo, đặt lời mới cho hàng trăm bài dân ca… Năm 1967, Đài Phát thanh Tiếng nói Việt Nam đã mời ông về làm biên tập viên âm nhạc, sau được phân công là Trưởng phòng “Dân ca và nhạc cổ truyền”. Ông sáng tác nhiều ca khúc được mọi người yêu thích, nhưng đóng góp lớn nhất của ông là soạn lời hát cho các bài dân ca. Tuy đã nghỉ hưu từ năm 2001, ông vẫn hăng hái tham gia Câu lạc bộ “Đàn và hát dân ca” của Đài với cương vị Chủ nhiệm Câu lạc bộ, Chi hội trưởng Chi hội Văn nghệ dân gian.

Theo Phú Cương
Báo Vietnamnet
Phương Thúy (st)

bqllang.gov.vn

Đế quốc Mỹ rúc xuống hầm (26-7-1964)

Để kỷ niệm ngày Hiệp định Giơnevơ, từ đầu tháng 7, đồng bào miền Nam đánh liên tiếp nhiều trận thắng to:

– 1-7, ở Bình Định, Quân giải phóng phục kích phá gọn 41 xe quân sự địch. Lý thú là ngay sau đó lại buộc sáu xe tiếp viện của địch đâm đầu xuống hố sâu.

– 4-7, ở Plây Crông, quân du kích đã đánh tan một trại lính đặc biệt do 12 tên Mỹ chỉ huy và tiêu diệt 470 tên địch.

– 6-7, ở Nam Đông (Thừa Thiên), du kích lại đánh tan một trại lính đặc biệt cũng do 12 tên Mỹ cùng một tên úc chỉ huy và đã tiêu diệt 350 tên địch.

– 8-7, du kích lại phá tan một trại lính đặc biệt ở Plây Giêrông, gần Plây Crông, địch chết và bị thương rất nhiều.

– 10 và 11-7, ở Cần Thơ, Quân giải phóng đánh đồn Vịnh Chèo, quân địch đến cứu đồn thì bị Quân giải phóng phục kích và tiêu diệt hơn 600 tên (360 tên chết).

– 12-7, để càn quét Tân An, Chợ Lớn, địch dùng 2.000 binh sĩ, 40 máy bay, 13 tàu chiến, 250 xe quân sự… Lực lượng vũ trang nhân dân đã tiêu diệt 300 tên.

– 19-7, ở Trà Vinh, du kích đánh phá đồn Phong Thạnh. Lý thú là sau đó, bọn chỉ huy Mỹ và bù nhìn ngơ ngác hỏi nhau: “Không biết 97 lính bảo an giữ đồn đã biến đi đâu mất?”. Họ đã đi theo quân du kích, chứ đi đâu!

– 20-7, ngày Hiệp định Giơnevơ, Quân giải phóng đánh đồn Gò Quao ở Rạch Giá, tiêu diệt 300 tên địch.

*
*   *

Nǎm nọ, mồ ma tổng Ken nói: Trong cuộc chiến tranh bẩn thỉu ở Nam Việt Nam, đế quốc Mỹ đang “ở trong đường hầm không thấy lối ra”. Đó là một cách nói ví dụ, để nêu rõ tình trạng đen tối của đế quốc Mỹ. Nhưng hiện nay thì chúng thật sự rúc xuống hầm. Xin bà con xem tin tức sau đây thì rõ:

Hãng Mỹ UPI(17-7-1964) viết: “Một chiến dịch ác liệt đang hình thành ở Trung Bộ giữa lực lượng “đặc biệt thiện chiến” của Mỹ và Việt cộng trên con đường mòn Hồ Chí Minh… Các sĩ quan Mỹ đã thú nhận rằng họ buộc phải chuyển vào giai đoạn phòng ngự… 600 lính rừng đặc biệt của Mỹ đang tǎng viện sẽ cho phép Mỹ giành lại thế chủ động từ tay Việt cộng. Số lính rừng đó điều khiển hơn 40 đồn trại chống du kích rải rác trên đường mòn Hồ Chí Minh. Tuy vậy, cộng sản đã đánh những cú mạnh mẽ vào mấy đồn trại quan trọng (UPI kể lại những trận quân du kích tiêu diệt các trại lính đặc biệt ở Plây Crông, Nam Đông và Plây Giêrông). Tư lệnh Mỹ đã bảo những viên chỉ huy các trại rằng ban đêm tất cả những quân nhân Mỹ phải ngủ dưới hầm, có đắp đất, chèn gỗ hoặc sắt để tránh đạn moócchê…”.

Thế là hãng Mỹ UPI cũng phải thú nhận rằng:

– Quân du kích giữ quyền chủ động.

– Quân Mỹ và tay sai là bị động.

– Cái gọi là “Lực lượng đặc biệt thiện chiến” của Mỹ liên tiếp bị thua to.

– Các ngài quân nhân Mỹ “to” gan như cáy, chưa tối đã rúc xuống hầm.

Lại thêm chứng cớ rõ ràng,

Đồng bào miền Nam càng đánh càng mạnh và càng thắng to.

Chiến sĩ

—————–

Báo Nhân dân, số 3770, ngày 26-7-1964.
cpv.org.vn

Bài nói tại Hội nghị tổng kết công tác kiểm tra của Đảng (29-7-1964)

Bác thay mặt Trung ương chúc các đồng chí mạnh khoẻ.

Nhân đây, Bác nêu vài ý kiến để giúp các đồng chí thảo luận.

Công việc của Đảng và Nhà nước ngày càng nhiều. Muốn hoàn thành tốt mọi việc, thì toàn thể đảng viên và cán bộ phải chấp hành nghiêm chỉnh đường lối và chính sách của Đảng. Và muốn như vậy, thì các cấp uỷ đảng phải tǎng cường công tác kiểmtra. Vì kiểm tra có tác dụng thúc đẩy và giáo dục đảng viên và cán bộ làm trọn nhiệm vụ đối với Đảng, đối với Nhà nước, làm gương mẫu tốt cho nhân dân. Do đó mà góp phần vào việc củng cố đảng về tư tưởng, về tổ chức.

Trong hai nǎm qua, nói chung các cấp uỷ đảng đã chú ý lãnh đạo công tác kiểm tra và chấn chỉnh uỷ ban kiểm tra. Tuy vậy, hiện nay còn có một số cấp uỷ đảng coi nhẹ và không chú ý lãnh đạo công tác kiểm tra. Thậm chí có uỷ viên tỉnh và huyện cho công tác kiểm tra là “vạch lá tìm sâu”, làm giảm thành tích của địa phương mình, v.v.. Đó là thành kiến sai lầm, cần phải sửa chữa.

Ủy ban kiểm tra các cấp cũng thấy rõ hơn trách nhiệm của mình, đã cố gắng trong việc giúp các cấp uỷ giữ gìn kỷ luật của Đảng và đóng góp vào công tác xây dựng đảng. Đó là những ưu điểm của các cán bộ kiểm tra. Nhưng vẫn còn những nhượcđiểm cần phải khắc phục. Ví dụ:

– Công tác kiểm tra còn bị động và nặng về giải quyết những vụ vi phạm kỷ luật trước mắt, chưa chủ động về việc giải quyết toàn diện vấn đề giữ gìn kỷ luật và chấp hành Điều lệ của Đảng, để nâng cao ý thức của đảng viên và cán bộ một cách cǎn bản và lâu dài.

– Việc xử lý kỷ luật, xét thư khiếu nại làm còn chậm chạp. Kiểm tra đảng viên phạm sai lầm còn chưa chủ động. Việc hướng dẫn vận dụng phương châm kỷ luật chưa được chặt chẽ, để cho kỷ luật đảng có chỗ bị buông lỏng, vì vậy mà thiếu tác dụng giáo dục và ngǎn ngừa đảng viên khỏi phạm kỷ luật.

*

*     *

Nói chung, tuyệt đại đa số đảng viên và cán bộ ta giữ gìn tốt kỷ luật của Đảng, chấp hành nghiêm chỉnh đường lối, chính sách của Đảng. Chính vì vậy mà Đảng ta đoàn kết và lãnh đạo được toàn dân, giành được nhiều thắng lợi trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và trong sự nghiệp đấu tranh để thực hiện hoà bình thống nhất nước nhà.

Nhưng cũng còn một số cán bộ và đảng viên phạm kỷ luật. Đó là do cá nhân chủ nghĩa làm họ mù quáng. Đảng phải giáo dục họ, giúp đỡ họ sửa chữa để xứng đáng là người đảng viên.

Mỗi đảng viên, mỗi chi bộ, mỗi cấp uỷ đảng phải luôn luôn tǎng cường công tác tư tưởng của Đảng, nâng cao đạo đức cách mạng, bảo đảm chặt chẽ kỷ luật và tổ chức của Đảng.

Các uỷ ban kiểm tra phải góp phần xứng đáng vào công tác đó. Muốn làm được như vậy, các uỷ ban và cán bộ kiểm tra phải học tập và thấm nhuần đường lối, quan điểm của Đảng, phải luôn luôn chú ý nâng cao khả nǎng chuyên môn, phải cố gắng công tác, phải trau dồi đạo đức cách mạng. Đặc biệt là phải nâng cao ý thức tổ chức và kỷ luật, phải thật thà phê bình và tự phê bình để làm gương mẫu trong việc chấp hành kỷ luật của Đảng. Phải chí công vô tư, không thiên vị, không thành kiến. Như thế thì mới làm tốt được công tác kiểm tra.

Chúc Hội nghị thành công.

Nói ngày 29-7-1964.

———————

Báo Nhân dân, số 3774, ngày 30-7-1964.
cpv.org.vn

Điện gửi Hội nghị thế giới chống bom nguyên tử và khinh khí lần thứ mười (1-8-1964)

Nhân dịp Hội nghị thế giới lần thứ mười chống bom nguyên tử và khinh khí, thay mặt nhân dân Việt Nam và nhân danh cá nhân, tôi xin gửi đến Hội nghị lời chào mừng nhiệt liệt.

Nhân dân Việt Nam hoàn toàn đồng tình và ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Nhật Bản đòi triệt để cấm vũ khí nguyên tử, đòi hủy bỏ các cǎn cứ quân sự của Mỹ trên đất Nhật, đòi trả lại Ôkinaoa cho Nhật Bản.

Chúng tôi tin rằng với truyền thống đấu tranh anh dũng và liên tục trong những nǎm qua, Hội nghị sẽ lên án nghiêm khắc âm mưu gây chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ và sẽ góp phần động viên đông đảo nhân dân Nhật Bản và nhân dân các nước khác tham gia sự nghiệp bảo vệ hoà bình thế giới và giải phóng dân tộc.

Với lòng tin chắc vào thắng lợi cuối cùng của nhân dân Nhật Bản và nhân dân yêu chuộng hoà bình trên thế giới, tôi xin chúc Hội nghị thành công tốt đẹp.

Hồ Chí Minh

————————

Báo Nhân dân, số 3776, ngày 1-8-1964.
cpv.org.vn

Bài nói tại buổi lễ tuyên dương các đơn vị phòng không và hải quân (7-8-1964)

Bác rất vui mừng thay mặt Đảng và Chính phủ đến khen ngợi các chú đã lập được thành tích lớn trong các cuộc chiến đấu chống đế quốc Mỹ vừa qua.

Các chú đã chiến đấu rất dũng cảm, đã bắn rơi tám chiếc máy bay Mỹ và bắn hỏng ba chiếc, vừa rồi lại nghe tin bốn chiếc máy bay Mỹ đến Biên Hoà bị hỏng. Các chú đã bắt sống phi công Mỹ, đánh đuổi tàu chiến Mỹ ra khỏi vùng biển nước ta. Như vậy là rất tốt.

Nhân dịp này, Bác gửi lời thân ái hỏi thǎm các đơn vị phòng không, hải quân, các đơn vị bộ đội, công an nhân dân vũ trang, dân quân tự vệ và đồng bào ta ở các vùng bị giặc khiêu khích đã nêu cao truyền thống quyết chiến quyết thắng và đã trừng phạt đích đáng kẻ địch.

Để gỡ thế bí của chúng trong cuộc chiến tranh xâm lược miền Nam nước ta, đế quốc Mỹ ráo riết hoạt động khiêu khích phá hoại miền Bắc, đưa tàu chiến, máy bay đến khiêu khích, bắn phá, nhưng chúng đã thất bại.

Các chú đã thu được thắng lợi vẻ vang nhưng chớ vì thắng lợi mà tự mãn, chủ quan khinh địch. Chúng ta phải biết rằng đế quốc Mỹ và tay sai chết thì chết, nết không chừa. Chúng còn nhiều âm mưu hiểm ác.

Trong trận này, chúng ta đã cho đế quốc Mỹ một bài học đích đáng. Đồng thời chúng ta đã thấy rõ hơn những ưu điểm và nhược điểm của ta. Các đơn vị bộ đội, công an nhân dân vũ trang, dân quân tự vệ và các địa phương cần rút kinh nghiệm để sửa chữa khuyết điểm, phát huy ưu điểm. Các chú phải tiếp tục đẩy mạnh mọi mặt công tác và luôn luôn nâng cao cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc.

Nhân dân ta rất yêu chuộng hoà bình, nhưng nếu đế quốc Mỹ và tay sai xâm phạm đến miền Bắc nước ta, thì toàn dân ta nhất định sẽ đánh bại chúng.

Nói ngày 7-8-1964.

————————–

Báo Nhân dân, số 3783, ngày 8-8-1964.
cpv.org.vn

Trả lời phỏng vấn của Hãng thông tin Mỹ UPI (9-8-1964)

“Về những câu hỏi ông nêu ra, bản Tuyên bố của Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ngày 6 tháng 8 nǎm 1964 có thể cung cấp những câu trả lời đầy đủ nhất.

Tôi muốn nói với dư luận nhân dân ở nước Mỹ và toàn thế giới sự cǎm phẫn của toàn thể nhân dân Việt Nam trước những hành động xâm lược có tính toán từ trước của Chính phủ Mỹ đối với nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Tôi cũng muốn nói lên ý chí của toàn thể nhân dân Việt Nam, với sức mạnh được tǎng cường gấp bội, quyết đấu tranh chống bọn xâm lược cho đến thắng lợi.

Nhân dân Việt Nam mạnh vì có chính nghĩa, có sự đoàn kết và lòng dũng cảm và được sự ủng hộ của các dân tộc yêu chuộng hoà bình trên toàn thế giới, trong đó có nhân dân Mỹ.

Trong khi Chính phủ Mỹ đang tiến hành chiến tranh trên đất nước chúng tôi, tôi thiết tha kêu gọi nhân dân Mỹ và nhân dân toàn thế giới hiệp lực đấu tranh để ngǎn chặn sự xâm lược đầy tội ác đó đối với nước Việt Nam, để bảo vệ hoà bình.

————————

Báo Nhân dân, số 3784, ngày 9-8-1964.
cpv.org.vn

Điện cảm ơn cụ Béctơrǎng Rútxen (10-8-1964)

Kính gửi Cụ Béctơrǎng Rútxen,

Tôi hoan nghênh việc Cụ đã lên án những hành động của Mỹ gây chiến và đe doạ hoà bình đối với đất nước chúng tôi và khu vực Đông – Nam Á.

Nhân dân Việt Nam và Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà luôn luôn tôn trọng và thi hành nghiêm chỉnh Hiệp định Giơnevơ nǎm 1954. Nhưng vì đế quốc Mỹ đã có những hành động gây chiến đối với nước chúng tôi, cho nên nhân dân chúng tôi phải dùng biện pháp tự vệ cần thiết để giữ gìn chủ quyền và an ninh của nước chúng tôi.

Chúng tôi luôn luôn thiết tha với hoà bình và chủ trương giải quyết vấn đề Việt Nam bằng phương pháp hoà bình.

Tôi xin cảm ơn Cụ đã quan tâm đến tình hình nghiêm trọng do Mỹ gây ra trên đất nước chúng tôi và xin gửi Cụ lời chào kính trọng.

Hồ Chí Minh

——————–

Báo Nhân dân, số 3785, ngày 10-8-1964.
cpv.org.vn

Thủ đoạn tội ác của đế quốc Mỹ (15-8-1964)

Đế quốc Mỹ càng thất bại và sa lầy ở miền Nam, chúng càng cǎm thù miền Bắc. Vì chúng cho rằng miền Bắc chỉ huy và tiếp tế phong trào yêu nước chống Mỹ của miền Nam. Đã lâu, chúng có âm mưu khiêu khích và phá hoại miền Bắc. Từ đầu nǎm nay, âm mưu đó càng lộ liễu. Vài chứng cớ:

24-2-1964: HãngAP đưa tin: “Mỹ có thể đưa chiến tranh đến miền Bắc Việt Nam”.

25-2: Báo Bưu điện Nữu Ước viết: “Người phụ trách kế hoạch Bộ Ngoại giao Mỹ là Rôxtâu chủ trương rằng khi cần thì trực tiếp đánh Hà Nội”.

9-3: Hãng UPIđưa tin: “Việc Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ đi Sài Gòn lần này có quan hệ với kế hoạch mở rộng chiến tranh ra miền Bắc”.

4-4: Chính mồm tổng Giôn đã nói: đối với vấn đề miền Nam Việt Nam chỉ có hai cách giải quyết: hoặc là Mỹ cuốn gói chuồn, hoặc là “mở rộng chiến tranh”.

1-6: Tuần báo Mỹ viết: “Hội nghị ở Hônôlulu có Bộ trưởng Ngoại giao, Bộ trưởng Quốc phòng và hơn 40 tướng tá Mỹ đã bàn đến bốn biện pháp đối với miền Nam. Một trong bốn biện pháp là “mở rộng chiến tranh đến miền Bắc cộng sản” và “tập trung các tàu chiến Mỹ trên vùng biển miền Bắc để phô trương lực lượng của Mỹ”.

1-7: Taylo sang làm “đại sứ” ở Sài Gòn để chuẩn bị việc mở rộng chiến tranh.

10-7: Báo Nữu Ước luận đàm viết: “Mỹ đã có kế hoạch tỉ mỉ để “trả đũa” bằng cách ném bom miền Bắc”.

13-7: Hãng UPIviết: “Mỹ có thể ném bom miền Bắc, hoặc phong toả miền Bắc bằng hải quân”.

Từ cuối tháng bảy, đế quốc Mỹ đã bắt đầu hành động tội ác của chúng.

30-7: Tàu chiến Mỹ đã xâm phạm vùng biển của ta, chúng bắn vào Hòn Mê và Hòn Ngư.

31-7 và hai hôm sau: Tàu chiến Mỹ Mađốc xâm phạm vùng biển ta để khiêu khích, bị hải quân ta đuổi chạy.

1-8: Máy bay Mỹ từ sân bay Lào đến bắn phá đồn Nậm Cắn và làng Noọng Dẻ ở biên giới ta.

5-8: Mỹ bày chuyện dựng đứng cái gọi là “lần thứ hai tàu phóng ngư lôi Việt Nam đánh tàu chiến Mỹ”. Chúng nặn ra chuyện hoang đường đó để mượn cớ cho máy bay Mỹ bắn phá mấy nơi trên đất nước ta.

Cùng trong lúc đó, tổng Giôn làm trò hề đã sắp xếp sẵn. Y vội vã họp quan vǎn tướng võ và các lãnh tụ Quốc hội Mỹ; vội vã tuyên bố tình trạng khẩn cấp trước nhân dân Hoa Kỳ; vội vã cho đại biểu Mỹ ở Liên hợp quốc vu cáo ta là kẻ “xâm lược”; vội vã phái Lốt, cựu “đại sứ” ở Sài Gòn đi “thuyết phục” các nước đồng minh Mỹ.

Mưu ma chước quỷ của đế quốc Mỹ đã quá rõ ràng và chúng đã thất bại nhục nhã.

Như bà con đã biết, quân và dân ta đã chiến đấu rất anh dũng, đã bắn rơi tám chiếc máy bay Mỹ, bắn bị thương ba chiếc và bắt sống một phi công. Chắc là đế quốc Mỹ không ngờ bị một vố cay như vậy về quân sự. Vố chính trị càng đau hơn nữa. Khắp nǎm châu trên quả đất, các nước anh em và các nước bè bạn ta, các đoàn thể và nhân sĩ yêu chuộng hoà bình và công lý đều nghiêm khắc lên án đế quốc Mỹ, đều nhiệt liệt ủng hộ ta. Riêng ở Trung Quốc đã có hàng chục triệu người biểu tình với khẩu hiệu “Đả đảo đế quốc Mỹ!”. Thanh niên Mỹ cũng biểu tình lên án hành động xâm lược của Mỹ đối với miền Bắc Việt Nam. Trước Quốc hội Mỹ, ông Moxơ đã lên án bọn quân phiệt và chính khách hiếu chiến Hoa Kỳ “đã gây ra vụ vịnh Bắc Bộ… vì đã bắn vào các đảo của Bắc Việt Nam trước …và trong mấy tháng qua đã tán thành mở rộng cuộc chiến tranh”.

Nhân dân ta cần có hoà bình để xây dựng đời sống mới, xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Chính vì vậy mà chúng ta phải ra sức đẩy mạnh sản xuất, luôn luôn nâng cao cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu, bảo vệ Tổ quốc.

Nếu đế quốc Mỹ điên cuồng xâm phạm đến ta, thì nhân dân cả nước ta nhất định sẽ đánh quỵ chúng. Chính nghĩa nhất định thắng!

Chiến sĩ

———————-

Báo Nhân dân,số 3790, ngày 15-8-1964.
cpv.org.vn

Điện mừng Hội nghị quốc tế thảo luận khoa học (21-8-1964)

Kính gửi Chủ tịch đoàn Hội nghị quốc tế thảo luận khoa học, Bắc Kinh

Nhân dịp Hội nghị quốc tế thảo luận khoa học họp tại Bắc Kinh, tôi xin gửi đến Hội nghị lời chào mừng nhiệt liệt.

Tôi tin rằng cuộc Hội nghị thảo luận khoa học này sẽ thắt chặt hơn nữa sự đoàn kết và hợp tác giữa các nhà khoa học, tạo điều kiện cho sự phát triển khoa học và vǎn hóa nhằm phục vụ độc lập dân tộc, tiến bộ xã hội và hoà bình thế giới.

Kính chúc Hội nghị thành công rực rỡ.

Hồ Chí Minh

—————–

Báo Nhân dân,số 3797, ngày 22-8-1964.
cpv.org.vn

Trả lời phỏng vấn của nhà báo Iôcô Mátxuôca (11-9-1964)

Hỏi: Thưa Chủ tịch, đề nghị Chủ tịch phân tích tình hình hiện nay của Việt Nam trong cuộc đấu tranh chống đế quốc Mỹ và nhiệm vụ của hai miền Bắc và Nam Việt Nam trong cuộc đấu tranh đó; cuộc đấu tranh chống đế quốc Mỹ của Việt Nam có ý nghĩa như thế nào trong sự so sánh lực lượng giữa hai hệ thống xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa và đã có ảnh hưởng như thế nào đối với châu á, đặc biệt là đối với Đông – Nam á?

Trả lời: Miền Nam chống Mỹ và tay sai đã mười nǎm. Với lòng yêu nước, tuy bắt đầu chiến đấu với gậy tầm vông, cung ná, nhưng ngày càng thắng lợi từ nhỏ đến lớn. Nay đã có một đội quân giải phóng hùng mạnh, giải phóng hai phần ba đất đai, hơn một nửa dân số.

Đế quốc Mỹ và tay sai có 50 vạn quân, hàng vạn cố vấn Mỹ, hàng trǎm máy bay, tàu chiến, đại bác… ngày càng thất bại, sa lầy, đi sâu vào “đường hầm không lối thoát”.

Miền Nam là tiền tuyến chống Mỹ. Miền Bắc là cơ sở của cuộc đấu tranh hoà bình thống nhất nước nhà. Nhân dân miền Bắc ủng hộ đồng bào miền Nam của mình. Chúng tôi tôn trọng Hiệp định Giơnevơ 1954. Chính Mỹ và tay sai là những kẻ phá hoại.

Cuộc đấu tranh yêu nước của miền Nam chẳng những nhằm giải phóng hoàn toàn một nửa Tổ quốc chúng tôi, mà còn có tác dụng ngǎn chặn đế quốc Mỹ và tay sai tiến công miền Bắc Việt Nam, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, một nước xã hội chủ nghĩa.

Đó là một bộ phận của phong trào chung giải phóng dân tộc đang tiến công mạnh mẽ chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân cũ và mới do đế quốc Mỹ cầm đầu.

Cần nói rõ thêm: đế quốc Mỹ xem miền Nam là nơi thí nghiệm “chiến tranh đặc biệt” để đàn áp các dân tộc khác. Vì vậy, cuộc đấu tranh yêu nước của đồng bào miền Nam chúng tôi là để tự giải phóng mà cũng là một cống hiến vào cuộc đấu tranh giải phóng của các dân tộc ở châu á, châu Phi, châu Mỹ latinh và nhất là ở Đông – Nam á, để tự vệ chống sự xâm lược của bọn đế quốc hiếu chiến, đặc biệt là đế quốc Mỹ.

Hỏi: Đề nghị Chủ tịch cho biết ý kiến về triển vọng của sự thống nhất hai miền Bắc và Nam Việt Nam.

Trả lời: Dưới sự lãnh đạo của Mặt trận dân tộc giải phóng, cuộc đấu tranh yêu nước của đồng bào miền Nam chúng tôi, dù còn nhiều gian khổ, song nhất định thắng lợi. Miền Nam nhất định sẽ được giải phóng, sự nghiệp đấu tranh để hoà bình thống nhất đất nước chúng tôi nhất định sẽ thành công.

Hỏi: Đề nghị Chủ tịch cho biết những đặc điểm của công cuộc kiến thiết chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam có ý nghĩa như thế nào đối với sự phát triển sau này của chủ nghĩa xã hội trên thế giới?

Trả lời: Chúng tôi xây dựng chủ nghĩa xã hội trong hoàn cảnh một nước vốn là thuộc địa, một nước nông nghiệp lạc hậu, lại bị chiến tranh xâm lược tàn phá. Hoàn cảnh ấy, cố nhiên gây cho chúng tôi rất nhiều khó khǎn. Song, những thắng lợi bước đầu trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội cho phép chúng tôi tin tưởng chắc chắn ở sự cần thiết và khả nǎng của một nước như nước Việt Nam tiến lên chủ nghĩa xã hội một cách thắng lợi không phải qua con đường phát triển tư bản chủ nghĩa.

Hỏi: Xin Chủ tịch cho biết Việt Nam đối với vấn đềchủ nghĩa xét lại trong phe xã hội chủ nghĩa như thế nào?

Trả lời: Lịch sử phong trào cách mạng thường có những mâu thuẫn, có những cuộc đấu tranh về tư tưởng, nhưng kết quả là chủ nghĩa Mác – Lênin thắng lợi, cách mạng ngày càng phát triển.

Chúng tôi tin rằng cuộc đấu tranh tư tưởng trong phe xã hội chủ nghĩa, tuy còn khó khǎn, nhưng sẽ được giải quyết tốt đẹp. Trong cuộc đấu tranh ấy, chúng tôi luôn luôn giữ thái độ kiên trì đoàn kết trên cơ sở chủ nghĩa Mác – Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản, bảo vệ những nguyên tắc cách mạng của hai bản tuyên bố Mátxcơva 1957 và 1960.

Hỏi: Thưa Chủ tịch, Chủ tịch có lời gì gửi nhân dân Nhật Bản trên tinh thần tǎng cường tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước Việt Nam và Nhật Bản.

Trả lời: Nhân dân Việt Nam rất cảm phục tinh thần đấu tranh anh dũng của nhân dân Nhật Bản chống đế quốc Mỹ và bọn phản động trong nước, nhằm xây dựng một nước Nhật Bản hoà bình, độc lập, dân chủ và xây dựng tình hữu nghị với các dân tộc.

Chúng tôi cảm ơn sự đồng tình và ủng hộ của nhân dân Nhật Bản đối với cuộc đấu tranh yêu nước của đồng bào miền Nam chúng tôi và đối với cuộc đấu tranh hoà bình thống nhất nước nhà của nhân dân Việt Nam chúng tôi.

Mong rằng tình hữu nghị giữa nhân dân Việt Nam và Nhật Bản ngày càng chặt chẽ, vì lợi ích chung của nhân dân hai nước chúng ta, của nhân dân châu á và nhân dân toàn thế giới yêu chuộng hoà bình, độc lập, dân chủ và tiến bộ xã hội.

————————

Báo Nhân dân,số 3816, ngày 11-9-1964.
cpv.org.vn