Tag Archive | Văn hóa – Xã hội

Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử – Tập 2 (Năm 1932)

Tháng 1, ngày 26

Đơn kháng án của Nguyễn Ái Quốc do Toà án tối cao Hồng Kông chuyển lên, Hội đồng Cơ mật Hoàng gia Anh ở Luân Đôn đã nhận được.

            – Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông 1931 – 1933, (Tư liệu và hình ảnh), Nxb. Chính trị quốc gia – Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004, tr. 281.

Tháng 6, ngày 27

Đơn kháng án của Nguyễn Ái Quốc gửi lên Hội đồng Cơ mật Hoàng gia Anh đã được các luật sư của Nguyễn Ái Quốc và luật sư của Bộ Thuộc địa cùng nhau thoả thuận giải quyết một số điều khoản như sau:

 Nguyễn Ái Quốc sẽ rút đơn kháng án nếu chính quyền Hồng Kông cam kết:

1- Bỏ việc chỉ định “tàu biển” trong lệnh trục xuất.

2- Trong bất cứ trường hợp nào cũng không giao người kháng án cho Pháp hoặc đến một lãnh thổ do Pháp bảo hộ hoặc xuống một tàu biển của Pháp.

3- Chính quyền Hồng Kông sẽ hết sức cố gắng để bảo đảm rằng người kháng án sẽ đến được nơi muốn đến.

4- Chi 250 bảng Anh cho phí tổn của người kháng án.

            – Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông 1931 – 1933, (Tư liệu và hình ảnh), Nxb. Chính trị quốc gia – Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004, tr. 183-184.

Tháng 7, ngày 13

Nguyễn Ái Quốc biết tin về nội dung các thoả thuận trên do các luật sư đại diện cho Tống Văn Sơ ở Luân Đôn gửi điện thông báo cho các luật sư đại diện của Tống Văn Sơ ở Hồng Kông.

            – Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông 1931 – 1933, (Tư liệu và hình ảnh), Nxb. Chính trị quốc gia – Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004, tr. 188.

Tháng 7, ngày 21

Đơn kháng án của Nguyễn Ái Quốc và bản thoả thuận của luật sư cả bên nguyên và bên bị đã được Hội đồng Cơ mật Hoàng gia Anh chấp thuận cho Nguyễn Ái Quốc rút đơn kháng án và chỉ thị cho Thống đốc Hồng Kông cùng các bên có liên quan phải thực hiện nghiêm chỉnh.

            – Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông 1931 – 1933, (Tư liệu và hình ảnh), Nxb. Chính trị quốc gia – Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004, tr. 190-191.

Tháng 8, trước ngày 15

Nguyễn Ái Quốc vẫn yêu cầu chính quyền Hồng Kông cho mình được sang Anh theo điều khoản thoả thuận vì phải sang Trung Quốc là một mối nguy hiểm cho mình. Vì vậy xin kéo dài thời gian phải ra đi sau hai tháng nữa để chờ chính quyền Anh trả lời.

            – Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông 1931 – 1933, (Tư liệu và hình ảnh), Nxb. Chính trị quốc gia – Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004, tr. 210.

Tháng 8, ngày 29

Nguyện vọng đi Anh của Nguyễn Ái Quốc không được Bộ trưởng Bộ Thuộc địa Anh chấp nhận, nói rằng trong bản thoả thuận, Chính phủ Hoàng gia Anh không bị ràng buộc bởi yêu cầu này. Ông ta yêu cầu chính quyền Hồng Kông cần bảo đảm cho Nguyễn Ái Quốc đến một nơi mà không có nguy cơ bị Pháp bắt.

Các luật sư đại diện cho Tống Văn Sơ ở Luân Đôn đã phản ứng việc từ chối của Bộ Thuộc địa Anh, trước đã đồng ý nay lại không đồng ý, như vậy là vi phạm điều khoản đã thoả thuận.

            – Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông 1931 – 1933, (Tư liệu và hình ảnh), Nxb. Chính trị quốc gia – Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004, tr. 211-212.

Tháng 12, ngày 28

Nguyễn Ái Quốc được đưa ra khỏi bệnh viện và được tự do.

            – Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông 1931 – 1933, (Tư liệu và hình ảnh), Nxb. Chính trị quốc gia – Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004, tr. 282.

Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử – Tập 2 (Năm 1931)

Tháng 1, ngày 24

Nguyễn Ái Quốc viết tài liệu Phong trào cách mạng ở Đông Dương (bằng tiếng Anh), ký tên Vícto. Bài viết tổng kết tình hình năm 1930 bằng những số liệu cụ thể, trong đó Người thống kê, phân tích, phân loại các cuộc đấu tranh liên tiếp của các tầng lớp nông dân, công nhân, học sinh, phụ nữ… Đông Dương.

Người tố cáo những tội ác của đế quốc Pháp trong “Khủng bố trắng” như: bắt giết hàng loạt người, đốt phá, huỷ diệt nhiều làng mạc và cả những thủ đoạn gây hỏa hoạn, bỏ thuốc độc xuống giếng nước để khủng bố những địa phương có phong trào cách mạng.

Người kết luận:

“Tình hình Đông Dương là như thế.

Nhiệm vụ cấp thiết của giai cấp vô sản thế giới – đặc biệt là giai cấp vô sản Pháp – là chìa bàn tay hữu nghị anh em và giúp đỡ tới Đông Dương, để chứng tỏ tình đoàn kết thực sự và tích cực của họ, Đông Dương bị áp bức và cách mạng cần điều ấy!”.

            – Bản chụp bút tích, lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

            – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr. 55-60.

Tháng 1, ngày 27

Nguyễn Ái Quốc gửi thư báo cáo Quốc tế Cộng sản về việc đón nhận 11 đồng chí bị Chính phủ Xiêm trục xuất về Sơn Đầu (Trung Quốc), việc bồi dưỡng sức khoẻ, huấn luyện thêm về chính trị và giao công tác cho họ.

Người viết:

“Tôi là người chịu trách nhiệm ở đây, nên không thể để mặc họ chết đói hoặc chết rét…”.

            – Tài liệu lưu tại Viện Lịch sử Đảng.

Tháng 2, ngày 8

Nguyễn Ái Quốc viết Báo cáo gửi Ban Phương Đông về một số vấn đề.

– “Số 1. Tin tức đấu tranh ở Trung Kỳ” (10.000 nông dân, nam nữ và trẻ em, đã tổ chức những cuộc biểu tình kỷ niệm Quảng Châu bạo động).

– “Số 2. Ở Nhà máy xi măng Hải Phòng” (3.000 công nhân Nhà máy xi măng đã bãi công và đấu tranh).

– “Số 3. Chỉ thị của Ban Chấp hành Trung ương gửi các Xứ uỷ” về củng cố các Xứ uỷ, Tỉnh uỷ và các Uỷ ban đặc biệt, bổ sung cán bộ, tuyên truyền về việc thay đổi tên Đảng, tổ chức Công hội…

– “Việc kết nạp hội viên mới vào Công hội”.

            – Tài liệu lưu tại Viện Lịch sử Đảng.

            – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr. 61- 63.

Tháng 2, ngày 12

Ký tên Vícto, Nguyễn Ái Quốc viết Thư gửi Ban Phương Đông dưới hình thức trao đổi giữa một khách hàng với một công ty. Trong thư có đoạn: “Tôi đã gửi cho ông ba lần mẫu hàng trong nước, qua người giao dịch Trung Quốc của ông, lần gửi cuối cùng vào ngày 8 tháng 2, tôi mong ông đã nhận được cả.

… Ông xem, 9 hay 10 người ở một nhà, chúng ta sẽ ăn Tết thật là vui vẻ. Các em và cháu tôi nhân cơ hội này sẽ đi Thượng Hải…

Ông đã tìm hiểu về việc “Công ty xe hoả tốc hành Mỹ” chưa? Tôi nghĩ đó là cách tốt nhất để gửi tiền cho hành khách.

Hôm nay, tôi gửi thêm cho ông những mẫu hàng khác của các thương cục Mã Lai và Nam Kỳ cũng qua người bạn Trung Quốc của ông. Nhờ ông chú ý khi mẫu hàng đến”.

            – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr. 64.

Tháng 2, ngày 16

Ký tên Vícto, Nguyễn Ái Quốc viết tiếp Thư gửi Ban Phương Đông, dưới hình thức trao đổi của một khách hàng với một công ty buôn bán. Trong thư có đoạn:

“Tôi mong ông đã nhận được tất cả thư của tôi cùng với những mẫu hàng mà tôi đã gửi qua nhân viên Trung Quốc của ông. Nay tôi gửi thêm những mẫu hàng khác qua người bạn Thượng Hải của tôi. Yêu cầu ông trả lời cho bạn tôi biết.

Tôi vừa nhận được hai tập sách rao hàng tiếng Anh của hãng “Inpơrétcơ và công ty”. Tôi còn phải nhận thêm ở bạn Thượng Hải của tôi nhiều tập sách ấy nữa (tiếng Pháp), để gửi cho các nhà buôn Đông Dương…”

            – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr. 65.

Tháng 2, ngày 19

Nguyễn Ái Quốc viết bài Nghệ Tĩnh đỏ (bằng tiếng Pháp), ký tên V. Bài viết có ba phần, đánh dấu I, II, III.

Phần I, giới thiệu sơ qua về tình hình địa lý, nhân văn, kinh tế và truyền thống cách mạng của hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh. Kết thúc phần I, Người viết: “Nghệ – Tĩnh thật xứng đáng với danh hiệu “đỏ””!

Phần II, trình bày những hình thức đấu tranh cách mạng của nhân dân Nghệ – Tĩnh những ngày cuối năm 1930 đầu năm 1931, đặc biệt là cuộc lễ “đỏ” tổ chức ở làng Lộc Đa, cách Vinh 2 km.

Phần III, vạch rõ những thủ đoạn nham hiểm của đế quốc Pháp trong việc bắt ép nhân dân tham gia các cuộc biểu tình phản cách mạng nhằm lừa bịp dư luận.

Cùng ngày, Người viết bài Khủng bố trắng ở Đông Dương, ký tên V., trình bày việc đế quốc Pháp bắt giam, xử án những người hoạt động cách mạng ở Thái Bình, Hà Nội, Nam Định và thái độ hiên ngang, dũng cảm của họ trước phiên toà.

            – Tài liệu tiếng Pháp, lưu tại Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng.

            – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr. 70-72; 66-69.

Tháng 2, ngày 21

Nguyễn Ái Quốc viết Thư gửi Ban Phương Đông, ký tên K. Trong thư Người thông báo tin Lý Tự Trọng bắn chết tên mật thám Lơ Grăng và đã bị bắt. Người viết: “Đồng chí thanh niên chắc chắn sẽ bị chúng xử bắn” và yêu cầu Ban Phương Đông liên lạc với Đảng Cộng sản Pháp “tổ chức biểu tình đòi thả đồng chí ấy ra”.

Người còn đề nghị Quốc tế Cộng sản, Quốc tế Công hội đỏ lên tiếng đoàn kết với cuộc đấu tranh của nhân dân Đông Dương.

Cuối thư, Người yêu cầu Ban Phương Đông “chuyển tôi về Thượng Hải” và “Hỏi Tổng liên đoàn Lao động thống nhất Pháp xem có đồng chí ở trên các tàu của Công ty hàng hải không” để liên lạc với Đảng Cộng sản Pháp và Tổng liên đoàn Lao động thống nhất Pháp.

            – Bản chụp bức thư, lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

Tháng 3, ngày 5

Với bí danh Quac. E. Wan, Nguyễn Ái Quốc viết bài Uy quyền của đế quốc Pháp ở Đông Dương gửi Quốc tế Cộng sản, tố cáo sự khủng bố dã man của đế quốc Pháp đối với nhân dân Đông Dương, ca ngợi tinh thần đấu tranh của nhân dân và khẳng định: “tinh thần đó sẽ đưa cách mạng đến thành công”, “không có lưỡi lê, bom đạn và súng máy nào có thể dập tắt được tinh thần đó”.

            – Bản chụp tài liệu, lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

Tháng 4, ngày 20

Nguyễn Ái Quốc viết Thư gửi Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương, ký tên Nguyễn Ái Quốc.

Trong thư, Người phê bình về cuộc Hội nghị Xứ uỷ Trung và Bắc trong “Cách khai hội”, “Cách thảo luận”, trong “Vấn đề công tác”, “Vấn đề tên Đảng”, “Lực lượng của Đảng”.

Người đề nghị Đảng phải sửa chữa những thiếu sót đó, phải có chương trình hành động cụ thể cho từng huyện và từng tỉnh, cho mỗi đồng chí trong mỗi tổ chức, và yêu cầu “Tất cả mọi đảng viên và tất cả các chi bộ phải thảo luận Chỉ thị của Quốc tế thứ ba và Nghị quyết của Trung ương”.

Thư có kèm theo một bảng thống kê số lượng đảng viên, chi bộ, thanh niên, công hội, nông hội, phụ nữ trong 13 tỉnh và huyện. Qua bảng thống kê này, Người chỉ ra “năm nơi có Nông hội rất yếu”, ở Trung (tức Trung Kỳ – B.T) chưa có chỗ nào tổ chức được công nhân nông nghiệp, ở Bắc (tức Bắc Kỳ – B.T) “chỉ có hai tỉnh là có Công hội”…

            – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr. 73-76.

Tháng 4, ngày 23

Nguyễn Ái Quốc viết Thư gửi Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương (đầu thư đề ngày 23-4-1931, cuối thư đề ngày 24-4-1931 và không ký tên người viết).

Trong thư, Người thông báo về những cán bộ được cử về nước theo đường dây liên lạc, nhắc nhở công tác bảo vệ Đảng, giữ gìn bí mật, duy trì chế độ báo cáo giữa Đảng Cộng sản Đông Dương với Quốc tế Cộng sản và đề nghị Trung ương ghi nhận nhiệm vụ của mình đã được Ban Phương Đông xác định.

Kèm theo thư là một “miếng giấy nhỏ” của Đoàn Thanh niên Cộng sản Quốc tế5.

            – Ảnh bút tích tiếng Việt, lưu tại Viện Lịch sử Đảng.

            – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr. 77-80.

Tháng 6, ngày 6

Sáng sớm, Nguyễn Ái Quốc – tên trong thẻ căn cước là Tống Văn Sơ, bị cảnh sát Hồng Kông, dưới sự chỉ đạo của thanh tra cảnh sát Carây (A.E. Carey) bất ngờ vây bắt tại ngôi nhà số 168, đường Tam Lung 1), Cửu Long mà không có lệnh bắt. Cùng bị bắt với Nguyễn Ái Quốc còn có Lý Phương Thuận (Lý Sâm). Cảnh sát thu được một số giấy tờ do Người ghi những địa danh mà cảnh sát Anh và mật thám Pháp không xác định được.

            – T. Lan: Vừa đi đường vừa kể chuyện, Nxb. Chính trị quốc gia – Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 1994, tr. 37-38.

            – Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông 1931 – 1933, (Tư liệu và hình ảnh), Nxb. Chính trị quốc gia – Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004, tr. 67 – 68.

            – Tự thuật của Lý Phương Thuận ngày 8-9-1969. Tài liệu lưu tại Viện Lịch sử Đảng.

Tháng 6, từ ngày 6 đến ngày 11

Nguyễn Ái Quốc bị giam trong nhà giam của Sở Cảnh sát Hồng Kông. Được một người Việt Nam báo tin Người bị bắt và nhờ giúp đỡ, F.H.Lôdơbi (Francis Henry Loseby) 2) một luật sư người Anh đến thăm Người. Khi Nguyễn Ái Quốc nói không có tiền để nhờ cãi, ông Lôdơbi đã hứa sẽ giúp “vì danh dự chứ không nhất thiết vì tiền”.

Người đã cung cấp những thông tin cần thiết cho luật sư và cùng luật sư thống nhất về phương hướng bào chữa.

            – Trần Dân Tiên: Hồ Chí Minh truyện. Bản dịch tiếng Hán của Trương Niệm Thức, Bát Nguyệt xuất bản xã, Thượng Hải, tháng 6-1949, tr. 106.

            – Lời kể của luật sư Lôdơbi, Trịnh Ngọc Thái ghi.

Tháng 6, ngày 11

Nguyễn Ái Quốc bị Thống đốc Hồng Kông ra lệnh bắt giam (Lệnh thứ nhất).

            – Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông 1931 – 1933, (Tư liệu và hình ảnh), Nxb. Chính trị quốc gia – Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004, tr. 118.

Tháng 6, từ ngày 12 đến ngày 18

Nguyễn Ái Quốc bị đưa từ Nhà giam của Sở Cảnh sát Hồng Kông đến giam tại ngục Víchtôria.

            – Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông 1931 – 1933, (Tư liệu và hình ảnh), Nxb. Chính trị quốc gia -Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004, tr. 118.

Tháng 6, ngày 15

Nhiều tài liệu do Nguyễn Ái Quốc viết bị cảnh sát tìm thấy ở Văn phòng của Hile Nulen (Hilaire Noulens) – Thư ký Chi nhánh Ban Phương Đông, Quốc tế Cộng sản khi ông này bị bắt ở Thượng Hải.

            – Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông 1931 – 1933, (Tư liệu và hình ảnh), Nxb. Chính trị quốc gia -Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004, tr. 279.

Tháng 6, ngày 24

Nguyễn Ái Quốc được luật sư người Anh F.H. Lôdơbi đến gặp tại ngục Víchtôria.

            – Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông 1931 – 1933, (Tư liệu và hình ảnh), Nxb. Chính trị quốc gia – Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004, tr. 263-271, 279.

Tháng 6, ngày 25

Nguyễn Ái Quốc bị Thống đốc Hồng Kông ra lệnh bắt giam (Lệnh thứ hai).

            – Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông 1931 – 1933, (Tư liệu và hình ảnh), Nxb. Chính trị quốc gia – Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004, tr. 279.

Tháng 7, ngày 2

Nguyễn Ái Quốc bị Thống đốc Hồng Kông ra lệnh bắt giam (Lệnh thứ ba).

            – Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông 1931 – 1933, (Tư liệu và hình ảnh), Nxb. Chính trị quốc gia – Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004, tr. 279.

Tháng 7, ngày 10

Nguyễn Ái Quốc bị Thư ký Trung Hoa vụ thẩm vấn lần thứ nhất.

            – Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông 1931 – 1933, (Tư liệu và hình ảnh), Nxb. Chính trị quốc gia – Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004, tr. 279.

Tháng 7, ngày 14

Nguyễn Ái Quốc bị Thư ký Trung Hoa vụ thẩm vấn lần thứ hai.

            – Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông 1931 – 1933, (Tư liệu và hình ảnh), Nxb. Chính trị quốc gia – Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004, tr. 279.

Tháng 7, ngày 20

Nguyễn Ái Quốc bị Thư ký Trung Hoa vụ thẩm vấn lần thứ ba.

            – Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông 1931 – 1933, (Tư liệu và hình ảnh), Nxb. Chính trị quốc gia – Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004, tr. 280.

Tháng 7, ngày 30

Nguyễn Ái Quốc bị Thống đốc Hồng Kông ra lệnh bắt giam (Lệnh thứ tư).

            – Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông 1931 – 1933, (Tư liệu và hình ảnh), Nxb. Chính trị quốc gia – Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004, tr. 280.

Tháng 7, ngày 31

Nguyễn Ái Quốc bị Toà án tối cao Hồng Kông xét xử -Phiên toà thứ nhất. Tại toà, luật sư Ph. C. Gienkin (F.C. Jenkin) theo sự uỷ nhiệm của luật sư Lôdơbi (F.H. Loseby), thuộc “Văn phòng luật sư Rớtxơ” (Russ & Co) thay mặt Nguyễn Ái Quốc (Tống Văn Sơ) và Lý Phương Thuận (Lý Sâm) nêu rõ: Việc bắt Nguyễn Ái Quốc và Lý Phương Thuận ngày 6 tháng 6 mà không có lệnh bắt là bất hợp pháp và việc thẩm vấn họ sau 1 tháng (ngày 10 tháng 7) mới tiến hành là phạm luật. Nội dung thẩm vấn vượt ra ngoài những quy định của Luật là không hợp lệ 3). Thêm nữa, sự vắng mặt của Nguyễn Ái Quốc và Lý Phương Thuận tại phiên toà là vi phạm Luật Bảo thân (Habeas Corpus)  4).

            – Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông 1931 – 1933, (Tư liệu và hình ảnh), Nxb. Chính trị quốc gia – Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004, tr. 118-119, 280.

Tháng 8, ngày 14

Nguyễn Ái Quốc bị Toà án tối cao Hồng Kông xét xử – Phiên toà thứ hai, nhưng bị can không có mặt tại phiên toà. Luật sư Gienkin yêu cầu cho hai bị can có mặt để có thêm thông tin cần thiết, nếu cần, nhưng bị viên công tố Alabaxtơ phản đối. Ông ta đọc Lệnh trục xuất nguyên đơn trong 10 năm và kèm theo là Lệnh của Thống đốc yêu cầu nguyên đơn “phải rời Nhượng địa bằng một tàu biển được chỉ định rời Hồng Kông ngày 18 tháng 8, tàu Angiê”.

Tiếp đó, viên công tố đọc lời khai có tuyên thệ của nguyên đơn, trong đó chỉ rõ sự vi phạm luật của việc bắt và thẩm vấn Nguyễn Ái Quốc. Theo luật, người thẩm vấn chỉ có quyền hỏi một số câu hỏi nhất định, được in sẵn, nhưng cuộc thẩm vấn ở đây mang đầy tính đối chất về qúa khứ nhằm ép Nguyễn Ái Quốc phạm các tội tuyên truyền cách mạng và có những hành động sai trái khác. Cuối lời khai có tuyên thệ, Nguyễn Ái Quốc tố cáo có nhân viên của chính quyền Đông Dương theo dõi Người ở trong tù, và nói thêm: “Nếu tôi bị trục xuất đến Đông Dương, tôi sẽ bị giết, dù có xét xử hay không xét xử”.

            – Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông 1931 – 1933, (Tư liệu và hình ảnh), Nxb. Chính trị quốc gia – Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004, tr. 130-131, 280.

Tháng 8, ngày 15

Nguyễn Ái Quốc bị Toà án tối cao Hồng Kông xét xử – Phiên toà thứ ba. Tại toà, công tố viên Alabaxtơ đọc lời khai có tuyên thệ của Tống Văn Sơ (tức Nguyễn Ái Quốc): “Tống Văn Sơ đã phủ nhận lời khai có tuyên thệ của ông do Trợ lý Thư ký Trung Hoa vụ đưa ra, bởi vì lời khai đó làm người ta hiểu rằng chỉ có duy nhất một cuộc thẩm vấn, trong khi đó ông bị thẩm vấn ba lần. Bị cáo cũng tố cáo rằng ông bị bắt ngày 6 tháng 6 chứ không phải ngày 12 tháng 6”. Tiếp theo, Alabaxtơ đọc các câu hỏi và các câu trả lời khi thẩm vấn Tống Văn Sơ do Thư ký Trung Hoa vụ biên soạn, đã cố tình làm lệch lời khai; trong đó có đoạn: “Tôi phủ nhận lời buộc tội đó. Tôi không phải là một người cộng sản, nhưng tôi là người theo chủ nghĩa dân tộc. Chủ nghĩa dân tộc, theo tất cả những gì mà chúng tôi biết, có nghĩa là chiến đấu vì nhà vua và vì đất nước… Chúng tôi là một dân tộc đang chiến đấu và có khả năng tự đứng vững trên chính đôi chân của mình, nhưng cũng cần phải tìm sự viện trợ từ bên ngoài… Vì tổ chức của tôi và tôi trông cậy vào sự giúp đỡ của nước Anh nên tôi không hiểu vì sao tôi lại bị bắt…. Trong thẩm vấn, khi viên Thư ký Trung Hoa vụ đưa ảnh của Nguyễn Ái Quốc ra hỏi: đây có phải là ảnh của Tống Văn Sơ không, Người đã trả lời: “Tôi thừa nhận rằng bức ảnh trông giống tôi và có thể là tôi, nhưng tôi không bao giờ đội cái mũ như vậy. Tôi thừa nhận bức ảnh trong hộ chiếu là của tôi (hộ chiếu này mang tên Tống Văn Sơ)… Tôi thừa nhận là tôi đã thuê căn hộ trong ngôi nhà số 186 đường Tam Kung. Tôi muốn nói rằng bạn tôi tên là Vương đã thuê căn hộ đó.

Ông Vương đã rời Hồng Kông vào tháng 4 và tôi đã tiếp quản từ ông ấy và trả tiền thuê nhà. Người bạn tên là Vương này là nhà buôn và là một người bạn cũ của tôi. Tôi biết ông ấy đã từ rất lâu. Ông ấy không phải là nhà cách mạng.

Tôi thừa nhận rằng tôi đã từng ở Thượng Hải nhưng đã cách đây nhiều năm rồi. Gần đây tôi không liên lạc gì với Thượng Hải. Không có đảng bộ nào của Đảng An Nam ở Thượng Hải…

Tôi không muốn bị trục xuất. Tôi muốn được tự do…

Tôi tha thiết đề nghị cho tôi được tự do hai hoặc ba tuần nếu tôi bị trục xuất, cốt để cho tôi có thì giờ kiến nghị tới Ngài Bộ trưởng rằng tôi muốn được phép sang Anh quốc” 5).

            – Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông 1931 – 1933, (Tư liệu và hình ảnh), Nxb. Chính trị quốc gia – Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004, tr. 133-136, 280.

Tháng 8, ngày 20

Nguyễn Ái Quốc bị Toà án tối cao Hồng Kông xét xử – Phiên toà thứ tư. Viên công tố Alabaxtơ tuyên bố thừa nhận lệnh trục xuất đối với Tống Văn Sơ lần thứ nhất là sai, do nội dung thẩm vấn sai; nhưng ngay sau đó lại tuyên bố lệnh trục xuất thứ hai vừa mới được ban hành vào chiều 15-8-1931, riêng với bị cáo nam và cho phép Lý Phương Thuận được rời ghế bị cáo.

Luật sư Ph. Gienkin phản đối vì: Nếu việc giam giữ là bất hợp pháp thì không thể biến thành hợp pháp bằng cách ban hành một lệnh trục xuất mới giữa hai phiên toà.

            – Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông 1931 – 1933, (Tư liệu và hình ảnh), Nxb. Chính trị quốc gia – Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004, tr. 142-143, 280.

Tháng 8, ngày 24

Nguyễn Ái Quốc bị Toà án tối cao Hồng Kông xét xử – Phiên tòa thứ năm.

Nguyễn Ái Quốc được luật sư Ph. Gienkin bảo vệ bằng cách vạch rõ sự giả dối và lừa bịp, đội lốt trục xuất để giao bị cáo cho nhà cầm quyền Pháp. Ông nói: “Cả hai lệnh trục xuất trên đây đều bất hợp pháp…

Giả sử lệnh thứ nhất đã được thực hiện, thì Hội đồng Thống đốc cũng không thể bắt giữ theo lệnh thứ hai vì nó hoàn toàn trái với luật hiện hành, quy định không được bắt giữ lại một người vừa mới được phóng thích theo Luật Bảo thân (Habeas Corpus) vì cùng một nguyên nhân, một vấn đề, hay một lý do”.

Sau đó, ông đọc lời khai mới có tuyên thệ của bị cáo Tống Văn Sơ trước toà: “Tôi 36 tuổi. Tôi sinh ở thành phố Đông Hưng thuộc tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc.

Tôi đã gắn bó mật thiết với phong trào cách mạng ở Việt Nam và Đông Dương nói chung, phong trào có mục đích cao nhất là lật đổ toàn bộ quyền lực của Chính phủ Pháp ở đó và thay thế bằng một chính phủ dân tộc dưới sự lãnh đạo của người bản xứ. Tôi đã tham gia tích cực vào phong trào này trong một thời gian trước ngày tôi bị bắt ở Hồng Kông ngày 6-6-1931.

Theo những người cầm quyền của Chính phủ Pháp thì tham gia vào một phong trào như vậy là phạm tội và kẻ phạm tội phải nhận án tử hình.

… Mục đích thực sự của Chính quyền Hồng Kông khi tiến hành các thủ tục trục xuất tôi là nhằm khẳng định việc giao tôi cho Pháp ở Đông Dương để Chính phủ Pháp xử lý tôi theo tội trạng đã nói trên.

Tiếp theo, luật sư Gienkin chất vấn: Hội đồng Hành pháp có họp được đông đủ vào thứ bảy ngày 15 tháng 8 hay không, và có cuộc họp vào ngày đó hay không, vì theo thông lệ chỉ họp vào thứ năm hàng tuần?

            – Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông 1931 – 1933, (Tư liệu và hình ảnh), Nxb. Chính trị quốc gia – Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004, tr. 144-147, 280.

Tháng 8, ngày 25

Nguyễn Ái Quốc bị Toà án tối cao Hồng Kông xét xử – Phiên toà thứ sáu.

Nguyễn Ái Quốc được luật sư Ph. Gienkin bênh vực bằng cách yêu cầu viên công tố phải thừa nhận rằng: tài liệu đánh máy do Ban Thư ký Trung Hoa vụ đưa ra nói rằng nguyên đơn (tức Tống Văn Sơ – T.G) khi thẩm vấn đã khai có bí danh thứ ba là Nguyễn Ái Quốc, là tài liệu giả. Cuối cùng, Công tố viên Alabaxtơ phải thừa nhận trước toà rằng: Cuộc họp của Hội đồng Hành pháp được tiến hành vào thứ năm ngày 13 tháng 8, còn lệnh trục xuất (Nguyễn Ái Quốc) đề ngày thứ bảy 15 tháng 8 (!).

            – Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông 1931 – 1933, (Tư liệu và hình ảnh), Nxb. Chính trị quốc gia -Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004, tr. 148-149, 281.

Tháng 8, trước ngày 28

Nguyễn Ái Quốc viết thư cho Thái tử Cường Để đang sống ở Nhật Bản nhờ Lý Phương Thuận (Lý Sâm) chuyển sau khi được trả tự do và rời khỏi Hồng Kông.

            – Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông 1931 – 1933, (Tư liệu và hình ảnh), Nxb. Chính trị quốc gia – Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004, tr. 281.

Tháng 9, ngày 2

Nguyễn Ái Quốc bị Toà án tối cao Hồng Kông xét xử – Phiên toà thứ bảy.

Công tố viên Phitroi thừa nhận việc bắt giam Tống Văn Sơ là bất hợp pháp, nhưng lệnh trục xuất thứ hai ngày 15 tháng 8 và việc giam giữ sau đó là hợp pháp.

Nguyễn Ái Quốc được luật sư Ph. Gienkin bênh vực bằng một lập luận: Không thể làm cho việc giam giữ bất hợp pháp được hợp pháp bằng việc ban hành một lệnh hợp pháp, ngay cả khi luật pháp cho phép. Ý kiến về điều này vẫn được bảo lưu.

            – Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông 1931 – 1933, (Tư liệu và hình ảnh), Nxb. Chính trị quốc gia – Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004, tr. 150-151, 281.

Tháng 9, ngày 11

Nguyễn Ái Quốc bị Toà án tối cao Hồng Kông xét xử – Phiên toà thứ tám.

Toà án đọc phán quyết: Trục xuất Tống Văn Sơ về Đông Dương theo lệnh trục xuất của Thống đốc Hồng Kông ngày 15 tháng 8. Bảo vệ cho quyền lợi của Nguyễn Ái Quốc, luật sư Ph. Gienkin phản đối lệnh trục xuất này: “Luật Bảo thân (Habeas Corpus) cấm bắt lại một người vì cùng một lý do hoặc cùng một sự việc, sau khi người đó đã được phóng thích theo Luật Bảo thân và ở đây nguyên đơn phải được xem như đã được trắng án vì lệnh trục xuất thứ nhất là bất hợp pháp. Việc bắt giữ một người đang bị giam giữ bất hợp pháp là một việc làm bất hợp pháp, dù cho lệnh bắt giữ là hợp pháp”. Lệnh trục xuất có kèm theo lệnh chỉ định tàu biển đi về hướng Đông Dương thực chất là một thủ đoạn dẫn độ, là sai luật.

Luật sư Ph. Gienkin tuyên bố sẽ kháng án lên Hội đồng Cơ mật.

            – Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông 1931 – 1933, (Tư liệu và hình ảnh), Nxb. Chính trị quốc gia – Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004, tr. 152-154, 281.

Tháng 9, ngày 12

Nguyễn Ái Quốc bị Toà án tối cao Hồng Kông xét xử – Phiên toà thứ chín.

Tại toà, luật sư của Nguyễn Ái Quốc phát biểu chống lại phán quyết của Toà án thực chất là muốn giao Người cho nhà đương cục Pháp, là trái với Luật Dẫn độ. Luật sư yêu cầu cho Tống Văn Sơ được tự lựa chọn nơi đến, yêu cầu hưởng quyền tự do công dân mà ông đã bị tước đoạt từ ngày 6 tháng 6 và phải trả cho ông số tiền là trên 5000 đôla.

Sau khi Toà nghe bản kháng án tám điểm của luật sư Ph. Gienkin và nghe lời phản đối của ông công tố Alabaxtơ, Toà án chấp nhận cho phép Tống Văn Sơ kháng án lên Hội đồng Cơ mật với điều kiện phải nộp hồ sơ trong thời hạn ba tháng.

            – Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông 1931 – 1933, (Tư liệu và hình ảnh), Nxb. Chính trị quốc gia – Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004, tr. 155- 156, 281.

Tháng 9, ngày 13

Ngay sau Phiên toà thứ chín kết thúc một ngày, Nguyễn Ái Quốc gửi thư cho Thống đốc Hồng Kông xin được đi Anh mà không yêu cầu điều kiện gì, miễn là được bảo đảm an toàn. Sau đó, Thống đốc Hồng Kông đã gửi điện cho Bộ trưởng Bộ Thuộc địa Anh biết về yêu cầu này, hỏi ý kiến có đồng ý giải quyết như thế không, và nếu đồng ý thì có muốn đặt điều kiện đặc biệt nào không?

Bộ trưởng Bộ Thuộc địa Anh trong thư trả lời, gợi ý: Chỉ cần phóng thích, cho ông ta tự thu xếp rời Nhượng địa trong thời hạn ấn định, và làm thế nào để tránh được sự phản đối của Pháp.

            – Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông 1931 – 1933, (Tư liệu và hình ảnh), Nxb. Chính trị quốc gia – Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004, tr. 167, 168.

Tháng 10, đầu tháng

Nguyễn Ái Quốc tiếp bà Xtenla Benxơn 6). – một nhà hoạt động văn học và sân khấu ở Hồng Kông, vào thăm Người trong nhà tù Hồng Kông.

Người nói chuyện với bà Xtenla Benxơn bằng tiếng Anh với một thái độ rất lịch thiệp. Với thiện cảm đặc biệt, bà Benxơn đã yêu cầu chồng mình – ông Tômát Xaothonơ, lúc đó là Phó thống đốc Hồng Kông – giúp đỡ Nguyễn Ái Quốc.

            – F. H. Lôdơbi: Băng ghi âm buổi toạ đàm tại Bảo tàng Cách mạng Việt Nam, tháng 2-1960, lưu tại Bảo tàng Cách mạng Việt Nam.

            – Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông 1931 – 1933, (Tư liệu và hình ảnh), Nxb. Chính trị quốc gia – Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004, tr. 273.

Tháng 11, đầu tháng

Nguyễn Ái Quốc bị bệnh lao phổi ở dạng tái phát. Nhờ sự can thiệp của luật sư Lôdơbi, Người được chuyển từ ngục Víchtôria sang bệnh xá của nhà tù.

Những ngày nằm ở bệnh viện, Nguyễn Ái Quốc được mọi người kính trọng. Một lần, cô y tá Trung Quốc thường ngày chăm sóc Người, hỏi: “Cộng sản là thế nào? Chú làm cộng sản làm gì để bị bắt bớ khổ thân?”. Nguyễn Ái Quốc đã giải thích tóm tắt cho cô hiểu và khêu gợi ở cô tinh thần dân tộc chống đế quốc.

            – T. Lan: Vừa đi đường vừa kể chuyện, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1994, tr. 46.

            – Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông 1931 – 1933, (Tư liệu và hình ảnh), Nxb. Chính trị quốc gia – Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004, tr. 201, 281.

Tháng 12, ngày 1

Đơn kháng án của Nguyễn Ái Quốc gửi lên Hội đồng Cơ mật Hoàng gia Anh được Toà án tối cao Hồng Kông chấp thuận.

            – Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông 1931 – 1933, (Tư liệu và hình ảnh), Nxb. Chính trị quốc gia – Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004, tr. 281.

Tháng 12, ngày 17

Nguyễn Ái Quốc nhận được thư kèm theo 300 yên và thuốc men của Thái tử Cường Để từ Nhật Bản gửi khi biết Người bị ốm nặng trong nhà ngục ở Hồng Kông.

            – Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông 1931 – 1933, (Tư liệu và hình ảnh), Nxb. Chính trị quốc gia – Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004, tr.170, 281.

_____________________________

1) Có tài liệu ghi là Tam Tung hoặc Tam Kung (chưa xác minh được). Bản thảo bút tích của T.Lan: Vừa đi đường vừa kể chuyện viết là Tam Tung (B.T).

2) F.H. Lôdơbi là luật gia dân chủ tiến bộ người Anh, lúc đó là Giám đốc Công ty luật sư RUSS (của người Anh) ở Hồng Kông (B.T).

3) Theo luật pháp Anh quốc, khi thẩm vấn chỉ được hỏi bảy câu hỏi: 1. Tên, 2. Tuổi, 3. Nơi sinh, 4. Người ta tố cáo rằng…. và chứng minh về sự vô tội của bị cáo, 5. Đã ở đây bao lâu, 6. Có người nào quen ở đây? Tên gì? Ở đâu? 7. Người làm chứng, địa chỉ của họ. Nhưng khi thẩm vấn, người thẩm vấn đã hỏi Nguyễn Ái Quốc có phải là cộng sản hay thành viên của Quốc tế thứ ba, hay người cách mạng không? Khi thẩm vấn Lý Phương Thuận lại hỏi: Có chồng hay chưa? (Trong khi Lý Phương Thuận mới 16 tuổi) (B.T).

4) Luật Bảo thân có nghĩa là “bị cáo phải có mặt” tại phiên toà nhằm giám sát các toà án cấp dưới, kiểm tra tính hợp pháp của việc giam giữ một người nào đó và bị cáo phải có mặt tại phiên toà (B.T).

5) Những nội dung trên đây được báo Bưu điện Hoa Nam buổi sáng, ngày 17-8-1931 đưa tin (B.T).

6)  Bà Xtenla Benxơn là bạn thân của bà Lôdơbi. Bà đã cùng chồng vào thăm Nguyễn Ái Quốc trong nhà tù Hồng Kông (B.T).

Theo dangcongsan.vn
Vkyno (st)

Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử – Tập 2 (Năm 1930)

Tháng 1, một buổi chiều ngày đầu tháng

Nguyễn Ái Quốc đến Thượng Hải (Trung Quốc) hẹn gặp Nguyễn Lương Bằng. Người dẫn đồng chí Bằng đi dạo quanh mấy phố, hỏi han về tình hình công nhân, binh lính, về chỗ ở và tình hình hoạt động của đồng chí Bằng, đã bị lộ chưa. Người căn dặn đồng chí Bằng: “Tôi ở đây chỉ vài ngày… Hôm nay chỉ cốt gặp nhau thôi, hẹn hôm sau nói chuyện lâu. Đồng chí công tác cố gắng đấy, nhưng phải cẩn thận. Nó đang khủng bố riết”.

– Anh Cả Nguyễn Lương Bằng, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, tr. 152.

Tháng 1, buổi sáng hôm sau

Theo lời hẹn, Nguyễn Ái Quốc gặp Nguyễn Lương Bằng tại một căn buồng thuê vào hạng rẻ tiền trong một khách sạn ở Thượng Hải. Người mời đồng chí Bằng ở lại ăn cơm để có thời gian trò chuyện. Người dặn đồng chí Bằng: “Hoạt động trong binh lính phải rất thận trọng. Anh em hăng nhưng trong tay sẵn có vũ khí thì dễ manh động”.

            – Anh Cả Nguyễn Lương Bằng, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, tr. 153.

Tháng 1, đầu tháng

Nguyễn Ái Quốc viết thư cho Nguyễn Lương Bằng, hẹn đến thư viện ở đường Nam Kinh. Cuối thư có câu: “Đến thư viện phải ăn mặc tươm tất, đi vào phải cho êm”. Khi đến thư viện, đồng chí Bằng mới hiểu hết ý nghĩa dặn dò trong thư của Nguyễn Ái Quốc và được chỉ dẫn thêm: “Phong trào bây giờ lên khá cao, công việc của đồng chí thì nhiều, một mình làm không xuể. Phương tiện cũng ít ỏi. Muốn đẩy mạnh công tác, phải có sự giúp đỡ của Đảng anh em. Người cộng sản bất kỳ hoạt động ở nước nào cũng phải chịu sự lãnh đạo của Đảng ở đấy” 1).

            – Anh Cả Nguyễn Lương Bằng, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, tr. 153.

Tháng 1, đầu tháng

Nguyễn Ái Quốc liên lạc được với cơ quan của Đảng Cộng sản Trung Quốc ở Hồng Kông và được sự giúp đỡ của các đồng chí Trung Quốc.

– Nhiêu Vệ Hoa: Nhớ lại việc tôi tham gia cách mạng. Dẫn theo Hoàng Tranh: Hồ Chí Minh với Trung Quốc, Nxb. Giải phóng quân, Bắc Kinh, 1984, tr. 43.

Tháng 1, khoảng giữa tháng

Tại cơ quan bí mật của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên ở Hồng Kông, Nguyễn Ái Quốc tiếp Nhiêu Vệ Hoa2).

Người thông báo về mục đích chuyến công tác là để thống nhất các tổ chức cộng sản của Việt Nam, thành lập Đảng Cộng sản.

– Nhiêu Vệ Hoa: Nhớ lại việc tôi tham gia cách mạng. Dẫn theo Hoàng Tranh: Hồ Chí Minh với Trung Quốc, Nxb. Giải phóng quân, Bắc Kinh, 1984, tr. 43.

Tháng 1, cuối tháng

Tại nơi ở của mình, Nguyễn Ái Quốc tiếp Lý Phú Xuân và Thái Sướng đến thăm.

– Nhiêu Vệ Hoa: Nhớ lại việc tôi tham gia cách mạng. Dẫn theo Hoàng Tranh: Hồ Chí Minh với Trung Quốc, Nxb. Giải phóng quân, Bắc Kinh, 1984, tr. 43.

Tháng 2, trước ngày 3

Tại nơi ở của mình, Nguyễn Ái Quốc tiếp Nhiêu Vệ Hoa và một nữ đồng chí3) của cơ quan Tỉnh uỷ Quảng Đông, Đảng Cộng sản Trung Quốc.

Nhiêu Vệ Hoa đã chúc mừng việc triệu tập Hội nghị thống nhất các tổ chức cộng sản và thành lập Đảng Cộng sản ở Việt Nam.

– Nhiêu Vệ Hoa: Nhớ lại việc tôi tham gia cách mạng. Dẫn theo Hoàng Tranh: Hồ Chí Minh với Trung Quốc, Nxb. Giải phóng quân, Bắc Kinh, 1984, tr. 43.

Tháng 2, từ ngày 3 đến ngày 7

Nguyễn Ái Quốc chủ trì Hội nghị hợp nhất, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam1.

Hội nghị được tiến hành từ ngày 3 đến ngày 7-2-1930 (từ ngày 5 đến ngày 9 tháng Giêng năm Canh Ngọ). Buổi đầu tổ chức tại một căn phòng của một công nhân nghèo, sau đó chuyển qua một số địa điểm khác ở Cửu Long (Hồng Kông, Trung Quốc).

Đại biểu của Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng, chi bộ của những người cộng sản Việt Nam ở nước ngoài, đã tham dự Hội nghị 4).

Hội nghị đã nhất trí với đề xuất của Nguyễn Ái Quốc về việc hợp nhất các tổ chức cộng sản thành một Đảng duy nhất – Đảng Cộng sản Việt Nam. Hội nghị đã thông qua những văn kiện chính thức của Đảng – Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Điều lệ vắn tắt…- do Người khởi thảo. Nội dung của các văn kiện này xác định cách mạng Việt Nam là “tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”; “thâu hết sản nghiệp lớn (như công nghiệp, vận tải, ngân hàng,v.v.) của tư bản đế quốc chủ nghĩa Pháp để giao cho chính phủ công nông binh quản lý”; “Đảng phải hết sức liên lạc với tiểu tư sản, trí thức, trung nông… trung, tiểu địa chủ và tư bản An Nam mà chưa rõ mặt phản cách mạng thì phải lợi dụng, ít lâu mới làm cho họ đứng trung lập. Bộ phận nào đã ra mặt phản cách mạng (Đảng Lập hiến, v.v…) thì phải đánh đổ”, “không khi nào nhượng một chút lợi ích gì của công nông mà đi vào đường thoả hiệp”, “phải đồng tuyên truyền và thực hành liên lạc với bị áp bức dân tộc và vô sản giai cấp thế giới, nhất là vô sản giai cấp Pháp”. Các văn kiện này là Cương lĩnh đầu tiên của Đảng.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr. 1-7.

– Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Trung ương: Chủ tịch Hồ Chí Minh – Tiểu sử và sự nghiệp, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1980, tr. 68.

– Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998, t. 2, tr. 4-5.

Tháng 2, khoảng từ ngày 5 đến ngày 8

Nguyễn Ái Quốc “đãi” các đại biểu một bữa cơm nhân dịp Tết Nguyên đán, vừa tiết kiệm vừa linh đình, nhân sự kiện thành lập Đảng.

– T. Lan: Vừa đi đường vừa kể chuyện, Nxb. Chính trị quốc gia – Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 1994, tr. 35.

Tháng 2, ngày 13

Nguyễn Ái Quốc rời Hồng Kông.

– Bản chụp Báo cáo của Nguyễn Ái Quốc gửi Quốc tế Cộng sản, ngày 18-2-1930 (viết bằng tiếng Anh), lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr. 17.

Tháng 2, ngày 18

Nhân sự kiện lịch sử thành lập Đảng, Nguyễn Ái Quốc thay mặt Quốc tế Cộng sản2 và Đảng Cộng sản Việt Nam viết Lời kêu gọi gửi công nhân, nông dân, binh lính, thanh niên, học sinh và tất cả đồng bào bị áp bức, bóc lột.

Mở đầu, Người viết:

“Nhận chỉ thị của Quốc tế Cộng sản giải quyết vấn đề cách mạng ở nước ta, tôi đã hoàn thành nhiệm vụ và thấy có trách nhiệm phải gửi tới anh chị em và các đồng chí lời kêu gọi này”.

Sau khi tố cáo sự áp bức và bóc lột vô nhân đạo của đế quốc Pháp, Người kêu gọi: “Từ nay anh chị em chúng ta cần phải gia nhập Đảng, ủng hộ Đảng và đi theo Đảng” để đánh đổ đế quốc Pháp, phong kiến An Nam và giai cấp tư sản phản cách mạng, làm cho nước An Nam được độc lập, thành lập Chính phủ công – nông – binh,… đem lại mọi quyền tự do cho nhân dân, thực hành giáo dục toàn dân, thực hiện nam nữ bình quyền.

Cùng ngày, Nguyễn Ái Quốc viết Báo cáo gửi Quốc tế Cộng sản (viết bằng tiếng Anh).

Báo cáo gồm các mục sau:

A/ Vài nét về hoạt động của Người trong năm 1928-1929 (những hoạt động với Việt kiều ở Xiêm).

B/ Công tác của Người ở Lào (tình hình Việt kiều).

C/ Đi về An Nam (hai lần cố gắng về nước song phải quay trở lại).

D/ Tới Trung Quốc (đến ngày 23-12-1929, triệu tập hai nhóm Đông Dương Cộng sản Đảng và An Nam Cộng sản Đảng, họp vào ngày 6-1-1930, tiến hành hợp nhất và thành lập Đảng; các đại biểu về nước ngày 8-2-1930).

E/ Công tác của Trung ương mới (tổ chức các tổ chức quần chúng,…).

F/ Những lực lượng của chúng ta: 5 tổ chức chính trị ở Đông Dương: Đảng Lập hiến, Đảng Tân Việt, Quốc dân Đảng, Hội An Nam Thanh niên Cách mạng, Đảng Cộng sản.

G/ Phong trào đình công.

H/ Khủng bố trắng.

I/ Kinh tế và chính trị nói chung.

J/ Những kiến nghị (về mối quan hệ giữa Đảng Cộng sản Việt Nam với Đảng bộ Xanhgapo, Đảng Cộng sản Trung Quốc).

K/ Một số vấn đề khác.

L/ Trong lời nhắn thêm, Người viết: “Tôi rời Hồng Kông vào ngày 13-2. Cho tới khi đó tôi không nhận được tin tức gì từ Pháp và hai đồng chí An Nam. Tôi rất lo lắng về họ” 5).

Sau báo cáo có kèm Lời kêu gọi gửi công nhân, nông dân, binh lính, thanh niên, học sinh, anh chị em bị áp bức, bóc lột. Cuối cùng là mấy dòng tái bút với chữ ký tắt N.A.Q.

– Bản chụp bút tích tiếng Anh, lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr. 11-18.

Tháng 2, ngày 27

Nguyễn Ái Quốc viết một số bức thư.

Trong Thư gửi đại diện Tổng Công hội thống nhất Pháp ở Quốc tế Công hội, Người yêu cầu đồng chí đại diện “hỏi Đảng bộ về việc gửi các báo và tạp chí của Đảng cho chúng tôi… Đồng thời gửi cho chúng tôi một tờ báo tư sản của nước các đồng chí để cãi với cảnh sát nếu chúng phát hiện chúng tôi nhận báo chí cộng sản”.

Cuối thư, Người thay mặt Đảng Cộng sản Đông Dương, ghi địa chỉ của mình: Ông Lý, Hương Cảng tiểu dạ báo, số nhà 53, phố Uynhêm, Hồng Kông.

Trong Thư gửi Văn phòng đại diện Đảng Cộng sản Đức ở Quốc tế Cộng sản (viết bằng tiếng Pháp), Người đề nghị xin cho Người một giấy chứng nhận là phóng viên báo Thế giới (Die Welt) – một tờ báo không mang cái tên “có tính chất lật đổ”, với “Tên của tôi sẽ là L.M. Vương” để có một nghề nói với người khác trong hoàn cảnh sống không hợp pháp.

Cuối thư, Người ghi địa chỉ “để gửi giấy chứng nhận”: ông Tiết Nguyệt Lâm, Hoa Phong công ty, số nhà 136, đường Wan Chai, Hồng Kông.

Trong Thư gửi đại diện Đảng Cộng sản Pháp ở Quốc tế Cộng sản (viết bằng tiếng Pháp), Nguyễn Ái Quốc thông báo “Đảng Cộng sản Việt Nam đã được thành lập”, yêu cầu “cho chúng tôi một tủ sách” và hướng dẫn cách gửi. Người đề nghị các đồng chí Pháp “cho chúng tôi biết tên những con tàu chạy đường Pháp – Viễn Đông trên đó có các đồng chí Pháp làm việc và cho chúng tôi biết tên các đồng chí đó để chúng tôi có thể bắt liên lạc với họ”, yêu cầu Trường đại học Phương Đông3 “không nhận các đại biểu hoặc học sinh An Nam nào không có sự giới thiệu của Đảng Cộng sản Việt Nam”.

Coi như bước đầu của sự hợp tác giữa hai Đảng, Người đề nghị “Đảng Cộng sản Pháp công bố một bức thư góp ý kiến với Đảng Cộng sản Việt Nam và ra lời kêu gọi lính Pháp ở Đông Dương”.

Trong thư có đoạn yêu cầu được làm rõ vị trí của Nguyễn Ái Quốc, thời hạn và vị trí mà Quốc tế Cộng sản giao cho Người hiện đã hết chưa: “Lúc này tôi chưa biết rõ vị trí của tôi. Tôi hiện là đảng viên Đảng Cộng sản Pháp hay Đảng Cộng sản Việt Nam? Cho đến khi có lệnh mới, tôi vẫn phải chỉ đạo công việc của Đảng Cộng sản Việt Nam. Nhưng với danh nghĩa gì? Tôi không tham gia Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam vì tôi chưa trở về Đông Dương được, nhất là lúc này, chúng đã ban cho tôi một cái án tử hình vắng mặt. Sự uỷ nhiệm công tác của Quốc tế Cộng sản cho tôi đã hết hạn chưa?… Tôi đề nghị các đồng chí nhắc Ban Thường vụ Quốc tế Cộng sản cho quyết định về việc này”.

Cuối thư, Người đề nghị các đồng chí Pháp công bố trên báo LHumanité và tập san Inprekorr Lời kêu gọi nhân dịp thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, và thông báo địa chỉ gửi thư: Gửi cho Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, đề trên phong bì: Ông Vícto Lơbông, 123 – Đại lộ Cộng hoà, Pari, Pháp. Về sách báo thì gửi theo địa chỉ: Ông Lý, Hương Cảng tiểu dạ báo, số nhà 53, phố Uynhêm, Hồng Kông. Thư cũng đặt các vấn đề vị trí của Nguyễn Ái Quốc lúc này – đảng viên Đảng Cộng sản Pháp, hay Việt Nam, danh nghĩa chỉ đạo Đảng Cộng sản Việt Nam, thời hạn uỷ nhiệm của Quốc tế Cộng sản đối với Nguyễn Ái Quốc đã hết chưa…

Trong Thư gửi Văn phòng đại diện Đảng Cộng sản Mỹ, Người đề nghị gửi báo và tạp chí của Đảng và một tờ báo tư sản “để cãi với cảnh sát nếu chúng phát hiện chúng tôi nhận báo Đảng”.

Trong Thư gửi đồng chí Sôta 6). Liên đoàn chống đế quốc – Béclin, Nguyễn Ái Quốc báo tin: “Tôi đang ở Trung Quốc”, “Đảng đã được thành lập ở Đông Dương” và đề nghị đồng chí Sôta gửi cho Người Điều lệ, Cương lĩnh, tài liệu của Liên đoàn (chống đế quốc), đồng thời cũng thông báo sẽ gửi cho đồng chí những phong bì để đề nghị đồng chí chuyển cho báo Gudok (Tiếng còi), Pravda (Sự thật), Inprekorr(Thư tín quốc tế) theo các ký hiệu trên phong bì.

Cuối thư, Người “Gửi tới đồng chí và Anna những kỷ niệm cách mạng thân mến”, ký tên: Pôn.

Thư gửi Quốc tế Công hội đỏ (viết bằng tiếng Anh), ký tên Nguyễn Ái Quốc, có nội dung và địa chỉ giống bức thư thứ nhất.

Trong Thư gửi Văn phòng Đảng Cộng sản Mỹ ở Quốc tế Cộng sản (viết bằng tiếng Anh), Nguyễn Ái Quốc yêu cầu gửi sách báo, tài liệu của Đảng Cộng sản Mỹ tới Hồng Kông để sử dụng trong công tác tuyên truyền. Địa chỉ ở cuối thư cũng ghi như bức thư trên.

– Bản chụp bức thư, lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr. 19-26.

Tháng 2, ngày 28

Nguyễn Ái Quốc viết Thư gửi Văn phòng đại diện Đảng Cộng sản Anh ở Quốc tế Cộng sản (viết bằng tiếng Pháp).

Nguyễn Ái Quốc đề nghị gửi cho Người báo La Vie Ouvrière (Đời sống công nhân) và tạp chí của Quốc tế Công hội đỏ, đồng thời gửi cho Người bất kỳ một tờ báo tư sản nào để “chối cãi nếu cảnh sát thấy rằng chúng tôi nhận các báo chí “lật đổ””.

Cuối thư, Người viết: gửi “Lời chào cộng sản thân ái. Thay mặt Đảng Cộng sản Việt Nam (Đông Dương)”. Ký tên Nguyễn Ái Quốc và ghi địa chỉ như sau:

Ông Lý, Hương Cảng tiểu dạ báo, số nhà 53, phố Uynhêm, Hồng Kông.

Cùng ngày, Nguyễn Ái Quốc viết Thư gửi các đồng chí Liên Xô nói ý định giới thiệu về nước Nga cho những người Việt Nam chỉ biết tiếng Việt một quyển sách có tên “Những kỷ niệm về cuộc du lịch của tôi” một cách “sinh động, hấp dẫn, dễ đọc và có nhiều mẩu chuyện”. Người nêu Đề cương cuốn sách, gồm các phần: I. Trước cách mạng; II. Trong cuộc cách mạng; III. Ngày nay. Người yêu cầu cung cấp tài liệu theo địa chỉ “Gửi ông Vícto Lơbông, 123 – Đại lộ Cộng hoà, Pari, Pháp”, với câu ghi: “Nhờ chuyển ngay tức khắc”.

– Bản chụp bức thư, lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr. 30; 27-29.

– Bút tích tiếng Pháp, lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

Tháng 3, ngày 2

Nguyễn Ái Quốc viết thư gửi Ban Phương Đông (Quốc tế Cộng sản) báo cáo về tình hình Mã Lai, Đông Dương; về việc gửi ba học sinh đi học; hỏi ý kiến của Ban Phương Đông về “đề nghị của tôi xin chuyển” và cho biết là “không đọc ra những con số, số kép hay số đơn, tiếng Pháp hay tiếng Anh” và “cho tôi biết lại mã chữ khoá”.

Cuối thư, Người đề nghị “có thể mua hối phiếu của công ty xe lửa tốc hành Mỹ đề tên T.V. Wang và gửi bưu điện cho tôi”, “giao các sốInprekorr cho người bạn tôi”, và nhắc lại việc liên hệ với công ty hàng hải Pháp để liên lạc về Đông Dương…

Cùng ngày, Người còn viết thư (bằng tiếng Pháp) báo cáo với Quốc tế Cộng sản về việc Đông Dương Cộng sản Đảng và An Nam Cộng sản Đảng đã hợp nhất thành Đảng Cộng sản Việt Nam; một Ban Chấp hành lâm thời đã được bầu và thông báo về tình hình cuộc bạo động Yên Bái nổ ra ngày 9-24.

Cùng ngày, Người còn viết thư gửi Lê Hồng Phong thông báo: Đông Dương Cộng sản Đảng và An Nam Cộng sản Đảng đã hợp nhất thành Đảng Cộng sản Việt Nam, đã cử Ban Chấp hành lâm thời để phụ trách công việc. Đảng bao gồm trên 500 đồng chí với hơn 40 chi bộ, hơn 3000 quần chúng…

– Bản chụp các bức thư, lưu tại Viện Hồ Chí Minh và Viện Lịch sử Đảng.

– Tạp chí Xưa và Nay, số 31, tháng 9-1996, tr. 33.

Tháng 3, ngày 5

Nguyễn Ái Quốc viết Báo cáo gửi Quốc tế Cộng sản về phong trào cách mạng ở An Nam (bằng tiếng Anh).

Báo cáo trình bày những phong trào yêu nước từ khi đế quốc Pháp xâm lược Việt Nam cho đến khi thành lập Đảng. Trước năm 1905, phong trào là “một sự hỗn hợp giữa chủ nghĩa phản đế, chống công giáo và Cần vương”. Từ năm 1905, thắng lợi của Nhật đối với Nga, ảnh hưởng của “nền văn học cải lương Trung Hoa”, đã đưa “tinh thần dân tộc An Nam lên cao độ”, tiếp đó là cuộc Đông du. Năm 1908, một cuộc bãi công của nông dân nổ ra trong toàn quốc – “cuộc bạo động của những anh em tóc ngắn” – bị khủng bố. Năm 1910, xảy ra “cuộc đầu độc” binh lính Pháp ở Hà Nội. Tiếp đó là các cuộc bạo động Thái Nguyên, khởi nghĩa Duy Tân, việc mưu sát Toàn quyền Méclanh, phong trào đòi thả Phan Bội Châu, sự ra đời, hoạt động và chia rẽ của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Phong trào cách mạng phát triển rầm rộ và bị đế quốc thực dân Pháp khủng bố và “ngày nay các nhóm cộng sản đã thống nhất vào một đảng, hoạt động nhất định sẽ tốt hơn trước nhiều”. Nguyễn Ái Quốc đã tố cáo mạnh mẽ sự đàn áp dã man của chính quyền thuộc địa, ca ngợi tinh thần đấu tranh cách mạng của nhân dân và chỉ ra một số thiếu sót của các tổ chức yêu nước, kể cả các tổ chức cộng sản.

Cuối tài liệu, Người khẳng định: “Chúng ta có thể tin tưởng chắc chắn rằng với kinh nghiệm và lòng hy sinh, với quần chúng ở bên cạnh, những người cộng sản nhất định sẽ chiến thắng”.

– Bản chụp bút tích tài liệu, lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr. 31-38.

Tháng 4, ngày 5

Nguyễn Ái Quốc viết Thư gửi đồng chí ZAO 7) và các học sinh Việt Nam đang học ở Liên Xô.

Sau khi thông báo “trong nước bây giờ đã có Đảng thống nhất vững vàng, không còn những tệ chia lìa ấu trĩ như trước nữa”, Người báo tin sẽ có các đại biểu là công nhân sang Liên Xô dự Đại hội Quốc tế Lao động. Người yêu cầu đồng chí ZAO “phụ trách phần dịch cho các đại biểu đó” và gợi ý những việc phải làm để giúp các đại biểu hoàn thành nhiệm vụ.

Người còn căn dặn: “Tất cả anh em học sinh, nhất là người phụ trách, đối với đại biểu lao động phải tỏ tình rất thân mật. Chớ để người ta trông thấy sự phân biệt trí thức và vô sản”8). Người yêu cầu: “làm sao cho anh em đại biểu hiểu, hăng hái, và yêu mến Xô-Nga, lại có cảm tình với anh em lao động các nước”. Và nhắc lại sau Đại hội phải gửi thư về báo cáo qua Ban Phương Đông.

– Bản chụp bút tích tài liệu, lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr. 39-40.

Tháng 4, ngày 10

Nguyễn Ái Quốc viết thư gửi Quốc tế Cộng sản báo cáo tình hình về những ngày đầu đến Xiêm, về việc lập Hội Thân ái,… Phần lớn báo cáo nói về việc hợp nhất Đảng, xây dựng cương lĩnh, vấn đề chiến lược, chiến thuật theo đường lối của Quốc tế Cộng sản, về việc lập ra một Ban Chấp hành Trung ương lâm thời gồm bảy người chính thức và bảy người dự khuyết…

– Hồ sơ lưu trữ Quốc tế Cộng sản, ký hiệu 495, 154, 612.

– Bản sao lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

Tháng 4, cuối tháng

Nguyễn Ái Quốc đến Đông – Bắc nước Xiêm (ngày nay là Thái Lan). Người báo tin cho một số đồng chí ở đây biết các nhóm cộng sản ở Việt Nam đã thống nhất thành Đảng Cộng sản Việt Nam. Tại đây Người còn làm nhiệm vụ do Quốc tế Cộng sản giao.

– Lê Mạnh Trinh: Những ngày ở Quảng Châu, in trong cuốn Bác Hồ, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1975, tr. 96.

Tháng 4, khoảng cuối tháng

Nguyễn Ái Quốc đến Malaixia làm nhiệm vụ do Quốc tế Cộng sản giao.

– Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Trung ương: Chủ tịch Hồ Chí Minh – Tiểu sử và sự nghiệp, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1980, tr. 72.

Khoảng tháng 4

Tại Hồng Kông, Nguyễn Ái Quốc gặp đồng chí Trần Phú từ Liên Xô trở lại Trung Quốc. Người thông báo cho đồng chí Trần Phú về việc hợp nhất Đảng tháng 2-1930 và đã báo cáo với Chi nhánh Ban Phương Đông ở Thượng Hải, các đồng chí đã nhất trí. Sau đó, phân công đồng chí Trần Phú về Bắc, còn đồng chí Ngô Đức Trì về Sài Gòn.

– T. Lan: Vừa đi đường vừa kể chuyện, Nxb. Chính trị quốc gia – Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 1994, tr. 49.

– Lời khai của Ngô Đức Trì. Tài liệu đánh máy của Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng thành phố Hồ Chí Minh. Bản sao lưu tại Viện Hồ Chí Minh, tr. 18-19.

Tháng 5, ngày 1

Nguyễn Ái Quốc hoạt động tại Xinhgapo.

– Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Trung ương: Chủ tịch Hồ Chí Minh – Tiểu sử và sự nghiệp, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1980, tr. 72.

Tháng 5, cuối tháng

Từ Xinhgapo, Nguyễn Ái Quốc trở lại Hồng Kông.

– Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Trung ương: Chủ tịch Hồ Chí Minh – Tiểu sử và sự nghiệp, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1980, tr. 72.

Khoảng tháng 7, tháng 8

Tại Thượng Hải, Nguyễn Ái Quốc tham dự một cuộc họp có mặt các đồng chí Nguyễn Lương Bằng, Đỗ Ngọc Du (Phiếm Chu), Lưu Quốc Long để góp ý về công tác vận động binh lính.

Người căn dặn: “Không nên chỉ hô hào thợ thuyền, dân cày chung chung. Không nên nói vô sản một cách cứng nhắc. Trước mắt chúng ta là phải đánh đổ thực dân Pháp, giải phóng dân tộc. Cho nên, phải khơi lòng yêu nước của mọi người. Đối với anh em binh lính, ta nên khêu gợi nỗi nhớ nhà, nhớ quê hương, rồi chuyển sang khêu gợi lòng yêu nước, thương nòi. Như thế, mới đi vào lòng người ta được”.

Xem những số báo Kèn gọi lính, Nguyễn Ái Quốc nhắc nhở các đồng chí tại cuộc họp: Không nên dùng chữ khó hiểu, phải viết ngắn, gọn, rõ ràng. Sau đó, Người viết mấy bài cho báo với nội dung yêu nước, ghét thống trị Pháp dưới hình thức văn vần, văn xuôi rất ngắn gọn và dễ hiểu.

– Anh Cả Nguyễn Lương Bằng, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, tr. 154-155.

Tháng 9, ngày 20

Nguyễn Ái Quốc viết tài liệu Phong trào cách mạng ở Đông Dương, nêu các sự kiện chi tiết về cuộc đấu tranh của công nhân và nông dân chống đế quốc Pháp ngày càng trở nên quyết liệt. Người không chỉ tố cáo tội ác của đế quốc Pháp đàn áp dã man các cuộc đấu tranh mà còn âm mưu “chuẩn bị tấn công Liên Xô, tấn công cách mạng Trung Quốc và chuẩn bị một cuộc chiến tranh đế quốc trên Thái Bình Dương”. Người kêu gọi công nhân, nông dân toàn thế giới giúp đỡ công nhân, nông dân Đông Dương.

– Tài liệu đánh máy tiếng Nga, bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr. 41-50.

Tháng 9, ngày 29

Nguyễn Ái Quốc viết Thư gửi Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản, báo cáo về những cuộc đấu tranh từ ngày 11 đến ngày 17-9 của nông dân Thanh Chương, Hưng Nguyên, Nam Đàn, Can Lộc, Cẩm Xuyên, Kỳ Anh, Gia Định, Chợ Lớn, Tân An.

Người khẩn thiết yêu cầu “các đồng chí làm những việc có thể được để giúp đỡ các nạn nhân của cuộc đàn áp đẫm máu”.

Trong thư, Người cho biết: “Ba uỷ viên Trung ương từ Nam Kỳ đã tới đây – ngày 19-9, chờ các đồng chí từ Bắc Kỳ và Trung Kỳ tới” để dự Hội nghị Trung ương vào tháng sau.

Cuối thư, Người báo “đã viết thư sang Xiêm và Mã Lai khoảng một tháng trước đây, nhưng chưa nhận được trả lời”.

Ký tên: Vícto

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr. 51-52.

– Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998, t.2, tr. 81-82.

Tháng 11, ngày 5

Nguyễn Ái Quốc viết Thư gửi Quốc tế Nông dân (bằng tiếng Pháp) báo cáo về phong trào nông dân từ tháng 5 đến tháng 10-1930 ở bảy tỉnh: Gia Định, Chợ Lớn, Vĩnh Long, Sa Đéc, Bến Tre, Thủ Dầu Một, Mỹ Tho và hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh: “Mặc dầu bị đàn áp dã man, phong trào vẫn tiếp tục phát triển”, “ở một số làng đỏ, Xôviết nông dân đã được thành lập”.

Cuối thư, Người yêu cầu “Quốc tế Nông dân có thể giúp đỡ gấp cho các nạn nhân bị khủng bố…”.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr. 53-54.

– Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998, t. 2, tr. 223-224.

Tháng 12, ngày 31

Nguyễn Ái Quốc viết thư gửi Ban Phương Đông báo tin “Một đại biểu Đảng Mã Lai đã đến đây hôm qua, 30-12-1930”, và cho biết “Hai đồng chí Việt Nam phụ trách liên lạc đã bị bắt ngày 11-12-1930, 11 đồng chí bị trục xuất khỏi Xiêm mới đến”, “hai đại biểu và một học sinh đã về đây ngày 31-12-1930, một người đã trở lại làm việc cũ”, “liên lạc của chúng ta đã bắt đầu tổ chức lại”…

Cuối thư, Người viết: “Tôi gửi cho các đồng chí một bài báo viết về Việt Nam”… và “rất nhiều bài khác nhưng không thấy một bài nào đăng ở Inprekorr…”

– Bản chụp bút tích bức thư, lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

Khoảng cuối năm

Tác phẩm Nhật ký chìm tàu của Nguyễn Ái Quốc xuất hiện ở Việt Nam, được bí mật truyền tay đọc trong đảng viên và quần chúng 9).

– Nguyễn Duy Trinh: Con đường cách mạng, Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 1970, tr. 73.

————————–

1) Sau đó ít ngày, đồng chí Nguyễn Lương Bằng được gặp đồng chí Thái Sướng – một cán bộ của Đảng Cộng sản Trung Quốc; đồng chí Thái Sướng lại giới thiệu đồng chí Nguyễn Lương Bằng với một Uỷ viên Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, phụ trách công tác vận động binh lính ngoại quốc của Đảng. Từ đó, đồng chí Nguyễn Lương Bằng và các đồng chí cùng hoạt động được các đồng chí Trung Quốc giúp đỡ tận tâm, như cung  cấp cho bàn, dũa, giấy nến, bút thép, giúp việc ấn loát, phân phát báo Kèn gọi lính (do nhóm đồng chí Nguyễn Lương Bằng viết) vào các trại lính Việt  Nam…(B.T).

2) Nhiêu Vệ Hoa, đảng viên Đảng Cộng sản Trung Quốc lúc này công tác ở cơ quan Tỉnh uỷ Quảng Đông, là người được cử tới giúp đỡ Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Nhiêu Vệ Hoa và Nguyễn Ái Quốc đã quen biết nhau khi Nguyễn Ái Quốc hoạt động tại Quảng Châu những năm  20 của thế kỷ XX (B.T).

3) Bấy giờ ở Hồng Kông, chỉ những người có gia đình mới dễ thuê nhà. Nữ đồng chí này được bố trí đóng vai người nhà của Nguyễn Ái Quốc, giúp Người thuê nhà để sắp xếp chỗ ở cho các đại biểu Việt Nam từ trong nước ra (B.T).

4) Các đại biểu có mặt tại Hội nghị hợp nhất là: Nguyễn Ái Quốc, đại diện Quốc tế Cộng sản, Nguyễn Đức Cảnh và Trịnh Đình Cửu (Đông Dương Cộng sản Đảng), Châu Văn Liêm và Nguyễn Thiệu (An Nam Cộng sản Đảng), Hồ Tùng Mậu và Lê Hồng Sơn (hai cán bộ hoạt động ở nước ngoài. Có  tài liệu cho rằng hai đồng chí này chỉ giúp chuẩn bị Hội nghị chứ không dự Hội nghị – T.G). Đông Dương Cộng sản liên đoàn mới thành lập nên chưa kịp cử đại biểu dự Hội nghị này (B.T).

5) Ý nói về hai đồng chí Trần Phú, Ngô Đức Trì về nước đầu tháng 11-1929, qua đường Pháp: đến nay đã giữa tháng 2-1930 mà chưa có tin tức gì (B.T).

6) Các tài liệu trước đây đều ghi là Satô, nay theo bản chụp bút tích (nguyên văn Chota), nên sửa lại là Sôta (B.T).

7) Đồng chí Zao: đồng chí Bùi Công Trừng, thường được gọi là Giáo vì trước khi xuất dương có làm nghề dạy học (B.T).

8) Nguyên bản viết bằng tiếng Pháp (viết tắt): intellect và prolet (B.T).

9) Nhật ký chìm tàu: Tác phẩm được hoàn thành trên cơ sở vốn sống thực tiễn của Người trên đất nước Nga Xôviết, kết hợp với những tư liệu từ Liên Xô gửi đến, và trực tiếp trao đổi với một số cán bộ của phái đoàn M. Bôrôđin trong thời gian Người ở Quảng Châu.

Nhật ký chìm tàu kể chuyện ba thuỷ thủ: Pôn (người Âu), Zô (người Phi), và Râu (người Việt) sống sót sau vụ tàu buôn Pháp đắm, được tàu Liên Xô cứu, đưa về Liên Xô.

Trong thời gian ở Liên Xô, ba anh được đối xử tử tế, đi thăm nhiều nơi, được Đảng Cộng sản Liên Xô tạo điều kiện cho học tập văn hoá, chính trị và tìm cách để họ trở về Tổ quốc.

Nhật ký chìm tàu ngoài phần mở đầu và phần kết luận gồm 24 chương, khoảng 100 trang giấy rơm, khổ 22 x 18cm, viết chữ thường bằng bút sắt, in litô, giấy một mặt. Mỗi chương mở đầu bằng hai câu lục bát và phần kết cũng bằng hai câu lục bát:

… Không bột mà gột nên hồ,

Tay không xốc nổi cơ đồ, cừ không!

Cho đến nay, nguyên bản Nhật ký chìm tàu chưa tìm lại được (B.T).

Theo dangcongsan.vn
Vkyno (st)

Bác Hồ sáng lập Báo Việt Nam Độc Lập

Sau ba tháng về nước, tại đầu nguồn Khuổi Nậm, Pắc Bó (huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng) Bác đã triệu tập và chủ trì hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8 (họp từ ngày 10-19.5.1941). Tại hội nghị quan trọng này, Bác Hồ và Trung ương Đảng đã thảo luận, quyết định đường lối, sách lược Cách mạng Giải phóng dân tộc, thành lập Mặt trận “Việt Nam độc lập Đồng minh hội”, gọi tắt là “Mặt trận Việt Minh” nhằm tập hợp thống nhất lực lượng cách mạng các dân tộc ở Đông Dương vì mục đích đánh đuổi Nhật, Pháp, giành nền độc lập vĩnh viễn cho Tổ quốc.

Sau hội nghị trung ương 8, Bác chỉ đạo xây dựng lực lượng vũ trang, lập căn cứ địa Cách mạng, chuẩn bị mở rộng khu giải phóng dọc biên giới, tạo hành lang thuận lợi, tranh thủ sự giúp đỡ của Đảng Cộng sản, nhân dân và quân giải phóng Nhân dân Trung Quốc, làm hậu thuận vững chắc cho cách mạng giải phóng dân tộc và kháng chiến chống Pháp sau này.

Một trong những họa bản của Báo Việt Nam độc lập ngày 25. 3.1945

Nhận thấy cần có công cụ và phương tiện tuyên truyền chủ trương, đường lối và sách lược cách mạng của Mặt trận Việt Minh trước mắt trong khu Cao-Bắc-Lạng mà lực lượng là nhân dân các dân tộc thiểu số, Bác Hồ đã sáng lập ra tờ báo Việt Nam Độc Lập với danh nghĩa ban đầu thuộc tổ chức Việt Minh tỉnh Cao Bằng. Cách hội nghị trung ương lần thứ 8 không đầy 3 tháng, đúng ngày 1.8.1941, tờ báo Việt Nam Độc Lập được đánh số xuất bản 101 ra mắt bạn đọc. Sau này phong trào cách mạng phát triển, căn cứ địa mở rộng, Báo Việt Nam Độc Lập trở thành cơ quan tuyên truyền, cổ động, tranh đấu của Liên tỉnh Việt Minh Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Lạng Sơn. Suốt từ khi thành lập tới lúc chuẩn bị nội dung tuyên truyền chủ trương, chính sách, tổ chức lực lượng chính trị, vũ trang giành chính quyền về tay nhân dân năm 1945, Bác Hồ trực tiếp chỉ đạo viết bài cho Báo Việt Nam Độc Lập.

Giống như thời kỳ làm Báo Le Paria (Người Cùng Khổ) ở Paris năm 1922, làm Báo Thanh Niên năm 1925 ở Quảng Châu, Tạp chí Đỏ tại Hương Cảng năm 1930; để ra được Báo Việt Nam Độc Lập năm 1941, ở Pắc Bó, Bác Hồ lại tự mình viết tin, bài, tổ chức trình bày, tạo công cụ in ấn rồi phát hành, cổ động quần chúng đọc báo, làm theo báo và vận động bạn đọc quyên góp tài chính ủng hộ báo.

Vốn có nhiều kinh nghiệm làm báo bí mật ở nước ngoài, trước khi ra Báo Việt Nam Độc Lập, Bác Hồ đã tìm hiểu trình độ văn hóa, trình độ nhận thức của bạn đọc vùng dân tộc thiểu số nhiều năm bị chế độ thực dân Pháp, hệ thống quan lang kìm kẹp, áp bức, thực hiện chính sách ngu dân, chia rẽ dân tộc, lâu nay họ chưa được giác ngộ cách mạng. Nhận thấy mặt bằng dân trí còn thấp, các vùng đồng bào thiểu số có đoàn thể cứu quốc chưa nhiều, địa hình lại chia cắt nên Bác quyết định khổ báo 20cm x 30cm để dễ dàng in ấn, lưu hành, bảo quản, phổ biến. Mỗi số chỉ in hai trang, mỗi trang đăng từ hai đến ba tin bài, bài dài nhất không quá ba trăm chữ. Bài, tin phải gọn, thông tin những vấn đề cần thiết mà người dân quan tâm, cách viết giản dị, súc tích, gần gũi với ngôn ngữ giao tiếp hàng ngày của đồng bào dân tộc thiểu số. Theo Bác Hồ phải viết thế nào để cho người không được học nhiều và cả người không biết chữ khi được nghe cũng hiểu, hiểu rồi là dễ làm theo. Đại tướng Võ Nguyên Giáp khi tham gia viết bài cho Báo Việt Nam Độc Lập cũng đã có lần được Bác Hồ chỉ bảo cách viết một bài báo sao cho chính người cần vụ của mình đọc cũng hiểu.

Để có khuôn in Báo Việt Nam Độc Lập, Bác phải cùng các cán bộ địa phương lặn lội tìm kiếm trong rừng những phiến đá mềm, thớ đá mịn rồi đem về mài nhiều ngày đến lúc mặt đá phẳng lỳ, sờ tay vào cảm thấy mát lạnh thế là tạo được một khuôn in báo. Nếu in một lúc nhiều trang báo thì phải cần thêm số khuôn tương ứng số trang báo. Sau này, trong điều kiện kháng chiến chống Pháp khó khăn, nhiều địa phương, cơ quan in báo, in khẩu hiệu, truyền đơn, công văn đã học theo cách in Báo Việt Nam Độc lập, lâu dần người ta gọi là cách in ly tô. Khởi đầu cách in là họa sĩ trình bày ma két báo lên mặt đá. Bài, tin trang nào được trình bày gọn trang ấy, không chuyển tiếp trang sau. Họa sĩ thể hiện ma két theo nguyên tắc sao nguyên văn nội dung in, bài, tranh vẽ đã được duyệt vào từng cột, từng dòng. Tùy mức độ quan trọng khác nhau của tin, bài mà dùng ngòi bút sắt, mực keo viết chữ to, nhỏ, đậm, nhạt lên mặt đá. Lúc in báo hoặc tài liệu, giấy được đặt lên khuôn, người thợ dùng ru lô đã tẩm mực đẩy đi, đẩy lại nhiều lần sao cho chữ nổi lên đều trên mặt giấy là đạt yêu cầu. Vì phải in hai mặt nên trang một xong theo số bản quy định phải chờ mực khô mới in tiếp trang hai. Cách in thủ công này đòi hỏi tính kiên trì, nhẫn nại của người thợ, bởi mỗi lượt in, mặt chữ mòn dần, cạn nét, nếu muốn chữ rõ hơn, không còn cách nào khác là rửa khuôn liên tục, dùng bút sắt khơi sâu từng nét chữ trên mặt đá. Để ra được nội dung số báo sau, phiến đá khuôn in phải mài phẳng, xóa đi những dòng chữ đã khắc được viết tỉ mỉ, công phu từ số báo trước.

nguoi thap lua dau nguon cach mangBáo Việt Nam Độc Lập số ra ngày 1.1.1942

Trong hoàn cảnh “cháo bẹ, rau măng”, ăn ngủ làm việc trong hang đá thiếu thốn trăm bề lại phải thường xuyên di chuyển tránh sự theo dõi, truy tìm của bọn quan lang, tay sai, mật thám Pháp, Bác Hồ và những cán bộ giúp việc vẫn bảo đảm mỗi tháng ra ba kỳ báo, mỗi kỳ hai trang báo. Từ tháng 8.1941 đến khi Bác đi Trung Quốc (tháng 8.1942), Bác trực tiếp tổ chức xuất bản tại Khuổi Nậm, Pắc Bó được trên 30 kỳ Báo Việt Nam Độc Lập với 400 bản in từ khuôn đá. Tờ báo ra đời đầu nguồn Khuổi Nậm đã phản ánh rất phong phú, cụ thể phong trào cách mạng còn trứng nước ở căn cứ địa Cao-Bắc-Lạng, Hà-Tuyên-Thái, góp phần khơi dậy, thổi bùng ngọn lửa cách mạng vốn âm ỉ cháy suốt mấy chục năm ở Việt Bắc. Dưới sự chỉ đạo và trực tiếp viết bài, tổ chức phát hành của Bác Hồ, tờ báo đã thông tin thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, Đội cứu quốc quân, nêu gương đồng bào các dân tộc Việt Bắc ủng hộ cách mạng, cách tổ chức đoàn thể Việt Minh, bài học tăng gia sản xuất, xóa mù chữ, cách xây dựng khu căn cứ, chiến khu, cách vận động binh lính người dân tộc mang súng trở về với nhân dân, với cách mạng. Những bài thơ và diễn ca nổi tiếng của Bác dưới chuyên mục Vườn văn, Hòn đá to, hòn đá nặng, Khuyên bạn thanh niên, Dân cày, Tặng cho đội tự vệ phụ nữ, Con cáo và tổ ong, Ca Việt Minh, Ca tự vệ đội, Ca người lính, Ca du kích, Ca phụ nữ, Ca sợi chỉ… đều được in trên Báo Việt Nam Độc Lập trong thời kỳ chuẩn bị lực lượng giành chính quyền về tay nhân dân. Sau ngày Bác Hồ rời Cao Bằng đi Trung Quốc, Báo Việt Nam Độc Lập được giao cho đồng chí Phạm Văn Đồng phụ trách, tiếp tục xuất bản cho tới ngày Cách mạng tháng Tám thành công với 141 kỳ. Sau ngày giành chính quyền thắng lợi, Bác Hồ đọc Tuyên ngôn độc lập, Báo Việt Nam Độc Lập được chuyển giao cho Tổng bộ Việt Minh – Cao Bằng – Bắc Cạn – Lạng Sơn chỉ đạo nội dung xuất bản. Tờ báo do Bác Hồ sáng lập từ 1941 đã làm trọn vai trò, chức năng tuyên truyền “kháng chiến kiến quốc” trong suốt những năm cả nước dồn sức người, sức của đánh thắng thực dân Pháp.

VĂN HIỀN

Nguồn: dangcongsan.vn
Vkyno (st)

Học Bác cách viết báo

Trong thư gửi trí thức Nam Bộ ngày 25.5.1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết “Ngòi bút của các bạn cũng là những vũ khí sắc bén trong sự nghiệp phò chính, trừ tà”.

Học tập theo gương Bác

Tháng 9.1962, tại Đại hội lần thứ III của Hội Nhà báo Việt Nam, Bác nói: “Cán bộ báo chí cũng là chiến sĩ cách mạng. Cây bút, trang giấy là vũ khí sắc bén của họ”; “Làm báo phải hết sức cẩn thận về hình thức, nội dung, cách viết”; “Viết để làm gì? Viết để cho ai xem? Viết như thế nào?”.

Trong nhiều dịp, Người còn khơi gợi về cách viết, thế nào là viết ngắn, viết dài, viết cho thiết thực để người khác có thể làm theo được.

Học tập cách viết của Bác, có lẽ phải học từ gốc, tức là xây dựng mình thành một “chiến sĩ”, phải hiểu vũ khí, chiến trường, đồng đội và kẻ thù của mình, mới có thể “phò chính, trừ tà”.

Lời – vũ khí của nhà báo

Vũ khí của nhà báo là cây bút, là ngôn ngữ, là Lời.

Cha ông ta nói: Bút sa gà chết, Nói phải củ cải cũng nghe, Lời nói đọi máu, Một lời nên nghĩa. Lại cũng nói: Nén bạc đâm toạc tờ giấy. Trong các thứ vạ, vạ miệng là một thứ ơ hờ nhất mà cũng nặng nề nhất. Trong lịch sử, có những nghi án văn chương dẫn đến tru di ba họ. Ngày xưa, thù nhau người ta vứt vào nhà vài dòng chữ hay một bài thơ có tính chất phạm thượng đối với vua, phỉ báng triều đình thì cũng giống và còn nguy hiểm hơn ngày nay vứt cả bọc ma túy vào nhà…

Bọn tham quan, gian thần thường ton hót để hại chết các trung thần, cất nhắc phường vô lại. Một lời có thể là thang mây, có thể là mồi lửa làm tan tành tất cả… Và thường, người ta chỉ nghe lời để phán xét, quyết định mà không mấy khi kiểm chứng.

Giá trị của lời hệ trọng đến như vậy, nên trước khi học cách viết hay, phải học cách thận trọng, thận trọng từ khai thác nguồn tin, đến thái độ phán quyết. Một lời trót đã nói ra/ Dẫu cho bốn ngựa khó mà đuổi theo. Viết một bài báo sai sự thật, ảnh hưởng sinh mệnh con người, dù sau này có cải chính, vẫn gây ra những hậu quả khôn lường. Nhiều bài báo “phanh phui” kèm bình luận ác ý, đã làm đối tượng hoặc người thân của họ tự vẫn…

Lại có một chiều hướng khác: Đó là sự khen lấy, khen để những người có chức quyền; bất chấp sự rối rắm ở lĩnh vực họ phụ trách, bất chấp bất bình chính đáng của nhân dân. Thực tế cho thấy, báo chí đồng loạt khen một số người như thánh, chỉ một thời gian ngắn đã thấy họ là những kẻ tầm thường. Những nhà báo, những tờ báo như vậy, có thể được xem xét về đạo đức, lương tâm, chí ít cũng là trình độ nghề nghiệp.

Trong một bài ca vận động binh lính ngụy về theo nhân dân của Bác Hồ có câu: Hai tay cầm khẩu súng dài, Ngắm đi ngắm lại bắn ai thế này?

Nhà báo thời nay cầm vũ khí sắc bén của mình, nên hướng vào đâu để thực hiện được sự phò chính trừ tà? Đương nhiên, phải biết cái chính, cái tà là gì.

Chữ Tâm hay là vị thế của nhà báo

Chính – tà trước hết soi từ mình.

Trước hết phải thấy mình là ai, mình ham muốn gì. Nhân nói về ham muốn, tôi nhớ tới cách dùng từ của Bác. Khi nói đến điều lớn lao nhất, Bác cũng dùng từ “ham muốn”, “cần” chứ không dùng từ “lý tưởng”. Dùng từ ham muốn, cần, nó gần gũi, dễ tin, thể hiện chi phối cuộc sống hàng ngày.

Bác Hồ khi còn thanh niên ở Paris, đã trả lời sự mua chuộc của Bộ trưởng Bộ Thuộc địa Pháp rằng: “Cái mà tôi cần nhất trên đời này là: Đồng bào tôi được tự do, Tổ quốc tôi được độc lập”.

Năm 1946, khi trả lời phỏng vấn của nhà báo, Bác khẳng định: “Tôi tuyệt nhiên không ham muốn công danh phú quý chút nào… Bao giờ đồng bào cho tôi lui thì tôi rất vui lòng lui. Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn đến tột bậc là làm sao cho nước ta hoàn toàn được độc lập, dân ta hoàn toàn được tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”.

Có lẽ học tập tư tưởng, đạo đức và cách trở thành người chiến sĩ trên mặt trận báo chí, gốc là ở đây. Phải có tấm lòng và ham muốn vì dân vì nước; chứ không vì một chức danh, một sự nổi tiếng, hay vì bổng lộc nào đó mà cầm bút xông xáo phò tà.

Cách đây nửa thế kỷ, nhà thơ Chế Lan Viên từng viết:

Lũ chúng ta ngủ trong giường chiếu hẹp

Giấc mơ con đè nát cuộc đời con

Hạnh phúc đựng trong một tà áo đẹp

Một mái nhà yên rủ bóng xuống tâm hồn…

Hạnh phúc của người trí thức, của một nhà báo chân chính, không thể chỉ đựng trong một tà áo đẹp, một mái nhà bình lặng và sung túc của riêng mình!

Học và làm theo những điều Bác dạy về báo chí, không học cắt khúc, máy móc

Văn Bác Hồ rất phong phú, đạt đến trình độ cao của nghệ thuật, giản dị tột cùng và sâu sắc tột cùng. Rất nhiều tác phẩm giàu hình ảnh. Chẳng hạn một đoạn trong Lời than vãn của bà Trưng Trắc: “Đêm tối quằn quại dưới làn mưa nhỏ hạt dầm dề. Mảnh trăng vàng vọt cố bíu trên những mái lều tranh. Cây đẫm ướt đầm đìa nước mắt tuôn rơi… Gió thổi qua những cụm lá mệt mỏi, va nhau thành tiếng kinh rợn. Cành cây vặn vẹo như những cánh tay ma quái, và những đám nước bị từng cơn gió đột ngột quất, cứ nức nở. Cảnh vật nước Nam lồng trong cây cỏ um tùm, vốn tươi vui và thơ mộng thế dưới ánh trăng, nay buồn thảm lạ lùng. Cơn hấp hối đang chơi vơi khắp nơi. Tai ương lảng vảng đâu đây…”.

Bác thường khuyên chúng ta học tập tinh hoa, lời ăn tiếng nói của nhân dân. Ngày 17.8.1952, Bác khuyên: “Muốn cho người xem hiểu được, nhớ được, làm được, thì phải viết đúng trình độ của người xem, viết rõ ràng, gọn gàng, chớ dùng chữ nhiều”. Thời đó, trình độ văn hóa của công-nông-binh còn hạn chế, nên lời khuyên ấy là thiết thực. Ngày nay, tiếp thu tinh thần của Bác, cần viết rõ ràng nhưng không phải là đơn giản, và phải viết đúng trình độ của người xem. Mà viết đúng trình độ người xem bây giờ là một đòi hỏi rất cao, vì trình độ người xem, đôi khi, lại còn cao hơn trình độ người làm báo.

Viết, nói cho gọn, rõ, có tính thuyết phục là phải sâu sắc.

Tôi nhớ hồi làm phóng viên thường trú ở Nghệ Tĩnh, có gặp một đồng chí lão thành cách mạng, người trực tiếp đi kêu oan với Bác Hồ về cải cách ruộng đất. Đoàn Nghệ An sùng sục lắm, chắc mẩm chuyến này phải làm cho ra nhẽ, phải đòi Bác “truất” cho được mấy anh quy kết, xử tù, xử bắn bừa bãi. Nộ khí xung thiên. Bác bắt chờ hai ngày ở nhà khách Nguyễn Du. Càng ức. Đến buổi sáng hẹn gặp, Bác chủ tâm đến trễ vài phút. Khi Bác xuất hiện, anh nào cũng nhấp nhổm muốn tố ngay. Bác từ tốn rót nước chè xanh xứ Nghệ mời các đồng chí đó uống. Làm như tình cờ, Bác khẽ chạm tay làm đổ một cốc nước chè xanh. Cái sự kiện đột ngột ấy khiến ai cũng tập trung chú ý, ai cũng lo nước đổ ướt quần áo của Bác, ai cũng nhớn nhác tìm khăn lau bàn. Bác xua tay nói: “Bác làm đổ thì Bác phải lau. Cốc nước đổ rồi không thể lấy lại, Bác rót cốc mới…”. Cứ thế, Bác chủ động vào chuyện. Từ chuyện cốc nước sang chuyện đời… Mọi ấm ức được giải tỏa nhẹ nhàng. Các đồng chí đó có thêm bài học sâu sắc, nhớ đời để ứng xử trong cuộc sống.

Để khẳng định dân là gốc, nhân dân là lực lượng quyết định sự thành bại của cách mạng, sáng tạo ra mọi giá trị của lịch sử, Bác nói rất đơn giản:

Gốc có vững, dân mới bền

Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân

Tư tưởng ấy xuất phát từ tư tưởng nhà nho mà Mạnh Tử đã viết: “Dân vi bản, xã tắc thứ chi, quân vi khinh”.

Gốc có vững, cây mới bền cũng là câu mở đầu trong tất cả các gia phả của dòng họ Việt Nam (Mộc hữu bản, thủy hữu nguyên…), bởi thế, nhân dân ta tiếp thu rất nhanh, nghe rất dễ, làm rất thoải mái tự nhiên.

Đặc biệt, có thể học Bác nhiều ở cách lập luận, ở cách nói khẳng định một cách rõ ràng, không mập mờ, ví như: “Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta nhất định thắng lợi hoàn toàn”; “Không có gì quý hơn độc lập tự do”.

Có một ví dụ tiêu biểu về vấn đề này.

Đó là Thư gửi các họa sĩ nhân dịp triển lãm hộ họa năm 1951. Bác viết: “Chắc có người nghĩ Cụ Hồ đưa nghệ thuật vào chính trị. Đúng lắm, văn hóa nghệ thuật cũng như mọi hoạt động khác, không thể đứng ngoài, mà phải ở trong kinh tế và chính trị. Mềm mại mà không bỏ lập trường, không bỏ nguyên tắc, chính là con người và cách viết của Bác.

Ngày 9.5.1965, Bác viết bài Hai ngày kỷ niệm vẻ vang đăng trên Báo Nhân Dân, Bác vào thẳng vấn đề luôn: “Mồng 7 tháng 5, kỷ niệm đại thắng Điện Biên Phủ của nhân dân ta, mùng 9 tháng 5, kỷ niệm đại thắng của Liên Xô”. Thế mà cho đến nay nhiều báo vẫn viết: “Hòa trong không khí…” là rất sáo.

Bác còn bày cho ta một “mẹo” để làm báo cho hẳn hoi: “Báo chí cũng phải hợp lý hóa. Đừng bày biện ra nhiều thứ. Làm ít nhưng làm cho hẳn hoi. Không hợp lý hóa lại như thế, rút cuộc báo viết ra không ai muốn đọc mà lại tốn kém trăm thứ” (tháng 5.1950).

Học tập Bác, còn là học tập cách giữ gìn trong sáng tiếng Việt. Điều này nhiều người nói, nhưng chưa hẳn đã biết cách làm. Thí dụ, báo tiếng Việt nhưng lại dùng quá nhiều từ nước ngoài, hoặc có xu thế ngược lại là không dám dùng từ nước ngoài nào, cứ phiên âm tất tật thành tiếng Việt dẫn đến sai lệch và rất khó tra cứu nguồn gốc. Nhân dân ta dùng tiếng ta và từ Việt gốc Hán thoải mái như hàng nghìn, hàng vạn, hàng ngày, hàng tháng trong khi có báo tránh từ Hán – Việt, không dùng từ “vạn” mà dùng “mười nghìn” đến nỗi có anh thư ký tòa soạn nhất nhất phải sửa “Cần cẩu vạn năng” thành “Cần cẩu 10 nghìn năng” và cứ dùng “hằng ngày”, “hằng tháng” rất khó đọc, chẳng chính xác gì hơn “hàng ngày”, “hàng tháng”…

Đây lại là cả một “rừng” chuyện cần nói, chắc mỗi nhà báo chúng ta có thể đóng góp nhiều cho tạp chí nghề của Hội…

Nguyễn Hoàng Nhật

Nguồn: nguoilambao.vn
Vkyno (st)

Tình yêu thương con trẻ trong thơ Bác Hồ

Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới mà Bác còn là một nhà thơ lớn. Thơ Bác luôn ẩn chứa một thông điệp về tinh thần yêu nước, thương nòi và khát khao giành độc lập, tự do cho dân tộc. Đối tượng phản ánh trong thơ Bác rất phong phú và trẻ em chiếm một vị trí quan trọng.

Trong bài thơ “Kêu gọi thiếu nhi” Bác đã thể hiện tình yêu thương vô bờ bến đối với trẻ em nước nhà khi đất nước có xâm lăng phải sống trong cảnh “bạo tàn” của giặc Nhật, giặc Tây. Bác viết “Trẻ em như búp trên cành/Biết ăn, ngủ biết học hành là ngoan”. Hình ảnh “như búp trên cành” đó chính là mầm non của quê hương, đất nước phải được nuôi dưỡng và học hành đến nơi đến chốn, nhưng vì “Chẳng may vận nước gian nan/Trẻ em cũng phải lầm than cực lòng”. Do nước nhà bị ách cai trị của thực dân nên cái “búp trên cành” cũng phải “Làm tôi tớ người ta bên ngoài”.

Bác viết bài thơ “Kêu gọi thiếu nhi” như lời hiệu triệu các cháu “góp phần mình một tay” cùng cha ông đánh đuổi giặc ngoại xâm: “Vậy nên trẻ em nước ta/Phải đoàn kết lại để mà đấu tranh/Người lớn cứu nước đã đành/Trẻ em cũng góp phần mình một tay/Bao giờ đuổi hết Nhật Tây/Trẻ em ta sẽ là bầy con cưng”. Một lần nữa ta lại thấy được sự uyên bác nhìn xa trông rộng ở Người. Tinh thần đoàn kết cần phải được xây dựng từ thế hệ “búp măng non” và đó là yếu tố quyết định cho sự thắng lợi của cách mạng.

tya1Bác Hồ với thiếu nhi Việt Bắc.    

Đọc bài thơ “Trẻ chăn trâu” được Bác viết năm 1942 ta càng hiểu sâu sắc hơn về những sót xa của Người khi nước nhà bị xâm lược, khi đó đối tượng khổ nhất là trẻ em mà trẻ em sống trong cảnh bần hàn thì tương lai nước nhà sẽ ra sao? Những câu hỏi thường trực trong trái tim Người và Bác đã “vạch mặt” kẻ gây ra nỗi khổ đau cho nhân dân Việt Nam nói chung và trẻ em nói riêng là “Ấy là vì Nhật, vì Tây/Ra tay vơ vét, đọa đày chúng ta/Làm cho tan cửa nát nhà/Trẻ em vất vả người già đắng cay”. Vì vậy, tất cả chúng ta phải đoàn kết lại “Cùng nhau đánh đuổi Nhật, Tây/Anh em ta mới có ngày vinh hoa/Nhi đồng cứu quốc hội ta/Ấy là lực lượng ấy là cứu tinh/Ấy là bộ phận Việt Minh/Dân mình khắc cứu dân mình mới xong/Ai nghe mà chẳng động lòng/Khá khen con trẻ mục đồng Việt Nam”. Lời kêu gọi ấy của Bác Hồ có sức lan tỏa mãnh liệt trong thiếu niên nhi đồng cả nước tham gia đánh Tây, đuổi Nhật, giải phóng dân tộc thống nhất nước nhà. Đã có biết bao tấm gương thiếu niên nhi đồng anh dũng hy sinh vì nền độc lập tự do của Tổ quốc mà tiêu biểu là Kim Đồng, Vừ A Dính…

tya2Cô và trò Trường Mầm non Hưng Thành (TP Tuyên Quang)
chăm sóc cây xanh trong khuôn viên nhà trường

Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công đập tan ách áp bức bóc lột của thực dân, phong kiến, trẻ em được sống trong niềm hoan ca, trong tình yêu thương vô bờ bến của Bác. Ngay trong Tết Trung thu đầu tiên khi nước nhà giành độc lập, Bác đã viết thư gửi thiếu niên nhi đồng “Tết Trung thu với nền độc lập” chia sẻ niềm hân hoan cùng các cháu và dạy bảo các cháu rèn luyện, học hành để trở thành chủ nhân tương lai của đất nước.

Tình yêu con trẻ của Bác còn được thể hiện rõ trong những bài thơ chúc Tết Trung thu được Bác viết trong những năm 1951, 1952, 1953, 1954. Đó là những năm tháng cả nước đang bước vào giai đoạn đầy cam go, quyết liệt của cuộc kháng chiến trường kỳ 9 năm chống thực dân Pháp xâm lược. Vẫn là tình cảm đầy ắp tình yêu thương dành cho con trẻ, vẫn là những lời căn dặn hết sức gần gũi, thân thương nhưng trẻ em như được bồi đắp tinh thần yêu nước, khí phách kiên cường đấu tranh vì nền độc lập của nước nhà. “Trung thu trăng sáng như gương/Bác Hồ ngắm cảnh nhớ thương nhi đồng” và Bác “Mong các cháu cố gắng/Thi đua học và hành/Tuổi nhỏ làm việc nhỏ/Tùy theo sức của mình/Để tham gia kháng chiến/Để giữ gìn hòa bình/Các cháu hãy xứng đáng/Cháu Bác Hồ Chí Minh”. Sự gắng sức của các cháu chắc chắn sẽ góp sức mang lại hòa bình cho đất nước “Bao giờ Nam Bắc một nhà/Các cháu xúm xít thì ta vui lòng…”.

Mỗi lần đọc những vần thơ Bác viết cho thiếu nhi, trẻ em như được sống trong tình thương yêu của Bác, như được nghe lời Bác dặn dò nỗ lực học tập, vươn lên trở thành con ngoan trò giỏi, chủ nhân tương lai của quê hương, đất nước.

Thành Thanh
Theo baotuyenquang.com.vn
Kim Yến (st)

Chuyện Bác Hồ với cha con Thủ lĩnh Vương Chí Sình (phần cuối)

Đầu năm 1948 Bộ Quốc phòng quyết định thành lập Tiểu đoàn chính quy mang phiên hiệu D350 (còn gọi là Tiểu đoàn Mèo – vì đại đa số là người Mèo) trên cơ sở lực lượng vũ trang của ông Sơn; quyết định bổ nhiệm Vương Quỳnh Sơn làm Tiểu đoàn trưởng.

Tiểu đoàn D350 trực thuộc Quân khu 10 – do Tướng Bằng Giang làm Tư lệnh Quân khu. Trong buổi ra mắt có sự tham dự của ông Tô Quang Đẩu Chủ tịch Khu 10, ông Trần Đức Trung Chủ tịch Hà Giang, Giám đốc Sở Công an… Được Bộ Quốc phòng uỷ quyền, trong buổi ra mắt Tiểu đoàn, ông Trần Đức Trung – Chủ tịch tỉnh Hà Giang đã trao thanh kiếm cho Tiểu đoàn trưởng Vương Quỳnh Sơn để thực thi nhiệm vụ.

a1. vuameo  p.cuoiKhu mộ Vương Chí Thành

 Bác Hồ cắt máu ăn thề và đổi họ, tên cho Thủ lĩnh Vương?

Sau cuộc gặp gỡ, ông Vương Chí Sình trúng đại biểu Quốc hội Khoá I (6-1-1946) và được giao trọng trách Chủ tịch Đồng Văn. Bác còn cử ông Võ Khải Ca – phái viên của Chính phủ, bên cạnh ông Vương làm Tham mưu Cố vấn giúp ông Vương quản lý mọi mặt ở địa phương. Đồng thời đổi lại tên châu Thường Kiệt, trả lại tên cũ là châu Đồng Văn cho đồng bào dễ nhớ, dễ gọi. Sau tham dự kỳ họp Quốc hội Khoá I, ông Vương còn ở lại Hà Nội chơi qua Giêng mới trở về Đồng Văn.

Về chính ngôn thì Việt Minh giao phó trách nhiệm Chủ tịch hành chính Đồng Văn cho ông Sình (gồm 4 huyện núi đá: Đồng Văn, Yên Minh, Quản Bạ, Mèo Vạc). Nhưng theo thiết chế dòng họ của xã hội người Mèo thì cụ Vương Chính Đức vẫn là thủ lĩnh tối cao quyết định mọi vấn đề của người Mèo. Ông Sình chỉ là người thực thi nhiệm vụ theo ý kiến của thủ lĩnh.

Cần nhớ rằng, khi ông Sình có gia đình riêng ông chuyển ra nhà riêng ở Phó Cáo và mở cửa hàng tạp hoá để mưu sinh. Trước khi Nhật đảo chính Pháp không lâu, ông Thành có mua chức Lý trưởng Nam triều. Ông cũng không nằm trong bộ máy tham mưu của bố ông.

Sau ngày Hồ Chủ tịch kêu gọi Toàn quốc kháng chiến (19/12/1946), lúc này cụ Đức lâm bệnh nặng khó bề qua khỏi. Cụ viết thư nhắn Chủ tịch Hồ Chí Minh cho người lên Đồng Văn để nhận bàn giao lại vùng đất của người Mèo. Ông Mai Trung Lâm lại được cử lên để tiếp thụ ý kiến cụ Vương. Khi ông Lâm lên tới nơi, cụ Vương triệu tập thủ lĩnh (người cầm quyền các dòng họ) về Sà Phìn để bàn thảo.

Như trên đã nói, ông Sình dự họp với tư cách là người quản lý hành chính chứ không phải tư cách thủ lĩnh. Theo truyền thống của xã hội người Mèo không có tập tục cha truyền con nối. Ai giỏi nhất thì được tôn vinh làm thủ lĩnh – không phân biệt tuổi tác, nguồn gốc. Kết luận, cụ Vương giao ước với các dòng họ Mèo rằng: Ông Mai Trung Lâm là người Cụ Hồ cử lên thay mặt Cụ. Từ nay mọi việc nhất nhất phải nghe theo ông Lâm. Như vậy là cụ Đức bàn giao đất Đồng Văn cho ông Lâm chứ không phải ông Sình.

Ông Mai Trung Lâm là người hoạt động ở vùng Mèo nhiều năm nên hiểu rõ về phong tục, xã hội người Mèo. Ông không thể chỉ đạo, thống lĩnh lượng vũ trang Mèo một khi chưa được thủ lĩnh các dòng họ suy tôn, chấp thuận. Vì vậy ông giới thiệu ông Vương Chí Sình vào vị trí đó. Song cụ Đức không chịu, cụ nói rằng: ”Vương Chí Thành nó có tính khí đàn bà. Gặp việc lớn không dám quả quyết nên không giao được”.

Người dân tộc nói như dao chém cây, khó lòng thay đổi được. Đâm ra ông Lâm trong tình thế tiến thoái lưỡng nan. Ông đành phải nhận. Song với vai trò, vị trí mới, sau khi tiếp thụ lệnh của cụ Đức, ông giao nhiệm vụ đó cho ông Vương Chí Thành. Nghĩa là ông vẫn là người chỉ huy cao nhất, là cấp trên của ông Thành, nhưng không đứng ra trực tiếp giải quyết mọi vấn đề của người Mèo. Phương án tế nhị, khôn ngoan của ông Lâm cuối cùng đã được cụ Vương chấp nhận. Trong không khí vui vẻ, phấn khởi ông Lâm kết nghĩa anh em với ông Thành ngay sau đó.

Ông Vương Chí Thành cũng vui vẻ nhận thêm trọng trách mới, nhưng ra điều kiện: ”Khi nào đánh Tây, đuổi Nhật xong ông trả lại đất Đồng Văn cho Cụ Hồ”.

Mấy tháng sau, vào đầu năm 1947 cụ Vương Chính Đức từ trần ở tuổi 82. Lúc này ông Thành mới chính thức là người chỉ huy cao nhất của các dòng họ Mèo, đồng thời lãnh trách nhiệm cao nhất về hành chính ở Đồng Văn để lo toan công việc kháng chiến. Ông Vương Chí Sình có công lớn giải thoát cho thủ lĩnh các dòng họ Mèo bị thực dân Pháp giam ở Hỏa Lò năm 1936. Nhờ sự kiện đó, ông có uy tín với các thủ lĩnh và họ phải mang ơn cứu mạng của ông, nên ông được thủ lĩnh các dòng họ tôn vinh như vua.

Những tháng đầu năm 1947 và sau đó, tình hình thực tế diễn biến hết sức phức tạp. Các lực lượng thân Pháp, Nhật, Tưởng ở các tỉnh miền núi phía Bắc tranh nhau lôi kéo những người nhẹ dạ cả tin đi theo chúng: Đồng thời chúng gầm ghè giữ miếng và xâu xé lẫn nhau. Để ngăn chặn quân Pháp đánh vào các khu căn cứ cách mạng, Việt Minh đã tổ chức chiến dịch và một số trận đánh lớn. Ở địa phận Đồng Văn do Vương Chí Sình cai quản, các lực lượng thù địch vẫn không thể lấy được tấc đất nào. Đồng Văn đứng vững, trước sóng gió của cuộc chiến.

Để tạo thế ”ỷ dốc” và khuếch trương thanh thế cho ông Vương, đe nẹt lũ cướp nước và bán nước, Việt minh phao tin rằng: Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cắt máu ăn thề kết nghĩa anh em với vua Mèo Vương Chí Sình. Rằng là Cụ Hồ đã đổi tên cho ông Sình là Thành (theo tiếng Việt có ý chí và trung thành). Thậm chí còn nói đổi cả họ cho ông Thành theo họ của ông Hồ – tức Hồ Chí Thành. Tin đó lan truyền nhanh như gió, râm ran thì thầm từ người nọ sang người kia, úp úp, mở mở.

Nếu bọn nào đụng vào ông Thành cũng tức là đụng vào ông Hồ. Như trên đã nói, trong thời gian này Việt Minh đã mạnh lên, giáng những đòn đau vào quân Pháp, diệt ác trừ gian. Chiến cuộc đã chuyển dần sang thế chủ động có lợi cho Việt Minh. Vì vậy bọn chúng rất e nể, càng không dám quấy nhiễu, liều mạng đánh vào quân ông Sình, sợ Việt Minh trừng trị.

Sau nhiều năm cùng cụ Vương Quỳnh Sơn bôn ba trên những chặng đường công tác, tôi đã hỏi cụ ít nhất là 2-3 lần về sự kiện ông Thành gặp Bác Hồ ở Hà Nội để xem cụ có sự nhầm lẫn nào chăng? Đến nỗi có một lần cụ phát cáu với tôi: ”Tao là người trực tiếp có mặt ở đó. Nhầm thế nào được”. Rồi cụ mỉm cười đôn hậu: ”Nhiều người chẳng hiểu biết gì về người Mèo, nhưng lại hay bày đặt ra những giai thoại. Kể nhiều thành quen tai cứ ngỡ rằng có thật. Những tin đồn đó chỉ có tính chính trị trong lúc bấy giờ mà thôi. Người Mèo chúng tao có những luật tục rất đặc thù. Giải thích thì dài dòng lắm. Bác Hồ là vị lãnh đạo hiểu biết sâu sắc về phong tục tập quán dân tộc Mèo. Bác còn là người rất tinh tế, lịch lãm và sáng suốt lắm. Làm gì có chuyện đổi họ, tên cho ông Vương. Cũng chẳng có lễ kết nghĩa anh em nào hết. Chỉ có một câu nói của Bác mà sinh ra lắm chuyện rắc rối thế? Câu chuyện gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh ông chú tao còn kể đi, kể lại với con cháu (chính xác như tao đã kể với mày) sau này như một niềm vinh dự, tự hào của dòng họ Vương”.

a2. vua meo p. cui

 Kỷ vật Bác Hồ tặng thủ lĩnh Vương hiện giờ ở đâu?

Trước hết, xin nói về kỷ vật. Theo cụ Vương, Bác Hồ tặng ông Thành 2 kỷ vật. Thứ nhất là chiếc áo trấn thủ. Chiếc áo đó may bằng vải kaki ngoại dầy, chắc, màu vàng dịu chứ không vàng khè như màu quân phục của công an trước đây (khi chưa thay đổi mẫu mã và màu như hiện nay). Cuối thân áo có thêu dòng chữ: ”Hội Phụ nữ cứu quốc kính tặng”. Đường chỉ may trần theo ô quả trám có cải thêm sợi kim tuyến lóng lánh rất đẹp. Chiếc áo này Hội Phụ nữ tặng Bác, nhưng Bác dành tặng lại cho ông Vương Chí Thành.

Thứ hai là thanh đoản đao – chứ không phải thanh gươm như các bài viết từ trước đến nay. Bản thân tôi cũng ngỡ ngàng khi nghe chi tiết này. Theo mô tả của cụ Vương, thanh đoản đao dài chừng trên 60cm một ít. Nơi bản đao rộng nhất to gần bằng bàn tay người lớn trông giống như chiếc mã tấu, hay giống như binh khí của tướng lĩnh, anh hùng hảo hán. Cuối chuôi đao có đục một cái lỗ buộc sợi dây có gắn quả tua khá đẹp. Việc chế tác thanh đoản đao Bác giao cho Xưởng Quân giới của ông Trần Đại Nghĩa.

Theo yêu cầu của Bác, xưởng quân giới chọn loại thép xanh vừa cứng, vừa dẻo để rèn.Không biết cụ Vương có lý tưởng hoá lên, chỉ biết cụ bảo nó ánh lên chất thép xanh sáng loáng và cực kỳ sắc bén. Để 1 sợi tóc vào lưỡi đao thổi nhẹ là sợi tóc đứt làm đôi. Vỏ đao được làm bằng gỗ tốt, có vân, không bị nứt nẻ bởi thời tiết và qua thời gian.

Sau khi hoàn thành mang lên để Bác kiểm tra, Người vén tay áo viết vào 2 mặt vỏ bao 8 chữ nho. Một bên là ”Tận trung báo quốc”, bên kia là ”Bất thụ nô lệ” và bên dưới có chữ ký của Bác. Nét chữ rắn rỏi, bay bướm rất đẹp.

Nếu bạn có dịp thăm Dinh thự họ Vương ở xã Sà Phìn, Đồng Văn sẽ thấy những chữ đó được khắc vào phiến đá mặt tiền phần mộ của vua Mèo Vương Chí Thành. Ảnh của ông ở giữa, hai bên ảnh mỗi bên 4 chữ. Khu mộ của dòng họ Vương nằm ở bên phải cổng vào dinh thự, dưới bóng mát của rặng samu cổ thụ hàng trăm năm.

Điều tôi băn khoăn nhất là tại sao lại là thanh đao chứ không phải thanh bảo kiếm như mọi người thường nói? Điều này được cụ Vương giải mã như sau: Trong lịch sử hơn 3.000 năm chiến đấu chống các triều đại nhà Hán (Hán tộc) từ thời Chu Thương 1600 năm trước Công nguyên nhà Hán luôn đánh vào vùng Mèo để giành vùng đất đai màu mỡ lưu vực sông Hoàng Hà – cái nôi của nền văn minh Trung Hoa. Ngưới Mèo đã nhiều lần bị nhà Hán bội ước, lừa gạt, nhiều phen thua trận. Giặc Hán còn sát hại, tru di các họ Mèo, giết hết đàn ông ở nhiều vùng đất chúng cai trị nhằm đồng hoá tộc người Mèo. Nhưng người Mèo vẫn tồn tại với sức sống mãnh liệt và không chịu khuất phục.

Mối thù truyền kiếp đó đến mức cực đoan. Người Mèo thường làm nhiều điều đối ngược với người Hán: Hán dùng môi bạc, thìa bạc, Mèo dùng môi gỗ, thìa gỗ; Hán giỏi võ tay, Mèo giỏi võ chân (vì thế nên người Mèo múa khèn chứ không chỉ thổi, đặc biệt đôi chân rất dẻo). Thù sâu đến nỗi, khi chết đi người Mèo cho vào quan tài người chết một chiếc nỏ làm bằng ống trúc nhỏ bằng ngón tay (đặc biệt trong quan tài người chết không được cho một tí sắt nào vào) với ý nghĩa, khi xuống thế giới tổ tiên – nơi ”trời lạnh, đất tối”- ma người Mèo tiếp tục chiến đấu giết ma Hán.

Trong tục ngữ Mèo có câu: ”Lá chuối không là lụa, người Hán không là bạn”. Theo đó, vua chúa Hán dùng gươm, vua chúa Mèo dùng đao. Ở đây nếu có suy luận ra một chút thì ở chỗ, chứng tỏ Bác Hồ rất hiểu lịch sử dân tộc Mèo mới tặng đao chứ không phải là kiếm? Điều này với tôi là quá bí hiểm không thể tranh cãi được gì, chỉ biết ghi lại thôi.

Đầu năm 1949, cuộc kháng chiến 9 năm của dân tộc đã bước sang năm thứ 4. Quân cách mạng đã trưởng thành và lớn mạnh nhiều mặt. Các cuộc hành quân nhằm tiêu diệt các khu căn cứ địa cách mạng của Pháp thất bại, tiêu biểu là chiến cuộc Đông Xuân 1947. Pháp xoay sang mở chiến dịch đánh vào Cao Bắc Lạng. Khi đã nắm rõ ý đồ của địch ta mở chiến dịch Sông Lô. Chiến dịch chia làm 3 giai đoạn, bắt đầu từ 29/4 kéo dài tới 31/5/1949 mới kết thúc. Trong những năm trước đó tình hình diễn biến hết sức phức tạp. Pháp, Nhật, Tưởng và bọn thân chúng khi có cơ hội đã liên tục tấn công vào lực lượng của ta. Trong lúc loạn quân, loạn quan dải đất Đồng Văn vẫn giữ vững để khích lệ biểu dương lực lượng vũ trang Mèo và công lao Vương Chí Sình trong mấy năm song hành cùng cuộc chiến đấu của dân tộc, Bác Hồ cử ông Võ Nguyên Giáp và ông Bùi Công Trừng mang tặng ông Vương hai kỷ vật đã nêu ở phần trên tại thị xã Hà Giang.

”Vậy kỷ vật ấy hiện nay ai giữ, cụ có biết không?”. Cụ bảo: ”Biết mà không biết”. Lạ. Cụ bảo ông chú Sình có 3 con trai: Vương Đình Phú, Vương Đình Quang và Vương Đình Thọ. Năm 1990, Thọ nó xin phép Nhà nước được xuất cảnh đi Canada, nó mang theo chiếc áo trấn thủ Bác tặng bố nó. Khi ông chú tao mất (1962) nó mới 2 – 3 tuổi. Năm nó đi định cư ở nước ngoài nó chừng 40 – 41 tuổi gì đó. ”Thế còn thanh đoản đao”?. Cụ cười buồn. ”Về cái vụ này tao có đôi ba lần hỏi cơ quan chức năng. Nghe nói có cán bộ lên Sà Phìn hỏi mượn hay xin gì đó, bảo là để trưng bày ở bảo tàng. Chẳng rõ là ai, vì lắm cán bộ quá. Cũng chẳng thấy trưng bày ở bảo tàng nào. Chịu”. Bây giờ cụ đã thành người thiên cổ. Liệu có còn ai tâm huyết đi tìm kỷ vật có giá trị lịch sử như vậy? Thật tiếc thay!

Đinh Đức Cần
Theo dantri.com.vn
Kim Yến (st)

Chuyện Bác Hồ với cha con Thủ lĩnh Vương Chí Sình(Phần 3) Thủ lĩnh Vương về Hà Nội – Hoàng Việt Hưng mắc kẹt

Theo đúng kế hoạch, khi xe ông Vương từ từ chậm lại trước cây số 17, một ông cụt tay cao lớn chặn xe hỏi lớn: ”Có phải xe của bác Vương không?”. Tài Hồ bảo đúng. Ông cụt tay đứng nghiêm chào: ”Tôi, Chu Phóng, Đại Đội trưởng Việt Minh nhận lệnh đón bác”.

Ông cụt tay đưa ông Vương vào một ngôi nhà dân gần đường. Đó là nhà một người Tày cơ sở cách mạng của ta. Khi ông Vương bước vào đã thấy ông Mai Trung Lâm ở đó. Ông Lâm đứng dậy chào hỏi, bắt tay rồi đưa ông Vương đến bàn nước. Sau khi hỏi sơ qua về sức khoẻ, ông Lâm hỏi: ”Bác có mang bàn đèn đi không?”. Ông Vương bảo có. ”Vậy thì bác lấy ra đi. Tôi tiêm thuốc cho bác hút”- ông Lâm vui vẻ nói. Tại đây, ông Vương chuyển sang xe của Việt Minh đi tiếp đến thị xã Tuyên Quang. Xe dừng, ông Lâm đưa ông Vương vào một ngôi nhà ven đường. Ông Trữ – Chủ tịch tỉnh Phú Thọ đã trực sẵn ở đó. Ông Lâm giới thiệu ông Trữ với ông Vương và bàn giao cho ông Trữ đưa ông Vương đi tiếp. Ông Trữ mang theo bảo vệ, sau khi thuốc nước xong xuôi, chia tay ông Lâm, ông đưa ông Vương qua Phú Thọ theo ngả đường về bến phà Trung Hà, Sơn Tây để về Hà Nội. Từ đây là khu vực an toàn không có trở ngại nào nữa. Về đến Hà Nội, ông Vương được ông Bùi Công Trừng – lãnh đạo Ban Tuyên huấn Trung ương đón tiếp, lo chỗ ăn nghỉ.

Quay lại sự việc Hoàng Quốc Chính phục kích nhằm vào ông Vương. Do biết được kế hoạch của Chính, Việt Minh đã nghi binh đánh lừa được Chính, đưa ông Vương đến cây số 17 an toàn. Chính rất điên tiết, liền nghĩ ra kế hiểm. Hắn cho quân bắn tin đến tai cụ Vương Chính Đức rằng Vương Chí Thành đã bị Việt minh giết chết. Nghe được tin này, cụ Vương bán tín bán nghi. Để ăn chắc cụ Vương giữ ông Hoàng Việt Hưng (do Việt Minh cử ở lại làm tham mưu, cố vấn cho cụ) quản thúc không cho đi đâu. Hoàng Việt Hưng giải thích rằng đó là âm mưu của Quốc dân đảng nói xấu, nhằm chia rẽ người Mèo với Việt Minh. Rồi ông cam đoan: ”Nếu Việt Minh giết ông Thành thì các ông cứ lột xác tôi”. Ông đề nghị cụ Đức cho người về Hà Nội để kiểm tra, xác minh cụ thể. ”Nếu thực sự ông Thành đã chết, tôi xin chết ngay trước mặt cụ”.

a1. vuameo  p.3Vua Mèo Vương Chính Đức trên Cao nguyên Đá Đồng Văn.

 Vấn đề đặt ra là làm thế nào về được Hà Nội và ai sẽ đi, bằng cách nào để tránh con mắt nhòm ngó của Chính? Ông Hoàng Việt Hưng giới thiệu với cụ Đức một người là điệp báo viên của tướng Tưởng chỉ huy Quân đoàn 52 đang tìm ngựa để về Hà Nội. Ông Hưng gợi ý cho hắn mượn ngựa, cử giám mã cưỡi ngựa đi cùng để chăm sóc ngựa. Bằng cách đó sẽ xuống được Hà Nội thực thi nhiệm vụ tìm gặp ông Thành. Ông Vàng Giống Sử chăn ngựa của cụ Vương được cử đi. Về Hà Nội, ông Sử đã gặp được ông Thành ở 12 Hàng Ngang – là hiệu bánh khảo nổi tiếng Hồng Thái – nơi ông Thành đang nghỉ. Ông bà Hồng Thái là bạn hàng thân thiết với ông Thành. Vợ ông thường cất bánh ở đây đưa lên cửa hàng tạp hoá của gia đình ông ở Phó Cáo để bán lẻ.

Gia đình ông bà Hồng Thái mở tiệc chia tay để ông Vương sang ở và làm việc với Chính phủ. Xong việc, ông Sử vội quay về báo tin cho cụ Vương đang sốt ruột chờ đợi ở nhà. Trước khi rời Hà Nội, Bác Hồ giao cho ông Sử 2 thùng trà ướp sen (đặc sản của đất Thăng Long) nói là quà của Chủ tịch biếu cụ Vương để ăn Tết Nguyên đán. Đồng thời kèm theo bức thư báo con trai cụ đã về Hà Nội bình yên cùng lời chúc Tết của Bác. Tới khi ông Sử về đến dinh thự gia đình cụ Vương ở Sà Phìn ông Hưng mới được giải oan.

Về Hà Nội chưa lâu, ông Vương biết tin Hoàng Quốc Chính và bè lũ quốc dân đảng đã bị tiêu diệt hoàn toàn. Vậy Việt Minh lấy lực lượng ở đâu và diệt Chính thế nào trong khi quân của hắn còn khá mạnh?

Để trả lời câu hỏi này cần diễn giải một chút. Số là, trong lực lượng của Quốc dân đảng ở vùng biên giới có 2 lực lượng theo 2 phái. Một phái ”tạp pí lù” không đựợc tổ chức chặt chẽ, không được huấn luyện, thiếu kinh nghiệm chiến đấu, trung thành ôm chân Chính để cướp bóc kiếm lợi lộc. Phái kia do Ba Viên cầm đầu là lực lượng lính khố đỏ từ bên kia biên giới mới về nước. Đội quân này có kỷ luật, chính quy, trang bị vũ khí đầy đủ và có năng lực chiến đấu. Được biết cụ Vương mạnh như thế mà đã ngả theo Việt Minh, thấy thái độ Ba Viên cũng quyết tâm theo Việt Minh về với Cụ Hồ, Mai Trung Lâm gợi ý: ”Ông về với Cách mạng là có lý và thức thời, góp công, góp sức giúp Hồ Chủ tịch cứu nước, cứu dân rất đáng được hoan nghênh, nhưng chẳng nhẽ về tay không hay sao?”.

Sau một hai đêm thức trắng suy nghĩ, Ba Viên cho gọi 2 quan một tên là Hải và Mai đến bàn việc. Phương án, kế hoạch binh biến, tác chiến được lên chi tiết thận trọng. Ba Viên cử Mai và Hải đến gặp Hoàng Quốc Chính bàn bạc phối hợp lực lượng đánh Việt Minh.

Được một lực lượng chính quy tham chiến còn gì mừng hơn. Chính khai chi tiết về lực lượng, dẫn Mai và Hải đi xem việc bố phòng, các địa điểm đóng quân và các hoạt động, canh gác của quân Chính. Cùng với dụng ý khoe lực lượng, Hải và Mai báo cáo đầy đủ với Ba Viên, đồng thời cùng nhau bàn kế hoạch diệt thật gọn quân Chính. Có thêm lực lượng, Chính đã mắc mưu Ba Viên nên chủ quan không cảnh giác. Chỉ một hai hôm sau, nhằm vào yếu tố bất ngờ, Ba Viên đã khởi sự, đưa quân đánh úp quân Chính. Đúng như kế hoạch, bè lũ Quốc dân đảng do Chính cầm đầu bị diệt gọn. Chỉ còn người duy nhất là Trịnh Đình Phách, người Tày ở Cao Bằng chạy thoát.

a2. Vua meo p.3Gia đình Thủ lĩnh Vương.

 Xung quanh chuyện thủ lĩnh Vương ở Hà Nội và cuộc hội kiến với Hồ Chủ tịch

Theo lệnh của Bác Hồ, ông Bùi Công Trừng đưa ông Vương đến biệt thự 51 – Trần Hưng Đạo. Biệt thự này là nơi ở của Cựu hoàng Bảo Đại khi ông này được Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà mời làm Cố vấn, cũng là nơi ông sống với bà Bùi Mộng Điệp – người đẹp Bắc Ninh – bà là thứ phi cuối cùng của các triều đại phong kiến Việt Nam. (Số nhà đó từ 10-1957 là trụ sở Báo Văn nghệ, hiện nay là trụ sở của Uỷ ban toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học – nghệ thuật Việt Nam).

Sau khi xem xét nội thất trong nhà, ông Vương đi vòng quanh nhà một lượt rồi không đồng ý ở đây. Ông cho rằng phố này vắng vẻ, ra vào dễ lộ mặt và không an toàn trong lúc ở Thủ đô còn rất phức tạp. Ông Trừng lại xin ý kiến của Bác, xếp ông Vương ở Phủ Chủ tịch cho ông yên tâm. Ông Vương từ chối và nói: ”Các ông không phải bận tâm sắp xếp nơi ăn nghỉ cho tôi, tôi tự lo được. Tôi về số nhà 12 Hàng Ngang – hiệu bánh khảo Hồng Thái là chỗ thân quen cho được tự do”. Rồi ông sốt ruột hỏi khi nào thì được gặp Cụ Hồ. Ông Trừng bảo: ”Bác đi đường sá xa xôi vất vả, cứ nghỉ vài ngày cho lại sức. Cụ Hồ lúc này bận nhiều công việc lắm.Tôi sẽ xin ý kiến Cụ rồi bố trí để bác được gặp vào thời gian sớm nhất”.

Vài hôm sau ông Vương bị ốm. Ông không phải đi bệnh viện mà Việt Minh cử bác sỹ đến thăm bệnh cho ông tại nơi ông đang ở. Bác sỹ vừa bắt mạch vừa dùng ống nghe, chẩn đoán bệnh rồi chào ông ra về. Một hai tiếng đồng hồ sau có một người mang đơn và thuốc đến cho ông. Anh ta tự giới thiệu tên là Lý Quang Hoa người của Việt Minh. Sau này ông Vương mới biết anh ta chính là Hoàng Văn Hoan (người đã làm tới chức Phó Chủ tịch Quốc hội phản bội chạy sang Trung Quốc sau này).

Trước khi nói về chuyện ông Vương hội kiến với Bác Hồ cần nhắc tới một nhân chứng trong cuộc gặp là ông Vương Quỳnh Sơn. Bà vợ cả của cụ Vương Chính Đức sinh cho ông 2 người con trai: Vương Chí Tình và Vương Chí Thành. Ông Vương Chí Tình có một con trai là Vương Đình Quý. Ông Quý chỉ có một con trai là Vương Quỳnh Sơn. Ông Sơn gọi ông Thành là ông chú. Thời gian này ông Sơn mới 18-19 tuổi. Việc ông có mặt ở Hà Nội là do Việt minh giới thiệu ông vào học Trường Quân sự (sau khi được cụ Vương Chính Đức đồng ý). Đó là trường Lục quân võ bị Trần Quốc Tuấn đóng ở phi trường (sân bay) Tông gần thị xã Sơn Tây.

Cùng học khoá I còn có 3 thanh niên Mèo nữa là ông Vương Quỳnh Anh – người anh cùng dòng họ với ông Sơn – cũng do Việt minh giới thiệu. Hai thanh niên Mèo khác là Dưong Mí Tường và Dương Mí Phụng do Việt Nam Cách mạng đồng minh hội (Việt cách) giới thiệu. Việt cách không phá phách phản động như Việt quốc (Quốc dân đảng). Việt cách có thiện cảm và có xu hướng ngả theo cách mạng. Nhưng học đến giữa chừng thì Tường và Phụng đào ngũ chạy về theo quân Tàu Tưởng. Chính Chủ tịch Hồ Chí Minh giao cho ông Võ Nguyên Giáp, ông Giáp giao cho ông Trần Tử Bình là lãnh đạo của nhà trường dẫn anh em ông Vương Quỳnh Sơn vào trường. Ông Bình bố trí ông Sơn vào học lớp C.

Khi đã có lịch gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh, ông Thành có ý nguyện cho gặp cháu ông là Vương Quỳnh Sơn. Lúc ông Thành đến Phủ Chủ tịch, đã thấy Bác Hồ ở đó. Bác đi xuống bậc thềm đến tận nơi tươi cười bắt tay ông Thành, chào hỏi thân tình, rồi dẫn lên phòng khánh tiết Phủ Chủ tịch. Khi đã an toạ, Bác hỏi thăm sức khoẻ cụ Vương Chính Đức, gia đình ông Thành, quá trình ông đi đường, việc ăn ở trong những ngày qua có được chu đáo… Rồi trao đổi tình hình và việc giới thiệu ông làm đại biểu Quốc hội khoá I (6/01/1946).

Trước đó, trong Tuần lễ vàng 4/9/1945, ủng hộ lời kêu gọi của Chính phủ, ông Vương Chí Sình đã đóng góp 22.000 đồng bạc trắng và 9 cân vàng. Nên nhớ rằng khi giành được chính quyền ngân khố quốc gia chỉ có 1,2 triệu đồng tiền giấy rách nát. Chỉ trong một tuần lễ nhân dân đã đóng góp cho chính phủ 20 triệu đồng và 370kg vàng.

Theo ông Vương Quỳnh Sơn, bản tính ông Sình trung thực, đã hứa là làm, nhưng ông kiệm lời, ít nói. Phong cách tiếp khách của Bác Hồ thì lại luôn thân tình, gần gũi, sao cho người đối thoại cảm thấy không có sự phân biệt cao thấp, kẻ trên người dưới. Nhưng ông Thành vẫn có sự e ngại, rụt rè. Ông luôn miệng gọi Bác Hồ là Cụ. Có lẽ Bác Hồ thấy việc xưng hô như thế bất tiện và không được thoải mái, tự nhiên.Vì vậy đột ngột Bác hỏi: ”Ông tuổi gì?”. Vương Chí Sình nói: ”Thưa Cụ, tôi tuổi hợi”. Ngẫm ngợi đôi phút Bác nói: ”Vậy là ông hơn tuổi. Tôi phải gọi ông là quan bác”. Bởi theo tiểu sử Hồ Chí Minh, Bác sinh năm canh dần 1890, như vậy kém ông Sình 3 tuổi. Rồi Bác nói thêm: ”Từ giờ trở đi đừng gọi tôi là Cụ nữa. Chúng ta là anh em”. Câu chuyện đơn giản chỉ có vậy. Sau này ông Sình còn kể lại nhiều lần với con cháu ông.

Cũng trong cuộc gặp gỡ này, Bác dặn dò, giao nhiệm vụ cho Vương Quỳnh Sơn làm công tác thanh vận. Sau khi tốt nghiệp trường Sỹ quan lục quân, Vương Quỳnh Anh được điều về Bộ Quốc phòng làm phái viên. Vương Quỳnh Sơn trở về Đồng Văn vận động thanh niên Mèo tham gia cách mạng, rồi thành lập lực lượng vũ trang.

Đầu năm 1948, Bộ Quốc phòng quyết định thành lập tiểu đoàn chính quy mang phiên hiệu D350 (còn gọi là tiểu đoàn Mèo – vì đại đa số là người Mèo) trên cơ sở lực lượng vũ trang của ông Sơn, và quyết định bổ nhiệm Vương Quỳnh Sơn làm Tiểu đoàn Trưởng. Tiểu đoàn D350 trực thuộc Quân khu 10, do tướng Bằng Giang làm Tư lệnh quân khu. Trong buổi ra mắt có sự tham dự của ông Tô Quang Đẩu chủ tịch khu 10, ông Trần Đức Trung chủ tịch Hà Giang, Giám đốc Sở Công an… Được Bộ Quốc phòng uỷ quyền, trong buổi ra mắt tiểu đoàn, ông Trần Đức Trung – Chủ tịch tỉnh Hà Giang đã trao thanh kiếm cho Tiểu đoàn Trưởng Vương Quỳnh Sơn để thực thi nhiệm vụ.

(Còn nữa)

Đinh Đức Cần
Theo dantri.com.vn
Kim Yến (st)

Chú bé “lạ” trong bức ảnh chụp với Bác Hồ

Bức ảnh Bác Hồ cùng Đại tướng Võ Nguyên Giáp, cố Tổng Bí thư Trường Chinh với các chiến sĩ Điện Biên trong sinh nhật Bác 19/5/1954 do nhà quay phim Vladimia Isurin chụp đã được đăng trên báo nhiều lần, nhưng rất ít người để ý về một “chú bé lạ”, đứng nép bên Bác Hồ.

Chú bé ấy bây giờ tuổi đã ngoài 60, là Thiếu tướng Quân đội nhân dân Việt Nam và là tác giả cuốn tiểu thuyết đầu tiên về đường ống xăng dầu, bộ đội Trường Sơn vừa được xuất bản…

Thiếu Tướng Hồ Sĩ Hậu, tác giả tiểu thuyết “Dòng sông mang lửa”

Thiếu tướng Hồ Sỹ Hậu kể: “Ngày Chiến thắng Điện Biên Phủ tôi mới lên 8 tuổi, theo cha lên Chiến khu Việt Bắc, trong Cơ quan Văn phòng Trung ương Đảng.

Sau Chiến thắng Điện Biên Phủ, Đoàn làm phim của nhà quay phim  nổi tiếng người Nga Roman Cácmen từ mặt trận về Cơ quan Văn phòng Trung ương Đảng để quay phim về Bác Hồ. Bọn trẻ chúng tôi được may quần áo mới và quàng khăn đỏ mỗi khi ra trước ống kính.

Tôi thì được các cô may cho một bộ quần áo kaki màu tím than mà trước đó tôi chưa bao giờ dám mơ. Chúng tôi được đi mừng sinh nhật Bác Hồ, sau đó thì được mặc quần áo mới để đón các Chiến sĩ ưu tú từ Điện Biên Phủ về báo công mừng sinh nhật Bác.

Hôm đó, khi các bạn tản đi chơi chỗ khác hết rồi, tôi vẫn la cà quanh khu vực Bác Hồ tiếp khách. Trong cơ quan, thỉnh thoảng Bác cho trẻ con lên nhà sàn chơi. Tôi cũng có lần được Bác bế lên ngồi lòng. Qua cửa sổ nhà sàn, tôi thấy dòng suối, nương ngô xanh mướt, thấp thoáng bóng áo chàm có chút gì đó như sương khói.

Phong cảnh của một buổi chiều Việt Bắc cứ đọng lại mãi trong trí nhớ của tôi. Thấy Bác Hồ và các chú, các bác lãnh đạo nói chuyện rất vui vẻ với các chiến sĩ nên tôi đứng cạnh một gốc cây gần đó xem một cách tò mò và thích thú. Bác ân cần hỏi chuyện gia đình từng chiến sĩ rồi gắn Huy hiệu “Chiến sĩ Điện Biên Phủ” cho từng người.”.

Nhớ lại câu chuyện được chụp ảnh với Bác Hồ, Thiếu tướng Hồ Sỹ Hậu vẫn còn bồi hồi xúc động. Trong ký ức non nớt của một cậu bé 8 tuổi, hình ảnh Bác tỏa ra một vẻ đẹp diệu kỳ. Bác nghiêm khắc khi chú bé sà vào lòng Bác lúc Bác đang làm việc. Nhưng đến khi xong việc rồi, Bác lại gọi chú bé vào hỏi han, âu yếm, không một chút khó tính.

“Thấy tôi thập thò ở gốc cây hóng chuyện, Bác gọi: “Cháu vào đây với Bác”. Rồi Bác lách tay qua mấy anh bộ đội để dắt tôi vào. Hai tay Bác ôm lên vai tôi, như cách của một người ông hiền từ yêu chiều cháu nhỏ. Tôi đứng nép vào Bác, nghe Bác và các bác lãnh đạo nói chuyện với bộ đội. Tôi không thể ngờ toàn bộ những kỷ niệm trên đều được quay vào những thước phim tư liệu của nhà làm phim Cácmen.

Và ngạc nhiên hơn nữa là thấy mình trong bức ảnh Bác Hồ và các vị lãnh đạo Đảng, Nhà nước và 6 chiến sĩ Điện Biên. Những bức ảnh này được chụp bởi nhà nhiếp ảnh người Nga Isurin – người đi cùng Đoàn làm phim với đạo diễn Cácmen”.

Sau này một vài bài báo viết về bức ảnh lại cho rằng chú bé đứng cạnh Bác Hồ là TS Đặng Việt Bích, con trai cố Tổng Bí thư Trường Chinh. Về chi tiết này, khi trò chuyện với phóng viên, “chú bé” trong ảnh, nay là Thiếu tướng Hồ Sỹ Hậu hóm hỉnh: “Tội nghiệp Đặng Việt Bích, cậu ấy trắng trẻo, thư sinh, đẹp trai nữa, lại bị nhầm với thằng bé “nhà quê một cục” như tôi”.

Anh hùng LLVTND Lê Mã Lương, Giám đốc Bảo tàng Quân đội đã “đính chính” lại với mọi người đến xem bảo tàng mỗi khi có ai hỏi về chú bé trong bức ảnh, rằng đó là Hồ Sỹ Hậu, con trai một đồng chí nguyên là Ủy viên Trung ương Đảng….

Chu be la trong buc anh chup 2Bác Hồ trò chuyện với 6 chiến sĩ Điện Biên Phủ
(chú bé trong bức ảnh nay là Thiếu tướng Hồ Sĩ Hậu)

Chú bé 8 tuổi đứng nép vào Bác Hồ, và ngồi cạnh bác Trường Chinh trong những bức ảnh lịch sử của hơn nửa thế kỷ về trước, nay đã là một Thiếu tướng quân đội, một nhà văn. Theo truyền thống gia đình, lớn lên, “chú bé” vào bộ đội, là một kỹ sư thiết kế, thi công tuyến đường ống xăng dầu Trường Sơn huyền thoại.

Những năm tháng được sống cùng cha ở Chiến khu Việt Bắc, lại được gần gũi Bác Hồ và các bác, các chú lãnh đạo cao cấp của Đảng và Nhà nước đã thôi thúc trong lòng “chú bé” một mong muốn, là phải phấn đấu để có cơ hội gặp lại Bác với tư cách là “một người Anh hùng hay một Chiến sĩ thi đua”.

Tham gia vào cuộc chiến tranh khốc liệt, đóng góp công sức, trí tuệ cho đường ống xăng dầu Trường Sơn, Thiếu tướng Hồ Sỹ Hậu là một nhân chứng sống của lịch sử. Những tư liệu khổng lồ, chân thực về con đường “huyền thoại trong huyền thoại”, là đường ống xăng dầu Trường Sơn đã được ông kể lại trong tiểu thuyết “Dòng sông mang lửa’.

Cuốn tiểu thuyết đầu tiên của một Thiếu tướng quân đội đã làm ngỡ ngàng bạn đọc, cả về tính chân thực và chất lãng mạn hòa quyện. Cả tuổi trẻ của mình, Hồ Sỹ Hậu đã cống hiến cho cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc. Ông là người đã sống qua mất mát, qua lửa đạn, đối mặt với cái chết nhiều lần, và “nắm giữ” nhiều ký ức sống động về chiến tranh.

Dù việc viết văn đối với ông không phải để nổi tiếng, hay để trở thành một nhà văn, nhưng chỉ bằng cuốn tiểu thuyết đầu tay, viết với mong muốn để tri ân đồng đội này, Thiếu tướng Hồ Sỹ Hậu đã có những đóng góp nhất định cho nền văn học.

“Dòng sông mang lửa” là cuốn sách đầu tiên viết về bộ đội xăng dầu. Tác giả đã cung cấp cho bạn đọc những trang tư liệu sống động về quá trình xây dựng đường ống xăng dầu Trường Sơn, con đường quan trọng được ví như mạch máu của quân đội, nhưng có đặc điểm là sau khi hoàn thành nhiệm vụ thì mọi dấu vết của nó đều được xóa đi, không giống như đường mòn Hồ Chí Minh còn tồn tại đến hôm nay.

Không có cuốn sách của Hồ Sỹ Hậu, không có những trang viết chân thực của một vị tướng đã “nếm mật nằm gai” trên những cung đường để vận chuyển xăng dầu vào chiến trường, phục vụ cho quân đội, thì rất ít người trong chúng ta hôm nay hiểu được thấu đáo những đóng góp quan trọng và to lớn của những người lính xăng dầu cho chiến thắng cuối cùng của dân tộc.

Trong suốt những năm đeo ba lô, cầm súng đi chiến đấu dưới trời bom đạn, người lính Hồ Sỹ Hậu, “chú bé lạ” trong bức ảnh nổi tiếng của các nhà làm phim tài liệu người Nga mà chúng ta vừa nhắc, đã luôn nhớ về hình ảnh vị Cha già dân tộc như một nguồn cổ vũ, động viên lớn lao để hoàn thành nhiệm vụ của mình.

Thiếu tướng Hồ Sỹ Hậu kể lại: “Bác Hồ từ trần ngày 2/9/1969, khi tôi đang là Trợ lý kỹ thuật đi tiền trạm cho cơ quan tiền phương Trung đoàn đường ống. Vì không có báo đài để biết thông tin, nên đến ngày 5/9 tôi mới biết tin Người đã ra đi. Nhớ đến kỷ niệm năm xưa được chụp ảnh chung với Bác, và lời tự hứa sẽ gặp lại Bác khi mình đã làm được nhiều việc có ích cho Tổ quốc, tôi hiểu rằng mình đã không còn cơ hội để gặp Người.

Đêm ấy ở Trường Sơn tôi đã khóc rất nhiều và hiểu đến tận cùng niềm vinh dự lớn lao về một đoạn đời tuổi thơ tôi được gần gũi Bác. Không có mấy bạn thiếu nhi bằng tuổi tôi ngày đó có được may mắn và vinh dự ấy. Sáng ngày 6/9/1969 và hàng tháng trời sau đó, từng đợt B52 và mọi loại bom đạn của địch càn đi quét lại trên tuyến ống dẫn dầu của bộ đội đường ống Trường Sơn chúng tôi.

Rất nhiều đồng đội của tôi đã hy sinh, nằm lại trên những cánh rừng. Họ đã biến thành đất đai, cây cỏ. Với sự sáng tạo, lòng dũng cảm, gan dạ, bền chí của những người lính xăng dầu, chúng tôi đã góp phần mình cho ngày đại thắng của dân tộc. Ngày trở về, đứng trước bàn thờ của Bác, tôi đã khấn: “Thưa Bác, cháu nguyện sẽ sống và cống hiến xứng đáng với những kỷ niệm tuổi thơ đã được ở gần Bác và được Bác dạy dỗ, thương yêu”.

Thiếu tướng, nhà văn Hồ Sỹ Hậu hiện đã nghỉ hưu. Ông có nhiều dự định trong những ngày tháng này, mà dự định lớn nhất là viết về bè bạn, những người lính đã cùng ông chia ngọt sẻ bùi trong một phần đời rất quan trọng, là phần đời chiến trận…

Theo Công an Nhân dân
Huyền Trang (st)

Chuyện Bác Hồ với cha con Thủ lĩnh Vương Chí Sình(Phần 2) Vương Chính Đức về với Cách mạng

Vùng đất người Mèo do Vương Chính Đức cầm đầu vừa đánh dư đảng quân Cờ đen, vừa đánh quân Pháp buộc chúng không thể vào được đất Đồng Văn.

Mãi tới năm 1900, Pháp huy động một lực lượng lớn phối hợp với địa phương quân khố xanh Tày, Thái từ Bảo Lạc Cao Bằng đánh sang. Trận chiến gây tổn thất nặng nề cho cả hai bên. Vương Chính Đức bị vỡ trận buộc phải rút lui để quân Pháp chiếm cứ Đồng Văn.

Rút vào rừng sâu, ông củng cố lực lượng, liên tiếp quấy rối và đánh cho quân Pháp thất bại nặng nề. Những năm đầu thế kỷ XX, người Mèo ở Đồng Văn và Nam Vân Nam – Trung Quốc khởi nghĩa vũ trang rầm rộ – tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa từ 1909-1913. Sau gần 4 năm không thu phục được vùng đất dữ, quân Pháp bị hao binh tổn tướng. Trong khi quân của Vương Chính Đức thắng lợi giòn giã, buộc Pháp phải hoà đàm.

Hiệp ước Pháp – Mèo do tướng Jenera Pecneucin và Vương Chính Đức ký tháng 10/1913 có các điều kiện lợi thế cho người Mèo. Trước hết Pháp phải triệt thoái toàn bộ quân ra khỏi Đồng Văn – kể cả địa phương quân do Pháp chỉ huy, trả lại cho người Mèo cai quản theo chế độ tự trị bên cạnh một đại lý Pháp và một khung hành chính đại diện cho Nam triều mang ý nghĩa tượng trưng.

a1. vua meo p.2Khu nhà Vương được bao bọc giữa những dãy núi của Cao nguyên Đá Đồng Văn.

 Năm 1905, khi thuốc phiện trở thành hàng hoá và là nguồn thu lớn của Pháp (có tài liệu nói nguồn lãi từ thuốc phiện chiếm gần 1/3 tổng thu của Pháp ở Đông Dương) nên Anh quốc cũng muốn tranh giành mối lợi này. Nhưng trong khi Anh đang mải thôn tính Miến Điện thì Tỉnh trưởng Vân Nam vốn có quan hệ từ trước với Pháp đã liên kết với toàn quyền Đông Dương lập Công ty Á phiện Việt Điền để chia nguồn lợi này.

Giá thuốc phiện bấy giờ là 1 đồng bạc trắng/1 lạng cân tiểu ly = 37,5 g. Toàn quyền Đông Dương giao cho Sở Đoan chính Đông Dương làm đại diện thu mua, đồng thời đưa bàn đèn dạy dân cách hút thuốc phiện. Riêng Đồng Văn sản lượng thuốc phiện lúc cao nhất lên tới 20 tấn/năm. Chính nhờ thuốc phiện mà Vương giàu lên nhanh chóng, củng cố quyền lực, mua sắm vũ khí, nuôi được binh sỹ. Thắng lợi của Vương trước quân Pháp đã làm át bóng thổ ty người mèo là Dương Tụ Nghĩa đang sở hữu đất Mèo Vạc – vốn trước đó rất mạnh có mưu đồ thâu tóm quyền lực muốn cai quản cả vùng cao nguyên đá. Do thế lực về cả kinh tế và quân sự của Vương ngày một tăng nên quân Pháp nhượng bộ và hy sinh quyền lợi thả lỏng vùng đất Vương quản lý.

Tiếp đến, một sự kiện đáng nhớ là người Mèo toàn Đông Dương còn có cuộc nổi dậy đánh Pháp từ năm 1918-1921. Trước tình hình không thể kiểm soát được vùng Mèo, và nguy cơ mất nguồn thu lớn từ thuốc phiện, ông Vương được Pháp phong chức Chánh quan Mèo, và được đưa vào làm thành viên của công ty Việt Điền. Song do việc phân phối quyền lợi từ nguồn thu thuốc phiện có nhiều man trá, do chính sách nô dịch, o ép vô lý nên người mèo Đồng Văn có xu hướng ly khai và chuẩn bị vũ trang chống Pháp.

Thông qua bọn mật thám, Việt gian, Pháp nắm được tình hình. Năm 1936 thống sứ Bắc Kỳ tổ chức đấu xảo ở thị xã Hà Giang, mời cha con Vương Chính Đức và thủ lĩnh các dòng họ Mèo đến dự. Chúng lừa bắt được tất cả đưa về nhốt tại Nhà tù Hoả Lò. Đây là lần thứ 2 thủ lĩnh mèo Đồng Văn bị Pháp bắt. Để lấy lòng Vương Chính Đức, Pháp cho ông và con trai Vương Chí Thành tại ngoại ở Hà Nội. Pháp muốn nắm Vương Chính Đức để thu phục đất Đồng Văn phục vụ âm mưu chia để trị.

Sau sự kiện Nhật hất cẳng Pháp (9/3/1945) đến trước Cách mạng Tháng Tám tình hình hết sức khẩn trương. Các lực lượng thân Pháp, Nhật, Tưởng, Việt Nam Quốc dân đảng (còn gọi là Việt quốc), Việt Nam Cách mạng đồng minh hội (còn gọi là Việt cách) hoạt động ráo riết. Quân Tưởng Giới Thạch dồn người Mèo các tỉnh Vân Nam, Quảng Tây áp sát biên giới Việt Nam. Để lấy lòng người Mèo, Đờ mông Ba Gia Trưởng Phòng nhì mật thám Đông Dương nấp dưới danh nghĩa chủ sân Quần ngựa Hà Nội thực hiện âm mưu, Đờ mông Ba gia ”thầy dùi” cho chính quyền Pháp cách chức một số quan Nam triều nhằm lôi kéo Vương Chính Đức hợp tác chống Tưởng và Nhật.

Sau đảo chính vài ngày, quân Nhật đánh lên các tỉnh miền núi phía Bắc và đổ bộ vào đất Đồng Văn. Quân Pháp đã không thông tin cho người Mèo biết. Chúng lặng lẽ rút sang bên kia biên giới. Chính quyền tay sai do Hoàng Phủ Toại (người Tày ở Nước Hai, Cao Bằng) đứng đầu cũng chuồn theo chân bọn buôn lậu thuốc phiện. Thành ra người Mèo vừa phải phòng ngự, ngăn không cho quân Tưởng tràn vào, vừa phải nổ súng chống quân Nhật vừa tới. Trong thế mắc kẹt, Vương Chính Đức hết sức lúng túng. Khi đó cũng là lúc Cách mạng Việt Nam có chuyển biến mạnh mẽ chuẩn bị cho Tổng khởi nghĩa. Hồ Chủ tịch kêu gọi toàn dân ”ai có súng dùng súng, ai có gươm dùng gươm”, nhất tề nổi dậy cướp chính quyền về tay nhân dân.

Thấy được vai trò của Vương Chính Đức và lực lượng vũ trang Mèo, Bác cử đại diện của Việt minh là ông Hoàng Việt Hưng, ông Sơn Tùng và ông Thất Tinh đi từ Cao Bằng qua Đường Thượng – Bắc Mê vào Đồng Văn để gặp thủ lĩnh họ Vương bàn việc Việt Minh giúp người Mèo chống Pháp, Nhật và Tưởng. Họ đưa ra 8 điều lệnh của Việt minh bàn với ông Đức. Sau khi suy nghĩ ông Đức đã nhận ra những điều đó đúng với mục đích chiến đấu của người Mèo, đồng thời mở ra lối thoát cho cuộc chiến đấu của lực lượng vũ trang Mèo. Việt minh còn cử ông Việt Hưng ở lại làm tham mưu cho ông Đức. Sau cuộc gặp gỡ này, ông Vương thở dài nhẹ nhõm, ngửa mặt lên trời mà rằng: ”Người Mèo ta xưa nay khắc đánh kẻ thù không có ai giúp đỡ. Nay có Việt minh, có Cụ Hồ giúp, ta còn mong gì hơn nữa…” Rồi ông nói với thuộc hạ: ”Việt Nam ta giờ đã có vua là Cụ Hồ, ta phải theo Cụ”. Cũng từ đây, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt tên cho toàn bộ cao nguyên núi đá gồm 4 huyện: Đồng Văn, Mèo Vạc, Quản Bạ, Yên Minh là Châu Thường Kiệt do ông Vương Chính Đức đứng đầu. Cũng từ đây cuộc chiến đấu của người Mèo hoà vào cuộc kháng chiến của toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

 Kế hoạch đưa Vua Mèo về Hà Nội

Cách mạng Tháng Tám thành công. Ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh long trọng đọc Bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh nước Cộng hoà công nông đầu tiên ở Đông Nam Châu Á. Lúc này, tình hình đất nước cực kỳ cam go. Thù trong, giặc ngoài đe doạ nền độc lập của Nhà nước công nông non trẻ. Hồ Chủ tịch thành lập Chính phủ lâm thời, tập hợp mọi lực lượng yêu nước có thể tranh thủ, hợp tác. Trong nhiều thành phần, tầng lớp xã hội, Bác rất quan tâm tới đồng bào dân tộc thiểu số miền núi. Một trong những nhân vật ấy là cụ Vương Chính Đức – người thủ lĩnh Mèo nổi tiếng với những chiến tích đánh quân Pháp, Nhật, Tưởng giữ vững vùng đất Đồng Văn mấy chục năm qua.

Với lòng trân trọng, Bác viết thư cho Việt minh mang lên Đồng Văn mời cụ Vương về Hà Nội để bàn việc nước. Lúc này cụ Vương đã tuổi cao (81 tuổi) sức yếu không thể đi được nên ủy quyền cho con trai là Vương Chí Thành đi thay để đến tiếp kiến Cụ Hồ.

a2. vuameo p.2Hiện nay, các hậu duệ và con cháu họ Vương
đều sinh sống xung quanh khu vực nhà Vương.

Vương Chí Thành là con trai thứ 2 của cụ Vương với bà cả – có tên Mèo là Vàng Seo Lử (Vang T´sia Lưv). Viết theo chữ và nghĩa Hán là Vương Chí Thành. Âm hán đọc Thành là Sình, vì thế ông có 2 tên mà các tài liệu lúc thì viết là Sình, lúc viết là Thành đều được, không sai.

Thời kỳ này rất hỗn quân, hỗn quan, nào Nhật, Tưởng, Pháp. Các đảng phái lợi dụng nấp dưới các thế lực thù địch với cách mạng mọc lên như nấm sau mưa. Việt quốc là đám hung hăng nhất.

Ở Hà Giang có Hoàng Quốc Chính lợi dụng tình hình, theo gót quân Tưởng vào giải giáp quân Nhật. Chính là uỷ viên của Quốc dân đảng, đóng trụ sở tại thị xã Hà Giang. Quân của Chính cũng là một thứ ”tạp pí lù” nhưng lúc này vẫn còn mạnh không thể coi thường. Sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho ông Vương, Việt minh cử ông Mai Trung Lâm lên Hà Giang nhằm 2 mục đích: 1. Phân hoá các lực lượng đối lập, ta chủ trương tập trung vào kẻ thù chính (sau này ông Lâm là Đại tá Chỉ huy trưởng Công an vũ trang khu Tây Bắc, sau nữa là Chỉ huy trưởng Công an vũ trang Hà Giang – nay là bộ đội biên phòng) đến đàm thoại với Hoàng Quốc Chính; 2. Thực hiện kế hoạch đưa ông Vương về Hà Nội an toàn.

Là lần đầu tiên tiếp xúc với Việt minh, nên Chính chuẩn bị thật ”chu đáo”. Hắn tổ chức tiệc tại thị xã Hà Giang, cho mời quan quân, tướng lĩnh của quân Tưởng Giới Thạch đến dự. Sự bày binh bố trận cho hoành tráng là để thị uy cán bộ Việt minh. Lúc này, ông Vương Chí Thành từ Đồng Văn đi Hà Nội đang dừng chân nghỉ ở nhà riêng tại thị xã phía bên kia cầu. Từ lâu đã nghe tiếng ông Vương nhân dịp may này hắn mời ông cùng dự tiệc nhằm vào 2 mục đích: Phô trương lực lượng uy hiếp ông Lâm và lấy lòng, lôi kéo ông Vương, ngăn cản không cho ông Vương về Hà Nội và âm mưu giết cho được ông Vương. Hắn nói dối có lực lượng tới mấy trung đoàn, rồi nói với ông Vương: ”Hiện nay Việt minh đang bắn giết khắp nơi, bác đừng đi vội. Để khi nào tôi dẹp yên bọn đó thì tôi với bác cùng về Hà Nội”. Nhưng thực chất hắn đã nảy ra ý định và có kế hoạch cho người phục kích giết chết ông Vương rồi vu cho Việt minh.

Trong bữa tiệc, hắn giới thiệu ông Lâm với ông Vương, có ý phô trương là quân mình rất mạnh nên Việt minh phải lên đàm phán. Động thái này không che mắt được ông Vương. Nhân lúc tan tiệc quân quan còn say sưa, ông Vương giả ra bàn nước phía xa – nơi ông Lâm đang ngồi. Ông hỏi nhỏ và nhanh: ”Ông có đúng là người của Việt minh không?”. Ông Lâm nói đúng và hỏi nhanh: ”Bác đang ở đâu? Tôi có thể gặp bác vào lúc nào?”. Ông Vương bảo: ”Nhà tôi ở ngay bên kia cầu. Cái nhà to cửa thẳng vào đầu cầu. Ông đến lúc nào cũng được”.

Sớm tinh mơ hôm sau, ông Lâm thức dậy vươn vai khởi động vài cái trước khi tập thể dục, rồi chạy thẳng sang bên kia cầu cách đó không xa, bà Vương ra mở cửa. Ông chạy vào phòng ông Vương khi ông Vương vẫn còn nằm chưa dậy. Ông bàn nhanh kế hoạch: ”Tốt nhất là bác xin được giấy giới thiệu của Tướng quân Tưởng Chỉ huy Quân đoàn 52 đang đóng tại Hà Giang, nói là về Hà Nội để bàn bạc và giúp Tướng Lư Hán. Có giấy đó, Chính không dám ngăn, không dám đụng tới bác. Bằng không, việc về Hà Nội bác đừng đi ngựa, vì rất nguy hiểm. Bọn Chính đang cố ngăn không cho bác xuống Hà Nội, nếu bác cứ cố đi nó sẽ phục kích giết chết bác. Chúng tôi đã lường trước tình huống này. Biết được đoạn nào bọn nó tăng cường lực lượng và đang phục kích. Chúng tôi đã có phương án bảo vệ bác. Bác lấy xe của thằng Kỳ mà đi”. (Kỳ là con một nhà giàu ở Hà Nội lên buôn bán ở Hà Giang – thân gia đình Ông Vương – đang bị mắc kẹt vì chiến sự giữa Việt minh và Quốc dân đảng chưa về được Hà Nội).

Ông Vương bảo: ”Nhưng tài của nó sợ không dám đi”. Ông Lâm nói: ”Bác cho gọi thằng tài Hồ dân nghiện thuốc phiện ở thị xã đến. Nó đang đói thuốc vì chiến sự bọn buôn lậu thuốc phiện không đến bán được. Bác cho nó hút thật đã, rồi biếu nó kha khá là nó đi ngay. Bác đi xe nó lái chỉ cần vượt ra ngoại vi thị xã đến cây số 17 – đường Hà Giang – Hà Nội sẽ có người đưa bác về Hà Nội”. Cảm thấy chưa thật yên tâm, ông Lâm dặn: ”Cứ làm đúng như thế ông bác nhé”. Nói xong, ông tức tốc chạy qua cầu trở về thị xã. Theo cách đó, ông Vương Chí Thành đã thoát ra khỏi thị xã Hà Giang bằng xe của Kỳ do tài Hồ lái…

(Còn nữa)

Đinh Đức Cần
Theo dantri.com.vn
Kim Yến (st)

Suy ngẫm từ lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Trước hết nói về Đảng”

Lời của Bác - Lời của non sôngBốn mươi bốn năm trước đây, trước lúc đi xa, Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu đã để lại cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta một bản Di chúc lịch sử. Đó là những lời căn dặn cuối cùng và cũng là tình cảm thiêng liêng, niềm tin vô bờ bến của Người đối với tiền đồ và tương lai tươi sáng của dân tộc Việt Nam. Đặc biệt, Người đã để lại những lời di huấn quý báu đối với Đảng ta, mong muốn Đảng luôn được củng cố, ngày càng trưởng thành, trong sạch vững mạnh, xứng đáng là một Đảng vừa đạo đức, vừa văn minh.

Xây dựng Đảng luôn phải là công tác “trước hết”, hàng đầu

Trong phần mở đầu bản Di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Trước hết nói về Đảng, nhờ đoàn kết chặt chẽ, một lòng một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, cho nên từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta đã đoàn kết, tổ chức và lãnh đạo nhân dân ta hăng hái đấu tranh tiến từ thắng lợi này đến thắng lợi khác”(*). Thực tiễn suốt cả cuộc đời hoạt động cách mạng sôi nổi và phong phú của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn dành sự quan tâm đặc biệt cho Đảng và chăm lo hoàn thiện các công việc lãnh đạo của Đảng ta đối với xã hội trong bất kỳ điều kiện, hoàn cảnh nào.

Ngay từ năm 1927, trong tác phẩm “Đường Kách mệnh”, Người đã đặt ra câu hỏi: “Cách mệnh trước hết phải có cái gì?”, và Người đưa ra lời giải đáp đó là: “Trước hết phải có đảng cách mệnh… Đảng có vững cách mệnh mới thành công cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy” (1). Người khẳng định: Đảng phải lấy chủ nghĩa Lê-nin làm cốt, bởi vì đó là “chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất”. Được chủ nghĩa Mác – Lê-nin soi sáng, Người đã dày công xây dựng, giáo dục, rèn luyện Đảng ta với tâm nguyện cao cả là Đảng phải “trở thành hình thức tổ chức cao nhất của quần chúng lao động, hiện thân của trí tuệ, danh dự và lương tâm của dân tộc” (2). Tại Hội nghị cán bộ của Đảng ta ngày 18-1-1949, sau khi nêu lên một số vấn đề cần làm ngay trên các lĩnh vực quân sự, kinh tế, chấn chỉnh bộ máy chính quyền các cấp và chỉnh đốn các đoàn thể quần chúng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề cập một vấn đề có tính quyết định của công tác xây dựng Đảng: “Muốn làm được những việc trên, trước hết phải chỉnh đốn nội bộ Đảng. Phải nêu ra những việc chính, nắm lấy nó mà làm. Đảng ví như cái máy phát điện, các công việc trên ví như những ngọn đèn, máy mạnh thì đèn sáng” (3).

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng, coi đây là một nhiệm vụ hết sức cần kíp, là vấn đề “Trước hết” đối với việc xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh. Theo tư tưởng của Người, phải coi trọng trước hết đến công tác xây dựng Đảng, bởi đó là công tác tạo ra “máy phát điện” trong toàn bộ sự nghiệp cách mạng to lớn của Đảng ta. Vì vậy, vào thời điểm Chủ tịch Hồ Chí Minh viết bản Di chúc, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc Việt Nam đang ở trong giai đoạn rất gay go, quyết liệt; song Người vẫn luôn giữ vững niềm tin tuyệt đối vào thắng lợi cuối cùng của cách mạng do Đảng ta lãnh đạo. Trong Di chúc, Người căn dặn toàn Đảng ta những công việc phải làm khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước giành được thắng lợi hoàn toàn, giang sơn thu về một mối, Tổ quốc thống nhất, thì một trong những nhiệm vụ trọng yếu của Đảng phải tiến hành là đổi mới và chỉnh đốn Đảng. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Công việc trên đây là rất to lớn, nặng nề và phức tạp, mà cũng là rất vẻ vang. Đây là một cuộc chiến đấu chống lại những gì đã cũ kỹ, hư hỏng, để tạo ra những cái mới mẻ, tốt hơn”. Người còn nhấn mạnh: “Theo ý tôi, việc cần phải làm trước tiên là chỉnh đốn lại Đảng, làm cho mỗi đảng viên, mỗi đoàn viên, mỗi chi bộ đều ra sức làm tròn nhiệm vụ Đảng giao phó cho mình, toàn tâm, toàn ý phục vụ nhân dân. Làm được việc như vậy, thì dù công việc lớn mấy, khó khăn đến mấy chúng ta cũng nhất định thắng lợi”(4).

Trong bản Di chúc, Người đề cập vấn đề “Trước hết nói về Đảng” để nói đến vấn đề tăng cường sự đoàn kết thống nhất trong Đảng ta. Người căn dặn: “Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và của dân ta. Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”(*). Người nêu tới bốn lần cụm từ “Đoàn kết”. Trước khi viết đoạn kết bản Di chúc bất hủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã di huấn: “Điều mong muốn cuối cùng của tôi là: Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”(*).

Như vậy, ở đâu và trong bất kỳ điều kiện, hoàn cảnh nào của cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng luôn trăn trở, quan tâm đến nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam là Đảng Cộng sản Việt Nam. Người nêu vấn đề “Trước hết nói về Đảng” và đặt lên hàng đầu cho nhiệm vụ “chỉnh đốn lại Đảng”; điều đó không có nghĩa là Đảng ta đã phạm phải những sai lầm, khuyết điểm nghiêm trọng nào, mà ở chỗ tình hình mới, điều kiện mới của cách mạng đòi hỏi Đảng phải không ngừng nâng cao chất lượng, năng lực lãnh đạo, trình độ trí tuệ của Đảng lên tầm cao mới, để Đảng đủ sức đảm đương vai trò lãnh đạo cách mạng trong giai đoạn mới.

Thực hiện di huấn của Người trong giai đoạn cách mạng hiện nay

Nhìn lại hơn bốn mươi năm toàn Đảng, toàn dân và toàn quân thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta đã lãnh đạo đất nước vượt qua những chặng đường đầy sóng gió; phải đương đầu với sự đan xen khốc liệt giữa vận hội và thách thức, giữa thời cơ và nguy cơ để lập nên nhiều kỳ tích trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, ngoại giao, quốc phòng, an ninh,… được nhân dân trong và ngoài nước, cùng đông đảo bạn bè trên khắp thế giới yêu mến, tin cậy, cảm phục.

Tuy nhiên, trong những năm qua, do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, còn có những lời Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn trong bản Di chúc về vấn đề xây dựng Đảng, đến nay chưa được thực hiện thường xuyên và trọn vẹn, thậm chí còn gây bức xúc trong dư luận xã hội. Nổi lên đó là “Tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và tình trạng tham nhũng, lãng phí, quan liêu, những tiêu cực và tệ nạn xã hội chưa được ngăn chặn, đẩy lùi mà còn tiếp tục diễn biến phức tạp,…”; việc “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” chưa thực sự đi vào chiều sâu, ở một số nơi còn mang tính hình thức, hiệu quả chưa cao, làm theo chưa đạt yêu cầu”; “Tình trạng chạy chức, chạy quyền, chạy tội, chạy bằng cấp, huân chương chưa được khắc phục”; “Tình trạng thiếu trách nhiệm, cơ hội, suy thoái đạo đức, lối sống vẫn diễn ra khá phổ biến trong một bộ phận cán bộ, đảng viên. Kỷ luật, kỷ cương ở nhiều tổ chức đảng không nghiêm. Sự đoàn kết, nhất trí ở không ít cấp ủy chưa tốt”(5). Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI đã chỉ rõ: “Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống với những biểu hiện khác nhau về sự phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc…”(6). Những hiện tượng đó nếu không được ngăn chặn, đẩy lùi sẽ làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước, gây tổn hại nghiêm trọng đến công tác xây dựng Đảng, đe dọa sự ổn định, phát triển của đất nước.

Một trong những nguyên nhân cơ bản của tình trạng trên là có một số tổ chức cơ sở đảng vẫn xảy ra vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, buông lỏng kỷ luật vì những động cơ cá nhân, thực hiện tự phê bình và phê bình một cách hình thức, đại khái, “dĩ hòa vi quý”; chưa chú trọng chăm lo đầy đủ việc giáo dục, rèn luyện, kiểm tra và xử lý nghiêm minh, kịp thời đối với những đảng viên, cán bộ có biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống, như tham nhũng, hối lộ, quan liêu, độc đoán, chuyên quyền, xa rời quần chúng, sách nhiễu nhân dân, cục bộ địa phương, cơ hội, gây bè, kéo cánh, mang nặng chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa thực dụng, né tránh, bằng mặt không bằng lòng, phát ngôn tùy tiện, nói không đi đôi với làm, tranh công đổ lỗi…; một bộ phận đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, làm tổn hại đến thanh danh và uy tín của Đảng, của dân tộc.

Những tình trạng trên đã gây nên bức xúc trong dư luận xã hội, trước hết làm xói mòn lòng tin của quần chúng nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước. Hệ lụy dẫn đến là vai trò lãnh đạo của tổ chức Đảng bị giảm sút; các nghị quyết, quyết định của cấp ủy đưa ra thường không được thực hiện nghiêm túc và triệt để; không phát huy được sức mạnh của quần chúng nhân dân cả về vật chất, tinh thần và trí tuệ để phục vụ cho nhiệm vụ chung của tập thể, của đất nước. Những biểu hiện tiêu cực đó tạo ra kẽ hở cho các phần tử cơ hội, cho các thế lực thù địch lợi dụng để thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nội bộ ta, hòng thực hiện âm mưu chiến lược “diễn biến hòa bình”, gây bạo loạn lật đổ chống phá cách mạng nước ta.

Vì vậy, mỗi dịp đọc lại bản Di chúc bất hủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh, từng đảng viên, cán bộ hơn lúc nào hết cần phải ra sức học tập, suy ngẫm và hành động theo những lời căn dặn của Người: “Việc gì có lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh”(7). Phải tập trung xây dựng Đảng nhằm làm cho Đảng thật trong sạch, vững mạnh, đoàn kết, thống nhất, có đạo đức, có trí tuệ, có năng lực. Có thể xem đó là những mục tiêu trực tiếp và trước hết của công tác xây dựng Đảng ở thời kỳ mới. Nhưng xây dựng Đảng còn nhằm mục tiêu xa hơn, có tính chất quyết định hơn, tức là làm cho Đảng “phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”(*), một lòng một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết trong Di chúc.

Đọc lại bản Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chúng ta càng thấm nhuần sâu sắc tư tưởng và lời chỉ huấn quý báu của Người: “Sử ta dạy cho ta bài học này: Lúc nào dân ta đoàn kết muôn người như một thì nước ta độc lập, tự do. Trái lại lúc nào dân ta không đoàn kết thì bị nước ngoài xâm lấn” (8). Cho nên, mỗi đảng viên, cán bộ phải luôn luôn suy ngẫm và nỗ lực hành động để góp phần “giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”(*). Phải thực hiện tốt những lời căn dặn và có thể coi là những biện pháp lớn để xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh mà Người đã nêu trong Di chúc: “Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất của Đảng. Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau”(*). Đọc lại bản Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh sau bốn mươi bốn năm, chúng ta càng hiểu rõ hơn ý nghĩa sâu sắc và tầm vóc lớn lao của việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; đồng thời, càng bồi đắp thêm nghị lực và quyết tâm để thực hiện thắng lợi Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về xây dựng Đảng.

Suy ngẫm về những lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, mỗi tổ chức đảng và từng đảng viên cần ra sức hành động để góp phần xây dựng Đảng ta thật sự trong sạch vững mạnh; trước hết cần nỗ lực thực hiện tốt các giải pháp cơ bản, đồng bộ như Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI đã xác định, trong đó tập trung vào một số nội dung sau:

Thứ nhất, đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục, quán triệt sâu sắc đến mọi cán bộ, đảng viên về ý nghĩa, tầm chiến lược của Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI.

Hơn một năm qua, trong toàn Đảng ta đã tổ chức quán triệt, học tập Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khóa XI một cách kịp thời, nghiêm túc từ Trung ương đến cơ sở. Đây không chỉ là một đợt sinh hoạt chính trị rộng lớn của Đảng mà còn có ý nghĩa, tầm quan trọng đặc biệt như một đợt “chỉnh huấn”, “chỉnh Đảng” mà Đảng ta đã tiến hành vào các năm 1952, 1961 và 1965. Sau mỗi lần “chỉnh huấn”, “chỉnh Đảng” như vậy, Đảng ta đã khắc phục được những yếu kém, khuyết điểm nổi cộm, uy tín và vị thế của Đảng được nâng cao, đủ sức lãnh đạo sự nghiệp cách mạng giành được thắng lợi này đến thắng lợi khác. Tuy nhiên, đến nay vẫn còn có những cán bộ, đảng viên, kể cả cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp cao chưa nhận thức được đầy đủ ý nghĩa, tầm quan trọng của Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI. Việc tiến hành kiểm điểm tự phê bình và phê bình có những tổ chức đảng còn xuê xoa, nể nang, không vạch rõ những dấu hiệu của sự suy thoái… Vì vậy, để Nghị quyết thực sự đi vào cuộc sống như mong muốn của toàn Đảng, toàn dân, chúng ta phải đẩy mạnh hơn nữa công tác tuyên truyền, quán triệt cho cán bộ, đảng viên về ý nghĩa, tầm chiến lược của Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI; nêu rõ những thuận lợi, khó khăn, tính chất gay go, quyết liệt, phức tạp trong cuộc đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên, trong đó có một bộ phận không nhỏ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp cao, để mọi người, mọi tổ chức cùng đồng thuận, đồng tâm kiên quyết đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi những mối hiểm họa cho Đảng, cho đất nước, cho chế độ xã hội chủ nghĩa.

Thứ hai, tăng cường mối liên hệ mật thiết với nhân dân, dựa vào nhân dân  trong đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên.

Trong hoạt động lãnh đạo và công tác xây dựng Đảng, một trong những nguyên lý quan trọng là Đảng phải thường xuyên củng cố, tăng cường mối liên hệ mật thiết với nhân dân. Đảng phải luôn dựa vào nhân dân, bởi vì sức mạnh của Đảng nằm trong mối liên hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân. Cho nên, việc đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên nếu không dựa chắc vào nhân dân, không được nhân dân đồng tình, ủng hộ sẽ không đem lại kết quả như mong muốn.

Thực tiễn cho thấy, cộng đồng dân cư hiểu khá rõ về đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là những cán bộ chủ trì, chủ chốt các cấp và gia đình họ sinh sống ở địa phương. Vì vậy, cấp ủy, tổ chức đảng ở mỗi cấp phải thường xuyên giữ mối liên hệ mật thiết với nhân dân địa phương nơi có cán bộ, đảng viên của cơ quan, đơn vị mình cư trú; đồng thời làm tốt công tác tuyên truyền, định hướng cho nhân dân hiểu rõ những quan điểm, chủ trương, phương châm, nguyên tắc của Đảng trong cuộc đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên; qua đó tạo sự thống nhất, đồng thuận, phát huy sức mạnh nhân dân vào thực hiện quyết tâm chính trị của Đảng trong thực hiện thắng lợi Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI.

Thứ ba, tiếp tục hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính sách, luật pháp nhằm  ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên.

Hệ thống cơ chế, chính sách của Đảng và luật pháp của Nhà nước là hành lang pháp lý để mỗi cấp ủy, chính quyền, mỗi cán bộ, đảng viên phải nghiêm chỉnh chấp hành. Những hạn chế, bất cập trong cơ chế, chính sách, luật pháp hiện thời sẽ tạo ra các kẽ hở, “khoảng trống pháp lý”, dễ bị một bộ phận cán bộ, đảng viên thoái hóa biến chất lợi dụng để trục lợi cá nhân, tạo “lợi ích nhóm”…
Hiện nay, hệ thống luật pháp, cơ chế, chính sách của Nhà nước và của các bộ, ngành, địa phương có nhiều nội dung không còn phù hợp, trong khi tình hình thực tiễn đã có nhiều thay đổi so với trước, đã đặt ra không ít vấn đề mới phải giải quyết. Việc chậm đổi mới, bổ sung, hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính sách, luật pháp là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng tham nhũng, lãng phí và các tiêu cực, tệ nạn xã hội khác. Vì vậy, để ngăn chặn hữu hiệu những căn bệnh của chủ nghĩa cá nhân, đòi hỏi Đảng và Nhà nước ta cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo việc rà soát, nghiên cứu, bổ sung, hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính sách, luật pháp, tạo cơ sở pháp lý cho cấp ủy, chính quyền các cấp lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, điều hành các cơ quan, đơn vị mình chấp hành nghiêm đường lối, cương lĩnh, nghị quyết của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước; tạo ra môi trường lành mạnh để mỗi cán bộ, đảng viên tu dưỡng, rèn luyện, phấn đấu và trưởng thành; xây dựng Đảng ta, Nhà nước ta ngày càng trong sạch, vững mạnh.

Thứ tư, kiên quyết xử lý nghiêm minh các trường hợp suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên.

Một trong những vấn đề “trọng tâm, xuyên suốt và cấp bách” hiện nay đối với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng là phải tập trung giải quyết dứt điểm, nghiêm túc những vụ việc tiêu cực, tham nhũng nổi cộm; kiên quyết đấu tranh, xử lý các tổ chức đảng vi phạm kỷ luật, những cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất, không để “con sâu làm rầu nồi canh”. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI chỉ rõ: “Kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp để nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, củng cố niềm tin của đảng viên và nhân dân đối với Đảng”(9). Đó là thể hiện bản lĩnh chính trị của một Đảng cách mạng chân chính, có tinh thần trách nhiệm cao trước nhân dân và dân tộc.

Việc kiên quyết xử lý dứt điểm, nghiêm minh những cán bộ, đảng viên vi phạm kỷ luật theo Điều lệ Đảng và kiến nghị chính quyền xử lý nghiêm theo những quy định của pháp luật, cho dù họ giữ cương vị lãnh đạo, quản lý ở cấp nào, chẳng những làm trong sạch đội ngũ của Đảng mà còn tạo hiệu ứng tích cực đến đời sống chính trị, tinh thần trong toàn xã hội; đồng thời bảo vệ Đảng trước sự tấn công phá hoại của các thế lực thù địch. Vì vậy, mỗi cấp ủy, tổ chức đảng khi phát hiện có dấu hiệu suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống phải khẩn trương kết luận rõ ràng, kiên quyết xử lý nghiêm minh, triệt để các trường hợp sai phạm tùy theo mức độ; khắc phục tình trạng bao che khuyết điểm, nể nang, né tránh, cục bộ, phe nhóm, đùn đẩy trách nhiệm, xử lý “nội bộ”… Đặc biệt, các cơ quan chức năng của Đảng, Nhà nước cần nhanh chóng đưa những vụ việc tiêu cực, thất thoát, tham nhũng lớn ra xét xử công khai, dứt điểm, bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật, lấy lại lòng tin của quần chúng nhân dân, trả lại sự trong sạch của các tổ chức đảng, chính quyền và của đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Trong sự nghiệp đổi mới đất nước hiện nay, bên cạnh những thuận lợi, thời cơ và vận hội mới, thì đất nước chúng ta cũng đang phải đứng trước những nguy cơ và thách thức mới. Để tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước vì mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội, trước hết toàn Đảng ta cần phải tiếp tục đẩy mạnh học tập và thực hiện đầy đủ những lời căn dặn đầy tâm huyết của Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu trong bản Di chúc: “Trước hết nói về Đảng”; và biểu hiện “Trước hết” đó phải bằng nhận thức, bằng hành động cách mạng cụ thể của mỗi tổ chức đảng, mỗi đảng viên trong nỗ lực xây dựng và chỉnh đốn Đảng./.

—————————-

1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 2, tr. 189
2. Hồ Chí Minh: Toàn tập, sđd, t. 7, tr. 207
3. Hồ Chí Minh: Toàn tập, sđd, t. 5, tr. 551-552
4. Di cảo Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngày 10-5-1969, Lưu trữ tại Viện Bảo tàng Hồ Chí Minh
5. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 173-175
6. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khóa XI, Nxb. Chính trị quốc gia – Sự thật,  Hà Nội, 2012, tr. 22
7. Hồ Chí Minh: Toàn tập, sđd, t. 4, tr. 56-57
8. Hồ Chí Minh: Toàn tập, sđd, t. 3, tr. 217
9. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khóa XI, sđd, tr. 26

(*) Các đoạn trích dẫn trong Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, công bố ngày 10-5-1969

Đại tá, ThS. Nguyễn Đức Thắng
Viện Khoa học Xã hội Nhân văn quân sự – Bộ Quốc phòng

Tâm Trang (st)

Một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền

Sinh thời, Bác Hồ có nói: “Một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”. Người luôn luôn yêu cầu cán bộ, đảng viên phải gương mẫu trong mọi việc. Không có lĩnh vực nào mà tác dụng nêu gương lại quan trọng bằng lĩnh vực đạo đức. Trong gia đình, đó là tấm gương của cha, mẹ đối với con cái, của anh, chị đối với các em; trong xóm làng, khu phố, đó là tấm gương của các bậc cao niên, các cựu chiến binh, các thế hệ đi trước đối với thế hệ trẻ; trong cơ quan Đảng và Nhà nước, đó là tấm gương của các đồng chí phụ trách, các đồng chí lãnh đạo đối với nhân viên; trong đơn vị quân đội, đó là tấm gương của các cấp chỉ huy, các chính ủy, chính trị viên đối với binh sĩ, của cấp trên đối với cấp dưới; trong toàn xã hội, đó là tấm gương của những “người tốt việc tốt”, đối với mọi đối tượng, mọi tầng lớp nhân dân. Trong cuốn sách “Tư tưởng Bác Hồ soi sáng sự nghiệp đổi mới của chúng ta”,  Đại tướng Võ Nguyên Giáp viết: “Bác Hồ thường nhắc đến một phương pháp giáo dục quan trọng là sức mạnh của sự nêu gương. Bác luôn luôn nêu gương trước cho mọi người noi theo”.

Bua com gian di cua con Nguoi vi daiBữa cơm giản dị của con người vĩ đại, bữa cơm của Bác ở Chiến khu Việt Bắc

Là người sáng lập và rèn luyện Đảng ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm sâu sắc công tác xây dựng Đảng. Người thường xuyên chỉ đạo, nhắc nhở việc xây dựng đội ngũ cán bộ của Đảng: Muôn việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém; người cán bộ cách mạng phải có đạo đức cách mạng, phải kết hợp chặt chẽ phẩm chất và năng lực, hồng và chuyên, đức và tài, trong đó đức là gốc.

Một trong những mối quan tâm hàng đầu của Đảng là việc xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có đức, có tài; có đạo đức trước, có tài năng sau. Đạo đức của người cán bộ, đảng viên thể hiện ở phẩm chất, tư cách: Suốt đời phấn đấu, hy sinh cho mục tiêu, lý tưởng của Đảng; tuyệt đối trung thành với sự nghiệp cách mạng của Đảng; đặt quyền lợi của Đảng, của Tổ quốc, của nhân dân lên trên hết, trước hết; thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng; có đời tư trong sáng; là tấm gương sáng trong cuộc sống để nhân dân tin và noi theo.

Cán bộ, đảng viên có chức vụ càng cao, càng phải sống thanh bạch, giản dị và nêu gương tốt trước hết. Bác Hồ là một trong những nhà tư tưởng, lãnh tụ cách mạng quan tâm nhiều đến vấn đề đạo đức và có nhiều cống hiến về tư tưởng đạo đức cách mạng. Bản thân Người là một tấm gương mẫu mực về đạo đức cách mạng. Học tập gương đạo đức Hồ Chí Minh là học cho được cái gốc, tức là học cho được cái tâm và tấm lòng của mình  trước nỗi khổ của con người, của đồng loại, của nhân dân, nhất là những người khổ, người nghèo, người bất hạnh; biết đồng cảm, sẻ chia những nỗi đau của từng cảnh đời trong cuộc sống.

Bác Hồ thường nói: Người cách mạng là người rất giàu tình cảm, và vì giàu tình cảm nên mới đi làm cách mạng. Người có lòng thương yêu mênh mông xúc động đến tâm can của mọi người. Học gương đạo đức Bác Hồ là phải học từ cái tâm, từ những xúc động đến rưng nước mắt của Bác trước nỗi khổ của con người, là vận dụng bài học đó để suy nghĩ và thực hiện trong đời sống hàng ngày.

Thực hiện học tập, làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh cần phải tiếp tục đề cao phương pháp nêu gương, nhất là đội ngũ cán bộ, đảng viên ở các cấp, các ngành, các đảng bộ, chi bộ. Cụ thể là nói đi đôi với làm, nói được thì phải làm được; cán bộ cấp trên gương mẫu, có tinh thần trách nhiệm cao trước cán bộ cấp dưới; kiên quyết khắc phục mọi biểu hiện quan liêu, mệnh lệnh, xa rời thực tế, xa rời cơ sở, xa rời quần chúng; kiên quyết phê phán những cán bộ, đảng viên không dám nói, không dám hành động, hoặc “nói nhiều làm ít”, “nói mà không làm”, “nói một đường làm một nẻo”, thậm chí chỉ thụ động, ngồi chờ, ỷ lại, sợ trách nhiệm. Những biểu hiện đó hoàn toàn trái với tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, làm cho phương pháp “nêu gương” mất ý nghĩa, tác dụng trong giáo dục đạo đức, lối sống ngay trong nội bộ tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể xã hội…

Phương pháp “nêu gương” đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên ở bất kỳ vị trí công tác nào cũng phải nêu cao tính chiến đấu tự phê bình và phê bình. Bởi vì, quần chúng nhân dân luôn chú ý tới lời nói và việc làm của cán bộ, đảng viên để xem có nên noi theo hay không noi theo. Và cũng qua đó, họ biết rất rõ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ, đảng viên ở cơ sở, có những ưu điểm, nhược điểm gì, và đã sửa chữa nhược điểm, phát huy ưu điểm đến đâu. Cán bộ, đảng viên càng giữ vị trí cao, vị trí quan trọng, nhất là người đứng đầu, càng phải hết sức nêu gương tự phê bình và phê bình về phẩm chất đạo đức, lối sống ở mọi lúc, mọi nơi./.

Theo ubmttq.hochiminhcity.gov.vn
Tâm Trang (st)