Tag Archive | Văn hóa – Xã hội

Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử – Tập 2 (Năm 1944)

Đầu năm

– Bài Chào xuân, đăng trên báo Đồng minh, số Xuân Giáp Thân nhìn lại tình hình thế giới trong năm qua để đoán định triển vọng năm mới: Từ xuân năm ngoái, quân các nước Đồng minh đã đứng vào chủ động. Quân các nước Trục – Tâm đứng về bị động. Tình hình trên diễn ra ở khắp mặt trận, đặc biệt ở Mặt trận Đức – Nga. Quân Nga thắng khắp nơi, đặc biệt trong trận giải vây thành Xtalingrát “đuổi quân Đức chẳng những ra khỏi đất Nga, mà lại vào sâu gần 60 cây số trong nước Ba Lan”. Ở mặt trận Địa Trung Hải, châu Phi, Thái Bình Dương, quân Đồng minh cũng thắng trận.

“Đoán trước để xét sau, xem sự chuyển biến nói trên, thì chúng ta có thể nói rằng: Xuân này sẽ là một Xuân thắng lợi cho mặt trận phản xâm lược”. Muốn thế “chúng ta phải gắng sức công tác”.

Kết luận: “Rót cốc rượu Xuân, mừng cách mạng.

  Viết bài chào Tết, chúc thành công!”.

– Cũng trong báo Đồng minh, số Xuân Giáp Thân, có bài Trả lời cho bọn De Gaulle, Nguyễn Ái Quốc trả lời ý định của “Pháp quốc giải phóng uỷ hội ở Alger, tuyên bố rằng sau cuộc chiến tranh này, nước Pháp sẽ sẵn lòng ban cho dân Việt Nam vài sự cải thiện”. Người chỉ rõ, Pháp đang bị Đức thống trị “xin Ngài lo cứu nước và dân tộc của Ngài đã”, còn nhân dân Việt Nam “quyết dùng súng, đạn, gươm, dao để đạp đổ ơn huệ ấy và giành lại độc lập tự do cho Việt Nam”.

– Báo Đồng minh, số Xuân Giáp Thân.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 3, tr. 445-449, 450.

Đầu năm (trước Tết âm lịch)

Hồ Chí Minh dự bữa tiệc rượu do Đàm Liên Phương, Quân đoàn trưởng Quân đoàn 84 Quốc dân Đảng đóng ở Liễu Châu, tổ chức tại Hương Viên, nhà riêng của ông ta. Cùng dự có Dương Đông Thuần (Trưởng ban Giáo dục Trường Cán bộ kiến thiết địa phương Quảng Tây), Sái Đình Khải (Tổng tư lệnh du kích vượt biên), Việt Quế, Nguyễn Hải Thần, Diệp Thuỵ Đình1), v.v..

Trong bữa tiệc, nhân Đàm Liên Phương nói nhiều đến quan niệm của ông ta về quốc thể và quốc sách của Việt Nam sau khi độc lập, Hồ Chí Minh nói đại ý:

“Bất kỳ ý kiến nào về các vấn đề quốc sách, quốc thể của Việt Nam sau độc lập, đều phải do sự lựa chọn của nhân dân Việt Nam sau khi được độc lập quyết định, đều phải giải quyết thông qua việc bỏ phiếu rộng rãi của công dân”…

Ở châu Âu, Đồng minh trì hoãn chưa mở mặt trận thứ hai, nhưng Hồng quân Liên Xô dưới sự lãnh đạo của nguyên soái Xtalin, một mình đương đầu một phía, đã từ thế yếu chuyển sang thế mạnh. Tín hiệu tổng tiến công hướng tới Béclin chẳng bao lâu nữa sẽ phát. Ở châu Á, sau trận tập kích Trân Châu Cảng của Nhật ngày 2-12-1941, Mỹ mới thấy rõ bộ mặt của Nhật. Từ đó, Mỹ không thể không liên minh với Trung Quốc để đánh bại Nhật. Có thể dự đoán rằng, vấn đề Liên Xô đánh bại Đức chỉ khoảng nửa năm nữa có thể giải quyết được. Với sự hiệp đồng của các nước Đồng minh, trên dưới một năm nữa, Trung Quốc có thể đánh bại Nhật Bản. Chiến tranh thế giới như vậy có thể kết thúc. Việt Nam chắc chắn trong một thời gian không xa lắm sẽ hoàn toàn đánh bại thực dân Pháp mà giành được độc lập hoàn toàn. Đó là điều không một lực lượng nào có thể ngăn trở được. Hai nước Trung – Việt có quan hệ hết sức mật thiết. Trung Quốc là một lực lượng hoà bình to lớn, là bảo đảm chắc chắn cho Việt Nam chúng tôi hoà bình kiến quốc. Từ nay về sau chúng tôi sẽ được sự giúp đỡ huynh đệ của Trung Quốc sau chiến tranh, đó là điều chắc chắn…

– Diệp Thuỵ Đình: Đôi điều về hoạt động của Việt Nam cách mạng đồng minh hội ở Liễu Châu cuối thời kỳ kháng chiến. Dẫn theo Hoàng Tranh: Hồ Chí Minh với Trung Quốc, Nxb. Giải phóng quân, Bắc Kinh, 1984, tr. 101.

Mùa xuân

Hồ Chí Minh đến dự lễ bế mạc lớp huấn luyện đặc biệt ở Đại Kiều và nói chuyện với lớp. Người nói:

Chính sách Nam tiến của Nhật đã thất bại, cuộc kháng chiến của Trung Quốc nhất định giành được thắng lợi, tình hình cách mạng Việt Nam rất tốt đẹp. Một nước Việt Nam mới độc lập và dân chủ sẽ xuất hiện ở phương Đông. Dù thực dân Pháp xảo quyệt, đế quốc Nhật hung tàn đến mấy cũng không ngăn nổi bước chân của chúng ta. Người động viên thanh niên nhận rõ yêu cầu của thời đại, sẵn sàng bước vào cuộc chiến đấu mới.

– Diệp Thuỵ Đình: Đôi điều về hoạt động của Việt Nam cách mạng đồng minh hội ở Liễu Châu cuối thời kỳ kháng chiến. Dẫn theo Hoàng Tranh: Hồ Chí Minh với Trung Quốc, Nxb. Giải phóng quân, Bắc Kinh, 1984, tr. 102.

Tháng 2, khoảng cuối tháng

Hồ Chí Minh tham dự Hội nghị trù bị Đại hội đại biểu toàn quốc của Việt Nam cách mạng đồng minh hội.
Tại Hội nghị, Người đề nghị mở rộng thành phần Đại hội, trong đó có đại biểu của Việt Minh và các tổ chức thuộc Việt Minh ở trong nước tham dự. Từ đó, Người đề nghị đổi tên Đại hội đại biểu toàn quốc của Việt Nam cách mạng đồng minh hội thành Đại hội đại biểu các tổ chức cách mạng Việt Nam ở hải ngoại. Đề nghị của Hồ Chí Minh được Trương Phát Khuê tán thành và uỷ thác cho Người khởi thảo kế hoạch triệu tập Đại hội quan trọng nàya).

– Lê Tùng Sơn: Bác Hồ ở Trung Quốc. Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số tháng 3-1977.

– Hoàng Tranh: Hồ Chí Minh với Trung Quốc, Nxb. Giải phóng quân, Bắc Kinh, 1984, tr. 102-103.

Tháng 3, từ ngày 25 đến ngày 28

Hồ Chí Minh tham dự Đại hội các đoàn thể cách mạng Việt Nam ở nước ngoài họp tại Lễ đường Bộ Tư lệnh Chiến khu IV ở Liễu Châu (Quảng Tây, Trung Quốc). Tại Đại hội, Người đọc Báo cáo của Phân hội Việt Nam thuộc Hội Quốc tế chống xâm lược. Báo cáo gồm các phần:

I- Nguyên nhân tổ chức: Mở đầu báo cáo, Người viết: “Trong lịch sử 80 năm mất nước đau khổ và đen tối, chúng ta đã không ngừng làm rạng rỡ ngọn cờ nghĩa cứu nước vẻ vang”. Điều này được thể hiện qua các cuộc khởi nghĩa từ sau năm 1862 đến năm 1941. Để giành thắng lợi “chúng ta lại càng cần toàn dân nhất trí, càng cần sự giúp đỡ của bên ngoài”. Do đó, “Phân hội Việt Nam chính là một đoàn thể ra đời nhằm đáp ứng yêu cầu đó của thời đại”.

II- Hệ thống tổ chức: Gồm có hai loại hội viên: “hội viên cá nhân” và “hội viên đoàn thể”. Việc tập hợp các cá nhân, tổ chức, đảng phái “xem chừng như rất phức tạp, rất mâu thuẫn, khó tránh khỏi va chạm và xung đột, nhưng trên thực tế thì rất đơn giản” vì đã xác định mục tiêu đấu tranh chung và tuân thủ một số quy định chung.

III- Cách lãnh đạo: Mọi người đều cùng nhau bàn bạc và “phân công nhau mà làm”, “tuân thủ những nguyên tắc” và “tuỳ cơ ứng biến”.

IV- Cách tuyên truyền: Bằng nhiều cách: tuyên truyền bằng miệng, tuyên truyền bằng văn tự và tuyên truyền bằng hành động. “Cương lĩnh tuyên truyền phải hết sức giản đơn, ai ai cũng hiểu được, nhớ được. Đoàn kết, đánh địch, cứu nước, chỉ sáu chữ ấy thôi là đủ rồi”.

V- Cách huấn luyện: Theo “một chương trình học tập” đã định, biên soạn bài giảng, “phải hoàn toàn căn cứ vào yêu cầu của học viên”.

VI- Tài chính của hội: Do hội viên đóng góp theo nguyên tắc “có tiền góp tiền”, “có sức góp sức”.

VII- Công tác của hội: Trong thời gian qua có thành công và thất bại: thành công là do đoàn kết và hoạt động tích cực của cán bộ, hội viên; thất bại về hoạt động khó khăn, thiếu kinh nghiệm, giao thông liên lạc không thuận lợi, thiếu sự tuyên truyền đối ngoại.

VIII- Mấy vấn đề khó khăn: Ỷ lại vào đoàn thể, chưa giải quyết các thắc mắc của hội viên về “bao giờ thì đánh” (địch), bao giờ có sự giúp đỡ ở ngoài (Trung Quốc).

IX- Hy vọng của chúng tôi: Chấn chỉnh tổ chức, đoàn kết thực sự các lực lượng cách mạng, tranh thủ sự giúp đỡ ở ngoài giúp cho “sự nghiệp cách mạng của dân tộc Việt Nam nhất định sẽ sớm thành công”.

Cũng tại Đại hội này, Hồ Chí Minh còn trình bày Báo cáo về tình hình các đảng phái trong nước. Người nói: Ở Việt Nam có nhiều đảng phái và đoàn thể chính trị không đảng phái. Các tổ chức này đều liên hiệp với nhau trong một mặt trận cứu quốc, tức Phân hội Việt Nam của Hội Quốc tế chống xâm lược. Trong những chính đảng đó, “nổi bật nhất là Đảng Cộng sản Việt Nam”. Nhiệm vụ của các đảng là phải “mở rộng khối đoàn kết đến toàn dân để đạt tới mục đích: Bên trong có lực lượng của mình, bên ngoài tranh thủ được sự giúp đỡ của các nước Đồng minh, trước hết là của Trung Quốc, đặng hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc”.

Người đặt vấn đề “Người Việt Nam có sợ cộng sản không?” và tự trả lời “Không” vì ở Việt Nam “không có một nhà băng nào là của người Việt Nam, không có một người Việt Nam nào là nhà tư bản lớn”; người có học thức cũng không sợ cộng sản vì “tư tưởng cộng sản truyền bá khắp thế giới. Đó là trào lưu tư tưởng của thời đại, sợ nó thì thật không đúng”.

Bây giờ, “cần nêu khẩu hiệu “Đoàn kết các đảng phái”, vì điều này đã trở thành hiện thực, mà cần phải mở rộng khối đoàn kết đến toàn dân để đạt tới mục đích… hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc”.

Đại hội đã thông qua hai nghị quyết và bầu lại Ban Chấp hành và Ban Kiểm tra mới. Hồ Chí Minh và Lê Tùng Sơn được bầu làm Ủy viên Ban Chấp hành.

– Tài liệu chữ Hán, lưu tại Bảo tàng Cách mạng Việt Nam.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 3, tr. 451-461, 462-465.

– Hoàng Tranh: Hồ Chí Minh với Trung Quốc, Nxb. Sao Mới, bản tiếng Việt, tháng 8-1990, tr. 185.

Tháng 3, ngay sau Đại hội

Hồ Chí Minh đến dự tiệc chiêu đãi của Trương Phát Khuê nhân kết thúc Đại hội đại biểu các đoàn thể cách mạng hải ngoại của Việt Nam cách mạng đồng minh hội. Sau đó, Người giao cho Lê Tùng Sơn trích 5.000 đồng trong số 10.000 đồng (tiền Trung Quốc lúc đó) của hai người (Hồ Chí Minh và Lê Tùng Sơn) do Trương Phát Khuê tặng (mỗi đại biểu 5.000 đồng) đem gửi biếu các sĩ quan và binh lính Trung Quốc đang chiến đấu ngoài mặt trận.

– Lê Tùng Sơn: Bác Hồ ở Trung Quốc. Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số tháng 3-1977.

– Hoàng Tranh: Hồ Chí Minh với Trung Quốc, Nxb. Sao Mới, bản tiếng Việt, tháng 8-1990, tr.185-186.

– Hoàng Tranh: Hồ Chí Minh với Trung Quốc, Nxb. Giải phóng quân, Bắc Kinh, 1984, tr. 103.

Tháng 5

Quyển Chiến thuật du kích (Cách đánh du kích) do Nguyễn Ái Quốc biên soạn được Việt Minh xuất bản.

Sách gồm 13 chương: Du kích là gì; Tổ chức đội du kích; Nguyên tắc của cách đánh du kích; Cách tiến công, tập kích; Phục kích; Cách phòng ngự; Cách đánh đuổi giặc; Cách rút lui; Phá hoại; Thông tin và liên lạc; Hành quân; Đóng quân; Căn cứ địa.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 3, tr. 467-504.

Khoảng tháng 7

Hồ Chí Minh tới Nam Ninh nói chuyện thời sự cho một số học viên do Việt Minh gửi sang học Trường Quân chính Liễu Châu2). Người phân tích tình hình chiến tranh thế giới, những thuận lợi của phong trào giải phóng dân tộc đang tới và kêu gọi họ cố gắng học tập thành tài để về nước phục vụ cách mạng.

– Hoàng Mỹ Đức: Hai lần gặp Bác, in trong cuốn Bác Hồ về nước, Hội Văn học nghệ thuật Cao Bằng, Cao Bằng, 1986, tr. 273-277.

Tháng 8, ngày 9

Hồ Chí Minh được Tướng Trương Phát Khuê trả lại tự do và cho phép trở về Việt Nam3) cùng với 18 thanh niên do Người chọn4).

Trước khi rời Liễu Châu, Người nói với Tướng Trương: “Tôi là một người cộng sản, nhưng điều mà tôi quan tâm hiện nay là độc lập và tự do của nước Việt Nam, chứ không phải là chủ nghĩa cộng sản. Tôi có một lời bảo đảm đặc biệt đối với ông rằng: chủ nghĩa cộng sản sẽ chưa được thực hiện ở Việt Nam trong vòng 50 năm tới”5).

Người cám ơn sự giúp đỡ của Tướng Tiêu Văn và nói: “Những gì mà tôi đã nói với ông (về Việt Nam và phong trào cách mạng Việt Nam) là sự thật 99%. Chỉ có 1% tôi chưa nói với ông mà thôi”6).

– Dẫn theo King C. Chen: Vietnam and China 1938-1954, Princeton University, Press Princeton, New York, 1969, p. 77, 82.

Tháng 8

Hồ Chí Minh về đến Long Châu, trú chân tại “Việt Nam dân tộc giải phóng đồng minh hội đệ nhất biện sự xứ” (Văn phòng 1, Hội đồng minh giải phóng dân tộc Việt Nam) đặt tại Đức Hưng Xa y điếm, số 82, đường Đông Quan ngoại thị trấn Long Châu. Người ở lại đây mấy hôm.

– Tài liệu chữ Hán, lưu tại Bảo tàng Cách mạng Việt Nam.

– Thư Hồ Đức Thành gửi Nông Kỳ Chấn, nguyên Phó chủ tịch huyện Long Châu, Quảng Tây. Dẫn theo Hoàng Tranh: Hồ Chí Minh với Trung Quốc, Nxb. Giải phóng quân, Bắc Kinh, 1984, tr. 104-105.

Tháng 8

Tại Long Châu, Hồ Chí Minh gặp lại Tăng Thiên Tiết7) và được Tăng Thiên Tiết giúp đỡ ký giấy cho về Việt Nam.

– Tăng Thiên Tiết: Những mẩu hồi ức về Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Trung Quốc lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Dẫn theo Hoàng Tranh: Hồ Chí Minh với Trung Quốc, Nxb. Giải phóng quân, Bắc Kinh, 1984, tr. 105.

Tháng 9, đầu tháng

Hồ Chí Minh đến khu Hạ Đống8) (huyện Long Châu), tiếp giáp với Việt Nam, trú chân trong trường tiểu học của khu. Lúc này, Người và những người cùng đi đều đang mặc quân phục Quốc dân Đảng. Người đến xóm Nà Tạo tìm Nông Kỳ Chấn9), nhờ lo giúp quần áo để thay. Rời Hạ Đống, Người gửi lại một tấm chăn quân dụng và một số sách vở giấy tờ, nhờ Nông Kỳ Chấn giữ hộ.

– Nông Kỳ Chấn: Tình hình hoạt động của các đồng chí Việt Nam ở Long Châu. Dẫn theo Hoàng Tranh: Hồ Chí Minh với Trung Quốc, Nxb. Giải phóng quân, Bắc Kinh, 1984, tr. 105.

Tháng 9, đầu tháng

Rời khu Hạ Đống, Hồ Chí Minh và những người cùng đi đến Thuỷ Khẩu Quan, giáp biên giới. Bị lính canh ải của Quốc dân Đảng Trung Quốc khám xét và làm khó dễ, Người gọi điện cho Phòng đốc sát quân cảnh Long Châu, nhờ Tăng Thiên Tiết can thiệp và đã được phép đi qua.

– Tăng Thiên Tiết: Những mẩu hồi ức về Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Trung Quốc lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Dẫn theo Hoàng Tranh: Hồ Chí Minh với Trung Quốc, Nxb. Giải phóng quân, Bắc Kinh, 1984, tr. 106.

Tháng 9, cuối tháng

Hồ Chí Minh trở về Pác Bó (Cao Bằng). Sau khi nghe báo cáo về việc Liên uỷ Cao – Bắc – Lạng quyết định khởi nghĩa giành chính quyền ở địa phương, Người chỉ thị hoãn cuộc khởi nghĩa để tránh những khó khăn tổn thất khi việc chuẩn bị ở các nơi chưa đầy đủ10).

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 3, tr. 474.

– Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Những chặng đường lịch sử, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 122-124.

Tháng 10

Hồ Chí Minh viết Thư gửi đồng bào toàn quốc. Người phân tích tình hình và nhiệm vụ cấp bách của cách mạng Việt Nam và cho rằng: “Cơ hội cho dân tộc ta giải phóng chỉ ở trong một năm hoặc năm rưỡi nữa. Thời gian rất gấp. Ta phải làm nhanh!”.

Muốn vậy cần phải có một “Toàn quốc đại biểu Đại hội gồm tất cả các đảng phái cách mệnh và các đoàn thể ái quốc trong nước bầu cử ra”, “phải có một cái cơ cấu đại biểu cho sự chân thành đoàn kết và hành động nhất trí của toàn thể quốc dân ta”.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 3, tr. 505-506.

Tháng 10, cuối tháng

Hồ Chí Minh đến Pác Bó kiểm tra Đại đội tự vệ vũ trang chiến đấu Hồng Phong11). Người nói: “Hiện nay, đế quốc Pháp và phát xít Nhật ở Đông Dương, khác gì hai con gà trống nhốt trong chuồng. Trước sau chúng cũng chọi nhau. Tất cả hai con bị thương nặng, có con què. Lúc đó ta bắt mới dễ! Làm cách mệnh phải biết dựa vào thời cơ, và phải nhìn chung phong trào mọi nơi mọi chốn, mới chắc thắng!… Việc lớn nhất hiện nay là phải củng cố lại phong trào cách mệnh các địa phương cho vững chắc, chống khủng bố. Chúng ta huấn luyện vài buổi nữa, rồi chia tay nhau đi các địa phương”.

– Dương Đại Long: Từ chân nương bên suối Lênin hôm ấy, in trong cuốn Bác Hồ về nước, Hội Văn học nghệ thuật Cao Bằng, Cao Bằng, 1986, tr. 112.

Tháng 12, khoảng đầu tháng

Hồ Chí Minh triệu tập Võ Nguyên Giáp và Vũ Anh đến Pác Bó. Người nghe Vũ Anh báo cáo về tình hình phong trào cách mạng trong ba tỉnh Cao – Bắc – Lạng và chủ trương phát động chiến tranh du kích của Liên tỉnh uỷ. Người chỉ định Võ Nguyên Giáp đảm nhiệm công tác thành lập lực lượng vũ trang tập trung.

Đêm ấy, ba người cùng ngủ trong một căn lều lạnh giá, không đèn đóm, mỗi người gối trên một khúc gỗ cứng, trò chuyện đến hai, ba giờ sáng.

Chiều hôm sau, Người gặp Võ Nguyên Giáp và Lê Quảng Ba, thông qua kế hoạch thành lập Đội. Người thêm hai chữ “Tuyên truyền” vào tên Đội Việt Nam giải phóng quân.

– Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Những chặng đường lịch sử, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 129-135.

Tháng 12, đầu tháng

Hồ Chí Minh tiễn chân Võ Nguyên Giáp trở về tổng Hoàng Hoa Thám để xúc tiến thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân.

Người căn dặn: “Nhớ bí mật: ta ở đông, địch tưởng ta ở tây. Lai vô ảnh, khứ vô tung”.

– Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Những chặng đường lịch sử, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 126-127.

Tháng 12, khoảng giữa tháng

Nguyễn Ái Quốc gửi một bức thư nhỏ (được đặt trong bao thuốc lá) cho Võ Nguyên Giáp. Đó là Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân. Nội dung chỉ thị gồm ba vấn đề chủ yếu:

1. Tên Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân nghĩa là chính trị trọng hơn quân sự. Nó là đội tuyên truyền. “Đội” có nhiệm vụ dìu dắt cán bộ vũ trang của các địa phương, giúp đỡ huấn luyện, giúp đỡ vũ khí nếu có thể được, làm cho các đội này trưởng thành mãi lên. Nguyên tắc tổ chức lực lượng là “sẽ chọn lọc trong hàng ngũ những du kích Cao – Bắc – Lạng số cán bộ và đội viên kiên quyết, hăng hái nhất và sẽ tập trung một phần lớn vũ khí để lập ra đội chủ lực”.

2. Đối với các đội vũ trang địa phương: tập trung huấn luyện các cán bộ địa phương rồi đưa về huấn luyện ở các địa phương, trao đổi kinh nghiệm, liên lạc thông suốt, phối hợp tác chiến.

3. Về chiến thuật: “vận dụng lối đánh du kích, bí mật, nhanh chóng, tích cực, nay Đông mai Tây, lai vô ảnh, khứ vô tung”.

Người khẳng định: “Tuy lúc đầu quy mô của nó còn nhỏ, nhưng tiền đồ của nó rất vẻ vang. Nó là khởi điểm của giải phóng quân, nó có thể đi suốt từ Nam chí Bắc, khắp đất nước Việt Nam”.12)

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 3, tr. 507-508.

– Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Những chặng đường lịch sử, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 131-132.

Khoảng cuối năm

Hồ Chí Minh ghi bài thơ Tặng cháu Nông Thị Trưng, trên trang đầu quyển vở Người biên dịch tác phẩm Phép dùng binh của ông Tôn Tử:

“Vở này ta tặng cháu yêu ta,

Tỏ chút lòng yêu cháu gọi là.

Mong cháu ra công mà học tập,

Mai sau cháu giúp nước non nhà”.

– Hồ Chí Minh: Thơ, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1970, tr. 47.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 3, tr. 509.

_______________________________

1Diệp Thuỵ Đình: nguyên là phó quan lớp huấn luyện đặc biệt, kiêm tổ trưởng quản lý của Đệ tứ chiến khu, lúc đó được mời làm Uỷ viên quân sự đặc biệt của Việt Nam cách mạng đồng minh hội (B.T).

a) Tại Hội nghị trù bị Đại hội đại biểu toàn quốc của Việt Nam cách mạng đồng minh hội do Trương Phát Khuê triệu tập, Hồ Chí Minh nêu rõ: Thành phần Đại hội, ngoài Ban Chấp hành Việt Nam cách mạng đồng minh hội, đại biểu Quốc dân Đảng (Việt Nam) và Đảng Đại Việt ra, nên có đại biểu của Việt Minh và các tổ chức khác ở trong nước như Hội Phật giáo, Hội truyền bá chữ quốc ngữ, Hội Ánh sáng…

Nhưng khi thảo luận, một số người không đồng ý cho các tổ chức thuộc Việt Minh cử đại biểu tham dự. Về thời gian đại hội, Hội nghị trù bị cũng không nhất trí được.

Hồ Chí Minh bàn với các thành viên Việt Minh nêu ý kiến đổi tên Đại hội đại biểu toàn quốc thành Đại hội đại biểu các đoàn thể cách mạng hải ngoại. Ý kiến này được giao cho Lê Tùng Sơn báo cáo với Trương Phát Khuê. Trương Phát Khuê đồng ý và uỷ thác cho Hồ Chí Minh khởi thảo kế hoạch triệu tập Đại hội đại biểu các đoàn thể cách mạng Việt Nam ở hải ngoại.

 Kế hoạch được thảo rất nhanh, trong đó Hồ Chí Minh đề nghị thành phần đại hội gồm: các uỷ viên chấp hành của Việt Nam cách mạng đồng minh hội, đại biểu “lớp huấn luyện đặc biệt” ở Đại Kiều, đại biểu người Việt trong biệt động quân Nam Ninh, đại biểu “Hội giải phóng” ở Vân Nam, đại biểu Việt Nam phục quốc quân, đại biểu Đảng Đại Việt và đại biểu Phân hội Việt Nam Hiệp hội quốc tế chống xâm lược, v.v.. Kế hoạch cũng đề ra cách bầu lại Ban Chấp hành Việt Nam cách mạng đồng minh hội và một số điểm về việc quá độ từ Đại hội đại biểu hải ngoại đến Đại hội đại biểu toàn quốc. Trong một buổi tiệc trà do Trương Phát Khuê mời các đại biểu Hội nghị trù bị tham dự, kế hoạch do Hồ Chí Minh thảo ra được Trương giới thiệu và khẳng định trước mọi người. Phái phản đối cũng đành phải nghe theo.

Cuối tháng 3-1944, Đại hội đại biểu các đoàn thể cách mạng Hải ngoại được tổ chức tại Bộ Tư lệnh Đệ tứ chiến khu. Tham gia đại hội này có Trương Bội Công, Nguyễn Hải Thần, Vũ Hồng Khanh, Nghiêm Kế Tổ, Trương Trung Phụng, Trần Báo, Nông Kính Du, Bồ Xuân Luật, Trần Đình Xuyên, Lê Tùng Sơn, Nguyễn Tường Tam, Nguyễn Thanh Đồng, Hồ Đức Thành, Hồ Chí Minh và Phạm Văn Đồng. Họ thay mặt cho Ban Chấp hành của Việt Nam cách mạng đồng minh hội (7 đại biểu), Hội giải phóng Việt Nam ở Côn Minh (1 đại biểu), Liên đoàn giải phóng Việt Nam ở Long Châu (1 đại biểu), Đảng Đại Việt (1 đại biểu), các thành viên Phân hội đặc biệt ở Nam Ninh (1 đại biểu) và Phân hội Việt Nam Hiệp hội quốc tế chống xâm lược (1 đại biểu). Đã nổ ra những cuộc tranh luận giữa các đại biểu quốc gia và đại biểu cộng sản. Về Việt Nam cách mạng đồng minh hội, Trần Dân Tiên viết: “Trong nhà tù Quốc dân Đảng Trung Quốc, Cụ Hồ được biết ở Liễu Châu có tổ chức Việt Nam cách mạng đồng minh hội… Cụ được biết rằng mình bị cầm tù lâu hơn nữa vì người ta nghi Cụ sang Trung Quốc để phá tổ chức đó.

Cách mạng đồng minh hội có hai lãnh tụ: Trương Bội Công và Nguyễn Hải Thần, cả hai đều đã ở Trung Quốc 40 năm nay. Trương Bội Công là quan năm, làm việc trong quân đội Quốc dân Đảng. Trước kia, Trương tránh liên lạc với những người đồng hương và không tham gia một phong trào cách mạng nào. Nguyễn Hải Thần gần 70 tuổi đã quên hết tiếng Việt Nam, sang Trung Quốc năm 1905 với cụ Phan Bội Châu. Cụ Phan đã rời bỏ Nguyễn Hải Thần từ những ngày đầu. Từ đấy, Nguyễn Hải Thần làm nghề xem số tử vi để kiếm ăn. Nhờ nghề này, Nguyễn Hải Thần quen biết nhiều quan lại Trung Quốc. Cũng như Trương Bội Công, Nguyễn Hải Thần không hoạt động gì. Nhưng sau khi cụ Phan mất, Nguyễn Hải Thần tự nhận là người kế thừa của Cụ. Trương và Nguyễn tranh nhau làm lãnh tụ. Còn một “lãnh tụ” thứ ba: Trần Báo, một thanh niên phiêu lưu, lai lịch không rõ ràng. Trương Bội Công và Trần Báo ăn cánh với nhau. Cho nên họ mạnh hơn Nguyễn Hải Thần. Tổ chức này trông vào sự giúp đỡ của Quốc dân Đảng mà sống”.

Trần Dân Tiên còn cho biết thêm: “Chính trong nhà giam này (nhà giam quân sự của Liễu Châu), Cụ Hồ biết Nguyễn Tường Tam và những người bạn của ông ta. Nguyễn Tường Tam vốn là một nhà viết tiểu thuyết. Lúc Nhật vào Đông Dương, Tam và bạn hữu tổ chức ra một đảng gọi là “Đảng Đại Việt”, với khuynh hướng triệt để thân Nhật. Người Pháp ở Đông Dương sau khi được người Nhật vuốt ve, quay lại đối phó với các đảng viên “Đại Việt”. Nhật bèn bí mật đưa Tam sang Trung Quốc, âm mưu lật đổ Trương Bội Công, người lãnh đạo cấp cao của Việt Nam cách mạng đồng minh hội. Tam và bè bạn bị bỏ tù, sau đó cũng bị giam như Cụ Hồ, ở cùng một chỗ.

Còn có những người khác muốn tranh quyền lãnh đạo Việt Nam cách mạng đồng minh hội, đó là Vũ Hồng Khanh và Nghiêm Kế Tổ. Hai người này là lãnh tụ “Quốc dân Đảng”. Nhưng Đảng Quốc dân này, là đảng tổ chức ở Côn Minh, chứ không phải Quốc dân Đảng anh dũng đã tổ chức cuộc bạo động Yên Bái. Vì không tranh được quyền lãnh đạo ấy nên các vị này bèn rời Liễu Châu trở về Vân Nam.

Chẳng bao lâu sau khi Cụ Hồ gặp Nguyễn Tường Tam, Việt Nam cách mạng đồng minh hội họp Đại hội đại biểu ở Liễu Châu. Tất cả các chính đảng Việt Nam ở Trung Quốc và Việt Nam đều được mời. Nguyễn Tường Tam đại diện “Đảng Đại Việt”, Cụ Hồ đại diện Việt Minh. Bốn năm đảng khác ở Trung Quốc đều cử đại diện đến dự. Tổng cộng có khoảng hai chục đại biểu. Trương Bội Công giữ chức Chủ tịch, chủ trì lễ khai mạc Đại hội, Nguyễn Hải Thần từ chối dự Đại hội.

Trước khi Đại hội bế mạc, Cụ Hồ được bầu làm Uỷ viên dự khuyết của Ban Chấp hành. Nguyễn Hải Thần được bầu làm Uỷ viên Ban giám sát Trung ương, chứ không phải Uỷ viên Ban Chấp hành, điều này càng khiến ông ta tức giận. Nguyễn Tường Tam thì không được bầu, vì thế Nguyễn Hải Thần và Nguyễn Tường Tam kết thành một nhóm”.

(Đoạn trích dẫn thứ hai trên đây không có trong bản dịch tiếng Việt cuốn sách của Trần Dân Tiên mà có trong một bản dịch Trung văn, tiêu đề chữ Hán là Hồ Chí Minh truyện, người dịch là Trương Niệm Thức, do Bát Nguyệt xuất bản xã ấn hành tại Thượng Hải, tháng 6-1949. Chúng tôi dịch lại để bạn đọc tham khảo).

Thành phần đảng phái của các Ban Chấp hành và Ban Kiểm tra của Việt Nam cách mạng đồng minh hội được bầu tháng 3-1944 như sau:

Vũ Hồng Khanh Việt Nam Quốc dân Đảng
Nghiêm Kế Tổ Việt Nam Quốc dân Đảng
Trương Trung Phụng Việt Nam cách mạng đồng minh hội
Trần Báo Việt Nam Quốc dân Đảng, đảng độc lập
Trương Bội Công Quân nhân
Nguyễn Hải Thần Nhà cách mạng già
Bồ Xuân Luật Phục quốc
Trần Đình Xuyên Phục quốc
Nông Kính Du Phục quốc
Lê Tùng Sơn Đảng Cộng sản Đông Dương
Hồ Chí Minh Đảng Cộng sản Đông Dương

(Theo Báo cáo về Việt Nam của Hsing Shen-Chou tháng 4-1944, in trong Việt Nam văn kiện hội biên. Dẫn theo King C. Chen: Vietnam and China 1938-1954, Princeton University, Press Princeton, New York, 1969, p. 69) (B.T).

2) Đồng chí Hoàng Văn Thái, người lãnh đạo nhóm học sinh quân cách mạng Việt Nam trong trường bố trí cuộc họp mặt này (B.T).

3) Theo Tướng Trương Phát Khuê trong báo cáo ngày 9-8-1944 (Việt Nam văn kiện hội biên) và trong cuộc toạ đàm với King C. Chen thì Hồ Chí Minh được cấp một giấy phép đi đường, Giấy chứng minh thư do Tướng Trương ký, một bản đồ quân sự, tài liệu tuyên truyền, thuốc phòng bệnh và 76.000 đồng quan kim để đi đường và làm kinh phí huấn luyện (B.T).

4) 18 thanh niên đó là: Dương Văn Lộc, Vi Văn Tôn, Hoàng Quang Trao, Hoàng Kim Liên, Phạm Văn Minh, Hoàng Sĩ Vịnh, Nông Văn Mưu, Hoàng Gia Tiến, Trương Hữu Chi, Lê Nguyên, Hoàng Nhân, Nông Kim Thanh, Hoàng Thanh Thuỷ, Hà Hiền Minh, Lê Văn Tiến, Dương Văn Lễ, Đỗ Trọng Viên, Đỗ Lạc (B.T).

5) Hồi ký của Trương Phát Khuê, Tuần báo Liên hợp tạp chí, Hồng Kông, 1962 (B.T).

6) Liu San: When President Ho Chi Minh was in South China, Wen hui pao (Văn hối báo), Hồng Kông, ngày 7-9-1953 (B.T).

7) Tăng Thiên Tiết, nguyên Chủ nhiệm lớp huấn luyện đặc biệt của Đệ tứ chiến khu tại khu Đại Kiều (Liễu Châu), được chuyển đến Long Châu từ nửa đầu năm 1944, giữ chức Phó chủ nhiệm Sở chỉ huy Tĩnh Tây, kiêm Chủ nhiệm Phòng đốc sát quân cảnh Long Châu. Tăng Thiên Tiết đã cấp cho Hồ Chí Minh một giấy thông hành, đóng dấu Phòng đốc sát quân cảnh Long Châu (B.T).

8) Khu Hạ Đống là các xóm Nà Tạo, Na Thành, Bản Cát, nơi đồng chí Hoàng Văn Thụ và một số đồng chí khác từng nương náu để hoạt động cách mạng khi cơ sở bí mật của Đảng Cộng sản Đông Dương ở huyện lỵ Long Châu bị lộ (B.T).

9) Nông Kỳ Chấn là cốt cán Nông hội do Đảng Cộng sản Trung Quốc lãnh đạo, từng giúp đồng chí Hoàng Văn Thụ và một số đồng chí khác, sau ngày Trung Quốc giải phóng là Phó chủ tịch huyện Long Châu (B.T).

10Liên tỉnh uỷ Cao – Bắc – Lạng triệu tập Hội nghị cán bộ, đi đến quyết định khởi nghĩa nói trên. Ngày 20-9-1944, Hồ Chí Minh về nước, Người chỉ thị hoãn cuộc khởi nghĩa vì chưa có thời cơ (B.T).

11) Châu Hồng Phong là tên bí mật của châu Hà Quảng (B.T).

12Thực hiện chỉ thị của Hồ Chí Minh, Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân được thành lập ngày 22-12-1944.

Đội gồm 34 đội viên, được thành lập tại khu rừng Sam Cao (còn gọi là Trần Hưng Đạo) thuộc huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng, do đồng chí Võ Nguyên Giáp chỉ huy.

Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân biên chế thành một trung đội (chia làm ba tiểu đội). Lực lượng rút từ các đội vũ trang các châu Hà Quảng, Hoà An, Nguyên Bình. Lúc đầu vũ khí chỉ có: 2 mútcơtông, 3 súng săn, 1 môde, giáo mác (Theo Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1984, tr, 108). Song theo Võ Nguyên Giáp trong Từ Pác Bó đến Tân Trào, vũ khí có hai khẩu súng thập, 17 súng trường vừa giáp năm, giáp ba, vừa khai hậu và súng Trung Quốc chế tạo, 14 súng kíp. Sau đó Đội còn nhận được vũ khí do Việt kiều ở Côn Minh gửi về, gồm 1 tiểu liên Mỹ Sub, Machinegun và 150 viên đạn, 6 quả bom lửa, 1 hộp bom nổ chậm. Đội được nhận thêm 500 đồng để chi phí quân nhu.

Thực hiện lời căn dặn của Người: “Trận đầu phải thắng”, Đội đã liên tiếp lập hai chiến công oanh liệt: hạ đồn Phai Khắt ngày 25-12-1944 và đồn Nà Ngần ngày 26-12-1944 (B.T).

Nguồn: dangcongsan.vn
Vkyno (st)

Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử – Tập 2 (Năm 1943)

Tháng 1, đầu tháng

Hồ Chí Minh bị giải đến nhà ngục Quế Lâm, Người viết các bài thơ: bài 105: Đáo Quế Lâm (Đến Quế Lâm); bài 106: Nhập lung tiền (Tiền vào nhà giam).

– Hồ Chí Minh: Ngục trung nhật ký. Bản chụp bút tích, tr. 37. Lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr. 390-392.

Tháng 2, đầu tháng

Tại nhà ngục Quế Lâm, Hồ Chí Minh viết các bài thơ: Bài 107:?! và bài 108: ?.

Vì bị Biện công sảnh Quế Lâm của Uỷ ban quân sự1) tình nghi là chính trị phạm, nên Hồ Chí Minh lại bị giải từ Quế Lâm về Liễu Châu để giao cho Cục Chính trị Đệ tứ chiến khu tra xét.

– Hồ Chí Minh: Ngục trung nhật ký. Bản chụp bút tích, tr. 38. Lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr. 393-394.

– Điện báo của Lý Tế Thâm, Chủ nhiệm Biện công sảnh Quế Lâm của Uỷ ban quân sự gửi Ngô Thiết Thành ngày 29-11-1942. Dẫn theo Hoàng Tranh: Hồ Chí Minh với Trung Quốc, Nxb. Giải phóng quân, Bắc Kinh, 1984.

Cuối tháng 1, đầu tháng 2

Hồ Chí Minh bị giải đến Cục Chính trị Đệ tứ chiến khu Quốc dân Đảng Trung Quốc (ở Liễu Châu) và bị giam tại nhà giam của Cục này. Ở đây, Người được đối xử tử tế hơn, theo chế độ “quản lý chính trị”: có đủ cơm ăn, không bị gông, không bị xích, buổi sáng và buổi chiều đều có mười lăm phút đi ra nhà vệ sinh có lính gác và thỉnh thoảng được đọc báo hoặc đọc sách2).

– Hồ Chí Minh: Ngục trung nhật ký. Bản chụp bút tích, tr. 38-39. Lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

– Trần Dân Tiên: Hồ Chí Minh truyện, Bản dịch tiếng Hán của Trương Niệm Thức, Bát Nguyệt xuất bản xã, Thượng Hải, tháng 6-1949, tr. 123.

Từ tháng 2 đến tháng 4

Tại nhà giam của Cục Chính trị Đệ tứ chiến khu Quốc dân Đảng Trung Quốc, Hồ Chí Minh viết các bài thơ: Bài 109: Đáo Đệ tứ chiến khu Chính trị bộ (Đến Cục Chính trị Chiến khu IV3)); bài 110: Chính trị bộ cấm bế thất (Nhà giam của Cục Chính trị); bài 111: Mông ưu đãi(Được ưu đãi); bài 112: Triêu cảnh (Cảnh buổi sớm).

– Hồ Chí Minh: Ngục trung nhật ký. Bản chụp bút tích, tr. 38-39. Lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr. 395-399.

Tháng 4

Trong nhà giam của Cục Chính trị Đệ tứ chiến khu, Hồ Chí Minh viết các bài thơ: Bài 113: Thanh minh (Tiết thanh minh); bài 114: Vãn cảnh(Cảnh chiều hôm); bài 115: Ngũ khoa trưởng, Hoàng khoa viên (Khoa trưởng họ Ngũ, khoa viên họ Hoàng); bài 116: Hạn chế (Bị hạn chế); bài 117: Dương Đào bệnh trọng (Dương Đào ốm nặng); bài 118: Bất miên dạ (Đêm không ngủ); bài 119: Cửu vũ (Mưa lâu); bài 120: Tích quang âm (Tiếc ngày giờ).

– Hồ Chí Minh: Ngục trung nhật ký. Bản chụp bút tích, tr. 40-42. Lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr. 400-409.

Tháng 5

Từ trong nhà giam của Cục Chính trị Đệ tứ chiến khu, Hồ Chí Minh bí mật gửi được một lá thư về cho các đồng chí trong nước4) báo tin vắn tắt về tình hình của mình ở trong tù.

– Đặng Văn Cáp: Con đường dẫn tôi đến với Bác, in trong cuốn Bác Hồ về nước, Hội Văn học nghệ thuật Cao Bằng, Cao Bằng, 1986, tr. 64.

Tháng 5 đến tháng 7

Trong nhà giam của Cục Chính trị Đệ tứ chiến khu, Hồ Chí Minh viết các bài thơ: bài 121: Độc Tưởng công huấn từ (Đọc lời giáo huấn của ông Tưởng5)); bài 122: Lương Hoa Thịnh tướng quân thăng nhậm phó tư lệnh (Tướng quân Lương Hoa Thịnh6) thăng chức Phó tư lệnh); bài 123: Tặng tiểu Hầu (Hải) (Tặng chú Hầu (Hải)).

– Hồ Chí Minh: Ngục trung nhật ký. Bản chụp bút tích, tr. 42 – 43. Lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr. 410-413.

Tháng 5 đến tháng 8

Hồ Chí Minh chưa được tự do nhưng không còn phải chịu đói và bị ngược đãi nữa. Người được phép đọc sách báo và thỉnh thoảng gửi về Việt Nam những tờ báo trong đó Người lồng một vài tin tức. Đối với người Trung Quốc, Người có vẻ một học giả cao tuổi, lễ độ và trầm lặng. Người dịch cuốn Tam dân chủ nghĩa của Tôn Dật Tiên và Trung Quốc đích mệnh vận (Vận mệnh của Trung Quốc) của Tưởng Giới Thạch ra tiếng Việt.

– Trần Dân Tiên: Hồ Chí Minh truyện. Bản dịch tiếng Hán của Trương Niệm Thức, Bát Nguyệt xuất bản xã, Thượng Hải, tháng 6-1949.

– King C. Chen: Vietnam and China 1938-1954, Princeton University, Press Princeton, New York, 1969, p. 60.

Khoảng từ giữa tháng 7 đến tháng 8

Trong lần đón Hồ Mộ La (13 tuổi), con gái của ông Hồ Học Lãm đến thăm tại Văn phòng Cục Chính trị Đệ tứ chiến khu, Hồ Chí Minh tặng cô bé một món tiền dành dụm được đủ may một bộ đồng phục học sinh.

Người từ chối không nhận các thứ quà bà Lãm mang đến biếu Người.

– King C. Chen: Vietnam and China 1938-1954, Princeton University, Press Princeton, New York, 1969, p. 58-60.

– Mộ La: Đời đời nhớ ơn Bác, Tạp chí Văn nghệ quân đội, số tháng 10-1969, tr. 127-128.

Tháng 8

Trong nhà giam Cục Chính trị Đệ tứ chiến khu, Hồ Chí Minh viết các bài thơ: Bài 124-125: Thu cảm, I-II (Cảm thu, I-II); bài 126: Nhân đỗ ngã (Nhân lúc đói bụng); bài 127: Trần khoa viên lai thám (Khoa viên họ Trần tới thăm); bài 128: Hầu chủ nhiệm ân tặng nhất bộ thư (Chủ nhiệm họ Hầu7) tặng một bộ sách); bài 129: Mông thượng lệnh chuẩn xuất lung hoạt động (Được lệnh trên cho đi lại ngoài buồng giam); bài 130: Thu dạ (Đêm thu).

– Hồ Chí Minh: Ngục trung nhật ký. Bản chụp bút tích, tr. 44-45. Lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr. 414-421.

Tháng 9, đầu tháng

Trong nhà giam của Cục Chính trị Đệ tứ chiến khu, Hồ Chí Minh viết các bài thơ: Bài 131: Tình thiên (Trời hửng); bài 132: Khán Thiên gia thi hữu cảm (Cảm tưởng đọc “Thiên gia thi”); bài 133: Tức cảnh (Tức cảnh).

Trong những ngày này, được phép đọc sách báo, Người đã có những trang bút ký “Mục đọc sách”, “Mục đọc báo” ghi chen vào những trang thơ8).

– Hồ Chí Minh: Ngục trung nhật ký. Bản chụp bút tích, tr. 46-53. Lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr. 422-425.

Tháng 9, trước ngày 10

Trong nhà giam của Cục Chính trị Đệ tứ chiến khu, Hồ Chí Minh nghĩ ra một lối ghi tốc ký chữ quốc ngữ.

– Trần Dân Tiên: Hồ Chí Minh truyện. Bản dịch tiếng Hán của Trương Niệm Thức, Bát Nguyệt xuất bản xã, Thượng Hải, tháng 6-1949.

Tháng 9, ngày 10

Hồ Chí Minh được trả lại tự do. Người viết bài thơ 134: Kết luận (Kết luận), khép lại tập Ngục trung nhật ký.

– Hồ Chí Minh: Ngục trung nhật ký. Bản chụp bút tích, tr. 53. Lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr. 426-427.

Tháng 9, sau ngày 10

Hồ Chí Minh được trả lại tự do nhưng vẫn bị quản chế. Sức khoẻ Người giảm sút: mắt bị mờ, chân đi không vững. Người vừa tự tập luyện để phục hồi sức khoẻ, vừa tìm cách liên hệ với những tổ chức chống phát xít Nhật và thực dân Pháp của người Việt Nam ở Liễu Châu, đồng thời tìm cách chắp nối liên lạc với Trung ương Đảng ở trong nước.

Cách rèn luyện của Người là ra sức tập leo núi, tập nhìn vào bóng tối… để cho chân được vững, mắt được sáng. Người tự nhủ “Một chiến sĩ bị bệnh tê thấp thì còn làm gì được”.

– Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb. Chính trị quốc gia – Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 1994, tr. 88-90.

Tháng 9, khoảng giữa tháng

Ở Liễu Châu (Quảng Tây, Trung Quốc), Hồ Chí Minh viết lên mép trắng của một tờ Quảng Tây nhật báo bài thơ tứ tuyệt bằng chữ Hán:

Vân ủng trùng sơn, sơn ủng vân,

Giang tâm như kính tịnh vô trần;

Bồi hồi độc bộ Tây phong lĩnh,

Dao vọng Nam thiên ức cố nhân9).

Kèm mấy dòng chữ Hán với nội dung:

“Chúc chư huynh ở nhà mạnh khoẻ và cố gắng công tác. Ở bên này bình yên”.

Người gửi được tờ báo cùng với một bức thư về nước10).

– Võ Nguyên Giáp: Từ Pác Bó đến Tân Trào, in trong cuốn Uống nước nhớ nguồn, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1973, tr. 33.

– Đặng Văn Cáp: Con đường dẫn tôi đến với Bác, in trong cuốn Bác Hồ về nước, Hội Văn học nghệ thuật Cao Bằng, Cao Bằng, 1986, tr. 65.

Tháng 10, khoảng cuối tháng

Hồ Chí Minh bắt đầu tham gia một số hoạt động của Việt Nam cách mạng đồng minh hội11)

– Hoàng Tranh: Hồ Chí Minh với Trung Quốc, Nxb. Giải phóng quân, Bắc Kinh, 1984, tr. 98-99.

Tháng 11, khoảng giữa tháng

Theo yêu cầu của Trương Phát Khuê, Hồ Chí Minh nhận chức Phó chủ tịch Việt Nam cách mạng đồng minh hội (Chủ tịch là Nguyễn Hải Thần).

– Hoàng Tranh: Hồ Chí Minh với Trung Quốc, Nxb. Giải phóng quân, Bắc Kinh, 1984, tr. 98.

Tháng 11, ngày 23

Hồ Chí Minh rời khỏi Cục Chính trị Đệ tứ chiến khu đến ở trong nhà Tổng bộ Việt Nam cách mạng đồng minh hội12) đặt tại đường Ngư Phong trong thành phố Liễu Châu.

– Trả lời phỏng vấn của Diệp Thuỵ Đình. Dẫn theo Hoàng Tranh: Hồ Chí Minh với Trung Quốc, Nxb. Giải phóng quân, Bắc Kinh, 1984, tr. 99-100.

Khoảng tháng 11

Từ Liễu Châu, Hồ Chí Minh viết thư cho Từ Vĩ Tam, Vương Tích Cơ… (những người Trung Quốc kết nghĩa anh em với Người ở Ba Mông, Tĩnh Tây) báo tin Dương Đào đã chết. Người viết: “Dương Đào là người em thân thiết của chúng ta, chúng ta sẽ mãi mãi không quên chú ấy”13).

– Trả lời phỏng vấn của Vương Tích Cơ. Dẫn theo Hoàng Tranh: Hồ Chí Minh với Trung Quốc, Nxb. Giải phóng quân, Bắc Kinh, 1984, tr. 98.

Mùa đông, một ngày chủ nhật

Sáng sớm, Hồ Chí Minh ra sông tắm.

Một lát sau, Trương Phát Khuê mặc áo lông đắt tiền, cưỡi con ngựa hồng cao lớn đi ngang qua, nhận ra người tắm dưới sông liền dừng ngựa lại chào.

Tướng Trương Phát Khuê nói: “Hồ tiên sinh là người An Nam. An Nam ở về nhiệt đới, sang đất Liễu Châu chúng tôi chịu đựng được cái rét mùa đông đã là không đơn giản. Thế mà nay Hồ tiên sinh còn bơi được dưới dòng nước lạnh giá này, thật là kỳ tài! Thật là kỳ tài!”

Người đáp lại rất tự nhiên: “Đâu dám! Đâu dám!”.

– Vũ Trường Khuê: Cùng sinh hoạt với Bác Hồ. Báo Tân Việt Hoa, ngày 18-5-1961.

Khoảng tháng 12

Tại Liễu Châu, Hồ Chí Minh dự một bữa tiệc do Hầu Chí Minh, Chủ nhiệm Cục Chính trị Đệ tứ chiến khu chiêu đãi. Trong bữa tiệc, Nguyễn Hải Thần đọc một vế thách đối: “Hầu Chí Minh, Hồ Chí Minh, lưỡng vị đồng chí, chí giai minh”. Mọi người còn đang suy nghĩ thì Hồ Chí Minh ung dung đối lại:

“Nhĩ cách mệnh, ngã cách mệnh, đại gia cách mệnh, mệnh tất cách”14).

Mọi người vỗ tay tán thưởng. Hầu Chí Minh ca ngợi không ngớt: “Đối hay lắm!”. Nguyễn Hải Thần cũng cung kính nói: “Hồ tiên sinh tài trí mẫn tiệp. Bội phục! Bội phục!”.

– Hoàng Tranh: Hồ Chí Minh với Trung Quốc, Nxb. Giải phóng quân, Bắc Kinh, 1984, tr. 100-101.

Trong năm

Tại Liễu Châu, Hồ Chí Minh viết bài thơ Tặng cụ Đinh Chương Dương15).

“Quan san muôn dặm gặp nhau đây,

Mục đích chung là đuổi Nhật, Tây.

Dân bị hai tròng vào một cổ,

Ta liều trăm đắng với ngàn cay.

Già dù yếu sức mang mang nhẹ,

Trẻ cố ra công gánh gánh đầy.

Non nước của ta ta lấy lại,

Nghìn thu sự nghiệp nổi từ đây”.

– Hồ Chí Minh: Thơ, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1970, tr. 46.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 3, tr. 441.

Tháng 12

Bài Libăng đăng trên báo Đồng minh16) số 18, tháng 12-1943, giới thiệu về cuộc đấu tranh của nhân dân Libăng chống thực dân Pháp để giành được độc lập, tự do thực sự. Qua cuộc đấu tranh của nhân dân Libăng và sự đàn áp của thực dân Pháp, tác giả bài viết rút ra hai kết luận:

1- Bọn thực dân, dù là phe phái nào đều “mang tâm lang sói”, đàn áp cuộc đấu tranh của nhân dân bị áp bức.

2- Nhân dân Việt Nam “đang chuẩn bị đánh Nhật, đuổi Pháp để giành lấy sự độc lập tự do”, nên “rất đồng tình và mong cho công cuộc cách mạng của dân tộc Libăng được thắng lợi”.

– Báo Đồng minh, số 18, tháng 12-1943.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 3, tr. 442-444.

Cuối năm

Hồ Chí Minh đến nói chuyện với lớp huấn luyện cán bộ đặc biệt của thanh niên Việt Nam do Đoàn huấn luyện cán bộ Đệ tứ chiến khu tổ chức tại Đại Kiều (Liễu Châu, Quảng Tây, Trung Quốc).

Cũng vào cuối năm, Hồ Chí Minh đến dự lễ khai mạc lớp huấn luyện cán bộ Việt Nam tại ngoại thành Liễu Châu. Người nói bằng tiếng Việt. Hai người Việt Nam là Lê Dũng Thịnh và Nguyễn Thị Anh dịch sang tiếng Trung. Một sĩ quan của Quốc dân Đảng là Thiếu tá Diệp Thuỵ Đình đã ghi lại bài nói này.

Trong bài nói, Người cảm ơn Chính phủ và nhân dân Trung Quốc đã ủng hộ chân thành, mạnh mẽ và lâu dài cho cách mạng Việt Nam: “mong mỏi” sống chết dựa vào nhau, đắng cay ngọt bùi cùng chia xẻ. Cuối bài nói, Người khẳng định: “Chúng ta nhất định sẽ thắng lợi. Ngày mà thực dân Pháp rút khỏi Việt Nam không còn xa nữa!”.

– Tăng Thiên Tiết: Những mẩu hồi ức về Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Trung Quốc lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Dẫn theo Hoàng Tranh: Hồ Chí Minh với Trung Quốc, Nxb. Giải phóng quân, Bắc Kinh, 1984, tr. 102.

– Tạp chí Vòng quanh Đông Nam Á, Viện nghiên cứu Đông Nam Á thuộc Viện Khoa học xã hội Quảng Tây, Trung Quốc, số tháng 3-2000.

– Tạp chí Lịch sử Đảng, tháng 12-2001.

_________________________________

1) Được Lê Quảng Ba báo tin, Trung ương Đảng ta cử đồng chí Cáp đi Quảng Tây nghe ngóng thêm. Đồng chí Cáp nghe nhầm tưởng Hồ Chí Minh đã chết, về báo lại. Tổ chức lại cử người đi thăm dò tiếp, được biết Người còn sống và bị giải đi nơi khác. Hạ tuần tháng 10-1942, Trung ương Đảng ta nhân danh “Phân hội Việt Nam Hội Quốc tế chống xâm lược” gửi điện cho Tôn Khoa, Viện trưởng Viện Lập pháp của Quốc dân Đảng Trung Quốc tại Trùng Khánh yêu cầu thả Hồ Chí Minh. Tôn Khoa chuyển đến Ngô Thiết Thành, Chánh Văn phòng Trung ương Quốc dân Đảng. Ngô Thiết Thành điện cho chính quyền Quảng Tây yêu cầu “xét rõ và phóng thích”. Nhưng lúc này Hồ Chí Minh đang bị giải đi trên đường. Ngày 9-11-1942, Ngô Thiết Thành điện cho Trương Phát Khuê, Tư lệnh Đệ tứ chiến khu, yêu cầu xét tha Hồ Chí Minh. Nhưng lúc này Hồ Chí Minh vẫn chưa bị giải đến Liễu Châu.

Ngày 15-11-1942, Đảng ta lại nhân danh “Phân hội Việt Nam Hội Quốc tế chống xâm lược” gửi đến cơ quan Thông tấn xã Liên Xô TASS ở Trùng Khánh một bản tin điện yêu cầu can thiệp. Những bức điện tương tự cũng được đồng thời gửi đến các hãng UPI, Reuter, AFP.

Bị giải đến Quế Lâm và trong thời gian bị giam ở đó, Hồ Chí Minh trước sau chỉ nhận mình là cán bộ Việt Nam không có liên quan gì với Đảng Cộng sản Trung Quốc. Biện công sảnh Quế Lâm chỉ có cách xử lý như trên (B.T).

2) Hồi ức của Bành Đức lúc đó là trung uý khoa viên tại Cục Chính trị Đệ tứ chiến khu cho biết:

“Một buổi sáng mưa dầm đầu năm 1943, một nhân viên đặc công áp giải một ông già râu tóc lốm đốm bạc đến Cục Chính trị. Người đặc công ra lệnh cho ông già ngồi xổm dưới cây khuynh điệp ở bên phải cổng Văn phòng rồi vào Văn phòng trình giấy, đoạn quay ra canh giữ ông già. Sau đó ông già được giao cho trung đội cảnh vệ coi giữ. Ông già này là người thế nào? Không ai rõ. Trung đội cảnh vệ giam ông già vào trong một gian phòng nhỏ bốn phía tường gạch và có lưới dây thép gai bao quanh ở gần Cục Chính trị. Cửa phòng trông ra trung đội cảnh vệ có một dãy hàng rào bằng gỗ. Hằng ngày ông già ngồi tựa vào hàng rào, trầm tư hoặc xem sách. Sáng sáng, vệ binh mở khoá sắt, để cho ông già ra ngoài đi bách bộ một lúc”.

(Dẫn theo Hoàng Tranh: Hồ Chí Minh với Trung Quốc, Nxb. Giải phóng quân, Bắc Kinh, 1984, tr. 92, 93) (B.T).

3) Như nội dung nêu trong bài thơ, tính từ ngày bị bắt (cuối tháng 8-1942) đến khi làm bài thơ này (tháng 2-1943), Hồ Chí Minh đã trải qua 13 huyện, thị: Thiên Bảo (nay là Đức Bảo), Tĩnh Tây, Điền Đông, Quả Đức (nay là Bình Quả), Long An, Đồng Chính (nay thuộc Phù Tuy), Ung Ninh, Nam Ninh, Vũ Minh, Tân Dương, Lai Tân, Liễu Châu, Quế Lâm; và đã bị giam ở 18 nhà giam gồm 13 nhà tù, nhà giam của 13 huyện, thị kể trên và những nhà giam trên đường bị giải đi, như Túc Vinh, Thiên Giang, v.v.. (B.T).

4) Đến tháng 8-1943, các đồng chí trong nước mới nhận được lá thư này (B.T).

5) Tức Tưởng Giới Thạch (B.T).

6) Lương Hoa Thịnh lúc bấy giờ là Trung tướng, Chủ nhiệm Cục Chính trị, tháng 5-1943 được thăng chức Phó tư lệnh Đệ tứ chiến khu(B.T).

7) Hầu chủ nhiệm, tức Thiếu tướng Hầu Chí Minh. Sau khi Trung tướng Lương Hoa Thịnh, nguyên Chủ nhiệm Cục Chính trị được thăng chức Phó tư lệnh Đệ tứ chiến khu (tháng 5-1943), Hầu Chí Minh được giữ chức Chủ nhiệm Cục này. Ông là người có phần đóng góp vào việc trả lại tự do cho Hồ Chí Minh sau này (B.T).

8) Đó là những trang ghi chép bằng chữ Hán từ trang 47 đến hết trang 52 trong cuốn sổ chép Ngục trung nhật ký (B.T).

9) Dịch nghĩa:

Núi ấp ôm mây, mây ấp núi,

Lòng sông gương sáng, bụi không mờ;

Bồi hồi dạo bước Tây phong lĩnh,

Trông lại trời Nam, nhớ bạn xưa.

10) Tờ báo và bức thư đến tay các đồng chí Phạm Văn Đồng, Vũ Anh… khoảng tháng 10. Thư báo tin Người đã được tha, nhưng bọn Quốc dân Đảng Trung Quốc vẫn giữ làm cố vấn, ở nhà cần có những văn kiện vận động mạnh mẽ hơn để chúng tha thật sự. Ngoài ra, Người còn dặn dò một số công tác cụ thể phải làm trước mắt (B.T).

11) Việt Nam cách mạng đồng minh hội là một tổ chức của người Việt Nam ở Trung Quốc thuộc nhiều đảng phái, được sự hiệp trợ của Đệ tứ chiến khu. Tháng 7-1942, đã có một uỷ ban trù bị gồm 28 đại biểu của các đoàn thể, do Nguyễn Hải Thần làm Chủ nhiệm. Đại hội thành lập, lúc đầu định vào ngày 10-8-1942, sau hoãn đến ngày 1-10-1942. Quốc dân Đảng Trung Quốc muốn nắm chặt tổ chức này, giao cho Chủ nhiệm Cục Chính trị Lương Hoa Thịnh làm đại diện chỉ đạo. Tháng 5-1943, Lương được điều đi, Chủ nhiệm mới của Cục Chính trị là Hầu Chí Minh thay. Đến tháng 12-1943, Tư lệnh Đệ tứ chiến khu Trương Phát Khuê kiêm chức đại diện, Hầu Chí Minh làm phó đại diện. Đại diện chỉ đạo có văn phòng giúp việc, do Tiêu Văn – Trưởng phòng ngoại vụ của Đệ tứ chiến khu – phụ trách.

Sau ngày thành lập, Đồng minh hội vẫn năm bè bảy mối, rời rạc bê bối. Trương Phát Khuê quyết định cải tổ Đồng minh hội để Hồ Chí Minh tham gia công tác lãnh đạo. Trước khi chính thức cải tổ, Trương yêu cầu Hồ Chí Minh hợp tác với Nguyễn Hải Thần với cương vị Phó chủ tịch Việt Nam cách mạng đồng minh hội (B.T).

12) Không dám trái ý Trương Phát Khuê, Nguyễn Hải Thần cử Diệp Thuỵ Đình và Trung Tú Nghị là uỷ viên quân sự đặc biệt của Việt Nam cách mạng đồng minh hội đến Cục Chính trị Đệ tứ chiến khu đón Hồ Chí Minh ra “công tác” (B.T).

13) Ngày 10-9-1962, Từ Vĩ Tam nhận được một lá thư của một đồng chí lãnh đạo Việt Nam, chuyển lời thăm hỏi của Chủ tịch Hồ Chí Minh đến gia đình liệt sĩ Dương Đào, người đã hiến thân cho cách mạng Việt Nam năm xưa.

Tháng 8-1963, Đảng và Chính phủ Việt Nam mời một đoàn gồm bảy cán bộ và quần chúng có công với cách mạng Việt Nam ở hai huyện Tĩnh Tây, Na Pha (Quảng Tây) sang thăm Việt Nam, mừng Quốc khánh. Trong đoàn có em trai Dương Đào là Dương Thắng Cương. Tiếp các vị khách Quảng Tây, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc lại việc Dương Đào hy sinh ở Liễu Châu, thân thiết bắt tay hỏi chuyện Dương Thắng Cương và tỏ lòng thương tiếc người thanh niên đầy nhiệt huyết năm nào (B.T).

14) Với tư cách là Phó chủ tịch Việt Nam cách mạng đồng minh hội, từ ngày 23-11-1943, Hồ Chí Minh đến ở trong trụ sở của Hội này tại đường phố Ngư Phong (Liễu Châu). Tại đây, Người khá tự do tiếp xúc với các đại biểu của nhiều lực lượng cách mạng Việt Nam và Trung Quốc.

Trong bữa tiệc này, Chủ tịch “Việt Nam cách mạng đồng minh hội” Nguyễn Hải Thần vốn tự phụ về trình độ Hán học, lại có ý tự đắc vì được dịp trổ tài để nịnh nọt quan trên họ Hầu, nên đã buông ra vế đối có ý so sánh Hầu Chí Minh – Hồ Chí Minh… như trên (Dịch: Hầu Chí Minh, Hồ Chí Minh, hai vị đồng chí, chí đều sáng). Chỗ hóc hiểm đến thú vị của vế đối này là hai chữ “chí” và “minh” vốn là tên của hai nhân vật chính trong bữa tiệc.

Cái tài tình của Hồ Chí Minh đã làm cho Hầu Chí Minh và Nguyễn Hải Thần phải thốt lên “Hay lắm!” “Bội phục!”… không chỉ ở chỗ Người nhanh nhạy đối đáp kịp thời, rất thích ứng với hoàn cảnh, mà còn ở chỗ vế đối của Người rất chỉnh cả ý lẫn ngôn từ, với tầm tư tưởng cao hơn, cách mạng hơn (Dịch: Anh cách mạng, tôi cách mạng, mọi người cách mạng, mạng phải cách) (B.T).

15) Đinh Chương Dương, người xã Lộc Liêm (nay là xã Hải Lộc), huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hoá. Là một nhà yêu nước, cụ xuất dương và hoạt động ở nước ngoài từ thời trẻ. Trong quá trình hoạt động, cụ nhiều lần bị địch bắt giam. Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, cụ về nước và được bầu làm đại biểu Quốc hội khoá I. Sau năm 1954, vì già yếu, cụ về an dưỡng tại Hà Đông và mất năm 1972 (B.T).

16) Báo Đồng minh do Việt Nam cách mạng đồng minh hội phát hành ở Liễu Châu (Trung Quốc), số ra đầu tiên ngày 1-1-1943. Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, trụ sở báo chuyển về Hà Nội, đến tháng 6-1946 thì tự đóng cửa (B.T).

Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử – Tập 2 (Năm 1942)

Tháng 1, ngày 1

– Bài thơ Chúc năm mới của Nguyễn Ái Quốc, đăng trên báo Việt Nam độc lập:

Tháng ngày thấm thoát chóng như thoi,

Năm cũ qua rồi, chúc năm mới:

Chúc phe xâm lược sẽ diệt vong!

Chúc phe dân chủ sẽ thắng lợi!

Chúc đồng bào ta đoàn kết mau!

Chúc Việt Minh ta càng tấn tới!

Chúc toàn quốc ta trong năm này,

Cờ đỏ ngôi sao bay phất phới!

Năm này là năm rất vẻ vang,

Cách mệnh thành công khắp thế giới.

Cùng trong số báo trên, qua bài Năm mới, công việc mới, Người nêu tình hình thế giới và nước ta trong năm qua (1941), dự đoán tình hình thế giới năm nay (1942) và khẳng định rằng: “Nga nhất định thắng, Đức nhất định bại. Anh – Mỹ sẽ được, Nhật Bản sẽ thua”. Đó là thời cơ nước ta giành được độc lập, tự do. Vì vậy, mọi người phải chuẩn bị và “mau đoàn kết lại!”.

– Báo Việt Nam độc lập, số 114, ngày 1-1-1942.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr. 210, 212.

Tháng 1

Nguyễn Ái Quốc với bí danh Thu Sơn trong bộ quần áo Nùng bạc màu, đầu đội mũ vải, lưng đeo túi vải, chân đi đôi hài bằng rơm, tay chống gậy, chuyển đến ở nhà đồng chí Xích Thắng (tức Dương Mạc Thạch) tại châu Nguyên Bình trong một số ngày.

– Dương Mạc Thạch: Đi đón cụ Thu Sơn, in trong cuốn Bác Hồ về nước, Hội Văn học nghệ thuật Cao Bằng, Cao Bằng, 1986, tr. 208.

– Bằng Giang: Dự hai lớp huấn luyện, in trong cuốn Bác Hồ về nước, Hội Văn học nghệ thuật Cao Bằng, Cao Bằng, 1986, tr. 98.

Khoảng đầu năm

Nguyễn Ái Quốc mở lớp chính trị tại hang Kéo Quản1) (xã Gia Bằng) thuộc châu Nguyên Bình (Cao Bằng) là châu “Việt minh hoàn toàn”.

Sau mỗi bài giảng, Nguyễn Ái Quốc thường giải đáp những thắc mắc do học viên nêu ra. Người nói: “…Đánh giặc phải có căn cứ địa… Sau này khởi nghĩa đánh đế quốc Pháp – Nhật, ta cũng phải lấy núi rừng làm căn cứ địa. Không có sức mạnh nào bằng sức mạnh đoàn kết toàn dân. Toàn dân đoàn kết, cả miền xuôi, miền núi đoàn kết, thì ta nhất định thắng”.

– Bằng Giang: Dự hai lớp huấn luyện, in trong cuốn Bác Hồ về nước, Hội Văn học nghệ thuật Cao Bằng, Cao Bằng, 1986, tr. 99.

Tháng 1, ngày 21

Bài 10 điều nên của Nguyễn Ái Quốc, đăng trên báo Việt Nam độc lập, Người yêu cầu mỗi một hội viên Việt Minh cần thực hiện:

1. Nên giữ bí mật cho Hội.

2. Nên hết sức trung thành với Hội.

3. Nên tuyên truyền mục đích của Hội.

4. Nên ra sức tìm hội viên mới.

5. Nên ra sức làm việc cho Hội.

6. Nên nộp hội phí cho đúng kỳ.

7. Nên giúp đỡ lẫn nhau.

8. Nên gắng sức học hành.

9. Nên đọc sách báo của Hội.

10. Nên ủng hộ báo của Hội.

– Báo Việt Nam độc lập, số 116, ngày 21-1-1942.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 3, tr. 213.

Tháng 2, ngày 1

Bài Ca đội tự vệ của Nguyễn Ái Quốc, đăng trên báo Việt Nam độc lập, kèm theo lời hướng dẫn “cách hát” của Người. Bài ca gồm hai đoạn:

          I

          II

Gươm dao ta

Sắp hàng ra

Đem mài đi

Xung phong lên!

Mài cho bén

Người ta đông.

Mài cho sắc

Chí ta bền

Nhật ta đâm

Việc giải phóng

Tây ta chặt.

Nhất định nên.

Cách hát:

– Chia người làm hai tổ: bốn câu trên, tổ A hát trước, hát giọng cao (nếu có phụ nữ thì phụ nữ là tổ A); tổ B hát giọng thấp theo sau. Những chữ BÉN, SẮC, ĐÔNG, BỀN, phải hát dài như BE-ÉN, SA-ẮC, ĐÔ-ÔNG, BÊ-ỀN.

– Hai câu sau cùng thì cả hai tổ đều hát với nhau, chữ CHẶT và chữ NÊN thì phải hát rất mạnh.

Ví dụ: Tổ A hát: Gươm dao ta

           Tổ B hát: Gườm dào tà.

Cùng số báo trên còn đăng bài viết của Người nhan đề Nên học sử ta. Mở đầu bài viết, Người chỉ rõ:

“Dân ta phải biết sử ta,

Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam”.

Bài viết còn khái quát trang sử vẻ vang của dân tộc đối với những chiến công và gương các anh hùng dân tộc. Phần kết của bài viết, Người nêu bài học: “Sử ta dạy cho ta bài học này:

Lúc nào dân ta đoàn kết muôn người như một thì nước ta độc lập, tự do.

Trái lại lúc nào dân ta không đoàn kết thì bị nước ngoài xâm lấn”.

– Báo Việt Nam độc lập, số 117, ngày 1-2-1942.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 3, tr. 214-215, 216-217.

Tháng 2, khoảng ngày 10

Nguyễn Ái Quốc gặp cán bộ địa phương hỏi về tình hình kinh tế của nhân dân, về phong tục ngày Tết ở địa phương và dặn dò phải bố trí bảo vệ chu đáo cho dân làng ăn Tết.

– Dương Đại Lâm: Bác Hồ đến bản tôi, in trong cuốn Bác Hồ về nước, Hội Văn học nghệ thuật Cao Bằng, Cao Bằng, 1986, tr. 132.

Tháng 2, giữa tháng 2)

Nguyễn Ái Quốc “ăn Tết” ở Khuổi Nậm.

Người tiếp một số nam nữ thanh niên ở địa phương lên chơi, chúc Tết.

Người gửi lời chúc Tết người già và dân làng, và trao những đồng trinh có phong giấy hồng điều gửi mừng tuổi các cháu nhỏ. Người căn dặn: “Đồng chí Vũ Anh sẽ xuống làng chúc Tết các gia đình. Đại Lâm nhớ dẫn đi từng nhà, nếu thiếu nhà nào, Đại Lâm chịu trách nhiệm”.

– Dương Đại Lâm: Bác Hồ đến bản tôi, in trong cuốn Bác Hồ về nước, Hội Văn học nghệ thuật Cao Bằng, Cao Bằng, 1986, tr. 133.

Tháng 2, sau ngày 15

Nguyễn Ái Quốc tặng quà cho nữ đồng chí Nông Thị Trưng – cán bộ mới hoạt động thoát ly nhân Tết đầu tiên xa gia đình: một chiếc khăn mùi xoa có hoa đỏ và một chiếc còng gà luộc (theo phong tục Tày).

– Nông Thị Trưng: Chú Thu, in trong cuốn Avoóc Hồ, Nxb. Văn hoá dân tộc, 1977, tr. 57.

Tháng 2

Tác phẩm Lịch sử nước ta của Nguyễn Ái Quốc xuất bản lần đầu tiê3).

Bản diễn ca lịch sử này gồm 208 câu lục bát, trình bày lịch sử nước ta từ thời vua Hùng dựng nước (năm Nhâm Ngọ 2879 trước Công nguyên) đến năm 1945, tập trung chủ yếu vào lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm của nhân dân ta, nêu bật truyền thống yêu nước, bất khuất và đoàn kết của dân tộc.

Mở đầu tác phẩm, Người viết:

“Dân ta phải biết sử ta,

Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam.

Kể năm hơn bốn ngàn năm,

Tổ tiên rực rỡ, anh em thuận hoà”.

Người rút ra một kết luận có tính nguyên tắc, một bài học rất lớn, bài học đoàn kết:

“Dân ta xin nhớ chữ đồng:

Đồng tình, đồng sức, đồng lòng, đồng minh!”.

Cuối tác phẩm là mục: “Những năm quan trọng”, ghi những sự kiện lớn trong lịch sử dân tộc “Trước Tây lịch”, “Sau Tây lịch”, kết thúc bằng mốc lịch sử:

1945: Việt Nam độc lập.

– Tài liệu gốc lưu tại Bảo tàng Cách mạng Việt Nam.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 3, tr. 221-230.

Khoảng tháng 2

Nguyễn Ái Quốc cho gọi các đồng chí Lê Quảng Ba, Đức Thanh và Thế An đến chỉ cho đọc một đoạn nói về chống khủng bố cá nhân trong cuốn Lịch sử Đảng Cộng sản (b) Nga (do Người vừa dịch xong).

Đọc xong, Người bảo phải thảo luận, kiểm điểm xem việc Đức Thanh và Thế An giết tên mật thám Lều đúng hay sai, rồi cho phép ba đồng chí ra về.

Hôm sau, Người phê bình Lê Quảng Ba về việc cho các đồng chí Đức Thanh và Thế An giết tên Lều mà không báo cáo xin phép cấp trên.

– Lê Quảng Ba: Bác Hồ với đội vũ trang Cao Bằng, Tạp chí Lịch sử quân sự, số tháng 10-1987, tr. 85.

Tháng 3

Tại Lũng Hoài, Nguyễn Ái Quốc ở nhà một gia đình cơ sở 4). Mỗi khi gia đình sửa soạn nấu cháo ngô, Người thường đến ngồi bên cối giúp gia đình xay bột.

Ít ngày sau, Người đến hang Bó Thúng trong khu di tích thành nhà Mạc.

– Thúy Bạch: Trong vùng núi đá Lam Sơn, in trong cuốn Bác Hồ về nước, Hội Văn học nghệ thuật Cao Bằng, Cao Bằng, 1986, tr.192.

– Đặng Văn Cáp: Con đường dẫn tôi đến với Bác, in trong cuốn Bác Hồ về nước, Hội Văn học nghệ thuật Cao Bằng, Cao Bằng, 1986, tr. 60.

Khoảng tháng 3

Nguyễn Ái Quốc chỉ thị cho Tỉnh uỷ Cao Bằng phải mở rộng căn cứ địa, nối liền Cao Bằng với căn cứ địa Bắc Sơn, Vũ Nhai; xây dựng một hành lang chính trị vững chắc từ Cao Bằng về miền xuôi để giữ vững liên lạc trong mọi tình huống. Người nói: “Việc liên lạc là một việc quan trọng bậc nhất trong công tác cách mạng, vì chính nó quyết định sự thống nhất chỉ huy, sự phân phối lực lượng và do đó đảm bảo thắng lợi”. Từ chỉ thị này, “phong trào Nam tiến” đã ra đời và nhanh chóng phát triển mạnh mẽ.

– Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Một mảnh đất tự do, in trong cuốn Bác Hồ về nước, Hội Văn học nghệ thuật Cao Bằng, Cao Bằng, 1986, tr. 78.

Tháng 4, ngày 1

Bài Ca sợi chỉ của Nguyễn Ái Quốc, đăng trên báo Việt Nam độc lập. Bài ca gồm 20 câu lục bát, nội dung kêu gọi mọi tầng lớp nhân dân đoàn kết hợp lực trong Mặt trận Việt Minh.

“Hỡi ai con cháu Hồng Bàng,

Chúng ta phải biết kết đoàn mau mau.

Yêu nhau xin nhớ lời nhau,

Việt Minh hội ấy mau mau phải vào”.

– Báo Việt Nam độc lập, số 122, ngày 1-4-1942.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 3, tr. 231.

Tháng 4, ngày 21

Bài thơ Hòn đá 5) của Nguyễn Ái Quốc, đăng trên báo Việt Nam độc lập. Bằng thể thơ ba chữ, dùng hình ảnh chung sức vần hòn đá, Nguyễn Ái Quốc nhắc nhở mọi người phải bền sức, đồng lòng đánh đuổi Pháp, Nhật.

Đánh Nhật, Pháp.

Giành tự do,

Là việc khó,

Là việc to.

Nếu chúng ta

Biết đồng lòng

Thì việc đó

Quyết thành công.

– Báo Việt Nam độc lập, số 123, ngày 21-4-1942.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 3, tr. 232-233.

Tháng 5

Tại hang Kéo Quản6), sau khi nghe cán bộ báo cáo về bệnh đậu mùa đang hoành hành ở địa phương, Nguyễn Ái Quốc đã giới thiệu một bài thuốc chữa đậu mùa của người Trung Quốc và căn dặn cán bộ khi đi công tác nhớ phổ biến cho dân biết để chữa bệnh. Người nói: “Đây là một bệnh nguy hiểm không khác gì bọn Tây. Cần phải phòng ngừa ngay”.

– Trương Nam Hiến: Vào núi gặp lãnh tụ, in trong cuốn Bác Hồ về nước, Hội Văn học nghệ thuật Cao Bằng, Cao Bằng, 1986, tr. 217.

Tháng 6, ngày 24

Dọc lên vùng núi Lũng Dẻ, thuộc khu núi đá Lam Sơn, Nguyễn Ái Quốc tức cảnh đọc bài thơ chữ Hán: Thướng Sơn.

Lục nguyệt nhị thập tứ,

Thướng đáo thử sơn lai.

Cử đầu hồng nhật cận,

Đối ngạn nhất chi mai. 7)

– Đặng Văn Cáp: Con đường dẫn tôi đến với Bác, in trong cuốn Bác Hồ về nước, Hội Văn học nghệ thuật Cao Bằng, Cao Bằng, 1986, tr. 63.

– Thơ chữ Hán, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1990, tr. 14.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 3, tr. 234-235.

Khoảng tháng 6

Ở một địa điểm gần Lũng Lừa, vào những buổi tối, Nguyễn Ái Quốc hướng dẫn cho các đồng chí cán bộ 8) học tập Lịch sử Đảng Cộng sản (b) Nga.

– Trương Nam Hiến: Vào núi gặp lãnh tụ, in trong cuốn Bác Hồ về nước, Hội Văn học nghệ thuật Cao Bằng, Cao Bằng, 1986, tr. 224.

Khoảng tháng 6

Sau đợt công tác ở Hoà An, Nguyên Bình (Cao Bằng), Nguyễn Ái Quốc trở lại Pác Bó. Người cải trang thành một thầy lang, kiêm thầy cúng: mặc bộ quần áo chàm địa phương, chân đi giày vải, cuốn trên đầu một chiếc khăn to che lấp cả vầng trán cao, sau lưng đeo lủng lẳng một cái nón kiểu địa phương, tay chống gậy đi theo đồng chí liên lạc trong vai người đi đón thầy cúng, gánh sách cúng, hộp ấn gỗ, hộp bút lông, một cái thanh la nhỏ, mấy bó hương, một con gà nhỏ và một chai rượu. Người đã qua trạm gác của địch ở ngã ba Đôn Chươn9) (gần Nà Mạ) an toàn.

– Lê Quảng Ba: Bác về thăm lại Pác Bó, in trong cuốn Uống nước nhớ nguồn, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1973, tr. 153.

Khoảng tháng 6

Nguyễn Ái Quốc ở Nà Mạ một buổi. Người hỏi chuyện Kim Đồng, khuyên Kim Đồng cố gắng hơn nữa… Tối hôm đó, Kim Đồng hoàn thành nhiệm vụ đưa Nguyễn Ái Quốc về Pác Bó.

– Theo tài liệu của Nhà lưu niệm Kim Đồng, Hà Quảng, Cao Bằng.

Tháng 7, ngày 1

Bài thơ Con cáo và tổ ong của Nguyễn Ái Quốc, gồm 14 câu, đăng trên báo Việt Nam độc lập. Bài thơ nói về chuyện con cáo định lấy tổ ong ăn, song bầy ong đã túm lại đốt, “Cáo già đau quá phải sa xuống rồi”. Trong đoạn kết bài thơ, Người kêu gọi:

“Bây giờ ta thử so bì,

Ong còn đoàn kết, huống chi là người!

Nhật, Tây áp bức giống nòi,

Ta nên đoàn kết để đòi tự do”.

– Báo Việt Nam độc lập, số 130, ngày 1-7-1942.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 3, tr. 236.

Tháng 7, ngày 11

Bài thơ Tặng thống chế Pêtan10) của Nguyễn Ái Quốc gồm 8 câu thơ Đường luật, đăng trên báo Việt Nam độc lập, lên án Pêtanh phản bội đất nước, đầu hàng phát xít Đức:

… Bán nước lại còn khoe cứu nước,

Ô danh mà muốn được thơm danh.

– Báo Việt Nam độc lập, số 131, ngày 11-7-1942.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 3, tr. 237.

Tháng 7, cuối tháng

Trong thời gian chờ liên lạc để đi công tác Trung Quốc, Nguyễn Ái Quốc đã dạy cho một cán bộ 11) ở Pác Bó biết chữ trong vòng 20 ngày. Người nói: “Ta đi làm cách mạng thì phải làm cho đến thành công, sau đó còn phải bắt tay vào xây dựng đất nước. Muốn thế phải biết chữ, phải học văn hoá”.

– Dương Đại Lâm: Bác Hồ đến bản tôi, in trong cuốn Bác Hồ về nước, Hội Văn học nghệ thuật Cao Bằng, Cao Bằng, 1986, tr. 144.

Khoảng tháng 7

Nguyễn Ái Quốc chủ trương “Nam tiến” mở thêm đường liên lạc tuyến Cao Bằng – Lạng Sơn và tuyến Cao Bằng – Bắc Cạn – Thái Nguyên để liên lạc thuận tiện với Thường vụ Trung ương Đảng và tạo điều kiện phát triển cơ sở chính trị và lực lượng vũ trang.

– Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng Trung ương: Những sự kiện lịch sử Đảng (1920-1945), Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1976, t. 1, tr. 552-553.

Tháng 8, ngày 1

Bài thơ Nhóm lửa của Nguyễn Ái Quốc, gồm 26 câu, đăng trên báo Việt Nam độc lập. Bài thơ ví sự nghiệp cách mạng với việc nhóm lửa, phải trải qua “bước gian nan” để phát triển phong trào, bùng cháy khắp nơi. Lúc bấy giờ:

Lửa cách mạng sáng choang bờ cõi,

Chiếu lá cờ độc lập, tự do!

– Báo Việt Nam độc lập, số 133, ngày 1-8-1942.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 3, tr. 238-239.

Tháng 8, đầu tháng

Bài thơ Bài ca du kích của Nguyễn Ái Quốc, gồm 28 câu, kêu gọi các tầng lớp già, trẻ, lính, dân, đàn ông, đàn bà tham gia du kích, để cùng nhau đánh Tây, đánh Nhật:

Kẻ có súng dùng súng,

Kẻ có dao dùng dao;

Kẻ có cuốc dùng cuốc,

Người có cào dùng cào,

Thấy Tây cứ chém phứa,

Thấy Nhật cứ chặt nhào..

… Chúng nhất định thất bại

Mình sức càng dồi dào.

– Hồ Chí Minh: Thơ, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1970, tr. 42-43.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 3, tr. 244-245.

Tháng 8, ngày 11

Bài thơ Tặng Toàn quyền Đờc12) của Nguyễn Ái Quốc, đăng trên báo Việt Nam độc lập:

Non nước Rồng Tiên rõ mịt mù,

Lợi quyền phó mặc bố thằng Cu.

Đối dân Nam Việt thì lên mặt,

Gặp bọn Phù Tan13) chỉ đội khu 14)!

Về Pháp, không cơm e chết đói,

Ở đây, hút máu béo ni-nu.

Cũng như thống chế Pêtanh vậy,

Chú cứ cu cù được mãi ru!

– Báo Việt Nam độc lập, số 134, ngày 11-8-1942.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 3, tr. 240.

Tháng 8, ngày 13

Buổi tối, với tên mới Hồ Chí Minh, Nguyễn Ái Quốc lên đường đi Trung Quốc để liên lạc với các lực lượng cách mạng của người Việt Nam và lực lượng Đồng minh17.

– Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb. Chính trị quốc gia – Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 1994, tr. 86.

– Trần Dân Tiên: Hồ Chí Minh truyện. Bản dịch tiếng Hán của Trương Niệm Thức, Bát Nguyệt xuất bản xã, Thượng Hải, tháng 6-1949, tr. 120.

– Hồ Chí Minh: Ngục trung nhật ký. Bản chụp bút tích. Lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

Tháng 8, ngày 21

Bài Chơi giăng của Nguyễn Ái Quốc, gồm 16 câu, đăng trên báo Việt Nam độc lập, số 1315).

Bài thơ gồm hai thiên bát cú Đường luật, viết dưới hình thức “nhân nguyệt vấn đáp”. Thiên 1 là lời “Người hỏi trăng” vì sao “non nước tơi bời”, “nhân dân cực khổ” và “Nam Việt bao giờ thì giải phóng”. Thiên 2 là lời đáp của trăng:

“… Nước nhà giành lại nhờ tài sắt,

Sự nghiệp làm nên bởi chữ đồng.

Tổ chức, tuyên truyền càng rộng rãi,

Tức là cách mệnh chóng thành công”.

– Báo Việt Nam độc lập, số 135, ngày 21-8-1942.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 3, tr. 241.

Tháng 8, từ ngày 19 đến ngày 24

Hồ Chí Minh đi bộ trên đất Quảng Tây (Trung Quốc), vùng gần biên giới Việt – Trung, ngày nghỉ, đêm đi. Cùng đi có Lê Quảng Ba.

– Trần Dân Tiên: Hồ Chí Minh truyện. Bản dịch tiếng Hán của Trương Niệm Thức, Bát Nguyệt xuất bản xã, Thượng Hải, tháng 6-1949, tr. 120.

– Hoàng Tranh: Hồ Chí Minh với Trung Quốc, Nxb. Giải phóng quân, Bắc Kinh, 1984, tr. 81.

Tháng 8, ngày 25

Hồ Chí Minh đến Ba Mông thuộc huyện Tĩnh Tây và trú chân ở nhà Từ Vĩ Tam 16), một nông dân nghèo kết nghĩa anh em. Vì chỉ còn hai ngày nữa đến Tết Trung nguyên (14-7 âm lịch) là tết lớn của địa phương, gia đình Từ Vĩ Tam tha thiết lưu giữ, Người nán lại ở đây hai ngày.

– Trả lời phỏng vấn của Từ Vĩ Tam, ngày 15-6-1981. Dẫn theo Hoàng Tranh: Hồ Chí Minh với Trung Quốc, Nxb. Giải phóng quân, Bắc Kinh, 1984, tr. 82.

Tháng 8, ngày 26

Buổi tối, Hồ Chí Minh ăn Tết Trung nguyên với những người nông dân Trung Quốc quen biết tại nhà Từ Vĩ Tam 17). Bàn đến việc ai sẽ đưa đường cho Hồ Chí Minh đến Bình Mã18), Dương Đào19) đã hăng hái nhận trách nhiệm.

– Trả lời phỏng vấn của Từ Vĩ Tam, ngày 15-6-1981. Dẫn theo Hoàng Tranh: Hồ Chí Minh với Trung Quốc, Nxb. Giải phóng quân, Bắc Kinh, 1984, tr. 82.

Tháng 8, ngày 27

Sáng sớm, Hồ Chí Minh lên đường đi Bình Mã, có Dương Đào cùng đi để dẫn đường (Lê Quảng Ba ở lại nhà Từ Vĩ Tam). Hai người đến phố Túc Vinh20) (huyện Thiên Bảo, Quảng Tây) thì bị quân tuần cảnh ở trụ sở của Quốc dân Đảng bắt giữ21).

– Báo cáo của Trương Phát Khuê ngày 23-1-1944. Dẫn theo Hoàng Tranh: Hồ Chí Minh với Trung Quốc, Nxb. Giải phóng quân, Bắc Kinh, 1984, tr. 82-83.

– Cục Công an huyện Đức Bảo22), Quảng Tây: Báo cáo điều tra tình hình Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà Hồ Chí Minh bị bắt năm 1942 ở phố Túc Vinh huyện chúng tôi, ngày 10-5-1964. Dẫn theo Hoàng Tranh: Hồ Chí Minh với Trung Quốc, Nxb. Giải phóng quân, Bắc Kinh, 1984, tr. 83.

Tháng 8, ngày 28

Từ Túc Vinh, Hồ Chí Minh cùng Dương Đào bị áp giải đến huyện Thiên Bảo.

– Cục Công an huyện Đức Bảo, Quảng Tây: Báo cáo điều tra tình hình Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà Hồ Chí Minh bị bắt năm 1942 ở phố Túc Vinh huyện chúng tôi, ngày 10-5-1964. Dẫn theo Hoàng Tranh: Hồ Chí Minh với Trung Quốc, Nxb. Giải phóng quân, Bắc Kinh, 1984, tr. 83.

Tháng 8, ngày 29

Hồ Chí Minh bị giải từ Thiên Bảo đến huyện lỵ Tĩnh Tây23) và bị Quốc dân Đảng Trung Quốc giam trong nhà giam C.H.S.24) hơn hai tuần, ngày mang gông, đêm cùm chân.

– Hoàng Tranh: Hồ Chí Minh với Trung Quốc, Nxb. Giải phóng quân, Bắc Kinh, 1984, tr. 83.

– Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb. Chính trị quốc gia – Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 1994, tr. 86.

Tháng 8, ngày 30

Trong nhà giam C.H.S., Hồ Chí Minh được Vương Tích Cơ25) đến thăm, đem cơm. Qua Vương Tích Cơ, Người gửi được một lá thư (tiếng Việt) viết bằng bút chì cho Lê Quảng Ba để báo tin.

– Trả lời phỏng vấn của Vương Tích Cơ, ngày 24-6-1981. Dẫn theo Hoàng Tranh: Hồ Chí Minh với Trung Quốc, Nxb. Giải phóng quân, Bắc Kinh, 1984, tr. 83-84.

Tháng 8, ngày 29 đến tháng 9, ngày 24

Hồ Chí Minh bị giam tại nhà lao huyện Tĩnh Tây. Người viết 22 bài thơ: Bài 1:

“Thân thể ở trong lao,

Tinh thần ở ngoài lao;

Muốn nên sự nghiệp lớn,

Tinh thần càng phải cao” a).

Bài 2: Khai quyển; bài 3: Tại Túc Vinh nhai bị khấu lưu (Bị bắt giữ ở phố Túc Vinh); bài 4: Nhập Tĩnh Tây huyện ngục (Vào nhà ngục huyện Tĩnh Tây); bài 5 – 6 – 7: Thế lộ nan (Đường đời hiểm trở, 3 bài); bài 8 – 9: Tảo (Buổi sớm, 2 bài); bài 10: Ngọ (Buổi trưa); bài 11: Vấn thoại(Lời hỏi); bài 12: Ngọ hậu (Quá trưa); bài 13: Vãn (Chiều hôm); bài 14: Tù lương (Cơm tù); bài 15: Nạn hữu xuy địch (Người bạn tù thổi sáo); bài 16 – 17: Cước áp (Cái cùm, 2 bài); bài 18 – 19 – 20: Học dịch kỳ (Học đánh cờ, 3 bài); bài 21: Vọng nguyệt (Ngắm trăng); bài 22:Phân thuỷ (Chia nước).

– Hồ Chí Minh: Ngục trung nhật ký18. Bản chụp bút tích, tr. 1-8. Lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr.265-289.

Tháng 9, ngày 25 (Tết Trung thu)

Tại nhà giam Tĩnh Tây, Hồ Chí Minh viết hai bài thơ: Bài 23 – 24: Trung thu (Trung thu).

– Hồ Chí Minh: Ngục trung nhật ký. Bản chụp bút tích, tr. 8. Lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr. 290.

Tháng 9, ngày 26 đến tháng 10, ngày 9

Hồ Chí Minh viết các bài thơ: Bài 25: Đổ (Đánh bạc); bài 26: Đổ phạm (Tù cờ bạc); bài 27: Nạn hữu Mạc mỗ (Bạn tù họ Mạc); bài 28: Nạn hữu nguyên chủ nhiệm L. (Bạn tù L. nguyên là chủ nhiệm).

– Hồ Chí Minh: Ngục trung nhật ký. Bản chụp bút tích, tr. 9-10. Lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr. 292-296.

Tháng 10, ngày 10

Hồ Chí Minh bị bọn Quốc dân Đảng Trung Quốc giải từ Tĩnh Tây sang Thiên Bảo26). Ngày này cũng chính là ngày Quốc khánh của Trung Hoa dân quốc. Nhân đó, Người viết bài thơ 29: Song thập nhật giải vãng Thiên Bảo (Tết Song thập bị giải đi Thiên Bảo).

– Hồ Chí Minh: Ngục trung nhật ký. Bản chụp bút tích, tr. 10. Lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr. 297.

Tháng 10, ngày 11 đến tháng 11, ngày 1

Hồ Chí Minh viết các bài thơ: Bài 30: Tẩu lộ (Đi đường); bài 31: Mộ (Chiều tối); bài 32: Dạ túc Long Tuyền27) (Đêm ngủ ở Long Tuyền); bài 33: Điền Đông (Điền Đông); bài 34: Sơ đáo Thiên Bảo ngục (Mới đến nhà lao Thiên Bảo); bài 35: Nạn hữu chi thê thám giam (Vợ người bạn tù đến nhà lao thăm chồng); bài 36: Các báo: Hoan nghênh Uyki28) đại hội (Các báo đăng tin: Hội họp lớn hoan nghênh Uyki); bài 37:Tự miễn (Tự khuyên mình); bài 38: Dã cảnh (Cảnh đồng nội); bài 39: Chúc than (Hàng cháo); bài 40: Quả Đức29) ngục (Nhà lao Quả Đức); bài 41: Long An Lưu sở trưởng (Sở trưởng Long An b)  họ Lưu); bài 42 – 43: Tảo giải (Giải đi sớm, 2 bài).

– Hồ Chí Minh: Ngục trung nhật ký. Bản chụp bút tích, tr. 10-15. Lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr. 298-315.

Tháng 11, ngày 2

Hồ Chí Minh bị giải đến nhà ngục Đồng Chính. Người viết bài thơ 44: Đồng Chính (Thập nhất nguyệt nhị nhật) (Đồng Chínhc) (ngày 2 tháng 11)).

– Hồ Chí Minh: Ngục trung nhật ký. Bản chụp bút tích, tr. 16. Lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr. 316.

Tháng 11, từ ngày 3 đến ngày 10

Bị giam ở nhà ngục Đồng Chính, Hồ Chí Minh viết các bài thơ: Bài 45: Nạn hữu đích chỉ bị (Chiếc chăn giấy của người bạn tù); bài 46: Dạ lãnh (Đêm lạnh); bài 47: Bang (Dây trói); bài 48: Lạc liễu nhất chích nha (Rụng mất một chiếc răng); bài 49: Long An – Đồng Chính (Long An – Đồng Chính); bài 50: Nhai thượng (Trên đường phố); bài 51: Lộ thượng (Trên đường); bài 52: Trưng binh gia quyến (Gia quyến người bị bắt lính); bài 53: Giải trào (Pha trò).

Sau đó, từ khi bị giải đi Nam Ninh cho đến trước ngày 11-11, Người viết các bài thơ: Bài 54: Vãng Nam Ninh30) (Đi Nam Ninh); bài 55 – 56:Cảnh binh đảm trư đồng hành (Cảnh binh khiêng lợn cùng đi, 2 bài); bài 57: Điệt lạc (Hụt chân ngã); bài 58: Bán lộ tháp thuyền phó Ung31)(Giữa đường đáp thuyền đi Ung Ninh); bài 59: Nam Ninh ngục (Nhà ngục Nam Ninh); bài 60: Nạp muộn (Buồn bực); bài 61: Thính kê minh(Nghe gà gáy); bài 62: Nhất cá đổ phạm ngạnh liễu (Một người tù cờ bạc “chết cứng”); bài  63: Hựu nhất cá… (Lại một người nữa…); bài 64: Cấm yên (Chỉ yên đích) (Cấm hút thuốc (thuốc lá)); bài 65: Dạ bán văn khốc phu (Nửa đêm nghe tiếng khóc chồng); bài 66: Hoàng hôn(Hoàng hôn); bài 67: Công kim (Tiền công); bài 68: Thuỵ bất trước (Ngủ không được); bài 69: Ức hữu (Nhớ bạn); bài 70: Thế nạn hữu mẫn tả báo cáo (Viết hộ báo cáo cho các bạn tù); bài 71: Lại sang (Ghẻ lở); bài 72: Văn thung mễ thanh (Nghe tiếng giã gạo).

– Hồ Chí Minh: Ngục trung nhật ký. Bản chụp bút tích, tr. 16-25. Lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr. 317-350.

Tháng 11, ngày 11

Hồ Chí Minh viết các bài thơ 73-74-75: Song thập nhất, I-II-III (Ngày 11 tháng 1132), I-II-III).

– Hồ Chí Minh: Ngục trung nhật ký. Bản chụp bút tích, tr. 25-26. Lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr. 351-353.

Tháng 11, ngày 12

Tại nhà ngục Nam Ninh, Hồ Chí Minh viết các bài thơ: Bài 76: Cảnh báo33) (Thập nhất nguyệt thập nhị nhật) (Báo động (Ngày 12 tháng 11)); bài 77: Chiết tự (Chiết tự34)); bài 78: “Lữ quán” (“Quán trọ”).

– Hồ Chí Minh: Ngục trung nhật ký. Bản chụp bút tích, tr. 26. Lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr. 354-357.

Tháng 11, ngày 13

Trong nhà ngục Nam Ninh, Hồ Chí Minh viết bài thơ 79: Tảo tình (Nắng sớm)35).

– Hồ Chí Minh: Ngục trung nhật ký. Bản chụp bút tích, tr. 27. Lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr. 358.

Tháng 11, ngày 14

Tại nhà ngục Nam Ninh, Hồ Chí Minh viết bài thơ 80: “Việt hữu tao động. Ung báo, Xích đạo tấn 14-11 (“Việt Nam có bạo động”. Tin Xích đạo, trên báo Ung Ninh 14-11).

– Hồ Chí Minh: Ngục trung nhật ký. Bản chụp bút tích, tr. 28. Lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr. 359.

Tháng 11, từ ngày 15 đến ngày 17

Tại nhà ngục Nam Ninh, Hồ Chí Minh viết bài thơ 81: Anh phỏng Hoa đoàn (Đoàn đại biểu Anh sang thăm Trung Hoa).

– Hồ Chí Minh: Ngục trung nhật ký. Bản chụp bút tích, tr. 28. Lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr. 360.

Tháng 11, ngày 18

Hồ Chí Minh bị giải từ Nam Ninh đi Vũ Minh36). Người viết bài thơ 82: Giải vãng Vũ Minh 18-11 (Giải đi Vũ Minh 18-11).

– Hồ Chí Minh: Ngục trung nhật ký. Bản chụp bút tích, tr. 28. Lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr. 361-362.

Tháng 11, ngày 19 đến ngày 21

Hồ Chí Minh viết các bài thơ: Bài 83: Bào Hương cẩu nhục (Thịt chó ở Bào Hương37)); bài 84: Trúc lộ phu (Phu làm đường); bài 85: Ngục đinh thiết ngã chi sĩ đích38) (Lính ngục đánh cắp mất chiếc gậy của ta); bài 86: Công lý bi (Cột cây số).

– Hồ Chí Minh: Ngục trung nhật ký. Bản chụp bút tích, tr. 29. Lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr. 363-367.

Tháng 11, ngày 21

Bài thơ Trẻ chăn trâu, in trên báo Việt Nam độc lập, gồm 24 câu lục bát nói về cảnh khổ cực của trẻ em chăn trâu, do Nhật, Tây “Ra tay vơ vét, đọa đày chúng ta”. Người kêu gọi mọi người lớn, bé “Cùng nhau đánh đuổi Nhật, Tây”, các em vào Hội nhi đồng cứu quốc – một tổ chức của Mặt trận Việt Minh.

– Báo Việt Nam độc lập, số 144, ngày 21-11-1942.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 3, tr. 242-243.

Tháng 11, ngày 22

Tại nhà ngục Tân Dương39), Hồ Chí Minh viết bài thơ 87: Tân Dương ngục trung hài 22-11 (Cháu bé trong ngục Tân Dương 22-11).

– Hồ Chí Minh: Ngục trung nhật ký. Bản chụp bút tích, tr. 30. Lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr. 368-369.

Tháng 11, từ ngày 23 đến ngày 30

Trước khi bị giải từ nhà ngục Tân Dương đến nhà ngục Thiên Giang40), Hồ Chí Minh viết các bài thơ 88-89: Ký Ni Lỗ (Gửi Nêru, 2 bài); bài 90: Đăng quang phí (Tiền đèn); bài 91: Ngục trung sinh hoạt (Sinh hoạt trong tù); bài 92: Quách tiên sinh (Tiên sinh họ Quách); bài 93: Mạc ban trưởng (Trưởng ban họ Mạc).

– Hồ Chí Minh: Ngục trung nhật ký. Bản chụp bút tích, tr. 31-32. Lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr. 370-376.

Tháng 12, ngày 1

Hồ Chí Minh bị giải đến nhà ngục Thiên Giang. Tại đây, Người viết bài thơ 94: Thiên Giang ngục 1-12 (Nhà lao Thiên Giang 1-12).

– Hồ Chí Minh: Ngục trung nhật ký. Bản chụp bút tích, tr. 33. Lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr. 377.

Tháng 12, từ ngày 2 đến ngày 8

Từ nhà ngục Thiên Giang, Hồ Chí Minh bị giải đi Liễu Châu41). Chặng đường Thiên Giang – Lai Tân42), sau một đoạn đường bị giải đi bộ, từ Hợp Sơn đến Lai Tân, Người bị giải đi trên một toa xe lửa chở than.

Trong những ngày này, Người viết các bài thơ: Bài 95: Tháp hoả xa vãng Lai Tân (Đáp xe lửa đi Lai Tân); bài 96: Tha tưởng đào (Anh ấy muốn trốn); bài 97: Lai Tân (Lai Tân).

– Hồ Chí Minh: Ngục trung nhật ký. Bản chụp bút tích, tr. 33. Lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr. 378-380.

Tháng 12, ngày 9

Hồ Chí Minh bị giải đến Liễu Châu. Người viết bài thơ 98: Đáo Liễu Châu 9-12 (Đến Liễu Châu 9-12).

– Hồ Chí Minh: Ngục trung nhật ký. Bản chụp bút tích, tr. 34. Lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr. 381.

Tháng 12, từ ngày 10 đến cuối tháng

Tại Liễu Châu, sau một thời gian chờ đợi, Hồ Chí Minh bị giải đến một cơ quan chỉ huy của Quốc dân Đảng Trung Quốc và được biết phải đến Quế Lâm. Trong những ngày này, Người viết các bài thơ: bài 99: Cửu bất đệ giải (Giam lâu không được chuyển); bài 100: Dạ bán(Nửa đêm); bài 101: Liễu Châu ngục (Nhà ngục Liễu Châu); bài 102: Đáo trưởng quan bộ (Đến dinh trưởng quan); bài 103: Tứ cá nguyệt liễu (Bốn tháng rồi); bài 104: Bệnh trọng (Ốm nặng).

– Hồ Chí Minh: Ngục trung nhật ký. Bản chụp bút tích, tr. 34-35. Lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr. 382-389.

Trong năm

Sách Chiến thuật du kích19, quyển II do Nguyễn Ái Quốc biên soạn được Việt Minh xuất bản. Sách gồm hai phần: Mục đích của chiến thuật du kích; sự chiến đấu của đội du kích. Sách mô tả khái quát về những nguyên tắc chiến đấu, cách thức chiến đấu của du kích để đánh thắng địch.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 3, tr. 247-262

___________________________

1)  Học viên hầu hết là cán bộ lãnh đạo của Tỉnh uỷ Cao Bằng, như: Hoàng Đức Thạc (tức Lã), Hoàng Sâm, Lê Quảng Ba, Bình Dương, Quảng Hưng, Lý Công (tức Nông Văn Quang), Xích Thắng (tức Dương Mạc Thạch) và Bằng Giang. Để giữ bí mật, lớp học được tiến hành về ban đêm, không có đèn đóm, sách vở.

Nguyễn Ái Quốc trực tiếp soạn bài và giảng dạy (đồng chí Vũ Anh làm trợ lý giảng dạy). Nội dung học tập gồm ba vấn đề: Sơ lược về chủ nghĩa cộng sản; Điều lệ Đảng và Lịch sử Đảng Cộng sản (b) Nga.

Ngoài ra còn có bài giảng về chiến thuật du kích. Lớp huấn luyện kéo dài khoảng một tuần lễ (B.T).

2) Tết Nguyên đán Nhâm Ngọ vào ngày 15-2-1942 (B.T).

3) Theo Hồi ký của các đồng chí cùng làm việc với đồng chí Nguyễn Ái Quốc ở Pác Bó, Người viết cuốn Lịch sử nước ta vào khoảng nửa sau năm 1941. Tác phẩm này do Việt Minh tuyên truyền Bộ xuất bản lần thứ nhất tháng 2-1942 (B.T).

4) Nhà cụ Mã Sơn, bố đồng chí Lén, một đồng chí cốt cán lúc đó. Vùng này có dãy núi đá chạy dài, địa thế khá hiểm trở, có nhiều hang động có thể dùng làm nơi trú ẩn của cán bộ cách mạng. Sau khi tới đây, Nguyễn Ái Quốc đặt tên vùng này là Lam Sơn, gợi nhớ đến khu căn cứ của nghĩa quân Lê Lợi khi xưa (B.T).

5)  Bài thơ này đăng trên báo Việt Nam độc lập, số 123, ra ngày 21-4-1942, không có đầu đề (B.T).

6) Hang Kéo Quảng bấy giờ thuộc tổng Ngần, xã Gia Bằng, nay là xã Minh Tâm, huyện Nguyên Bình, còn gọi là hang Các Mác (B.T).

7) Dịch thơ: Lên núi:

Hai mươi tư tháng sáu,

Lên ngọn núi này chơi.

Ngẩng đầu: mặt trời đỏ,

Bên suối một nhành mai.

(Bản dịch thơ của Tố Hữu) (B.T).

8) Các đồng chí Vũ Anh, Đặng Văn Cáp, Hoàng Văn Lộc, Vân Trình, Bình Dương (tức Khoa), Hồng My (tức Trương Nam Hiến), Xích Thắng (tức Dương Mạc Thạch) (B.T).

9) Đôn Chương là địa danh thuộc huyện Hà Quảng, nằm ở phía bắc thị xã Cao Bằng, trên đường đi Pác Bó, cách Cao Bằng 45 km. Từ Đôn Chương đi lên hướng bắc là Nà Mạ, rồi mới đến Pác Bó (B.T).

10)  Pêtanh (Pétain) (1856-1951), Thống chế Pháp (1918), trong Chiến tranh thế giới thứ nhất chỉ huy quân đội Pháp chống Đức ở mặt trận Đông Bắc. Từ năm 1940 đến năm 1944, đứng đầu chính phủ Visi (Vichy), đầu hàng và hợp tác với Đức. Năm 1945, bị toà án Pháp tuyên án tử hình về tội phản quốc, sau giảm xuống tù chung thân (B.T).

11) Đồng chí Dương Đại Phong (là anh đồng chí Dương Đại Lâm) (B.T).

12)  Đờcu (Jean Decoux), Thuỷ sư đô đốc, Toàn quyền Pháp ở Đông Dương từ ngày 30-8-1940. Theo chủ trương của chính phủ Pháp, do Pêtanh cầm đầu, Đờcu thi hành chính sách đầu hàng, dâng nước ta cho Nhật. Y bị Nhật tống giam trong cuộc đảo chính ngày 9-3-1945(B.T).

13)  Phù Tang: nước Nhật (B.T).

14)  Đội khu: đội đít, chỉ việc Toàn quyền Đờcu khuất phục, bợ đỡ quân phiệt Nhật (B.T).

15) Trước khi đi, Người đã viết sẵn nhiều bài, giao lại cho đồng chí Phạm Văn Đồng đăng dần trên báo Việt Nam độc lập (B.T).

16) Đầu những năm 40 của thế kỷ XX, nhà Từ Vĩ Tam là nơi trú chân tin cậy của những người cách mạng Việt Nam thường qua lại vùng này, cũng như nhà bố con Trương Đình Duy, Trương Kỳ Siêu ở Long Lâm, nhà Nông Hữu Phong ở Cừ Dương, nhà Trương Quốc Thuỵ ở Mạch Ma, nhà bố con Lâm Bích Phong – Lâm Đại Phàm ở Vĩnh Lao… Theo Từ Vĩ Tam, khoảng hơn 4 giờ chiều, Hồ Chí Minh đến, lưng đeo một túi lưới, tay cầm gậy, mình mặc chiếc áo nâu chéo vạt, đã để râu, thoáng trông có vẻ như một thầy địa lý phong thuỷ ở nông thôn. Người cho biết sẽ đi bộ đến Bình Mã rồi đáp ô tô đi Trùng Khánh để gặp một yếu nhân Trung Quốc (B.T).

17) Ngoài Từ Vĩ Tam còn có Vương Tích Cơ, Hoàng Đạt Hán, Hoàng Đức Quyền và Dương Đào (B.T).

18)  Bình Mã, tức trấn Bình Mã, huyện lỵ huyện Điền Đông (Quảng Tây) (B.T).

19) Dương Đào, còn có tên khác là Dương Thuần Cương, một thanh niên nông dân người dân tộc Choang, lúc này chưa đầy 20 tuổi. Khi dẫn đường cho Hồ Chí Minh từ Tĩnh Tây đi Bình Mã, Dương Đào bị bắt giữ cùng với Hồ Chí Minh ở Túc Vinh, sau đó cũng bị giải theo Người qua các nhà tù Quảng Tây. Trong Ngục trung nhật ký, Hồ Chí Minh dành riêng một bài nói về Dương Đào (B.T).

20) Túc Vinh, cách huyện lỵ Đức Bảo 20 km về phía đông (B.T).

21) Nguyên nhân bị bắt giữ, theo báo cáo của Trương Phát Khuê, Tư lệnh Đệ tứ chiến khu của Quốc dân Đảng lúc đó, là:

Khi kiểm tra căn cước, tuần cảnh phát hiện ra rằng ngoài Chứng minh thư của “Quốc tế phản xâm lược hiệp hội Việt Nam phân hội” ra, Hồ Chí Minh còn mang theo Thẻ hội viên đặc biệt của “Quốc tế tân văn xã”, và Giấy thông hành của quân dụng của Văn phòng tư lệnh Đệ tứ chiến khu cấp, v.v.. Tất cả giấy tờ đều cấp năm 1940, đã quá thời hạn sử dụng. Chúng nghi là gián điệp nên đã bắt giữ (B.T).

22) Huyện Đức Bảo, trước năm 1951, là hai huyện Thiên Bảo và Kính Đức. Đường từ Tĩnh Tây đến Điền Đông để đi Trùng Khánh phải qua đất Thiên Bảo. Huyện lỵ Đức Bảo đặt tại huyện lỵ Thiên Bảo cũ (B.T).

23)  Chị gái của Từ Vĩ Tam trên đường đi từ Ba Mông đến Đỗ An tình cờ gặp Hồ Chí Minh và Dương Đào bị giải đi như vậy, liền quay về báo tin. Vương Tích Cơ được cử đi lên huyện lỵ ngay ngày hôm sau để nghe ngóng tin tức và tìm cách giúp đỡ. Huyện trưởng Tĩnh Tây với Hồ Chí Minh có biết nhau từ trước, từng gặp nhau ở Quế Lâm, nhưng y từ chối gặp Người, mà chỉ gửi điện báo lên cấp trên và không được trả lời (B.T).

24) Nhà giam C.H.S. trong tiếng Hán có tên là “Chuyên viên công thự câu lưu sở” (B.T).

25) Vương Tích Cơ là một nông dân ở Ba Mông, một trong những người kết nghĩa anh em với những người cách mạng Việt Nam. Vương có người quen làm cai ngục nên vào thăm dễ dàng. Vương còn dặn Hồ Chí Minh nếu cần gì, có thể nhắn ra qua người ấy (B.T).

a) Trong nguyên bản, bốn câu thơ này không có đầu đề, chép ở ngoài bìa tập Ngục trung nhật ký cùng hình vẽ hai tay bị xiềng, có lẽ được tác giả coi như một lời đề từ cho toàn tập (B.T).

26)  Thiên Bảo, tên một huyện cũ ở Quảng Tây, ở giữa hai huyện Tĩnh Tây và Điền Đông. Năm 1951, huyện Thiên Bảo hợp nhất với huyện Kính Đức thành huyện Đức Bảo (B.T).

27)  Long Tuyền, theo nhà sử học Hoàng Tranh (Trung Quốc) viết trong cuốn Hồ Chí Minh ngục trung thi chú giải (Quảng Tây Giáo dục xuất bản xã, tháng 10-1992), thì địa danh này chính tên là Long Xuyến, một thôn của xã Túc Vinh, huyện Đức Bảo. Để hài âm, nên tác giả bài thơ đã viết thành Long Tuyền. Thôn này nằm bên đường cái đi huyện Điền Đông, cách huyện lỵ Đức Bảo (lúc bấy giờ là huyện lỵ Thiên Bảo) 36 km, cách huyện lỵ Điền Đông 49 km. Ngày trước, đi bộ từ Thiên Bảo đến Điền Đông, khách bộ hành thường phải nghỉ qua đêm ở đây (B.T).

28)  Uyki (Wendell Willkie), đại biểu Mỹ trong Đồng minh chống phát xít, đến thăm Trùng Khánh, nơi Chính phủ Quốc dân Đảng (Trung Quốc) đóng. Lúc Uyki đi qua Đệ tứ chiến khu, nhà đương cục đã tổ chức hội họp chiêu đãi. Bác Hồ bấy giờ cũng là thành viên của Phân hội Việt Nam Hiệp hội quốc tế chống xâm lược, cũng là đồng minh của Trung Quốc, cũng tới Trùng Khánh. Nhưng giới cầm quyền Trùng Khánh lại bắt giam Người (B.T).

29)  Quả Đức, tên huyện. Từ năm 1951, huyện Quả Đức hợp nhất với huyện Bình Trị thành huyện Bình Quả. Huyện lỵ Quả Đức cách huyện lỵ Điền Đông 60 km, cách Nam Ninh 137 km (B.T).

b)  Long An: tên một huyện ở lưu vực sông Hữu Giang (Quảng Tây). Huyện lỵ Long An cách huyện lỵ Bình Quả 37 km, cách Nam Ninh 100 km (B.T).

c) Đồng Chính: tên một huyện cũ của Quảng Tây. Huyện lỵ Đồng Chính cách huyện lỵ Long An 30 km và cách Nam Ninh 50 km. Năm 1951, huyện Đồng Chính hợp nhất với hai huyện Phù Nam và Tuy Lộc thành huyện Phù Tuy. Huyện lỵ Đồng Chính trước kia nay là thị trấn Trung Đông của huyện Phù Tuy (B.T).

30)  Nam Ninh: tỉnh lỵ của tỉnh Quảng Tây (B.T).

31) Ung, một biệt danh của Nam Ninh. Hai sông Tả giang và Hữu giang hội lưu tại phía tây Nam Ninh thành sông Úc giang. Đoạn Úc giang chảy ngang qua thành phố Nam Ninh gọi là Ung giang, cho nên Nam Ninh còn có tên là Ung châu, gọi tắt là Ung (B.T).

32)  Ngày 11 tháng 11 (Song thập nhất): ngày kỷ niệm chấm dứt cuộc Chiến tranh thế giới thứ nhất 1914-1918 (B.T).

33)  Báo động có máy bay giặc Nhật (B.T).

34)  Chiết tự, một lối chơi chữ khá phổ biến ở Trung Quốc. Người ta phân giải hay tổ hợp các bộ thủ trong một chữ để thành chữ mới, có ý nghĩa khác với ý nghĩa ban đầu. Trình độ Hán học của Hồ Chí Minh rất cao, nên cũng rất thạo trò chơi chiết tự này (B.T).

35)  Trong nguyên tác, bài thơ này không ghi ngày tháng cụ thể nhưng đặt giữa hai bài thơ được ghi rõ ngày tháng sáng tác là ngày 12-11 và ngày 14-11. Căn cứ vào nội dung và trình tự của các bài, có thể phỏng đoán rằng bài thơ Tảo tình (Nắng sớm) viết trong buổi sáng ngày 13, còn hai bài Chiết tự và “Lữ quán” thuộc ngày hôm trước 12-11. Nay tạm ghi như trên (B.T).

36) Vũ Minh, tên huyện. Huyện lỵ Vũ Minh cách Nam Ninh 43 km về phía bắc (B.T).

37) Bào Hương, tên một thôn trấn nằm bên đường cái từ huyện Vũ Minh đi huyện Tân Dương, nơi có món thịt chó khá nổi tiếng (B.T).

38)  Sĩ – đích, phiên âm tiếng Anh “stick” có nghĩa là cái gậy (B.T).

39) Tân Dương, tên huyện (Quảng Tây). Đường đi bộ từ Nam Ninh đến Quế Lâm phải qua Tân Dương (B.T).

40) Thiên Giang, một thị trấn nhỏ của huyện Lai Tân (Quảng Tây), cách huyện lỵ Tân Dương 49 km về phía bắc, cách huyện lỵ Lai Tân 42km (B.T).

41)  Liễu Châu, một thành phố ở phía bắc của Quảng Tây, nơi đặt Bộ Tư lệnh Đệ tứ chiến khu (B.T).

42) Lai Tân, tên một huyện của Quảng Tây, cách Thiên Giang 49 km, cách Liễu Châu 80 km (B.T).

Nguồn: dangcongsan.vn
Vkyno (st)

Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử – Tập 2 (Năm 1941)

Tháng 1, ngày 1

Nguyễn Ái Quốc ở làng Tân Khư (Tĩnh Tây, Quảng Tây, Trung Quốc).

– Đặng Văn Cáp: Con đường dẫn tôi đến với Bác, in trong cuốn Bác Hồ về nước, Hội Văn học nghệ thuật Cao Bằng, Cao Bằng, 1986, tr. 53.

Tháng 1, khoảng ngày 5

Đồng chí Lôi (Hoàng Văn Thụ)1) được Thường vụ Trung ương cử sang Tĩnh Tây gặp Nguyễn Ái Quốc để báo cáo tình hình trong nước, những công tác đã thực hiện, việc chuẩn bị Hội nghị Trung ương lần thứ tám và đề nghị Người nên về nước theo hướng Cao Bằng vì trình độ giác ngộ của nhân dân vùng biên giới này cao, cán bộ lãnh đạo ở đây khá vững vàng.

– Đặng Văn Cáp: Con đường dẫn tôi đến với Bác, in trong cuốn Bác Hồ về nước, Hội Văn học nghệ thuật Cao Bằng, Cao Bằng, 1986, tr. 53.

– Vũ Anh: Những ngày gần Bác, in trong cuốn Bác Hồ về nước, Hội Văn học nghệ thuật Cao Bằng, Cao Bằng, 1986, tr. 23.

Tháng 1, khoảng ngày 6

Nguyễn Ái Quốc cùng với Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Phùng Chí Kiên và Đặng Văn Cáp được Hoàng Sâm đưa đi dọc theo đường Long Lâm qua Nậm Bo xuống Nậm Quang, một làng ở sát biên giới Việt – Trung.

– Đặng Văn Cáp: Con đường dẫn tôi đến với Bác, in trong cuốn Bác Hồ về nước, Hội Văn học nghệ thuật Cao Bằng, Cao Bằng, 1986, tr. 54.

Tháng 1, đầu tháng

Tại làng Nậm Quang (Tĩnh Tây, Quảng Tây, Trung Quốc), Nguyễn Ái Quốc tổ chức lớp học và trực tiếp huấn luyện chính trị cho 43 cán bộ cách mạng Việt Nam. Cộng sự của Người có Phùng Chí Kiên, Vũ Anh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp…

Chương trình huấn luyện gồm ba phần chính, nhằm chuẩn bị thành lập mặt trận dân tộc rộng rãi ở nước ta:

– Tình hình thế giới và trong nước.

– Tổ chức đoàn thể quần chúng.

– Cách điều tra, tuyên truyền, tổ chức, huấn luyện và đấu tranh cách mạng.

(Các tài liệu huấn luyện do Người tổ chức biên soạn, sau in litô thành sách nhan đề Con đường giải phóng).

– Vũ Anh: Những ngày gần Bác, in trong cuốn Đầu nguồn, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1977, tr. 247-248.

– Lê Quảng Ba: Bác Hồ về nước, in trong cuốn Avoóc Hồ, Nxb. Văn hóa dân tộc, 1977, tr. 10-12.

– Bằng Giang: Lớp huấn luyện đầu tiên, in trong cuốn Bác Hồ ở Việt Bắc, Nxb. Việt Bắc, 1975, tr. 21-24.

Tháng 1, đầu tháng

Sau hôm khai giảng lớp chính trị, Nguyễn Ái Quốc cùng tất cả các học viên đi lấy củi giúp dân. Ngay từ những ngày đầu của lớp học, Người căn dặn học viên kỹ lưỡng về năm điều nên làm và năm điều nên tránh đối với dân:

Năm điều nên làm là:

1. Giúp dân những công việc thiết thực hàng ngày.

2. Tìm hiểu phong tục tập quán, nghiêm túc chấp hành điều kiêng.

3. Học tiếng địa phương, dạy hát, dạy chữ, gây tình cảm tốt với dân.

4. Tuỳ nơi, tuỳ lúc mà tuyên truyền cách mạng cho thích hợp.

5. Làm cho dân thấy mình là người đứng đắn, chăm công việc, trọng kỷ luật; do đó dân càng tin và giúp ta.

Năm điều nên tránh là:

1. Tránh việc gì làm thiệt hại đến dân, làm bẩn, làm hỏng nhà cửa ruộng vườn của dân.

2. Tránh năn nỉ mua hoặc mượn thứ gì cho bằng được.

3. Tránh sai lời hứa.

4. Tránh phạm đến phong tục, tập quán, tín ngưỡng của dân.

5. Tránh lộ bí mật.

– Vũ Anh: Những ngày gần Bác, in trong cuốn Đầu nguồn, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1977, tr. 247-248.

– Lê Quảng Ba: Bác Hồ về nước, in trong cuốn Avoóc Hồ, Nxb. Văn hóa dân tộc, 1977, tr. 10-12.

– Bằng Giang: Lớp huấn luyện đầu tiên, in trong cuốn Bác Hồ ở Việt Bắc, Nxb. Việt Bắc, 1975, tr. 21-24.

Tháng 1, ngày 26 (29 Tết âm lịch, tháng Chạp (thiếu), năm Canh Thìn)

Kết thúc lớp huấn luyện chính trị gần một tháng, Nguyễn Ái Quốc cùng Lê Quảng Ba, Phùng Chí Kiên, Thế An, Đặng Văn Cáp và Hoàng Văn Lộc chuẩn bị về nước 2).

– Lê Quảng Ba: Bác Hồ về nước, in trong cuốn Avoóc Hồ, Nxb. Văn hoá dân tộc, 1977, tr. 10-12.

– Bằng Giang: Lớp huấn luyện đầu tiên, in trong cuốn Bác Hồ ở Việt Bắc, Nxb. Việt Bắc, 1975, tr. 21.

– Đặng Văn Cáp: Con đường dẫn tôi đến với Bác, in trong cuốn Bác Hồ về nước, Hội Văn học nghệ thuật Cao Bằng, Cao Bằng, 1986, tr. 56.

Tháng 1, ngày 27 (mồng 1 tháng Giêng năm Tân Tỵ)

Nguyễn Ái Quốc cùng các đồng chí trong cơ quan đi chúc Tết nhân dân hai làng Nậm Quang và Nậm Tấy (Tĩnh Tây, Quảng Tây, Trung Quốc). Người mặc bộ quần áo Nùng mầu chàm, đầu vấn khăn, tay chống gậy. Người đi thăm hỏi từng gia đình. Theo phong tục người Nùng ở đây, Nguyễn Ái Quốc tặng mỗi nhà một tờ giấy hồng điều, trên đó Người viết dòng chữ Hán “Cung chúc tân niên” (Chúc mừng năm mới). Các cháu nhỏ nhận được tiền phong bao, mỗi gói một xu đồng.

– Lê Quảng Ba: Bác Hồ về nước, in trong cuốn Avoóc Hồ, Nxb. Văn hoá dân tộc, 1977, tr. 12.

– Vũ Anh: Những ngày gần Bác, in trong cuốn Đầu nguồn, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1977, tr. 249.

Tháng 1, ngày 28

Nguyễn Ái Quốc lên đường về nước. Khi bước tới cột mốc 108 nằm trên biên giới Việt – Trung (thuộc xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng), Người đứng lặng hồi lâu, xúc động.

– T. Lan: Vừa đi đường vừa kể chuyện, Nxb. Chính trị quốc gia – Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 1994, tr. 69.

Tháng 2, ngày 8

Nguyễn Ái Quốc đến ở hang Cốc Bó 3) với bí danh Già Thu.

Thu xếp chỗ ở xong, Người phái Hoàng Văn Lộc đi Tĩnh Tây.

– Đặng Văn Cáp: Có Bác dẫn đường, in trong cuốn Đường ta sáng mãi, Nxb. Lao động, Hà Nội, 1974, tr. 42.

– Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Những chặng đường lịch sử, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 38.

– Lê Quảng Ba: Bác Hồ về nước, in trong cuốn Avoóc Hồ, Nxb. Văn hoá dân tộc, 1977, tr. 12-15.

Tháng 2, sau ngày 8

Nguyễn Ái Quốc sáng tác bài thơ: Pác Bó hùng vĩ

“Non xa xa, nước xa xa,

Nào phải thênh thang mới gọi là.

Đây suối Lênin, kia núi Mác.

Hai tay xây dựng một sơn hà”.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 3, tr. 195.

Tháng 2, sau ngày 8

Dùng tảng đá bên bờ suối Lênin làm bàn viết, Nguyễn Ái Quốc dịch tiếp (đã dịch một phần khi ở Trung Quốc) cuốn Lịch sử Đảng Cộng sản (b) Nga (tóm tắt) ra tiếng Việt, để làm tài liệu huấn luyện đảng viên. Bản dịch nhấn mạnh những nội dung chủ yếu sau:

– Trước Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga, nhân dân Nga bị bọn địa chủ, tư sản bóc lột. Các dân tộc trong đế quốc Nga không bình đẳng; phụ nữ bị khinh rẻ, nông dân không có ruộng đất, nhà máy trong tay bọn tư sản.

– Đảng Cộng sản (b) Nga là đảng kiểu mới, do V.I. Lênin sáng lập. Đảng chiến đấu cho sự nghiệp giải phóng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động.

– Cách mạng Tháng Mười do Đảng Cộng sản (b) Nga lãnh đạo thành công đã lật đổ ách thống trị của Nga hoàng và chính quyền tư sản, giải phóng nhân dân khỏi mọi ách áp bức bóc lột, đem lại cho họ cuộc sống tự do, bình đẳng.

– Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Những chặng đường lịch sử, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 48.

Tháng 2, sau ngày 8

Nguyễn Ái Quốc sáng tác bài thơ: Tức cảnh Pác Bó

“Sáng ra bờ suối, tối vào hang,

Cháo bẹ, rau măng vẫn sẵn sàng.

Bàn đá chông chênh dịch sử Đảng,

Cuộc đời cách mạng thật là sang”.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 3, tr. 196.

Tháng 3

Sau khi xảy ra việc hai quần chúng cơ sở của cách mạng đi liên lạc cho đoàn thể bị tổng đoàn 4) bắt, Nguyễn Ái Quốc và các đồng chí khác đã rời Pác Bó lên Lũng Lạn5), rồi qua Khuổi Nậm.

– Lê Quảng Ba: Bác Hồ về nước, in trong cuốn Avoóc Hồ, Nxb. Văn hoá dân tộc, 1977, tr. 12-15.

– Dương Đại Lâm: Ngày xuân, Bác về Pác Bó, in trong cuốn Uống nước nhớ nguồn, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1973, tr. 76-77.

Tháng 3 – tháng 4

Nguyễn Ái Quốc nhiều lần vượt qua biên giới sang Tĩnh Tây. Người thường ở trong nhà bố con ông Trương Đình Duy, Trương Kỳ Siêu ở Long Lâm. Người thường cải trang làm một thầy địa lý (phong thuỷ).

–  Nhân dân nhật báo (Trung Quốc), ngày 17-2-1963.

– Hoàng Tranh: Hồ Chí Minh với Trung Quốc, Nxb. Giải phóng quân, Bắc Kinh, 1984, tr. 78.

Cuối tháng 4

Nguyễn Ái Quốc giao nhiệm vụ cho Vũ Anh triệu tập hội nghị cán bộ tỉnh Cao Bằng 6) để rút kinh nghiệm tổ chức thí điểm Mặt trận Việt Minh tại Cao Bằng.

– Lê Quảng Ba: Bác Hồ về nước, in trong cuốn Avoóc Hồ, Nxb. Văn hoá dân tộc, 1977, tr. 23.

Tháng 5, từ ngày 10 đến ngày 19

Nguyễn Ái Quốc chủ trì Hội nghị lần thứ tám của Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương 7).

Hội nghị xác định nhiệm vụ giải phóng dân tộc là nhiệm vụ cấp thiết của cách mạng Đông Dương lúc bấy giờ: “Trong lúc này quyền lợi của bộ phận, của giai cấp phải đặt dưới sự sinh tử, tồn vong của quốc gia, của dân tộc. Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được”.

Theo sáng kiến của Nguyễn Ái Quốc, Hội nghị đã quyết định thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi mang tên Việt Nam độc lập đồng minh (gọi tắt là Việt Minh), nhằm liên hiệp hết thảy các giới đồng bào yêu nước không phân biệt giàu nghèo, già trẻ, gái trai, không phân biệt tôn giáo và xu hướng chính trị, đặng cùng nhau mưu cuộc dân tộc giải phóng và sinh tồn.

Theo đề nghị của Người, Hội nghị đã bầu Ban Chấp hành Trung ương mới và cử đồng chí Trường Chinh là Tổng Bí thư của Đảng.

– Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t. 7, tr. 113.

– Hoàng Quốc Việt: Ánh sáng từ Pác Bó, in trong cuốn Đầu nguồn, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1977, tr. 170.

– Vũ Anh: Những ngày gần Bác, in trong cuốn Đầu nguồn, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1977, tr. 259.

– Lê Quảng Ba: Bác Hồ về nước, in trong cuốn Avoóc Hồ, Nxb. Văn hoá dân tộc, 1977, tr. 24.

Khoảng giữa năm

Tại Pác Bó, Nguyễn Ái Quốc tổ chức lớp huấn luyện chính trị – quân sự ngắn hạn cho cán bộ địa phương. Người trực tiếp giảng bài, đồng chí Đức Thanh đi sát giúp đỡ học viên hằng ngày.

Trong buổi khai mạc lớp học, sau khi đồng chí Đức Thanh phổ biến chương trình lớp học, Nguyễn Ái Quốc giảng bài tình hình thế giới.

Người chỉ rõ: “Bọn phát xít đã tấn công Liên Xô, Tổ quốc của cách mạng thế giới, nhưng nhân dân Liên Xô nhất định sẽ chiến thắng. Việt Nam ta cũng đứng ở trong phe dân chủ mới, ủng hộ Liên Xô chống lại phe phát xít”.

Trong các buổi học sau, Nguyễn Ái Quốc giảng về tình hình trong nước và nhiệm vụ của cách mạng trước mắt, về năm bước công tác quần chúng. Trong những buổi huấn luyện quân sự, Người giảng về chiến thuật du kích, các hình thức đánh du kích.

Sau bốn ngày huấn luyện, các học viên tập vận dụng những điều đã học vào công tác vận động quần chúng. Nguyễn Ái Quốc đóng vai một quần chúng, các học viên làm người tuyên truyền cách mạng. Sau khi học tập, Người nhận xét chỗ sai, chỗ đúng của từng học viên.

Lớp học kết thúc, Nguyễn Ái Quốc phái ba đồng chí về Hà Quảng tiếp tục hoạt động, hai đồng chí lại sang bên kia biên giới nhận nhiệm vụ khác 8).

– Quang Trung: Đốm lửa chiến khu, in trong cuốn Pác Bó quê tôi, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1967, tr. 69-78.

Tháng 6, ngày 6

Triển khai thực hiện Nghị quyết của Hội nghị Trung ương lần thứ tám về tổ chức Việt Minh, Nguyễn Ái Quốc viết thư Kính cáo đồng bào 9)gửi các tầng lớp nhân dân cả nước.

Mở đầu bức thư, Người nêu lên tình cảnh khổ nhục của nhân dân ta dưới ách thống trị của thực dân Pháp và phát xít Nhật. Người ca ngợi những tấm gương oanh liệt của các bậc tiền bối trong cuộc đấu tranh giành quyền độc lập tự do. Tuy nhiên, việc lớn chưa thành vì “cơ hội chưa chín” và vì “dân ta chưa hiệp lực đồng tâm”. Người chỉ rõ: “Trong lúc này quyền lợi dân tộc giải phóng cao hơn hết thảy. Chúng ta phải đoàn kết lại đánh đổ bọn đế quốc và bọn Việt gian đặng cứu giống nòi ra khỏi nước sôi lửa nóng”… Người chỉ rõ hiện thời muốn đánh Pháp, Nhật, ta chỉ cần một điều: “Toàn dân đoàn kết… Việc cứu quốc là việc chung. Ai là người Việt Nam đều phải kề vai gánh vác một phần trách nhiệm: người có tiền góp tiền, người có của góp của, người có sức góp sức, người có tài năng góp tài năng…”.

Cuối thư, Người kêu gọi: “… Hỡi các chiến sĩ cách mạng! Giờ giải phóng đã đến. Hãy phất cao cờ độc lập, lãnh đạo toàn dân đánh tan thù chung. Tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc đương vang dội bên tai các đồng chí! Máu nóng của bậc anh hùng đương sục sôi trong lòng các đồng chí! Chí phấn đấu của quốc dân đương chờ đợi sự lãnh đạo của các đồng chí!

Chúng ta hãy tiến lên! Toàn thể đồng bào tiến lên!

Đoàn kết thống nhất đánh đuổi Pháp, Nhật!

Việt Nam cách mạng thành công muôn năm!

Thế giới cách mạng thành công muôn năm!”.

– Bản chụp các bức thư in bằng chữ Việt và chữ Hán, lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 3, tr. 197-198.

Tháng 6, khoảng cuối tháng

Nguyễn Ái Quốc yêu cầu các đồng chí Dương Hoài Nam (Võ Nguyên Giáp) và Lâm Bá Kiệt (Phạm Văn Đồng) chọn một số thanh niên Cao Bằng đi học lớp vô tuyến điện ở Liễu Châu (Trung Quốc) 10).

Mỗi học viên được nhận một tên mới, lý lịch mới và thống nhất gọi lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc là Hoàng Quốc Tuấn.

– Hồi ký của Hoàng Việt Huy, Phan Việt Bắc, Lưu Minh Đức, lưu tại Bảo tàng Thông tin.

– Băng ghi âm của Lưu Minh Đức, lưu tại Tổ Nghiên cứu lịch sử Đảng, Ban Tuyên giáo, Tỉnh uỷ Cao Bằng.

Tháng 7

Nguyễn Ái Quốc viết bài Hoan nghênh thanh niên học quân sự theo thể lục bát gồm 44 câu.

Mở đầu, Người phân tích nguyên nhân nỗi khổ cực của đồng bào ta:

Nước ta mất đã lâu rồi,

Đồng bào cực khổ, suốt đời gian nan!

Suốt đời chịu kiếp lầm than,

Sưu cao thuế nặng, cơ hàn xót xa!

Vì ai tan cửa nát nhà,

Chồng lìa vợ, con lìa cha tơi bời?

Vì ai non nước rã rời

Giống nòi sỉ nhục chơi vơi thế này?

Vì giặc Nhật, vì giặc Tây!

Người chỉ rõ:

Muốn đánh Nhật, muốn đánh Tây,

Thanh niên ta phải ra đây học hành.

Một là học việc nhà binh.

Hai là học biết tình hình người ta.

Thanh niên là chủ nước nhà

Phải cho oanh liệt mới là thanh niên.

….

– Tư liệu của Vũ Anh, dẫn theo Tổng tập văn học Việt Nam, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1980, t.36, tr. 547-548.

Tháng 8, ngày 1

Bài Khuyên đồng bào mua báo Việt Nam độc lập15 của Nguyễn Ái Quốc gồm 17 câu, đăng trên báo Việt Nam độc lập, số đầu tiên 11).

“Báo “Độc lập” hợp thời đệ nhất,

Làm cho ta mở mắt mở tai.

Cho ta biết đó biết đây,

Ở trong việc nước, ở ngoài thế gian:

Cho ta biết kết đoàn tổ chức.

Cho ta hay sức lực của ta.

Cho ta biết chuyện gần xa.

Cho ta biết nước non ta là gì…”

– Báo Việt Nam độc lập, số 101, ngày 1-8-1941.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 3, tr. 199.

Tháng 8, ngày 9

Nguyễn Ái Quốc viết bài Xã luận cho báo Việt Nam độc lập.

Sau khi phân tích: “Tây có hai cách làm cho ta ngu hèn, một là cách bưng mắt…, hai là cách lừa gạt”. Người chỉ rõ:

“Tây cốt làm cho ta ngu hèn. Báo Việt Nam độc lập cốt làm cho dân ta hết ngu hèn, biết các việc, biết đoàn kết, đặng đánh Tây, đánh Nhật, làm cho Việt Nam độc lập, bình đẳng, tự do”.

– Hồ Chủ tịch với công tác báo chí, Hội Nhà báo Việt Nam, 1972, tr. 16.

Tháng 8, ngày 21

Hai bài thơ Việt Nam độc lập và Dân cày, cùng bức tranh cổ động của Nguyễn Ái Quốc, đăng trên báo Việt Nam độc lập.

Bài Việt Nam độc lập gồm bốn câu in ngay dưới bức tranh cổ động 12):

Việt Nam độc lập” thổi kèn loa.

Kêu gọi dân ta trẻ lẫn già

Đoàn kết vững bền như khối sắt

Để cùng nhau cứu nước Nam ta!

Bài Dân cày gồm 18 câu, nội dung đề cập đến nỗi khổ cực của người nông dân:

“Thương ôi! những kẻ dân cày,

Chân bùn tay lấm suốt ngày gian lao”.

Và chỉ rõ, muốn phá bỏ nỗi bất bình đó, bà con nông dân phải tham gia Việt Minh, cùng toàn dân đánh Pháp, đuổi Nhật, để:

“Mai sau thực hiện chương trình 13):

Việt Nam nông dã tất canh kỳ điền”.

– Báo Việt Nam độc lập, số 103, ngày 21-8-1941.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 3, tr. 200, 201.

Tháng 9, ngày 1

Bài ca Phụ nữ của Nguyễn Ái Quốc gồm 20 câu, đăng trên báo Việt Nam độc lập.

Sau khi nêu những tấm gương anh hùng của phụ nữ Việt Nam từ Bà Trưng, Bà Triệu đến Nguyễn Thị Minh Khai, Người kêu gọi chị em phụ nữ Việt Nam đoàn kết đấu tranh:

… “Chị em cả trẻ đến già,

Cùng nhau đoàn kết đặng mà đấu tranh.

Đua nhau vào hội Việt Minh

Trước giúp nước, sau giúp mình mới nên.

Làm cho thiên hạ biết tên

Làm cho rõ mặt cháu Tiên, con Rồng”.

– Báo Việt Nam độc lập, số 104, ngày 1-9-1941.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 3, tr. 202.

Tháng 9, ngày 21

Bài thơ Trẻ con của Nguyễn Ái Quốc gồm 20 câu, đăng trên báo Việt Nam độc lập.

Bài thơ miêu tả cuộc sống tôi đòi của thiếu nhi Việt Nam dưới ách giặc Nhật, giặc Tây:

… “Chẳng may vận nước gian nan,

Trẻ em cũng bị bực thân cực lòng”…

Và kêu gọi thiếu nhi Việt Nam:

“Vậy nên con trẻ nước ta

Phải đoàn kết lại để mà đấu tranh!

Kẻ lớn cứu quốc đã đành,

Trẻ em cũng phải ra dành một vai.

Bao giờ đánh đuổi Nhật, Tây,

Trẻ em ta sẽ là bầy con cưng”.

– Báo Việt Nam độc lập, số 106, ngày 21-9-1941.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 3, tr. 203.

Tháng 10, khoảng đầu tháng

Tại Pác Bó, Nguyễn Ái Quốc gặp Lê Thiết Hùng mới ở Trung Quốc về nước. Sau một thời gian ngắn, Người giao cho Lê Thiết Hùng và Lê Quảng Ba, Hoàng Sâm cùng cộng tác mở lớp huấn luyện quân sự.

– Lê Thiết Hùng: Mãi mãi nhớ ơn Người, in trong cuốn Đầu nguồn, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1977, tr. 291-293.

Tháng 10, ngày 11

Bài thơ Công nhân của Nguyễn Ái Quốc gồm 20 câu, in trên báo Việt Nam độc lập.

Bài thơ nêu lên nỗi khổ cực của công nhân Việt Nam dưới ách thống trị và bóc lột của bọn Pháp, Nhật: bị đánh đập, bị phạt, bị bớt xén tiền lương; và kết thúc bằng lời kêu gọi:

“Thợ thuyền ta phải đứng ra,

Trước ta cứu nước, sau ta cứu mình.

Cùng nhau vào hội Việt Minh,

Ra tay tranh đấu hy sinh mới là.

Bao giờ khôi phục nước nhà,

Của ta ta giữ, công ta ta làm”.

– Báo Việt Nam độc lập, số 108, ngày 11-10-1941.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr. 204.

Tháng 10, từ giữa tháng đến cuối tháng

Một buổi trưa, Nguyễn Ái Quốc yêu cầu các đồng chí Lê Thiết Hùng, Lê Quảng Ba báo cáo về việc thành lập đội vũ trang. Người chỉ định Lê Quảng Ba làm đội trưởng, Lê Thiết Hùng làm chính trị viên, Hoàng Sâm làm đội phó và căn dặn:

– Huấn luyện xong toàn đội đi hoạt động ngay.

Người nói thêm với Lê Thiết Hùng:

– Trước chú quen chỉ huy hàng ngàn người, bây giờ chú thử chỉ huy chục người xem khác nhau chỗ nào?

– Lê Thiết Hùng: Tôi được làm người học trò nhỏ của Bác. Tạp chí Lịch sử quân sự, số tháng 11-1986, tr. 79.

– Lê Quảng Ba: Bác Hồ với đội vũ trang Cao Bằng, Tạp chí Lịch sử quân sự, số tháng 9-1987, tr. 80.

Khoảng cuối tháng 10

Nguyễn Ái Quốc viết diễn ca Mười chính sách của Việt Minh. Mở đầu, Người giới thiệu mục tiêu đấu tranh của Việt Minh:

…“Quyết làm cho nước non này,

Cờ treo độc lập, nền xây bình quyền”.

Người vạch rõ vai trò to lớn của Mười chính sách của Việt Minh:

“Có mười chính sách bày ra,

Một là ích nước, hai là lợi dân”.

Tiếp đó là diễn ca nội dung các chính sách về ruộng đất, quyền tự do, về thuế khoá.

Cuối cùng, Người kêu gọi mọi người đoàn kết trong Mặt trận Việt Minh.

“Khuyên ai xin nhớ chữ đồng,

Đồng tình, đồng sức, đồng lòng, đồng minh”.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 3, tr. 205-206.

Tháng 11, ngày 1

Bài Ca binh lính của Nguyễn Ái Quốc gồm 22 câu, đăng trên báo Việt Nam độc lập. Bài ca mở đầu bằng lời tự vãn của người cầm súng giặc:

“Hai tay cầm khẩu súng dài,

Nhắm đi nhắm lại, bắn ai thế này?”…

Và chỉ nhớ là nhằm thẳng vào kẻ thù mà bắn, để cứu nước, cứu nhà, chứ không nên vì danh lợi chống lại cách mạng, chống lại nhân dân.

Và kết thúc là lời kêu gọi:

“Trong tay đã sẵn súng này,

Quyết quay đánh Nhật, đánh Tây mới đành.

Tiếng thơm sẽ tạc sử xanh:

“Việt binh cứu quốc” rạng danh muôn đời!”.

– Báo Việt Nam độc lập, số 110, ngày 1-11-1941.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 3, tr. 207.

Tháng 11, khoảng đầu tháng

Nguyễn Ái Quốc đến dự lễ thành lập đội vũ trang đầu tiên ở Cao Bằng.

Nói chuyện với đội, Người nhắc nhở phải đoàn kết, chấp hành kỷ luật tốt, khiêm tốn học hỏi, giúp nhau thực sự về chính trị, quân sự cũng như trong sinh hoạt; đối với dân phải như cá với nước.

Sau đó, Người trao cho các đồng chí Lê Thiết Hùng và Lê Quảng Ba một tờ giấy ghi mười điều kỷ luật của đội và những nguyên tắc hoạt động của đội.

– Lê Quảng Ba: Bác Hồ với đội vũ trang Cao Bằng. Tạp chí Lịch sử quân sự, số tháng 9-1987, tr. 80.

Tháng 11

Sau khi quyết định thành lập đội vũ trang đầu tiên của Cao Bằng, Nguyễn Ái Quốc biên soạn Mười điều kỷ luật và Chiến thuật cơ bản của du kích cho các đội viên học tập và trực tiếp huấn luyện cho họ.

– Lê Quảng Ba: Bác Hồ về nước, in trong cuốn Đầu nguồn, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1977, tr. 214-215.

Tháng 12, ngày 6

Tại Pác Bó, Nguyễn Ái Quốc dự lễ kết nạp Nông Thị Trưng vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Lễ kết nạp do chi bộ cơ quan tổ chức.

Là một trong hai người giới thiệu, Người phát biểu:

“Qua một thời gian khá dài, trong quá trình học tập và công tác, đồng chí Trưng đã tỏ ra có nhiều cố gắng, có đức tính hy sinh, kiên quyết cách mạng… Đồng chí đã xứng đáng là một đảng viên…”.

– Nông Thị Trưng: Những ngày sống gần Bác, Nxb. Dân tộc, Việt Bắc, 1966, tr. 41.

Tháng 12, ngày 21

Bài Thế giới đại chiến và phận sự dân ta của Nguyễn Ái Quốc đăng trên báo Việt Nam độc lập, số 113.

Sau khi phân tích diễn biến của cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai16, Người nêu câu hỏi: “Thế thì dân ta nên làm sao để tránh khỏi cái nạn ấy?” và Người tự trả lời: “Dân ta nên làm 2 việc:

1 là – Bất kỳ quân đội nào tới gần vùng mình, dân ta phải làm cách “nhà không vườn trống”… Bao giờ quân đội tới gần làng, trai tráng sẽ tránh đi, chớ để cho chúng bắt phu. Chỉ bao giờ Việt Minh có lệnh giúp cho quân đội nào thì dân ta sẽ giúp quân đội ấy.

2 là – Dân ta phải mau mau tổ chức lại. Nông dân phải vào “Nông dân Cứu quốc hội”. Thanh niên phải vào “Thanh niên Cứu quốc hội”. Phụ nữ vào “Phụ nữ Cứu quốc hội”. Trẻ con vào “Nhi đồng Cứu quốc hội”. Công nhân vào “Công nhân Cứu quốc hội”. Binh lính vào “Binh lính Cứu quốc hội”. Các bậc phú hào văn sĩ vào “Việt Nam Cứu quốc hội””.

Cuối cùng, Người kêu gọi: “Hỡi đồng bào! Cơ hội giải phóng đến rồi, mau mau đoàn kết lại!!!”.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 3, tr. 208-209.

Trong năm

Nguyễn Ái Quốc viết cuốn Cách đánh du kích 14).

Tác phẩm gồm 13 chương.

Nội dung mỗi chương nêu ngắn gọn, dễ hiểu để cán bộ, nhân dân nhận thức đúng và thực hiện được.

Chương I: Du kích là gì?”, nêu ra bốn điều cần nhớ để đánh du kích thắng lợi: phải có con đường chính trị đúng; phải dựa trên cơ sở quần chúng; phải có tổ chức vững chắc và nghiêm mật; phải có một lối đánh rất tài giỏi.

Chương II: Tổ chức đội du kích”, hướng dẫn cách tổ chức tiểu tổ du kích, chi đội, xác định tư cách đội viên du kích, và ban chỉ huy.

Chương III: Nguyên tắc của cách đánh du kích”, nhấn mạnh bốn điểm chính: giữ quyền chủ động; hết sức nhanh chóng; bao giờ cũng giữ thế công; phải có kế hoạch thích hợp và chu đáo. Đồng thời phải thực hiện bốn mưu mẹo lớn và thực hiện mấy động tác, như lừa địch, trinh thám, làm cho giặc khốn đốn…

Chương IV: Cách tiến công, tập kích, nêu rõ “du kích bao giờ cũng tiến công” – một là tập kích, hai là phục kích.

Chương V: Phục kích” là cách đánh cần thiết và có hiệu quả đối với du kích, làm quấy rối, làm suy yếu địch.

Chương VI: Cách phòng ngự” và chỉ rõ phòng ngự nghĩa là chống giữ, song phòng ngự là thế công, chứ không phải bị động.

Chương VII: Cách đánh đuổi giặc” là nhằm truy đuổi địch để tiêu diệt chúng với sự giúp sức của quần chúng, song “không nên đuổi theo quá xa”.

Chương VIII: Cách rút lui” là điều quan trọng trong đánh du kích để bảo vệ lực lượng khi nó quá mạnh hoặc chờ phục kích đánh bại chúng rồi rút.

Chương IX: Phá hoại” là công việc trọng yếu để ngăn cản lực lượng địch tấn công. Vì vậy, phải tuân thủ các nguyên tắc của cách phá hoại và biết cách phá hoại cho có hiệu quả.

Chương X: Thông tin và liên lạc” bảo đảm cho đánh du kích được nhanh chóng, chắc chắn và chu đáo. Cần phải dựa vào nhân dân.

Chương XI: Hành quân” cần nhẹ nhàng, nhanh chóng, bí mật.

Chương XII: Đóng quân phải chọn chỗ thuận tiện để nghỉ ngơi và phòng thủ.

Chương XIII: Căn cứ địa” dùng làm nơi dừng chân làm cơ sở.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 3, tr. 467-504.

– Theo sách Việt Minh, xuất bản tháng 5-1944.

____________________________

1) Hoàng Văn Thụ được đồng chí Minh là người hoạt động ở vùng Cao Bằng dẫn đường (B.T).

2) Các đồng chí Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp trở lại Tĩnh Tây. Còn các học viên toả về các địa phương thuộc hai châu Hà Quảng và Hoà An để hoạt động (B.T).

3) Hang Cốc Bó thuộc địa phận làng Pác Bó, xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng (Cốc Bó, tiếng Nùng, nghĩa là “đầu nguồn”), địa thế hiểm trở. Hang ăn thông ra một con đường kín dẫn sang bên kia biên giới, có thể rút lui an toàn khi bị lộ.

Phía dưới, cách cửa hang chừng 50m là con suối, nước trong, được Nguyễn Ái Quốc đặt tên là “Suối Lênin”. Một ngọn núi hùng vĩ bên bờ suối được Người gọi là “Núi Các Mác”. Cùng đến Cốc Bó với Nguyễn Ái Quốc còn có Lê Quảng Ba, Phùng Chí Kiên, Hoàng Văn Lộc, Thế An, Đặng Văn Cáp (B.T).

4) Tổng đoàn là tổ chức nửa vũ trang, tay sai của thực dân Pháp ở địa phương (cấp tổng, đơn vị hành chính trên xã, dưới huyện) có nhiệm vụ theo dõi,  truy lùng cách mạng (B.T).

5) Lũng Lạn cách hang Cốc Bó vài trăm mét (B.T).

6) Hội nghị được tổ chức vào cuối tháng 4-1941 tại Coọc Mu (Pác Bó), do đồng chí Hoàng Văn Thụ chủ trì. Dự Hội nghị có các cán bộ của ba huyện Hoà  An, Hà Quảng, Nguyên Bình là những huyện đã có phong trào quần chúng tương đối mạnh (B.T).

7) Hội nghị họp từ ngày 10 đến ngày 19-5 tại Pác Bó, Cao Bằng. Dự Hội nghị có các đồng chí Trường Chinh, Hoàng Văn Thụ, Hoàng Quốc Việt, Phùng  Chí Kiên cùng một số đại biểu của Xứ uỷ Bắc Kỳ, Trung Kỳ và một số đại biểu hoạt động ở ngoài nước (B.T).

8) Ba đồng chí về Hà Quảng là Nam Tuấn, Ái Nam, Xuân Trường. Đồng chí Quý và đồng chí Quang Trung vượt biên giới sang Trung Quốc.

9) Thư này được lưu hành bằng hai thứ chữ Việt và Hán.

10) Theo Hoàng Quốc Việt, Phan Việt Bắc, … 10 người được chọn là:

1- Nông Văn Chí (tên thật là Đơ), bí danh Phan Việt Bắc.

2- Nguyễn Văn Chí (tên thật là Liên), bí danh Đông Tùng.

3- Lưu Minh Đức (tên thật là Lưu Khải Hoàn).

4- Lý Đạt Thành (tên thật là Hoàng Văn Ròng), bí danh Hoàng Việt Huy.

5- Lý Quang Vinh (tên thật là Đoàn Văn Mưu), bí danh Dương Công Khởi.

6- Nguyễn Hữu Hào (tên thật là Nguyễn Văn Khanh), bí danh Vũ Lâm.

7- Đoàn Hồng Sơn (tên thật là Đoàn Văn Ngô).

8- Trần Quốc Quang, bí danh Hoàng Hoa.

9- Triệu Văn Minh, chưa rõ tên thật và bí danh.

10- Phạm Văn Quý, chưa rõ tên thật và bí danh (B.T).

11) Báo Việt Nam độc lập (gọi tắt là Việt lập), do Nguyễn Ái Quốc sáng lập và trực tiếp phụ trách. Tờ báo có hai trang, khổ nhỏ, in đá. Mỗi tháng báo ra ba kỳ, mỗi kỳ hơn 400 số. Các bài viết ngắn gọn, dễ hiểu. Tờ báo đóng góp to lớn vào công việc tổ chức, hướng dẫn phong trào cách mạng của quần chúng.

Số đầu tiên báo Việt Nam độc lập (đánh số 101), ra ngày 1-8-1941. Nhiều thơ ca của Nguyễn Ái Quốc trong giai đoạn 1941-1942 đã in lần đầu tiên trên báo này và ký nhiều tên khác nhau: Kim Oanh, Bé Con, Xung Phong….

Tính đến ngày 30-9-1945, Việt Nam độc lập ra được 129 số. Từ tháng 8-1942 đến tháng 5-1945, do đồng chí Phạm Văn Đồng phụ trách(B.T).

12) Bức tranh cổ động cho báo Việt Nam độc lập hoàn toàn do xếp chữ mà thành. Tác giả sử dụng ngay nét chữ trên báo Việt Nam độc lậpđể vẽ thành  một người Việt Nam trẻ trung cường tráng. Người đó đầu đội nón (dấu của chữ ô), tay cầm cờ đỏ sao vàng, mồm thổi kèn (chữ Đ viết hoa được cách  điệu thành cái kèn) cổ động đồng bào cùng nhau đứng lên cứu nước (B.T).

13) Tức là chương trình của Mặt trận Việt Minh. Ngày 19-5-1941, Mặt trận Việt Minh chính thức ra đời, phất cao cờ đỏ sao vàng, kêu gọi toàn dân đánh  Pháp, đuổi Nhật, cứu nước, cứu nhà, kêu gọi toàn thể nhân dân hãy phấn chấn tự cường, tự lực cánh sinh, vì “việc giải phóng của ta phải do ta làm  lấy”. Nghị quyết Hội nghị Trung ương Đảng tháng 5-1941 đã giới thiệu những nội dung chủ yếu của Chương trình Việt Minh (B.T).

14) Đây là một trong những tác phẩm đầu tiên của Nguyễn Ái Quốc về quân sự, được viết từ năm 1941. Tác phẩm được phổ biến trong các đoàn thể  cách mạng trong thời kỳ 1941-1945. Tháng 5-1944, Cách đánh du kích được Tổng bộ Việt Minh xuất bản và phát hành rộng rãi, ngoài bìa sách ghi “Chiến  thuật du kích”. Cuốn sách được dùng làm tài liệu huấn luyện tại các trường quân – chính ở Việt Bắc trong những ngày chuẩn bị cuộc Cách mạng Tháng  Tám (B.T).

Nguồn: dangcongsan.vn
Vkyno (st)

Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử – Tập 2 (Năm 1940)

Tháng 2, cuối tháng

Trong bộ âu phục cổ cồn, thắt cờravát, Nguyễn Ái Quốc với biệt danh “ông Trần”, đến liên hệ với Trịnh Đông Hải (tức Vũ Anh) tại hiệu dầu cù là Vĩnh An Đường ở Côn Minh 1).

Người hỏi về tình hình trong nước, những hoạt động ở Côn Minh… và bắt liên lạc với Ban Chỉ huy ở ngoài của Đảng 2).

– Vũ Anh: Từ Côn Minh về Pác Bó, in trong cuốn Bác Hồ, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1975, tr. 138 – 139.

– Hoàng Tranh: Hồ Chí Minh với Trung Quốc, Nxb. Sao Mới, tháng 8-1990, bản tiếng Việt, tr. 110.

Tháng 3, đầu tháng

Tại Côn Minh, theo sự bố trí của Ban Chỉ huy ở ngoài, Nguyễn Ái Quốc đến ở nhà ông Tống Minh Phương 3) trong một gian buồng nhỏ ở trên gác, số nhà 77 đường Kim Bích.

Về sau, theo sự gợi ý của Nguyễn Ái Quốc, hiệu may Tống Minh Phương chuyển thành hiệu cà phê Tân Nam.

– Vũ Anh: Từ Côn Minh về Pác Bó, in trong cuốn Bác Hồ, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1975, tr. 140.

– Hoàng Tranh: Hồ Chí Minh với Trung Quốc, Nxb. Sao Mới, tháng 8-1990, tr. 109.

Tháng 3, khoảng giữa tháng

Sau lần Quốc dân Đảng khám xét hiệu cà phê Tân Nam của ông bà Tống Minh Phương, Ban Chỉ huy ở ngoài bố trí Người chuyển đến gian gác Nhà xuất bản “Sinh hoạt đọc sách” ở số nhà 67, Hoa Sơn Nam, Côn Minh.

– Hoàng Tranh: Hồ Chí Minh với Trung Quốc, Nxb. Sao Mới, tháng 8-1990, tr. 110.

Tháng 4

Nguyễn Ái Quốc đi thăm một số cơ sở cách mạng dọc đường xe lửa Vân Nam – Hồ Kiều. Người lấy giấy chứng nhận của tổ chức quần chúng “Việt Nam hưởng ứng Trung Quốc kháng địch hậu viện hội”11. Đây là tổ chức được nhà đương cục Trung Quốc công nhận hoạt động hợp pháp. Lấy danh nghĩa kiểm tra công tác Hội, Người đến ga Nghi Lương, Khai Viễn, Chỉ Thôn (Xì Xuyên)… Phùng Chí Kiên cùng đi với Người.

– Hoàng Quang Bình: Ở Vân Nam, in trong cuốn Bác Hồ, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1975, tr. 118-123.

– Vũ Anh: Từ Côn Minh về Pác Bó, in trong cuốn Bác Hồ, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1975, tr. 142.

Tháng 4

Tại Chỉ Thôn (huyện Mông Tự, tỉnh Vân Nam, Trung Quốc), Nguyễn Ái Quốc đến cơ sở của Hoàng Quang Bình (lúc này làm nghề cắt tóc). Người cùng đồng chí Kiên nghỉ tại gác xép của nhà đồng chí Bình. Sau khi nghe báo cáo tình hình, Người cùng đồng chí Kiên mở lớp huấn luyện cho chi bộ ở đây. Người còn khuyên đồng chí Bình nên năng giặt sạch vải choàng để có nhiều công nhân đến cắt tóc.

– Hoàng Quang Bình: Ở Vân Nam, in trong cuốn Bác Hồ, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1975, tr. 118-123.

– Vũ Anh: Từ Côn Minh về Pác Bó, in trong cuốn Bác Hồ, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1975, tr. 142.

Tháng 4

Với bí danh “ông Trần”, Nguyễn Ái Quốc tham gia lễ cầu hồn cho hai chục Việt kiều ở Bích Sắc Trại bị bom Nhật giết hại. Tại ngôi đền do ông Tự Thanh trông coi, dành cho đồng bào ở Chỉ Thôn, “ông Trần” đã ứng khẩu đọc bài sớ:

Nam mô Phật tổ Như Lai

Chúng sinh nheo nhóc dưới trời Tây phương

Trăm tầng áp bức thảm thương

Thân gầy như củi, xác nhường thây ma

Thù nhà nợ nước đôi đường

Đã vì người chết càng thương giống nòi

Đừng tin vào số mệnh trời

Mà do quân Nhật giết người gây nên

Hồn ơi, hồn có linh thiêng

Hãy cùng người sống báo đền nước non

Người còn khóc thì nước phải còn.

– Lê Tùng Sơn: Bác Hồ với kiều bào, in trong cuốn  Đầu nguồn, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1975, tr. 406-408.

Tháng 5, ngày 1

Theo sự gợi ý của Nguyễn Ái Quốc, tờ báo cách mạng lâu nay mang tên Truyền tin, ra số Kỷ niệm ngày 1-5, là số đầu tiên đổi tên thànhĐ.T. với lời “Kính chào độc giả”:

… “Đ.T. vẫn theo đuổi mục đích và tôn chỉ của Truyền tin mà phấn đấu. Hy vọng kiều bào sẽ giúp đỡ cho Đ.T. cũng như giúp đỡ choTruyền tin trước, có tiền giúp tiền, có ý kiến giúp ý kiến, và ra sức cổ động cho Đ.T. được lan rộng.

Đế quốc chiến tranh đang kịch liệt và mở rộng. Cuộc vận động dân tộc giải phóng đứng trong bước gay go. Đ.T. có thể gánh vác một phần nhiệm vụ lớn của dân tộc, là nhờ sự giúp đỡ của kiều bào.

Còn hai chữ Đ.T. là ý nghĩa gì, kiều bào thử đoán xem”.

Trong mục Văn uyển có bài thơ nhạc Chinh phụ ngâm do Nguyễn Ái Quốc sáng tác, nói lên sự thông cảm với nỗi khổ của con người trong chiến tranh, đồng thời khéo léo khêu gợi chuyển chiến tranh đế quốc thành chiến tranh cách mạng:

Chuyển biến thành phản đế chiến tranh

Pháp thì khi đã giập binh 4)

Nước nhà trọn vẹn quang vinh muôn đời.

– Báo Đ.T., số 1, ngày 1-5-1940. Bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

Tháng 5, đầu tháng

Sau một tháng ở Chỉ Thôn, Nguyễn Ái Quốc giao nhiệm vụ cho những người ở lại: tiếp tục gây cơ sở, giữ gìn bí mật, đồng thời ủng hộ Trung Quốc kháng chiến. Người còn nói với các đồng chí ở cơ sở này: “Chúng tôi ở đây lâu, nay đi, đề nghị các đồng chí nhận xét và phê bình” và “Các đồng chí ở đây cần giúp đỡ các đồng chí qua lại hoạt động. Phải cần đến tiền. Tôi đưa một số tiền vào tiền ăn của chúng tôi…”. Sau đó, Người lên đường trở lại Côn Minh.

– Hoàng Quang Bình: Ở Vân Nam, in trong cuốn Bác Hồ, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1975, tr. 123-125.

Tháng 5, đầu tháng

Tại Côn Minh, Nguyễn Ái Quốc quyết định cho rải truyền đơn dọc tuyến đường sắt từ Côn Minh đến biên giới Việt – Trung 5), vạch trần tội ác của giặc Pháp, giặc Nhật và kêu gọi quần chúng ủng hộ nhân dân Trung Quốc chống Nhật.

– Hoàng Quang Bình: Ở Vân Nam, in trong cuốn Bác Hồ, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1975, tr. 125-132.

– Vũ Anh: Từ Côn Minh về Pác Bó, in trong cuốn Bác Hồ, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1975, tr. 143.

Tháng 5, cuối tháng

Nguyễn Ái Quốc ở Côn Minh. Phùng Chí Kiên dẫn Đặng Văn Cáp 6) đến gặp Người.

Người thân mật hỏi đồng chí Cáp về những người quen cũ hồi ở Xiêm (nay là Thái Lan) cách đây đã hơn mười năm. Người cho biết định về nước bằng đường Côn Minh – Lào Cai qua huyện Khai Viễn nếu không có đường nào thuận lợi hơn. Người phái Bùi Thanh Bình về Hồ Kiều 7) thăm dò đường sá và cử Hoàng Văn Lộc cùng về theo.

– Đặng Văn Cáp: Con đường dẫn tôi đến với Bác, in trong cuốn Bác Hồ về nước, Hội Văn học nghệ thuật Cao Bằng, Cao Bằng, 1986, tr. 49-50.

Tháng 6, đầu tháng

Nguyễn Ái Quốc, mang bí danh đồng chí Vương, gặp các đồng chí Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp 8) (vừa từ trong nước sang) tại công viên Thuý Hồ9).

Người nói chuyện với các đồng chí, hỏi thăm về các khó khăn khi đi đường, về Mặt trận Dân chủ trong nước gần đây, về chuyện làm báo… Trả lời câu hỏi (do Hoàng Văn Thụ dặn xin ý kiến Nguyễn Ái Quốc) về vấn đề “Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức ở Á Đông”, Người nói: “Vẫn rất cần, nhưng điều kiện tổ chức thì hiện nay chưa chín nên chưa đặt ra” và nói thêm: “Các đồng chí ra được thế này là tốt. Vài ngày nữa sẽ bố trí công tác cho các đồng chí”…

– Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Những chặng đường lịch sử, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 24.

– Vũ Anh: Từ Côn Minh về Pác Bó, in trong cuốn Bác Hồ, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1975, tr. 143.

Tháng 6, đầu tháng

Nguyễn Ái Quốc với bí danh Hồ Quang, giới thiệu Phạm Văn Đồng (bí danh Lâm Bá Kiệt) và Võ Nguyên Giáp (bí danh Dương Hoài Nam) đi học Trường Quân chính của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Trước khi hai đồng chí lên đường, Người căn dặn: Lên đấy “Cố gắng học thêm quân sự”. Người viết một giấy ký tên Hồ Quang giới thiệu hai đồng chí này đến Quý Dương, để từ đó đi Diên An.

– Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Những chặng đường lịch sử, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 26.

– Vũ Anh: Từ Côn Minh về Pác Bó, in trong cuốn Bác Hồ, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1975, tr. 143.

Tháng 6, sau ngày 20

Ở Côn Minh, sau khi nghe tin Pari bị quân Đức chiếm (20-6-1940), Nguyễn Ái Quốc triệu tập cuộc họp tại một ngôi nhà nhỏ là phòng họp và Toà soạn của báo Đ.T. Người phân tích: “Việc Pháp mất nước là một cơ hội rất thuận lợi cho cách mạng Việt Nam. Ta phải tìm mọi cách về nước ngay để tranh thủ thời cơ. Chậm trễ lúc này là có tội với cách mạng”.

Hội nghị tán thành nhận định trên. Khi có người băn khoăn vì không có vũ khí để cướp chính quyền, Người vạch rõ: “Khởi nghĩa thì phải có vũ khí. Đó là một trong những vấn đề rất quan trọng của cách mạng. Nhưng nếu bây giờ có vũ khí thì lấy ai mà vác vũ khí? Cho nên cứ tìm cách về nước đã, sau đó chúng ta sẽ vận động quần chúng. Khi quần chúng đã giác ngộ cao thì ta sẽ có vũ khí”.

– Vũ Anh: Những ngày gần Bác, in trong cuốn Bác Hồ về nước, Hội Văn học nghệ thuật Cao Bằng, Cao Bằng, 1986, tr. 15.

Tháng 6, sau ngày 20

Nguyễn Ái Quốc điện cho Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp (đang chờ xe tại Quý Dương) không đi Diên An nữa, mà đợi tại Quế Lâm để tìm cách về nước, vì Chính phủ Pháp đã đầu hàng phát xít Đức chiếm đóng.

– Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Những chặng đường lịch sử, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 28.

– Tài liệu lưu tại Viện Lịch sử Đảng.

Tháng 6, cuối tháng

Nguyễn Ái Quốc chỉ thị cho Phùng Chí Kiên, Vũ Anh đến Quý Dương để cùng với Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp “đi Quế Lâm để tìm cách về nước”.

– Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Những chặng đường lịch sử, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 29.

Tháng 6, cuối tháng

Nguyễn Ái Quốc cử Trần Văn Hinh (vừa ở Nam Kỳ sang) đi Diên An để xây dựng quan hệ mới, đón chuyển biến mới của tình hình thế giới.

– The Sixth Section (Information) of the Koumintang. (Vietnamese Communist and Vietnamese problems – Today and Yesterday) in Studies on Special Subjects 2 issues. Taipei, 1995, N0. 21, p. 12-13 (Dẫn theo King C. Chen: Vietnam and China (1938-1954), Princeton University, Press Princeton, New York, 1969, p. 41).

Tháng 6, cuối tháng

Nguyễn Ái Quốc lên đường đi Trùng Khánh 10) (bằng máy bay). Trước khi đi, Người dặn đi dặn lại Vũ Anh và các đồng chí ở Côn Minh lo chuẩn bị mọi mặt để khi Người trở lại có thể lên đường về nước ngay 11).

– Vũ Anh: Những ngày gần Bác, in trong cuốn Bác Hồ về nước, Hội Văn học nghệ thuật Cao Bằng, Cao Bằng, 1986, tr. 15.

– Đặng Văn Cáp: Con đường dẫn tôi đến với Bác, in trong cuốn Bác Hồ về nước, Hội Văn học nghệ thuật Cao Bằng, Cao Bằng, 1986, tr.48.

Tháng 7, ngày 12

Trong Báo cáo của Việt Nam gửi Quốc tế Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc nêu những thông tin về địa lý, dân tộc, chế độ chính trị, tài nguyên của Việt Nam, chế độ thống trị của thực dân Pháp và về “Phong trào giải phóng” của nhân dân Việt Nam từ các cuộc khởi nghĩa Cần Vương đến trước Chiến tranh thế giới thứ hai. Phân tích tình hình từ sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam (sau đổi tên là Đảng Cộng sản Đông Dương) ra đời, Người khẳng định: “ở Đông Dương chỉ có Đảng Cộng sản là một chính đảng chân chính, có tính chất toàn quốc và có quần chúng”. Người trình bày về “Tình hình Việt Nam sau khi chiến tranh châu Âu bùng nổ và “Tình hình sau khi Pháp đầu hàng Đức”, để từ đó xác định “Động cơ hành động của chúng tôi” – củng cố sự lãnh đạo của Đảng, xây dựng căn cứ địa, mở rộng Mặt trận thống nhất các dân tộc bị áp bức… trong Quốc tế Cộng sản giúp đỡ.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 3, tr. 162-174.

Tháng 7, cuối tháng

Nguyễn Ái Quốc từ Trùng Khánh trở lại Côn Minh.

– Vũ Anh: Những ngày gần Bác, in trong cuốn Bác Hồ về nước, Hội Văn học nghệ thuật Cao Bằng, Cao Bằng, 1986, tr. 15.

Tháng 9, ngày 14

Nguyễn Ái Quốc đề tặng Phương Sĩ Tân 12) bốn chữ Hán: “Hữu chí cánh thành” (Có chí thì nên). Ký tên Hồ Quang.

– Sách ảnh: Chủ tịch Hồ Chí Minh với Trung Quốc, Nxb. Đại bách khoa thư Trung Quốc (chữ Hán), Bắc Kinh, 1995, tr. 33.

Tháng 9, sau ngày 22

Nguyễn Ái Quốc đưa ra nhận định:

Đồng minh sẽ thắng.

Nhật, Pháp ở Đông Dương chóng chày sẽ bắn nhau.

Việt Nam sẽ giành được độc lập.

Chiến tranh du kích dần dần phát triển với những vũ khí thô sơ, gươm, giáo mác và một số ít khẩu súng cướp được của giặc…

– Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1994, tr. 85-86.

Tháng 9, cuối tháng

Nguyễn Ái Quốc cho người bắt liên lạc với ông Hồ Học Lãm. Sau khi tiếp xúc với Trương Bội Công, ông Lãm thông báo rằng thời cơ về nước đã tới.

Người cử cán bộ đi Liễu Châu gặp Trương Bội Công và đi Quế Lâm gặp Lý Tế Thâm.

– King C. Chen: Vietnam and China (1938-1954), Princeton University, Press Princeton, New York, 1969, p. 43.

Khoảng đầu tháng 10

Nguyễn Ái Quốc đến Quế Lâm. Người được bố trí ở một ngôi nhà nhỏ, vách đất, lợp lá, thuộc ngoại thành. Nhiều đồng chí của ta cũng đã tập trung ở đây.

– Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Những chặng đường  lịch sử, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 30-31.

– Vũ Anh: Những ngày gần Bác, in trong cuốn Bác Hồ về nước, Hội Văn học nghệ thuật Cao Bằng, Cao Bằng, 1986, tr. 18.

Khoảng tháng 10

Trong một cuộc họp triệu tập tại một bãi cỏ ở vùng ngoại ô Quế Lâm, Nguyễn Ái Quốc nhận xét về những diễn biến tình hình vừa qua và chỉ dẫn về đối sách của ta: “Tình hình Quốc Cộng hợp tác hiện nay đang trải qua một bước rất gay go… Từ nay kỷ luật bí mật của Đảng phải được chấp hành triệt để. Sách vở, tài liệu phải hết sức cẩn thận. Mua sách, báo về chủ nghĩa cộng sản, đọc xong huỷ đi trước khi về nhà. Trong lúc giao dịch với bọn Quốc dân Đảng tuyệt đối không để lộ mình là cộng sản”.

“Trong việc giao dịch với Quốc dân Đảng không mong chi nhiều. Điều chủ yếu là làm sao cho chúng không cản trở công việc của ta. Phải hết sức bí mật. Về chuyện “Hoa quân nhập Việt” đừng chỉ nhìn mặt thuận lợi. Hiện nay chỉ có Hồng quân Liên Xô và Hồng quân Trung Hoa mới là những đội quân anh em, mới là đồng minh thực sự của ta. Còn quân đội Tưởng Giới Thạch dù có vào Việt Nam để đánh Nhật cũng chỉ là đồng minh tạm thời, về bản chất chúng vẫn là kẻ thù. Phải thấy hết tính chất phản động của nó, nếu không thấy thì nguy hiểm. Chúng nó không vào Việt Nam càng tốt cho ta hơn”.

Người cũng nhận định tình hình chung trên thế giới và Đông Dương càng có lợi cho ta, không nên ở Quế Lâm lâu, phải chuyển về biên giới tìm cách về nước ngay để hoạt động.

– Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Những chặng đường lịch sử, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 31-32.

Khoảng tháng 10

Được tin hơn 40 thanh niên các dân tộc Cao Bằng, vì bị đế quốc Pháp khủng bố mạnh đã vượt biên giới sang Quảng Tây (Trung Quốc) 13), Nguyễn Ái Quốc nói với các đồng chí cùng hoạt động ở Quế Lâm: “Chúng ta sẽ tổ chức một lớp huấn luyện cho các anh em, sau đó, đưa anh em trở về củng cố và mở rộng phong trào Cao Bằng và tổ chức đường liên lạc về nước”. Người còn nhận định: “Căn cứ địa Cao Bằng sẽ mở ra triển vọng lớn cho cách mạng ta. Cao Bằng có phong trào tốt từ trước, lại kề sát biên giới, lấy đó làm cơ sở liên lạc quốc tế rất thuận lợi. Nhưng từ Cao Bằng còn phải phát triển về Thái Nguyên và thông xuống nữa mới có thể tiếp xúc với toàn quốc được. Có nối phong trào được với Thái Nguyên và toàn quốc thì khi phát động đấu tranh vũ trang, lúc thuận lợi có thể tiến công, lúc khó khăn có thể giữ”.

Nguyễn Ái Quốc cử các đồng chí Võ Nguyên Giáp, Cao Hồng Lĩnh và Vũ Anh đến Tĩnh Tây (thuộc tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc) để tìm cách liên lạc với số thanh niên ấy.

– Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Những chặng đường lịch sử, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 33.

– Vũ Anh: Những ngày gần Bác, in trong cuốn Bác Hồ về nước, Hội Văn học nghệ thuật Cao Bằng, Cao Bằng, 1986, tr. 19.

Tháng 11

Một buổi tối tại Quế Lâm, Nguyễn Ái Quốc đến nơi ở của Hạ Diễn, lúc đó là Tổng Biên tập tờ Cứu vong nhật báo 14) trên đường Thái Bình, mang theo một bản thảo 15).

Hạ Diễn đề nghị Người sao một bản bỏ vào phong bì gửi bằng đường bưu điện đến cho toà báo, đề phòng khi bị bọn Quốc dân Đảng lục soát thì Hạ Diễn sẽ mang chiếc phong bì có dấu bưu cục ra đối phó.

– Hạ Diễn: Hồi ức về quãng đời làm báo – viết về Cứu vong nhật báo ở Quế Lâm, đăng nhiều kỳ trên Dương thành Vãn báo, từ ngày 6 đến ngày 11-7-1981.

– Hạ Diễn: Nhà báo đầu bạc kể chuyện năm xưa – viết tiếp về Cứu vong nhật báo, trong Tân văn nghiên cứu tư liệu, t.2, 1982. Dẫn theo Hoàng Tranh: Hồ Chí Minh với Trung Quốc, Nxb. Giải phóng quân, Bắc Kinh, 1984, tr. 69.

Tháng 11, ngày 15

Bài “Ôông-Trôi-Co-mat”, đăng trên Cứu vong nhật báo, với bút danh Bình Sơn, có nghĩa là “Ông trời có mắt”. Người vạch rõ bọn thực dân Pháp đã xâm lược, bóc lột nước ta bây giờ lại để cho Đức đánh chiếm và cướp bóc nhân dân Pháp. Chúng còn coi khinh Trung Quốc, nhưng nhân dân Trung Quốc lại anh dũng đấu tranh chống Nhật. Hai dân tộc Trung Quốc và Việt Nam “có thể sát cánh chặt chẽ với nhau, đá cho đế quốc đang áp bức chúng ta cút đi, thế thì ông trời chẳng những có mắt mà còn có cả chân nữa!”.

– Cứu vong nhật báo (Trung Quốc), ngày 15-11-1940.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 3, tr. 175-176.

Tháng 11, ngày 24

Bài Chú ếch và con bò của Nguyễn Ái Quốc, ký bút danh Bình Sơn, đăng trên Cứu vong nhật báo.

Mượn câu chuyện ngụ ngôn của La Phôngten (La Fontaine) kể về một chú ếch vì không biết tự lượng sức mình cố phùng bụng lên cho to bằng con bò mà phải tan xác, bài báo viết: “Những người như kiểu chú ếch kia trên thế giới này quả không ít. Mútxôlini đánh Hy Lạp, giẫm phải đinh, là một ví dụ”.

Bình luận về việc Mútxôlini toan bắt chước kiểu “chiến tranh chớp nhoáng” của Hítle (Hitler) hòng nuốt chửng nước Hy Lạp, kết quả đã nhiều phen bại trận, bài báo kết thúc bằng một hình tượng chế giễu: “ảo tưởng thắng lợi của họ Mút cũng vỡ toang như chú ếch kia. Ông anh Hítle của y chắc hẳn cũng chửi thầm: “Cái thằng vô tích sự! Mày chỉ làm tăng nhuệ khí của kẻ thù, mất cả oai phong phe trục! Poucos Madona!”” 16).

– Cứu vong nhật báo (Trung Quốc), ngày 24-11-1940.

– Bản sao bài báo. Dẫn theo Hoàng Tranh: Những bài nghiên cứu về lịch sử quan hệ Trung – Việt, Nxb. Nhân dân Quảng Tây, 1992, tr. 176.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 3, tr. 177.

Tháng 11, ngày 27

Bài Trò đùa dai của Rudơven tiên sinh, đăng trên Cứu vong nhật báo, với bút danh Bình Sơn. Nội dung bài viết nhắc chuyện quân đội Pháp do La Phayét chỉ huy “giúp người Mỹ đánh người Anh”. Trong Chiến tranh thế giới thứ nhất, Chính phủ Mỹ cử tướng Pơsinh đem quân sang châu Âu giúp Anh, Pháp đánh Đức. Năm 1940, Tổng thống Rudơven lại cử tướng Pơsinh “là tử thù của người Đức, là đồng sự trong thắng lợi của tướng Pêtanh” sang làm đại sứ ở Pháp, “chắc không ngoài dụng ý chọc tức người Đức và làm bẽ mặt Pêtanh”.

– Cứu vong nhật báo (Trung Quốc), ngày 27-11-1940, bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 3, tr. 178-179.

Tháng 11, ngày 29

Bài Hai chính phủ Vécxây của Nguyễn Ái Quốc, ký bút danh Bình Sơn, đăng trên Cứu vong nhật báo.

Bình luận về tin “Chính phủ Visi sắp rời về Vécxây”, đăng trên báo ngày 23-11, bài báo so sánh sự kiện Pháp thua trận phải đầu hàng Đức trong chiến tranh Pháp – Đức xảy ra năm 1870 và rút ra kết luận: “cách nhau 70 năm, lịch sử nước Pháp đã in lầm mất một trang. Vì lẽ hai chính phủ Vécxây giống nhau như đúc, cùng đẻ ra trong thất bại của chiến tranh, đều do nguyên soái làm Tổng thống, đều do luật sư làm Thủ tướng, đều là những anh hùng bán nước!”. Bài báo kết thúc bằng một câu đối khá phổ biến trong nhân dân Pháp lúc bấy giờ:

“Tổng thống, hai tên nguyên soái, đều phường ăn hại.

Thủ tướng, một cặp luật sư, rặt lũ bỏ đi” 17).

– Cứu vong nhật báo (Trung Quốc), ngày 29-11-1940, bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

– Dẫn theo Hoàng Tranh: Những bài nghiên cứu về lịch sử quan hệ Trung – Việt, Nxb. Nhân dân Quảng Tây, 1992, tr. 177.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr. 180-181.

Cuối tháng 11, đầu tháng 12

Sau khi đọc tin về khởi nghĩa Nam Kỳ12 trên báo Quế Lâm, trong một buổi họp, Nguyễn Ái Quốc nhận định: “Tình hình chung thế giới và Đông Dương ngày càng có lợi cho ta, nhưng thời cơ chưa đến, chưa thể khởi nghĩa được. Song nay đã nổ ra rồi, thì cần tổ chức rút lui cho khéo để duy trì phong trào”.

Người viết ngay một bức điện gửi Đảng bộ Nam Kỳ (bức điện này sau không có cách nào chuyển được về nước).

Người chủ trương nên chuyển hoạt động về sát biên giới, và tìm cách về nước.

– T. Lan: Vừa đi đường vừa kể chuyện, Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 1994, tr. 65-67.

– Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Những chặng đường lịch sử, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 32.

Cuối tháng 11, đầu tháng 12

Tại Quế Lâm, Nguyễn Ái Quốc nhận được thư báo cáo của nhóm công tác ở Tĩnh Tây (gồm Võ Nguyên Giáp, Vũ Anh, Cao Hồng Lĩnh) và báo cáo của Phạm Văn Đồng về bức điện của Trương Bội Công gửi Văn phòng Đệ tứ chiến khu nhờ mời ông Hồ Học Lãm và ông Lâm Bá Kiệt 18), Chủ nhiệm và Phó chủ nhiệm Biện sự xứ Việt Minh tại Quế Lâm đưa hội viên về Tĩnh Tây (Quảng Tây) để tổ chức Đại hội hợp nhất “Việt Nam độc lập đồng minh hội”13 với “Việt Nam dân tộc giải phóng uỷ viên hội”14.

Cũng tại Quế Lâm, Nguyễn Ái Quốc chủ trương biến bức điện mời của Trương Bội Công thành “giấy đi đường” của một đoàn cán bộ về Tĩnh Tây.

Đoàn cán bộ gồm Nguyễn Ái Quốc, Phùng Chí Kiên, Phạm Văn Đồng… mua vé ôtô rời Quế Lâm đi Nam Ninh.

– Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Những chặng đường lịch sử, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 32.

– Vũ Anh: Những ngày gần Bác, in trong cuốn Bác Hồ về nước, Hội Văn học nghệ thuật Cao Bằng, Cao Bằng, 1986, tr. 21-22.

Tháng 12, đầu tháng

Từ Nam Ninh, Nguyễn Ái Quốc trong vai một nhà báo Trung Hoa, Phạm Văn Đồng trong vai phiên dịch cùng Phùng Chí Kiên, Đặng Văn Cáp… đi thuyền về Điền Đông. Trên thuyền, Người thường nói tiếng Pháp, tiếng Trung Quốc để Phạm Văn Đồng dịch lại. Nhưng một hôm, có một đồng chí để rơi tàn thuốc cháy áo, Người buột miệng nhắc khẽ: “Cháy! Cháy!”.

Đến Điền Đông, Nguyễn Ái Quốc lưu lại đó, cử Phạm Văn Đồng cùng một số đồng chí về Tĩnh Tây trước để nắm tình hình và tìm Vũ Anh lên gặp Người.

Sáng hôm sau, Nguyễn Ái Quốc được các đồng chí Vũ Anh, Hoàng Sâm, từ Tĩnh Tây đến đón.

– Đặng Văn Cáp: Con đường dẫn tôi đến với Bác, in trong cuốn Bác Hồ về nước, Hội Văn học nghệ thuật Cao Bằng, Cao Bằng, 1986, tr. 52-53.

– Vũ Anh: Những ngày gần Bác, in trong cuốn Bác Hồ về nước, Hội Văn học nghệ thuật Cao Bằng, Cao Bằng, 1986, tr. 22.

Tháng 12, đầu tháng

Một buổi sáng, Nguyễn Ái Quốc đến Tĩnh Tây. Người được bố trí ở nhà một cơ sở vốn là một gia đình Trung Quốc nghèo. Người bảo Vũ Anh về nước tìm một địa điểm bí mật, có hàng rào quần chúng bảo vệ và có đường rút lui.

– Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Những chặng đường lịch sử, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 34.

– Vũ Anh: Những ngày gần Bác, in trong cuốn Bác Hồ về nước, Hội Văn học nghệ thuật Cao Bằng, Cao Bằng, 1986, tr. 22-23.

Tháng 12, đầu tháng

Tại Tĩnh Tây, Nguyễn Ái Quốc triệu tập Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Phùng Chí Kiên và Đặng Văn Cáp bàn việc mở lớp huấn luyện để chuẩn bị về nước.

– Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Những chặng đư­ờng lịch sử, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 34.

– Đặng Văn Cáp: Con đường dẫn tôi đến với Bác, in trong cuốn Bác Hồ về nước, Hội Văn học nghệ thuật Cao Bằng, Cao Bằng, 1986, tr. 52.

Tháng 12, ngày 1

Bài Bịa đặt của Nguyễn Ái Quốc, ký bút danh Bình Sơn, đăng trên Cứu vong nhật báo.

Vạch trần mánh khoé bịa đặt của Nhật và một số nước phương Tây, mà “Bịa đặt là một tội ác”, bài báo viết: “Ấy vậy mà, từ khi Chiến tranh đế quốc lần thứ hai bùng nổ đến nay, thói bịa đặt đã trở thành một bộ phận quan trọng trong chính sách ngoại giao của một số nước, không những các phóng viên thời sự, các chuyên gia tuyên truyền của họ bịa đặt, thậm chí cả nhà cầm quyền của đường đường một nước lớn cũng bịa đặt”. Nhưng “giải quán quân thế giới về bịa đặt, rốt cuộc giặc lùn 19) đã giành được”. Sau khi nêu lên những điều bịa đặt “lớn nhất” do nhà đương cục Nhật Bản dựng lên “trong hai tuần lễ vừa qua”, bài báo chỉ rõ: “Dù bịa đặt về phương diện nào thì cũng không ngoài mục đích gây chia rẽ. Kết luận của chúng ta là: Điều bịa đặt còn độc hại hơn cả hơi độc. Chúng ta phải đề cao cảnh giác, chỗ nào cũng phải đề phòng, đừng bị mê hoặc bởi những lời bịa đặt”.

– Cứu vong nhật báo (Trung Quốc)ngày 1-12-1940, bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

– Dẫn theo Hoàng Tranh: Những bài nghiên cứu về lịch sử quan hệ Trung – Việt, Nxb. Nhân dân Quảng Tây, 1992, tr. 178-179.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 3, tr. 182-183.

Tháng 12, ngày 2

Bài Nhân dân Việt Nam và báo chí Trung Quốc của Nguyễn Ái Quốc, ký bút danh Bình Sơn, đăng trên Cứu vong nhật báo.

Bài báo kể qua các cuộc đấu tranh chống Pháp trong lịch sử cận đại Việt Nam và phê bình một số cơ quan thông tấn báo chí Trung Quốc (ám chỉ “Trung ương xã”, cơ quan thông tấn của Quốc dân Đảng lúc bấy giờ) “dường như đã không bày tỏ sự đồng tình đối với cuộc đấu tranh gian khổ của nhân dân Việt Nam, trái lại còn đăng tải không có sự phê phán những lời xằng bậy của người Pháp (hoặc kẻ thù), nào là “Bạo động của dân bản xứ”, nào là “Dân bản xứ Việt Nam nghe giặc lùn xúi giục, gây phiến loạn””.

Bài báo chỉ rõ: “Phong trào giải phóng của Việt Nam là đội quân đồng minh trong cuộc kháng chiến chống Nhật của Trung Quốc. Về tinh thần cũng như về vật chất, chúng ta đều cần phải cổ vũ và giúp đỡ. Quốc phụ (chỉ Tôn Trung Sơn) từng dạy chúng ta: Giúp đỡ các dân tộc nhỏ yếu, cùng nhau phấn đấu giành lấy tự do độc lập. Cơ hội để thực hiện lời di huấn đó đã đến”.

– Cứu vong nhật báo (Trung Quốc), ngày 2-12-1940, bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

– Dẫn theo Hoàng Tranh: Những bài nghiên cứu về lịch sử quan hệ Trung – Việt, Nxb. Nhân dân Quảng Tây, 1992, tr. 179-180.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 3, tr. 184-185.

Tháng 12, ngày 4

Bài Ca dao Việt Nam và cuộc kháng chiến của Trung Quốc của Nguyễn Ái Quốc, ký bút danh Bình Sơn, đăng trên Cứu vong nhật báo.

Dưới danh nghĩa một phóng viên Trung Quốc đưa tin nhân dân Việt Nam chi viện mọi mặt cuộc kháng chiến của Trung Quốc, tác giả bài báo viết: “đại đa số nhân dân Việt Nam đều hết sức đồng tình với cuộc kháng chiến của Trung Quốc. Họ cầu chúc chúng ta đánh thắng”. Việc giúp đỡ rất khảng khái, không sợ tù đày: “Có khi họ bí mật quyên góp, giấu giếm gửi cho các đoàn thể cứu quốc của kiều bào, vì vậy đã bị Chính phủ Pháp bắt giam hàng mấy chục vạn người”. Tuy vậy họ không chùn bước “Để đẩy mạnh tuyên truyền giúp Trung Quốc chống Nhật, đồng thời tránh sự can thiệp rắc rối của người Pháp”, “Việt Nam độc lập đồng minh hội – một đoàn thể hoạt động rất hăng nhưng cũng rất bí mật – đã nghĩ ra được một cách rất tài tình: Họ đặt ra những bài hát theo những làn điệu quen thuộc và dạy cho trẻ con hát. Thế là tự nhiên các em bé Việt Nam trở thành những tuyên truyền viên rất đắc lực. Những bài hát đó chẳng mấy chốc đã truyền khắp cả nước”. Cuối cùng, bài báo đã chép lại một bài ca dao lưu hành ở Việt Nam, có nhan đề Cứu Trung Quốc là tự cứu mình. Nội dung như sau:

“Nhật Bản, phát xít ở phương Đông,

Dã man, cuồng bạo lại tàn hung.

Vào Trung Hoa, gây chiến xâm lược,

Nhân dân Trung Quốc khổ vô cùng.

Người thì bị giết, nhà bị đốt,

Núi đầy xương, đất đầy máu đỏ.

Tàu bay, bom đạn tránh làm sao?

Đói rét, ốm đau sống thật khó.

Họ đang đấu tranh rất gian khổ,

Giữ gìn dân chủ và hoà bình.

Họ đang cần có người viện trợ,

Họ đang cần được sự đồng tình.

Giặc Nhật tấn công cả thế giới,

Là kẻ thù chung toàn nhân loại.

Mau đứng lên giúp đỡ Trung Hoa.

Anh chị em Việt Nam ta hỡi!

Ra sức giúp cho người Trung Quốc,

Trung – Việt, khác nào môi với răng.

Nhớ rằng môi hở thì răng buốt,

Cứu Trung Quốc là tự cứu mình”.

– Cứu vong nhật báo (Trung Quốc), ngày 4-12-1940, bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

– Dẫn theo Hoàng Tranh: Những bài nghiên cứu về lịch sử quan hệ Trung – Việt, Nxb. Nhân dân Quảng Tây, 1992, tr. 181-182.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 3, tr. 186-187.

Tháng 12, ngày 5

Bài Mắt cá giả ngọc trai của Nguyễn Ái Quốc, ký bút danh Bình Sơn, đăng trên Cứu vong nhật báo.

Việc quân Nhật cho tay chân đóng giả nhân dân Trung Quốc bỏ vùng bị chiếm “trở về trong lòng Tổ quốc”, để tung tin đồn nhảm, dò la tin tức, được tác giả bài báo gọi là “trò mắt cá giả ngọc trai”. Điều này cũng diễn ra tương tự ở Việt Nam, quân Nhật lập ra “đảng cách mệnh” Việt Nam giả để chia rẽ lực lượng nhân dân Việt Nam đấu tranh cho giải phóng dân tộc. Thế mà, một số tờ báo Trung Quốc lại đăng cái gọi là tuyên ngôn của “Đảng thống nhất cách mạng Việt Nam”, tuyên truyền cho cái tổ chức Việt gian được đế quốc Nhật nuôi nấng này thành ra một “đảng cách mạng”. Bài báo chỉ rõ những điều xảo trá, lừa gạt của “Tuyên ngôn” này và kết luận: “Đối với nhân dân Việt Nam, đối với phong trào giải phóng dân tộc của Việt Nam, chúng ta phải giúp đỡ bằng mọi khả năng có thể. Nhưng đồng thời chúng ta cũng phải cẩn thận, phải vạch trần cái trò mắt cá giả ngọc trai đó”.

– Cứu vong nhật báo (Trung Quốc), ngày 5-12-1940, bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

– Dẫn theo Hoàng Tranh: Những bài nghiên cứu về lịch sử quan hệ Trung – Việt, Nxb. Nhân dân Quảng Tây, 1992, tr. 182-183.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 3, tr. 188-189.

Tháng 12, ngày 16

Bài Ý đại lợi thực bất đại lợi 20) của Nguyễn Ái Quốc, ký bút danh Bình Sơn, đăng trên Cứu vong nhật báo.

Mở đầu bài viết, Nguyễn Ái Quốc nêu rõ: “Đánh bạc với chiến tranh là thủ đoạn quen dùng của giai cấp thống trị Ý”. Người đã vạch rõ sự tính toán hơn thiệt của Ý khi cùng Anh – Pháp – Nga đánh Đức trong Chiến tranh thế giới thứ nhất, rồi trong Chiến tranh thế giới thứ hai lại đứng về phía Đức chống Đồng minh. Song quân Ý đã thất bại nặng nề trong chiến tranh xâm lược và gặp “những chuyện bất lợi…”. “Tất cả những sự việc đó cho chúng ta thấy rõ rằng giấc mộng của Mútxôlini muốn khôi phục lại Impiris Romano 21) đã thành bong bóng xà phòng, và cái ngày mà nhân dân Ý thoát khỏi gông xiềng phát xít đã sắp đến rồi”.

– Cứu vong nhật báo (Trung Quốc), ngày 16-12-1940, bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

– Dẫn theo Hoàng Tranh: Những bài nghiên cứu về lịch sử quan hệ Trung – Việt, Nxb. Nhân dân Quảng Tây, 1992, tr. 183-184.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 3, tr. 190-191.

Tháng 12, ngày 18

Bài Việt Nam phục quốc quân” 22) hay là mại quốc quân” 23) của Nguyễn Ái Quốc, ký bút danh Bình Sơn, đăng trên Cứu vong nhật báo.

Mở đầu bài viết, tác giả vạch rõ âm mưu của Chính phủ Nhật “đối xử rất tốt với những thanh niên Việt Nam sang Nhật, và lợi dụng phong trào chống Pháp để hù doạ đế quốc Pháp”. Song, sau đó lại cấu kết với Pháp, trục xuất số thanh niên này, chỉ giữ lại một số người, trong đó có Trần Mỗ, tức Trần Văn An, trên thực tế là một tên bán rẻ dân tộc, lập ra tổ chức phục quốc quân để lừa bịp nhân dân, phục vụ ý đồ của Nhật. Bài báo phê bình sai lầm của một số tờ báo Trung Quốc coi Việt Nam phục quốc quân” là “đội tiên phong cách mạng dân tộc” và chỉ rõ: “chúng ta cần phân biệt rõ các đoàn thể chính trị và vũ trang của Việt Nam, không nên nhầm các tổ chức Việt gian thành “phong trào dân tộc”, càng không nên nhầm phong trào dân tộc chân chính của Việt Nam là “bọn thổ phỉ” hoặc “bị kẻ địch xúi giục””.

– Cứu vong nhật báo (Trung Quốc), ngày 18-12-1940, bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

– Dẫn theo Hoàng Tranh: Những bài nghiên cứu về lịch sử quan hệ Trung – Việt, Nxb. Nhân dân Quảng Tây, 1992, tr. 184-186.

– Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 3, tr. 192-194.

Tháng 12

Tại Tĩnh Tây, Nguyễn Ái Quốc gặp Lê Thiết Hùng. Hai người nói chuyện thân mật trên bãi cỏ.

Nghe Lê Thiết Hùng báo cáo về hoạt động của mình trong Bộ Tổng tham mưu Quốc dân Đảng Trung Quốc cùng ông Hồ Học Lãm, thu thập được một số tin tức về các kế hoạch tuyệt mật của Tưởng Giới Thạch, Người nói:

– Ông Hồ Học Lãm là một nhà chí sĩ giàu lòng yêu nước cùng thời với cụ Phan Sào Nam 24)

Về nhiệm vụ mới của Lê Thiết Hùng, Người nói:

– Trong số anh em ta ở đây, đồng chí là bậc “phú hào” về khả năng quân sự. Đồng chí sẽ nhận một công tác quân sự.

– Lê Thiết Hùng: Tôi được làm người học trò nhỏ của Bác. Tạp chí Lịch sử quân sự, số tháng 11-1986.

—————–

1) Đồng chí Vũ Anh lúc đó mang bí danh Trịnh Đông Hải, làm công nhân lái xe cho hiệu dầu cù là Vĩnh An Đường, lấy lương nuôi các đồng chí hoạt động, đồng thời ngầm mượn cửa hiệu này làm trạm liên lạc cho cách mạng (B.T).

2) Ban Chỉ huy ở ngoài của Đảng lúc ấy có các đồng chí Phùng Chí Kiên, Vũ Anh… (B.T).

3) Nhà ông Tống Minh Phương ở 77, đường Kim Bích (Côn Minh, Trung Quốc). Gia đình Việt kiều này được giác ngộ và tham gia cách mạng từ những năm 30 của thế kỷ XX. Thời gian này, ông Tống Minh Phương làm nghề thợ may, hiệu may đặt ở tầng 1 của ngôi nhà(B.T).

4) Giập binh: quân đội tan rã (B.T).

5) Đồng chí Vũ Anh được giao nhiệm vụ này, đã xin nghỉ ba ngày để mang truyền đơn (in bằng kính) đi rải ở các ga lớn (B.T).

6) Lúc hoạt động ở Xiêm, đồng chí Đặng Văn Cáp mang bí danh Đặng Văn Linh. Đồng chí Cáp cùng đồng chí Kiên được cử đi đón Nguyễn Ái Quốc nhưng không gặp. Tháng 5-1940, đồng chí Trịnh Đông Hải (tức Vũ Anh), lợi dụng xe của chủ hiệu Vĩnh An Đường, lên Quý Dương đón đồng chí Cáp cùng đồng chí Hoàng Văn Lộc về Côn Minh (B.T).

7) Hồ Kiều tức Hà Khẩu là một thị trấn của tỉnh Vân Nam sát địa phận Lào Cai (B.T).

8) Thực hiện chủ trương của Đảng, đồng chí Hoàng Văn Thụ, Uỷ viên Thường vụ Trung ương Đảng đã bố trí để các đồng chí Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp vượt biên giới sang Trung Quốc bắt liên lạc với cơ sở đảng ở nước ngoài (B.T).

9) Thuý Hồ là một thắng cảnh nổi tiếng ở Vân Nam (B.T).

10) Cuối tháng 6-1940, đường giao thông Côn Minh – Lào Cai bị tắc, kế hoạch về nước bằng đường Lào Cai phải bỏ. Đồng chí Hoàng Văn Lộc được gọi về Côn Minh (B.T).

11) Một trong những mục đích của chuyến đi này là tìm gặp Chu Ân Lai để trao đổi ý kiến về thời cuộc (B.T).

12) Phương Sĩ Tân là đảng viên Đảng Cộng sản Trung Quốc được cử đi học ở Khu Xôviết, vốn là người cùng đơn vị với Hồ Quang (B.T).

13) Số này phần lớn là những thanh niên yêu nước. Lúc mới đến Quảng Tây, họ đã liên hệ với Trương Bội Công. Khoác áo “nhà cách mạng” từ thời Đông du, Công định lôi kéo họ vào lực lượng của mình để thực hiện âm mưu “Hoa quân nhập Việt” (B.T).

14) Cứu vong nhật báo: một tờ báo do đồng chí Trung Quốc lãnh đạo trong thời kỳ chiến tranh chống Nhật, được sáng lập ở Thượng Hải tháng 8-1937, sau dời về Quảng Châu, ra mắt vào dịp Tết Nguyên đán năm 1938; mùa thu năm 1938, dời về Quế Lâm, ra lại vào ngày 10-1-1939. Ngày 28-2-1941 (sau sự biến Hoãn Nam do bọn phản động Quốc dân Đảng gây ra) bị đình chỉ hoạt động. Ở Quế Lâm, toà báo đặt tại nhà số 12, đường Thái Bình (B.T).

15) Nguyễn Ái Quốc quen Hạ Diễn qua mối quan hệ với Văn phòng Bát lộ quân ở Quế Lâm. Năm 1957, Hạ Diễn dẫn đầu đoàn đại biểu Bộ Văn hoá Trung Quốc sang thăm Việt Nam, được Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tại Phủ Chủ tịch. Trong buổi tiếp, nhắc lại chuyện cũ, Người nói với Hạ Diễn: “Bài ấy của tôi đồng chí đã trả nhuận bút năm đồng. Năm đồng hồi đó là khá đắt đấy”. Hai người cùng cười (Hồi ký của Hạ Diễn). (B.T).

16) Lạy Đức Thánh Mẫu (B.T).

17) Nguyên văn chữ Hán:

Lưỡng cá nguyên soái tộ tổng thống, đô thị phan thống.

Nhất song luật sư trưởng nội các, tận hệ vương bát (B.T).

18) Bí danh của đồng chí Phạm Văn Đồng. Chủ trương “hợp nhất” hai tổ chức “Việt Nam độc lập đồng minh hội” với “Việt Nam dân tộc giải phóng uỷ viên hội” của Trương Bội Công là chủ trương của các đồng chí Nguyễn Ái Quốc, Phùng Chí Kiên. Trương Bội Công lúc đầu không đồng ý, nhưng sợ bị bỏ rơi, nên sau đã đồng ý chủ trương này và cho gửi bức điện nói trên.

Phía ta tranh thủ biến bức điện mời thành giấy đi đường để về nước (B.T).

19) Giặc lùn: chỉ quân phát xít Nhật (B.T).

20) Ý đại lợi là tên nước Italia đọc theo âm Hán Việt. Đầu đề bài báo là một lối chơi chữ của tác giả (B.T).

21) Đế quốc La Mã (B.T).

22) Phục quốc quân: đội quân khôi phục đất nước (B.T).

23) Mại quốc quân: đội quân bán nước (B.T).

24) Phan Sào Nam: Phan Bội Châu (B.T).

Nguồn: dangcongsan.vn
Vkyno (st)

Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử – Tập 2 (Năm 1939)

Đầu năm

Với bí danh Hồ Quang, Nguyễn Ái Quốc đến Trùng Khánh. Người ở tại Văn phòng Bát lộ quân Trùng Khánh 1) đặt tại thôn Hồng Nham.

Người thường đến thăm Chu Ân Lai, một đôi lần gặp cả Franklin Lien Ho 2) ở đó.

            – King C. Chen: Vietnam and China 1938-1954, Princeton University, Press Princeton, New York, 1969, p. 34.

            – Hoàng Tranh: Ghi chép phỏng vấn đồng chí Lưu Ngang. Dẫn trong Hồ Chí Minh với Trung Quốc, Nxb. Giải phóng quân, Bắc Kinh, 1984, tr. 59-60.

Tháng 2, ngày 10

Từ Văn phòng Bát lộ quân Quế Lâm, Nguyễn Ái Quốc đi với Diệp Kiếm Anh đến lớp huấn luyện cán bộ du kích tại Nam Nhạc thuộc Hoành Dương, tỉnh Hồ Nam 3).

            – T. Lan: Vừa đi đường vừa kể chuyện, Nxb. Chính trị quốc gia – Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 1994, tr. 63.

            – Hoàng Tranh: Hồ Chí Minh với Trung Quốc, Nxb. Giải phóng quân, Bắc Kinh, 1984, tr. 55-56.

Tháng 4, ngày 9

Bài viết Thư từ Trung Quốc khởi đầu bằng dòng chữ “Quế Lâm, cuối tháng 2”, ký tên P.C. Lin của Nguyễn Ái Quốc, in trên báo Notre Voix9.

Nguyễn Ái Quốc đã chỉ ra sự thống nhất và hợp tác bước đầu của hai Đảng chính trị lớn ở Trung Quốc lúc bấy giờ là Đảng Cộng sản và Quốc dân Đảng trong Mặt trận dân tộc chống Nhật. Mặt khác, Nguyễn Ái Quốc cũng lên án khuynh hướng thất bại chủ nghĩa và đầu hàng Nhật, mà đại biểu của nó là Uông Vệ Tinh – cựu Chủ tịch Hội đồng chính trị quốc gia nước Trung Hoa.

Người giới thiệu kết quả của kỳ họp lần thứ ba của Hội đồng chính trị quốc gia Trung Quốc: “vạch ra và thảo luận 86 dự án và kiến nghị, trong đó có 19 dự án và kiến nghị thuộc những vấn đề về quân sự, 18 về kinh tế và tài chính, 17 về giáo dục nhân dân, 3 về ngoại giao, 28 về nội trị, 3 về những vấn đề khác”.

            – Báo Notre Voix, ngày 9-4-1939.

            – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr. 99-102.

Tháng 4, ngày 16

Bài viết Thư từ Trung Quốc khởi đầu bằng dòng chữ “Quế Lâm, đầu tháng 3”, ký tên P.C. Lin của Nguyễn Ái Quốc in trên báo Notre Voix.

Nguyễn Ái Quốc trích dẫn từ bản tin Những con số hùng hồn về những thiệt hại, tổn thất của bọn xâm lược Nhật Bản “trên mặt trận du kích” ở Trung Quốc. Trong phần kết, Người viết: “Nhưng nếu bọn Nhật muốn quân du kích đánh giặc như những “người văn minh” bằng cách dùng giáo mác và súng trường để chọi với xe tăng và đại bác thì chúng có thể cứ chờ đó. Chúng tôi không đến nỗi ngu ngốc như thế!”.

            – Báo Notre Voix, ngày 16-4-1939.

            – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr. 103-108.

Tháng 4, ngày 20

Nguyễn Ái Quốc viết Thư gửi một đồng chí ở Ban Phương Đông Quốc tế Cộng sản, ký tên Lin, để bổ sung thêm một vài điều mà trong thư trước quên chưa nói. Đó là mối quan hệ với tờ Notre Voix, tờ báo có “những thông tin khá hay” về những tờ báo cánh tả, về Đảng Xã hội, về hoạt động của “đại biểu đảng viên xã hội người bản xứ ở Hội đồng thành phố Hà Nội”, về “sự đàn áp xảy ra ở khắp nơi, đặc biệt là ở Trung Kỳ, chống những… phần tử cánh tả, những công nhân và những nông dân hoạt động”, về sự hoạt động của bọn phản động.

Qua đó, Người nhận định: “tôi có cảm tưởng rằng phong trào của mặt trận thống nhất ở xứ này không mạnh lắm. Trái lại, những phần tử cánh tả hoạt động khá mạnh”. Người cũng thông báo đã “góp phần nhỏ bé (…) vào cuộc đấu tranh chống Nhật Bản bằng cách thỉnh thoảng gửi những bài tuyên truyền cho các báo nước ngoài và công tác ở Bát lộ quân”.

Người ghi:

Địa chỉ: (Bằng máy bay).

Quế Lâm (Quảng Tây) Trung Quốc.

(Sau dòng địa chỉ bằng tiếng Pháp là dòng chữ Hán viết tay: Tân Hoa nhật báo, số nhà 35, đường Quế Tây, Quế Lâm, Quảng Tây, chuyển cho ông Lâm Tam Xuyên).

            – Tài liệu tiếng Pháp, bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

            – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr. 121-124.

Tháng 4, ngày 30

Bài viết Chủ nghĩa anh hùng của công nhân Trung Quốc trong chiến tranh chống Nhật, ký tên P.C. Lin, của Nguyễn Ái Quốc, in trên báoNotre Voix.

Nguyễn Ái Quốc giới thiệu những hoạt động đầu tiên của công nhân mỏ Hân Định 4) khi bọn Nhật đến khai thác “miếng mồi béo bở” này. “Công nhân mỏ biến thành du kích” và đó là “gánh nặng” đối với kẻ xâm chiếm. Vì vậy, Người mở đầu bài viết bằng một khẳng định: “Trong chiến tranh chống Nhật, công nhân Trung Quốc là những người yêu nước ưu tú nhất”. Nông dân cũng là lực lượng kháng Nhật mạnh mẽ. Cuộc kháng chiến chống Nhật của nhân dân Trung Quốc làm cho “Bọn Nhật ngày càng trở nên mệt mỏi”. Từ những cuộc đấu tranh riêng rẽ của nông dân, công nhân đã “hình thành nên một phong trào mạnh mẽ của du kích vùng mỏ… Như vậy là bùng nổ cuộc chiến tranh công khai thật sự giữa bọn Nhật và anh em công nhân ở Hân Định”.

Cuộc chiến tranh chống Nhật của công nhân Trung Quốc được cả hai vợ chồng kỹ sư người Đức ủng hộ. Cuộc chiến đấu này không chỉ khẳng định phẩm chất “yêu nước ưu tú nhất” của công nhân Trung Quốc mà còn vì nền văn minh chung của nhân loại nữa.

            – Báo Notre Voix, ngày 30-4-1939.

            – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr. 109-115.

Tháng 5, ngày 21

Bài viết Thư từ Trung Quốc – Những khó khăn của quân đội Nhật khởi đầu với dòng chữ “Quế Lâm, ngày 15-4”, ký tên P. C. Lin của Nguyễn Ái Quốc, đăng trên báo Notre Voix.

Nguyễn Ái Quốc thuật lại (từ các nguồn thông báo chính thức) một số vụ binh biến (ở Đại Cô ngày 22 tháng Giêng, ở Hán Khẩu ngày 9 tháng 2,…) và tình hình từ chỗ cuồng tín “Hy sinh vì Nhật hoàng là vinh dự lớn nhất!”, “Hãy chiến thắng khi trở về hoặc là tự sát trên chiến trường!” đến tình trạng mất lòng tin, đến những vụ tự tử để khỏi phải ra mặt trận, những vụ nổi dậy của binh lính Nhật ở Hồng Kông, Louang… Kết thúc bức thư, Nguyễn Ái Quốc viết: “Sau khi đọc qua vài sự việc trên đây, chắc các bạn thừa hiểu vì sao bọn Nhật sau khi chiếm Hán Khẩu, Quảng Châu và Nam Dương thì không còn tiến được nữa”.

            – Báo Notre Voix, ngày 21-5-1939.

            – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr. 116-120.

Tháng 6, ngày 23

Bài viết Thư từ Trung Quốc – Về chủ nghĩa Tờrốtxki10 khởi đầu bằng dòng chữ “Quế Lâm, ngày 10-5-1939”, ký tên P.C. Lin, của Nguyễn Ái Quốc, đăng trên báo Notre Voix.

Nguyễn Ái Quốc chuyển đến người đọc năm nhận định về chủ nghĩa Tờrốtxki và bọn tờrốtxkít:

1. Đây là một vấn đề liên quan đến toàn quốc, toàn dân: một vấn đề chống lại Tổ quốc, chứ “không phải là sự tranh cãi trong nội bộ Đảng Cộng sản Trung Quốc”.

2. Bọn phát xít Nhật và bọn phát xít nước ngoài tuyên truyền xuyên tạc, làm cho người ta tưởng rằng những người cộng sản và bọn tờrốtxkít là cùng một cánh với nhau.

3. Bọn tờrốtxkít ở tất cả các nước là những bè lũ bất lương, những con chó săn của chủ nghĩa phátxít.

4. Ở tất cả các nước, bọn tờrốtxkít đều dùng những tên gọi hoa mỹ để che giấu những công việc kẻ cướp, bẩn thỉu của chúng.

5. Bọn tờrốtxkít không chỉ là kẻ thù của chủ nghĩa cộng sản, mà còn là kẻ thù của nền dân chủ và tiến bộ. Đó là bọn phản bội và mật thám tồi tệ nhất.

Cuối thư, Người hẹn sẽ nói rõ hơn về hành động của bọn tờrốtxkít Trung Quốc trong một bức thư sau. Kèm theo một lời chào: “Mong sớm được gặp lại các bạn”.

            – Báo Notre Voix, ngày 23-6-1939.

            – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 3, tr. 125-127.

Tháng 6, ngày 20 đến tháng 9, ngày 20

Với bí danh Hồ Quang, Nguyễn Ái Quốc tham gia khoá 2 lớp huấn luyện cán bộ du kích Nam Nhạc 5) (Hồ Nam, Trung Quốc). Tại đây, Người còn phụ trách việc nghe đài lấy tin cho lớp huấn luyện 6).

            – T. Lan: Vừa đi đường vừa kể chuyện, Nxb. Chính trị quốc gia – Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 1994, tr. 64.

            – Ngô Khê Như: Hồi ức về lớp huấn luyện cán bộ du kích Nam Nhạc. Dẫn theo Hoàng Tranh: Hồ Chí Minh với Trung Quốc, Nxb. Giải phóng quân, Bắc Kinh, 1984, tr. 56-57.

Tháng 7, ngày 7

Bài viết Thư từ Trung Quốc – Hoạt động của bọn tờrốtxkít Trung Quốc, ký tên P.C. Lin, của Nguyễn Ái Quốc, đăng trên báo Notre Voix.

Nguyễn Ái Quốc đã vạch mặt một số tên đại biểu tờrốtxkít và những hành động phản bội Tổ quốc của chúng – để nhận của Sở mật thám Nhật, mỗi tháng 30 đôla, “cùng những khoản tiền trả thêm cho cân xứng với những “công việc đã làm được có kết quả””. Đó là việc xuất bản những tạp chí và những tập trào phúng để truyền bá tư tưởng đầu hàng, bào chữa cho ý đồ xâm lược của Nhật ở Trung Quốc; tìm cách phá hoại phong trào kháng Nhật, bắt “những người cầm đầu giỏi nhất của cuộc bãi công”.

            – Báo Notre Voix, ngày 7-7-1939.

            – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr. 128-129.

Tháng 7, ngày 14

Bài viết Thư từ Trung Quốc – Tổng kết sau hai năm đấu tranh, ký tên P. C. Lin, của Nguyễn Ái Quốc, đăng trên báo Notre Voix.

Nguyễn Ái Quốc đã nêu rõ, tuy Nhật đã chiếm 12 tỉnh của Trung Quốc với số dân 200 triệu người, nhưng chúng đã thất bại trên các mặt trận chính trị, kinh tế, quân sự.

Về phía nhân dân Trung Quốc, tác giả trình bày cuộc kháng chiến anh dũng chống Nhật và khẳng định: “Chúng tôi có “thiên thời, địa lợi và nhân hoà” là ba yếu tố cần thiết cho chiến thắng”.

Kết thúc bài viết là một trích đoạn bài hát:

“Ai có tiền thì góp tiền.

Ai có sức thì góp sức.

Mỗi chúng ta là một chiến sĩ anh dũng.

Tiến lên! Quân thù sắp phải nhả ra thôi.

Hãy cống hiến tất cả! Hãy cống hiến tất cả!

Cho chiến thắng đang đến với chúng ta!”.

            – Báo Notre Voix, ngày 14-7-1939.

            – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr. 130-133.

Tháng 7, ngày 28

Nguyễn Ái Quốc viết bài Thư từ Trung Quốc – Hoạt động của bọn tờrốtxkít ở Trung Quốc, trong đó, Người trình bày thêm về những tội ác của bọn tờrốtxkít. Chúng khơi dậy chủ nghĩa địa phương trong dân chúng để chống lại Chính phủ kháng Nhật và tìm cách làm cho Hồng quân suy yếu, chúng phá hoại Mặt trận đoàn kết, âm mưu diệt trừ cộng sản, gây rối loạn ở hậu phương.

            – Báo Notre Voix, ngày 28-7-1939 và ngày 11-8-1939.

            – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr. 134-137.

Cuối tháng 7

Nguyễn Ái Quốc viết tám điểm xác định đường lối, chủ trương cho cách mạng Đông Dương, trong thời kỳ 1936-1939. Đó là “Những chỉ thị mà tôi nhớ và truyền đạt”. Tám điểm này được gửi kèm theo với báo cáo gửi Quốc tế Cộng sản để xin ý kiến. Đó là:

1. Khẩu hiệu đấu tranh: “Lúc này, Đảng không nên đưa ra những đòi hỏi quá cao (độc lập dân tộc, nghị viện, v.v.). Như thế sẽ rơi vào cạm bẫy của phát xít Nhật”…

2. Phải ra sức tổ chức Mặt trận dân tộc dân chủ rộng rãi.

3. Phải có thái độ khéo léo, mềm dẻo, lôi kéo tư sản dân tộc về phía Mặt trận.

4. Không được thoả hiệp, nhượng bộ với bọn tờrốtxkít.

5. Liên hệ chặt chẽ với Mặt trận nhân dân Pháp.

6. Đảng không thể đòi hỏi Mặt trận thừa nhận quyền lãnh đạo của mình, mà phải tỏ ra là một bộ phận trung thành nhất, hoạt động nhất và chân thực nhất.

7. Kiên quyết chống tư tưởng bè phái, phải tổ chức học tập có hệ thống chủ nghĩa Mác-Lênin.

8. Ban Chấp hành Trung ương phải kiểm soát các báo chí của Đảng để tránh những khuyết điểm về kỹ thuật và chính trị.

            – Bản chụp bút tích, lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

            – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr. 138-139.

Cuối tháng 7

Ký tên P. C. Lin, Nguyễn Ái Quốc viết Báo cáo gửi Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản về tình hình chính trị ở Đông Dương từ năm 1936 đến năm 1938.

Báo cáo mở đầu: “Các bạn thân mến, Tôi ra đi đã 9 tháng nay và đã tới nơi được 7 tháng. Nhưng tôi lấy làm khổ tâm mà báo cáo rằng tôi chưa hoàn thành nhiệm vụ. Đúng là tôi đã rơi vào cơn lốc lớn đang làm biến đổi số mệnh của hàng trăm triệu con người và trên con đường di chuyển của nó, nó đã ngẫu nhiên làm đảo lộn tất cả kế hoạch của tôi. Tuy nhiên điều đó cũng không thể bào chữa cho sự bất lực của tôi…”.

Nguyễn Ái Quốc trình bày một số việc mà Người đã tiến hành trong thời gian 7 tháng qua (đối với cách mạng Đông Dương và đối với công tác tuyên truyền quốc tế). Người cũng gửi kèm theo báo cáo này bản sao tám điểm có tính chất phương hướng cho cách mạng Đông Dương trong tình hình mới để xin ý kiến. Nội dung báo cáo có những phần sau:

– Tình hình chính trị trong người bản xứ: một số đảng viên xã hội người bản xứ hoạt động trong các Hội đồng quản hạt của Pháp và đám tang Phan Thanh – một đám tang lớn chưa bao giờ thấy “như thế ở Hà Nội”.

 Tổ chức chính trị của Pháp ở Bắc Kỳ với các hoạt động của Chi nhánh Đảng Xã hội Bắc Đông Dương, Hội nhân quyền.

– Cuộc đấu tranh của công nhân: nhiều cuộc bãi công, biểu tình nổ ra trong khắp nước, có tổ chức, kỷ luật hơn và được sự ủng hộ tinh thần, vật chất của công nhân nhiều ngành.

– Hoạt động của báo chí, xuất bản sách báo cách mạng.

– Tình cảnh của tù chính trị với khoảng 1500 người ở trong các nhà lao, bị đàn áp, o ép.

– Sự ủng hộ lẫn nhau giữa cách mạng Đông Dương và Trung Quốc, cũng như sự cấu kết giữa bọn Pháp và Tưởng.

– Hoạt động của Nhật ở Đông Dương nhằm xâm chiếm xứ này.

            – Báo cáo tiếng Pháp, bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

            – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr. 140-161.

Tháng 9, sau ngày 20

Với bí danh Hồ Quang, Nguyễn Ái Quốc rời Hoành Dương, tỉnh Hồ Nam đi Quế Lâm (Quảng Tây, Trung Quốc).

            – Đặng Văn Cáp: Con đường dẫn tôi đến với Bác, in trong cuốn Bác Hồ về nước, Hội Văn học nghệ thuật Cao Bằng, Cao Bằng, 1986, tr. 48.

Tháng 10, đầu tháng

Nguyễn Ái Quốc đến Quế Lâm.

            – Đặng Văn Cáp: Con đường dẫn tôi đến với Bác, in trong cuốn Bác Hồ về nước, Hội Văn học nghệ thuật Cao Bằng, Cao Bằng, 1986, tr. 48.

Tháng 10

Nguyễn Ái Quốc rời Quế Lâm qua Liễu Châu, Nam Ninh đi Long Châu để bắt liên lạc với các đồng chí Việt Nam ở trong nước phái ra. Cùng đi có một đồng chí Trung Quốc, có công vụ qua Việt Nam đi Hồng Kông kết hợp làm nhiệm vụ hộ tống 7).

Tại Long Châu, Nguyễn Ái Quốc không gặp được người từ Việt Nam cử sang. Người lại quay về Quế Lâm.

            – Hồ Chí Minh: Cách mạng Trung Quốc với cách mạng Việt Nam. Báo Nhân dân, ngày 1-7-1961.

            – Hồi ký của Lý Bội Quần. Dẫn theo Hoàng Tranh: Hồ Chí Minh với Trung Quốc, Nxb. Giải phóng quân, Bắc Kinh, 1984, tr. 58.

Tháng 10, cuối tháng

Nguyễn Ái Quốc đến Quý Dương, thủ phủ tỉnh Quý Châu (Trung Quốc). Người được bố trí ở tầng trên của Văn phòng Bát lộ quân tại Quý Dương 8).

            – Đặng Văn Cáp: Con đường dẫn tôi đến với Bác, in trong cuốn Bác Hồ về nước, Hội Văn học nghệ thuật Cao Bằng, Cao Bằng, 1986, tr. 48.

            – Hoàng Tranh: Ghi chép cuộc phỏng vấn đồng chí Viên Siêu Tuấn. Dẫn theo Hoàng Tranh: Hồ Chí Minh với Trung Quốc, Nxb. Giải phóng quân, Bắc Kinh, 1984, tr. 59-60.

Tháng 11, ngày 7

Nguyễn Ái Quốc rời Quý Dương 9).

            – Đặng Văn Cáp: Con đường dẫn tôi đến với Bác, in trong cuốn Bác Hồ về nước, Hội Văn học nghệ thuật Cao Bằng, Cao Bằng, 1986, tr. 48.

Tháng 11, ngày 18

Nguyễn Ái Quốc trở lại Quý Dương 10) nhưng vẫn không gặp được những người đi đón, nên lại tìm đường đi Côn Minh.

            – Đặng Văn Cáp: Con đường dẫn tôi đến với Bác, in trong cuốn Bác Hồ về nước, Hội Văn học nghệ thuật Cao Bằng, Cao Bằng, 1986, tr. 48.

Khoảng tháng 11

Nguyễn Ái Quốc từ Quý Dương đến Trùng Khánh. Tại đây, Người thường hay lui tới Văn phòng của Bát lộ quân đóng tại thôn Hồng Nham. Lần nào “Người cũng ở một gian buồng nhỏ tầng trên của Văn phòng, kề sát với buồng của đồng chí Tiền Chi Quang”.

            – Tưởng Vĩnh Kính: Hồ Chí Minh ở Trung Quốc, Đài Bắc, 1972, tr. 59.

Khoảng cuối năm

Nguyễn Ái Quốc bí mật gặp ông Hồ Học Lãm, bấy giờ đã theo Bộ Tổng tham mưu quân Quốc dân Đảng rút về Trùng Khánh từ năm 1937.

Ông Lãm đã báo cho Người biết một số tình hình của Chính phủ Tưởng Giới Thạch, về hoạt động của Lê Thiết Hùng giúp Đảng Cộng sản Trung Quốc trong năm lần quân Tưởng vây quét khu Xôviết.

Nguyễn Ái Quốc đã nhờ ông Lãm báo tin cho Lê Thiết Hùng tìm cách ra khỏi quân đội Tưởng, trở về Quế Lâm.

            – Lê Thiết Hùng: Tôi được làm người học trò nhỏ của Bác. Tạp chí Lịch sử quân sự, số tháng 10-1986[1]) Lưu Ngang, cán bộ Văn phòng Bát lộ quân Trùng Khánh thời kỳ này, cho biết:

——————

 1) Lưu Ngang, cán bộ Văn phòng Bát lộ quân Trùng Khánh thời kỳ này, cho biết:

Thời kỳ chiến tranh chống Nhật, vào khoảng các năm 1939-1940, tôi đã nhiều lần được gặp Hồ Chí Minh tại Văn phòng Bát lộ quân Trùng Khánh. Lúc bấy giờ Người mang bí danh Hồ Quang. Nhiều đồng chí chúng tôi không biết rằng Người là đồng chí của Đảng anh em. Người đến lần nào cũng ở một gian buồng nhỏ tầng trên của Văn phòng, kề vách với phòng ở của đồng chí Tiền Chi Quang. Đồng chí Hồ Quang ăn mặc rất giản dị, thường đi hài sảo, mặc áo vạt chéo kiểu đời Đường, trông như một thầy giáo nông thôn. Nói pha giọng Quảng Đông. Chúng tôi cứ tưởng là người Quảng Đông. Trán cao, lại tên là Hồ Quang, nên sau lưng đồng chí ấy, chúng tôi thường gọi là “Quang hói”. Người mang theo máy chữ bên mình, thường đánh máy chữ trong phòng. Có lúc Người cũng hỏi han chuyện trò với các đồng chí. Có lần tôi hỏi đồng chí đã có vợ chưa, có con cái gì không. Người bảo chưa lấy vợ. Bấy giờ, gần địa điểm làm việc của “Bát biện” Trùng Khánh có một cây cổ thụ, Hồ Quang rất thích nghỉ ngơi, đi bách bộ dưới bóng cây ấy. Vì Người đến với cương vị bí mật, thường là đồng chí Chu Ân Lai trực tiếp liên hệ với Người, nên chúng tôi ít được biết hoạt động của Người (B.T)

2) Franklin Lien Ho, từng là giáo sư Trường đại học Columbia, sau đó là Thứ trưởng Bộ Kinh tế của Chính phủ Trung Hoa dân quốc. Thời gian này ông nhiều lần đến nơi làm việc của Chu Ân Lai. Chi tiết này được ông khẳng định trong thư gửi King C. Chen, ngày 13-7-1967(B.T).

3) Lớp huấn luyện cán bộ du kích tại Nam Nhạc là lớp huấn luyện do Quốc – Cộng hợp tác tổ chức trong thời kỳ kháng chiến chống Nhật. Ngày 23-1-1938, Tưởng Giới Thạch triệu tập một cuộc hội nghị quân sự ở Hoành Sơn – Nam Nhạc, nêu chủ trương “Kháng chiến kỳ hai, coi trọng đánh du kích hơn đánh chính quy” và quyết định bắt chước cách làm của Đảng Cộng sản Trung Quốc, tổ chức tại Nam Nhạc một lớp huấn luyện, đào tạo cốt cán để mở rộng chiến tranh du kích vùng sau lưng địch. Vì vậy, Tưởng yêu cầu Đảng Cộng sản Trung Quốc cử cán bộ đến giảng dạy về chiến thuật du kích cho lớp huấn luyện. Đảng Cộng sản Trung Quốc quyết định cử Diệp Kiếm Anh dẫn đầu một số đồng chí đến tham gia lớp giảng dạy. Ngày 10-2-1939, Diệp Kiếm Anh lấy một số giáo quan và cán bộ ở Văn phòng Quế Lâm đến Nam Nhạc. Diệp Kiếm Anh giữ chức Phó trưởng ban giáo dục huấn luyện. Khoá thứ nhất khai giảng ngày 15-2-1939, kết thúc ngày 15-5-1939. Khoá thứ hai khai giảng ngày 20-6-1939 và kết thúc ngày 20-9-1939. Nguyễn Ái Quốc đã tham gia vào cả hai khoá huấn luyện với danh nghĩa công khai: Thiếu tá Hồ Quang, nhân viên điện đài (B.T).

4) Khu mỏ than của tỉnh Hồ Bắc (Trung Quốc) (B.T).

5) Cùng với các giáo quan và cán bộ được Đảng Cộng sản Trung Quốc phái đến, đồng chí Hồ Quang ở trong khu vườn cam thuộc một trang trại của địa chủ ở phía tây thị trấn Nam Nhạc. Trong nơi đóng quân có đặt điện đài để nghe tin tức trong nước và thế giới và để liên lạc với Văn phòng Bát lộ quân ở Quế Lâm (B.T).

6) Ngô Khê Như, một giáo quan được Đảng Cộng sản Trung Quốc cử đến lớp huấn luyện du kích Nam Nhạc, trong một hồi ký về lớp huấn luyện ấy cho biết:

Qua tập “Bản tin khoá 2 lớp huấn luyện cán bộ du kích Tây Nam của ban Quân huấn Uỷ ban quân sự được ấn hành hồi đó, có thể đọc thấy những dòng sau về Hồ Quang:

Họ và tên: Hồ Quang

Chức vụ: Thiếu tá, giữ đài lấy tin

Tuổi: 38

Quê quán: Quảng Đông

Đơn vị: Tập đoàn quân 18

Tốt nghiệp trường nào: Đại học Lĩnh Nam

Đã từng làm công tác gì: Giáo viên trung học, Hiệu trưởng Trường Ngoại ngữ (B.T).

7) Hồi ký của Lý Bội Quần viết:

“Vào khoảng tháng 10, tháng 11-1939, tôi lại nhận nhiệm vụ từ Quế Lâm qua Việt Nam đi Hồng Kông. Trước lúc lên đường, đồng chí Lý Khắc Nông gọi tôi lên, nói cho tôi rõ cương vị đích thực của đồng chí Hồ Quang và giao thêm cho tôi một nhiệm vụ nữa là tiện đường dẫn đồng chí Hồ Quang đến Long Châu, bắt liên lạc với người của tổ chức Đảng Việt Nam từ trong nước phái ra tìm đồng chí Hồ Quang. Thế là tôi hộ tống đồng chí Hồ Quang rời Quế Lâm, qua Liễu Châu, Nam Ninh đến Long Châu, suốt dọc đường hết sức cẩn thận. Sau khi đến Long Châu, chúng tôi ở lại một quán trọ nhỏ trên bờ sông. Nhưng chờ mãi ba ngày cũng không thấy có đồng chí đến chắp nối với Hồ Quang, Hồ Quang đành theo đường cũ quay lại Quế Lâm. Còn tôi thì từ Long Châu sang Việt Nam rồi đi Hồng Kông. Lần ấy không giúp đồng chí Hồ Quang chắp nối được với tổ chức, tôi cứ lấy làm tiếc mãi. Đến đầu thập kỷ 60, đọc được bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh nhân dịp kỷ niệm 40 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Trung Quốc, tôi mới biết rằng lần đó vì người ở Việt Nam cử sang Long Châu đã bị lừa lấy mất sạch tiền nên đã trở về Việt Nam ba hôm trước khi Hồ Quang và tôi từ Quế Lâm đến được Long Châu” (B.T).

8) Đồng chí Viên Siêu Tuấn, người phụ trách Văn phòng Bát lộ quân ở Quý Dương cho biết:

“Khoảng tháng 12-1938, tôi nhận nhiệm vụ rời Văn phòng Bát lộ quân Quế Lâm, đến Quý Dương, chuẩn bị thành lập Văn phòng Quý Dương. Đầu năm 1939, Văn phòng Bát lộ quân Quý Dương chính thức thành lập. Thu Đông năm đó, đồng chí Hồ Quang đến. Đồng chí trên đường từ Quế Lâm đi Trùng Khánh để gặp các đồng chí ở đoàn đại diện Đảng Cộng sản Trung Quốc, đi qua Quý Dương. Sau đó, đồng chí Hồ Quang còn nhiều lần qua lại Quý Dương, lần nào cũng ở tầng trên của nhà Văn phòng chúng tôi. Có lần ở năm ba hôm, có lần ở mươi hôm, nửa tháng. Đồng chí ấy mang theo máy chữ, thường đóng cửa phòng lại đánh máy. Quan hệ giữa đồng chí ấy với các đồng chí trong Văn phòng rất tốt. Đồng chí ấy thường dạy mọi người học ngoại ngữ. Bấy giờ chúng tôi rất gian khổ. Đồng chí Hồ Quang có lúc bỏ ra ít tiền mua thức ăn thêm cùng ăn với chúng tôi. Về sau, sau khi đồng chí Hồ Quang bắt được liên lạc với các đồng chí Việt Nam hoạt động tại Côn Minh, thì đồng chí Hồ Quang và các đồng chí Việt Nam khác càng có nhiều dịp vào ra Văn phòng Quý Dương. Đồng chí Hồ Quang thường nhờ Văn phòng giúp một số việc như chuyển khoản, sắp xếp nơi ăn chốn ở và giải quyết vấn đề giao thông cho các đồng chí Việt Nam qua lại…” (B.T).

9)) Phùng Chí Kiên và Đặng Văn Cáp có nhiệm vụ đi tìm đón đồng chí Nguyễn Ái Quốc. Ngày 10-11, hai đồng chí đến Quý Châu, tìm vào Văn phòng của Bát lộ quân, gặp Viên Siêu Tuấn, đồng chí này cho biết: “Đồng chí Hồ Quang đã rời đây đi ba ngày rồi” (B.T).

10) Lúc này, Phùng Chí Kiên và Đặng Văn Cáp đã chia tay nhau được bảy ngày: Phùng Chí Kiên đi Côn Minh, Đặng Văn Cáp ở lại Quý Dương, nhưng vì hôm đó là ngày “hội sư” của Tưởng Giới Thạch với các tướng tá, nên tất cả các ngả đường, đặc biệt là đường từ bến ô tô đến Văn phòng Bát lộ quân đều bị giới nghiêm, không đến gặp được  (B.T).

Nguồn: dangcongsan.vn
Vkyno (st)

Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử – Tập 2 (Năm 1938)

Tháng 6, ngày 6

Nguyễn Ái Quốc (Lin) viết Thư gửi một đồng chí ở Quốc tế Cộng sản. Toàn văn bức thư (viết bằng tiếng Pháp) như sau:

Đồng chí thân mến,

Hôm nay là ngày kỷ niệm lần thứ bảy việc tôi bị bắt giữ ở Hồng Kông. Đó cũng là ngày mở đầu năm thứ tám tình trạng không hoạt động của tôi. Nhân dịp này, tôi viết thư gửi đồng chí để xin đồng chí giúp đỡ tôi thay đổi tình cảnh đau buồn này.

Đồng chí hãy phân tôi đi đâu đó. Hoặc là giữ tôi ở lại đây. Hãy giao cho tôi làm một việc gì mà theo đồng chí là có ích. Điều tôi muốn đề nghị với đồng chí là đừng để tôi sống quá lâu trong tình trạng không hoạt động và giống như là sống ở bên cạnh, ở bên ngoài của Đảng.

Tôi sẽ rất biết ơn đồng chí, thưa đồng chí thân mến, cho phép tôi được hội kiến. Tôi tin rằng như vậy sẽ tốt hơn. Đã từ lâu rồi đồng chí không gặp tôi.

Đồng chí thân mến, xin đồng chí nhận lời chào cộng sản anh em của tôi.

6-6-1938

LIN

(Nguyễn Ái Quốc)

            – Bản chụp thư tiếng Pháp, lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

            – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr. 90.

Tháng 9, ngày 29

Nguyễn Ái Quốc rời khỏi biên chế của Viện Nghiên cứu các vấn đề dân tộc và thuộc địa 1).

            – Bản chụp tài liệu của Cục Lưu trữ Trung ương, thuộc Viện Nghiên cứu chủ nghĩa Mác – Lênin (Liên Xô trước đây), lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

Tháng 10

Vào một buổi chiều se lạnh, Nguyễn Ái Quốc đáp xe lửa ở ga Iarôxlapxki rời Mátxcơva đi về phương Đông.

            – Hồng Hà: Bác Hồ trên đất nước Lênin, Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 2000, tr. 335.

Mùa đông

Nhờ mối liên hệ giữa Đảng Cộng sản Liên Xô và Đảng Cộng sản Trung Quốc, Nguyễn Ái Quốc đến Văn phòng Lan Châu của Giải phóng quân Trung Quốc để từ đó đi Tây An.

Tại Lan Châu 2), Người được Ngũ Tu Quyền 3) – Chủ nhiệm Văn phòng tiếp đãi chu đáo. Theo sự sắp xếp của tổ chức, Người nhận quân phục và phù hiệu Bát lộ quân, quân hàm thiếu tá với bí danh Hồ Quang.

            – T. Lan: Vừa đi đường vừa kể chuyện, Nxb. Chính trị quốc gia – Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 1994, tr. 57.

            – Ngũ Tu Quyền: Chặng đường kinh lịch của tôi 1908-1949, Nxb. Giải phóng quân, Bắc Kinh, 1984, tr. 134-135.

Mùa đông

Sau vài ngày ở Tây An, Người cùng mấy đồng chí Trung Quốc “hộ tống” mấy xe bò, xe ngựa, xe trâu chở vải rách (mua về để bện dép) đi Diên An 4).

Khoảng một tuần sau Người đến Diên An.

            – T. Lan: Vừa đi đường vừa kể chuyện, Nxb. Chính trị quốc gia – Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 1994, tr. 58.

Mùa đông

Ở Diên An hai tuần, Nguyễn Ái Quốc trở lại Tây An. Lần này, Người đi cùng 5 chiếc xe hơi chở học sinh và cán bộ trung, cao cấp. Trên đường qua vùng “trắng”, bọn đặc vụ Quốc dân Đảng lục soát xe, dọa giữ xe, giữ người. Trước thái độ cứng rắn của quân cách mạng, quân “trắng” phải lùi.

            – T. Lan: Vừa đi đường vừa kể chuyện, Nxb. Chính trị quốc gia – Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 1994, tr. 63.

Mùa đông

Rời Tây An, Nguyễn Ái Quốc tìm đường đi Quảng Tây. Cùng đi có đồng chí L. là cán bộ của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Để được an toàn trên đường đi, Nguyễn Ái Quốc sắm vai lính hầu của quan trưởng L.

            – T. Lan: Vừa đi đường vừa kể chuyện, Nxb. Chính trị quốc gia – Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 1994, tr. 63.

Cuối năm

Nguyễn Ái Quốc trong vai thiếu tá Bát lộ quân Hồ Quang cùng tướng Diệp Kiếm Anh đến Quế Lâm, ở trong trụ sở Văn phòng Bát lộ quân5) đặt tại thôn Lộ Mạc ở ngoại ô thành phố.

            – Hồ Chí Minh: Truyện và ký, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1974, tr. 323.

            – Tư liệu phỏng vấn của Nhà lưu niệm Bát biện Quế Lâm (Trung Quốc). Dẫn theo Hoàng Tranh: Hồ Chí Minh với Trung Quốc, Nxb. Giải phóng quân, Bắc Kinh, 1984, tr. 53.

Một ngày cuối năm

Nhận được chiếc máy chữ của Pháp sản xuất, do Lý Bội Quần, một đồng chí Trung Quốc mua hộ từ Hải Phòng về, Nguyễn Ái Quốc rất vui.

Buổi chiều, Người cảm ơn đồng chí Lý bằng một bữa khao ở Quế Lâm tửu quán.

Người dùng chiếc máy chữ này để đánh các bài báo gửi về Việt Nam và các báo cáo gửi Quốc tế Cộng sản.

            – Hồi ký của Lý Bội Quần. Dẫn theo Hoàng Tranh: Hồ Chí Minh với Trung Quốc, Nxb. Giải phóng quân, Bắc Kinh, 1984, tr. 55.

Cuối năm đến đầu năm sau

Nguyễn Ái Quốc trong vai thiếu tá Hồ Quang – công tác tại Phòng Cứu vong 6) thuộc Văn phòng Bát lộ quân ở Quế Lâm, là Ủy viên y tế kiêm Ủy viên bích báo, tham gia lãnh đạo Phòng.

Người còn phụ trách biên tập tờ Sinh hoạt tiểu báo, tờ báo nội bộ của cơ quan.

            – T. Lan: Vừa đi đường vừa kể chuyện, Nxb. Chính trị quốc gia – Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 1994, tr. 63-64.

            – Tư liệu phỏng vấn của Nhà lưu niệm Bát biện Quế Lâm (Trung Quốc). Dẫn theo Hoàng Tranh: Hồ Chí Minh với Trung Quốc, Nxb. Giải phóng quân, Bắc Kinh, 1984, tr. 54-55.

Tháng 12

Nguyễn Ái Quốc viết bài Người Nhật Bản muốn khai hoá Trung Quốc như thế nào, ký tên P.C. Lin 7).

Dưới danh nghĩa một nhà báo Trung Quốc, bằng cách trích những đoạn trong một cuốn sách của một tác giả phương Tây 8) và một số tài liệu sưu tầm khác, Người đã công bố nhiều con số, nhiều việc làm mà phát xít Nhật đã gây ra ở trại tị nạn Nam Kinh từ giữa tháng 12-1937 đến giữa tháng 12-1938. Bài viết tập trung vào chủ đề “Người Nhật Bản và trại những người tị nạn ở Nam Kinh” với các vấn đề “Hãm hiếpNhững vụ tàn sát”. Qua đó, Người tố cáo những vụ tàn sát dã man, như hàng chục nghìn đàn bà, con gái Trung Quốc ở nhiều lứa tuổi (kể cả những em gái dưới 10 tuổi và cả những bà già 60 tuổi) bị giặc Nhật bắt cóc và hãm hiếp.

Theo Người, những vụ việc, những con số khách quan ấy tuy chưa phản ánh đầy đủ tội ác của phát xít Nhật, nhưng “cũng đã đủ cho người ta một ý niệm về những gì mà bọn Nhật đã và đang tiến hành ở Trung Quốc. Và cũng như những gì mà chúng nhất định sẽ tiến hành tại các nước khác ở châu Á, nếu một khi chúng đã thắng được nhân dân Trung Quốc”.

Tác giả kết luận: “Bọn phát xít dã man tưởng rằng chúng có thể dùng khủng bố để làm bại hoại tinh thần của Chính phủ và nhân dân Trung Quốc. Nhưng chưa bao giờ nhân dân và quân đội Trung Quốc lại đoàn kết và kiên quyết như ngày nay để đánh tan giặc ngoại xâm! Những sự tàn bạo của bọn Nhật sẽ được đáp lại một cách đích đáng bằng chủ nghĩa anh hùng vô song của những người Trung Hoa đang chiến đấu cho nền độc lập và sinh mệnh của mình”.

            – Báo Notre Voix, ngày 12-2-1939 và ngày 5-3-1939.

             – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr. 91-98.

Khoảng cuối năm

Nguyễn Ái Quốc viết cuốn sách nói về Khu vực đặc biệt và một số bài báo phản ánh những biến cố chính trị và quân sự, sự tàn ác của bọn phát xít Nhật, tinh thần anh dũng của các chiến sĩ Trung Quốc, cuộc đấu tranh chống bọn tơrốtxkít.

             – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr. 140.

___________________________

1) Ngày 30-9-1938, Phòng cán bộ của Viện Nghiên cứu các vấn đề dân tộc và thuộc địa đã ra Quyết định số 60 (mật), nội dung như sau:

Sinh viên mang số hiệu 19 (Lin) từ ngày 29-9-1938 đã rời khỏi biên chế của Viện (về nước).

Trưởng phòng cán bộ Nin-Ka-Pê Nôvicốp

2) Lan Châu, thủ phủ tỉnh Cam Túc (tây bắc Trung Quốc), điểm trọng yếu trên tuyến giao thông từ Urumsi (thủ phủ Tân Cương) vào nội địa Trung Quốc (B.T).

3) Ngũ Tu Quyền, cán bộ cao cấp Đảng Cộng sản Trung Quốc, là Chủ nhiệm Văn phòng Lan Châu của Giải phóng quân Trung Quốc những năm 30 của thế kỷ XX. Văn phòng này có nhiệm vụ liên hệ với phòng đại diện ngoại giao và phòng đại diện quân sự của Liên Xô ở Lan Châu, qua đó móc nối mối liên hệ giữa Đảng Cộng sản Trung Quốc với Đảng Cộng sản Liên Xô, chuyển giao các văn kiện, thông tin và tư liệu của Đảng, tiếp đón cán bộ nhân viên qua lại giữa Liên Xô và Trung Quốc (B.T).

4) Diên An, thị trấn của tỉnh Thiểm Tây (Trung Quốc), bấy giờ là căn cứ đầu não của 18 vạn quân cách mạng và khu giải phóng Hoa Bắc(B.T).

5) Văn phòng Bát lộ quân ở Quế Lâm có trụ sở đối ngoại là số nhà 138, đường Quế Bắc (nay là số 98, đường Trung Sơn Bắc); các bộ phận hậu cần, cơ yếu, giao thông, điện đài, v.v. đóng ở thôn Lộ Mạc. Thôn này nằm ven đường sắt, cách Quế Lâm khoảng sáu kilômét về phía bắc, chia làm hai bộ phận ở hai bên đường sắt. Nguyễn Ái Quốc ở bộ phận phía tây đường, cùng với phần lớn cán bộ của Văn phòng.

Người phụ trách Văn phòng lúc đó là Lý Khắc Nông (B.T).

6) Hà Khải Quân (Trung Quốc), người phụ trách Phòng Cứu vong lúc đó có một đoạn hồi ký như sau:

Tôi cùng công tác với đồng chí Hồ Chí Minh từ cuối năm 1938 đến xuân hè năm 1939 tại Phòng Cứu vong của Văn phòng Bát lộ quân ở Quế Lâm và cùng ở trong một nhà lớn phía tây đường sắt trong thôn Lộ Mạc. Hồi đó, Người mang tên Hồ Quang, tiếng nói pha giọng Quảng Đông. Phòng Cứu vong chúng tôi giống như câu lạc bộ nhưng không hoàn toàn là câu lạc bộ, bởi vì Phòng còn có nhiệm vụ giáo dục chính trị và văn hoá. Phòng có nhiều uỷ viên như uỷ viên kinh tế tài chính, uỷ viên y tế, uỷ viên văn thể, uỷ viên bích báo… Hồ Quang là Ủy viên y tế kiêm Ủy viên bích báo, vì vậy cũng là một thành viên lãnh đạo Phòng. Tôi còn nhớ Hồ Quang từng phụ trách kiểm tra vệ sinh, làm việc rất chu đáo, yêu cầu rất nghiêm khắc… Hồ Quang còn phụ trách biên tập tờ Sinh hoạt tiểu báo, một tờ báo nhỏ truyền tay nhau đọc trong nội bộ cơ quan chúng tôi. Bản thảo được chép lại bằng bút lông rồi đóng thành tập. Bìa báo do Hồ Quang trình bày, tên báo cũng do đồng chí ấy viết. Nội dung phần lớn là những sinh hoạt trong cơ quan, có biểu dương, có phê bình, khoảng 10 ngày ra một số. Ngoài công việc biên tập và chép lại, Hồ Quang còn viết rất nhiều bài, có lúc làm cả những bài thơ nho nhỏ theo thể thơ cổ của Trung Quốc(B.T).

7) Cuối năm 1938 và trong năm 1939, từ Trung Quốc, Nguyễn Ái Quốc viết nhiều bài báo gửi về nước, đăng trên tuần báo Notre Voix (Tiếng nói của chúng ta), một tờ báo công khai của Đảng ta, xuất bản tại Hà Nội những năm 1936-1939. Trong các bài báo ấy, Người thường ghi “Thư từ Trung Quốc”, ghi Quế Lâm, ngày… tháng… và ký tên “P.C.Lin”. Dưới danh nghĩa một nhà báo Trung Quốc, Người đã phân tích khoa học tình hình đang diễn ra ở Trung Quốc, tố cáo tội ác của phát xít Nhật, nêu cao chủ nghĩa anh hùng của nhân dân Trung Quốc đang chiến đấu cho độc lập dân tộc. Những bài báo này của Người đã giới thiệu với nhân dân Việt Nam những vấn đề và kinh nghiệm của nhân dân Trung Quốc, giúp nhân dân ta nâng cao cảnh giác, đấu tranh cho hoà bình, chống chủ nghĩa phát xít và chống chiến tranh.

Với nội dung tương tự, báo Dân chúng, cơ quan trung ương của Đảng Cộng sản Đông Dương xuất bản ở Sài Gòn, đăng liền trên ba số 46 (ngày 21-1-1939), 47 (ngày 24-1-1939) và 48 (ngày 28-1-1939) dưới đầu đề Những sự hung tàn của đế quốc Nhật. Đây là lần đầu tiên, báo Đảng trong thời kỳ vận động dân chủ đăng bài của Nguyễn Ái Quốc (B.T).

8) Đó là quyển Ý nghĩa của chiến tranh – Những sự tàn bạo của người Nhật Bản ở Trung Quốc (“What war means – the Japanese atrocities in China”) của H.J. Timpớclây, thông tín viên báo Người bảo vệ Mansextơ (B.T).

Nguồn: dangcongsan.vn
Vkyno (st)

Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử – Tập 2 (Năm 1937)

Tháng 1, sau ngày 17

Nguyễn Ái Quốc (Lin) là một trong 21 người được tuyển chọn vào lớp nghiên cứu sinh do Viện Nghiên cứu các vấn đề dân tộc và thuộc địa mở cho một số cán bộ, giảng viên, phiên dịch viên của Viện, nhằm đào tạo các giảng viên có trình độ cao cho các khoa kinh tế, lịch sử…

            – Bản chụp tài liệu của Cục Lưu trữ Trung ương, thuộc Viện Nghiên cứu chủ nghĩa Mác-Lênin (Liên Xô trước đây), lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

Tháng 1, sau ngày 17

Nguyễn Ái Quốc lập Kế hoạch cá nhân của nghiên cứu sinh 1) trong biên chế Viện Nghiên cứu các vấn đề dân tộc và thuộc địa (thuộc Ban Phương Đông Quốc tế Cộng sản) với một số chỉ tiêu, thời hạn:

1. Họ và tên nghiên cứu sinh: LIN.

2. Thời gian thực hiện kế hoạch này: từ 1-I-1937 đến 31-XII-1937.

3. Công trình nghiên cứu sinh phải hoàn thành, nộp trong thời hạn trên.

I – Kế hoạch học tập năm thứ nhất

1. Triết học hoàn thành:

31-XII

2. Lịch sử cổ đại và trung đại:

1-VII

3. Lịch sử cận đại:

1-I / 31-XII

4. Tiếng Nga:

31-XII

II – Công việc tại phòng (Đông Dương)

1. Tình cảnh của nông dân Đông Dương: 1-IV / 1-VI

2. Lập hồ sơ báo chí: Theo quá trình tích luỹ tư liệu.

Ngoài định mức

Dịch: a/ Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản

         b/ Lênin “Bệnh ấu trĩ tả khuynh”

4. Địa chỉ và điện thoại của nghiên cứu sinh:

Phố Bansaia Brônnaia, nhà số 6a, phòng 417.

            – Bản chụp tài liệu của Cục Lưu trữ Trung ương, thuộc Viện Nghiên cứu chủ nghĩa Mác-Lênin (Liên Xô trước đây), lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

Khoảng giữa năm

Nguyễn Ái Quốc (Lin) dự kỳ thi học kỳ I năm học 1937-1938 của lớp nghiên cứu sinh Viện Nghiên cứu các vấn đề dân tộc và thuộc địa.

Các môn duy vật biện chứng, lịch sử cổ đại và lịch sử trung đại đạt trung bình, môn lịch sử hiện đại đạt điểm xuất sắc 2).

            – Bản chụp tài liệu của Cục Lưu trữ Trung ương, thuộc Viện Nghiên cứu chủ nghĩa Mác-Lênin (Liên Xô trước đây), lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

Mùa hè

Nguyễn Ái Quốc (Lin) là một trong hai nghiên cứu sinh không đăng ký đi nghỉ hè một tháng theo kế hoạch của Viện Nghiên cứu các vấn đề dân tộc và thuộc địa dành cho các nghiên cứu sinh.

            – Bản chụp tài liệu của Cục Lưu trữ Trung ương, thuộc Viện Nghiên cứu chủ nghĩa Mác-Lênin (Liên Xô trước đây), lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

Tháng 10, ngày 12

Nguyễn Ái Quốc viết thư gửi đồng chí Ăngđrê Mácty 3) thể hiện tình cảm thắm thiết, lòng tiếc thương vô hạn về việc đồng chí Pôn Vayăng Cutuyariê từ trần.

            – Thư tiếng Pháp, bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

            – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr. 88-89.

Khoảng cuối năm

Được sự giúp đỡ của các giáo sư, Nguyễn Ái Quốc chuẩn bị tư liệu để bắt tay vào viết bản luận án với đề tài do Người tự chọn: Cách mạng ruộng đất ở Đông Nam Á.

            – Hồng Hà: Bác Hồ trên đất nước Lênin, Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 2000, tr. 324.

 —————————-

1) Phần cuối kế hoạch này có chữ ký của Trưởng phòng Đông Dương Vaxiliêva và chữ ký của Trưởng ban khoa học đề ngày 10-11-1937, với lời phê  duyệt: “Tôi chuẩn y hoàn toàn kế hoạch cá nhân này” (B.T).

2) Kết quả trên đây được trích từ “Phiếu cá nhân” của nghiên cứu sinh: LIN, kỳ I, năm thứ nhất, năm học 1937-1938 (B.T).

3)a A. Mácty, đảng viên Đảng Cộng sản Pháp, Uỷ viên Đoàn Chủ tịch Quốc tế Cộng sản, Uỷ viên Ban Bí thư Quốc tế Cộng sản (nhiệm kỳ Đại hội VII), trực  tiếp phụ trách Ban Phương Đông của Quốc tế Cộng sản (B.T).

Nguồn: dangcongsan.vn
Vkyno (st)

Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử – Tập 2 (Năm 1936)

Mùa hè

Nguyễn Ái Quốc cùng với một số đồng chí trong Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản chuẩn bị cho các đồng chí Nguyễn Thị Minh Khai, Tú Hưu về nước qua đường Pháp – Hồng Kông – Việt Nam. Người dặn kỹ kinh nghiệm, mật hiệu liên lạc khi đến Hồng Kông… Người còn dặn mấy ý kiến chuyển tới đồng chí Duy (tức Lê Hồng Phong) ở Thượng Hải: Trung ương Đảng phải chuyển về trong nước để trực tiếp lãnh đạo phong trào; không thoả hiệp với bọn tơrốtxkít; lập Mặt trận Dân tộc dân chủ rộng rãi chống phátxít, chống chiến tranh đế quốc…

– Tú Hưu: Đi họp Quốc tế Cộng sản, Nxb. Dân tộc, Việt Bắc, 1964.

– Hồng Hà: Bác Hồ trên đất nước Lênin, Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 2000, tr. 325-327.

Mùa hè

Nguyễn Ái Quốc tích cực chuẩn bị kế hoạch xin về nước. Người dự định sang Béclin rồi sang Pháp, và từ Pháp đi tàu về Đông Dương… Nếu gặp khó khăn thì đến Thượng Hải, nơi Quốc tế Cộng sản đã lập lại các cơ sở liên lạc của mình, rồi tìm đường về Việt Nam.

Nguyễn Ái Quốc được Vụ Tổ chức cán bộ của Quốc tế Cộng sản mời đến làm tờ khai lý lịch, hộ chiếu, giấy đi đường…

Song, chuyến đi này phải huỷ bỏ vì tình hình thay đổi.

Trong khi chờ đợi một dịp khác, Nguyễn Ái Quốc vào làm việc tại Viện Nghiên cứu các vấn đề dân tộc và thuộc địa8 đặt trụ sở tại nhà số 25, đại lộ Tvécxkôi ở Mátxcơva.

– Hồng Hà: Bác Hồ trên đất nước Lênin, Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 2000, tr. 322.

– Nguyễn Khánh Toàn: Gặp Bác Hồ ở Liên Xô, in trong cuốn Bác Hồ, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1975, tr. 114.

Khoảng cuối năm

Sau khi nhận công tác tại Viện Nghiên cứu các vấn đề dân tộc và thuộc địa, Nguyễn Ái Quốc (Lin) chuyển chỗ ở về phố Bansaia Brônnaia, nhà số 6a, phòng 417.

– Tài liệu lưu tại Cục Lưu trữ Trung ương thuộc Viện Nghiên cứu chủ nghĩa Mác-Lênin (Liên Xô trước đây). Bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

Nguồn: dangcongsan.vn
Vkyno (st)

Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử – Tập 2 (Năm 1935)

Tháng 1, ngày 16

Nguyễn Ái Quốc viết Thư gửi Ban Phương Đông 1), ký tên Lin, nêu lên tình trạng thiếu lý luận cách mạng của đại đa số cán bộ Đảng Cộng sản ở Đông Dương, Trung Quốc, Thái Lan, Inđônêxia… và những vấp váp, sai lầm, bế tắc của họ do “trình độ lý luận và chính trị rất thấp” gây nên.

Người yêu cầu Ban Phương Đông “phải giúp đỡ các đồng chí của chúng ta khắc phục những khó khăn ấy bằng cách tạo điều kiện cho các đồng chí tiếp thụ được những kiến thức sơ đẳng nhất mà mỗi chiến sĩ đều phải có” và nêu tên 30 loại sách, tài liệu cần xuất bản viết về các vấn đề sau đây: Tuyên ngôn Cộng sản, Đảng Cộng sản và tổ chức của Đảng, Lịch sử Quốc tế Cộng sản, Luận cương và Nghị quyết về vấn đề thuộc địa của Quốc tế Cộng sản… Theo Người, đó là “biện pháp duy nhất có hiệu quả” để nhanh chóng chấm dứt tình trạng lạc hậu về lý luận cách mạng nói trên. Kết luận, Người nhấn mạnh, đối với những đồng chí ở các nước thuộc địa như Đông Dương, mà ở đây Đảng hoạt động bất hợp pháp và trình độ văn hoá của những người lao động còn thấp, thì những quyển sách nhỏ này rất có ích.

            – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr. 83-87.

            – Bản chụp bức thư, lưu tại Viện Lịch sử Đảng.

Tháng 6, ngày 29

Hoàn cảnh của Nguyễn Ái Quốc từ sau khi thoát khỏi nhà tù Hồng Kông được đề cập trong thư của Trưởng phòng Đông Dương Vêra Vaxiliêva gửi Ban Phương Đông Quốc tế Cộng sản, bày tỏ băn khoăn về việc Nguyễn Ái Quốc dễ dàng thoát khỏi nhà tù Hồng Kông, sự theo dõi sát sao của cảnh sát Pháp và việc tại sao Nguyễn Ái Quốc không được đi thực tế và tham gia vào công tác bí mật của Đảng. Bức thư có đoạn: “Tháng 6 – 1934, Nguyễn Ái Quốc đến Mátxcơva. Qua lời kể của đồng chí thì khó xác định được tại sao đồng chí lại dễ dàng ra khỏi nhà tù và thoát khỏi tay cảnh sát Pháp… Đồng chí nói rằng chuyến đi này được tiến hành nhờ sự giúp đỡ của Vayăng Cutuyariê (Vaillant Couturier) trong thời gian ở Trung Quốc. Tôi nghĩ rằng tất cả những việc này cần phải được kiểm chứng một cách thận trọng. Khi đồng chí đến đây, chúng tôi đã chuyển đồng chí tới Trường Lênin tại Mátxcơva, nơi đồng chí đang nghiên cứu… Nhiều lần đồng chí đề xuất với tôi xem xét vấn đề và thảo luận việc thành lập mối liên lạc giữa các Đảng. Đồng chí kiên trì theo dõi những chuyến đi của học viên, họ đi đâu và với nhiệm vụ gì và rất đau khổ vì tại sao đồng chí không được tham gia vào việc này hay việc khác của công tác bí mật “.

            – Thư của Vêra Vaxiliêva gửi Ban Thư ký Phương Đông (bản sao gửi Phòng Cán bộ IKKI), tiếng Nga, bản chụp, lưu tại Văn phòng Trung ương Đảng.

            – Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông 1931 – 1933, (Tư liệu và hình ảnh), Nxb. Chính trị quốc gia – Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004, tr. 239.

Tháng 8, ngày 16 2)

Nguyễn Ái Quốc điền Bản khai đại biểu tham dự Đại hội lần thứ VII Quốc tế Cộng sản7.

1. Quê quán: Đông Dương.

2. Họ, tên, bí danh trong Đảng hiện nay: Teng Man Huon.

3. Họ, tên, bí danh trong Đại hội: Lin.

4. Dân tộc: Đông Dương.

5. Tuổi: sinh năm 1900, 35 tuổi.

6. Thành phần xuất thân: Gia đình trí thức.

7. Trình độ học vấn: tự học.

8. Đã học trường Đảng chưa? Từ năm nào đến năm nào?: Đang học Trường Quốc tế Lênin.

9. Nghề nghiệp, đã làm bao nhiêu năm?: thuỷ thủ, làm thuê 10 năm.

10. Phương tiện sinh sống hiện nay: sinh viên Trường Quốc tế Lênin.

11. Đã tham gia những bộ phận nào của Quốc tế Cộng sản? Từ năm nào đến năm nào?

– Từ năm 1921 – 1930 tham gia Đảng Cộng sản Pháp.

– Từ năm 1930 đến nay là đảng viên Đảng Cộng sản Đông Dương.

12. Có tham gia các đảng phái nào khác? Từ năm nào đến năm nào?: không.

13. Những công tác Đảng đã và đang tham gia từ Đại hội VI Quốc tế Cộng sản?

– Từ năm 1928, tổ chức phong trào công nhân và nông dân ở Xiêm.

– Năm 1930 – 1931, tổ chức Đảng Cộng sản Đông Dương.

14. Có bị bắt vì hoạt động cách mạng không? Bao nhiêu năm bị tù đày?

– Năm 1931 bị bắt, bị tù 2 năm.

– Năm 1933 ra khỏi tù.

15. Đã tham gia những Đại hội, những Hội nghị quốc tế nào? (Quốc tế Cộng sản, Quốc tế Thanh niên, Quốc tế Công đoàn…).

– Đã tham gia Đại hội V Quốc tế Cộng sản với tư cách đại biểu… và Đại hội quốc tế Công đoàn.

16. Từ nước mình hay nước ngoài đến (Liên Xô)?

– Từ nước ngoài (Trung Quốc).

17. Có là thành viên của nghị viện, cơ quan hành chính nào không?

– Không.

Ký tên: Lin.

            – Bản khai đại biểu tham dự Đại hội lần thứ VII Quốc tế Cộng sản. Bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

            – Hồng Hà: Bác Hồ trên đất nước Lênin, Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 2000, tr. 310-312.

Tháng 8, sau ngày 20

Nguyễn Ái Quốc và Đoàn đại biểu Đảng Cộng sản Đông Dương tại Đại hội VII Quốc tế Cộng sản dự bữa cơm thân mật do Trưởng đoàn đại biểu Đảng Cộng sản Pháp M. Tôrê (M. Thorez) và Trưởng đoàn đại biểu Đảng Cộng sản Trung Quốc Vương Minh tổ chức ở ngoại ô Mátxcơva để chúc mừng Đảng Cộng sản Đông Dương đấu tranh oanh liệt, thắng lợi vẻ vang.

            – Hồng Hà: Bác Hồ trên đất nước Lênin, Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 2000, tr. 318.

Tháng 9, ngày 25

Nguyễn Ái Quốc cùng với Nguyễn Thị Minh Khai,
Tú Hưu 3) dự Đại hội lần thứ VI Quốc tế Thanh niên, khai mạc tại Trụ sở các công đoàn Liên Xô. Tại Đại hội, Nguyễn Ái Quốc đã trả lời nhà văn I. Êrenbua khi được hỏi cảm nghĩ về mùa xuân này: “Tôi chỉ có một mong ước là sớm trở về Tổ quốc tôi”.

            – Hồng Hà: Bác Hồ trên đất nước Lênin, Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 2000, tr. 320. 

—————————– 

1) Thư viết bằng tiếng Pháp. Cuối thư ký tên Lin (bằng tiếng Nga) (B.T).

2) Ngày 16-8-1935 là ngày tháng ghi ở cuối Bản khai. Còn ở phần trên Bản khai ghi ngày 13-8-1935 (B.T).

3) Tú Hưu: đồng chí Hoàng Văn Nọn (B.T).

Nguồn: dangcongsan.vn
Vkyno (st)

Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử – Tập 2 (Năm 1934)

Mùa xuân, trước tháng 6

Vào một ngày xuân, trong bộ quần áo dài Trung Quốc, Nguyễn Ái Quốc bước lên một chiếc tàu hàng Xôviết ở Thượng Hải để đi Liên Xô. Sau mấy ngày, tàu cập cảng Vlađivôxtốc (Liên Xô).

            – Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Trung ương: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Sơ thảo tập 1 (1920-1954), Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1984, tr. 211.

            – X. Aphônhin, E. Cabêlép: Đồng chí Hồ Chí Minh, Nxb. Chính trị, Mátxcơva, 1980 (bản tiếng Nga), tr. 93.

Tháng 6

Nguyễn Ái Quốc đến Mátxcơva.

            – Thư của Vêra Vaxiliêva, ngày 29-6-1935, gửi Ban Thư ký Phương Đông, tiếng Nga, bản phôtô bức thư, lưu tại Văn phòng Trung ương Đảng.

            – Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông 1931 – 1933, (Tư liệu và hình ảnh), Nxb. Chính trị quốc gia – Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004, tr. 239.

Tháng 9, khoảng cuối tháng

Nguyễn Ái Quốc được Ban Phương Đông gửi đến điều dưỡng tại nhà an dưỡng Ximêít ở vùng Crưm.

            – Hồng Hà: Bác Hồ trên đất nước Lênin, Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 2000, tr. 296-297.

Tháng 10

Với bí danh Lin, Nguyễn Ái Quốc chính thức được nhận vào học Trường Quốc tế Lênin6 năm học 1934-1935 (theo Quyết định số 45, ngày 2-10-1934 của Ban Giám đốc Trường Quốc tế Lênin do Phó giám đốc Liđốpxky và Chánh Văn phòng Makinhe thì Lin được Đảng Cộng sản Đông Dương gửi đến học).

Người được đăng ký trong danh sách sinh viên, số hiệu 375.

            – Bản chụp tài liệu lưu trữ của Cục Lưu trữ Trung ương thuộc Viện Nghiên cứu chủ nghĩa Mác-Lênin (Liên Xô trước đây), lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

            – Tạp chí Lịch sử Đảng, số 2 – 1988, tr. 46.

Tháng 10 đến tháng 12

Ở Trường Quốc tế Lênin, lúc đầu Nguyễn Ái Quốc sinh hoạt trong nhóm tiếng Trung Quốc. Vài ngày sau, thấy không thích hợp, Người được chuyển sang sinh hoạt ở những nhóm tiếng Pháp.

Người thường gặp gỡ nhóm học sinh Việt Nam học ở Trường đại học Cộng sản Phương Đông để giúp đỡ họ trong học tập lý luận cũng như trong sinh hoạt.

            – Hồng Hà: Bác Hồ trên đất nước Lênin, Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 2000, tr. 304.

Nguồn: dangcongsan.vn
Vkyno (st)

Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử – Tập 2 (Năm 1933)

Tháng 1, ngày 12

Nguyễn Ái Quốc quyết định đi Anh, không chờ chính quyền Anh trả lời, nhưng đến Xinhgapo thì cảnh sát tại đây được nhà cầm quyền Hồng Kông báo trước, không cho Nguyễn Ái Quốc lên bờ, bắt quay trở lại Hồng Kông.

            – Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông 1931 – 1933, (Tư liệu và hình ảnh), Nxb. Chính trị quốc gia – Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004, tr. 282.

Tháng 1, ngày 15

Nguyễn Ái Quốc trên đường từ Xinhgapo trở lại
Hồng Kông.

            – Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông 1931 – 1933, (Tư liệu và hình ảnh), Nxb. Chính trị quốc gia – Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004, tr. 282.

Tháng 1, ngày 19

Nguyễn Ái Quốc cập bến Hồng Kông và bị cảnh sát Hồng Kông bắt lại.

Cùng ngày, Nguyễn Ái Quốc viết thư gửi luật sư Lôdơbi báo tin mình lại bị giam giữ và yêu cầu luật sư can thiệp. Thống đốc Hồng Kông chỉ thị cho cảnh sát ngay đêm 19 tháng 1 phải trả lại tự do cho Người.

                – Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông 1931 – 1933, (Tư liệu và hình ảnh), Nxb. Chính trị quốc gia – Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004, tr. 235, 282.

                – E. Côbêlép: Đồng chí Hồ Chí Minh, Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 1985, t.1, tr. 256.

Tháng 1, ngày 22

17h 00 Nguyễn Ái Quốc cải trang như một thương gia giàu có, bí mật cùng người thư ký riêng của luật sư Lôdơbi rời khỏi Hồng Kông trên một chiếc xuồng không phải của chính quyền, đưa Người ra khơi để lên tàu Anhui như một hành khách đến muộn. Kế hoạch này được Thống đốc Hồng Kông giao cho một trợ lý giám thị cảnh sát thực hiện theo cam kết mà chính quyền Hồng Kông đã thoả thuận.

            – Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb. Chính trị quốc gia – Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 1994, tr. 80-81.

            – F.H. Lôdơbi: Băng ghi âm buổi toạ đàm tại Bảo tàng Cách mạng Việt Nam, tháng 2-1960, lưu tại Bảo tàng Cách mạng Việt Nam.

            – Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông 1931 – 1933, (Tư liệu và hình ảnh), Nxb. Chính trị quốc gia – Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004, tr. 235, 282.

Tháng 1, ngày 25 (30 tháng Chạp năm Nhâm Thân)

Nguyễn Ái Quốc đến Hạ Môn.

            – T. Lan: Vừa đi đường vừa kể chuyện, Nxb. Chính trị quốc gia – Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 1994, tr. 41.

Tháng 1, từ ngày 25 đến tháng 7

Nhận lời mời của một số người bạn, Nguyễn Ái Quốc lưu lại ở Hạ Môn qua Tết âm lịch để vừa tìm cách bắt liên lạc với tổ chức, vừa tránh sự theo dõi của mật thám.

            – T. Lan: Vừa đi đường vừa kể chuyện, Nxb. Chính trị quốc gia – Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 1994, tr.41.

            – Anh Cả Nguyễn Lương Bằng, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, tr. 162.

Tháng 3, ngày 25

Nguyễn Ái Quốc bị chính quyền Pháp phát lệnh truy nã.

            – Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông 1931 – 1933, (Tư liệu và hình ảnh), Nxb. Chính trị quốc gia – Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004, tr. 282.

Khoảng tháng 7

Nguyễn Ái Quốc từ Hạ Môn đáp tàu thuỷ lên Thượng Hải.

Đến hôm trước, hôm sau xem báo được biết: “Hôm qua, những tàu biển cập bến tô giới Pháp đều bị các nhà chức trách lục soát rất kỹ”. Người tiếp tục đóng vai một thân sĩ, quần áo sang trọng, ở khách sạn, nhưng đêm đêm khoá phòng lại ăn khoai trừ bữa và tự giặt lấy quần áo.

            – T. Lan: Vừa đi đường vừa kể chuyện, Nxb. Chính trị quốc gia – Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 1994, tr. 46.

Khoảng mùa thu đến cuối năm

Ở Thượng Hải, Nguyễn Ái Quốc tiếp tục tìm cách bắt liên lạc với các tổ chức cách mạng và đồng chí của mình. Nhờ đọc báo, Người được biết một đoàn đại biểu từ châu Âu đến Viễn Đông tuyên truyền chống chiến tranh đế quốc đang có mặt ở đây, trong đoàn có Pôn Vayăng Cutuyariê. Người liền viết thư gửi cho Pôn, thuê một chiếc xe du lịch đến tự tay bỏ vào thùng thư trước nhà bà Tống Khánh Linh để nhờ bà chuyển giúp tới Pôn Vayăng Cutuyariê 1).

Vài hôm sau, Nguyễn Ái Quốc gặp Pôn Vayăng Cutuyariê. Người kể cho Pôn Vayăng Cutuyariê biết hoàn cảnh khó khăn của mình. Còn Vayăng Cutuyariê nói cho Nguyễn Ái Quốc rõ tình hình phong trào cách mạng Đông Dương và phong trào cách mạng thế giới thời gian qua. Mấy ngày sau cuộc gặp gỡ này, Nguyễn Ái Quốc đã chắp được liên lạc với đoàn thể. Sau này, Người có dịp kể lại nỗi vui mừng của Người lúc ấy:

“Ba năm lưu lạc linh đinh,

Nay đà trở lại trong đại gia đình công nông”.

            – T. Lan: Vừa đi đường vừa kể chuyện, Nxb. Chính trị quốc gia – Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 1994, tr. 46-47.

            – Anh Cả Nguyễn Lương Bằng, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, tr. 162.

            – Hồng Hà: Bác Hồ trên đất nước Lênin, Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 2000, tr. 289-292.

 ——————————

1) Nhà bà Tống Khánh Linh lúc đó ở số 29 phố Môlie, Thượng Hải. Viết xong thư, Nguyễn Ái Quốc ăn mặc sang trọng, thuê một chiếc xe du lịch đến, tự  tay bỏ vào thùng thư trước cổng nhà.

Sau này, một lần sang nghỉ ở Trung Quốc, Người kể lại với những người xung quanh câu chuyện năm xưa: nhờ sự giúp đỡ của bà Tống mà nối lại được liên hệ với tổ chức Đảng. Người vui vẻ nói: “Lúc đó, tiền lương trong túi sắp hết, nếu không có bà Tống Khánh Linh giúp đỡ thì thật không biết làm thế nào” (B.T).

Theo dangcongsan.vn
Vkyno (st)