Tag Archive | Văn hóa – Xã hội

Trung thu – Trung thu

TRUNG THU

I

Trung thu thu nguyệt viên như kính,
Chiếu diệu nhân gian bạch tự ngân;
Gia lý đoàn viên ngật thu tiết,
Bất vong ngục lý ngật sầu nhân.

II

Ngục trung nhân dã thưởng trùng thu,
Thu nguyệt thu phong đới điểm sầu;
Bất đắc tự do thưởng thu nguyệt,
Tâm tuỳ thu nguyệt cộng du du!

TRUNG THU

I

Trǎng trung thu tròn như gương,
Chiếu rọi cõi đời, ánh trǎng trắng như bạc;
Nhà ai sum họp ǎn tết trung thu,
Chẳng quên người trong ngục nuốt sầu.

II

Người trong ngục cũng thưởng thức trung thu,
Trǎng thu, gió thu đều vương sầu;
Không được tự do ngắm trǎng thu,
Lòng theo cùng trǎng thu vời vợi.

————————–

I

Trung thu vành vạnh mảnh gương thu,
Sáng khắp nhân gian bạc một màu;
Sum họp nhà ai ǎn tết đó,
Chẳng quên trong ngục kẻ ǎn sầu.

II

Trung thu ta cũng tết trong tù,
Trǎng gió đêm thu gợn vẻ sầu;
Chẳng được tự do mà thưởng nguyệt,
Lòng theo vời vợi mảnh trǎng thu.

NAM TRÂN dịch
cpv.org.vn

Đổ – Đánh bạc

ĐỔ

Dân gian đổ bác bị quan lạp,
Ngục lý đổ bác khả công khai;
Bị lạp đổ phạm thường ta hối:
Hà bất tiên đáo giá lý lai!?

ĐÁNH BẠC

Ngoài dân đánh bạc thì bị quan bắt,
Trong tù đánh bạc có thể công khai;
Con bạc bị tù thường hối tiếc:
Sao không sớm vào quách chốn này!?

————————

Đánh bạc ở ngoài quan bắt tội,
Trong tù đánh bạc được công khai;
Bị tù, con bạc ǎn nǎn mãi:
Sao trước không vô quách chốn này!?

NAM TRÂN dịch
cpv.org.vn

Đổ phạm – Tù cờ bạc

ĐỔ PHẠM

Công gia bất cấp đổ phạm phạn,
Dục linh tha mẫn hối tiền phi;
“Ngạch” phạm hào soạn thiên thiên hữu,
Cùng phạm cơ diên cộng lệ thuỳ.

TÙ CỜ BẠC

Nhà nước không phát cơm cho tù cờ bạc,
Muốn cho họ hối cải lỗi trước;
Nhưng bọn tù sừng sỏ ngày nào cũng có cơm thịt,
Còn tù nghèo, đói chảy dãi cùng với nước mắt.

—————————

Quan không cấp bữa cho tù bạc,
Để họ mau chừa tội cũ hơn;
Tù “cứng” ngày ngày no rượu thịt,
Tù nghèo, dãi với lệ cùng tuôn.

NAM TRÂN – HUỆ CHI dịch
cpv.org.vn

Nạn hữu Mạc mỗ – Bạn tù họ Mạc

NẠN HỮU MẠC MỖ

Phú gia tử đệ, bần gia giáo,
Đổ đảm như thiên, đảm tự châm;
“Xa đại pháo tài”, chân vĩ đại,
Tại tù nhưng tưởng ngật nhân sâm.

BẠN TÙ HỌ MẠC

Con cái nhà giàu mà nghèo giáo dục,
Gan đánh bạc to như trời mà mật thì nhỏ như cái kim;
Cái tài huênh hoang khoác lác thật là vĩ đại,
ở tù nhưng vẫn tơ tưởng ǎn nhân sâm.

————————–

Con nhà giàu có, nghèo gia giáo,
Đánh bạc gan trời, mật tựa kim;
“Một tấc lên mây”, ghê gớm thật,
Ngồi tù mà vẫn ước nhân sâm.

NAM TRÂN dịch

Bản dịch khác:

Con nhà giàu, giáo dục nghèo,
To “gan đánh bạc”, bé teo “gan người”;
Ba hoa khoác lác thật tài,
ở tù mà lại cứ đòi ǎn sâm.

KHƯƠNG HỮU DỤNG dịch
cpv.org.vn

Nạn hữu nguyên chủ nhiệm L.- Bạn tù L nguyên là chủ nhiệm

NẠN HỮU NGUYÊN CHỦ NHIỆM L.

Quốc gia trọng thác trấn biên thuỳ,
Hồ nãi vong công chỉ cố ti (tư)?
Thế khoáng thường tòng biên giới khứ,
Kim tiền lô lý chú tù thi.

BẠN TÙ L. NGUYÊN LÀ CHỦ NHIỆM

Nhà nước giao cho trọng trách coi giữ biên thuỳ,
Sao lại quên việc công, chỉ lo việc tư?
Quặng “ǎngtimoan” thường tuồn qua biên giới,
Bởi thế, lò đúc tiền mới đúc ra bài thơ tù.

—————————

Quốc gia phó thác giữ biên khu,
Sao nhãng việc công, mải việc tư?
Quặng thiếc tuồn qua biên giới sạch,
Nên lò đúc bạc… đúc thơ tù.

NAM TRÂN – HUỆ CHI dịch
cpv.org.vn

Song thập nhật giải vãng Thiên Bảo – Tết Song thập bị giải đi Thiên Bảo

SONG THẬP NHẬT GIẢI VÃNG THIÊN BẢO

Gia gia kết thái dữ trương đǎng,
Quốc khánh hoan thanh cử quốc đằng;
Ngã khước kim thiên bị bang giải,
Nghịch phong hữu ý trở phi bằng.

TẾT SONG THẬP – BỊ GIẢI ĐI THIÊN BẢO)

Nhà nào nhà ấy kết hoa và treo đèn,
Cả nước reo vui, mừng ngày quốc khánh;
Thế mà hôm nay ta bị trói giải đi,
Ngọn gió ngược cố ý cản đôi cánh chim bằng.

————————

Nhà nhà hoa kết với đèn giǎng,
Quốc khánh vui reo cả nước mừng;
Lại đúng hôm nay ta bị giải,
Oái oǎm gió cản cánh chim bằng.

NAM TRÂN dịch
cpv.org.vn

Tẩu lộ – Đi đường

TẨU LỘ

Tẩu lộ tài tri tẩu lộ nan,
Trùng san chi ngoại hựu trùng san;
Trùng san đǎng đáo cao phong hậu,
Vạn lý dư đồ cố miện gian.

ĐI ĐƯỜNG

Có đi đường mới biết đường đi khó,
Hết lớp núi này lại tiếp đến lớp núi khác;
Khi đã vượt các lớp núi lên đến đỉnh cao chót,
Thì muôn dặm nước non thu cả vào tầm mắt.

————————

Đi đường mới biết gian lao,
Núi cao rồi lại núi cao trập trùng;
Núi cao lên đến tận cùng,
Thu vào tầm mắt muôn trùng nước non.

NAM TRÂN dịch
cpv.org.vn

Hào khí cách mạng tháng Tám trong bộ phim “Sao tháng Tám”

(Dân trí)- Khắc họa cuộc kháng chiến lừng lẫy trong lịch sử, cho đến hôm nay, sau 36 năm “Sao Tháng Tám”(cố Đạo diễn – NSND Trần Đắc) vẫn giữ trong mình hơi thở thời đại cách mạng tháng Tám hào hùng. Bộ phim xứng đáng mang sứ mệnh ghi dấu lịch sử dân tộc bằng điện ảnh.

Lấy bối cành những ngày sôi sục trước cách mạng tháng Tám (1945), thời điểm nạn đói Ất Dậu khủng khiếp lan tràn khắp mọi nơi. “Năm 1940, phát xít Nhật chiếm đóng các thuộc địa Pháp trên bán đảo Đông Dương…”- ý tưởng chủ đề của bộ phim đã phần nào khái quát lại hoàn cảnh lịch sử để người xem có thể hình dung lại.

Bộ phim “Sao tháng Tám” đưa đến cho khán giả bức tranh về cuộc sống lầm than của dân ta mà không trang viết nào tái hiện chân thực bằng. Người đói vật vờ như những cái bóng khắp các hang cùng, ngõ hẻm, với tiếng khóc, tiếng rên, tiếng kêu ai oán. Hẳn ai đã từng xem qua bộ phim này, không thể quên được những tấm hình về nạn đói của Nguyễn An Ninh, cảnh quay ông cụ già thều thào khi bị mang đi “Tôi chưa chết đừng chôn tôi” và tiếng đáp trả của hai thanh niên “Đằng nào cụ chả chết, cụ đi sớm cho mát mẻ” hay cảnh cháu bé khóc thảm thiết “Các bác ơi! Cứu bà cháu với” đầy bi thương… Những công nhân lao động sống cảnh cơ cực trong các hầm lò, nhà máy với đồng lương rẻ mạt, ngày ngày bị đánh đập. Tội ác của Nhật, Pháp chất cao như núi.

Hào khí cách mạng tháng Tám trong bộ phim “Sao tháng Tám”

Giữa cảnh lầm than ấy, cuộc đối đầu giữa một dân tộc với những kẻ xâm lược đang chực chờ bùng nổ. Tập trung thể hiện một khía cạnh của tình hình xã hội có liên quan tới các nhân vật trong phim. “Sao tháng Tám” là cuộc đấu tranh từng giờ, từng phút của những chiến sĩ trong phạm vi nhỏ ở nội và ngoại thành Hà Nội từ tháng 2 đến tháng 8 năm 1945 – thời kì căng thẳng nhất của cuộc kháng chiến. Mỗi nhân vật là biểu trưng cho một tầng lớp tham gia kháng chiến từ lôi kéo vận động quần chúng rải truyền đơn, huy động công nhân đình công ở các nhà máy, xí nghiệp đến trực tiếp liên lạc, chống lại việt gian. Từ người phụ nữ bụng mang dạ chửa như chị Nhu (NSUT Thanh Tú) một cán bộ Việt Minh cốt cán, những thanh niên trí thức như Kiên (NS Dũng Nhi), người phụ nữ nông dân như cô Mến (NSUT Thanh Hiền), đến những cụ già đói rách, cùng cực, những đứa trẻ ngây thơ… đều tham gia cách mạng. Họ kiên cường chống chọi với những tên chỉ điểm như Kiều Trinh (Cố NS Đức Hoàn), gã mật thám cáo già như Công. Với diễn xuất tài tình của dàn diễn viên trẻ, bộ phim đã khắc họa lại thời khắc căng thẳng trong cuộc đấu trí giữa những nhân vật đưa bộ phim đến tầm kinh điển có hơi hướng hành động của điện ảnh Việt Nam.

Có thể nói, “Sao tháng Tám” không chỉ là bộ phim mang giá trị lịch sử mà còn là mảnh đất để nhiều diễn viên tỏa sáng. Nhu là vai diễn để đời của NSUT Thanh Tú, trước đó, chị đã từng đóng nhiều phim như “Biển lửa”, “Tiền tuyến gọi” nhưng khi vào vai Nhu chị mới thực sự để lại dấu ấn trong lòng khán giả. Vai diễn chị Nhu một cán bộ Việt Minh can trường xuất thân từ bần cố nông là hình ảnh trung tâm của “Sao tháng Tám” khi giả dạng một công nhân lao động, lúc là một nữ tu hành khi lại là một phụ nữ khâu thuê. Ánh mắt chị khi cương quyết giao nhiện vụ cho đồng đội, lúc tràn đầy xót xa khi chứng kiến đồng bào lầm than, lúc bi thương khi nghe tin chồng bị bắt. Vai diễn đã mang lại cho diễn viên Thanh Tú giải thưởng nữ diễn viên xuất sắc nhất ở liên hoan phim Việt Nam lần thứ IV (1977).

NSƯT Thanh Tú trong vai Nhu- phim Sao tháng TámNSƯT Thanh Tú trong vai Nhu- phim Sao tháng Tám

Dũng Nhi sắm vai thứ chính trong phim, Kiên – chiến sĩ Việt Minh trẻ nhưng có người chị gái theo Pháp, sau đó theo Nhật, chuyên lùng bắt cộng sản. Dũng Nhi lúc đó chừng 24 tuổi, nghiệp dư, song vào vai khá sâu sắc. Anh đã thể hiện chân thực hình ảnh của một người thanh niên trí thức đến với cách mạng song vẫn đau đớn, xót xa cho chị gái của mình. Cảnh quay anh khóc nhìn chị gái mình trước khi ngã xuống đã ám ảnh người xem và ẩn chứa nhiều thông điệp sâu sắc về sự day dứt giữa tình yêu nước và tình cảm ruột thịt.

Bộ phim sử dụng những khúc tráng ca cách mạng của nhạc sĩ Văn Cao, Nguyễn Đình Thi cùng giai điệu “Quốc tế ca” làm sống dậy một thời kì hào hùng của đất nước. Những đoàn người cầm cờ đỏ sao vàng, giơ cao khẩu hiệu chiến thắng trên đường phố thủ đô, những khuôn mặt chị Nhu, Mến hân hoan trong niềm vui chiến thắng đã khép lại bộ phim.

“Sao tháng Tám” được đánh giá là bộ phim thành công nhất về cách mạng tháng Tám (1945) tính đến thời điểm hiện tại. “Sao tháng Tám” cũng là một trong những bộ phim về chiến tranh có sức sống mãnh liệt nhất của điện ảnh Việt Nam.

Nha Trang
dantri.com.vn

Bài học Cách mạng Tháng Tám: Độc lập dân tộc gắn liền với Chủ nghĩa xã hội

Qua 65 năm giành và giữ độc lập dân tộc, xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc, đặc biệt hơn 20 năm đổi mới, với hệ giá trị đó, Đảng Cộng sản Việt Nam xứng đáng tiêu biểu cho bản lĩnh Việt Nam trong việc giữ vững đường lối, chính sách đối nội và đối ngoại, đưa đời sống nhân dân lên ngày một cao hơn, đưa đất nước và dân tộc ta lên vị thế mới trong cộng đồng quốc tế.

Trong những ngày mùa thu lịch sử này, toàn Đảng, toàn dân ta đang tưng bừng kỷ niệm 65 năm ngày thắng lợi huy hoàng của cách mạng Tháng Tám và ngày tết độc lập của dân tộc.

Nhìn lại chặng đường lịch sử 65 năm qua chúng ta càng thấm đậm một trong những bài học sâu sắc nhất, lớn lao nhất – bài học về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

Như chúng ta đã biết, dân tộc ta có truyền thống yêu nước, anh dũng bất khuất, đã từng chiến thắng nhiều đế quốc hung hãn, làm nên các chiến thắng lẫy lừng.

Từ khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, phong trào yêu nước đã dấy lên hết sức mạnh mẽ. Liên tiếp nổ ra các cuộc nổi dậy ở khắp nơi của đất nước, thu hút đông đảo các tầng lớp nhân dân, các bậc sĩ phu, kể cả một bộ phận quan lại phong kiến. Các phong trào Cần Vương, khởi nghĩa Yên Thế; các phong trào Duy Tân, Đông Du, khởi nghĩa Yên Bái và hàng chục cuộc đấu tranh khác nữa đều bị thực dân Pháp thẳng tay đàn áp và thất bại. Điều đó chứng tỏ rằng, vẫn là nhân dân giàu lòng yêu nước, có truyền thống chống giặc ngoại xâm, sẵn sàng ủng hộ và tham gia các phong trào yêu nước; còn các bậc sĩ phu, các nhà lãnh đạo các phong trào chống thực dân Pháp đều có trí dũng, không thiếu quyết tâm, nhưng cả họ, cả giai cấp phong kiến và đại diện cho thế lực tư sản khi đó đều không giải quyết được vấn đề dân tộc ở nước ta vì không tập hợp được lực lượng toàn dân tộc và quan trọng hơn là không bắt kịp nhịp sống của thời đại…

Trong bối cảnh đó, chưa bao giờ như lúc bấy giờ, độc lập dân tộc trở nên là yêu cầu cơ bản, khách quan của xã hội Việt Nam – xã hội thuộc địa nửa phong kiến. Công cuộc giải phóng dân tộc Việt Nam khi ấy ở trong “tình hình đen tối như không có đường ra”. Bằng con đường nào và giai cấp nào có khả năng gánh vác sứ mệnh lịch sử trọng đại là tập hợp được lực lượng toàn dân để giải phóng dân tộc?

Nhưng rồi chính lịch sử đã có lời giải đáp. Chủ nghĩa Mác ra đời đã vạch ra cái tất yếu từng bị che lấp bởi màn sương mù trong lịch sử. Chủ nghĩa Mác khẳng định chủ nghĩa tư bản nhất định phải bị thay thế bằng chế độ tốt đẹp hơn – chế độ cộng sản chủ nghĩa không có người bóc lột người. Đó là một tiếng sét trong lòng chủ nghĩa tư bản ở vào thời thịnh trị, sau khi nó đã chiến thắng các chế độ chuyên chế phong kiến và đã bành trướng ra khắp thế giới. Các nước tư bản phát triển khi ấy đang là “trung tâm vũ trụ”, chi phối và làm mưa làm gió mọi mặt đời sống xã hội loài người.

Chính vào thời điểm mà chủ nghĩa tư bản như đang cực thịnh ấy thì Cách mạng Tháng Mười nổ ra. Sự đột phá Tháng Mười mở đầu cho một xu thế phát triển mới của lịch sử thế giới. Cách mạng Tháng Mười “rung chuyển thế giới” đã làm cho tính chất thời đại thay đổi, giai cấp trung tâm của thời đại thay đổi, vai trò lãnh đạo cách mạng cũng thay đổi; và vì vậy con đường để giải quyết mâu thuẫn của xã hội, lực lượng cách mạng và phương pháp cách mạng thay đổi.

Toàn bộ tình hình đó của thế giới, bằng nhiều con đường, dội vào và thấm sâu trong mảnh đất Việt Nam – nơi mà “chính sự tàn bạo của chủ nghĩa tư bản đã chuẩn bị đất rồi; chủ nghĩa cộng sản chỉ còn phải làm các việc là gieo hạt của công cuộc giải phóng nữa thôi”. Hơn ai hết, chính Nguyễn Ái Quốc là người gieo hạt, gây mầm cho Cách mạng Việt Nam. Với kỳ công và thiên tài của Nguyễn Ái Quốc, chủ nghĩa Mác – Lênin kết hợp với phong trào yêu nước và phong trào công nhân Việt Nam chuyển hoá thành một tất yếu đưa tới một sự kiện trọng đại: Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời. Sự kiện này là một mốc son đánh dấu sự kết hợp các nhân tố dân tộc và giai cấp, quốc gia và quốc tế, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trong bản chất của Đảng.

Độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội đã trở thành hệ giá trị phát triển của Việt Nam, dưới ngọn cờ của Đảng, trong thời đại ngày nay. Đó cũng chính lôgic phát triển lịch sử của dân tộc Việt Nam; 76 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng ta, điều đó đã làm nên cốt cách Việt Nam, bản lĩnh Việt Nam và vị thế Việt Nam trên thế giới.

Nhận thức và hành động theo sự lựa chọn và theo hệ giá trị đó, Đảng ta từng lãnh đạo thành công cuộc cách mạng Tháng Tám 1945, một điển hình trong các dân tộc thuộc địa, tiến hành thắng lợi hai cuộc kháng chiến mà tưởng như hoàn toàn không cân sức với “hai đế quốc to”, mở ra thời kỳ phi thực dân sau Việt Nam cho cả hệ thống thuộc địa và các nước phụ thuộc trên toàn thế giới.

Qua 61 năm giành và giữ độc lập dân tộc, xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc, đặc biệt hơn 20 năm đổi mới, với hệ giá trị đó, Đảng Cộng sản Việt Nam xứng đáng tiêu biểu cho bản lĩnh Việt Nam trong việc giữ vững đường lối, chính sách đối nội và đối ngoại, đưa đời sống nhân dân lên ngày một cao hơn, đưa đất nước và dân tộc ta lên vị thế mới trong cộng đồng quốc tế.

Trong cương lĩnh chính trị và Nghị quyết của Đại hội của mình, đặc biệt trong Nghị quyết Đại hội X vừa qua, Đảng ta luôn khẳng định giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là bài học sâu sắc nhất của Cách mạng Tháng Tám, đó không chỉ là mục tiêu, nhu cầu, cương lĩnh hoạt động, là ngọn cờ hiệu triệu, mà còn là động lực, là niềm tin sâu sắc của dân tộc Việt Nam ta, Độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội là sự gắn kết hai sức mạnh thành một sức mạnh mới, là cội nguồn thắng lợi của cách mạng Việt Nam hôm qua, hôm nay và mai sau./.

Giáo sư, Tiến sĩ Vũ Văn Hiền
(Uỷ viên Trung ương Đảng, Tổng Giám đốc Đài TNVN)

qdnd.vn

Mộ – Chiều tối

MỘ

Quyện điểu quy lâm tầm túc thụ,
Cô vân mạn mạn độ thiên không;
Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc,
Bao túc ma hoàn, lô dĩ hồng.

CHIỀU TỐI

Chim mỏi về rừng tìm cây ngủ,
Chòm mây lẻ trôi lững lờ trên tầng không;
Thiếu nữ xóm núi xay ngô,
Ngô xay vừa xong, lò than đã đỏ.

—————————

Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ,
Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không;
Cô em xóm núi xay ngô tối,
Xay hết, lò than đã rực hồng.

NAM TRÂN dịch
cpv.org.vn

Dạ túc Long Tuyền – Đêm ngủ ở Long Tuyền

DẠ TÚC LONG TUYỀN

Bạch thiên “song mã” bất đình đề,
Dạ vãn thường thường “ngũ vị kê”;
Sắt lãnh thừa cơ lai giáp kích,
Cách lân hân thính hiểu oanh đề.

ĐÊM NGỦ Ở LONG TUYỀN)

Suốt ngày “đôi ngựa” không ngừng vó,
Đêm đến, lại từng nếm món “gà nǎm vị” ;
Rệp và rét thừa cơ xông vào tập kích,
Mừng nghe xóm bên, chim oanh hót báo sáng.

—————————

“Đôi ngựa” ngày đi chẳng nghỉ chân,
Món “gà nǎm vị”, tối thường ǎn;
Thừa cơ rét, rệp xông vào đánh,
Oanh sớm, mừng nghe hót xóm gần.

NAM TRÂN – HUỆ CHI dịch
cpv.org.vn

Điền Đông – Điền Đông

ĐIỀN ĐÔNG

Mỗi xan nhất uyển công gia chúc,
Đỗ tử thì thì tại thán hu;
Bạch phạn tam nguyên bất câu bão,
Tân như quế dã mễ như châu.

ĐIỀN ĐÔNG)

Mỗi bữa được một bát cháo của nhà nước,
Cái bụng luôn luôn than phiền;
Cơm không ba đồng chẳng đủ no,
Củi đắt như quế, gạo như châu.

—————————

Cháo tù mỗi bữa chia lưng bát,
Cái bụng luôn luôn rên rỉ sầu;
Cơm nhạt ba đồng ǎn chẳng đủ,
Củi thì như quế, gạo như châu.

NAM TRÂN
HOÀNG TRUNG THÔNG DỊCH dịch
cpv.org.vn