Tag Archive | Văn hóa – Xã hội

Phong trào cách mạng ở Đông Dương (24-1-1931)

Sự bóc lột vô nhân đạo của chủ nghĩa tư bản ở thuộc địa làm cho những người công nhân sống trong những điều kiện không chịu nổi. Sự tập trung rất lớn các đất đai vào tay người Pháp và giai cấp địa chủ bản xứ khiến cho tình cảnh của trung nông và bần nông tồi tệ đi. Sự mất mùa liên tiếp và giá sinh hoạt cao gia tǎng sự khốn cùng và sự đau khổ của quần chúng lao động. Tất cả điều này khơi sâu thêm mâu thuẫn giữa những kẻ áp bức và bóc lột với người bị áp bức và bị bóc lột, và làm cho tinh thần đấu tranh của những người sau này sâu sắc.

Do sự kiểm duyệt ngặt nghèo và những khó khǎn về thông tin, tôi không có những bản thống kê sát đúng về những cuộc đấu tranh cách mạng đã diễn ra ở Đông Dương suốt cả nǎm 1930. Theo như chúng tôi biết số liệu về những cuộc xung đột, từ cuối tháng 5 đến cuối tháng 12 như sau:

Số cuộc biểu tình

Số nông dân tham gia

Tháng 5

17

13.950

Tháng 6

10

15.300

Tháng 7

3

1.100

Tháng 8

15

30.300

Tháng 9

58

166.070

Tháng 10

68

37.630

Tháng 11

31

19.660

Tháng 12

16 (chỉ tính đến 20-12)

13.000

Tổng cộng

218

295.010 1

1) ở đây có sự nhầm lẫn nhưng chúng tôi in theo bản gốc (B.T).

Trong số 218 cuộc biểu tình này, thì 3 để giải phóng tù chính trị bằng cách phá nhà giam của huyện; 45 với yêu sách thuần tuý kinh tế, hoặc đòi khai hoang đất cho nông dân nghèo hay từ chối đóng thuế; 5 để làm lễ kỷ niệm ngày 1-5; 5 cuộc suốt ngày 1-8; 8 cuộc nhằm làm lễ kỷ niệm Cách mạng Tháng Mười; 4 cuộc để tưởng nhớ khởi nghĩa Quảng Châu; 7 cuộc thuần tuý để chống bọn quý tộc. Ngoài ra còn có 141 cuộc biểu tình chống đế quốc với những hình thức khác nhau: có một số cuộc biểu tình thuần túy chống đế quốc, những cuộc khác để tỏ tình đoàn kết với những làng bị lính Pháp tàn phá và huỷ diệt hay tưởng niệm những nông dân bị đế quốc Pháp sát hại, bằng cách phá nhà máy rượu hay đốt các danh sách dân đoàn (tuần làng), để đẩy lùi bọn đánh đập người ở thành phố hay để ủng hộ Đảng cộng sản, v.v., v.v..

Từ tháng 5 đến tháng 12, có 58 cuộc bãi công và biểu tình của công nhân.

Đầu tháng 5 9

” 6 1

” 7 1

” 8 7 (3 cuộc suốt ngày 1-8)

” 9 7

” 10 10

” 11 12 (7 cuộc nhằm kỷ niệm

Cách mạng Tháng Mười)

” 12 1

Những cuộc bãi công lớn nhất là: bãi công của thợ dệt vào ngày 1-5, có 4.000 công nhân tham gia; tổng bãi công ở Vinh từ ngày 22-8 đến ngày 1-9 có 1.200 công nhân tham gia; và Cẩm Phả 5.000 công nhân mỏ bãi công để kỷ niệm Cách mạng Tháng Mười.

Đôi khi những người bãi công được thắng lợi, nhưng thắng lợi cuối cùng không đạt bởi vì nhà tư bản chỉ nhận những yêu sách của công nhân để có thì giờ chuẩn bị cuộc phản công của nó. Ví dụ, trong lúc bãi công ở Vinh, công nhân có được tất cả những điều kiện của họ đòi; nhưng chừng sau mười ngày, bọn chủ đã trở mặt và 200 công nhân đã bị đuổi.

Chịu ảnh hưởng tinh thần cách mạng của quần chúng, học sinh cũng hoạt động trong phong trào chống đế quốc. Vào ngày 1-5, học sinh ở Hóc Môn (Nam Kỳ) và ở Đà Nẵng bãi khoá. Vào ngày 19-9, hơn 500 học sinh ở Vinh biểu tình, ngày 23-10, họ lại biểu tình và phân phát truyền đơn bảo vệ những nông dân Nghệ An và Hà Tĩnh đang bị đàn áp. Ngày 17-10, học sinh Trường kỹ nghệ Hải Phòng tổ chức mít tinh ngoài trời và phân phát sách mỏng với mục đích như các phong trào trên. Ngày 25 cùng tháng, học sinh huyện Nghi Lộc (Nghệ An) tham gia cuộc biểu tình của nông dân. Ngày 1-11, học sinh Trường Huỳnh Công Phát bãi khoá.

Giữa tháng 8 và tháng 12 Trường trung học Vinh, Trường Avenir (Tương lai) Nam Định, Trường trung học Mỹ Tho và toàn bộ các trường ở huyện Thanh Chương và Nam Đàn đều bị đóng cửa vì hoạt động cách mạng. Trong cùng thời gian đó và trong phạm vi 11 tỉnh, chúng tôi tìm hiểu thì 130 học sinh trai và học sinh gái cùng 9 thầy giáo bị bắt giữ, nhiều người trong số học sinh này không quá 12 và 14 tuổi.

Bên cạnh sự tham gia rất tích cực của họ vào những cuộc bãi công của công nhân và những cuộc biểu tình của nông dân, chúng tôi phải báo rằng phong trào sau đây hoàn toàn là do phụ nữ tổ chức:

Ngày 1-5, phụ nữ bãi thị ở chợ Dừa (Mỹ Tho).

Ngày 26-10, 100 phụ nữ nông dân ở huyện Anh Sơn tổ chức một cuộc mít tinh để thảo luận chính trị.

Ngày 28-10, chị em bán cá chợ Sài Gòn bãi thị phản đối hai kẻ được gọi là “chó sǎn” trung thành của đế quốc Pháp.

Ngày 11-11, 60 phụ nữ nông dân làng Đại Đinh cũng hành động như vậy.

Ngày 24-11, 85 phụ nữ nông dân làng đó tham gia bàn việc làng xã.

Ngày 28-11, 300 phụ nữ nông dân huyện Thạch Hà tổ chức một cuộc biểu tình.

Từ tháng 5 đến tháng 12, không kể những sự bắt giữ khác cùng với đàn ông trong các cuộc bãi công và các cuộc biểu tình, và cũng không kể những sự bắt giữ khác cùng với các chi bộ cộng sản hoặc với các chi nhánh Quốc dân đảng, có 74 phụ nữ và con gái bị mật thám bắt giữ.

KHủNG Bố TRắNG

Hy vọng bóp chết phong trào cách mạng trong máu và lửa cùng vũ lực, chủ nghĩa đế quốc Pháp sử dụng khủng bố trắng ở mức cực điểm. Dù rằng chưa đầy đủ, biểu dưới đây có thể cho các đồng chí một ý niệm về sự thống trị bằng khủng bố ở Đông Dương.

Thời điểm

Số nông dân bị giết

Tháng 5

39 (20 bị giết trong cuộc biểu tình ngày 1-5)

Tháng 6

7

Tháng 7

3

Tháng 8

8 (3 bị giết trong cuộc biểu tình ngày 1-8)

Tháng 9

270

Tháng 10

125

Tháng 11

52 (40 bị giết trong lễ kỷ niệm Cách mạng Tháng Mười)

Tháng 12

145 (115 bị giết trong lễ kỷ niệm khởi nghĩa Quảng Châu)

Tổng cộng

649

Số liệu trên chỉ bao gồm những người bị giết bởi bom và súng bắn trong những cuộc biểu tình. Số người chết do bị thương và bị giết riêng lẻ ở từng làng do lính bắn thì không rõ. Con số nói về các án buộc tù chính trị phải nhận là như sau:

A. Số người tù bị kết tội đến B hoặc đến B cộng C

B. Số nǎm lao động khổ sai hay bị biệt giam

C. Số nǎm bị quản thúc cộng đến B

D. Số người tù bị kết án lao động khổ sai hay chung thân

E. Số người tù phải lưu đầy chung thân

F. Số người tù phải nhận án tử hình.

Thời điểm

A

B

C

D

E

F

Tháng 5

53

393

–

75

–

57

Tháng 6

120

448

340

5

128

–

Tháng 7

76

499

52

1

–

7

Tháng 8

60

370

196

125

–

12

Tháng 9

126

630

110

–

81

1

Tháng 10

61

91

6

–

10

–

Tháng 11

60

658

51

29

87

6

Tháng 12

140

301

35

1

–

–

Hãy làm tính cộng trong thời gian 8 tháng (từ tháng 5 đến tháng 12) có:

649 nông dân bị giết

83 nhà cách mạng bị tử hình

237 người bị kết án lao động khổ sai chung thân

306 người bị kết án đi đầy suốt đời

696 người bị kết án 3.390 nǎm tù với 790 nǎm quản thúc.

Tính đến tháng 12, có:

1359 tù chính trị bị tra tấn ở nhà tù Vinh.

Hà Nội và Thái Bình tính riêng. Bởi có 59 tỉnh ở Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ, mỗi tỉnh có nhà tù đông nghịt tù chính trị, do đó có thể nói là ước tính thấp chứ không phải là cao, rằng có 6.000 nhà cách mạng người Đông Dương hiện nay bị giam trong các nhà lao.

Ngoài việc bắt hàng loạt và tàn sát, đốt cháy, phá trụi làng mạc (Khu Liên, Ngọc Sơn, Dương Phố, Bích Hào, Lài Thạch, Tiên Khuê, v.v.), bọn đế quốc còn dùng những thủ đoạn khủng bố khác như đốt nhà và bỏ thuốc độc. Khi chúng bắt được một nhà cách mạng, chúng đốt nhà anh ta. Nếu anh ta trốn, thì chúng đốt nhà anh ta và bắt giữ tất cả những người trong gia đình. Mới đây, ở tỉnh Nghệ An, đã có dấu hiệu các giếng nước ǎn bị bỏ thuốc độc. Vào giữa tháng 12, những người làng Nghiêm Thành bắt được một tên đi bỏ thuốc độc. Họ dẫn nó đến đồn binh Pháp gần đấy. Đến ngày hôm sau, người sĩ quan Pháp ra tuyên bố – với sự ngạc nhiên của quần chúng, nhưng không phải người ta không biết – rằng việc bỏ thuốc độc không có liên quan gì đến chính phủ.

Tình hình Đông Dương là như thế.

Nhiệm vụ cấp thiết của giai cấp vô sản thế giới – đặc biệt là giai cấp vô sản Pháp – là chìa bàn tay hữu nghị anh em và giúp đỡ tới Đông Dương, để chứng tỏ tình đoàn kết thực sự và tích cực của họ, Đông Dương bị áp bức và cách mạng cần điều ấy!

24-1-1931

VÍCTO

—————————-

Tài liệu tiếng Anh, bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.
cpv.org.vn

Báo cáo gửi Ban phương Đông (8-2-1931)

Số 1. Tin tức đấu tranh ở Trung Kỳ.

Ngày 11-12-1930, ở các huyện Anh Sơn, Thanh Chương và Nam Đàn, hơn 10.000 nông dân, nam nữ và trẻ em đã tổ chức những cuộc biểu tình kỷ niệm Quảng Châu bạo động: họ kéo cờ đỏ đi biểu tình và rải truyền đơn.

Ngày 12-12-1930, lính Tây đến làng Đạo Ngạn bắt nhân dân; không bắt được ai, chúng bèn hãm hiếp một chị phụ nữ. Chị em các vùng lân cận và nông dân kéo đến cứu chị. Bọn lính dùng súng bắn chết hai người đàn ông. Ngày hôm sau, một đoàn 400 nông dân kéo cờ đỏ đi đầu đã đi đưa đám hai người hy sinh.

Số 2. ở Nhà máy xi mǎng Hải Phòng.

30 công nhân bị đuổi. 400 người khác cũng bị doạ thải hồi. Các báo đưa tin 3.000 công nhân Nhà máy xi mǎng đã bãi công và đấu tranh:

a) Đòi cho những anh em bị đuổi được trở lại làm việc;

b) Phản đối bớt lương;

c) Phản đối việc đóng cửa nhà máy, họ đòi trả 3 tháng lương.

Số 3. Chỉ thị của Ban Chấp hành Trung ương gửi các Xứ uỷ.

1. Đảng nhấn mạnh đến việc củng cố các Xứ uỷ, Tỉnh uỷ và các Uỷ ban đặc biệt bằng cách tiến hành bầu cử. Thực hiện đúng nguyên tắc bầu cử vẫn tốt hơn là chỉ định cán bộ bổ sung. Đảng cũng nhắc nhở đến việc tổ chức các ban chuyên môn do các cấp uỷ lãnh đạo. Những Ban hành động phải được thành lập ngay; ít nhất là phải có một Ban tuyên truyền, một Ban công vận, một Ban nông vận và một Ban ấn loát.

2. Phải tuyên truyền về vấn đề thay đổi tên Đảng. Mỗi đảng viên và mỗi chi bộ Đảng đều phải nghiêm chỉnh thảo luận những án nghị quyết của Trung ương, bước đầu để tiến tới Đại hội toàn Đảng. Trung ương sắp xuất bản một tờ báo đặc biệt đặt tên là “C”.

3. Các cấp uỷ phải xúc tiến việc thi hành các nghị quyết của Đảng. Đại biểu các Ban công vận phải họp lại nghiên cứu để tiến hành có kết quả việc tổ chức Công hội ở ngay địa phương mình – xứ, tỉnh, v.v.. Việc tổ chức các đại hội không nên để cho đảng viên và hội viên Công hội biết, chỉ nên tin khi nào đại hội đã chuẩn bị tổ chức xong.

4. Các cuộc hội nghị đó phải được chuẩn bị chu đáo. Vấn đề tổ chức đại hội phải bàn bạc kỹ trong mỗi tổ chức Công hội. Mỗi Công hội phải nghiên cứu tường tận tình hình công nhân để đặt trước những nguyện vọng chủ yếu. Báo chí cũng phải tranh luận về các đại hội. Việc tổ chức mít tinh cũng phải nghiên cứu kỹ.

Việc kết nạp hội viên mới vào Công hội

1. Tất nhiên là tất cả những gì có liên quan đến Công hội đều phải có tính chất cách mạng, nên chỉ có những công nhân hiểu rõ cách mạng vô sản và cách mạng cộng sản chủ nghĩa mới được kết nạp vào Công hội. Nhưng công nhân nào đã thấy rõ sự cần thiết phải có một tổ chức để bênh vực quyền lợi của mình cũng có thể vào Công hội, mặc dầu người đó chưa có thể hiểu gì về các vấn đề khác. Công hội và đấu tranh sẽ giáo dục cho họ.

2. Nếu có hội viên ít hoạt động hoặc tỏ ý dè dặt trong đấu tranh thì cũng không nên loại họ ra ngoài hội. Tinh thần cách mạng là điều kiện duy nhất để một Công hội có thể gia nhập Tổng hội. Nhưng chúng ta cũng không thể vì vậy mà kết luận rằng mỗi công nhân vào hội đã là người cách mạng rồi.

Có những công nhân đấu tranh chỉ vì quyền lợi trước mắt chứ chưa hiểu cách mạng. Nhưng vì Công hội là một tổ chức có một đội tiên phong và có đường lối chính trị nên Công hội là một tổ chức cách mạng.

Công hội phải tham gia Mặt trận phản đế như một hội viên tập thể. Có nhiều người tưởng gia nhập Mặt trận, Công hội sẽ mất độc lập tính. Công hội vẫn độc lập và tiếp tục tiến hành những công việc của mình. Nếu Công hội có gia nhập Mặt trận thì chỉ để tham gia cuộc đấu tranh chung chống đế quốc chủ nghĩa mà thôi.

3. Yêu cầu các đồng chí hỏi người thông tín viên của các đồng chí lấy những tin số 1 và 2 đã gửi cho các đồng chí một tuần nay- bài của V.

Đại biểu đi dự Đại hội Quốc tế Công hội đỏ lần thứ V về cho chúng tôi biết rằng: Một uỷ viên Quốc tế Cộng sản nói không nên tổ chức Nông hội lên đến Tổng Nông hội toàn quốc.

Vấn đề này đang làm cho các đồng chí của chúng tôi lúng túng, các đồng chí ấy hỏi phải làm như thế nào. Tôi đã trả lời họ cứ tiếp tục tổ chức Tổng Nông hội toàn quốc, vì lý do:

a) Khi nào các đồng chí đến đây các đồng chí mới thấy lợi ích của tổ chức đó.

b) Trong báo cáo, đại biểu cho biết rằng, trước kia, ở Trung Quốc, đã có những hội tương tự bao gồm địa chủ và phú nông. Thực tế lại không phải như vậy: Các thành phần ấy đã bị gạt ra, nhưng nếu không có Tổng hội toàn quốc thì làm sao mà tập hợp chỉ đạo mọi hoạt động đấu tranh được?

Các đồng chí có đồng ý với tôi không ?

8-2-1931

———————————

Tài liệu tiếng Anh, bản chụp lưu tại Viện Lịch sử Đảng
cpv.org.vn

Làm việc về giải pháp tôn tạo Đài tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ

Ngày 24/8/2012, Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tổ chức buổi làm việc với Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam và Viện Khoa học Công nghệ Xây dựng – Bộ Xây dựng về lựa chọn giải pháp tôn tạo Đài tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ. Thiếu tướng Nguyễn Văn Cương – Trưởng ban Ban Quản lý Lăng chủ trì buổi làm việc.

Chu Dang 1Thiếu tướng Nguyễn Văn Cương,
Trưởng ban Ban Quản lý Lăng chủ trì buổi làm việc

Tham gia buổi làm việc có lãnh đạo Ban Quản lý Lăng, Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng, đại diện các cơ quan, đơn vị có liên quan thuộc Ban Quản lý Lăng. Về phía Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam có GS. Châu Văn Minh – Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Chủ tịch Viện; GS. Nguyễn Quang Liêm – Viện trưởng Viện Khoa học Vật liệu và các nhà khoa học của Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam. Đại diện cho Viện Khoa học Công nghệ Xây dựng – Bộ Xây dựng có TS. Trịnh Việt Cường – Viện trưởng; PGS.TS. Cao Duy Tiến – nguyên Viện trưởng; TS. Nguyễn Đức Thắng – Viện trưởng Viện chuyên ngành bê tông và các nhà khoa học của Viện. Các đồng chí tham gia Hội nghị đã thống nhất các giải pháp lựa chọn công nghệ tôn tạo Đài tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ như sau:

Đài tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ là công trình có ý nghĩa chính trị đặc biệt thể hiện lòng biết ơn sâu sắc của dân tộc ta, nhân dân ta và bầu bạn quốc tế đối với những anh hùng, liệt sỹ đã anh dũng hy sinh vì độc lập tự do, thống nhất Tổ quốc, vì hạnh phúc nhân dân và tinh thần quốc tế cao cả. Công trình khởi công xây dựng ngày 07 tháng 4 năm 1993 tại đường Bắc Sơn, khánh thành ngày 27 tháng 6 năm 1995. Là đơn vị trực tiếp quản lý Đài tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ, gần 20 năm qua, Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, thường xuyên quan tâm, chú trọng công tác duy tu bảo dưỡng định kỳ song do nhiều nguyên nhân khác nhau, hiện nay, một số hạng mục của công trình Đài tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ đã xuống cấp nghiêm trọng, bên cạnh đó các công trình kiến trúc cũng đang được xây dựng trong khu vực thì việc tôn tạo Đài tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ là hết sức cần thiết.

Xuất phát từ vị trí, ý nghĩa, tầm quan trọng đặc biệt của Đài tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ, thời gian qua, lãnh đạo Ban Quản lý Lăng đã giao nhiệm vụ và chỉ đạo các cơ quan và Trung tâm Nghiên cứu, Ứng dụng Khoa học Công nghệ và Môi trường phối hợp với 2 cơ quan được chọn nghiên cứu, tư vấn và đề xuất giải pháp cải tạo nâng cấp Đài tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ là Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam và Viện Khoa học Công nghệ Xây dựng – Bộ Xây dựng, đây là các Viện đầu ngành của nước ta đánh giá thực trạng và đề xuất phương án tôn tạo công trình.

Sau nhiều năm nghiên cứu, khảo sát trong và ngoài nước, thử nghiệm, các đơn vị tư vấn đã đưa ra được những giải pháp khoa học, có tính thực tiễn cao, phù hợp nhất với công trình đặc biệt này. Các bên đã thống nhất giải pháp thay thế tấm đồng Đài tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ như sau: Lựa chọn công nghệ đúc điện hóa các chi tiết, họa tiết hoa văn đồng và công nghệ dát vàng của Liên bang Nga là nước có truyền thống lâu đời trong ứng dụng công nghệ này. Các họa tiết hoa văn đồng được treo rỗng có khoảng cách nhất định với bê tông đã được xử lý bề mặt và chống thấm để chống ăn mòn điện hóa, tăng độ bền của các tấm đồng. Đối với vật liệu đá lựa chọn đá Hoa cương nhập khẩu của Châu Âu có màu sắc như hiện nay và sử dụng công nghệ ốp rỗng sau khi bề mặt bê tông đã được xử lý chống thấm. Với các giải pháp đề xuất của 2 Viện trong thời điểm hiện nay là tối ưu.

Thay mặt Lãnh đạo Ban Quản lý Lăng, Thiếu tướng Nguyễn Văn Cương cảm ơn các nhà khoa học đã tập trung nghiên cứu, khảo sát và lựa chọn công nghệ phù hợp, khả thi nhất cho việc tôn tạo Đài tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ. Ban Quản lý Lăng sẽ phối hợp với các cơ quan liên quan tập hợp tài liệu trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt các phương án, giải pháp tôn tạo trên.

Vũ Xuân Đăng
bqllang.gov.vn

Thư gửi Ban phương Đông (12-2-1931)

Thưa ông,

Tôi đã gửi cho ông ba lần mẫu hàng trong nước, qua người giao dịch Trung Quốc của ông, lần gửi cuối cùng vào ngày 8 tháng 2, tôi mong ông đã nhận được cả.

Các em tôi (1) ở Sài Gòn đã nhiều lần tin cho tôi biết chúng sẽ về, nhưng không biết tại sao nay chưa tới. Các em tôi nói chắc chắn rằng lần này sẽ ra ǎn tết với chúng ta. Các cháu tôi (2) ở Bắc Kỳ cũng hẹn như vậy. Ông xem, 9 hay 10 người ở một nhà, chúng ta sẽ ǎn tết thật là vui vẻ. Các em và cháu tôi nhân cơ hội này sẽ đi Thượng Hải. Vợ tôi (3) đang rất bận để chuẩn bị việc đón tiếp.

Ông đã tìm hiểu về việc “Công ty xe hoả tốc hành Mỹ” chưa? Tôi nghĩ đó là cách tốt nhất để gửi tiền cho hành khách.

Hôm nay, tôi gửi thêm cho ông những mẫu hàng khác của các thương cục Mã Lai và Nam Kỳ cũng qua người bạn Trung Quốc của ông. Nhờ ông chú ý khi mẫu hàng đến.

Kính chào
Ngày 12 tháng 2 nǎm 1931
VÍCTO

————————————–

Tài liệu tiếng Anh, bản chụp lưu tại Viện Lịch sử Đảng.
cpv.org.vn

Thư gửi Ban phương Đông (16-2-1931)

Thưa ông,

Tôi mong ông đã nhận được tất cả thư của tôi cùng với những mẫu hàng mà tôi đã gửi qua nhân viên Trung Quốc của ông. Nay tôi gửi thêm những mẫu hàng khác qua người bạn Thượng Hải của tôi. Yêu cầu ông trả lời cho bạn tôi biết.

Tôi vừa nhận được hai tập sách rao hàng tiếng Anh của hãng “Inpơrétcơ và công ty”. Tôi còn phải nhận thêm ở bạn Thượng Hải của tôi nhiều tập sách ấy nữa (tiếng Pháp), để gửi cho các nhà buôn Đông Dương.

Nhân dịp này, tôi xin nói để ông biết lý do tại sao những ông giám đốc mới của thương cục Đông Dương lại nóng lòng muốn nhận thư mà chúng ta đã hứa gửi cho họ. Họ mới đến vùng này nên chưa gây được uy tín đối với nhân viên phụ thuộc của họ ở đấy đã lâu hơn. Hơn nữa, họ còn phải chấn chỉnh lại toàn bộ tổ chức. Không nhận được chỉ thị, không có sự ủng hộ chính thức của ban giám đốc thương cục trung ương chúng ta, họ khó hoàn thành tốt được công tác.

Tôi rất mong họ sẽ chóng nhận được thư để công việc ở các nhà buôn đó chạy tốt hơn, ông có đồng ý không?

Kính chào ông
Ngày 16 tháng 2 nǎm 1931
VÍCTO

————————–

Tài liệu tiếng Anh, bản chụp lưu tại Viện Lịch sử Đảng
cpv.org.vn

Khủng bố trắng ở Đông Dương (19-2-1931)

Tháng 1 có:

– 187 tù chính trị ở các nhà lao tỉnh Thái Bình.

– 201 (97 đảng viên Quốc dân đảng và 104 đảng viên cộng sản) ở các nhà lao Hà Nội.

– 70 (đều là đảng viên cộng sản) ở Thanh Hoá.

– 400 (đều là đảng viên cộng sản) ở Quảng Nam.

– 900 (đảng viên cộng sản và nông dân) ở Nghệ An.

Đó là những con số chúng tôi nắm chắc, còn ở 54 tỉnh khác, chúng tôi chưa có tài liệu gì, nhưng chúng tôi biết ở mỗi tỉnh các nhà lao đều chật ních. Trong cùng một khoảng thời gian ấy:

– 414 tù chính trị bị đem đi đày, trong số đó có các cụ già 67 tuổi, các trẻ em trai và gái mới 15 tuổi, 44 tù chính trị bao gồm học sinh từ 15 đến 16 tuổi, bị án tổng số bằng 219 nǎm khổ sai và 1 án khổ sai chung thân.

án do nhiều toà án khác nhau xử, 201 tù chính trị Hà Nội do một toà án đặc biệt xử, chúng tôi chưa biết bản tuyên án. Ngày 27-1, toà án Nam Định đã tuyên các án sau đây:

– 10 án biệt xứ.

– 4 án 20 nǎm tù.

– 6 án 10 nǎm tù.

– 1 án 4 nǎm tù.

– 1 án 2 nǎm tù.

22 nạn nhân này của chủ nghĩa đế quốc Pháp đều là những sinh viên trẻ tuổi bị cáo đã tổ chức một đoàn thể cách mạng của sinh viên.

Sau đó, toà án thượng thẩm đã tuyên xử:

– 2 án biệt xứ.

– 6 án 20 nǎm khổ sai.

8 người này bị cáo là đảng viên Đảng Cộng sản. Ngày 26-1, toà án bất thường Kiến An đã tuyên án xử 99 đảng viên Quốc dân đảng và 72 đảng viên cộng sản như sau:

– 144 án biệt xứ (8 nữ thanh niên cộng sản)

– 4 án 10 nǎm khổ sai

– 19 án 5 nǎm tù (1 nữ thanh niên)

– 2 án 3 nǎm tù (1 nữ thanh niên)

– 2 án 1 nǎm tù khổ sai.

Riêng ở Bắc Kỳ, tổng số án tháng 1, không kể Hà Nội, là 157 án biệt xứ và 89 án cộng bằng 652 nǎm khổ sai và phạt tù. Chúng tôi không ước tính được số nạn nhân khủng bố trắng ở Nam Kỳ và Trung Kỳ, nhưng cũng trong tháng ấy, ở Trung Kỳ, có hơn 100 nhà nông dân bị lính đốt (ngày 17-1, ở huyện Nghi Lộc), 32 nông dân bị giết chết trong một cuộc biểu tình (cũng ở huyện ấy, ngày 9-1) và 2 nông dân bị giết trong một cuộc biểu tình (ở Hà Tĩnh, ngày 2-1).

Tháng này, ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ, tổng số người bị bắt là 350 người.

Dưới đây là một số câu trả lời trước phiên toà Kiến An:

– Nguyễn Vǎn Bôn: Tôi theo những người cộng sản tháng 10-1930 là vì tôi thấy xã hội hiện nay rất thối nát.

– Nguyễn Trọng Tuệ: Phải, tôi là đảng viên Đảng Cộng sản, vì thiếu cơm ǎn, áo mặc, tôi phải làm cách mạng!

– Nguyễn Vǎn Ung: Tôi vào Đảng Cộng sản để lật đổ đế quốc Pháp và cải thiện đời sống cho đồng bào tôi.

– Bùi Vǎn Cao: Tôi theo Đảng Cộng sản để đánh đổ đế quốc Pháp để làm tròn bổn phận của một người dân Việt Nam.

– Nguyễn Vǎn Dai: Tôi bị áp bức nên tôi làm cách mạng để tự giải phóng.

– Phạm Mai: Mặc dầu đi lính cho Chính phủ Pháp, nhưng tôi thấy đồng bào tôi bị áp bức khổ sở, nên tôi vào Đảng Cộng sản để làm cách mạng và giúp đỡ đồng bào.

– Ngô Vǎn Mai: Tôi vào Đảng Cộng sản để đánh đuổi người Pháp ra khỏi đất nước. Không chỉ có mình tôi, ai đã biết cầm bát cơm ǎn cũng phải làm cách mạng. Tôi không cần ai tuyên truyền cho tôi cả.

– Phạm Thị Hội (một nữ thanh niên nông dân): Phải, tôi theo Đảng Cộng sản vì trong xã hội này có nhiều bất công.

– Hạ Bá Cang: Tôi không cần từ chối gì về hoạt động cách mạng của tôi cả vì đó là bổn phận của tôi phải góp sức cứu vớt 20 triệu đồng bào và đánh đổ giai cấp tư sản đế quốc.

– Trần Hy: Tôi là vô sản nên có lý do đương nhiên làm cách mạng.

– Ngô Kim Tài (lính cảnh sát): Tôi vào Đảng để đấu tranh cho hạnh phúc nhân loại.

– Nguyễn Huy Sán: Tôi là công nhân, tôi theo Đảng để bênh vực quyền lợi cho vô sản.

– Nguyễn Thị Hợi: Khi tên quan toà nói với chị: “Cô là giáo học, để làm cách mạng, cô đã bỏ việc đi làm phu ở Nhà máy dệt Nam Định”. Chị trả lời: “Phải, tôi vào Đảng Cộng sản vì chủ nghĩa cộng sản là một chủ nghĩa đúng đắn. Ông cũng thế nếu ông là vô sản, nhất định ông cũng sẽ vào Đảng”.

– Đoàn Vǎn Nghiêm: Tôi vào Đảng Cộng sản để đánh đổ đế quốc, tư bản và phong kiến Pháp 1 .

– Tống Phục Chiêu: Đánh đổ đế quốc và tư bản là điều chúng tôi cần làm. Đó là lời khai của tôi, các ông muốn làm gì tôi thì làm.

– Bùi Đắc Thanh (bị cáo treo cờ đỏ và rải truyền đơn): Tôi có gan theo Đảng Cộng sản thì tôi cũng có can đảm chịu lấy trách nhiệm, chúng tôi không xem cách mạng như một trò trẻ con.

Ngày 19 tháng 2 nǎm 1931
V.

—————————–

Tài liệu tiếng Pháp, bản chụp lưu tại Cục lưu trữ Vǎn phòng Trung ương Đảng.
cpv.org.vn

Nghệ Tĩnh đỏ (19-2-1931)

Hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh ở cách 360 kilômét về phía bắc thành phố Huế, kinh đô nước An Nam (nơi tên vua “bù nhìn” thiết lập triều đình) và cách 326 kilômét về phía nam Hà Nội, thủ phủ xứ Đông Dương thuộc đế quốc Pháp. Tỉnh Nghệ An có 3 phủ, 6 huyện với số dân 614.000 người ở 942 làng. Tỉnh Hà Tĩnh có 2 phủ, 6 huyện, 601 làng, với số dân 405.000 người. Trong số 500.000 người đàn ông của cả hai tỉnh, thì 120.000 người phải đóng thuế thân 2đ20 mỗi nǎm một đầu người.

Hà Tĩnh không có công nghiệp. Vinh là thành phố chính của Nghệ An. ở Vinh, có một nhà ga xe lửa lớn, một nhà máy điện nước, một nhà máy diêm, 5 nhà máy cưa, 2 xưởng sửa chữa ôtô và một vài xưởng nhỏ, tất cả dùng 4.000 công nhân.

Ngoài số công nhân đó và một số như vậy quan lại, chủ đồn điền và người buôn bán…, nhân dân hai tỉnh đều là bần và trung nông (hơn 1 triệu).

Địa thế hai tỉnh nhiều rừng núi, đất đai cằn cỗi, nông giang chẳng có, ở đây thường xảy ra lụt, bão, do đó nhân dân đói khát và nơi ǎn chốn ở rất khổ sở. Sưu thuế nặng nề và nạn áp bức xã hội và chính trị làm cho cảnh ngộ của họ càng cùng cực hơn.

Nhân dân Nghệ – Tĩnh nổi tiếng cứng đầu. Trong thời kỳ Pháp xâm lược cũng như trong các phong trào cách mạng quốc gia (1905-1925) Nghệ – Tĩnh đã nổi tiếng. Trong cuộc đấu tranh hiện nay, công nhân và nông dân Nghệ – Tĩnh vẫn giữ vững truyền thống cách mạng của mình.

Từ tháng 5 đến tháng 12, công nhân Nghệ An (Vinh) đã 8 lần bãi công và biểu tình có 2.500 người tham gia. Cũng trong thời gian đó, 137 cuộc biểu tình đã nổ ra bao gồm tất cả 300.000 nông dân.

Thiệt hại: 625 nông dân bị máy bay ném bom và súng máy giết chết, 8 làng bị triệt hạ, hơn 1.000 chiến sĩ bị bắt giam, hàng trǎm người bị đem đi đày.

ở cả hai tỉnh, hơn 60.000 nông dân (đàn ông, đàn bà và thanh niên) đã được tổ chức vào Hội .

Nghệ – Tĩnh thật xứng đáng với danh hiệu “đỏ”!

II

Từ ngày 26-12 đến ngày 19-1, có hai cuộc lễ lớn ở gần Vinh: một cuộc lễ “đỏ” và một cuộc lễ “vàng”.

Cuộc lễ thứ nhất được tổ chức ở làng Lộc Đa, cách Vinh 2 kilômét, 4.000 công nhân thành phố Vinh và nông dân Hưng Nguyên, Nghi Lộc đã đến dự để làm lễ truy điệu những chiến sĩ bị hy sinh trong ngày 11-12, nhân dịp kỷ niệm Công xã Quảng Châu.

Một lá cờ búa liềm được chǎng ra trên bàn thờ đầy hương hoa, xung quanh cắm 100 lá cờ đỏ và một dây 200 ngọn đèn đỏ. 10 giờ đêm, khi mọi người đã đến đông đủ, hai đoàn xe đạp được bố trí đi tuần tra trên các ngả đường về Vinh và Bến Thuỷ mà từ các ngả đó lính Pháp có thể kéo đến, còn một đoàn khác vây quanh quần chúng và hát bài Quốc tế ca. Lệnh “mặc niệm” bỗng nhiên được đưa ra. Người chủ trì buổi lễ lên đọc điếu vǎn. Sau đó, đại biểu Công hội, Nông hội và đại biểu các làng lên nói chuyện.

Một đại biểu đề nghị: Ngày hôm sau, tất cả các chợ ở Hưng Nguyên và Nghi Lộc đều bãi thị.

Đề nghị đó được mọi người nhiệt liệt hưởng ứng. Ngày hôm sau, đúng như lời cam kết, tất cả các chợ đều vắng tanh.

Trong lúc buổi lễ đang tiến hành, anh em công nhân cắt điện làm cho cả thành phố Vinh – Bến Thuỷ bị chìm ngập 10 phút trong đêm tối.

III

Bom đạn, súng máy, đốt nhà, đồn binh (28 đồn mới được dựng lên ở riêng Nghệ An), tuyên truyền của chính phủ, báo chí… đều bất lực không dập tắt nổi phong trào cách mạng của Nghệ – Tĩnh. Vì thế bọn đế quốc Pháp đã nghĩ ra một thủ đoạn mới: tổ chức những cuộc biểu tình phản cách mạng và bắt buộc nhân dân thành phố tham gia.

Ngày 19-1, nhân dân 24 khu phố bị lôi ra đường, từng tốp một bước theo nhịp trống, mang 5 lá cờ vàng có ba sắc đè lên góc. Cờ vàng là quốc kỳ của Vương quốc An Nam. Những đoàn người “quy thuận” (bọn Pháp đặt cho họ cái tên này mặc dầu những người An Nam đáng thương đó chưa khi nào chiến đấu) bị dẫn đến hoàng cung (nơi bọn quan lại thường đến đó bái vọng nhà vua, mặc dầu ông ta không bao giờ đến đó). Họ được viên tổng đốc bận lễ phục đón tiếp. Quan lớn nói với họ như thế này: “Bây giờ nhân dân thành phố đã xin tạ lỗi quy thuận Chính phủ Nam triều và Chính phủ Pháp thì phải lo giữ gìn trật tự, an ninh trong thành phố. Các người đừng nghe những lời tuyên truyền bậy bạ và đừng phạm những điều đáng chê trách” (tên tổng đốc muốn nói đến cách mạng đấy, nhưng nó không dám dùng những tính từ quá chua cay, mỗi khi nói đến cách mạng trước nhân dân). Tên tổng đốc bảo mọi người lạy ba lạy trước ảnh vua để tỏ lòng trung với vua. Rồi nó dẫn nhân dân đến trước toà sứ và cũng buộc phải lạy ba lần để tỏ lòng trung thành với đế quốc Pháp.

Bọn đế quốc và phong kiến Nam triều xem cuộc biểu tình tỏ lòng trung thành đó là một thành công lớn của chúng và hôm sau tin này được đǎng đầy trên báo chí.

Chúng định tiếp tục tổ chức những cuộc biểu tình như vậy ở Nghệ – Tĩnh. Nhưng ở các thôn xã có nông dân cách mạng thì khó mà tổ chức được như ở thành phố nơi mà chúng chỉ tập hợp được một số người ngốc nghếch mà thôi.

Ngày 19 tháng 2 nǎm 1931
V.

——————————

Tài liệu tiếng Anh, bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.
cpv.org.vn

Thư gửi Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương (20-4-1931)

Đây là tôi phê bình về cuộc Hội nghị Xứ uỷ Trung và Bắc.

A- CÁCH KHAI HỘI – Trước khi khai hội, từ đảng viên cho đến các đồng chí phụ trách chưa nghiên cứu kỹ vấn đề. Đến khi khai hội, mới đem ra bàn thì chắc thảo luận không kỹ. Thì giờ khai hội quá dài (Trung 18 buổi, Bắc 13 ngày) mà lại trật tự không sắp sẵn, vậy nên tốn thì giờ nhiều mà các vấn đề thì bàn không hết. Xứ hội Bắc thì những chỗ rất quan trọng như Hải Phòng mà không có đại biểu.

B- CÁCH THẢO LUẬN – Bắc không thảo luận một cách thiết thực mà thảo luận một cách “tầm chương trích cú”. Thí dụ: như chất vấn Trung ương sao khi thì nói “để” dự bị võ trang, khi thì nói “và” dự bị võ trang, v.v.. Vì đảng viên chưa thảo luận cho nên những ý kiến trong hội nghị không thể đại biểu được ý kiến của quần chúng trong Đảng. Vả lại trong khi khai hội, nhiều đồng chí mệt mỏi hoặc phải vắng mặt để đối phó việc khác, ít phát biểu ý kiến. Thành thử ý kiến trong cuộc hội nghị lại là ý kiến của số ít trong số ít.

C- VẤN ĐỀ CÔNG TÁC – Trong hai hội nghị, các lời đề nghị đều có ý mênh mông, không thấy đề nghị thế nào để tất cả đảng viên, tất cả chi bộ thảo luận và thực hành được các nghị quyết án của Trung ương; không thấy đề nghị kế hoạch thiết thực cho mỗi địa phương.

D- VẤN ĐỀ TÊN ĐẢNG – Trung đề nghị chờ bao giờ Cao Miên và Lào có Đảng rồi sẽ nhập các Đảng lại và đổi tên. Thế là các đồng chí Trung không hiểu chỉ thị Quốc tế nói rằng Đảng phải gồm cả vô sản ở Đông Dương và không hiểu nhiệm vụ Đảng là phải làm cho Lào và Cao Miên có đảng bộ. (Trung ương đã in và phát hành chỉ thị Quốc tế cho đảng viên chưa? Sao thấy trong Nghị quyết Bắc có hỏi: “Trung ương bảo thảo luận “chỉ thị” là chỉ thị nào? “).

E- LỰC LƯỢNG CỦA ĐẢNG – Muốn hiểu rõ sức mạnh và chỗ yếu của Đảng ở Trung và Bắc thì chúng ta nên xem bảng này 1 :

Đảng viên

Chi bộ

Thanh niên

Công hội

Nông hội

Phụ nữ

Ghi chú

– Nam Đàn

170

21

641

–

10.000

452

– Thanh Chương

273

27

78

–

10.077

232

– Anh Sơn

123

18

35

–

4.350

62

– Yên Dũng

11

15

–

–

3.022

–

– Diễn Châu

51

2

–

–

345

–

– Quỳnh Lưu

33

4

–

–

278

–

– Vinh

185

8

–

312

–

–

– Hưng Nguyên

55

9

–

–

2.032

70

– Nghi Lộc

58

15

–

–

1.574

–

– Hà Tĩnh

370

–

122

–

2.000

48

– Quảng Trị

42

–

–

–

–

–

– Quảng Ngãi

69

–

–

–

1.200

–

– Bình Định

40

–

–

–

100

–

– Hải Phòng

37

9

8

101

–

–

– Hòn Gai

8

–

–

10

–

–

– Nam Định

115

–

31

293

100

–

– Phủ Lý

82

–

13

–

300

–

– Thái Bình

40

8

14

–

270

–

– Hải Dương

9

–

1

–

31

–

– Hà Đông

12

–

–

–

51

–

– Bắc Ninh

6

–

–

–

–

–

– Hà Nội

36

–

–

–

–

–

Nhìn vào bảng trên thì thấy:

ở Trung:

a) Tổ chức Đảng có trong 13 huyện và tỉnh. Nhưng chỉ có 3 huyện là có tổ chức thanh niên. Trong một huyện thanh niên chỉ bằng một phần ba của Đảng, trong một huyện khác, thì bằng một phần tư.

b) Phụ nữ chỉ được tổ chức trong 5 huyện, số lượng phụ nữ trong một huyện chỉ bằng một nửa đảng viên, trong một huyện khác thì chỉ bằng một phần 9.

c) Trong 13 tỉnh và huyện trên, nǎm nơi có Nông hội rất yếu. ở một nơi số lượng nông dân được tổ chức gấp hai lần rưỡi số lượng đảng viên.

d) ở Trung, Công hội chỉ có ở một nơi trên, nhưng công nhân nông nghiệp các nơi thì chưa chỗ nào được tổ chức.

e) ở Trung có 16 tỉnh, mới có tổ chức ở nǎm tỉnh thôi.

f) Báo cáo Trung không nói rõ số lượng đảng viên phụ nữ và số lượng phụ nữ vào Nông hội.

Tổ chức ở Bắc thì yếu quá. Trong một xứ công nghiệp như Bắc, mà chỉ có hai tỉnh là có Công hội, bốn nơi có Thanh niên, nǎm nơi có Nông hội, nhưng xem ra tất cả chưa bằng tổ chức của một huyện thuộc hạng bốn ở Trung. ở một trung tâm chính trị và kinh tế quan trọng như Hà Nội, trừ vài đồng chí lãnh đạo ra thì không có một chiến sĩ nào khác.

Cả hai xứ đều không có tổ chức “Mặt trận phản đế”, “Cứu tế đỏ” và “Cứu tế thất nghiệp” (Trung đã có một chút Cứu tế đỏ).

Tôi đề nghị:

A- Đảng phải:

1. Sửa chữa những sai lầm trên.

2. Lập chương trình hành động cụ thể trong từng huyện và từng tỉnh.

3. Phân phối đảng viên (như nhà binh phân phối binh sĩ).

Các đồng chí phụ trách một vùng hay một công tác nào đó phải lập chương trình hành động cho mỗi đồng chí trong mỗi một tổ chức.

4. Các ban chấp uỷ phải quản lý và kiểm soát rất tỉ mỉ việc thi hành các chương trình hành động đó.

5. Trước tiên phải thống nhất tổ chức Thanh niên và Công hội và những tổ chức đó phải có sinh hoạt độc lập của mình.

B- Tất cả mọi đảng viên và tất cả các chi bộ phải thảo luận Chỉ thị của Quốc tế thứ ba và Nghị quyết của Trung ương, rồi phải ra Nghị quyết về những Nghị quyết và Chỉ thị nói trên. Những Nghị quyết ấy phải đệ trình lên Trung ương, Trung ương sẽ chuyển lên Quốc tế thứ ba. Có làm như thế thì mới có thể nâng cao được trình độ đảng viên, tất cả Chỉ thị và Nghị quyết mới được thi hành, tư tưởng và hành động của đảng viên mới thống nhất; và Quốc tế thứ ba mới nắm được trình độ cách mạng của đảng viên và sự liên lạc từ chi bộ tới Trung ương và với Quốc tế thứ ba mới thực hiện được chặt chẽ (đó là ý kiến của Quốc tế thứ ba).

1- Nhớ gửi:

1) Báo cáo của Nam Kỳ.

2) Báo cáo của Hội nghị Trung ương.

3) Báo cáo về công tác công vận. Tôi đã nói đến ba vấn đề trong thư trước của tôi.

2- Người quen của chúng ta Đuycru (Ducroux) chưa về bằng chuyến tàu này.

3- Các đồng chí biết những tàu này chạy đường Sài Gòn – Tân Gia Ba? ở đây cần biết rõ điều đó.

4- Tôi nghe nói người ta có quen một người Pháp trên một chiếc tàu của sở hàng hải, nếu đúng như vậy (mà cũng cần như vậy) yêu cầu các đồng chí điều tra (về người đó) xem.

5- Khi có một chuyến tàu về, các đồng chí nên đến xem có ai về không. Khi có tàu vào cảng thì tín hiệu như thế nào.

6- Có người ở “kia” sắp về, khi có tin tàu về (từ đầu tháng 5) thì phải lên tàu đón. Trên tàu “Metzinger” có Nghĩa, thợ giặt. Có thể có gì đó (gửi cho các đồng chí). Nhớ đến hỏi anh ta mà lấy.

Ngày 20 tháng 4 nǎm 1931
NGUYỄN ÁI QUỐC

————————————

Tài liệu tiếng Pháp, bản chụp lưu tại Viện Lịch sử Đảng
cpv.org.vn

Thư gửi Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương (24-4-1931)

Ngày 23 tháng 4 nǎm 1931

1. Trong thơ đó nói rằng đồng chí mới về đó ở Hồng quân Đông Giang làm liên trưởng (quan ba) kiêm đảng đại biểu. Tiếng Tàu giỏi, nhiều kinh nghiệm binh và nông.

2. Người quen chuyến này chưa trở lại đâu; nó cần biết mối giao thông Sài Gòn – Singapor.

3. Hg – Th – Kông 1 chớ hỏi Lý Pấn 2 nữa. Chỉ giao thiệp với Trần Thiêm thôi. Tàu này chỉ đậu một ngày, phải chú ý khéo trật (b) 3 Tàu Trần Bình 4 có đồng chí Tống Phi Hùng bồi tầng thứ hai, (c) Thuận Khang không chạy HK – SGòn nữa. Phu Sanh nó không chịu nói tên, vậy hãy khoan đã (d) nhớ hỏi anh Nghĩa, thợ giặt của tàu Metzinger, xem hoặc có thơ hoặc có gói gì không.

4. Khi gửi gì, bảo giao thông viết cho rõ để ngoài này điều tra cho biết gì nhận được, gì không. Ngoài này cũng làm thế.

5. Vladimirof ở đây rồi. Nếu chuyến này chưa về được thì chuyến sau (các tàu quen, cái nào cũng phải đón). Blokof, Bourof và Limin 5 còn đọng lại Singapor, đã viết thư gửi họ rồi, Maizen 1 về đến Singapor, thì sợ mà trốn mất.

6. Các cơ quan không đặt bí hiệu hay sao? Sao mà nhiều lần cơ quan lộ rồi mà đồng chí cứ chui vào cho bị! (Chỗ in, chỗ “Vách giả” chỗ Mật 2 v.v.). Hoặc có đứa phản chǎng? Tài liệu bí mật, nhất là về giao thông có lộ không?

7. Khi có tiền thì mỗi đồng chí cẩn thận nên giắt một ít, thế là khi mất khỏi mất hết, mà những người chạy được cũng có xu mà hộ thân.

8. Nên tìm mi thuật gì mà giữ gìn lấy đồng chí trọng yếu, chứ nếu nó cứ túm mòn những vắt khá đi, thì hại cho công việc quá! Thái Bình, Phủ Lý thì nó lại cứ giở sổ mà đi bắt người! Xem những việc đó thì có thể nói rằng Đảng còn kém đường bí mật công tác. “Họ” thường hỏi tôi về vấn đề vì sao mà bị lộ? Vì sao mà bị? Để suy nghĩ và tìm cách sửa đổi. Nhưng trong không báo cáo ra, cho nên tôi cũng ú ớ!

8 Bis. Vấn đề nhiệm vụ tôi: a) Từ ngày Hội nghị Octobre tôi nghĩ trong đã có Trung ương, ngoài đã có Đ, vậy nên công việc tôi chỉ là như “thùng thơ”. Vậy nên tôi xin Đ đổi chỗ vì “thùng thơ” thì người khác cũng làm được. Vì thế mà Đ có thơ định trách nhiệm cho tôi (thơ đó tôi có gửi copie cho T.Ư).

b) Nếu Trung ương báo cáo thường và rõ ràng (détaillé) thì chúng tôi không đòi báo cáo các nơi làm gì, song từ ngày Hội nghị đến nay, Trung ương chưa có lần báo cáo nào tương tế hết. Như việc B phản đối chỉ thị Quốc tế mà cũng đến bây giờ người quen và Trung ương mới nói đến! Vẫn biết hoàn cảnh khó khǎn và Trung ương lắm việc, nhưng “họ” cũng cần phải biết tình hình rõ ràng mà cũng vì vậy mà phải yêu cầu các nơi báo cáo. Nhờ hai tờ báo cáo Xứ Hội nghị gửi ra, mới biết hơi rõ tình hình T và B từ 12 – 30 về trước, (từ đó đến giờ không rõ vì không thấy báo cáo nữa) và họ đương hỏi cho được báo cáo Nam Kỳ. Vả lại khi trước (Octobre) chúng ta đã định rằng, hễ các nơi báo cáo thì làm hai bản, một gửi cho Trung ương, một gửi ra. Thế là đỡ việc cho Trung ương và Quốc tế lại biết rõ tình hình, Đ cũng tán thành cách đó. Như vậy thì có gì là “vô lý và lộn xộn” 1 .

c) Tôi không trao kế hoạch gì riêng cho T và B, chỉ có những thông cáo gấp như 1-5, những chỉ thị đại khái như chỉ thị vừa rồi và những tài liệu nghiên cứu dịch ra thì tôi cứ vẫn gửi ba bản cho Trung ương, T và B. Làm như thế là cho mau, cho tiện và cho chắc chắn (nếu chỗ này không tiếp thì có chỗ khác tiếp).

d) Thơ vừa rồi Trung ương nói: “Chỉ có việc giao thông hoặc báo chương thì tôi giao thiệp với họ, chứ báo cáo thì vô lý và lộn xộn”. Nếu làm như đã nói trên, thì chẳng những không có gì là “vô lý và lộn xộn” mà lại chạy việc lắm. Nếu không vậy thì tôi giao thiệp với T và B cũng không có tác dụng gì.

e) Thơ Trung ương tôi cứ vậy gửi đi rồi. Nhưng việc này cũng vậy. Nhiệm vụ tôi đã là như thơ Đ đã định, cho nên khi có việc gì Đ cũng nói với tôi mà khi tôi có ý kiến gì (như phê bình T và B mới đến) cũng có Đ đồng ý.

Vậy nên khi Đảng nghị định hoặc yêu cầu gì thì tôi cũng nên biết. Nếu không biết gì cả, khi “họ” hỏi đến, tôi biết đường nào mà nói. Nếu chỉ biết truyền thơ qua, đưa thơ lại, nếu không tham gia ý kiến với Đ và với Trung ương, thì tôi ở đây cũng không ích gì lắm. Vì việc đưa thơ thì đồng chí khác cũng làm được.

Nói tóm lại là Trung ương thảo luận lại “nhiệm vụ của K. V” (2): 1/ ý kiến đối với thơ hôm nọ (copie gửi về trước) thế nào? 2/ Các nơi nên hay không nên gửi báo cáo, v.v.. Trung ương giải quyết thế nào, rồi cho tôi biết. Vì nếu để thế mãi, thì chỗ nói thế này, chỗ nói thế kia, thì lộn xộn thiệt, mà lại trở ngại cả công tác.

Thêm: Vladimirof chuyến này chưa về được. Phải chờ Hg-Th-Kông hoặc Trần Bình mới về được.

Chuyến này gửi về 2 Zũa và 200 giấy.

Ngày 24 tháng 4 nǎm 19311)

Ngày 1-5 sắp sửa thế nào, kết quả thế nào cho biết.

Miếng giấy nhỏ chữ Anh là do đại biểu I.J.C. gửi về.

————————

Bút tích tiếng Việt, bản chụp lưu tại Viện Lịch sử Đảng.
cpv.org.vn

Thư gửi Quốc tế Cộng sản (1931)

Đồng chí thân mến,

1. Tôi đã nhận được bức thư ngày 25-4.

2. Đồng chí Tổng bí thư đã bị bắt ngày 19 hoặc 20-4 .

Kể từ khi xuất bản Tạp chí cảnh sát, 7 trong số 101 người đã bị bắt. Vì vậy trong ban thư ký chỉ còn lại một công nhân trẻ tuổi.

3. Riêng ở Hải Phòng đã có 36 trường hợp bị bắt vào ngày 20-4 và 16 trường hợp bị bắt ngày 23-4. Điều đó nói lên rằng mọi hoạt động ở bốn địa phương đều bị lộ.

Một số đồng chí đã dùng súng lục chống lại cảnh sát. 1 đồng chí đã bị hy sinh và nhiều đồng chí khác bị thương.

4. Ngày 20-4 mấy tàu chạy hơi nước của chúng ta chờ để đón sinh viên lên tàu nhưng không có người nào đến. Có lẽ họ cũng đã bị bắt.

5. Ngày 29-4, một đồng chí phụ trách vấn đề thông tin liên lạc đã bị bắt. Vẫn chưa nhận được tin tức từ các đồng chí khác: Khi nào có tin cụ thể hơn thì tôi sẽ báo cho đồng chí biết. Tất cả các mối liên hệ tạm thời bị gián đoạn. Hình như tạp chí cảnh sát cũng lưu truyền ở đây. Tất cả những thanh niên Việt Nam ở đây đều bị kiểm soát và đã bị mật thám Pháp nhận dạng.

6. Nhiều tổ chức Đảng ở địa phương đã bị giải tán, nhiều tài liệu quan trọng rơi vào tay cảnh sát. Chúng tôi sẽ phải tổ chức lại mọi việc. Chúng tôi sẽ trao nhiệm vụ này cho các sinh viên trở về nước. Nếu mọi việc diễn ra tốt đẹp, thì khoảng 2 tuần nữa 4 sinh viên sẽ có mặt ở đây. Tôi sẽ họp với họ.

7. Ngày 20-4, mọi biện pháp đã được sử dụng để ban bố thiết quân luật trên toàn đất nước chống lại các cuộc biểu tình ngày 1-5. Trường học và nhà máy sẽ phải nằm trong sự kiểm soát quân sự chặt chẽ.

8. Ngày 12-4, 55 nông dân đã bị giết trong cuộc diễu hành. Ngày 14-4, 80 người bị giết và ngày 20-4, 30 người bị giết. Bọn đế quốc đã quyết định ngǎn chặn phong trào bằng tàn sát.

Chúng tôi nên chỉ ra cho các đồng chí của mình kế hoạch đấu tranh cụ thể nào? Nếu chúng ta cứ để họ đi theo con đường đó thì sẽ rất manh động, nguy hiểm. Tôi sẽ đề nghị thêm rằng Quốc tế Cộng sản chỉ thị cho tất cả các tổ chức cách mạng của chúng ta tham gia với khẩu hiệu “Bảo vệ Đông Dương” cùng với những hành động: “Không can thiệp vào Trung Quốc”, “Không can thiệp vào nước Nga Xôviết”. Đặc biệt là Đảng Cộng sản Pháp và các tổ chức cách mạng khác sẽ tǎng cường hơn nữa việc bảo vệ phong trào cách mạng ở Đông Dương.

9. Tôi không thể ký tên vào các bức thư vì tôi không có địa chỉ. Xin đồng chí hãy làm tất cả những gì có thể cho tôi. Tất nhiên, điều đó thật phiền phức. Vì điều kiện hiện thời, tôi luôn luôn phải viết cho đồng chí bằng phương pháp này và không phải lúc nào cũng viết cho P.O.B của đồng chí. Tôi đề nghị đồng chí sử dụng phương pháp viết thư tương tự. Nó có rắc rối nhưng an toàn hơn.

Gửi lời chào cộng sản.

VICTO

—————————-

Bút tích tiếng Anh, bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh
cpv.org.vn

Lễ báo công dâng Bác của Đoàn đại biểu dự Đại hội TNCS Hồ Chí Minh Binh chủng Thông tin

Trong không khí thi đua chào mừng 67 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9, hướng tới Đại hội đại biểu Đoàn TNCS Hồ Chí Minh Binh chủng Thông tin lần thứ 8, sáng ngày 15/8/2012, 120 đại biểu đoàn viên thanh niên ưu tú cùng các đồng chí lãnh đạo, chỉ huy thay mặt cho hơn 3.000 đoàn viên thanh niên Binh chủng Thông tin dự Đại hội Đoàn TNCS Hồ Chí Minh về báo cáo với Bác những thành tích tiêu biểu đã đạt được trong phong trào thanh niên nhiệm kỳ qua. Tại buổi lễ, đồng chí Nguyễn Hữu Hùng, Phó Chủ nhiệm Chính trị Binh chủng đã đọc lời báo công dâng Bác.

Binh chung thong tin bao congLễ báo công dâng Bác của Đoàn đại biểu dự
Đại hội Đoàn TNCS Hồ Chí Minh Binh chủng Thông tin

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước và Quân đội, Binh chủng Thông tin không ngừng trưởng thành lớn mạnh về mọi mặt, đặc biệt là tuổi trẻ Binh chủng đã không ngừng học tập, nỗ lực phấn đấu vươn lên làm chủ các thiết bị, khí tài, công nghệ thông tin hiện đại. Là lực lượng đông đảo trong Binh chủng, những cán bộ, đoàn viên thanh niên luôn vững vàng trong mọi hoàn cảnh, giữ vững bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, có ý thức tổ chức kỷ luật nghiêm minh, tích cực học tập nghiên cứu, không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, luôn phấn đấu khắc phục mọi khó khăn để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

Nhiệm kỳ vừa qua, hoạt động công tác Đoàn và phong trào thanh niên của Binh chủng luôn bám sát nhiệm vụ chính trị gắn với phong trào thi đua quyết thắng của đơn vị, đồng thời đã tổ chức và thực hiện tốt có hiệu quả phong trào “Thanh niên Quân đội thi đua rèn đức, luyện tài, xung kích, sáng tạo, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ”. Đoàn viên, thanh niên trong Binh chủng luôn bảo đảm thông tin liên lạc, không ngại ngày, đêm, nắng, mưa luôn bảo đảm thông tin liên lạc thông suốt, kịp thời, chính xác, bí mật, an toàn, luôn bám trạm, bám đài, tích cực học tập nâng cao trình độ kỹ thuật, chuyên môn nghiệp vụ tiêu biểu như: Tuổi trẻ Lữ đoàn 132, Lữ đoàn 134, Lữ đoàn 205, Lữ đoàn 596, Trung đoàn 139. Các cá nhân như: Đồng chí Phạm Văn Tuyền, Lữ đoàn 205, đồng chí Phùng Vương Quốc, Lữ đoàn 596, đồng chí Thái Doãn Ngọc, Lữ đoàn 134 và nhiều gương tiêu biểu khác. Đoàn viên, thanh niên khối Nhà trường cũng luôn xác định tốt nhiệm vụ, tích cực học tập, rèn luyện cầu mong tiến bộ, có nhiều đồng chí đã tích cực tham gia nghiên cứu các đề tài khoa học nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo và đặc biệt trong các kỳ thi Olympic các môn khoa học xã hội và nhân văn đạt giải cao, tham gia thi Robocon đã đạt được thành tích tiến bộ vượt bậc. Đoàn viên, thanh niên Công ty Thông tin điện tử Z755, Trung tâm Kỹ thuật thông tin công nghệ cao đã tích cực chủ động khắc phục khó khăn, chấp hành nghiêm các quy định, quy trình công nghệ. Hàng năm có nhiều công trình, sáng kiến cải tiến kỹ thuật có giá trị kinh tế cao đưa vào phục vụ cho nhiệm vụ bảo đảm thông tin liên lạc và sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả cao. Nhiều đồng chí phấn đấu trở thành thợ giỏi, cán bộ kỹ thuật, cán bộ quản lý năng động, sáng tạo, góp phần tạo ra nhiều đề tài ứng dụng vào sản xuất kinh doanh tạo ra những sản phẩm có chất lượng, giá trị kinh tế cao.

Bên cạnh việc hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị, hoạt động “Đền ơn đáp nghĩa, uống nước nhớ nguồn” và các cuộc vận động “Vì đồng bào bão lụt”, “Vì người nghèo”, “Quỹ đền ơn đáp nghĩa”, “Nghĩa tình biên giới hải đảo”, “Vì Trường sa thân yêu”… được đoàn viên, thanh niên Binh chủng tích cực tham gia với tình cảm và trách nhiệm cao.Với kết quả đã đạt được, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh Binh chủng đã được Tổng cục Chính trị tặng Bằng khen, Giấy khen; 76 đồng chí được tặng danh hiệu Chiến sỹ thi đua, 1.375 đồng chí được tặng Bằng khen, Giấy khen, 3.985 đồng chí đạt danh hiệu Chiến sỹ tiên tiến.

Đây thực sự là những bông hoa đẹp trong vườn hoa muôn màu sắc của Thanh niên Binh chủng Thông tin xin kính dâng lên Bác và nguyện suốt đời “Sống, chiến đấu, lao động và học tập theo gương Bác Hồ vĩ đại”.

Duy Chính
bqllang.gov.vn

Thư gửi Ban phương Đông (16-1-1935)

Các đồng chí thân mến!

Cǎn cứ vào báo cáo của đồng chí H.N. về tình hình Đảng Cộng sản Đông Dương và theo kinh nghiệm của tôi ở Hoa Nam, Đông Dương, Thái Lan và ở Mã Lai, tôi thấy có bổn phận bức thiết đối với các đảng của chúng tôi là phải đề xuất với các đồng chí đề nghị sau đây:

Trừ một vài đồng chí rất hiếm hoi (đã được huấn luyện ở Trường đại học những người lao động phương Đông, hoặc là trí thức), còn đại đa số đồng chí của chúng tôi, trình độ lý luận và chính trị rất thấp.

Hậu quả của tình trạng thiếu kiến thức về lý luận như vậy là gì? Hậu quả khá nhiều. Các đồng chí đã nghe đồng chí H.N. kể về những hậu quả ấy trong báo cáo. Tôi nói thêm một vài hậu quả nữa:

1. Đa số các đồng chí – ngay cả những đồng chí có trách nhiệm- cũng không hiểu thật rõ “cách mạng dân chủ tư sản” là gì. Các đồng chí ấy nhắc đi nhắc lại những chữ ấy mà không hiểu nghĩa. Vì không thể giải thích được cho công nhân và nông dân, cho nên các đồng chí ấy thường tỏ vẻ lúng túng trong công tác tuyên truyền và cổ động. Để khỏi lung tung, các đồng chí buộc phải “bịa ra”. Do đó, một sự ngu dốt này làm phát sinh một sự ngu dốt khác và một sai lầm này gây nên các sai lầm khác.

2. Các đồng chí ấy cũng không hiểu tại sao phải kết hợp cuộc cách mạng phản đế với cách mạng ruộng đất. Vì vậy mà những khẩu hiệu đưa ra lộn xộn, không phối hợp với nhau.

3. Các đồng chí ấy không hiểu sự khác nhau giữa Đảng với các tổ chức khác, cho đó là sự khác biệt về “cấp bậc”. Ví dụ như xếp Đảng ở số 1, Thanh niên cộng sản ở số 2, Công hội ở số 3, v.v.. Và khi một đồng chí đang hoạt động trong Đảng mà được cử sang hoạt động ở một tổ chức khác, đồng chí đó xem việc chuyển dịch ấy như là một “việc hạ cấp bậc”, gần như là một hình phạt!

4. Hoặc là, các đồng chí ấy bắt đầu tổ chức một nhóm liên minh chống đế quốc, rồi chọn những thanh niên của liên minh để tổ chức một Công hội. Cuối cùng chọn những hội viên Công hội để tổ chức một tổ Đảng.

5. Một cuộc bãi công bùng nổ. Những người lãnh đạo là trí thức viết vào một quyển vở theo trật tự 1, 2, 3, v.v. những bước đi phải tiến hành rồi họ đưa quyển vở ấy cho các đồng chí có trách nhiệm là công nhân. Các đồng chí này đưa quyển vở về nhà máy và thi hành máy móc những điều đã ghi trên giấy mà không biết phán đoán xem những điểm ấy có phù hợp với thực tế hay không!

Hoặc là, các đồng chí ấy dùng mọi biện pháp để phát động bãi công, nhưng khi công nhân đã rời nhà máy xuống đường, các đồng chí ấy không biết phải làm gì nữa.

6. Còn có một nguy cơ lớn khác. Tuy các đảng đã đưa những đồng chí công nhân vào các ban lãnh đạo, nhưng các đồng chí này vẫn bị ảnh hưởng của những phần tử trí thức, bởi vì theo các đồng chí ấy, “những người trí thức đã được đọc tất cả những điều ấy trong các bản luận cương hoặc trong sách”.

Tình hình ấy diễn ra trong thời kỳ 1930-1931, lúc mà các đồng chí của chúng ta đã là những chiến sĩ khá lão luyện và khá từng trải rồi. Nhưng hiện nay, tất cả hoặc hầu như tất cả các đồng chí ấy đã bị giết hay bị cầm tù. Những đồng chí đang hoạt động trẻ hơn, ít kinh nghiệm hơn, do đó có khả nǎng phạm những sai lầm nghiêm trọng hơn.

Vì vậy, tôi thấy tuyệt đối cần thiết là chúng ta phải giúp đỡ các đồng chí của chúng ta khắc phục những khó khǎn ấy bằng cách tạo điều kiện cho các đồng chí tiếp thụ được những kiến thức sơ đẳng nhất mà mỗi chiến sĩ đều phải có.

Và biện pháp duy nhất có hiệu quả để giúp các đồng chí theo phương hướng đó là cho xuất bản những quyển sách nhỏ viết về các vấn đề sau đây:

1. Tuyên ngôn cộng sản,

2. Đảng cộng sản và tổ chức của Đảng,

3. Lịch sử Quốc tế Cộng sản,

4. Lịch sử Đảng,

5. Lịch sử R.K.P.B (Đảng Cộng sản Bônsơvích toàn Liên bang Xôviết),

6. Lịch sử Quốc tế Thanh niên (KIM),

7. Thanh niên cộng sản và tổ chức thanh niên,

8. Công hội,

9. Quốc tế Công hội đỏ,

10. Nông hội,

11. Vấn đề dân tộc,

12. Vấn đề ruộng đất,

13. Quốc tế Cứu tế đỏ (MOPR),

14. Liên minh chống đế quốc,

15. Chủ nghĩa đế quốc Pháp,

16. Cách mạng Tháng Mười,

17. Cách mạng Trung Hoa,

18. Khởi nghĩa vũ trang,

19. Những bài học của các sự biến 1930-1931,

20. Chủ nghĩa Tờrốtxki,

21. Nền kinh tế xôviết,

22. Mác, Ǎngghen, Lênin, Xtalin,

23. Làm thế nào để kết hợp hoạt động bất hợp pháp và hoạt động hợp pháp,

24. Làm thế nào để tổ chức các chi bộ và làm cho các chi bộ hoạt động,

25. Làm thế nào để tổ chức một cuộc bãi công, một cuộc biểu tình, v.v.,

26. Làm thế nào để thực hiện mặt trận thống nhất,

27. Làm thế nào để tổ chức một tờ báo Đảng, tờ báo nhà máy, v.v.,

28. Làm thế nào để tổ chức học sinh, phụ nữ, v.v.,

29. Làm thế nào để vận động binh lính,

30. Luận cương và nghị quyết về vấn đề thuộc địa (của Quốc tế Cộng sản), v.v. và v.v..

Khi xuất bản những tập sách nhỏ ấy, cần phải chú ý đến: 1. Những khó khǎn về việc in lại sách ở các xứ này; 2. khó khǎn về việc giữ sách; 3. khó khǎn của độc giả cất giấu sách; 4. trình độ vǎn hoá thấp của các đồng chí chúng tôi không thể đọc và hiểu được những điều diễn đạt quá dài, quá khó. Vì vậy các tập sách nhỏ ấy phải ngắn, từ ngữ phải rất đơn giản, rất rõ ràng và dễ hiểu đối với quần chúng. Nếu có thể được, nội dung nên trình bày dưới dạng câu hỏi và trả lời.

Các đồng chí của chúng tôi rất dũng cảm và hǎng hái. Các đồng chí ấy công tác rất tận tuỵ. Nhưng vì thiếu kiến thức lý luận, buộc các đồng chí phải mò mẫm từng bước, luôn luôn vấp váp vì thiếu thốn như vậy. Tất nhiên là các đồng chí sẽ được giáo dục rèn luyện trong đấu tranh và trong công tác thực tế hàng ngày. Nhưng có thể tránh được biết bao bế tắc, sai lầm và biết bao thất bại đau đớn, nếu chúng ta có thể cung cấp cho các đồng chí ấy những kiến thức tối cần thiết về lý luận soi đường, tạo điều kiện dễ dàng cho các đồng chí ấy tiến hành công tác.

Đồng chí Xtalin nghìn lần có lý khi nói rằng: “Lý luận tạo cho các đồng chí làm công tác thực tế, sức mạnh định hướng, sự sáng suốt dự kiến tương lai, kiên định trong công tác và lòng tin ở thắng lợi của sự nghiệp của chúng ta”.

Những điều mà tôi nói về các đồng chí chúng tôi ở Đông Dương, ở Thái Lan, v.v. chắc chắn là cũng đúng đối với những đồng chí ở các nước thuộc địa khác, mà ở đây Đảng hoạt động bất hợp pháp và trình độ vǎn hoá của những người lao động còn thấp. Những cuốn sách nhỏ đề nghị trên đây nhất định là cũng rất có ích đối với cả những nước ấy.

Thân ái chào cộng sản
Ngày 16 tháng 1 nǎm 1935
LIN

——————————

Tài liệu tiếng Pháp, bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh
cpv.org.vn