Tag Archive | Văn hóa – Xã hội

Cách mạng Tháng 8: thắng lợi của khối đại đoàn kết toàn dân

Mặt trận Việt Minh, Quốc dân Ðại hội, Chính phủ lâm thời là biểu hiện thành công của sự tập hợp mọi lực lượng có thể hợp tác vì sự nghiệp tối cao của dân tộc. Ðó là sự phát triển mới về sức mạnh chính trị của Việt Nam, thể hiện Ðảng đã hòa với dân tộc, trở thành dân tộc trong Cách mạng Tháng Tám.

Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 đã lật nhào chính quyền tay sai của phát-xít, thực dân, phong kiến, giành chính quyền cách mạng trên cả nước, lập nên Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám 1945 là thắng lợi đầu tiên có ý nghĩa lịch sử của quân và dân ta dưới sự lãnh đạo của Ðảng. Ðó là thắng lợi rực rỡ của chủ nghĩa Mác – Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh ở một nước thuộc địa nửa phong kiến. Cách mạng Tháng Tám mở ra kỷ nguyên mới cho Việt Nam: Kỷ nguyên độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, mở đầu thời đại Hồ Chí Minh, mở đường cho hàng loạt thắng lợi vẻ vang của dân tộc hơn 60 năm qua.

Thời cơ lớn để Tổng khởi nghĩa là lúc phát-xít Nhật thua trận. Thời cơ đó đã được Hội nghị Trung ương lần thứ 8 họp tại Khuổi Nậm (Cao Bằng) năm 1941, dưới sự chủ trì của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc chỉ rõ và đã xác định những công việc lớn cần xúc tiến như phát triển lực lượng chính trị, lập Mặt trận Việt Minh, xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, các căn cứ địa. Không có chuẩn bị, không có lực lượng thì không nắm được thời cơ thuận lợi. Nhiều nước ở châu Á năm 1945 cùng đứng trước thời cơ lịch sử này nhưng không nổi dậy được. Rõ ràng nội lực là yếu tố quyết định thắng lợi. Dưới ánh sáng của Nghị quyết Trung ương 8 (1941), Hội nghị Thường vụ Trung ương mở rộng họp ở Ðình Bảng, dưới sự chủ trì của Tổng Bí thư Trường-Chinh ngay sau khi Nhật đảo chính Pháp, đã ra chỉ thị “Nhật, Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta!”. Chỉ thị ngày 12-3-1945 đã nói rõ: “Dù sao ta không thể đem việc quân Ðồng Minh đổ bộ vào Ðông Dương làm điều kiện tất yếu cho Tổng khởi nghĩa của ta, vì như thế là ỷ lại vào người và tự bó tay trong khi tình thế biến chuyển thuận tiện. Nếu giặc Nhật mất nước, như Pháp năm 1940 và quân viễn chinh Nhật mất tinh thần, thì khi ấy, dù quân Ðồng Minh chưa đổ bộ, cuộc Tổng khởi nghĩa của ta vẫn có thể bùng nổ và thắng lợi”.

Ngày 20-7-1945, tỉnh Quảng Yên; ngày 15-8-1945, tỉnh Quảng Ngãi đã khởi nghĩa thắng lợi.

Ngày 13-8-1945, Ủy ban Khởi nghĩa do Tổng bộ Việt Minh thành lập ra “Quân lệnh số 1”, hạ lệnh cho quốc dân đồng bào cả nước đứng lên Tổng khởi nghĩa. Quốc dân Ðại hội họp ở Tân Trào gồm 60 đại biểu bắc, trung, nam và đại biểu kiều bào ở nước ngoài, đại diện các đảng phái, đoàn thể nhân dân, các dân tộc, tôn giáo, đoàn thể nhân dân, thông qua lệnh Tổng khởi nghĩa và 10 chính sách lớn của Tổng bộ Việt Minh. Ngày 19-8-1945, Hà Nội khởi nghĩa thắng lợi; đến ngày 25-8-1945, Sài Gòn khởi nghĩa thắng lợi. Như vậy là, dưới sự lãnh đạo của Ðảng và lãnh tụ Hồ Chí Minh, nhân dân cả nước ta từ bắc chí nam, hầu như đã đồng loạt vùng lên tiến hành Tổng khởi nghĩa giành thắng lợi vẻ vang, tái sinh ra sức mạnh thống nhất của cả nước, của các dân tộc anh em trên dải đất Việt Nam.

Thành công của Cách mạng Tháng Tám đã xác định nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi là sự lãnh đạo thống nhất của một Ðảng duy nhất. Việt Nam là một nước trên một dải đất dài, có 54 dân tộc anh em, lại bị thực dân Pháp thực hiện chính sách chia để trị, những thủ đoạn lừa bịp về độc lập giả hiệu, khối đại đoàn kết Ðông Á của phát-xít Nhật mê hoặc, đi đôi với sự đàn áp tàn bạo những người yêu nước, cho nên phải có một Ðảng thống nhất lãnh đạo, vừa kiên cường vượt qua mọi thử thách, vừa thể hiện tập trung ý chí và tầm cao trí tuệ của dân tộc, mới giành được thắng lợi nhanh gọn khi có thời cơ thuận lợi. Ðảng có cơ sở tổ chức trên toàn quốc làm nòng cốt lãnh đạo các địa phương vùng lên kịp thời, chớp được thời cơ “ngàn năm có một” đã giành được chính quyền cách mạng trên cả nước.

Tổng khởi nghĩa Tháng Tám-1945 là sự vùng lên của hàng chục triệu nhân dân cả nước, cả ở rừng núi, nông thôn và thành thị, đập tan chính quyền phản động, mà đòn quyết định cuối cùng là ở các thành thị lớn. Lực lượng cách mạng của quần chúng đã áp đảo lực lượng phản động, làm nổi bật sức mạnh “xoay trời chuyển đất” chưa từng có của khối đại đoàn kết toàn dân tộc từ bắc đến nam. Lực lượng vũ trang cách mạng tuy còn nhỏ nhưng đã là những đội quân xung kích, đã từng đánh Pháp, đánh Nhật với những trận nổi tiếng như Phai Khắt – Nà Ngần, Tam Ðảo, Sơn Dương, Thái Nguyên, Quảng Ngãi, Quảng Yên… Các đội vũ trang cách mạng đã hỗ trợ, bảo vệ quần chúng biểu tình, tuần hành thị uy, tiến công các đồn bốt, các trại bảo an, trấn áp bọn Việt gian, bọn phản động, chiếm các công sở, phá các nhà tù, kho súng. Không có lực lượng vũ trang cách mạng, chính quyền tay sai Nhật không tan rã nhanh chóng, không hạn chế được sự chống đối của kẻ thù cầm súng. Không có lực lượng vũ trang cách mạng không thể làm tăng thêm sức mạnh tiến công của lực lượng chính trị của quần chúng, đưa cuộc Tổng khởi nghĩa giành thắng lợi nhanh gọn. Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 là cuộc khởi nghĩa vũ trang, song lực lượng chính trị của quần chúng có sức mạnh quyết định.

Cách mạng Tháng Tám đã thể hiện nổi bật sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc mới xuất hiện, sau một thời gian dài hàng trăm năm bị phân tán, chia rẽ, xói mòn. Sự ra đời của Mặt trận Việt Minh đã mở ra bước ngoặt trong việc tập hợp lực lượng toàn dân tộc ở nước ta. Ngày 20-11-1941, Mặt trận Việt Minh đã nêu rõ mục tiêu là làm cho nước Việt Nam hoàn toàn độc lập, làm cho dân Việt Nam được sung sướng, tự do. Mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với tiến bộ xã hội. Ðánh đuổi được Nhật, Pháp, nước ta xây dựng chính thể dân chủ cộng hòa, thực hiện phổ thông đầu phiếu, ban bố các quyền tự do dân chủ, nam nữ bình đẳng, các dân tộc thiểu số có quyền tự quyết, thực hiện giảm tô, chia lại công điền, thực hiện ngày làm 8 giờ, phát triển công nghiệp, thủ công nghiệp, khuyến khích trí thức phát triển y tế, giáo dục, văn hóa văn nghệ, thể dục – thể thao… Mặt trận Việt Minh tập họp mọi lực lượng yêu nước, các đoàn thể cứu quốc, trên nền tảng liên minh công nông và lao động trí óc, đoàn kết với mọi tầng lớp, không phân biệt ngành nghề, sắc tộc, tôn giáo, mọi nhân sĩ, không thành kiến với quá khứ, cùng hợp tác vì mục tiêu cao nhất là độc lập, thống nhất cho đất nước. Quốc dân Ðại hội họp ở Tân Trào là một hình ảnh tiêu biểu cho khối đại đoàn kết dân tộc. Trong cuộc khởi nghĩa ở Hà Nội, tại Bắc Bộ Phủ, ta bắt được Ngô Ðình Diệm, muốn ông ta cùng phấn đấu cho nước nhà độc lập, nhưng Diệm từ chối và ta đã trả tự do cho ông ta. Chính phủ lâm thời nước ta lập nên sau Cách mạng Tháng Tám thắng lợi, gồm những nhà cách mạng từng trải và các nhân sĩ, trí thức, cả những người từng tham gia chính phủ Trần Trọng Kim theo Nhật. Thực hiện được đại đoàn kết dân tộc là do Ðảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh có chính sách đúng, vừa coi trọng củng cố nền tảng vững chắc là công nông liên minh, vừa ra sức mở rộng Mặt trận, xác định đúng quyền lợi và nghĩa vụ với mọi tầng lớp, phát huy mọi khả năng phục vụ Tổ quốc, không thành kiến, hẹp hòi, lắng nghe các ý kiến khác nhau – coi đó là lẽ thường tình, chỉ trừ những kẻ chống đối, có ý kiến và hành động chống lại nền độc lập, thống nhất của Tổ quốc.Mặt trận Việt Minh, Quốc dân Ðại hội, Chính phủ lâm thời là biểu hiện thành công của sự tập hợp mọi lực lượng có thể hợp tác vì sự nghiệp tối cao của dân tộc, của Ðảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ðó là sự phát triển mới về sức mạnh chính trị của dân tộc Việt Nam, thể hiện Ðảng đã hòa với dân tộc, trở thành dân tộc trong Cách mạng Tháng Tám.

Ðoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết; Thành công, thành công, đại thành công! Khẩu hiệu đó đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra và thực hiện một cách tuyệt vời trong lãnh đạo cách mạng.

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám đã mở đường cho những thắng lợi vẻ vang của nước ta trong sự nghiệp kháng chiến chống xâm lược và bảo vệ Tổ quốc, trong sự nghiệp đổi mới ngày nay.

Thành công của Cách mạng Tháng Tám đã xác định nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi là sự lãnh đạo của Ðảng, đồng thời xây dựng các nhân tố thường xuyên quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Ðó là:

– Sự lãnh đạo của một Ðảng duy nhất – lấy chủ nghĩa Mác – Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động.

– Một Nhà nước của dân, do dân, vì dân.

– Một Mặt trận đại đoàn kết dân tộc.

– Một quân đội cách mạng kiên cường chiến đấu vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

Mối quan hệ quốc tế gắn liền Việt Nam với thời đại, tiến kịp với thời đại. Tranh thủ được sự đồng tình, ủng hộ của nhân dân tiến bộ trên thế giới, đồng thời ủng hộ sự nghiệp đấu tranh cho hòa bình, độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội của các nước.

Ngày 21/08/2009
Ban biên tập Website
(Theo báo Nhân dân)

impe-qn.org.vn

Bắc Giang những ngày khởi nghĩa Cách mạng tháng Tám-1945 (kỳ I)

(BGĐT)- Những năm 1943, 1944 cơ sở Đảng và quần chúng cách mạng ở Bắc Giang được phát triển rộng. Các đoàn thể cứu quốc được tổ chức chặt chẽ hơn. Thời gian này, bộ máy thống trị của địch bắt đầu bị lung lay. Nhiều địa phương, chính quyền địch đã bị tê liệt.

Bến đò năm xưa qua sông Cầu thuộc địa phận huyện Hiệp Hòa (Bắc Giang) đã từng đưa đón cán bộ cách mạng của ta trước Cách mạng tháng Tám- 1945. Ảnh tư liệu.

Các cơ sở Đảng và các tổ chức quần chúng cách mạng ở vùng Hiệp Hoà, Yên Thế đã hoạt động nửa công khai, nửa bí mật. Bọn hào lý hầu như không đàn áp như trước. Có nơi bọn chúng gặp Việt Minh để xin giao lại quyền giải quyết mọi công việc của địa phương. Trong khi đó, một số địa phương các đảng phái phản động, thổ phỉ nổi lên tranh giành quyền lực với Việt Minh như ở Phủ Lạng Thương, Việt Yên, Yên Dũng, Lục Ngạn, làm ảnh hưởng đến việc mở rộng phong trào cách mạng của ta.

Những năm 1945, chiến tranh thế giới thứ 2 sắp kết thúc, Liên Xô và phe đồng minh tiến công vào xào huyệt của phát xít Đức. Ở nước ta mâu thuẫn giữa Nhật và Pháp tiến lên gay gắt, ngày 9-3-1945, Nhật đảo chính lật đổ Pháp chiếm Đông Dương.

Ở tỉnh Bắc Giang, bộ máy thống trị của thực dân Pháp đã nhanh chóng hạ vũ khí đầu hàng phát xít Nhật. Chỉ thị “Nhật- Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” ngày 12-3-1945 của Ban thường vụ Trung ương Đảng đã trở thành kim chỉ nam cho mọi hoạt động của Đảng bộ và nhân dân Bắc Giang trong suốt cao trào chuẩn bị Tổng khởi nghĩa. Thấy điều kiện vận dụng được chỉ thị của Ban thường vụ Trung ương vào hoàn cảnh cụ thể ở Hiệp Hoà, đồng chí Lê Thanh Nghị, Nguyễn Trọng Tỉnh đã quyết định phát động quần chúng khởi nghĩa giành chính quyền cấp xã, phá các kho thóc của Nhật- Pháp để giải quyết nạn đói cho nhân dân, động viên tinh thần cách mạng của đông đảo quần chúng ở Bắc Giang.

Một địa điểm hoạt động của cán bộ ta trước Cách mạng tháng Tám 1945 ở huyện Hiệp Hoà (Bắc Giang). Ảnh tư liệu.

Tối 12-3-1945, tại xã Xuân Biều (huyện Hiệp Hòa) một cuộc mít tinh lớn được tổ chức tại đình có 30 tự vệ và hơn 300 quần chúng tham gia. Tại cuộc mít tinh, ta công bố thủ tiêu chính quyền bù nhìn, lập uỷ ban dân tộc giải phóng. Đây là cuộc khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi cấp xã đầu tiên của tỉnh Bắc Giang, thực hiện chỉ thị của Ban thường vụ Trung ương Đảng về khởi nghĩa từng phần, tạo điều kiện tiến tới tổng khởi nghĩa. Ngay đêm 12-3-1945, kế hoạch phá kho thóc, đồn điền Vát của TáctaRanh được đặt ra. Tiếp theo cuộc phá kho thóc đồn điền Vát, hàng chục các kho thóc của Nhật- Pháp phá ở Chàng (Việt Yên), Gió (Hiệp Hoà), Bến Bò (Lục Ngạn), Nhã Nam (Yên Thế)…Chính quyền cách mạng được thành lập ở Vân Xuyên, Lạc Yên, Trung Định (Hiệp Hoà). Chính quyền cách mạng đã lãnh đạo nhân dân diệt trừ trộm cướp và nhiều tên phản cách mạng, an ninh trật tự xóm làng được ổn định.

Khí thế cách mạng của quần chúng ở Hiệp Hoà hừng hực, binh lính ở đồn Trị Cụ rút lui hoàn toàn. Ngày 16,17-3-1945, ban cán sự tỉnh Bắc Giang đã họp hội nghị tại Đồng Điều (Yên Thế) rút kinh nghiệm diễn biến vừa qua ở Hiệp Hoà và phổ biến chỉ thị ngày 12-3-1945 của thường vụ Trung ương Đảng, hội nghị đã quyết định phát động cao trào kháng Nhật cứu nước trong toàn tỉnh và đề ra một số công tác lớn: Phá kho thóc Nhật, Pháp để cứu đói, chống thu thuế, phá việc trồng đay của Nhật; diệt trừ lưu manh trộm cắp, phản động, bảo vệ an ninh trật tự; mở rộng cơ sở cách mạng; tích cực xây dựng lực lượng vũ trang, phát triển các đội tự vệ địa phương; đẩy mạnh việc huấn luyện chính trị, đào tạo cán bộ; đẩy mạnh tuyên truyền cách mạng. Ngay sau đó, đội du kích thoát ly được thành lập gồm các tự vệ chiến đấu trung kiên và một số thanh niên lao tù cứu quốc. Đó là đơn vị vũ trang đầu tiên của tỉnh gồm 13 người với 12 khẩu sung do đồng chí Lương Văn Đài uỷ viên ban cán sự Tỉnh trực tiếp phụ trách.

Để đẩy mạnh phong trào cách mạng lên cao hơn nữa, từ sáng 9-3-1945, Trung ương và xứ uỷ Bắc Kỳ tăng cường cho Bắc Giang các đồng chí Hồ Công Dự, Phạm Yên, Hồ Công Lạng, Nguyễn Thanh Bình, Nguyễn Đức Quỳ… Từ cuối tháng 3-1945, cơ sở cách mạng tỉnh đã được mở rộng ở huyện Hiệp Hoà phát triển xuống Lương Phong, Đoan Bái, Đông Lỗ… Ở huyện Việt Yên cơ sở được xây dựng tại tổng Tự Lạn, Hoàng Mai, Dĩnh Sơn, Mật Ninh, Thiết Sơn, Tiên Lát…Tự vệ Hùng Lãm, My Điền chặn các đoàn xe trở thóc của Nhật để lấy thóc chia cho dân. Tại Bích Động, Việt Minh cũng tổ chức phát thóc gạo cứ đói cho dân. Ở đây, cao trào cách mạng của quần chúng đã làm tê liệt bộ máy chính quyền của địch.

(Còn nữa)

Nam- Thanh
baobacgiang.com.vn

Đại đoàn kết – Bài học tuyệt vời từ Cách mạng Tháng Tám

– Đến thời điểm này, những bài học quý báu mà Cách mạng tháng Tám 1945 để lại vẫn còn nguyên giá trị thời sự. Trong đó, bài học tuyệt vời nhất chính là việc xây dựng, củng cố và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Tính đến thời điểm này, sau 66 năm trôi qua, thắng lợi và ý nghĩa lịch sử của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 vẫn là một sự kiện diệu kỳ trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước vĩ đại của dân tộc. Khát vọng độc lập, tự do, cùng với một đường lối chính trị đúng đắn và sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân dưới sự lãnh đạo của Đảng và Hồ Chí Minh đã tạo ra xung lực hồi sinh mạnh mẽ, góp phần làm nên thành công của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, kiến lập ra một Nhà nước Việt Nam mới.

Sự thắng lợi của Cách mạng tháng Tám là tiền đề tốt cho ngày 2/9/1945 tại Quảng trường Ba Đình – Hà Nội, Chủ tịch Chính phủ lâm thời Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và khẳng định một chân lý: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do độc lập ấy”.

Ảnh minh họaCách mạng Tháng Tám năm 1945 một dấu son chói lọi trong lịch sử Việt Nam- Ảnh: Tư liệu

Theo GS Lê Mậu Hãn, việc tuyên bố chủ quyền trong “Tuyên ngôn độc lập” ngày 2/9/1945 đã thể hiện rõ ràng một chân lý: Khi một dân tộc kiên quyết đứng lên chiến đấu cho độc lập tự do thì không một kẻ thù nào có thể chiến thắng. “Việc chọn ngày 19/8 để mở đầu cho thắng lợi vĩ đại của Cách mạng tháng Tám 1945 cũng là một dịp để khẳng định với thế giới về tư tưởng mỗi dân tộc có quyền chọn con đường để giành độc lập tự do riêng và các dân tộc có quyền tự quyết của mình. Riêng dân tộc Việt Nam trong tình thế này chủ trương là thay đổi chiến lược cách mạng, đó là giải phóng dân tộc, đánh Pháp, đuổi Nhật giành độc lập tự do”, GS Lê Mậu Hãn nói.

Cũng theo GS Lê Mậu Hãn, một điểm đặc biệt khác của Cách mạng tháng Tám 1945 mà chúng ta ít nhắc đến đó là một cuộc cách mạng không đổ máu. Thể hiện ở việc ngày 30/8/1945, Hoàng đế Bảo Đại – vua cuối cùng nhà Nguyễn đã tuyên bố thoái vị, trao lại ấn kiếm cho cách mạng, kết thúc sự trị vì của triều đại phong kiến này. Việc thoái vị của Hoàng đế Bảo Đại đã khiến cuộc khởi nghĩa giành độc lập dân tộc của Việt Nam càng rõ ràng và khác hẳn các cuộc cách mạng khác trên thế giới.

Đến thời điểm này, những bài học mà Cách mạng tháng Tám 1945 để lại vẫn còn nguyên giá trị thời sự như bài học về nắm bắt thời cơ, bài học về xây dựng, củng cố và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, bài học về phát huy sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại.

Trong đó, theo GS Lê Mậu Hãn, bài học tuyệt vời nhất là việc xây dựng, củng cố và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc. “Thắng lợi lớn lao của cách mạng Việt Nam là không tạo ra giai cấp, khi mọi người đều bình đẳng thì tất cả sẽ dấn thân để giành thắng lợi cuối cùng”, GS Hãn nói.

Theo chỉ thị của Hồ Chí Minh, ngày 16/8, Quốc dân Đại hội chính thức khai mạc, tượng trưng cho ý chí, nguyện vọng và khối đại đoàn kết toàn dân tộc đã nhất trí thông qua đề nghị Tổng khởi nghĩa của Mặt trận Việt Minh, và thành lập Ủy ban giải phóng dân tộc. Sáng ngày 17/8, các thành viên trong Uỷ ban giải phóng dân tộc vừa được Đại hội bầu đã ra mắt quốc dân và làm lễ tuyên thệ trước sân đình Tân Trào. Thay mặt Uỷ ban, hướng lên Quốc kỳ, Chủ tịch Hồ Chí Minh trân trọng đọc lời tuyên thệ.

Trong khi đó, ở Hà Nội, Sài Gòn và nhiều tỉnh khác, cán bộ Đảng và Việt Minh chưa thể nhận được mệnh lệnh khởi nghĩa, nhưng căn cứ vào các chỉ thị trước đó của Đảng, trên cơ sở phân tích cụ thể tình hình địa phương, tuyệt đại đa số cán bộ Đảng và Việt Minh cơ sở đã mau chóng tự quyết định khởi nghĩa giành chính quyền, không bỏ lỡ thời cơ.

Trong ngày 17/8, cả Hà Nội tưng bừng khí thế sục sôi khởi nghĩa. Sáng ngày 19/8, theo lời hiệu triệu của Việt Minh, với rừng cờ đỏ sao vàng, nhân dân Hà Nội xuống đường, tiến thẳng về trung tâm Nhà hát thành phố để dự mittinh. Sau loạt súng chào cờ và bài Tiến quân ca, đại biểu Ủy ban quân sự cách mạng đọc lời hiệu triệu của Việt Minh, biến cuộc mittinh trở thành cuộc biểu tình vũ trang tiến vào chiếm Phủ khâm sứ, trại lính bảo an và các cơ sở của chính phủ bù nhìn,v.v.. Ngày 19/8 trở thành mốc son lịch sử thắng lợi của cuộc Tổng khởi nghĩa Cách mạng Tháng Tám ở Thủ đô Hà Nội.

Ảnh minh họaThắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 cũng là thắng lợi của việc xây dựng, củng cố và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Ảnh: Tư liệu

Từ bài học Cách mạng tháng Tám 1945 để lại, trong mọi hoàn cảnh, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH, nắm vững thời và thế, phát huy sức mạnh tổng lực của dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại đã được Đảng vận dụng linh hoạt để đưa đất nước tiến lên, đổi mới và hội nhập. Đó chính là nắm bắt xu thế phát triển của thời đại, kịp thời quyết định đổi mới, đổi mới tư duy, đổi mới mạnh mẽ về kinh tế trên cơ sở đổi mới từng bước về chính trị; vừa tranh thủ và phát huy sức mạnh nội lực, vừa tranh thủ, tận dụng những cơ hội của thế giới, của thời đại mang lại, để không chỉ đưa đất nước chuyển mình theo hướng tích cực, dần vượt thoát khỏi khủng hoảng kinh tế – xã hội, kinh tế phát triển nhanh, đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt,v.v..mà còn góp phần nâng cao vị thế của đất nước trong khu vực và trên trường quốc tế

Nguồn : vnmedia.vn
tinmoi.vn

Thư từ Ấn Độ (17-3-1928)

Trước khi Uỷ ban Ximông (1) tới, Chính phủ ấn Độ đã cho ban hành điều 144 của Hình luật, cấm những cuộc biểu tình hay rước xách, phân phát truyền đơn, dán áp phích nhằm tổ chức lễ Háctan (tổng bãi công và quốc tang) và tẩy chay Uỷ ban.

Về phần mình, các ông hiệu trưởng đã báo rằng, mọi sinh viên vắng mặt tại trường trong thời gian lễ Háctan đều bị nghiêm trị.

Tất cả các lực lượng quân sự và cảnh sát đều được huy động; có những kẻ chuyên khiêu khích đã được cử đi khắp nơi để ca ngợi Uỷ ban và phỉ báng Háctan.

Để đáp lại những hành động khiêu khích đó, “Đại hội toàn ấn” 2 kêu gọi các sinh viên và công chức hãy bỏ trường và bàn giấy, các thợ thuyền hãy đình công, các khách sạn, quán cơm, nhà hát, rạp chiếu bóng hãy đóng cửa, tất cả các công dân hãy đến dự lễ Háctan với lá cờ đen và treo quốc kỳ ở khắp mọi nhà.

Không những các tổ chức tiến bộ mà cả những tổ chức của tư sản như các hội bảo hiểm, các phường thương nhân, các phòng thương mại, v.v. đều đáp lại lời kêu gọi này.

Phụ nữ Mađrat hội họp ở Gokhale và ra một lời kêu gọi, kết thúc bằng câu: “… Ta phải tỏ cho thế giới biết rằng cả nước một lòng, chỉ có một nền độc lập hoàn toàn mới thoả mãn được dân tộc”.

Ngày 3 tháng 2, khi các thành viên của Uỷ ban lên bờ, họ được đông đảo dân chúng mang cờ đen đón tiếp và những bǎng vải đỏ với các dòng chữ “Hoan nghênh khách đến”, “Ximông cút đi”, “Đả đảo đế quốc Anh!”, v.v..

Trong thành phố, giao thông bị đình trệ hoàn toàn, thợ thuyền bỏ nhà máy biểu tình trên các đường phố. Họ tập trung tại đại lộ Phôrát thành một cuộc mít tinh khổng lồ, đốt hình nộm của Bandin, Ximông và Mắcđônan 1 .

Dù các ông hiệu trưởng có đe dọa đi nữa thì l0.000 sinh viên cũng vẫn tham gia biểu tình. Cảnh sát bắt tay vào hoạt động. Hơn 80 người bị thương, trong đó nhiều người bị thương nặng, và độ một trǎm người biểu tình bị bắt.

ở Bombay, Mađrat, Amêđabat, v.v., tất cả các công sở đều đóng cửa, mọi việc đều bị dừng lại. Tại những trung tâm lớn có những cuộc mít tinh đông đến 50.000 người. Nhiều tốp lính và cảnh sát vũ trang canh gác những địa điểm chiến lược trong các thành phố, ô tô bọc thép tuần tiễu trên đường phố. ở Mađrat, cảnh sát nổ súng vào những người biểu tình, hai người chết và bị thương độ 20 người.

Các quan toà tại Toà án Mađrat buộc phải đình các phiên xử. Ông cố vấn của Chính phủ đang đi chơi bằng ô tô bị giữ lại, xe của ông ta bị lật và đốt cháy.

Chưa bao giờ – ngay cả trong thời kỳ mà phong trào bất hợp tác theo chủ trương của Gǎngđi lên tới tột đỉnh – tinh thần của đất nước sôi động đến mức đó. Nữ tiến sĩ Bidan, một cụ bà bảy mươi tuổi người Anh, trở thành một người dân tộc chủ nghĩa ấn Độ đầy

nhiệt tình, rất tích cực trong phong trào dân tộc và được nhân dân ấn Độ rất yêu mến, đã đưa ra lời kêu gọi vang dội: “Hỡi những người con của ấn Độ! Hãy đứng lên và đoàn kết lại! Tổ quốc cần đến tất cả các người!”.

Phong trào sôi động đó đã buộc Ximông và những đồng sự của y trong Công Đảng phải lùi bước. Ngay khi tới, Chủ tịch Uỷ ban đã công bố là đồng ý cho phép có một “Joint Free Conference” (Hội nghị tự do của đông đảo quần chúng). Nhưng các lãnh tụ ấn Độ cương quyết đáp lại: “Chúng tôi chẳng liên quan gì với Uỷ ban Ximông, dù ở thời kỳ nào và dưới hình thức nào”. Mặt khác, ông Kale, thành viên của Hội đồng Lập pháp Bombay, đã đưa một kiến nghị nhắn ông Thống đốc báo với Chính phủ Anh rằng: “Hội đồng chẳng có một chút tín nhiệm nào đối với Uỷ ban Ximông… và cũng chẳng muốn liên quan gì với Uỷ ban…”.

Trong một cuộc mít tinh lớn, ông tổng thư ký Uỷ ban tỉnh Bombay của Đại hội toàn ấn đề nghị một chương trình hoạt động:

a) Tẩy chay hàng hoá;

b) Tổ chức thanh niên trong nước;

c) Từ chối trả thêm thuế đất;

d) Tổ chức quân đội của nhân dân và các binh đoàn tình nguyện;

e) Nếu có chiến tranh, không cho nước Anh một người, một xu!

WANG

———————————

Tập san Inprekorr, tiếng Pháp, số 28, ngày 17-3-1928
cpv.org.vn

Thư gửi một đồng chí trong Quốc tế cộng sản (12-4-1928)

Đồng chí thân mến,

Tôi gửi cho đồng chí một bản sao bức thư tôi gửi cho Ban phương Đông để đồng chí được biết. Đồng thời tôi rất cảm ơn về việc đồng chí quan tâm đến vấn đề của tôi và nhanh chóng trả lời tôi. Đồng chí có thể hình dung nổi tôi đang sống trong một tình trạng tinh thần và vật chất như thế nào không: biết là có nhiều công việc nhưng không thể làm gì được, ǎn không ngồi rồi, không có tiền, sống ngày nào hay ngày ấy mà không được phép hoạt động, v.v..

Ngay cả khi những sự vận động của đồng chí không có kết quả, đồng chí cũng viết cho tôi một chữ gửi Uỷ ban Trung ương KPD (1) để tôi liệu quyết định. Hôm nay là ngày 12-4, tôi hy vọng nhận được tin tức của đồng chí vào ngày 24 tới. Tôi tin cậy ở đồng chí và gửi đến đồng chí lời chào cộng sản anh em.

NGUYỄN ÁI QUỐC
12-4-1928

———————

Thư đánh máy bằng tiếng Anh, lưu tại Viện Hồ Chí Minh
cpv.org.vn

Thư gửi ban Phương đông Quốc tế cộng sản (12-4-1928)

Các đồng chí thân mến,

Đây là tóm tắt tình hình của tôi:

Tháng 5-1927… rời Quảng Châu

Tháng 6… tới Mátxcơva

Tháng 7 – tháng 8 ở bệnh viện

Tháng 11 được phái đi Pháp

Tháng 12 rời Pháp (không

thể công tác được do cảnh

sát) đến hội nghị Bruyxen.

Tháng 1 – tháng 4-1928 Chờ chỉ thị của các đồng chí

ở Béclin và sống bằng sự

giúp đỡ của MOPRE 1 .

*

Vì không thể công tác ở Pháp, ở Đức thì vô ích, nhưng cần thiết ở Đông Dương, nên tôi đã xin lại lên đường về xứ sở này. Trong những thư gửi cho các đồng chí, tôi đã lập một ngân sách công tác và một ngân sách đi đường.

Khi đồng chí Đôriô qua Béclin, đồng chí đã hứa sẽ quan tâm đến vấn đề của tôi. Tôi đã nói với đồng chí ấy là nếu không được kinh phí công tác, miễn là đồng chí cho tôi tiền đi đường, thì dù thế nào tôi cũng sẽ đi, bởi vì đã một nǎm tôi lang thang từ nước này sang nước khác trong khi có nhiều việc phải làm ở Đông Dương.

Nhưng cho tới nay tôi chưa nhận được chỉ thị của các đồng chí, cả câu trả lời của đồng chí Đôriô.

Hiện nay, tôi ở trong hoàn cảnh khó khǎn không chịu nổi:

l) Chờ đợi vô thời hạn (tôi chờ chỉ thị đã 4 tháng).

2) Không có gì để sống vì rằng MOPRE không thể giúp tôi một cách vô hạn, ngay cả cho 18 đồng mác mỗi tuần (số tiền đối với tôi không đủ sống nhưng quá nặng cho tổ chức).

Vậy tôi xin các đồng chí cho tôi càng sớm càng tốt những chỉ thị chính xác về điều mà tôi phải làm và bao giờ thì tôi có thể lên đường.

Xin gửi lời chào cộng sản.

NGUYỄN ÁI QUỐC
Béclin ngày 12-4-1928.

——————————–

Tài liệu tiếng Pháp, lưu tại Viện Hồ Chí Minh.
cpv.org.vn

Phong trào công nhân ở ấn Độ (14-4-1928)

Theo những bản thống kê nǎm 1921, tại ấn Độ, có 105.510.858 công nhân nam, nữ làm trong nông nghiệp, 346.349 người trong các mỏ, 16.728.373 trong công nghiệp, 5.819.375 trong thương mại. Theo Factory inspection report nǎm 1923, trong thời kỳ này, có 1.418.000 công nhân nữ, nam làm việc trong các nhà máy thực sự là nhà máy so với 1.270.000 người nǎm 1921.

Phần đông những người vô sản nông nghiệp làm việc trong các đồn điền trồng cây công nghiệp (đồn điền cà phê, cao su và cây chàm: 382.300 công nhân; đồn điền chè: 695.100; đồn điền trồng bông: 2.875.122; những đồn điền khác trồng cây có sợi: 15.672.372).

Lương rất thấp. Một công nhân có trình độ tay nghề trong ngành dệt lĩnh 29 rupi (bằng 250 phrǎng) mỗi tháng. Một nữ công nhân cũng làm việc như thế chỉ lĩnh một nửa số tiền này. Ngày làm việc rất dài. Những người thợ mỏ làm hơn 12 giờ mỗi ngày.

Những điều kiện vệ sinh trong nhà máy cũng như trong nhà ở của công nhân thật tồi tệ. Người ta thường thấy sáu gia đình với tổng số 30 người sống chen chúc trong một nhà dành cho công nhân dài 5 mét và rộng 4 mét.

Trong 130 triệu lao động có độ 3.500.000 người được tổ chức. Phần lớn các nghiệp đoàn 1 đều chịu ảnh hưởng chủ nghĩa cải lương của Công Đảng Anh. Đây là một số chứng cớ mới về ảnh hưởng tai hại đó: ở phiên họp hằng nǎm của Đại hội Nghiệp đoàn toàn ấn Độ, họp tại Capua, tháng 12-1927, vấn đề Đại hội này gia nhập Liên đoàn phản đế được ghi vào chương trình nghị sự. Thế mà một số lãnh tụ Công Đảng Anh, tham dự Đại hội này đã thành công trong việc để vấn đề đó “đến một ngày sau”. Ông Iôsai, Chủ tịch Nghiệp đoàn Bombay từ chối giúp đỡ cuộc bãi công mới đây của thợ dệt, viện cớ là những công nhân này không thuộc vào nghiệp đoàn của ông ta và họ đã phát động cuộc bãi công mà không hỏi trước ý kiến của ông.

Mặc dù có tình trạng vô tổ chức của thợ thuyền và thái độ hèn nhát của những người theo chủ nghĩa cải lương, sự nghèo khổ làm cho vô sản ấn Độ cấp tiến hơn. Nǎm 1926 có 130 cuộc bãi công với 131.655 người tham gia. Nǎm 1927, có 128 cuộc bãi công với 186.811 người tham gia. Thế là nǎm 1927 có kém nǎm 1926 hai cuộc tham gia, nhưng số người bãi công cao hơn nhiều (hơn 55.156 người) và số ngày bỏ việc nǎm 1927 tǎng gấp đôi nǎm 1926.

Nǎm 1928 bắt đầu bằng dấu hiệu phục hồi mạnh mẽ của phong trào công nhân. Không kể những cuộc bãi công chính trị chống Uỷ ban Ximông, số cuộc đấu tranh mang tính chất thuần tuý kinh tế diễn ra trong sáu tuần lễ đầu của nǎm đó như sau: ngày l0 tháng 1, bãi công của 22.000 thợ dệt ở Bombay. Ngày 22 tháng 1, bãi công của 400 thợ thuyền đường xe hoả tại Nắcpua; 21 tháng 1, thợ luyện kim ở Chalima bãi công đòi tǎng lương; 31 tháng l, 700 công nhân xe lửa Cancutta cũng bãi công đòi tǎng lương. Ngày 2 tháng 2, bãi công của lái xe tắc xi tại Rangun chống một thứ thuế mới do thống đốc Anh đặt ra; 11 tháng 2, bãi công của 2.500 công nhân khuân vác ở Rangun; 16 tháng 2, bãi công của 8.000 thợ nhà máy, Kôhinpua ở Bombay; 17 tháng 2, bãi công của 1.700 công nhân nhà máy Đarivan.

Dưới đây là mấy đặc điểm rất thú vị về bãi công của thợ thuyền ngành dệt ở Bombay: Phòng thuế chủ trương rằng cải thiện đời sống của công nhân là điều kiện nhất thiết phải có để tǎng cường sản xuất. Chủ trương đó không phải vì một mục đích nhân đạo mà vì Phòng thuế muốn bằng cách này làm tê liệt sức cạnh tranh của những nhà kỹ nghệ Bombay, đem lợi lại cho các nhà kỹ nghệ Mansettơ. Về phía họ, các nghiệp chủ muốn làm cho công

nhân tưởng rằng vì lòng ái quốc mà họ muốn tǎng sức sản xuất trong nước để có thể đánh bại được hàng hoá của Anh và, do đó, các công nhân cũng phải tỏ ra rằng mình yêu nước và đáng lẽ hưởng 58 rupi mỗi tháng như họ yêu sách thì chỉ nhận 42 rupi.

Cũng như các đảng viên Công đảng Anh, những đảng viên Công đảng ấn Độ phản bội những người bãi công và rao giảng về “hoà bình công nghiệp”. Nhưng công nhân bất cần cái “lòng ái quốc” vụ lợi của chủ cũng như họ bất cần cái “nền hoà bình” do những người cải lương nêu lên. Họ từ chối không ép mình dưới sự lý trí hoá, vì nó sẽ ném 15.000 người trong giới họ ra vỉa hè. Chỉ có Đảng công nông cương quyết ủng hộ những người bãi công và trong công cuộc tuyên truyền tổng bãi công, Đảng đó càng ngày càng được lòng công nhân, những người trông thấy ở Đảng phương tiện duy nhất thắng giới chủ.

WANG

—————————–

Tập san Inprekorr, tiếng Pháp, số 37, ngày 14-4-1928
cpv.org.vn

Nông dân Ấn Độ (18-4-1928)

Trên 230 triệu người ấn Độ, tức là 75% dân số, thuộc giai cấp nông dân, sống trong 685.000 làng ở ấn Độ. 70% đất đai canh tác thuộc quyền sở hữu của các đại, trung địa chủ, số này chỉ bằng một phần ba số nông dân, trong khi đó 90 triệu nông dân tuyệt đối không có một chút ruộng đất gì.

Những địa chủ lớn nhất là Maharátgia phong kiến. Sau đó là các Talúcđa (công chức cao cấp cha truyền con nối), các Sácđa (chỉ huy quân sự) và các Giaminđa (điền chủ lớn). Để có thể bóc lột và áp bức hơn nữa quần chúng nông dân, họ câu kết với chủ nghĩa đế quốc Anh và được nhường cho những quyền lợi kinh tế rộng rãi nhất.

Vô cùng giàu có và cực kỳ phản động, những địa chủ đó hợp thành một khối dưới quyền lãnh đạo của các Maharátgia. Chủ nghĩa đế quốc tìm thấy ở họ một đồng minh trung thành và một chỗ dựa vững chắc. Vừa qua, một trong những người lãnh đạo của địa chủ tung ra một lời kêu gọi khuyên nhủ các địa chủ hãy đoàn kết chặt chẽ hơn nữa để nắm lấy toàn bộ chính quyền trong nước mà vẫn ở dưới “sự bảo hộ” của nước Anh. Hội nghị địa chủ các bang Bengan, Atsam và Oritxa (ngày 2-1-1928) quyết định ủng hộ Uỷ ban Ximông, yêu cầu thành lập hai viện lập pháp chứ không phải một như hiện nay, và thượng viện chỉ gồm những địa chủ. Trong bài diễn vǎn, chủ tịch hội nghị phàn nàn rằng quyền chính trị dành cho người ấn Độ còn quá rộng rãi và còn “cho phép những phần tử không có của cải đưa vào luật pháp những xu hướng xã hội và cộng sản”.

Bà Anna Bisan viết nǎm 1919: “Một nửa dân số nhà nông ở ấn Độ chỉ có một bữa ǎn trong mỗi ngày, mà, hơn nữa, một bữa cũng

không đủ ǎn”. Tình trạng này từ ngày ấy đến nay vẫn không thay đổi vì tình hình kinh tế của người ấn Độ đáng lẽ được cải thiện thì lại mỗi ngày một trầm trọng thêm. Tháng 5 nǎm 1927, Bác sĩ Hađica nêu một bảng so sánh thu nhập theo đầu người: Hoa Kỳ 1.115 rupi; Anh 696; Pháp 546; Đức 468; ấn Độ 15.

Nguyên nhân cái nghèo khổ cùng cực này là do đất thiếu, thuế má quá nặng, chiếm đến 75% hoa lợi của nông dân, diện tích trồng cây công nghiệp quá lớn khiến diện tích trồng ngũ cốc hụt đi. Nǎm 1925 chỉ có 32.968.000 hécta trồng lúa so với 10.645.000 hécta trồng bông, 287.000 hécta trồng chè và l.025.000 hécta trồng mía. Như vậy là một phần ba đất đai được dành riêng cho việc trồng trọt phục vụ công nghiệp và thương nghiệp của Anh.

Bên cạnh sự bóc lột của địa chủ Anh và địa chủ bản xứ, người nông dân ấn Độ còn bị bóc lột một cách kinh khủng bởi những tên Sahuka hay những chủ nợ, chúng cho vay 30 rupi trước mùa gặt và đòi lại 146 rupi.

Đói kém là thường xuyên. Từ 1854 đến 1901 trên 28.825.000 nông dân chết đói! Chỉ riêng trong ba tháng cuối nǎm 1918, trên 7 triệu người ấn Độ chết vì cúm. Những người không chết đói đi vào các thành phố, hợp thành một đội quân “vô sản mặc giẻ rách”, sống vất vưởng bằng ngửa tay ǎn xin. Nǎm 1927, người ta thấy trên 250 người ǎn mày chết đói trong các phố Bombay. Cũng nǎm đó, ông Humantro, một nhà từ thiện ấn Độ cung cấp cho chúng ta những số liệu sau đây về các làng mà ông đến thǎm: trong 79 gia đình ở Sagam chỉ còn 3 người ở lại làng. Trong 811 người làng Mađrát chỉ còn 413. ở Chankamanđimi trong số 60 người chỉ còn 3; tại Kengan trong số 200 người còn lại 40; ở Katagu trong số 500 người còn lại 125; ở Iurátgi, trong số 450 chỉ còn lại 200 và ở Khagian trong số 50 người chỉ còn 3.

Những người khốn khổ này bỏ làng không những vì đói mà còn để tránh bọn Sahuka, bọn địa chủ và bọn thu thuế.

Tuy không có tổ chức hoặc tổ chức còn lỏng lẻo, người nông dân- do nghèo khổ thúc bách – thường nổi dậy chống kẻ bóc lột. Từ 1792 đến 1921, chỉ trong bang Malaba, 36 cuộc khởi nghĩa của nông dân đã nổ ra. Các cuộc nổi dậy vào những nǎm 1841, 1844, 1849, 1896 và 1921 đều có tiếng vang lớn.

Những người nông dân ở Promơ (Miến Điện) tự tổ chức thành các Unthanu Rakita hay các Hội nông dân mà mục đích công khai là đấu tranh chống rượu, cờ bạc và tội ác. Sau phong trào chống thuế nǎm 1924, các Unthanu bị cấm. Tuy vậy, các tổ chức này vẫn tồn tại bí mật và cuối nǎm 1927, các Unthanu huyện Padinbin đã không chịu đóng thuế. Chính phủ cử lực lượng quân đội đến chống lại những người kháng cự. Hai nông dân bị giết và nhiều người bị thương.

Sau các sự kiện ở Padinbin, Chính phủ giải tán 11 tổ chức hoặc hội nông dân khác. Tuy có đàn áp nhưng cuộc vận động chống thuế vẫn tiếp tục ở Miến Điện và rải rác ở chính trên đất ấn Độ, nông dân ở Alibay (huyện Maharátgia) thẳng thắn tuyên bố chống thuế. Ngày 10 tháng 1, 500 đại biểu tại Hội nghị tá điền Iubơnpua bỏ phiếu tán thành nghị quyết chống Uỷ ban Ximông và chống việc tǎng thuế mới. Ngày 4 tháng 2, hội nghị các tiểu chủ ở Sunrat cũng đã thông qua nghị quyết ấy.

Báo Mađratta, tuần báo có thế lực lớn xuất bản ở Puna, khuyên nên chống đối ở khắp nơi. Trong số ra ngày 12 tháng 2, báo đó viết: “Nếu tất cả những người nông dân bị bóc lột tại tất cả các địa phương nhất trí trong một mặt trận thống nhất chống Chính phủ thì có thể làm cho Chính phủ biết điều hơn trong chính sách nông nghiệp của mình”.

Ta nên nói thêm rằng Đảng công nông đã ghi vào chương trình ruộng đất của mình những yêu sách sau đây: quyền hoa lợi của đất trồng thuộc về nông dân và quốc hữu hoá đất đai!

WANG

——————————

Tập san Inprekorr, tiếng Pháp, số 38, ngày 18-4-1928
cpv.org.vn

Phong trào công nhân và nông dân mới đây tại Ấn Độ (5-1928)

Tại ấn Độ cũng như ở các thuộc địa khác, chủ nghĩa đế quốc Anh đang tìm cách chia rẽ giai cấp vô sản bằng cách thường xuyên khơi sâu những thành kiến về chủng tộc. Vì thế tất cả các chỗ làm được trả lương cao đều dành cho người Anh và những người lai Anh- ấn. Trong những nhà máy điện, những người này lĩnh mỗi ngày 15 rupi; họ có nhà ở sang trọng không phải trả tiền, trong khi thợ thuyền ấn Độ chỉ được từ 4 anna 1 đến 1,5 rupi mỗi ngày và nhà ở phải trả tiền. Trong ngành xe hoả, một người Anh hoặc người lai lĩnh tới 7 rupi mỗi ngày; trái lại, một thợ không chuyên ấn Độ chỉ được 8 anna và một công nhân được 13 anna mỗi ngày. Những viên chức người Anh và người lai, ngoài lương cao, còn có các trường học, vườn trẻ và hợp tác xã tiêu thụ mà Chính phủ hoặc các công ty dành riêng cho, cấm không cho người ấn Độ đến, trong khi ấy các viên chức bàn giấy người ấn chỉ lĩnh hằng tháng từ l0 đến 20 rupi.

Để đáp lại những đặc quyền đó, những viên chức người Anh và người lai hợp tác với giới chủ chống công nhân bản xứ. Các sự kiện đẫm máu ngày 28 tháng 3 vừa qua minh hoạ một cách rõ ràng thái độ bài vô sản của thứ thợ thuyền quý tộc này: những viên chức người Anh và người lai trên đường sắt Lilôa đã hợp tác tích cực với cảnh sát có vũ trang trong việc ám sát nǎm người bãi công có nhiệm vụ kiểm tra lệnh đình công.

Nhưng thợ thuyền ấn Độ đấu tranh không mệt mỏi chống các mưu mô của đế quốc và các thành kiến chủng tộc. Vì thế nên mặt trận chiến đấu của họ được củng cố hằng ngày, như nhiều cuộc đấu tranh vừa qua đã cho thấy.

Ngày 21 tháng 2, 400 thợ điện các lò cao tại Iamsétpua bãi công để đòi tǎng lương. Họ đòi 5 rupi mỗi ngày chứ không phải 14-15 anna như hiện đang lĩnh.

Ngày 5 tháng 3, sau khi sáu công nhân bị đuổi vì hoạt động nghiệp đoàn, 14.000 công nhân hoả xa ở Lilôa lãn công và, ngày 8, từ lãn công chuyển thành bãi công thực sự. Những người bãi công đòi cho các đồng chí bị đuổi được trở lại làm việc, đòi tǎng 25% lương và đòi tự do nghiệp đoàn. Xin nhắc lại rằng Liên đoàn Công nhân hoả xa tồn tại đã được mười nǎm mà vẫn chưa được Chính phủ và công ty công nhận.

Ngày 7 tháng 3, 10.000 thợ làm việc cho thành phố bãi công đòi 30 rupi mỗi tháng chứ không phải 14 như hiện nay họ lĩnh.

Ngày 9 tháng 3 có cuộc bãi công của 2.500 thợ nhà máy bông ở Lútlốc vì một người thợ bị tên đốc công đánh.

Ngày 15 tháng 3, 900 thợ nhà máy Paren (Bombay) đấu tranh để đòi tǎng lương.

Ngày 10 tháng 3 có một hội nghị của nhân viên bưu điện Mađrát.

Hiện nay họ chỉ lĩnh từ 10 đến 20 rupi mỗi tháng. Nhà ở của họ tiều tuỵ đến mức đáng sợ, trong khi những viên chức có đặc lợi, người Anh và người lai, lĩnh đồng lương đế vương và có nhà đầy đủ tiện nghi. Nhân viên bưu điện Mađrát đòi nâng lương từ 30 lên 40 rupi mỗi tháng. Ta hãy nhớ rằng một người đưa thư ở nông thôn, phụ trách đến 60 làng và đi bộ mỗi ngày 30 kilômét mà chỉ lĩnh có 16 rupi mỗi tháng.

Ngày 19 tháng 3, công nhân xe điện Mađrát họp hội nghị đặc biệt đòi tǎng lương và phản kháng công ty đuổi thợ mà không hoàn lại số tiền ký quỹ họ đã phải nộp khi được nhận vào làm.

Ngày 22 tháng 3, Đại hội Liên hiệp nghiệp đoàn tỉnh Bombay, thay mặt cho 30.000 công nhân có tổ chức họp tại Đamôda. Nhiều nghị quyết đã được thông qua. Những nghị quyết đó đòi: ngày làm tám giờ, định lương tối thiểu, lương phải trả hằng tuần, có tiền bảo hiểm xã hội cho những trường hợp thất nghiệp, ốm đau, sinh đẻ, già yếu cải thiện điều kiện nhà ở cho công nhân, bãi bỏ chế độ phạt tiền và chế độ khấu lương để đền bù dụng cụ và vật liệu hỏng, trả lại tự do cho những công nhân vì hoạt động nghiệp đoàn mà bị bắt. Đại hội có dự kiến thay thế các nghiệp đoàn nghề bằng các nghiệp đoàn công nghiệp. Về phương diện chính trị, Đại hội tuyên bố chống chiến tranh và chống các luật đàn áp. Đại hội cũng đã dự kiến tổ chức một Đảng Lao động để bảo vệ các quyền chính trị của người lao động.

Những cuộc đấu tranh này của công nhân chỉ là rất thường tình nếu ta xét đến hoàn cảnh vô cùng khổ cực của vô sản ấn Độ. Đây là một bảng so sánh minh hoạ số thu nhập theo đầu người, trong nhiều nước, do bác sĩ Hácđica lập ra vào tháng 5 nǎm 1927: Hoa Kỳ 1.116 rupi; Anh 696; Pháp 546; Đức 468, ấn Độ 15. Ta cũng nên nói qua rằng vấn đề nhà ở là một trong những cái ung đau nặng nhất của vô sản ấn Độ. Theo báo cáo của ông chủ tịch Liên hiệp thợ thuyền thành phố Mađrát, hơn 10.000 người lao động của thành phố này ngủ đêm ở các chuồng bò hoặc nhà xe, và điều này cũng đúng với những thành phố khác. Sự khổ cực kinh tế này làm cho tuổi thọ của người ấn Độ rất thấp. Dưới đây là so sánh tuổi thọ tǎng bình: Anh 51,5; Hoa Kỳ 50; Pháp 48,5; Đức 47,4; ấn Độ 24,7. Tỷ lệ tử vong ở ấn Độ cũng cao hơn ở bất kỳ nơi nào khác: Hoa Kỳ 12,9 phần nghìn; Anh 14,6; Đức 16,2 và ấn Độ 30!

Nông thôn cũng nổi dậy, ngày càng có phản ứng mạnh đối với tình trạng như vậy. Ngày 15 tháng 2, tại Viện dân biểu Miến Điện, Chính phủ thuộc địa đề nghị cử “những đại biểu đặc biệt” đến các huyện đang đặc biệt tích cực chống thuế. Đề nghị đó bị bác với 24 phiếu chống trên 18 phiếu thuận. Thất bại đó của Chính phủ đã gây chấn động trong nước; lại càng chấn động khi Chính phủ buộc phải thú nhận rằng biện pháp cử “những đại biểu đặc biệt” là cần thiết vì từ mấy tuần nay đã có đến 22 người thu thuế bị nông dân làm cho khốn đốn.

Để trả thù, ông thống đốc đã cấm 25 tổ chức nông dân và tôn giáo hoạt động và tǎng cường cảnh sát ở 44 huyện.

Ngày 19 tháng 3, khi một người của họ bị ngược đãi, các culi ở đồn điền trồng chè lớn tại Đíchgubác đã nổi dậy và đẩy những tên đốc công vào tình trạng khốn đốn. Biến cố nhỏ này có một ý nghĩa lớn: những công nhân nông nghiệp vốn rất dễ bảo và thụ động giờ đây đã thức tỉnh và biết tự vệ. Một dấu hiệu của thời đại! Phong trào chống thuế ở Bácđôlê tiếp tục. Họ tổ chức những nhóm người tình nguyện để bảo vệ những nông dân bị doạ tịch biên. Chính cảnh sát huyện cũng có cảm tình với nông dân và tuyên bố rằng họ sẽ không thực thi những lệnh đàn áp của Chính phủ.

WANG

———————–

Tập san Inprekorr, tiếng Pháp, số 43, tháng 5-1928
cpv.org.vn

Chủ nghĩa đế quốc, kẻ tiêu diệt người bản xứ (5-1928)

Từ sau chiến tranh, để khôi phục lại những đổ nát, chủ nghĩa đế quốc tǎng cường bóc lột thuộc địa. Ngay cả nước Bỉ nhỏ bé cũng thành công khi noi gương “vinh quang” của các láng giềng lớn là Anh, Pháp và những nước khác. Báo “Essor Colonial et Maritime Belge” (“Sự phồn vinh của Bỉ trong thuộc địa và trên biển) (14-7-27) thành thực viết: “Nếu không có Cônggô… nước Bỉ sẽ ra sao… không một chân trời chính trị, không một hy vọng về kinh tế nào cả!”. Thực vậy, nước Bỉ chỉ có Cônggô là thuộc địa. Nhưng nước Bỉ đã biết từ đó rút ra những món lợi đáng kể bằng cách phát triển kinh tế, kỹ nghệ và thương mại: Nǎm 1924, thương mại Bỉ ở Cônggô đạt 551 triệu phrǎng. Nǎm 1925, lên tới 981 triệu phrǎng.

Vì mạnh hơn nên đế quốc Pháp làm được nhiều hơn đế quốc Bỉ. Thương mại Pháp ở các thuộc địa nǎm 1927 – theo ông Phrǎngxoa Mácsan – lên tới một con số lớn gấp bốn lần nǎm 1913! Nói đến con số đó chẳng phải là nói ngoa, vì công cuộc khai thác thuộc địa của Pháp mở rộng nhanh chóng từ nǎm này qua nǎm khác, như các con số sau đây cho thấy:

Thương mại riêng ở Tây Phi thuộc Pháp

(tính bằng triệu phrǎng):

1921 … 556

1922 … 599

1923 … 917

1924 … 1.347

1925 … 1.912

Thương mại riêng với các thuộc địa khác (trong 10 tháng đầu nǎm)

1925 1926

Angiêri 3.153 triệu 4.804 triệu

Tuynidi 701 – 1.244 –

Marốc 825 – 1.270 –

Mađagátxca 471 – 372 –

Đông Dương 1.162 – 1.934 –

Các thuộc địa khác 1.152 – 1.300 –

Anh, Italia và các nước thực dân khác cũng hành động như thế với các thuộc địa của mình.

Ngoài cái phồn vinh ấy, có được là nhờ vào người bản xứ, những người này còn bị đè nặng bởi vô số thuế má, lao động khổ sai và các phương tiện bóc lột khác (chiếm đoạt ruộng đất, bắt phải tiêu thụ rượu và thuốc phiện), những phương tiện khiến dân số của nhiều thuộc địa bị giảm đi nhiều.

Điều mà ai cũng biết là lao động khổ sai được thi hành ở tất cả các thuộc địa Pháp, Bỉ, Anh và những nước khác. Người Pháp gọi là “tạp dịch”, người Bỉ gọi là “lao động cưỡng bức”, người Anh gọi là “lao dịch”, v.v..

Tờ báo Bỉ nói trên thú nhận rằng “trong tất cả các thuộc địa, lao động cưỡng bức còn được coi và được sử dụng như một trong những đòi hỏi tất yếu của chế độ thuộc địa. Tuyên bố ngược lại chỉ có thể là ngu xuẩn, giả dối hoặc nguỵ trang… muốn chọn từ nào thì tuỳ ý”.

ở Hạ nghị viện Anh, ông Omxbai Gorơ, thứ trưởng Bộ thuộc địa, tuyên bố rằng “lao động của người bản xứ ở Kênya, được sung công, tối đa là 60 ngày mỗi nǎm, và ở Tây Phi thuộc Anh, mọi người phải lao động cưỡng bức để xây dựng đường xe hoả”.

Ông Lêông Periê, Bộ trưởng thuộc địa Pháp, ban bố những sắc lệnh để “cho người bản xứ quen với lao động đều đặn… bằng cách dạy dỗ họ, khuyến khích họ và cả bằng những biện pháp trừng phạt kỷ luật”.

Chưa hết. Đại tá Ônxen và tướng Huyghe, hai vầng hào quang

quân sự Bỉ đề xuất việc tập trung nghiêm ngặt 10.000 người lao động Cônggô, do các ông sếp người da trắng chỉ huy theo lối quân sự.

Hội quốc liên – ta hãy nhắc lại vì vinh dự của nó – cũng hoan nghênh việc thi hành lao động khổ sai. Đây là bản thông cáo báo chí của Vǎn phòng Quốc tế về Lao động (tháng 5-1927): “Một uỷ ban gồm những chuyên gia về lao động của người bản xứ hiện đang họp tại Vǎn phòng Quốc tế về Lao động để xem xét vấn đề lao động cưỡng bức của người bản xứ. Uỷ ban xem xét những nguyên tắc nêu lên trong bản tường trình của Vǎn phòng Quốc tế về Lao động để quy chế hoá lao động cưỡng bức trong trường hợp không thể bãi bỏ được nó…”.

Những người bản xứ bị cưỡng bức lao động được đối xử như thế nào?

Ta hãy nghe chính những người châu Âu thú nhận: Trong một bức thư gửi đến Hội các quyền lợi thuộc địa (10-28) 1 ông Bộ trưởng thuộc địa Bỉ viết: “… Các ngài biết rằng còn phải làm nhiều cho việc xử lý những người da đen được các tư nhân thuê làm; nhiều hãng tư nhân chưa làm được cái cần thiết để bảo đảm đời sống vật chất tối thiểu cho họ: đồng lương khốn khổ không đủ sống, thức ǎn, nhà ở, vệ sinh, v.v. thường không tốt…”.

Trong một lá thư gửi cho báo Manchester Guardian (Người bảo vệ Manséttơ), mục sư Oven tuyên bố rằng chế độ nô lệ độc đoán đã được áp đặt tại Kênya, rằng những người bản xứ phải đi bộ hàng trǎm dặm để đến nơi làm tạp dịch. Ông nêu lên những sự việc và những con số; ông ta viết: Tháng 10-1922, tôi gặp 471 người bản xứ trong đó có 421 phụ nữ (một số lớn có mang), thiếu niên nam và nữ. Họ phải đi bộ mỗi ngày 30 dặm để mang cỏ về cho chính quyền. Họ lĩnh mỗi ngày từ 1/2 penny đến 2 pence 2 . Tháng 8 nǎm 1924, ông gặp những người bản xứ khác bị bắt làm lao động tạp dịch như thế, nhưng lần này họ không được lĩnh một xu nhỏ.

Lao động khổ sai và những hậu quả của nó làm cho số người chết lên đến mức kinh khủng trong các thuộc địa. Trong các thuộc địa Pháp, như Xanh – Pie và Micơlông, Tân Êbrít thuộc Pháp, v.v. người thổ dân đang trên đà bị diệt vong.

Báo Times thú nhận rằng từ nǎm 1874, khi Phigi bị đặt dưới quyền đô hộ của Anh, dân số người bản xứ giảm một cách rõ rệt. Cũng tờ báo đó (17-12-1927) viết: dân bản xứ miền Bắc Ôxtrâylia bị đe doạ diệt vong nhanh chóng và có những bộ lạc trước kia rất đông đúc nay đã hoàn toàn biến mất vì thuốc phiện.

Hoàng tử Bỉ Lêôpôn cũng thú nhận rằng nòi giống Cônggô bị đe doạ tiêu diệt. Và, có lẽ dù chẳng muốn, ông cũng lên án chế độ thực dân Bỉ. Ông viết cho Đại hội thuộc địa:

“Trước khi chúng ta đến, có thể nói rằng người da đen không hề di chuyển. Những bệnh, như bệnh buồn ngủ, trước kia chỉ giới hạn ở một nơi, và chỉ hoành hành trong những vùng nhỏ hẹp.

“Do nhu cầu, ta đã lôi kéo người bản xứ phải di chuyển… Các bệnh truyền nhiễm, trước kia bị khoanh lại, nay đã lan dần trong cả thuộc địa, gây ra những tai hại lớn; nó càng lớn hơn khi không có được một biện pháp miễn dịch… Đối với những bệnh này, người da đen, do nuôi dưỡng tồi, chỉ có thể chống đỡ bằng một sức đề kháng yếu ớt, toàn bộ nòi giống họ phải chịu đựng tình trạng đó. Hơn nữa, công việc làm chung đòi hỏi họ phải tập trung trong những điều kiện vệ sinh mà… những kẻ thuê người làm không phải bao giờ cũng làm tốt được…”.

Hoàng tử kết thúc lá thư của mình bằng lời khuyên sau đây: “Ta chớ quên: lịch sử của nhiều chế độ thực dân đã cho thấy rằng nhiều dân tộc bản xứ bị tiêu diệt hoàn toàn khi tiếp xúc với nền vǎn minh của người da trắng”.

Ta có thể kết luận rằng mọi chế độ thực dân đế quốc đều tiêu diệt hết các nòi giống bản xứ, và muốn cứu vãn những nòi giống này, ta phải lật đổ chủ nghĩa đế quốc!

Wang

————————–

Tập san Inprekorr, tiếng Pháp, số 47, tháng 5-1928
cpv.org.vn

Thư gửi Ban phương Đông Quốc tế Cộng sản (21-5-1928)

Béclin, ngày 21 tháng 5 nǎm 1928

Các đồng chí thân mến,

1. Tôi đã nhận đủ cái cần thiết để lên đường. Xin cảm ơn. Tôi sẽ ra đi vào khoảng tuần thứ ba tháng 5 này.

2. Do lúc này không thể trực tiếp liên lạc với các đồng chí, mọi sự liên lạc của tôi đều qua đồng chí Satô ở Liên đoàn chống đế quốc tại Béclin.

3. Trước khi lên đường, tôi xin phép trình bày mấy nhận xét về Ban thuộc địa thuộc Đảng Cộng sản Pháp.

Tôi đã thông báo với các đồng chí rằng Ban thuộc địa đó đã có nhiều tiến bộ (Trước kia chẳng có gì. Nay đã có những vǎn phòng và đồng chí thường trực). Tuy nhiên, mới làm được rất ít việc trong số những người bản xứ ở Pháp, ít ra trong những người Đông Dương. Báo chí. Đại hội. Tổ chức. Tất cả những thứ đó mới chỉ còn trên giấy. Tôi nghĩ rằng Ban thuộc địa thiếu sự linh hoạt trong công tác. Tôi xin kể trường hợp riêng của tôi. Trong một tháng rưỡi tôi ở Pari, vì đồng chí Đôriô đang ở tù, cho nên tôi không có dịp nào nói chuyện nghiêm túc với các đồng chí khác. Nhiều lần, tôi xin những địa chỉ chắc chắn để có thể liên lạc với họ khi tôi sẽ ở phương Đông, thì đồng chí có trách nhiệm đã từ chối không đưa cho tôi. Các đồng chí nói rằng Ban thuộc địa có một ngân quỹ dành cho công tác thuộc địa. Nhưng theo tôi biết quỹ hoàn toàn rỗng, thậm chí chẳng có gì để lo ǎn cho các đồng chí đi công tác qua.

Tôi kiến nghị:

a) Tài chính của Ban thuộc địa cần được các đồng chí kiểm soát.

b) Ban thuộc địa thường xuyên gửi đến các đồng chí những báo cáo về công tác đã làm và kế hoạch công tác sắp tới.

c) Ban thuộc địa phải tổ chức những phương tiện giao thông liên lạc đường Pháp – Đông Dương (qua Boócđô, Mácxây, Lơ Havơrơ), chuyển tên các đồng chí và tên các tàu đến chỗ Liên đoàn (đồng chí Satô) báo cho tôi biết, để tôi có thể bắt liên lạc với họ.

d) Sẽ là rất có ích nếu vài đồng chí của Đảng hay của Đoàn thanh niên Nga chịu trách nhiệm sǎn sóc các sinh viên Đông Dương ở Mátxcơva, giúp họ tìm hiểu đời sống công nhân và thực hành công tác tổ chức (tất cả họ không thuộc thành phần vô sản và, theo như tôi có thể nhận xét, họ biết rất ít các phương pháp tổ chức).

Xin gửi lời chào cộng sản.
NGUYỄN ÁI QUỐC

—————————–

Thư đánh máy bằng tiếng Pháp, bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh
cpv.org.vn

Chủ nghĩa tư bản đế quốc Pháp ở Đông Dương (2-10-1928)

TÌNH HÌNH KINH TẾ

Đông Dương rộng 710.000 kilômét vuông và có dân số là 20.000.000 người, trong đó có trên 26.000 người Âu, không kể những binh lính Pháp.

Những thành phố lớn là:

Sài Gòn, thủ đô 2 của Nam Kỳ 108.000 dân

Chợ Lớn, thành phố ở sát Sài Gòn 203.000 –

Huế, thủ đô 3 của Trung Kỳ 60.500 –

Hà Nội, thủ đô 4 của Bắc Kỳ 74.500 –

Hải Phòng, hải cảng của Bắc Kỳ 74.500 –

Phnômpênh, thủ đô của Cao Miên 79.000 –

Viêngchǎn, thủ đô của Lào 68.000 –

Những hải cảng là: Sài Gòn, cách biển 81 kilômét, với một lượng vận chuyển hằng nǎm là 3.600.000 tấn; Hải Phòng (Bắc Kỳ), cách biển 28 kilômét, với một lượng vận chuyển hằng nǎm là 1.200.000 tấn; Quy Nhơn và Tuaran 5 (Trung Kỳ) với một lượng vận chuyển là 500.000 và 100.000 tấn.

Đông Dương có khoảng 2.200 kilômét đường sắt, trong đó 860 kilômét thuộc con đường Vân Nam – Bắc Kỳ. Có tất cả 150 đầu tàu, 400 toa hành khách và 1.650 toa chở hàng hoá.

Doanh số thương nghiệp của nǎm 1925 là: 4.236.685.000 phrǎng

trong đó, nhập khẩu chiếm 1.780.501.000 –

và xuất khẩu chiếm 2.456.184.000 –

như vậy là trội hơn nǎm 1924 một tỷ và trội hơn nǎm 1923 hai tỷ.

Sự TíCH LUỹ TƯ BảN

Tư bản của tất cả những doanh nghiệp Pháp đều tǎng lên rất nhanh. Chúng ta hãy nêu lên, chẳng hạn:

Tư bản của công ty vôi đã tǎng từ 600.000 lên đến 3.000.000 phrǎng.

– của công ty nông công nghiệp Cam Tiêm từ 14 lên đến 30 triệu.

– của công ty trồng chè và cà phê ở Kon Tum từ 5 lên đến 15 triệu.

– của hãng vận tải liên hiệp từ 100 lên đến 300 triệu.

– của công ty xuất vốn cho cao su từ 100 lên đến 200 triệu.

– của công ty thương nghiệp, nông nghiệp và tài chính Đông Dương, từ 1 lên đến 10 triệu.

– của công ty xi mǎng Đông Dương, từ 8 lên đến 12 triệu.

Tư bản của công ty thǎm dò và khai thác hầm mỏ ở Đông Dương đã tǎng từ 12,5 lên đến 20 triệu.

Tư bản của Ngân hàng Đông Dương, một ngân hàng chi phối hầu như tuyệt đối nền thương nghiệp và công nghiệp ở Đông Dương, đã tǎng một cách liên tục. Được thành lập nǎm 1875 với số tư bản là 8 triệu phrǎng, đến nǎm:

1888, số tư bản đó đã lên tới 12.000.000

1900, ………………… 24.000.000

1916, …………………. 36.000.000

1910, ………………………….. 48.000.000

1920, …………………………… 72.000.000

LợI NHUậN

Những hãng buôn ở thuộc địa đã giành được những lợi nhuận đôi khi vượt cả những tư bản ứng trước. Chẳng hạn nǎm 1924, Ngân hàng Đông Dương, với số tư bản là 72 triệu mà đã thu được một món lợi nhuận là 77.845.083 phrǎng. Sau đây là tiến độ đi lên của lợi nhuận của các công ty:

Công ty xuất vốn cho cao su:

1918 3.378.486 phrǎng

1920 ………….. 4.950.014 –

1923 12.668.043 –

1925 ………… 32.573.850 –

Công ty đường sắt Vân Nam:

1917 1.121.000 phrǎng

1919 1.543.000 –

1921 2.637.000 –

1923 3.275.000 –

1925 6.440.000 –

Công ty than đá Bắc Kỳ:

1912 1.926.000 phrǎng

1914 3.302.000 –

1918 5.257.000 –

1920 17.601.000 –

1922 23.840.000 –

1923 35.037.000 –

Công ty lâm nghiệp và diêm Đông Dương:

1918 570.000 phrǎng

1920 1.327.000 –

1922 1.733.000 –

1924 2.300.000 –

1925 3.414.000 –

CÔNG NGHIỆP HÓA THUỘC ĐỊA

Báo Thời đại ngày 19-3-1927, người phát ngôn của chủ nghĩa tư bản Pháp, đã có lý khi nhận xét rằng: “Sự thật là ở nước ta, những tư bản, đã từ lâu vẫn tỏ ra e ngại đối với những doanh nghiệp khai thác lãnh thổ hải ngoại của chúng ta thì bây giờ lại sẵn sàng hướng về những doanh nghiệp ấy, nhất là ở Đông Dương”. Thật vậy, kể từ khi cuộc chiến tranh đế quốc chủ nghĩa 1914 – 1918 chấm dứt, vô số những hãng hoặc công ty xuất vốn thương nghiệp và nông nghiệp đã mọc lên ở Đông Dương. Dưới đây, chúng tôi chỉ liệt kê những công ty có số tư bản trên một triệu phrǎng:

Công ty Pháp ở á châu, thành lập nǎm 1922, tư bản là 1.000.000

Công ty Optorg … 1919 … 20.000.000

Hãng anh em Đơnít
ở Đông Dương … 1922 … 2.500.000

Hãng Duymarét
ở Đông Dương … 1922 … 4.000.000

Hãng Poǎngxa và Vâyrê … 1921 … 12.000.000

Tổng công ty các cửa hàng
tổng hợp … 1921 … 12.000.000

Công ty Pháp – An Nam về sợi
và xuất khẩu … 1920 … 4.000.000

Công ty Mácxây ở hải ngoại … 1919 … 1.500.000

Hãng vận chuyển Viễn Đông … 1917 … 20.000.000

Tổng công ty lụa Pháp
ở Đông Dương …1921 … 7.000.000

Công ty hầm mỏ và
luyện kim Đông Dương … 1919 … 16.000.000

Công ty điện lực Đông Dương … 1921 … 15.000.000

Công ty luyện kim, nhà máy cơ khí
và xưởng đóng tàu Đông Dương … 1919 … 3.000.000

Công ty nhựa cây và sơn “JB” … 1921 … 1.000.000

Công ty công trình lớn Viễn Đông … 1922 … 25.000.000

Nhà máy xay xát Viễn Đông … 1922 … 25.000.000

Công ty vô danh xà lan và tàu kéo
Đông Dương … 1921 … 4.000.000

Công ty vô danh bất động sản
anh em Đơnít … 1922 … 15.000.000

Công ty Antraxit Bắc Kỳ … 1920 … 5.000.000

Công ty kinh doanh á châu … 1921 … 1.000.000

Công ty thǎm dò và xuất khẩu
khoáng sản … 1920 … 7.500.000

Công ty Pháp làm đồ thuỷ tinh
Đông Dương … 1923 … 10.000.000

Công ty máy làm lạnh
ở Viễn Đông … 1920 … 10.000.000

Công ty sơn Đông Dương … 1919 … 1.075.000

Công ty mỏ Bàuman … 1924 … 1.100.000

Công ty mỏ vàng Bắc Kỳ … 1924 … 8.000.000

Công ty đồ thuỷ tinh Viễn Đông … 1923 … 5.000.000

Xanhđica nghiên cứu đường sắt … 1921 … 2.000.000

Công ty thuộc địa sản xuất
thức ǎn dinh dưỡng … 1921 … 2.500.000

CHIẾM ĐOẠT RUỘNG ĐẤT

Tư bản Pháp không chỉ hướng vào công nghiệp và thương nghiệp Đông Dương, mà còn thành lập những công ty lớn mạnh để khai thác đất đai:

Công ty Cao Miên, thành lập nǎm 1922
với số tư bản là 5.000.000 phrǎng

Công ty ruộng đất thuộc địa … 1923 … 2.500.000 –

Công ty đồn điền đất đỏ … 1923 … 36.000.000 –

Công ty thương nghiệp và
công nghiệp Pháp – An Nam … 1922 … 1.000.000 –

Công ty nghiên cứu trồng
bông ở Đông Dương … 1923 … 1.000.000 –

Công ty Hớn Quản … 1919 … 3.000.000 –

Công ty công nghiệp và
lâm nghiệp Đông Dương … 1923 … 1.000.000 –

Công ty chè Đông Dương … 1924 … 10.000.000 –

Công ty đường và chưng lọc
Đông Dương … 1923 … 10.000.000 –

Chính vì vậy mà ở Nam Kỳ, 250.000 hécta đã bị những chủ đồn điền Pháp chiếm đoạt và 600.000 hécta sắp bị chiếm đoạt.

Hãng vận tải đường sông ở Nam Kỳ mua đất với giá 2,1 phrǎng một mét vuông và đem bán lại với giá 1.440 phrǎng một mét vuông.

ở Bắc Kỳ, trên 112.000 hécta đất ruộng và 63.500 hécta đất có quặng đều nằm trong tay 150 chủ đồn điền và 34 chủ mỏ, đấy là chưa kể những đất tô nhượng chưa được khai khẩn.

ở Trung Kỳ, cho đến nǎm 1925, chỉ có 62.000 hécta nằm trong tay người Pháp. Chỉ riêng nǎm 1926, đã có trên 300.000 hécta bị 180 người Pháp chiếm đoạt.

ở Cao Miên, có tất cả 523.000 hécta đất trồng trọt, nhưng khoảng 1/3 số đó nằm trong tay những tên thực dân hay trong tay giáo hội Giatô.

ở Lào, những người Pháp đã thiết lập chế độ “Khu dự trữ” – một chế độ mà những người Mỹ đã dùng đối với dân da đỏ và những người Nhật đã dùng với dân Đài Loan – nhằm mục đích chiếm đoạt của người bản xứ 200.000 ha đất đỏ.

Sự ĐộC QUYềN

Chủ nghĩa tư bản thực dân có xu hướng tiến tới sự độc quyền. Tất cả những xí nghiệp đông đảo đó ở Đông Dương đều phụ thuộc vào một vài công ty có thế lực. Chẳng hạn, chúng ta thấy công ty rượu của Pháp ở Đông Dương tham gia vào các xí nghiệp sau:

Ngân hàng tín dụng ruộng đất Đông Dương

Nhà máy thuỷ tinh Viễn Đông

Công ty than và mỏ kim khí Đông Dương

Vận chuyển đường sông

Công ty nông công nghiệp Cam Tiêm

Công ty thức ǎn đạm

Công ty than đá Bắc Kỳ.

Công ty thương nghiệp, nông nghiệp và tài chính Đông Dương, công ty “SICAF” như người ta thường gọi, lãnh đạo những công ty sau đây:

Công ty chè (Kon Tum)

Công ty bông (Sài Gòn)

Công ty nông nghiệp (Kon Tum)

Công ty chè An Nam

Công ty thương nghiệp Pháp – An Nam

Công ty công nghiệp và lâm nghiệp Biên Hoà

Công ty nông công nghiệp Bến Củi

Tổng công ty tơ lụa Pháp và Đông Dương

Công ty cà phê Đông Dương

Công ty nông nghiệp Sông Ruy.

Công ty tài chính Pháp và thuộc địa kiểm soát:

Ngân hàng tín dụng ruộng đất Đông Dương

Công ty cao su Đông Dương

Công ty cây nhiệt đới Đông Dương

Công ty bông Sài Gòn

Công ty máy xúc và công trình công cộng

Nhà máy thuỷ tinh Viễn Đông

Công ty xà lan và tàu kéo

Đồn điền cao su Bình Lộc

Nhà máy đường và rượu Đông Dương

Nhà máy nước và điện Đông Dương

Tân công ty phốt phát Bắc Kỳ

Những mỏ vàng Đắc Lắc

Những nhà máy giấy Đông Dương

Nhà máy in Viễn Đông

Những nhà máy lụa Đờlinhông.

Hãng S.F.F.C. có những chi nhánh đến tận các thuộc địa ở châu Phi.

ĐầU Sỏ TàI CHíNH

Những công ty chỉ đạo, đến lượt chúng lại nằm dưới sự kiểm soát của Ngân hàng Đông Dương; mà ngân hàng này lại nằm trong tay một nhóm nhỏ những nhà tài chính độc quyền. Trong hội đồng quản trị của ngân hàng đó, chúng ta thấy có những tên sau đây:

Đờ Môngplanê, chủ tịch tổng công ty tín dụng công nghiệp và thương nghiệp.

Bêtơnốt, chủ tịch ngân hàng tín dụng Liông.

Boayê, chủ tịch chi điếm quốc gia chiết khấu Pari.

Rôxtan, phó chủ tịch chi điếm quốc gia chiết khấu Pari.

Đơnít, chủ tịch công ty anh em Đơnít.

G.Picốt, phó chủ tịch tổng công ty tín dụng công thương nghiệp.

Xtécnơ, quản trị ngân hàng Pari và Hà Lan.

Đờ Tơragômanh, quản trị ngân hàng tín dụng ruộng đất Pháp.

Và anh em Hônbéc nổi tiếng, có tên trong tất cả những xí nghiệp khai thác ở Đông Dương.

TƯ BẢN NƯỚC NGOÀI Ở ĐÔNG DƯƠNG

Chúng tôi không có những thống kê chính xác về tư bản nước ngoài đầu tư ở Đông Dương. Nhưng một vài số liệu dưới đây cũng đủ chứng tỏ sự tiến triển của tư bản nước ngoài:

Nhật xuất khẩu sang Đông Dương:

2.455.231 yên trong nǎm 1923

4.214.889 1924

6.382.512 1925

và nhập từ Đông Dương:

15.329.699 yên trong nǎm 1923

25.077.436 1924

62.272.000 1925

Nǎm 1924, 101 tàu Anh cập cảng Sài Gòn với 341.364 tấn hàng hóa (gần bằng nửa tổng số trọng tải hàng hoá Pháp lúc đó là 724.874 tấn), và 179 tàu Anh đã rời cảng Sài Gòn với 335.203 tấn hàng hoá. Cũng trong nǎm đó, 242 tàu của nước Anh đã cập cảng Hải Phòng và rời cảng đó với 285.441 tấn hàng hoá.

Nǎm 1926, những quan hệ thương mại của Anh với Đông Dương về mặt xuất khẩu là 323.667 xtéclinh, về mặt nhập khẩu là 328.824 xtéclinh.

Nǎm 1925, Mỹ bán cho Đông Dương 1.125.047 đồng hàng hoá và mua của Đông Dương 28.568 đồng nguyên liệu.

Xuất khẩu và nhập khẩu của Mỹ với Đông Dương trong nǎm 1926 được đánh giá là 1.434.049 đồng cho xuất khẩu và 211.877 đồng cho nhập khẩu.

ĐỐI KHÁNG THỰC DÂN Ở ĐÔNG DƯƠNG

Nước Nhật đã nhiều lần gửi những “Phái đoàn tuyên truyền”, “Phái đoàn nghiên cứu” hoặc “Phái đoàn thương mại” đi khắp Đông Dương. Mặc dù người Pháp thực tình không ưa những ông khách đáng nghi ngờ đó nhưng họ vẫn buộc lòng phải tỏ ra niềm nở, phải tiếp đón những phái đoàn ấy một cách long trọng và đưa họ đi tham quan khắp nơi. Những cuộc du hành ấy của những đại biểu Nhật làm cho chủ nghĩa đế quốc Pháp không yên tâm không những về phương diện kinh tế mà cả về phương diện chính trị. Vì mỗi khi có một cuộc thǎm viếng như vậy thì người An Nam hình như đột nhiên bừng tỉnh nhớ đến tình cảnh bị áp bức của mình, tình cảnh bị áp bức của “những người anh em họ của mình tại đế quốc mặt trời mọc”, và cũng nhớ đến khẩu hiệu “Châu á của người châu á”.

Người Nhật Bản đòi một biểu thuế quan được ưu đãi. Người Pháp không muốn cho người Nhật được hưởng như vậy, nhưng cũng không dám công khai từ chối.

Những cuộc thương lượng đang diễn ra giữa Chính phủ Nhật và Chính phủ Pháp về việc Nhật yêu cầu được tô nhượng những mỏ sắt ở Cao Miên.

Để chứng minh rằng mình chú ý nhiều đến Đông Dương, Chính phủ Nhật vừa mới đổi lãnh sự quán Hải Phòng của mình thành Tổng lãnh sự quán Bắc Kỳ. Ngược lại nước Pháp lại không cho phép Trung Quốc có quyền gửi những lãnh sự sang Đông Dương để bảo vệ quyền lợi của nửa triệu người Trung Quốc sinh sống ở đó.

Nǎm vừa qua ông M. Uynxtơn, thư ký ngân khố Oasinhtơn, đã đưa ra ý kiến rằng, vì nước Pháp không thể trả được nợ của mình mà nước Mỹ lại cần nhiều cao su, và Đông Dương thì lại có nhiều đất trồng cao su, cho nên thật rất tốt cho tất cả mọi người nếu người Pháp tô nhượng cho nước Mỹ – thay cho việc trả nợ – một vài triệu hécta đất đỏ (tháng 8 nǎm 1926).

Ông Uynxtơn đã được nhiều nghị sĩ của thượng nghị viện và hạ nghị viện Pháp tán thành. Một vài tờ báo Pháp cũng ủng hộ ý kiến của ông ta.

Với sự ủng hộ của chủ nghĩa đế quốc Anh, nước Xiêm cũng đưa ra những yêu sách với người Pháp ở Đông Dương. Chẳng hạn, ngày 31-7-1926, nước Pháp phải ký những hiệp nghị thừa nhận nước Xiêm có một chế độ quan thuế và thuế khoá độc lập, thừa nhận những quyền tự do rộng rãi cho những công dân Xiêm ở Đông Dương.

SỰ BÓC LỘT NGƯỜI AN NAM

Nếu người Pháp thấy lợi nhuận và tư bản của họ tǎng lên nhanh chóng, thì người An Nam cũng thấy sự nghèo khổ và những đảm phụ mình phải chịu cũng tǎng lên nhanh chóng.

Tổng ngân sách toàn Đông Dương do những người bản xứ đóng góp đã tǎng lên như sau:

1913 57.370.000 đồng

1915 62.230.000 –

1917 63.860.000 –

1920 70.170.000 –

1921 84.760.000 –

1922 87.120.000 –

1923 88.120.000 –

1924 89.830.000 –

Hơn nữa người An Nam còn phải đóng góp đầy đủ cho những ngân quỹ địa phương nữa: 17.800.000 đồng cho ngân quỹ Nam Kỳ, 18.200.000 đồng cho ngân quỹ Bắc Kỳ, v.v.. Ngoài ra họ còn phải đóng góp cho những khoản chi tiêu của các cơ quan thuộc địa ở chính quốc. Nǎm 1927, những số tiền đóng góp ấy là:

Chi tiêu quân sự … 130.000.000 đồng

Hàng không quân sự … 700.000 –

Trường học thuộc địa … 225.000 –

Cơ quan kinh tế … 880.000 –

Viện nghiên cứu thuộc địa … 302.000 –

Cơ quan thanh tra thuộc địa.. 240.000 –

Hội đồng tối cao của các thuộc địa 20.000 –

Ngoài những khoản thuế khoá và đảm phụ ấy, người bản xứ còn buộc phải mua quốc trái, buộc phải quyên góp để khôi phục đồng phrǎng, để giúp đỡ những miền bị tàn phá, v.v..

Khi đã thấy rõ diện tích bao la của phần ruộng đất bị chế độ thực dân chiếm đoạt và tiến độ đi lên của thuế má, thì thật là thừa nếu nói thêm rằng nông dân An Nam đang ở trong những điều kiện cùng khổ không thể tưởng tượng được.

Từ nǎm 1914 đến 1924, giá sinh hoạt tǎng thêm 47%, nhưng tiền lương của công nhân hầu như vẫn đứng nguyên tại chỗ.

Công ty than đá Bắc Kỳ chiếm 21.900 hécta đất mỏ và sử dụng 16.500 công nhân bản xứ. Với tư bản 16 triệu phrǎng, nǎm 1925 công ty đó đã kiếm được 35 triệu phrǎng tiền lời, trong khi đó, người thợ mỏ mỗi ngày chỉ lĩnh được 25 xu, tức là mỗi tấn được lĩnh 2,27 phrǎng. (Đàn bà được lĩnh 20 xu, trẻ em được lĩnh từ 10 đến 15 xu).

Công nhân làm trong các nhà máy bông vải sợi ở Bắc Kỳ làm suốt ngày từ 6 giờ sáng đến 9 giờ tối được lĩnh 15 xu.

Công nhân nông nghiệp trong các đồn điền cao su Bà Rịa cứ mỗi hố được lĩnh 6 xu. Do công việc khó khǎn và khí hậu oi bức, mỗi ngày một công nhân chỉ đào được 2 hố là nhiều, thành thử tiền công của họ được khoảng 12 xu.

Mỗi công nhân cạo mủ cao su làm trong công ty nông nghiệp Xuygiana phải phụ trách 9 hécta, nghĩa là từ 900 đến 1.500 cây cao su mới được lĩnh số tiền công nhật từ 15 đến 20 xu.

Một sắc lệnh ra ngày 11-11-1918 quy định rằng lao động của trẻ em không được vượt quá 10 giờ một ngày.

Về mặt thương nghiệp, với doanh số hằng nǎm là 5 tỷ, Đông Dương có 50 nghìn tiểu thương người An Nam (22 nghìn người ở Nam Kỳ), thương nghiệp lớn và trung bình nằm trong tay những người nước ngoài.

VÔ SẢN HÓA NGƯỜI BẢN XỨ

Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản thực dân ở Đông Dương đã tạo ra ở xứ đó hai giai cấp vô sản, giai cấp vô sản công nghiệp và giai cấp vô sản nông nghiệp.

Đa số công nhân công nghiệp làm trong các hầm mỏ và vận tải. ở Bắc Kỳ có khoảng 30 nghìn thợ mỏ chia ra như sau:

15.500 trong những hầm mỏ ở Hòn Gai

2.500 trong những hầm mỏ ở Bắc Cạn

1.500 trong những hầm mỏ ở Đông Triều

1.200 trong những mỏ than ở Bắc Kỳ

1.200 trong vùng đất sở hữu Kế Bào

1.200 trong những hầm mỏ ở Tràng Đà (tỉnh Tuyên Quang)

900 làm thuê cho công ty hầm mỏ Bắc Kỳ

900 trong những hầm mỏ ở Hà Nam và Hoà Bình

900 trong những mỏ thiếc ở Cao Bằng.

Ngành đường sắt có khoảng 11.500 công nhân, trong đó có 3.750 công nhân làm trên con đường Bắc Kỳ – Vân Nam (2.600 người An Nam và 1.150 người Trung Quốc).

Trong 65 nhà máy xay xát gạo lớn nhỏ ở Nam Kỳ có khoảng 7.000 công nhân, chưa kể một số lớn nhân công phụ làm công nhật (những người đánh xe, chở thuyền, v.v.).

Sau đó là:

2.000 công nhân trong những nhà máy dệt Nam Định

1.000 – – trong những xưởng sửa chữa tàu thuỷ ở Hải

Phòng

800 – – trong xưởng tàu Sài Gòn

800 – – trong hãng rượu Phôngten

600 – – trong nhà máy cơ khí Hải Phòng

600 – – trong nhà máy in Viễn Đông

650 – – trong nhà máy gạch ngói Đông Dương.

Những nhà máy, công xưởng sử dụng 400 công nhân thì rất nhiều, đó là: nhà máy xi mǎng Poóclan, xí nghiệp ácđen, nhà máy điện, những xưởng máy của công ty chuyên chở và dắt hàng, v.v..

Một trong những đồn điền cao su lớn ở Nam Kỳ sử dụng trên 3.600 công nhân nông nghiệp, một đồn điền khác sử dụng 3.300 công nhân, v.v..

ở Bắc Kỳ tuy rằng những đồn điền đều hẹp hơn, nhưng số những công ty hoặc công ty nông nghiệp Pháp sử dụng trên 100 công nhân thì có rất nhiều. Thường tất cả những thành viên trong 1 gia đình đều làm cho cùng 1 đồn điền, lúc đó người ta coi gia đình là một đơn vị tức là “gia đình tá điền”. Những gia đình đó gồm từ 2 đến 10 người. Trong số những doanh nghiệp nông nghiệp chúng tôi xin nêu:

Đồn điền Vielê 300 gia đình

Công ty thuốc lá Đông Dương 200 gia đình và 400 công nhân

Bonnơpho 200 gia đình

Guyôm 200 –

Huytlê 140 –

Râynôn 130 –

Kêple 100 – và 100 công nhân

Bécđê 100 –

Cácđê 110 –

Công ty nông lâm Yên Mỹ 600 công nhân

Cliét, Mahê và công ty 500 –

Bôren 150 –

Bà goá Halaba 150 –

Lơgiơn 150 –

Lêvi 100 –

v.v..

LAO ĐỘNG KHỔ SAI ĐỐI VỚI NGƯỜI BẢN XỨ

Trước khi người Pháp đến Đông Dương thì lao động khổ sai dưới hình thức lao dịch đã tồn tại. Nhưng chúng tôi đặt vấn đề lao động cưỡng bức dưới một hình thức khác hơn và hiện đại hơn.

Mặc dù Đông Dương có một dân số lớn, nhưng chủ nghĩa tư bản thuộc địa vẫn đang đứng trước tình hình khó khǎn khó tìm được đủ nhân công. Vấn đề là như sau:

Nông dân Cao Miên và Lào phản ứng mạnh mẽ chống lại công việc nặng nhọc mà chủ đồn điền Pháp muốn cưỡng bức họ tiến hành.

Nam Kỳ với đất đai khá màu mỡ và dân số thưa thớt không cung cấp được nhân công rẻ tiền.

Thế là chỉ còn người An Nam ở Trung Kỳ và Bắc Kỳ bị sự cùng khổ đẩy đến chỗ phải lao động trong những điều kiện nặng nề, và họ là đạo quân hậu bị cho thị trường lao động.

Nhưng hiện nay số cầu về nhân công lại lớn hơn số cung về nhân công:

1. Chủ nghĩa quân phiệt Pháp cần có những người bản xứ cho những trại lính của nó.

2. Những đồn điền Pháp ở châu úc cần có những nô lệ cho đồn điền của chúng.

3. Những chủ đồn điền Pháp ở Nam Kỳ, Cao Miên, Trung Kỳ, Lào và Bắc Kỳ, tất cả bọn họ đều cần có nhân công giá rẻ.

4. Những hầm mỏ, nhà máy, xưởng thợ của Pháp cần có một dự trữ dồi dào về nhân lực cho những xí nghiệp của họ.

5. Chính phủ thuộc địa cần có những người đàn ông đi làm tạp dịch.

Công việc đê điều ở Bắc Kỳ cần 60.000 người. 35.000 người sẽ là cần thiết cho những đồn điền ở Nam Kỳ và 15.000 người cho những đồn điền ở Cao Miên (không kể những người đã có công ǎn việc làm), 10.000 người cho những đồn điền ở châu úc, v.v.. Nếu kể thêm những yêu cầu về mặt quân sự và công nghiệp thì cần đến khoảng 200.000 người có sẵn để thuê mướn. Vì sao khó mà tìm ra 200.000 người trong một đất nước có một dân số là 12 triệu người (Trung Kỳ và Bắc Kỳ).

Trước hết cần phải có những người vạm vỡ, trong khi đó đa số người An Nam lại ốm yếu do sự cùng khổ về sinh lý, (mỗi nǎm có 2 triệu trong số 5 triệu người An Nam ở Trung Kỳ bị đau mắt). Sau nữa là vì sợ bị ngược đãi, người An Nam chỉ vào làm trong những xí nghiệp Pháp khi họ bị thúc ép bởi sự cùng khổ đến cực độ.

Chính vì vậy mà người Pháp thường nói đến chuyện “thiếu nhân công” và họ nghĩ đến việc đưa ra những “thông báo về nhân công”, nghĩa là việc tuyển mộ cưỡng bức hoặc “chế độ tình nguyện” cưỡng bức được thi hành trong cuộc chiến tranh 1914-1918, nhằm mộ lấy 10.000 người An Nam gửi ra mặt trận ở Pháp và ở Salôních 1 .

SỢ HÃI CÁCH MẠNG

Mặc dù có hoạt động bề ngoài về kinh tế, và mặc dù làm ra vẻ an tâm, những tên đế quốc Pháp ở Đông Dương luôn luôn bị ám ảnh bởi ý nghĩ về một cuộc cách mạng sắp tới. Việc đã tạo ra một giai cấp vô sản và dạy cho người An Nam biết sử dụng súng ống là một bằng cớ chứng tỏ chủ nghĩa đế quốc tự mình đào hố để chôn mình.

Hiện nay chỉ một mảnh truyền đơn do một học sinh nhỏ phân phát cũng đủ để làm cho toàn bộ Chính phủ thuộc địa phải đề phòng, và cái bóng của một phong trào nhân dân cũng đủ để làm cho những phiếu cổ phần thuộc địa bị sụt giá trên thị trường tài chính.

Cái mà bọn đế quốc thường sợ hãi đó là sự tuyên truyền chủ nghĩa cộng sản.

Nói chuyện ở Côngxtǎngtin, ngày 22-4-1927, ông Xarô nguyên là toàn quyền Đông Dương, Bộ trưởng Bộ Thuộc địa và Bộ trưởng Bộ Nội vụ đã nói: “… Và chủ nghĩa cộng sản Pháp, theo lệnh của nước ngoài đều nhằm vào tất cả những điểm liên kết đời sống dân tộc của chúng ta để tuần tự làm hư hỏng tất cả những bánh xe trong bộ máy, huỷ hoại những cơ quan, phá vỡ những tổ chức, phá hoại những cơ chế hoạt động của chúng ta, đặc biệt là trong những nǎm gần đây nó ra công tìm cách bẻ gãy những chìa khoá quan trọng của sự nghiệp thực dân vĩ đại của chúng ta. Chính phủ không thể dung túng những kích động cách mạng, nội chiến, sự sụp đổ của quốc gia. Chính phủ đã trừng trị nó, và sẽ còn trừng trị nữa…”.

Khi nhận chức toàn quyền, Varen – đảng viên Đảng Xã hội – tuyên bố rằng nhiệm vụ đầu tiên của mình là dùng mọi biện pháp để ngǎn cản sự thâm nhập của công cuộc tuyên truyền chủ nghĩa cộng sản vào Đông Dương.

Tuy được bảo vệ bằng một đội quân 25.000 người (con số chính thức là 21.614 người), một hạm đội 27 tàu chiến (con số chính thức là hai pháo hạm, 4 ngư lôi hạm, 21 tàu có vũ trang), chủ nghĩa đế quốc Pháp ở Đông Dương luôn luôn lo sợ cho số mệnh của mình. Nǎm 1928, khoản chi phí quân sự của ngân sách Bộ Thuộc địa ngốn mất 393 triệu phrǎng, như thế là nhiều hơn nǎm 1927 đến 81 triệu phrǎng.

Đến tháng 6, người ta gửi sang Đông Dương ông Mannơcanh, nguyên là Cảnh sát trưởng quận Xen và là viên chức đặc biệt của tổng nha cảnh sát, để lãnh đạo cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cộng sản ở Đông Dương, theo lời của bản thông cáo chính thức.

Khi trở về Pháp, ông toàn quyền Varen đã có những cuộc hội đàm đặc biệt với các ông bộ trưởng Bộ hải quân và Bộ chiến tranh về vấn đề tǎng cường bảo vệ Đông Dương.

Tháng 7 nǎm 1927, tướng Clôđen, uỷ viên hội đồng chiến tranh tối cao sang Bắc Kỳ để nghiên cứu tại chỗ những biện pháp quân sự cần được tiến hành.

Người ta vừa thành lập ở Đông Dương 2 đại đội lính pháo thủ, 4 tiểu đoàn lính sơn cước, một cụm pháo binh gồm 3 khẩu đội, một phi đội và những phân đội xe tǎng, những phân đội súng máy khác.

Luôn luôn nói đến chủ nghĩa cộng sản, chủ nghĩa đế quốc đã tuyên truyền cho chủ nghĩa cộng sản, mặc dù nó không muốn và không biết như vậy.

——————————–

Tài liệu tiếng Pháp, lưu tại Cục lưu trữ Vǎn phòng Trung ương Đảng.
cpv.org.vn