Tag Archive | Văn hóa – Xã hội

Gửi Đoàn Chủ tịch Quốc tế nông dân (27-10-1925)

Các đồng chí thân mến,

Những thư của các đồng chí đề các ngày 1, 2, 13, 17, 18, 30 tháng 8 và các ngày 1, 2, 5, 7, 9 tháng 9 đến tôi cùng vào một ngày: ngày 14 tháng 10.

1/ Số tiền các đồng chí gửi cho sẽ do đồng chí Bôrôđin xử lý theo sự chỉ dẫn của các đồng chí. Bản thanh toán về số tiền đó sẽ được gửi đến các đồng chí sau. Việc xuất bản các tài liệu, việc cử người đi tuyên truyền, và việc gửi đều đặn các tin tức cho các đồng chí sẽ được thực hiện. Song việc cử người trong số các đồng chí đi Mátxcơva – theo ý kiến của tôi – thì chưa được vì tất cả các đồng chí chúng ta bây giờ đang cần ở đây. Không có ai trong số họ biết tiếng nước ngoài.

2/ Ban Chấp hành Trung ương Quốc dân đảng không hề cử một đoàn đại biểu nông dân nào. Không ai biết ông Cho-ngao là ai.

3/ Tôi gửi đến các đồng chí một báo cáo về công tác nông dân ở tỉnh Quảng Đông. Bản báo cáo đó trả lời những vấn đề trong thư của các đồng chí đề ngày 5-9-25.

4/ Thư gửi Quốc tế thứ hai 36 đǎng ở tờ “Dân quốc nhật báo”, cơ quan của Quốc dân đảng; và báo “Con đường công nhân”.

5/ Tôi yêu cầu các đồng chí gửi cho chúng tôi những tài liệu bằng tiếng Pháp hoặc tiếng Anh, nhưng không bằng tiếng Đức bởi vì chúng tôi không hiểu tiếng Đức.

Xin gửi các đồng chí lời chào cộng sản .

Quảng Châu, ngày 17-10 NILỐPXKI

———————–

Tài liệu tiếng Anh, lưu tại Viện Hồ Chí Minh
cpv.org.vn

Gửi Đoàn Chủ tịch Quốc tế nông dân (5-11-1925)

Các đồng chí thân mến,

Những báo cáo và nghị quyết sau đây của Phân bộ Quốc dân đảng Quảng Đông sẽ cho thấy rằng:

1/ Nông dân bị sự áp bức của bọn kỳ hào, bọn kẻ cướp, bọn tham quan ô lại, bọn hương dũng, bọn quân phiệt, bọn địa chủ, bọn cho vay nợ, bọn độc quyền.

2/ Những yêu sách mà họ nhất trí đưa ra là giảm thuế, dẹp yên bọn cướp, giải tán hương dũng.

3/ Học vấn của họ nói chung là rất thấp.

4/ Do truyền thống gia trưởng, người đại diện cho tất cả các thành viên trong gia đình mình, nên người phụ nữ nông dân không- hoặc không được phép – tham gia hoạt động của tổ chức.

5/ Họ tán thành cương lĩnh của Đảng Cộng sản (1) khi nỗi lo của họ về “xã hội hoá phụ nữ” được xua tan.

6/ Họ có thể chịu sự hy sinh to lớn để bảo vệ giai cấp của họ hoặc để ủng hộ Chính phủ cách mạng.

7/ Phong trào đang được tổ chức và được lãnh đạo bởi các đồng chí cộng sản của chúng ta dưới danh nghĩa Quốc dân đảng.

8/ Bức thư của đồng chí gửi cho tôi (ngày 17 tháng 8) chỉ rõ rằng: “Hiện thời sự tham gia của Hội nông dân Trung Quốc vào Quốc tế Nông dân chỉ thuần tuý mang tính chất tuyên cáo. Chúng ta sẽ phải làm gì để cho sự tham gia đó trở thành thực sự ?

9/ Tôi chưa chính thức liên lạc được với Ban Chấp hành Trung ương Quốc dân đảng 1 như đồng chí đã chỉ thị, tôi sẽ hỏi các đồng chí của chúng ta ở đấy xem tôi được giới thiệu chính thức thì hơn hay làm việc thông qua các đồng chí Trung Quốc của chúng ta thì hơn. Trong thư sau, tôi sẽ báo cáo về vấn đề đó.

10/ Tôi không nhận được một tuyên ngôn nào từ đồng chí Hanlơ.

11/ Tôi không nhận được một đề cương nào về vấn đề nông dân Trung Quốc như đồng chí nói là đã gửi cho tôi.

12/ Cùng với bản báo cáo này, tôi gửi tới đồng chí một vài tấm ảnh và một vài tập sách mỏng do Phân bộ nông dân Quốc dân đảng xuất bản.

Xin gửi lời chào cộng sản.

Quảng Châu, ngày 5-11-1925. NILỐPXKI (NAQ)

————————–

Tài liệu tiếng Anh, lưu tại Viện Hồ Chí Minh
cpv.org.vn

Thư gửi Đoàn Chủ tịch Quốc tế nông dân (3-12-1925)

Kính gửi Đoàn Chủ tịch Quốc tế Nông dân,

Các đồng chí thân mến,

1/ Tôi đã hỏi ý kiến C.E.C 1 của C.C.P 2 vấn đề về những quan hệ trực tiếp của tôi với C.E.C của Quốc dân đảng với tư cách là đại diện chính thức của các đồng chí. Các đồng chí của chúng ta nói rằng điều đó là không cần thiết, bởi vì tôi có thể có tất cả mọi thông tin liên quan tới vấn đề nông dân thông qua các đồng chí đảng viên cộng sản Trung Quốc của chúng ta. (Mặc dù Chủ tịch Nông hội ở trong Quốc dân đảng, tất cả mọi công việc – tổ chức cũng như tuyên truyền đều do các đồng chí của chúng ta làm).

2/ Quốc dân đảng đang xuất bản tạp chí “Nông dân” bán nguyệt san, bắt đầu từ tháng này. Số đầu tiên sẽ ra mắt trong vài ngày tới. Tôi sẽ gửi tới các đồng chí.

3/ Tiếp theo là phong trào nông dân diễn ra hằng ngày (trên Nhật báo Quảng Châu) 3 và tranh ảnh đã được xuất bản trong cuộc họp nông dân tháng 5 vừa qua.

4/ Xin gửi cho tôi tư liệu về phong trào nông dân quốc tế (bằng tiếng Pháp hoặc tiếng Anh) để dịch và đǎng tải trên tạp chí Quốc dân đảng.

Gửi các đồng chí lời chào cộng sản.

Quảng Châu, ngày 3-12-25. Nilốpxki (naq)

—————————

Tài liệu tiếng Anh, lưu tại Viện Hồ Chí Minh
cpv.org.vn

Lênin và các dân tộc thuộc địa (1925)

Cho tới ngày Lênin mất, vẫn còn có nhiều dân tộc thuộc các màu da chưa hiểu rõ Lênin là ai và nước Nga ở đâu. Bởi vì chủ nghĩa đế quốc thực dân cố ý không cho họ biết điều đó. Nhưng tại những nơi xa xǎm hẻo lánh ở Đông Dương, người ta cũng đã nghe nói có một dân tộc ở miền Bắc xa xôi đã đánh đuổi được bọn áp bức và tự quản lý lấy mình. ở các nơi xa xǎm hẻo lánh nhất, người ta cũng biết rằng nước đó là nước Nga, và Lênin là người ưu tú nhất của nước đó.

Không phải là không có lý do khi Trường đại học Bắc Kinh tổ chức thǎm dò ý kiến xem ai là người ưu tú nhất trên thế giới, thì ai cũng trả lời: người ưu tú nhất trên thế giới là Lênin.

Từ lâu, nhân dân bị áp bức ở phương Đông đã được biết rằng con người vĩ đại đó, sau khi đã giải phóng nước Nga, còn muốn giải phóng tất cả các dân tộc khác nữa. Điều này cũng đủ để kích thích lòng ngưỡng mộ sâu sắc và phấn khởi đối với lãnh tụ Lênin. Các dân tộc da đen và da vàng biết rằng Lênin vĩ đại đã kêu gọi những người da trắng đấu tranh để giải phóng các dân tộc thuộc các màu da bị áp bức thoát khỏi bọn bóc lột.

Thật dĩ nhiên là tất cả những hy vọng của người nô lệ bị áp bức ở các nước thuộc địa vào một tương lai tốt đẹp đều gắn liền với tên tuổi của Lênin – một con người đặc biệt mà trong thời gian đầu, thậm chí còn có nhiều người chưa tin là có. Rất dễ hiểu rằng tin Lênin mất cách đây một nǎm đã gây cho quần chúng các nước thuộc địa một ấn tượng không sao tả nổi, không sao diễn tả được.

Nhưng dần dần những người bị áp bức sống trong cảnh tǎm tối

đó được biết tin về Đảng Cộng sản, về tổ chức gọi là Quốc tế Cộng sản. Nhất là họ càng ngạc nhiên khi được tin rằng Đảng và tổ chức này đều do Lênin sáng lập ra, và mặc dù Lênin đã mất, nhưng còn có Đảng Cộng sản và Quốc tế Cộng sản tiếp tục sự nghiệp của Người.

Các dân tộc da đen và da vàng kém phát triển chưa phải đã nhận ra ngay rằng Lênin và Đảng Cộng sản chỉ là một. Nhưng khi họ biết điều đó thì họ sung sướng vô hạn. Họ bắt đầu hiểu rằng sự nghiệp của Lênin không bao giờ mất, và họ vẫn hy vọng được giải phóng vì vẫn còn Đảng của Lênin.

Vì vậy, nǎm vừa qua, kể từ ngày Lênin mất, ảnh hưởng của Đảng Cộng sản được lan rộng trong nhân dân các nước thuộc địa và nhân dân những nước đó hết sức chú ý đến Đảng Cộng sản.

Khi Lênin còn sống, nhân dân bị áp bức coi Người là người giải phóng mình. Khi Người mất đi, họ tự hỏi nhau: “Lênin đã mất rồi, chúng ta biết làm sao bây giờ?”. Họ hỏi nhau: “Tìm đâu ra những người có đủ tinh thần dũng cảm và nhân từ như Lênin để chǎm lo đến việc giải phóng những người nô lệ ở các nước thuộc địa?”.

Trong nǎm qua, nhân dân bị áp bức ở các nước phương Đông đã nhận ra rằng, họ đã tìm thấy một Đảng lớn mạnh lấy tên là Đảng Lênin để thay thế cho một vài cá nhân. Và bây giờ, nhân dân các nước thuộc địa đều đặt hy vọng được giải phóng vào Đảng này cũng như một nǎm trước đây đã đặt hy vọng vào Lênin.

Khi còn sống, Lênin là người thầy, người cha của nhân dân bị áp bức. Sau khi mất, Người là ngôi sao chỉ đường tiến tới sự nghiệp giải phóng vĩ đại của nhân dân bị áp bức.

Lênin sống mãi trong lòng mọi người dân nô lệ ở các nước thuộc địa!

NGUYỄN ÁI QUỐC Đại diện Đông Dương ở Quốc tế Cộng sản

—————————

Báo Công nhân Bacu (Liên Xô), số 16, nǎm 1925
cpv.org.vn

Việt Nam vững bước tiến cùng thời đại

(VOV) – Chính phủ và nhân dân Việt Nam đang nỗ lực, sáng tạo để vượt qua khó khăn, thách thức, tiếp tục xây dựng và bảo vệ đất nước.

Tối 31/8 tại Trung tâm Hội nghị quốc tế 11 Lê Hồng Phong, Hà Nội, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cùng phu nhân chủ trì Tiệc chiêu đãi Đoàn Ngoại giao nhân dịp kỷ niệm 67 năm Quốc khánh 2/9.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng phát biểu tại Tiệc chiêu đãi

Tham dự có các Phó Thủ tướng: Nguyễn Xuân Phúc và Vũ Văn Ninh; lãnh đạo các bộ, ban, ngành, đoàn thể Trung ương và Hà Nội. Về phía Đoàn Ngoại giao có Ngài Jorge Rondon Uzcategui, Đại sứ Cộng hòa Bolivar Venezuela, quyền Trưởng Đoàn Ngoại giao cùng đông đảo các vị Đại sứ, Đại biện, Trưởng Đại diện các Tổ chức quốc tế tại Hà Nội….

Thay mặt Chính phủ và nhân dân Việt Nam, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nhiệt liệt chào mừng các vị Đại sứ, Đại biện, Trưởng Đại diện các Tổ chức quốc tế đến dự cuộc gặp thân mật kỷ niệm 67 năm Quốc khánh nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nhấn mạnh: Ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã long trọng đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, mở ra một kỷ nguyên mới của dân tộc Việt Nam – kỷ nguyên của độc lập, tự do và tiến bộ xã hội.

Thủ tướng nhấn mạnh: Trong 67 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh, nhân dân Việt Nam đã anh dũng, kiên cường vượt qua muôn vàn khó khăn gian khổ để giành độc lập, tự do, thống nhất Tổ quốc, xây dựng đất nước ngày càng phát triển, giàu mạnh, hội nhập quốc tế thành công và đoàn kết, chung sức, vững tin, vững bước tiến cùng thời đại, xây dựng một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Ngài Jorge Rondon Uzcategui, Đại sứ Cộng hòa Bolivar Venezuela, quyền Trưởng Đoàn Ngoại giao phát biểu

Chính phủ và nhân dân Việt Nam đang nỗ lực, sáng tạo để vượt qua những khó khăn, thách thức, tiếp tục xây dựng và bảo vệ đất nước, trong đó ưu tiên ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát, duy trì mức tăng trưởng hợp lý, bảo đảm an sinh và phúc lợi xã hội, giữ vững quốc phòng an ninh, chủ quyền quốc gia và trật tự, an toàn xã hội.

Thủ tướng bày tỏ vui mừng trước quan hệ giữa Việt Nam và cộng đồng quốc tế có bước phát triển mới, tiếp tục được củng cố, phát triển và đi vào chiều sâu.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cho rằng: Với phương châm “là bạn, là đối tác tin cậy, là thành viên có trách nhiệm của Cộng đồng quốc tế”, Việt Nam đang chủ động, tích cực hội nhập toàn diện với thế giới và khu vực, có nhiều đóng góp tại các diễn đàn quốc tế như: ASEAN, Diễn đàn Cấp cao Đông Á (EAS), Phong trào không liên kết, các diễn đàn trong khuôn khổ Liên Hợp Quốc. Việt Nam tiếp tục thực hiện những cam kết gia nhập WTO, thúc đẩy hợp tác kinh tế khu vực, tham gia đàm phán Hiệp định đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP)…

Thủ tướng gửi lời cảm ơn chân thành tới Chính phủ và nhân dân các nước trên thế giới, các vị Đại sứ, Đại biện và Trưởng đại diện các Tổ chức Quốc tế về những tình cảm tốt đẹp, sự ủng hộ quý báu, sự hợp tác có hiệu quả đã dành cho nhân dân và đất nước Việt Nam trong thời gian qua. Trên con đường phát triển và hội nhập, cùng với những nỗ lực phát huy tối đa nguồn lực trong nước, Việt Nam mong muốn tiếp tục nhận được sự ủng hộ, giúp đỡ và hợp tác nhiều hơn nữa của bạn bè quốc tế.

Thủ tướng khẳng định: “Chúng tôi tin tưởng chắc rằng hợp tác, hỗ trợ và giúp đỡ lẫn nhau, coi trọng lợi ích của nhau là nền tảng, là phương cách căn bản, quan trọng và hiệu quả nhất để chúng ta cùng nhau vượt qua khó khăn vì mục tiêu hòa bình và phát triển”.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và phu nhân chúc tiệc các vị khách

Thay mặt Đoàn Ngoại giao, Ngài Jorge Rondon Uzcategui, Đại sứ Cộng hòa Bolivar Venezuela, quyền Trưởng Đoàn Ngoại giao đã gửi lời chúc mừng nồng nhiệt nhất tới Nhà nước và nhân dân Việt Nam nhân dịp kỷ niệm 67 năm ngày Quốc khánh nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam; bày tỏ chia sẻ niềm tự hào dân tộc với nhân dân và Chính phủ Việt Nam về khoảnh khắc Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc lời Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam…

Ngài Jorge Rondon Uzcategui tin tưởng Việt Nam tiếp tục giành chiến thắng trong công cuộc đưa đất nước ngày càng thịnh vượng, trở thành một nước phát triển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa; khẳng định rất nhiều các quốc gia khác cùng hợp tác với Việt Nam để cùng phát triển.

Ngài Jorge Rondon Uzcategui bày tỏ: “Chúng tôi nhận thấy quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam với các nước đang phát triển từng ngày. Nhiều Đại sứ quán mới được mở ra tại Hà Nội và Việt Nam cũng đã thiết lập các cơ quan ngoại giao mới trên toàn thế giới. Đồng thời Việt Nam đã xây dựng những nhịp cầu hữu nghị bền chặt, đoàn kết và hợp tác với nhiều khu vực. Có được chính sách ngoại giao chủ động như vậy là nhờ vị thế của Việt nam với tư cách là một đối tác đáng tin cậy, một thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, với những cam kết hội nhập quốc tế, hòa bình, hợp tác, phát triển và đa phương hóa.

Chúng tôi sẽ làm hết sức mình vì sự thịnh vượng và phát triển của nhân dân Việt Nam. Đây chính là sự tiếp nối cần thiết để thực hiện Tuyên ngôn trí tuệ của Chủ tịch Hồ Chí Minh và cũng là mong muốn của tất cả chúng ta: Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng, có quyền được sống, được mưu cầu hạnh phúc và tự do…/.

Thành Chung/VOVTV
vov.vn

Thư gửi đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Quốc dân đảng Trung Quốc (1926)

Kính gửi Đoàn Chủ tịch Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II Quốc dân đảng Trung Quốc,

Xin thưa, tệ nhân (2) là một người An Nam mất nước phải lưu vong bôn ba đến chốn này. May thay gặp lúc quý Hội họp Đại hội, tuyên bố viện trợ cho công cuộc giải phóng các dân tộc bị áp bức trên thế giới, không nén nổi sự vui mừng. Song “muốn bốc thuốc, trước hết phải biết bệnh”. Cho nên, tệ nhân yêu cầu quý Hội cho phép đến Hội nghị để bộc bạch tình cảnh đau khổ của đất nước kém cỏi chúng tôi, mong những người muốn giúp chúng tôi tiện nghiên cứu để tìm phương châm. Nước tôi sẽ may mắn biết bao! Cách mạng sẽ may mắn biết bao! Trước khi ngừng lời, xin kính chúc:

Cách mạng Trung Quốc muôn nǎm!

Quốc dân đảng Trung Quốc muôn nǎm! (1)

Ngày 6 tháng 1 Trung Hoa dân quốc nǎm thứ 15
Lý THỤY

Địa chỉ liên lạc: Sứ quán Bôrôđin, ngài Trương Xuân Mộc 2 chuyển.

————————

Hoàng Tranh: Hồ Chí Minh và Trung Quốc, tiếng Trung Quốc, Nxb. Giải phóng quân, Bắc Kinh, 1987, tr.35
cpv.org.vn

Gửi đoàn chủ tịch quốc tế nông dân (13-1-1926)

Các đồng chí thân mến,

Tôi đã viết thư nhiều lần cho các đồng chí để xin các đồng chí tài liệu về nông dân bằng tiếng Pháp hay tiếng Anh cho tập san nông dân chúng tôi. Nhưng cho đến nay tôi không nhận được gì cả.

Tôi sẽ rất cảm ơn các đồng chí nếu gửi cho tôi nhật báo của Quốc tế Nông dân từ số 1 cho tới số hiện nay bằng tiếng Pháp hay tiếng Anh, để tôi có thể dịch sang tiếng Trung Quốc cho việc tuyên truyền của chúng tôi.

Cùng một chuyến thư, các đồng chí sẽ nhận được 2 tấm ảnh to của phong trào nông dân Hải Phòng, và những bài cắt ở báo.

Các đồng chí thân mến, xin nhận những lời chào cộng sản của tôi.

Quảng Châu 13-1-1926 NILỐPXKI
N.A.Q

———————–

Tài liệu tiếng Pháp, lưu tại Viện Hồ Chí Minh
cpv.org.vn

Bài phát biểu tại đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II Quốc dân đảng Trung Quốc (14-1-1926)

Thưa các đồng chí, thưa các anh em,

Chúng tôi vui mừng được gặp mặt và nói chuyện với các vị, đồng thời cũng rất cảm tạ chư vị đã chân thành hoan nghênh. Qua đó, chúng tôi hiểu rằng tư tưởng cách mạng đã thâm nhập vào toàn thể dân chúng, và đặc biệt là Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II này càng phát huy chủ nghĩa vĩ đại, chính sách vĩ đại của Tôn Tổng lý, để cùng với các dân tộc bị áp bức phấn đấu. (Vỗ tay).

Các đồng chí, chúng tôi muốn nói rằng, cách mạng cũng giống như khám bệnh vậy, trước hết phải biết cǎn nguyên của bệnh. Tất cả các dân tộc bị áp bức làm cách mạng là do mong muốn thoát khỏi nỗi thống khổ của dân tộc bị áp bức, cho nên tôi muốn trình bày về những nỗi thống khổ mà dân tộc An Nam đã phải chịu đựng.

Thưa các đồng chí,

Dân tộc An Nam chịu đau khổ đã sáu mươi nǎm, dân tộc An Nam bị xâm lược và áp bức đã sáu mươi nǎm. Chúng nó thường rêu rao rằng người Pháp chúng tôi đem vǎn hoá phương Tây đến, chúng tôi đối xử hoà bình với người An Nam các anh là vì chúng tôi muốn làm cho các anh được sung sướng. Nhưng sự thật là sáu mươi nǎm nay, chúng nó chỉ càng ngày càng áp bức thậm tệ nhân dân An Nam. Bây giờ xin nói qua một chút nhân dân An Nam đã cực khổ như thế nào trong sáu mươi nǎm qua để các đồng chí cách mạng ta được rõ.

Nỗi thống khổ thứ nhất mà người Pháp mang đến cho nhân dân An Nam chính là thuế thân. Bất cứ ai, từ mười tám tuổi trở lên, đều phải đóng thứ thuế này. Sau khi đóng thuế, Chính phủ phát cho một tấm thẻ để làm bằng chứng, không được để mất; nếu mất thì bị chúng bắt, đến khi nào nộp tiền lần thứ hai mới được tha. Chúng cho cảnh binh đi khám thẻ khắp mọi nơi mọi lúc, hầu như cứ một giờ khám xét một lần, vì thế dân chúng khổ không kể xiết. Đó là một kiểu người Pháp áp bức dân An Nam. Ngoài thuế thân ra, còn thuế nhà, thuế hàng hoá, v.v.. Không những nguồn lực kinh tế của người An Nam hoàn toàn bị người Pháp nắm giữ là chuyện đương nhiên, mà còn làm tǎng thêm gánh nặng cho người An Nam, khiến nhân dân An Nam không còn khả nǎng sinh tồn về kinh tế nữa. Tất cả đất đai của An Nam, đại bộ phận cũng bị người Pháp chiếm làm tài sản, người An Nam không được quyền lập nghiệp. Đại thể, một bộ phận là sở hữu Chính phủ, một bộ phận là đất đồn binh của người Pháp, một bộ phận là đất các giáo sĩ chiếm cứ. Chỉ có một phần rất nhỏ là đất thổ cư của người An Nam thì lại phải đóng thuế nhà.

Tôi có thể nêu một ví dụ để chứng minh sự tàn ác của ách áp bức của người Pháp. Như thuế thân, nǎm 1914, mỗi tháng tôi đóng mười phrǎng, nhưng đến nǎm ngoái, nǎm 1924, đã tǎng lên đến một trǎm phrǎng. Đủ thấy sự tàn ác của bọn xâm lược Pháp là thế nào. ấy là chưa kể ngoài công trái như ở nước Pháp, chúng còn bắt nhân dân An Nam phải mua hàng của Pháp như một thứ thuế hàng hoá. Hàng hoá đó là gì? Nhiều nhất là rượu do Pháp sản xuất. Chúng làm ra thứ rượu tồi tệ nhất rồi bắt dân An Nam mua. Dù anh là chính khách, nhà buôn, thợ thuyền hay dân cày gì gì, ít nhất mỗi người một chai. Không thể không mua. Ngoài rượu ra, còn một thứ tệ hại hơn, độc hơn, đó là phải mua thuốc phiện. Thuốc phiện có lẽ là một khoản lớn trong dự toán thu nhập của nước Pháp, chiếm đến một phần tư dự toán. Tính thành con số, mỗi nǎm là bốn trǎm triệu phrǎng, đủ thấy nỗi khổ của người An Nam. Nhưng sự

xâm lược của đế quốc Pháp không chỉ có thế. Chiến tranh lại là một chuyện lớn nữa. Hồi chiến tranh Âu châu, người Pháp bắt dân An Nam đi lính, tổng số trên mười vạn. Họ phải bỏ xác ngoài mặt trận chẳng được nhìn thấy quê hương. Cho nên, quả thật là nhân dân An Nam chẳng những phải nộp tiền mà còn phải nộp mạng cho chúng.

Còn một điểm nữa. Đế quốc Pháp một mặt áp bức dân tộc An Nam, mặt khác lại cấm những người anh em chống áp bức. Bởi vì chúng còn sang Trung Quốc dùng súng gươm giết những người anh em Trung Quốc của chúng tôi. Quả thật, đế quốc Pháp chưa bao giờ vừa lòng với sự áp bức của chúng, đã phải nộp thuế thân, còn bắt đóng thuế hàng hoá, đã mua rượu, còn bắt mua thuốc phiện, đã hy sinh tính mạng cho chúng mà chúng chẳng hề mảy may thương xót. Vậy mà người Pháp lại còn có một cách nữa làm khổ nhân dân An Nam, đó là làm thuê. Mỗi nǎm chúng bắt hàng mấy chục vạn người An Nam vào làm thuê trong các xưởng máy của Pháp. Hoàn toàn là làm trâu ngựa nô lệ cho chúng, không được một chút lợi lộc gì.

Thứ hai, người An Nam ở trên đất nước mình mà tuyệt đối không có quyền tự do ngôn luận, tự do xuất bản, ngay cả đi lại cũng chẳng được tự do, trong nước mình mà mình cũng không được tuỳ ý đi lại. Thí dụ, từ tỉnh này sang tỉnh khác phải có giấy thông hành mới được. Đi ra nước ngoài tất nhiên càng khỏi phải nói. Nếu làm trái thì phải xử tội rất nặng. Theo báo cáo của Chính phủ Pháp, mỗi xã hầu như tháng nào cũng có mấy trǎm người bị xử tội như vậy.

Về giáo dục, trước kia người An Nam học sách Trung Quốc, chịu ảnh hưởng vǎn hoá Trung Quốc. Từ ngày người Pháp chiếm An Nam, thấy người An Nam cũng giống người Trung Quốc, cho nên cũng ra lệnh học sách Trung Quốc. Không ngờ từ sau Cách mạng Tân Hợi 37 của Trung Quốc, thấy rằng cho tiếp tục học sách Trung Quốc thì không ổn, cho nên chúng đã không cho phép người An Nam đọc sách Trung Quốc và học chữ Trung Quốc nữa. Chẳng những thế, chúng càng không muốn để cho người An Nam biết tình hình gần đây của Trung Quốc, bởi vì điều khiến bọn đế quốc không vui hơn cả là ý thức dân tộc của nhân dân bị áp bức.

Các đồng chí! Cách xâm lược của bọn đế quốc chúng nó, về vật chất là dùng đủ loại thuế má và các chất độc như thuốc phiện, về tinh thần là chính sách ngu dân; đó là những âm mưu thâm độc của chúng để xâm lược An Nam.

Thưa các đồng chí,

Bọn đế quốc cố nhiên là áp bức người An Nam, nhưng đồng thời chúng cũng áp bức cả người Trung Quốc. Điều đó, các đồng chí có mặt trong Đại hội đại biểu lần thứ II này chắc chắn đều biết. Vì người Trung Quốc cũng bị đối xử như vậy. Họ cũng phải đóng thuế thân. Và tất nhiên, dù là gái trai già trẻ, họ cũng không được tự do đi lại, muốn đi lại cũng phải có thẻ thông hành. Đồng thời, chúng còn cấm cả tổ chức hội họp, trục xuất các đồng chí Quốc dân đảng. Vì chúng cho rằng, phàm là người của đảng cách mạng thì đều nguy hiểm, cho nên không đuổi không được. Có điều, cách chúng làm thật là hiểm độc, bởi vì chúng đã lợi dụng những phần tử xấu trong người Trung Quốc để chống lại các đồng chí cách mạng, chống lại Chính phủ cách mạng Quảng Châu. Tôi có thể nêu một ví dụ, như lúc Tôn Trung Sơn tiên sinh tạ thế, toàn Trung Quốc cố nhiên đều truy điệu, mà các nước trên thế giới cũng rầm rộ truy điệu. Nhân dân An Nam chúng tôi đương nhiên cũng muốn làm lễ truy điệu như người Trung Quốc, nhưng bọn Pháp cấm không cho phép làm. Tôi có thể nói rằng, ở An Nam bọn đế quốc chẳng những dùng mọi cách để chống lại cách mạng, mà đồng thời còn tìm mọi cách công kích Quốc dân đảng, công kích Chính phủ Quảng Châu.

Chúng ta biết rằng, các dân tộc bị áp bức trên thế giới hiện nay có Ai Cập, Marốc, Xyri, An Nam, Trung Quốc và rất nhiều nước khác. Cho nên, chúng ta cần phải liên hiệp lại, cùng nhau chống chủ nghĩa đế quốc. (Vỗ tay).

Đế quốc Pháp chẳng những thấy cách mạng thì sợ, mà đặc biệt thấy cách mạng Trung Quốc lại càng sợ. Cho nên, chúng không ngần ngại dốc toàn lực ra để giúp bọn phản cách mạng, giúp vũ khí cho bọn Trương Tác Lâm, hòng can thiệp vào phong trào cách mạng quốc dân của chúng ta.

Thưa các đồng chí, như đồng chí Uông Tinh Vệ nói, cách mạng

không có biên giới quốc gia. Dù là Ai Cập, Marốc hay tất cả các dân tộc bị áp bức nào, hễ cùng bị chủ nghĩa đế quốc áp bức, thì phải cùng nhau liên hiệp lại. Đả đảo đế quốc Pháp! Đả đảo chủ nghĩa đế quốc trên thế giới! Quốc dân đảng nhất định giúp chúng tôi giải phóng, giúp tất cả các dân tộc bị áp bức giải phóng. Không phân biệt nước nào, dân tộc nào, tất cả hãy đứng lên chống kẻ thù chung của chúng ta. (Vỗ tay).

Hôm nay tôi rất vui mừng, bởi vì Quốc dân đảng có được Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II này, sắp tới nhất định sẽ giúp nhiều cho người cách mạng. Vì thế tôi xin chúc: Quốc dân đảng Trung Quốc muôn nǎm! Cách mạng Trung Quốc thành công muôn nǎm! Cách mạng An Nam thành công muôn nǎm! Cách mạng thế giới thành công muôn nǎm!

(Chủ tịch: Đề nghị mọi người cùng hô to: Cách mạng An Nam thành công muôn nǎm!).

———————————

Tài liệu Trung vǎn, lưu tại Bảo tàng cách mạng Quảng Châu, bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh
cpv.org.vn

Lê Nin và phương đông (21-1-1926)

Quốc tế thứ nhất (38) đã đặt cơ sở cho học thuyết cộng sản, nhưng vì tồn tại trong một thời gian ngắn nên chỉ kịp đề ra những đường lối cơ bản của học thuyết đó mà thôi. Vấn đề các nước thuộc địa chưa được Quốc tế thứ nhất nghiên cứu đầy đủ.

Còn Quốc tế thứ hai với những đại biểu của nó như Mácđônan, Vǎngđécvendơ, Henđécxôn, Blum và nhiều người khác thì lại quá chú ý đến vấn đề này. Trong bất cứ trường hợp thuận lợi nào, những người này cũng nhấn mạnh sự nhất trí của họ với chính sách đế quốc chủ nghĩa mà bọn tư bản thực hiện ở các nước ấy. Cuộc đấu tranh của nhân dân các nước thuộc địa cho sự nghiệp giải phóng của mình, không những không được sự đồng tình của họ mà còn ngược lại. Ví dụ, sau khi lên nắm chính quyền, Mácđônan chẳng kém gì Bônđuin và Sǎmbéclanh đã đàn áp nhân dân ấn Độ, Xuđǎng và các dân tộc khác đã can đảm đấu tranh chống lại bọn người nước ngoài ức hiếp họ.

Với sự tán thành của các ngài đó, người ta đã dội bom xuống các làng mạc bản xứ, và đã đàn áp nhân dân các nước thuộc địa dã man, tàn bạo không sao tả xiết. Mọi người đều biết về chính sách phân biệt công nhân da trắng với công nhân da màu mà bọn thoả hiệp luôn luôn thi hành, về việc các công đoàn chịu ảnh hưởng của bọn xã hội giả hiệu đó không muốn kết nạp các công nhân da màu vào hàng ngũ của mình. Trong chính sách thuộc địa của Quốc tế thứ hai, bất cứ ở đâu cũng lộ rõ bộ mặt thật của tổ chức tiểu tư sản

này. Bởi vậy, cho tới tận Cách mạng Tháng Mười, ở các nước thuộc địa, học thuyết xã hội chủ nghĩa đã bị coi là một thứ học thuyết chỉ dành riêng cho những người da trắng, một thứ thủ đoạn mới để lừa dối và bóc lột người bản xứ.

Lênin là người đầu tiên đã đặt cơ sở cho một thời đại mới, thật sự cách mạng trong các nước thuộc địa.

Lênin là người đầu tiên đã kiên quyết lên án mọi thành kiến đối với nhân dân các nước thuộc địa đã ǎn sâu vào tận xương tuỷ của nhiều công nhân châu Âu và châu Mỹ. Những luận cương của Lênin về vấn đề thuộc địa 39 được Quốc tế Cộng sản tán thành đã gây ra một cuộc cách mạng hoàn chỉnh trong tất cả các nước bị áp bức trên thế giới.

Đồng chí Lênin là người đầu tiên đã nhấn mạnh và nhận thức hết tầm quan trọng to lớn của việc giải quyết một cách đúng đắn vấn đề thuộc địa đối với cách mạng thế giới. Trong tất cả các Đại hội của Quốc tế Cộng sản, của Quốc tế Công đoàn, và của Quốc tế Thanh niên cộng sản, vấn đề thuộc địa luôn luôn được đặt lên hàng đầu.

Lênin là người đầu tiên đã nhận thức và đánh giá hết tầm quan trọng lớn lao của việc lôi cuốn nhân dân các nước thuộc địa vào phong trào cách mạng. Lênin là người đầu tiên đã nhận thức rằng nếu không có sự tham gia của họ thì không thể có cách mạng xã hội.

Với tất cả sự sáng suốt vốn có của mình, Lênin đã nhận thấy rằng muốn cho công tác trong các nước thuộc địa được thành công tốt đẹp thì cần phải lợi dụng triệt để phong trào giải phóng dân tộc trong các nước đó, rằng giai cấp vô sản trên thế giới, bằng việc ủng hộ phong trào ấy thì sẽ có nhiều bạn đồng minh mới hùng mạnh trong cuộc đấu tranh của mình cho cách mạng xã hội.

Tất cả các đại biểu các nước thuộc địa đã tham dự các Đại hội của Quốc tế Cộng sản sẽ không bao giờ quên được rằng lãnh tụ Lênin, đồng chí Lênin đã quan tâm đến họ dường nào, rằng Người đã biết đi sâu tìm hiểu như thế nào những điều kiện công tác phức tạp và thuần tuý có tính chất địa phương. Từ đó đến nay, mỗi người trong chúng ta đã có đủ thời gian để thấy rõ hàng chục lần rằng những nhận xét của Lênin đúng biết chừng nào, và những lời giáo huấn của Người thật quý giá biết bao.

Chỉ nhờ có thái độ khôn khéo của Lênin đối với vấn đề thuộc địa, mới có thể lay động quần chúng chưa được giác ngộ, và lạc hậu nhất trong các nước thuộc địa. Sách lược của Lênin về vấn đề này được các đảng cộng sản trên toàn thế giới áp dụng đã ngày càng lôi cuốn được những phần tử ưu tú và tích cực ở các nước thuộc địa vào phong trào cộng sản. Việc Lênin giải quyết vấn đề dân tộc phức tạp ở nước Nga Xôviết, việc đảng cộng sản thực hiện trong thực tiễn vấn đề này là một vũ khí tuyên truyền mạnh mẽ nhất trong các nước thuộc địa.

Đối với tất cả các dân tộc bị áp bức và bị nô dịch, Lênin đã thể hiện một bước ngoặt trong lịch sử cuộc đời đau khổ và bị mất quyền của họ, là tượng trưng cho một tương lai mới, xán lạn.

NGUYỄN ÁI QUỐC

—————————————

38. Quốc tế thứ nhất (Hội liên hiệp lao động quốc tế): Tổ chức quốc tế đầu tiên của giai cấp vô sản, thành lập nǎm 1864 tại Hội nghị công nhân quốc tế ở Luân Đôn (Anh), do C.Mác và Ph. Ǎngghen lãnh đạo. Cơ quan lãnh đạo cao nhất của Quốc tế thứ nhất là Hội đồng trung ương Hội liên hiệp lao động quốc tế mà Mác là uỷ viên thường trực. Bằng cách khắc phục những ảnh hưởng tiểu tư sản và những khuynh hướng bè phái lúc đó đang tồn tại trong phong trào công nhân, Mác đã đoàn kết xung quanh mình những người giác ngộ nhất của Hội đồng trung ương. Quốc tế thứ nhất đã lãnh đạo cuộc đấu tranh kinh tế và chính trị của công nhân ở các nước và củng cố sự đoàn kết quốc tế của họ. Quốc tế thứ nhất đóng vai trò to lớn trong sự nghiệp truyền bá chủ nghĩa Mác và trong việc kết hợp chủ nghĩa xã hội với phong trào công nhân. Sau khi Công xã Pari thất bại, một nhiệm vụ được đặt ra là thành lập các đảng cộng sản có tính chất quần chúng ở mỗi nước, trên cơ sở những nguyên tắc mà Quốc tế thứ nhất đã đề ra. Nǎm 1876, tại Hội nghị Philađenphia (Mỹ), Quốc tế thứ nhất chính thức giải tán. Tr.218.

Báo Tiếng còi (Liên Xô), tiếng Nga, ngày 21-1-1926.
cpv.org.vn

Tuổi trẻ Tổng cục Xây dựng lực lượng Công an nhân dân báo công dâng Bác

Trong không khí thi đua chào mừng kỷ niệm 67 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9 và 67 năm Ngày Truyền thống lực lượng Công an nhân dân, sáng 23/8/2012, gần 200 đại biểu đoàn viên thanh niên ưu tú cùng các đồng chí lãnh đạo, chỉ huy đại diện cho hơn 41 nghìn đoàn viên thanh niên Tổng cục Xây dựng lực lượng Công an nhân dân về dự Đại hội Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh lần thứ VIII đã tổ chức lễ báo công dâng Bác những thành tích đã đạt được trong nhiệm kỳ 2012-2017.

Tong cuc xay dung LLCANDLễ báo công dâng Bác của tuổi trẻ Tổng cục xây dựng lực lượng Công an nhân dân

Nhiệm kỳ vừa qua, tuổi trẻ Tổng cục đã tổ chức được nhiều các phong trào thanh niên tình nguyện như: Tiếp sức mùa thi, tham gia tình nguyện ở các địa bàn trọng điểm về an ninh trật tự… Qua đó, đoàn viên thanh niên đã có cơ hội được học tập, tu dưỡng và rèn đức, luyện tài để phấn đấu vươn lên hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, góp phần thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội, giữ gìn an ninh trật tự xã hội trong giai đoạn hiện nay.

Năm năm qua tuổi trẻ Tổng cục luôn thi đua cố gắng phấn đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị được Đảng, Nhà nước, Bộ Công an và Tổng cục Xây dựng lực lượng Công an nhân dân giao phó. Tổng cục đã có 1 tập thể được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Nhì, 4 tập thể được tặng thưởng Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng Ba; 4 tập thể và 30 cá nhân có thành tích xuất sắc trong phong trào “Thanh niên Công an học tập 6 điều Bác Hồ dạy” được Bộ Công an tặng Bằng khen; 17 đoàn viên thanh niên được tặng Giải thưởng “Thanh niên Công an tiêu biểu”; Đoàn Thanh niên Tổng cục được Trung ương Đoàn tặng Cờ đơn vị xuất sắc 5 năm, Cờ đơn vị dẫn đầu 3 năm liền phong trào thi đua cho 4 Đoàn trường, 155 lượt tập thể và 748 lượt cá nhân được tặng Bằng khen, 13 giải thưởng “Sao Tháng Giêng”, 3 giải thưởng 26/3, 5 giải thưởng “Trần Văn Ơn”, 4 giải thưởng “Lý Tự Trọng” và 17 Huy hiệu “Tuổi trẻ dũng cảm”…

Trước anh linh của Người, tuổi trẻ Tổng cục xin hứa với Bác sẽ luôn đoàn kết, tuyệt đối trung thành, tận tụy với Đảng, với Tổ quốc, với nhân dân và không ngừng phấn đấu, rèn luyện và học tập để góp phần vào công cuộc bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.

Lan Hương
bqllang.gov.vn

Gửi đoàn chủ tịch Quốc tế nông dân (8-3-1926)

Các đồng chí thân mến,

Tôi muốn biết tại sao tất cả những thư mà tôi đã gửi đến các đồng chí đều không được trả lời, và nhất là những yêu cầu của tôi về báo cáo và tài liệu khác dùng cho tuyên truyền.

Tất cả những thư mà các đồng chí giao cho tôi để gửi đi Giava, Manila, ấn Độ và những nơi khác đã được gửi đi. Chỉ có một thư quay trả lại tôi, vì không có người nhận, đó là thư gửi Ban biên tập Petir, Langiơ, átgét – Xumatơra 1 .

Tôi gửi đến các đồng chí những bài cắt ở báo có liên quan đến phong trào nông dân (tháng 2 và tháng 3), và một số báo nông dân của Quốc dân đảng.

Tôi vẫn hy vọng các đồng chí vui lòng gửi cho tôi tài liệu để tuyên truyền. Xin gửi các đồng chí lời chào anh em.

Quảng Châu, ngày 8-3-1926. NILỐPXKI (N.A.Q)

——————–

Thư đánh máy bằng tiếng Pháp, bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh
cpv.org.vn

Báo cáo gửi Quốc tế cộng sản (1928)

(Báo cáo của Đông Dương)

Đồng chí thân mến,

A. Sau đây là những việc tôi đã làm cho Đông Dương từ khi đến đây:

1. Tổ chức một tổ bí mật.

2. Tổ chức một Hội liên hiệp nông dân (những người An Nam sống ở Xiêm).

3. Tổ chức một tổ thiếu nhi (7) lựa chọn trong con em nông dân và công nhân. Các em đang ở Quảng Châu và được nuôi dạy bằng tiền của chúng tôi.

4. Tổ chức một tổ phụ nữ cách mạng (bắt đầu từ tháng 4 gồm khoảng 12 hội viên).

5. Tổ chức một trường tuyên truyền 40 . Các học viên được bí mật đưa đến Quảng Châu. Sau một tháng rưỡi học tập họ trở về nước. Khoá thứ nhất được 10 học viên. Khoá thứ hai sẽ mở vào tháng 7 tới, sẽ có khoảng 30 người.

Vì đi đường thì lâu ngày (khoảng 2 tuần lễ), nguy hiểm và tốn kém nhiều và khả nǎng tài chính của chúng tôi thì eo hẹp (với tiền lương của tôi, tiền lương của một trong số các đồng chí của tôi và một ít trợ cấp của các đồng chí Nga), nên công việc không được nhanh chóng như chúng tôi mong muốn.

B. Về tình hình chính trị Đông Dương thì đồng chí hãy đọc bài của tôi gửi cho Inprekorrkèm theo đây.

C. ở Pari có một tổ chức của thuộc địa – Hội liên hiệp các thuộc địa 41 – trong đó có nhiều người An Nam. Những người An Nam này có 2 tờ báo: tờ Le Paria 42 bằng tiếng Pháp và tờ L’Ame Annamite 1 bằng tiếng quốc ngữ. Trong số người An Nam đó có một người, Nguyễn Thế Truyền, mà các đồng chí chúng ta ở Ban nghiên cứu thuộc địa biết rõ. Tôi nhờ đồng chí giúp tôi liên lạc với Nguyễn Thế Truyền do Ban nghiên cứu thuộc địa làm trung gian và nói với Nguyễn Thế Truyền gửi các tờ báo đó cho tôi. Tất cả thư từ gửi cho tôi phải qua Mátxcơva, vì không thể liên lạc trực tiếp được.

D. ở đây, chúng tôi đã xuất bản tờ báo hằng tuần “Thanh niên” 43 .

3. Từ 20 tháng 4, tôi có gửi cho hiệu sách của Đảng 550 phrǎng và nhờ gửi cho tôi báo L’ Humanité, báo La Vie Ouvrière và tạp chí Inprekorr bằng tiếng Anh và tiếng Pháp, mà các đồng chí Trung Quốc đã yêu cầu tôi cung cấp. Hôm nay là ngày 3 tháng 6 mà tôi vẫn chưa nhận được gì cả. Nhờ đồng chí hỏi giùm hiệu sách vì sao?

Cảm ơn và gửi đồng chí lời chào cộng sản thân thiết.

NGUYỄN ÁI QUỐC

Địa chỉ: Nilốpxki

Nhờ ông lãnh sự Liên bang Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Xôviết tại Quảng Châu chuyển.

————————-

Tài liệu tiếng Pháp, lưu tại Cục lưu trữ Vǎn phòng Trung ương Đảng.
cpv.org.vn