Tag Archive | Văn hóa – Xã hội

Những nẻo đường hòa bình tới Hiệp định Paris

(VOV) – Dù đã 40 năm, nhưng hình ảnh các đoàn đàm phán Việt nam vẫn in đậm trong ký ức những nhân chứng và thế hệ sau.

Để đi tới lễ ký kết cuối cùng tại Trung tâm Hội nghị quốc tế Clébère, thì trong gần 5 năm, các cuộc thương lượng về Hiệp định hòa bình Paris đã được tiến hành tại nhiều địa điểm trên đất Pháp. Dù 40 năm sau, các địa điểm đã ít nhiều đổi khác, nhưng hình ảnh các đoàn đàm phán Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mặt Trận miền Nam Việt Nam vẫn in đậm trong ký ức những nhân chứng và thế hệ con cháu họ; cùng như tạo âm hưởng sâu rộng trong lòng những người bạn Pháp nay còn sống tại những địa điểm lịch sử đó.

Quảng trường Hiệp định Paris sẽ được khánh thành vào tháng 3/2013.

1. Khách sạn Lutetia – Nơi khởi đầu và nơi ăn mừng chiến thắng: 

Năm 1968, khi đoàn đàm phán Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do ông Xuân Thủy dẫn đầu đến Paris, đã ở tại khách sạn Lutetia ở số 45 Đại lộ Raspail, quận 16 Paris. Chỉ vài ngày sau, vì nhiều lý do, đoàn đã nhờ Đảng Cộng sản Pháp tìm một địa điểm khác. Trường Đảng ở Choisy Le Roi đã được chọn, trở thành nơi lưu lại suốt gần 5 năm của đoàn. Trở lại thăm Lutetia ngày nay, sau 40 năm, khách sạn bên ngoài vẫn giữ nguyên dáng hình, trở thành một trong những khách sạn nổi tiếng nhất ở Paris, bởi những thời khắc lịch sử mà nó đã từng chứng kiến, từ chiến tranh thế giới thứ 2, cho tới sự có mặt, dù ngắn của đoàn đàm phán Việt nam.

Khách sạn Lutetia hiện nay

Theo ông Dương Văn Quảng, Đại sứ, trưởng phái đoàn Việt Nam bên cạnh UNESCO hiện nay, người từng nằm trong số những thực tập sinh học tập tại Pháp vào thời điểm Hiệp định được ký kết, thì Khách sạn Lutetia cũng là nơi hai đoàn đàm phán của Việt nam tổ chức tiệc lớn ăn mừng thắng lợi.

2. Tòa nhà số 2, Le Verrier, quận 4: “Tổng hành dinh” ngoại giao của Việt nam:

Cũng theo Đại sứ, trưởng phái đoàn Việt Nam bên cạnh UNESCO ông Dương Văn Quảng, thì cũng chính tại tòa nhà của phái đoàn hiện nay, tại số 2, Le Verrier, quận 4 Paris, 40 năm về trước, ông cùng các thực tập sinh có mặt tại Pháp đã vui mừng đến giúp chuẩn bị những tấm thiệp mời chiêu đãi, mừng Hiệp định được ký kết: “Đây là tổng đại diện nên toàn bộ thủ tục liên quan đến vấn đề chiêu đãi đều làm ở đây. Ví dụ cả tuần trước ngày chiêu đãi, huy động toàn bộ thực tập sinh đến đây giúp ghi thiệp mời. Nhưng vì mời quá gấp, nên phải chia nhỏ thư ra, sáng sớm hôm sau mang ra tận bưu điện của từng quận để họ mang đi phát giúp mình. Nhà này là tổng đại diện trước khi quan hệ Việt – Pháp lên mức chính thức, sau đó là Đại sứ quán nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ngôi nhà này chứng kiến toàn bộ quá trình dẫn đến đàm phán, rồi đấu tranh để thực hiện hiệp định, rồi chuẩn bị cho cuộc tổng tiến công mùa xuân 1975, tạm gọi là toàn bộ phần ngoại giao của việc đàm phán rồi tiến tới ký kết Hiệp định Paris và tiếp theo đó là quá trình đấu tranh ngoại giao để thực hiện Hiệp định và phục vụ cuộc tổng tiến công Mùa xuân năm 1975, tiến tới hòa bình cuối cùng ở Việt nam”.

Tòa nhà hiện là trụ sở phái đoàn Việt nam bên cạnh UNESCO cho đến nay được giữ nguyên cấu trúc, kể cả những trang trí trên trần, trên tường khi xưa. Cách đó chỉ vài trăm thước, là trụ sở cũ của Thông tấn xã Việt nam, nơi những thông tin thắng lợi trên bàn đàm phán được thảo và phát đi.

3. Choisy le Roi – Tâm điểm của cuộc đấu tranh của đoàn đàm phán Việt nam Dân chủ Cộng hòa:

Nói đến Hiệp định Paris, không thể không nói tới thành phố Choisy-le-Roi nằm ở ngoại ô, cách Paris khoảng 20 km về phía Đông Nam. Nhà báo, nhà làm phim người Pháp Daniel Roussel – người đang làm một bộ phim tài liệu mang tên “Hiệp định Paris” đã gọi Choisy Le Roi là “tâm điểm của thế giới” trong giai đoạn diễn ra các cuộc đàm phán hòa bình: “Tháng 5/1968, đoàn đàm phán miền Bắc của Việt nam Dân chủ Cộng hòa tới ở khách sạn Lutetia rồi sau đó, chuyển sang Choisy le Roi vì nhiều lý do. Và Đảng Cộng sản Pháp đã quyết định dành tòa nhà của Trường đào tạo, bồi dưỡng Đảng viên của Đảng Cộng sản Pháp cho đoàn ở. Đoàn Hà nội lúc đó dẫn đầu bởi ông Xuân Thủy, tưởng sẽ ở đó vài tháng, nhưng cuối cùng họ đã ở gần 5 năm”.

Trong suốt thời gian đó, Choisy- le Roi đã chứng kiến những câu chuyện đàm phán tài tình được giữ kín tới mức “bí ẩn”. Bà Nicole Trampoglieri, Chủ tịch Hội hữu nghị Pháp – Việt tại Choisy le Roi cho biết thông tin về đoàn khi đó được giấu kín tới mức không có mấy người dân ở chính thành phố này biết chỗ đoàn sống và hoạt động. “Vào thời điểm đó, tôi là một đảng viên rất trẻ trong Đảng Cộng sản Pháp sống gần đây, tôi cũng chỉ biết là nơi này có đoàn đàm phán của Việt nam ở, nhưng hiếm khi nào tận mắt nhìn thấy gương mặt của ai trong đoàn. Họ được bảo vệ rất nghiêm ngặt. Báo chí cũng không tiếp cận được. Nhưng tôi có được nghe kể về “căn phòng hạnh phúc” trong khu nhà này, hồi đó, không ai hiểu vì sao lại gọi là “căn phòng hạnh phúc” nhưng sau đó mới biết đấy là cách các thành viên trong đoàn “ám hiệu” với nhau là “căn phòng bí mật”. Khi nào có chuyện công việc tuyệt mật cần trao đổi, các thành viên trong đoàn lại cùng vào căn phòng đó”.

Tấm biển trước khu nhà tại Choisy le Roi

Choisy le Roi còn là minh chứng rõ nét về “tình đoàn kết, hữu nghị” của Đảng Cộng sản Pháp, của bạn bè Pháp yêu chuộng hòa bình đối với  người dân Việt nam. Bà Jéanine Rubin, một trong những người từng tình nguyện phục vụ bữa ăn cho đoàn đàm phán Việt nam 40 năm về trước, nay đã 80 tuổi, cho biết khi đó bà cũng không biết rõ tình hình do tính tuyệt mật trong hoạt động đoàn. Nhưng bà vẫn nhớ như in không khí ấm cúng như trong một gia đình khi gặp gỡ các thành viên trong đoàn. “Khi ấy, tôi đang làm phục vụ trong trường học, Đảng Cộng sản đề nghị tôi có muốn làm việc tình nguyện hỗ trợ cho đoàn đàm phán của Việt nam hay không, và tôi đã đồng ý. Dù thời gian tiếp xúc không nhiều, nhưng những cảm nhận lúc đó về đoàn sau này đã là động lực khiến tôi quyết định gia nhập Đảng Cộng sản Pháp và tham gia các hoạt động hữu nghị Pháp- Việt cho đến bây giờ”.

Cũng tại Choisy le Roi, tòa biệt thự nằm yên bình tại số 11, phố Darthé giờ vẫn mang dáng dấp cũ, cây cherry vẫn cao vút trong vườn sau nhà. Nhưng ít ai biết rằng 40 năm về trước, các cuộc đàm phán bí mật và gay go giữa đoàn miền Bắc với đại diện phía Mỹ là Henry Kissinger đã diễn ra tại đây.

40 năm sau, đầu năm 2013, lãnh đạo thành phố Choisy le Roi sẽ cho khánh thành một quảng trường lớn mang tên “Hiệp định Paris”, ngay trên Đại lộ mang tên người đứng đầu thành phố thời điểm hiệp định được ký kết ông Louis Luc. Vợ của ông, bà Hélène Luc từ hàng chục năm qua vẫn luôn là người bạn thủy chung nhiệt thành đối với nhân dân Việt nam.

4. Verriere le Buisson và Massy – tràn đầy ký ức về đoàn Mặt Trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam:

Nếu như Choisy le Roi từng gắn liền với câu chuyện đàm phán tài tình của đoàn đàm phán Việt nam Dân chủ Cộng hòa, thì tại hai vùng ngoại ô Verrière le Buisson và Massy, nằm cách Paris khoảng 10 km về hướng Tây Nam, tràn đầy những ký ức về đoàn đàm phán Mặt Trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt nam do bà Nguyễn Thị Bình, khi đó là Bộ trưởng ngoại giao, dẫn đầu.

Tòa biệt thự tại số 17, đại lộ Cambacérès, Verriere le Buisson đến nay vẫn giữ nguyên kiến trúc tuyệt đẹp trên một con dốc thoai thoải, nhìn ra hồ nước. Đây là nơi trong suốt gần 5 năm đàm phán, bà Nguyễn Thị Bình cùng một số thành viên trong đoàn Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt nam sống và làm việc. Trong vườn, vẫn còn đó ngôi nhà nơi đài phát thanh giải phóng từng phát đi những thông tin nóng hổi về Hiệp định.

Ông Gueguen lưu giữ nhiều tư liệu về Hiệp định Paris.

Ông Pierre Gueguen, người từng làm nhiệm vụ đảm bảo an ninh cho tòa nhà, ngày ngày vẫn đi dạo qua đây và nhớ lại những kỷ niệm về một “gia đình Việt nam” thực sự mà ông cảm nhận được khi gắn bó với các thành viên trong đoàn đàm phán của Việt nam. Kể lại nhiệm vụ khi xưa, ông Gueguen cho biết : “Đó là niềm vui đối với tôi khi được làm nhiệm vụ đảm bảo an ninh cho đoàn đàm phán để chấm dứt chiến tranh, giành lại hòa bình ở Việt nam. Chúng tôi thường có 6 người chia làm hai ca bảo vệ an ninh trong khuôn viên ngôi nhà. Ngôi nhà nằm ở giữa hai tòa biệt thự, xung quanh các hàng rào với hàng xóm khá thấp, nên chúng tôi luôn phải canh phòng rất kỹ nhất là ban đêm. Tôi nhớ lần đầu tiên tôi nhận nhiệm vụ, đã xảy ra một sự cố là có một người phụ nữ cùng chồng của ông ta xông thẳng vào nhà. Rất may là chúng tôi đã ngăn chặn kịp thời và giao họ cho lực lượng cảnh sát bảo vệ vòng ngoài để họ giải quyết”.

Suốt 40 năm qua, hai vợ chồng ông bà Gueguen đã cần mẫn sưu tầm và gìn giữ nhiều tư liệu về Hiệp định Paris, về Việt nam, từ những chiếc tem thư về Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt nam, cho tới những bài báo bằng bất kỳ ngôn ngữ nào mà ông có được viết về một thành viên nào đó trong đoàn đàm phán… Bởi đơn giản như ông nói, “Đó là những ngày lịch sử mà cuộc đời tôi có may mắn được là một phần nhỏ trong đó”.

Tại Massy, khu căn hộ chung cư nơi mà các thành viên còn lại trong đoàn đàm phán Mặt Trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt nam từng sống và làm việc trong 4 căn hộ tầng 2 và 3, đến nay gần như vẫn giữ nguyên. Ông Đoàn Hữu Trung, một Việt kiều từng gắn bó với đoàn suốt những năm đàm phán dẫn chúng tôi quay lại Massy, chỉ vào ngôi trường mẫu giáo nằm đối diện, cho biết hơn 40 năm trước, gần như ngày nào, sau khi đưa con vào trường học, ông cũng ghé qua thăm đoàn đàm phán của Việt nam, xem có thể trợ giúp gì cho đoàn. Sau này, dù đã chuyển nhà đi thành phố khác, ông vẫn thỉnh thoảng qua lại nơi đây, đi dạo và nhớ lại những câu chuyện về những thành viên đoàn khi xưa, tài tình, kiên quyết trong công việc nhưng cũng rất giản dị, chân thành trong đời sống.

5. Gif sur Yvette – Sự trùng hợp của hai ngôi nhà “hòa bình”:

Đi qua số 106 Avenue du Général Leclerc của thị trấn Gif-sur-Yvette, bắt gặp một căn nhà bình thường như biết bao ngôi nhà khác ở vùng ngoại ô Paris, ít ai biết rằng nơi đây 40 năm trước đã diễn ra các cuộc đàm phán bí mật giữa đoàn đàm phán Việt nam Dân chủ Cộng hòa do ông Lê Đức Thọ làm trưởng đoàn với phía Mỹ- do ông Henry Kissinger dẫn đầu. Các tài liệu lịch sử ghi lại những cuộc trao đổi giữa hai ông tháng 10 và tháng 11/1972 tại ngôi nhà này đi vào giai đoạn quyết định, chốt lại ở một dự thảo hiệp định mà hai bên có thể chấp nhận được. Khi đó, những tưởng hòa bình đã tới rất gần, thì phía Mỹ bất ngờ “tráo trở”, ném bom xuống miền Bắc Việt nam.

40 năm sau, ngôi nhà không có gì nổi bật, nhìn từ bên ngoài có phần cũ kỹ và bao phủ bởi cây cối um tùm. Một tấm biển khiêm tốn treo trên tường bên ngoài căn nhà với dòng chữ “Tại ngôi nhà này ngày 22/11/1972, đã mở ra các cuộc đàm phán hòa bình giữa ông Lê Đức Thọ và ông Henry Kissinger”. Chủ nhân ngôi nhà ông  Bernard Mimier vui vẻ mời chúng tôi vào thăm ngôi nhà và hồ hởi kể lại “cái duyên” của họ với nơi này.

Ngôi nhà ở Gif sur Yvette

“Lúc đó tôi còn trẻ lắm, mới 17 tuổi, tôi có đi qua nơi này, thấy rất nhiều nhà báo vây quanh ngôi nhà và nghe nói có các cuộc đàm phán hòa bình bí mật diễn ra trong đó. Khi đó ngôi nhà thuộc về một họa sỹ tên Fernand Leger- một đảng viên Đảng Cộng sản Pháp và là nơi đón nhiều khách của đảng sang Pháp làm việc. Sau này năm 1989, tôi cần tìm một ngôi nhà rộng để mở phòng chụp và làm ảnh; và duyên số đã dẫn tôi đến đây, mua lại ngôi nhà và ở đây cho đến nay. Gia đình chúng tôi rất tự hào được sống ở đây, một ngôi nhà lịch sử đóng góp cho hòa bình cho người dân Việt nam, vợ tôi cũng từng tham gia các hoạt động phản chiến và con gái tôi cũng có những cảm xúc đặc biệt khi nói về ngôi nhà”.

Tại Gif sur Yvette, các cuộc đàm phán diễn ra hết sức bí mật, đến các nhà hàng xóm cũng không hay biết gì cho đến ngày 22/11/1972 báo chí Pháp và nước ngoài mới biết tới, đổ dồn về đây. Và thật trùng hợp khi họ chạy sang nhà hàng xóm, nhờ sự giúp đỡ để chụp được ảnh vào bên trong ngôi nhà đàm phán bí mật, thì lại được chứng kiến những hoạt động của tổ chức “Giúp đỡ trẻ em Việt nam” cũng hướng về Việt nam. Giáo sư Trần Thanh Vân, người sáng lập Tổ chức “Giúp đỡ trẻ em Việt nam” và sau này là Hội “Gặp gỡ Việt nam”,  dẫn chúng tôi ra vườn sau nhà, chỉ vào rặng cây thông giờ cao ngút, cho biết 40 năm trước, rặng cây còn thấp và phóng viên đứng từ vườn nhà ông hoặc trèo lên mái nhà ông có thể chụp ảnh vào ngôi nhà đàm phán. Và trong khi cuộc đàm phán chính trị bí mật giữa ông Lê Đức Thọ và ông Henry Kissinger đang diễn ra, thì ở ngôi nhà bên cạnh, Giáo sư Trần Thanh Vân cùng các thành viên tổ chức “Giúp đỡ trẻ em Việt nam” đang tích cực với các hoạt động bán thiệp Giáng sinh để quyên tiền xây dựng làng trẻ SOS tại Đà Lạt (sau này làng được khánh thành năm 1974). Hai hoạt động cùng lúc tại Gif sur Yvette, một bên là chính trị và bên kia là nhân đạo, vô tình lại cùng hướng về hòa bình và ấm no ở Việt nam.

Những nẻo đường hòa bình, từ các hướng khác nhau, cuối cùng ngày 27/1/1973 đã dẫn về Trung tâm Hội nghị Kléber.  Hiệp định Paris được ký kết. Bên ngoài, kiều bào đổ về đông chật cả đại lộ Kléber, cờ hoa rợp trời, niềm vui như vỡ òa. Dù giờ đây trung tâm đang được phá đi để xây dựng một trung tâm thương mại, hội nghị mới, song những ai từng biết tới câu chuyện của Hiệp định Paris đều như sống lại không khí lịch sử lúc đó khi đến thăm lại Kléber. Một câu chuyện mới đang hình thành, nhưng ký ức khi xưa vẫn mãi mãi được lịch sử lưu lại./.

Thùy Vân – Đào Dũng/VOV-Paris
vov.vn

Chiến dịch 12 ngày đêm sẽ còn lưu truyền mãi

Tháng mười hai 40 năm trước, Thủ đô Hà Nội bị đế quốc Mỹ dùng “pháo đài bay” B52 ném bom rải thảm. Trong mưa bom bão đạn, Hà Nội vẫn kiên cường, quả cảm, vượt qua đau thương, đổ nát, anh dũng chiến đấu để đập tan cuộc tập kích chiến lược “Linebacker II”, gây chấn động địa cầu.

Những ngày tháng vừa bi thương vừa hào hùng đã lùi xa. Vết tích “mưa bom” B52 đã nằm sâu dưới các tòa nhà cao tầng. Những mảnh đất năm nào nay đã thành địa danh lịch sử. Những người góp phần làm nên huyền thoại một thời, nay đã được khắc ghi. Và ký ức về 12 ngày, đêm khói lửa (từ 18 đến 30/12/1972) vẫn vẹn nguyên trong tâm trí của Trung tướng Phạm Tuân (ảnh), Báo Tin tức Cuối tuần đã có cuộc trò chuyện với người phi công Anh hùng đã bắn cháy pháo đài bay B52 năm 1972.

Thưa Trung tướng, đâu là nguyên nhân thắng lợi của bộ đội Phòng không Không quân (PKKQ) trong chiến dịch 12 ngày đêm trên bầu trời Hà Nội?

Theo tôi, nguyên nhân chiến thắng thì nhiều, nhưng phải khẳng định rằng đó là sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, của sức mạnh tổng hợp, sự giúp đỡ của bạn bè quốc tế, sự đoàn kết quân và dân…

Nhưng với một người chiến đấu trong quân đội thì tôi thấy có hai vấn đề: Thứ nhất: Đó là việc “nhìn xa trông rộng” của Đảng, của Bác. Những gì Bác nói đều là tiên đoán đúng. Bác nói: “… dù đế quốc Mỹ có lắm súng nhiều tiền, dù chúng có B57, B52 hay “B” gì đi nữa, ta cũng đánh, mà đã đánh là nhất định thắng”. Và Bác đã giao nhiệm vụ đánh B52 cho bộ đội PKKQ. Bác đã khẳng định: Ở Việt Nam thế nào Mỹ cũng thua, nhưng chúng chỉ thua sau khi thua trên bầu trời Hà Nội. Nghĩa là Người đã dự đoán trước rằng thế nào cũng xảy ra chiến tranh và tất cả những cái đó là mệnh lệnh, là kim chỉ nam xuyên suốt mà bộ đội PKKQ là nòng cốt cùng các lực lượng khác chuẩn bị lực lượng để chiến đấu. Chúng ta đánh giá đúng kẻ thù, đánh giá đúng âm mưu thủ đoạn của chúng và đánh giá đúng kỹ chiến thuật của nó để chúng ta chuẩn bị.

Thứ hai, đó là công tác chuẩn bị lực lượng của ta với nhiều quân binh chủng, trong đó có đội ngũ phi công, xây dựng đội ngũ chỉ huy và phi công trên hai nền tảng: Ý chí quyết tâm đánh và quyết đánh thắng, đây chính là bản lĩnh chiến đấu. Chúng ta có ý chí vươn lên chưa đủ mà phải biết đánh địch, mà muốn đánh được địch thì phải biết chúng mạnh cái gì, yếu cái gì, ta mạnh cái gì, còn thiếu cái gì để phát huy và hạn chế cái mạnh của địch. Tôi tâm huyết hai vấn đề đó.

Xác 1 trong 2 chiếc máy bay bị bắn rơi. Ảnh: Văn Bảo – TTXVN

Thưa Trung tướng! Thời điểm đó địch đánh vào sân bay Nội Bài rất ác liệt, đường băng hư hỏng nặng. Vậy tại sao máy bay của ta vẫn hạ cánh được?

Khi F111 của địch đánh phá, dẫn đường cho B52 vào bầu trời Hà Nội, tất cả các phi công của ta luôn sẵn sàng chờ lệnh cất cánh. Khi máy bay này cất cánh, chẳng may gặp trục trặc thì máy bay khác lên thay, đó là mệnh lệnh, là quyết tâm của bộ đội không quân. Đây là ý chí của cấp trên và việc thực hiện là phi công.

Có lần khi tôi nhận lệnh cất cánh trong lúc sân bay đã cháy, khói lửa khắp nơi. Sau khi tôi đã cất cánh thì B52 tiếp tục đánh vào sân bay, đài chỉ huy bị san phẳng. Tôi quay về hạ cánh thì sân bay Gia Lâm không liên lạc được, sân bay Kép cũng vậy, tất cả các sân bay không nơi nào nhận tín hiệu, lúc đó chỉ còn cách là hạ cánh xuống sân bay Nội Bài, trong khi đó sân bay Nội Bài bị đánh ác liệt. Tôi quyết tâm hạ cánh xuống sân bay Nội Bài, xin bật đèn pha đường băng để hạ cánh. Lúc đó, tôi hoàn toàn không biết có hố bom nằm giữa sân bay, cách nơi hạ cánh chỉ 300 m. Vừa tiếp đất, thấy cánh máy bay nghiêng, hai quả tên lửa bay vèo về phía trước, máy bay lật nghiêng, chạy bằng cánh sau ít phút lấy lại thăng bằng tôi điều khiển máy bay quay đầu về hướng hạ cánh.

Ngay từ ngày đầu tiên của chiến dịch, Trung tướng đánh giá mức độ thiệt hại của các sân bay và không quân của ta như thế nào?

Ngay từ những ngày đầu tiên, tất cả các sân bay đều bị đánh phá ác liệt, hầu như đều bị trúng bom nhưng may mà sân bay Nội Bài vẫn còn đường băng 400 m cộng thêm 400 m cỏ nữa là 800 m nên chúng tôi vẫn bay và hạ cánh an toàn.

Về cơ sở vật chất, quân Mỹ không đánh vào nhà xưởng của không quân, mà chủ yếu đánh hỏng đường băng. Sau chiến tranh, các sân bay phải sửa lại hết còn máy bay thì mất khoảng 5-7 chiếc. Lực lượng của chúng ta vẫn được bảo toàn.

Phố Khâm Thiên (Hà Nội), trong trận bom rải thảm đêm 26/12/1972 đã có 278 người thiệt mạng, hàng nghìn ngôi nhà bị phá sập. Ngày nay, bên số lẻ của con phố này không có ba số nhà 47, 49, 51, bởi ba số nhà này với diện tích gần 1.000m2 đã được dành để xây Đài tưởng niệm Khâm Thiên. Ảnh: Trọng Đạt – TTXVN (chụp tháng 12/2012)

So sánh về lực lượng không quân giữa ta và Mỹ lúc đó, Trung tướng có đánh giá gì?

Phải nói thật không quân lúc đó của ta lực lượng nhỏ, phi đội bay đêm của chúng tôi chỉ có hơn 10 phi công, lúc đó máy bay thì ta không thiếu, phần lớn là phi công mới, chủ yếu bay ngày là chính. Trong khi đó sân bay của chúng ta không nhiều, sau này ta làm thêm một vài sân bay nữa mới đủ đáp ứng. Trong khi đó địch có 194 máy bay B52, mỗi một đêm chúng bay 50 lần và 200-300 lượt máy bay hộ tống, nghĩa là chúng gấp mấy lần ta. Nếu so sánh máy bay và vũ khí thì chúng hiện đại hơn mình nhiều.

Sau 40 năm chiến thắng Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không, Trung tướng có suy nghĩ gì?

Nhìn lại chiến thắng này với tư cách là người trong cuộc, tôi tâm huyết về sự lãnh đạo tài tình của Đảng ta. Là một phi công, tôi nhận thấy phải khơi dậy lòng yêu nước trong mỗi con người, để nó thấm vào trái tim, thớ thịt của mình. Nhưng như thế thì chưa hẳn, mà phải biết biến lòng yêu nước đó thành ý chí quyết tâm, sẵn sàng cất cánh trong mọi tình huống để đánh địch. Nếu bắn mà không tiêu diệt được máy bay địch, thì sẵn sàng đâm thẳng vào chúng để tiêu diệt địch.

Ngày nay, thời buổi kinh tế thị trường dù có ảnh hưởng cái này, cái khác nhưng lòng yêu nước vẫn là cội nguồn, ẩn sâu trong tâm hồn mỗi con người chúng ta. Khi đất nước cần, bộ đội ta luôn sẵn sàng, những phi công trẻ cũng sẵn sàng nhận lệnh lên đường chống kẻ thù xâm lược. Trong thời đại hòa bình như ngày nay, chúng ta vẫn tiếp tục trau dồi lý tưởng cách mạng, phát huy những giá trị lịch sử trong thời bình, làm cho truyền thống của quân đội ta không chỉ để cất giữ mà phải “đánh bóng” cho nó sáng thêm lên, có sức mạnh hơn lên để chúng ta xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện hiện nay.

Trung tướng có thông điệp gì cho thế hệ phi công trẻ ngày nay?

Ngày nay, đất nước ta đang xây dựng và phát triển gắn liền với nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đây là hai nhiệm vụ gắn chặt với nhau. Xây dựng tốt để có tiềm năng bảo vệ Tổ quốc tốt hơn và bảo vệ Tổ quổc tốt để ta xây dựng đất nước thuận lợi hơn. Hiện nay, tình hình an ninh trong khu vực vẫn còn tiềm ẩn bất ổn nên nhiệm vụ quốc phòng, an ninh của chúng ta vẫn còn rất nặng nề. Đảng và Nhà nước rất quan tâm đến lực lượng bộ đội PKKQ và hải quân nên đầu tư khá nhiều. Bây giờ máy bay toàn thế hệ mới, tên lửa mới bắn được rất xa chứ không như trước đây. Phi công của chúng ta có điều kiện tập luyện tốt. Với truyền thống của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng, truyền thống của bộ đội PKKQ mà đặc biệt trong chiến dịch 12 ngày đêm sẽ còn lưu truyền mãi và được phổ biến đến mai sau. Chắc chắn rằng đây là cơ sở để đội ngũ phi công hiện nay nhìn nhận, đánh giá đúng lực lượng, sẵn sàng nhận nhiệm vụ.

Tôi biết rằng bộ đội PKKQ luôn có tinh thần sẵn sàng chiến đấu rất cao. Nếu có chiến tranh xảy ra, bộ đội PKKQ luôn sẵn sàng làm nhiệm vụ tốt.

Xin cảm ơn Trung tướng!

Nguyễn Viết Tôn(thực hiện)
baotintuc.vn

Những chứng nhân lịch sử – Phố Khâm Thiên – “Máu và hoa” một thuở

LTS: Dù 40 năm đã trôi qua, trận “Điện Biên Phủ trên không” với 12 ngày đêm kiên cường của quân và dân Hà Nội vẫn được nhắc nhớ, lưu truyền và ôn lại mỗi dịp kỷ niệm. Những đau thương mất mát của một thành phố năm xưa đã hứng gần 4 vạn tấn bom vào các khu dân cư, bệnh viện, trường học, nhà ga… Những chứng tích bằng sắt thép vô tri hay còn hằn sâu trong tâm khảm các nhân chứng một thời.

Sẽ là nỗi đau nếu lớp trẻ hôm nay lãng quên hoặc không biết đến những trang sử ghi bằng máu, bằng sự quật cường, sáng tạo trong chiến đấu ấy của cha ông.

Bài 1: Phố Khâm Thiên – “Máu và hoa” một thuở

Con phố nhỏ với những chuyến tàu cần mẫn đi qua nơi đầu phố. Con phố của “một thời đạn bom – một thời hòa bình”. Giữa tấp nập ngày hôm nay, có những khoảng lặng đầy thiêng liêng của hồi ức về tháng 12 rực lửa bầu trời Hà Nội năm xưa…

“… phố Khâm Thiên sụp đổ
tiếng người la khủng khiếp xé đêm dài…”

Đài tưởng niệm các nạn nhân B52 phố Khâm Thiên.

Thực khó cầm lòng để trích dẫn đầy đủ những câu thơ của nhà thơ Lưu Quang Vũ về nỗi thương đau trên con phố nhỏ năm xưa. Sau 40 năm, những ngôi nhà, tòa nhà mới đã mọc lên, quang cảnh cũng nhiều thay đổi. Thật may mắn khi tìm gặp được những nhân chứng sống của năm xưa để nghe kể về những hồi ức không muốn nhớ nhưng thật khó nguôi quên.

Chung ngày giỗ, chung ký ức đau thương…

Chúng tôi tìm đến nhà ông Nguyễn Văn Cầu, một cựu chiến binh, cán bộ hưu trí ở số nhà 19, ngõ Sân Quần, phường Khâm Thiên (Hà Nội), một trong ít những nhân chứng còn ở lại Khâm Thiên sau sự kiện bi thảm năm 1972. Giờ đã 76 tuổi, tóc bạc trắng, mắt mờ đi, nhưng ông vẫn hăng hái tham gia công tác đoàn thể, là Bí thư chi bộ kiêm Tổ trưởng tổ dân phố. 40 năm đã qua đi nhưng những ký ức về phố bom khi ấy thì chưa bao giờ phai nhạt trong ông. Ông bảo, rất nhiều đêm vẫn gặp ác mộng, với cảnh phố cháy rừng rực của 40 năm trước…

Ông Cầu kể lại: “Tôi còn nhớ rất rõ hôm đó là ngày 26/12, trời lạnh, khoảng 9 giờ tối, tôi đi trực chiến tại Nhà máy in Hà Nội, ở nhà chỉ còn vợ và con. Khoảng hơn 10 giờ đêm, đèn điện vụt tắt, hàng loạt tiếng nổ lớn kéo dài, tiếp theo là những đám cháy lớn bùng lên sáng rực. Tôi chạy vội về… Một cảnh tượng khủng khiếp hiện ra trước mắt: Hầu như toàn bộ khu phố Khâm Thiên trong chốc lát chỉ còn là một đống gạch vụn. Tôi tìm đường vào nhà, nhà tôi bị san phẳng, vợ và con tôi không thấy đâu, đêm tối không nhìn thấy gì cả, chỉ có những tiếng gọi nhau, kêu khóc. Lửa vẫn bập bùng cháy đây đó, người sống bới tìm người chết trong tuyệt vọng…

Chưa tìm thấy vợ con, tôi tiếp tục đi làm nhiệm vụ trực chiến và hy vọng mong manh rằng vợ con còn sống sót. Sáng hôm sau về nhà, trời sáng nhìn cảnh tượng tàn phá của bom B52 càng ghê rợn hơn. Đứng từ đầu phố có thể nhìn thấy cuối phố vì đã bị san phẳng. Nỗi lo sợ lớn nhất cũng đã được khẳng định: Chiếc hầm trú ẩn chứa hơn 40 người, trong đó có cả vợ và con tôi, cùng hai đứa cháu con bà chị gái và chú em ruột đã bị bom Mỹ ném trúng! Vợ con tôi và những người trong hầm đã tan vào đất đá, không nhận ra được gì nữa…

Xung quanh tôi lúc đó mọi người ra sức đào bới với hy vọng tìm thấy xác người thân, nhưng hầu hết không thấy. Tiếng khóc cha, khóc mẹ, khóc con, khóc người thân vang một góc phố. Xa xa là tiếng máy bay phản lực Mỹ vẫn ì ầm. Nhìn hàng dài những chiếc quan tài được mang đến để khâm liệm những nạn nhân, lòng tôi đau thắt… Chưa khi nào tôi phải hứng chịu một nỗi đau lớn lao đến vậy. Chỉ sau một loạt bom, giặc Mỹ đã cướp đi của tôi 5 người thân!” – giọng ông Cầu nghẹn lại.

Cũng hứng chịu những cảnh tang thương sau loạt bom B – 52 của Mỹ đêm 26/12/1972, gia đình ông Nguyễn Đình An mất 2 người thân. Năm nay, ông đã ngoài 70 tuổi, dù 40 năm đã trôi qua nhưng những hồi ức về cái đêm khủng khiếp đó vẫn hiển hiện trong ông, khi mất đi mẹ và người em chỉ trong một khoảnh khắc.

Không riêng gì nhà ông Cầu, ông An, trong cái đêm 26/12/1972 khủng khiếp ấy, toàn bộ 6 khối phố của Khâm Thiên hầu như đã bị xóa sạch. Gần 2.000 ngôi nhà bị sập, trong đó có 534 nhà bị phá hủy hoàn toàn. Bom Mỹ đã giết 287 sinh mạng. Trong phút chốc, hàng trăm gia đình phải chịu cảnh tang tóc, 178 em bé trở nên mồ côi, trong đó có 66 em bé mồ côi cả cha lẫn mẹ. Nhiều gia đình cả nhà không còn ai sống sót…

Ngày giỗ chung của hàng trăm gia đình ở Khâm Thiên, còn có gia đình chị Lê Thị Đức, ở ngõ Hồ Dài. Tuổi ngoài 50, chị vẫn mang trong mình di chứng do bom B52 gây ra cách đây đã 40 năm. Cái đêm đó khi máy bay Mỹ ném bom Hà Nội, còi báo động vang lên, mọi người lao xuống hầm trú ẩn… Một quả bom đã rơi trúng vào nhà và khu hầm nơi có 4 anh chị em chị Đức. Sau giây phút ấy, chị chẳng còn nhớ được gì cho đến khi tỉnh lại tại bệnh viện. Đau đớn hơn, mãi đến sau này chị mới biết, chỉ mỗi mình chị sống sót sau loạt bom đánh sập căn hầm…

Cuộc sống của chị kể từ đó trở nên cơ cực khi di chứng của vết thương do bom B52 đã làm ảnh hưởng đến sức lao động. “Tôi không sao quên được cái đêm kinh hoàng đó. Nó khiến nhiều gia đình rơi vào cảnh tang tóc, không một mái nhà, mọi thứ mất hết mà chưa biết rồi cuộc sống sẽ ra sao”, chị Đức ngậm ngùi kể lại. Những tấm giấy dầu do Nhà nước cấp, những viên gạch vỡ còn lại sau trận bom… là tất cả những gì mà gia đình chị Đức cùng hầu hết người dân Khâm Thiên có được để xây dựng lại cuộc sống.

Ngày mới trên khu phố cũ

Cuộc sống của người dân Khâm Thiên hôm nay đã khác xưa rất nhiều. Với chị Đức, cuộc sống đã ổn định và no đủ. Với ông Cầu, ông An giờ có thể an nhàn vui tuổi già bên con cháu. Đúng như lời ông Nguyễn Văn Hòa, Bí thư Đảng ủy phường Khâm Thiên nói: 40 năm đã trôi qua, tất cả đã trở thành quá khứ. Cuộc sống của người dân Khâm Thiên hôm nay đã đổi thay. Bộ mặt đô thị đã đàng hoàng hơn, to đẹp hơn. Những khu phố sầm uất, những dãy nhà cao tầng và cuộc sống no ấm đã xóa đi cảnh hoang tàn ngày nào. Khâm Thiên hôm nay tươi sáng màu với Rạp chiếu phim Dân chủ đông vui mấy ca chiếu mỗi ngày, với những cửa hiệu thời trang sang trọng, cửa hàng bánh xinh xắn… hay quán ăn tấm tắc tiếng khách hàng xuýt xoa.

Ký ức đau thương ngày nào, giờ chỉ còn là hình ảnh Đài tưởng niệm (mà người dân nơi đây vẫn quen gọi là Bia Căm thù) nơi góc phố, với bức tượng người phụ nữ bế xác trẻ thơ… Nơi, để hàng ngày, những người còn sống nhớ về một nỗi đau không gì bù đắp được. Nơi, để thế hệ trẻ biết đến tội ác của B – 52 và những gì thế hệ trước đã trải qua trong cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc. Và cũng là nơi những du khách quốc tế đến Việt Nam có thể hiểu rõ hơn về nỗi đau chiến tranh vẫn còn âm ỉ đâu đó trên đất nước hiền hòa thanh bình này.

Bài và ảnh: Lê Sơn
baotintuc.vn

Bài 2: “Hồ B52” – Nơi lũy thép làng hoa

Những chứng nhân lịch sử – “Hồ B52” – Nơi lũy thép làng hoa

Đêm 27/12/1972, một chiếc máy bay B52 của Mỹ bị quân và dân Hà Nội bắn hạ, rơi xuống hồ Hữu Tiệp, phường Ngọc Hà, quận Ba Đình. Đây là điểm duy nhất mà máy bay B52 rơi trong nội thành Hà Nội còn được lưu giữ đến hôm nay, nên nơi đây được người dân gọi là “hồ B52” và được giữ lại thành chứng tích lịch sử. Hồ B52 luôn là biểu tượng của chiến thắng Điện Biên Phủ trên không, là niềm tự hào của người dân Hà Nội nói riêng và dân tộc Việt Nam nói chung.

Một phần xác chiếc máy bay B52 tại hồ Hữu Tiệp.

Đến phường Ngọc Hà sau gần 40 năm kể từ khi chiếc máy bay B52 bị bắn rơi xuống hồ Hữu Tiệp, chúng tôi được nghe những câu chuyện vẫn còn in đậm trong trí nhớ của người dân nơi đây về trận chiến 12 ngày đêm anh dũng của quân và dân Hà Nội.

Bà Lê Thị Huệ, đội viên đội dân quân tự vệ làng Hữu Tiệp năm nào bồi hồi nhớ lại, chiến dịch rải thảm bom bằng máy bay B52 của không lực Hoa Kỳ vào cuối tháng 12/1972 đã khiến một nơi thanh bình như làng Hữu Tiệp cũng trở thành mục tiêu bắn phá. Làng hoa thành lũy thép và mỗi người dân là một chiến sĩ. Với bà Huệ, ký ức không phai mờ trong cuộc chiến quyết liệt giữa “Rồng lửa Thăng Long” với “pháo đài bay Mỹ” là hình ảnh chiếc máy bay B52 bị Tiểu đoàn 72, Trung đoàn 285 tên lửa phòng không bắn rơi ngày 27/12/1972, mà một phần của nó đã rơi xuống hồ Hữu Tiệp. Chiếc B52 đó bị bắn hạ khi chưa kịp “cắt bom” gây tội ác. Cũng rất may cho người dân trong làng, khi rơi xuống hồ, trong thân pháo đài bay Mỹ vẫn còn nguyên bom đạn. Ngay sau đó, lực lượng công binh đã đến ngay để tháo gỡ bom đạn trong xác chiếc máy bay.

Ông Nguyễn Lê Huy, người dân làng Ngọc Hà vẫn nhớ như in cảm giác hạnh phúc, tự hào khi được thấy máy bay B52 bị bắn rơi xuống chính mảnh đất quê mình. Đêm ấy, làng Hữu Tiệp có một đêm không ngủ, mọi người đều nói cười, vui sướng. Tiếng người gọi nhau vang khắp làng, ai cũng muốn tận mắt chứng kiến con ngáo ộp Mỹ phơi xác như thế nào. “Chiếc B52 bị trúng đạn cháy sáng cả một vùng. Khi máy bay rơi xuống lòng hồ thì nước hồ sôi lên sùng sục. Lúc đó, một số người còn ở lại làng để sản xuất thấy máy bay rơi đều chui lên khỏi hầm để xem. Lúc máy bay rơi mọi thứ chìm trong im lặng, khác hẳn với trước đó khi máy bay quần thảo ầm ĩ trên bầu trời. Rồi không khí vỡ òa ra khi người dân trong làng vừa chạy vừa hoan hô máy bay rơi. Chưa bao giờ người dân Ngọc Hà lại vui như vậy, cả đêm thức trắng. Đến giờ người dân nơi đây cũng không sao hiểu nổi chiếc máy bay Mỹ to đến vậy mà lại rơi đúng cái hồ nhỏ của làng” – ông Huy kể lại.

Là người con của làng Hữu Tiệp, ông Nguyễn Trọng Hiển luôn tự hào vì được trực tiếp chiến đấu bảo vệ bầu trời Hà Nội. Sau nhiều năm chiến đấu ở những mặt trận nóng bỏng xa nhà, ông được điều động về Hà Nội để tăng cường, ông Hiển nghĩ sẽ có cơ hội được gặp vợ con. Nhưng khi đóng quân ở một huyện ngoại thành, chỉ cách nhà hơn chục cây số, mà ông chưa một lần được về thăm nhà. Vợ ông khi đó cũng tham gia lực lượng tự vệ làng Hữu Tiệp để có thể sát cánh chiến đấu cùng chồng. Ông Hiển tâm sự: “Chiến đấu vì Tổ quốc đã rất thiêng liêng rồi, nhưng là người Hà Nội lại được về bảo vệ Hà Nội, tôi cảm thấy nhiệm vụ này thiêng liêng vô cùng. Dù rất gần vợ con, có khi chỉ cách chỗ con tôi sơ tán có hơn một cây số, nhưng bố con cũng không gặp được nhau, vì cuộc chiến quá ác liệt. Hôm biết tin máy bay B52 bị bắn rơi xuống đúng nơi gia đình mình đang sinh sống tôi lo lắng lắm, nhưng tôi không thể về nhà và cũng không có cách nào để liên lạc được với vợ con. Hôm sau, tôi tranh thủ xin đơn vị về thăm nhà. Về nhà không thấy vợ con mình đâu, tôi rất hoang mang. Nhưng khi được bà con hàng xóm cho biết là vợ tôi đang cùng lực lượng bộ đội tham gia gỡ bom trong xác máy bay, dù không gặp được vợ con ngay lúc đó nhưng tôi yên tâm trở về đơn vị, tiếp tục nhiệm vụ của mình”.

Hồ Hữu Tiệp luôn là niềm tự hào của người dân Ngọc Hà, biểu tượng của chiến thắng 12 ngày đêm Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không. Hiện khu vực quanh hồ này đã được cải tạo thành con đường nhỏ, trở thành nơi dạo chơi của trẻ em, nơi tập dưỡng sinh, thể dục của các cụ già và ngay cạnh đó là Trường Tiểu học Ngọc Hà. Ít có nơi nào, học sinh lại được dạy lịch sử từ một bài học truyền thống sống động, trực quan như ở đây.

Em Vũ Thị Thảo Anh, lớp 5A3, Trường Tiểu học Ngọc Hà, là gia đình gốc làng Hữu Tiệp. Từ nhỏ em cùng các bạn trong “làng” đã được ông bà, bố mẹ đưa ra hồ B52 để chơi và kể cho em biết về lịch sử gắn liền với xác chiếc máy bay đang nằm ở đây. Khi đi học em lại được các cô giáo giảng giải thêm, khiến các em càng trân trọng di tích này hơn. Vừa nhắc đến hồ B52, em Thảo Anh rất tự hào khoe: “Hàng ngày chúng em được học ở ngôi trường kế bên di tích lịch sử này, được giáo dục về truyền thống lịch sử của vùng đất nơi mình đang sống. Hàng tuần, chúng em đều ra đây làm vệ sinh, nhặt rác quanh hồ để cùng mọi người giữ gìn cảnh quan. Bây giờ, khi gặp khách du lịch, chúng em có thể tự tin giới thiệu với họ về lịch sử của chiếc máy bay rơi tại hồ của làng mình”.

Cô Vũ Thanh Hương, giáo viên lớp 5A3, Trường Tiểu học Ngọc Hà tâm sự: “Chúng tôi có một may mắn khi giáo dục các em về lịch sử, về truyền thống uống nước nhớ nguồn bởi ngay trước mặt trường học của chúng tôi đây là một chứng tích lịch sử, ngay trong mỗi gia đình các em đều có những nhân chứng lịch sử. Và như thế, mỗi buổi học về lịch sử, đạo đức với chúng tôi đều nhẹ nhàng và đầy xúc động.”

Cùng với Đài tưởng niệm nạn nhân của bom Mỹ ở phố Khâm Thiên, xác pháo đài bay B52 ở Ngọc Hà không chỉ góp phần làm cho thế giới hiểu hơn về cuộc chiến tranh Việt Nam, mà còn giúp thế hệ sau thấm thía rằng chiến thắng hào hùng đã phải trả bằng máu và nước mắt của những thế hệ đi trước, để càng cố gắng hơn trong sự nghiệp xây dựng thủ đô và đất nước văn minh, giàu đẹp.

Bài và ảnh: Lê Sơn
baotintuc.vn

Bài cuối: Nơi lưu giữ những ký ức không thể nào quên

Chuyện về những người chở đò dưới làn bom B52

Trong những năm chiến tranh phá hoại bằng không quân của đế quốc Mỹ, cầu Long Biên (Hà Nội) là một trong những mục tiêu bắn phá dữ dội. Và trong những ngày cuối năm 1972, cầu Long Biên cũng bị bom Mỹ phá hỏng nhiều đoạn.

Trong ngôi nhà nhỏ của mình, ông Tư Nở đã kể cho chúng tôi nghe câu chuyện chở đò dưới tầm B52 trong những ngày cuối năm 1972.

Để đảm bảo đưa người dân nội thành Hà Nội đi sơ tán sang các vùng lân cận, trong 12 ngày đêm B52 trút bom xuống thành phố, đã có hàng trăm chuyến đò chở hàng ngàn người dân qua sông Hồng an toàn. Những người chở đò năm ấy giờ người còn, người mất. Nơi từng là bến đò năm xưa nay chỉ còn trong hoài niệm…

Trong những ngày kỷ niệm 40 năm Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không, chúng tôi trở lại bến đò xưa với mong muốn tìm lại miền ký ức của một thời từ những người chở đò đưa người qua sông năm ấy. Hỏi thăm mãi, chúng tôi mới tìm được đến nhà cụ Nguyễn Văn Lân, Chủ nhiệm hợp tác xã chở đò Thái Thủy năm xưa, hiện đang trú tại phường Phúc Tân (quận Hoàn Kiếm). Năm nay đã 97 tuổi, nhưng cụ Lân vẫn còn khá minh mẫn. Cụ kể lại: Trong 12 ngày đêm B52 ném bom Hà Nội, cầu Long Biên, tuyến đường huyết mạch nối nội thành với bờ bắc sông Hồng bị bom Mỹ phá huỷ nhiều đoạn. Bà Thuần, khi ấy đại diện cho lãnh đạo khu Hoàn Kiếm liên tục đến động viên anh chị em trong hợp tác xã, đồng thời yêu cầu phải thiết lập tuyến đò qua sông để nối mạch máu giao thông của thủ đô. Những người chèo đò cũng là chiến sỹ, ai hy sinh sẽ được công nhận liệt sỹ…

“Vậy là trong suốt 12 ngày đêm ấy, tại bến đò ngang của hợp tác xã Thái Thủy (nằm ở đoạn giữa của cầu Long Biên và cầu Chương Dương hiện nay – PV) hợp tác xã và anh em lái đò thay nhau trực và chở đò cả ngày lẫn đêm. Khi bom đánh sập cầu, số lượng người qua sông xếp hàng dài trên bờ, có lúc phải căng dây để giữ trật tự. Hai bên bờ sông được hợp tác xã cho đào rất nhiều hầm cá nhân, mỗi khi có máy bay địch đến ném bom, mọi người lại nhanh chóng xuống hầm trú ẩn, đến khi báo an lại lên đi tiếp” – cụ Lân chậm rãi nhớ lại.

Được sự giới thiệu của cụ Lân, chúng tôi tìm gặp ông Nguyễn Văn Nở (Tư Nở) hiện đang sống ở bãi An Dương (phường Phúc Xá) là một trong những người lái đò ngày ấy. Ngoài 70 tuổi, ông Tư Nở đã có quá nửa đời người gắn bó với nghề sông nước. Và ông đã kể cho chúng tôi nghe về công việc của những người lái đò đã chở hàng ngàn người vượt sông Hồng an toàn trong những ngày cuối năm 1972. Với ông Tư Nở, câu chuyện ấy dường như mới chỉ diễn ra cách đây không lâu.

Đưa tôi xuống thăm lại bến đò xưa, ông Tư Nở nhớ lại: “Ngày ấy hợp tác xã có chừng chục anh em, khoảng 5-6 chiếc thuyền to, mỗi thuyền chở được từ 30-40 người. Trong những ngày đó, thuyền là một trong những phương tiện qua sông khá quen thuộc của mọi người dân sống ở Hà Nội, nhất là khi cầu Long Biên bị bom phá hỏng nhiều đoạn”.

“Những ngày đó sao mà ác liệt thế, công việc của chúng tôi nguy hiểm không kém gì các chiến sỹ trên mâm pháo. Ở trên bờ, lúc máy bay đến còn xuống hầm trú ẩn được, chứ công việc của chúng tôi giữa mênh mông sông nước thì chỉ còn biết trông cậy vào con đò. Từ 6-7 giờ sáng, các lái đò đã tập trung ở bến cầu phao Hàm Tử Quan để nhận nhiệm vụ. Có những chuyến đò tôi đưa dân mình qua sông mà máy bay của địch lượn vèo vèo trên đầu, bom ném xuống sông dựng lên từng cột nước, dù ở cách khá xa mà chúng tôi vẫn thấy hơi nóng phả lên rát mặt. “Vũ khí” duy nhất mà chúng tôi có là mái chèo. Nhiều khi một tay chèo, một tay tôi cầm tấm ván che đầu để tránh mảnh bom…” – ông Tư Nở bồi hồi kể lại những ngày tháng ác liệt năm ấy.

“Tuy suốt ngày ở bến đò, nhưng ngày ấy tôi cũng biết khối chuyện, và cũng biết rất rõ việc Mỹ vừa ném bom ở đâu trong Hà Nội đấy nhé” – ông Tư Nở ‘khoe” với chúng tôi. Thì ra, tuy phải bám bến, bám thuyền, không có điều kiện đi đến những nơi khác, nhưng trên mỗi chuyến đò, ông đều được nghe những người dân đi đò kể chuyện, hôm thì chúng đánh khu nhà máy nước thế nào, hôm thì chuyện bom Mỹ ném xuống bệnh viện Bạch Mai ra sao, rồi thì chuyện chúng ném bom khu phố Khâm Thiên, khiến hàng trăm người chết… ông đều được nghe và biết cả. “Có nhiều khi mọi người trên thuyền đang nói chuyện thì máy bay Mỹ đến, mọi người chỉ còn cách nằm rạp xuống thuyền. Cũng hú hồn lắm đấy cô ạ” – ông Tư Nở nhớ lại.

Trong 12 ngày đêm B52 ném bom Hà Nội, hợp tác xã chở đò đã làm việc suốt ngày, đêm, mỗi ngày chở đến vài chục chuyến. Hỏi ông có lo lắng gì những khi chở đò qua sông không, ông lắc đầu bảo: “Có lo cũng không giải quyết được gì. Lúc ấy, mối quan tâm duy nhất của những người lái đò như chúng tôi là làm sao nhanh chóng qua được sông; và khi mọi người hoang mang, thì chúng tôi chính là những người trấn an, nhắc nhở bà con bình tĩnh, không nhốn nháo để bảo đảm an toàn. Cũng may mà bom đạn nhiều thế, nhưng không đánh trúng chiếc đò nào, bà con mình qua sông đều an toàn. Đó là thành tích của anh chị em trong HTX chở đò năm ấy” – ông Tư Nở không giấu được sự tự hào khi kể về thành tích của hợp tác xã mình.

Những ngày bom đạn khốc liệt ấy đã lùi xa, trên mảnh đất từng một thời hằn lên những vết thương của chiến tranh ấy giờ đã mọc lên một làng chài mới, với vài chục hộ sinh sống. Nhìn đám trẻ con làng chài nô đùa trên bãi cát, tôi chợt nhận thấy, tuy cuộc sống còn khó khăn, nhưng trong từng ánh mắt, nụ cười trẻ thơ vẫn ánh lên sự hồn nhiên, vô tư như tương lai tươi sáng của các em.

Bài và ảnh: Phương Lan
baotintuc.vn

Binh chủng đặc biệt – kỳ cuối: “Cần ngay tin, ảnh tố cáo tội ác Mỹ”

Thời điểm cuối năm 1972, tôi làm Trưởng Tiểu ban tin ảnh công thương. Lúc này Ban biên tập tin và Ban biên tập ảnh của Thông tấn xã Việt Nam (lúc đó là Việt Nam Thông tấn xã) sáp nhập làm một. Ảnh lúc đó có các anh Đinh Quang Thành, Minh Lộc, Vũ Hanh, Minh Đạo…

Phố Khâm Thiên, khu Đống Đa (Hà Nội) bị máy bay B52 của Mỹ ném bom rải thảm, tàn phá ngày 26/12/1972.

Mỗi tiểu ban đều chia đôi, già nửa số thành viên làm việc ở cơ sở sơ tán; một số ở lại nằm trong lực lượng xung kích trực chiến, góp phần phản ánh cuộc chiến đấu của quân dân thành phố Hà Nội trong “Chiến dịch Điện Biên Phủ trên không”. Ngày đêm, các phóng viên ảnh đều trực bên mâm pháo trên cầu Long Biên, ngoài bãi sông Hồng hoặc bám các trận địa tên lửa ven đô “săn” ảnh máy bay Mỹ rơi trên bầu trời thủ đô.

Trận B52 đầu tiên đánh vào Hà Nội là ở Uy Nỗ – Đông Anh. Hôm ấy ngày nghỉ, vào lúc đã xế chiều. Ngay trong lúc tiếng bom đạn ầm trời, từ nhà tôi lao đến cơ quan nhận nhiệm vụ. Tới nơi thì được tin thủ đô ta đã bắn hạ chiếc B52 đầu tiên, rớt trên cánh đồng huyện Mê Linh. Ngay lập tức, lực lượng trực chiến của Ban được chia làm hai mũi: Một, do anh Lâm Hồng Long (phóng viên ảnh), Thanh Hà (tin) đi Mê Linh; một, do tôi và Nam Minh (tin), Vũ Hanh (ảnh) đi Uy Nỗ, nơi máy bay B52 vừa ném bom rải thảm.

Qua cầu phao Sông Hồng, tới gần Uy Nỗ thì đã 10 giờ đêm. Cách làng chừng vài trăm mét, chúng tôi phải xuống xe, loay hoay vượt hố bom ở giữa đường (chiếc xe U-oát do anh Đại Chiến lái) thì lại một đợt máy bay B52 nữa kéo tới ù ù trên đầu như xay lúa. Những “con rồng lửa” Thăng Long bay vút lên bầu trời rực sáng. Tiếng pháo cao xạ các tầm nổ rất căng. B52 lại trút bom xuống Uy Nỗ, những ánh chớp lóe sáng cùng những tiếng nổ dữ dội, đất rung chuyển. Chúng tôi kịp chui vào một cái cống mương bên đường trú ẩn; nói với nhau: “Nếu không gặp cái hố bom giữa đường này thì bọn mình đã bị ‘tiêu’ trong trận B52 thứ hai ở Uy Nỗ rồi”. Khỏi kể lại cái cảnh khủng khiếp của một làng quê giữa lũy tre xanh bị liền hai trận bom B52 rải thảm tàn phá đau thương đến thế nào!

Vào Bệnh viện Đông Anh, chúng tôi chứng kiến những người nông dân vô tội, có cả em nhỏ, phụ nữ mang thai, cụ già… máu me đầm đìa đang được các y bác sỹ khẩn trương sơ cứu. Qua máy nói của một đơn vị bộ đội phòng không trên trận địa ven đường, tôi liên lạc được với anh Xuân Ổn, Trưởng phòng Thư ký. Anh truyền đạt ý kiến chỉ đạo của Phó Tổng Giám đốc Đỗ Phượng: Lúc này phải có ngay tin ảnh, nhất là ảnh để ngày mai trên bàn đàm phán Pari, Đoàn ta có bằng chứng tố cáo trước dư luận thế giới về tội ác của đế quốc Mỹ dùng B52 trút bom xuống Hà Nội. Tôi bàn với anh em, không cầu toàn nữa mà nhanh chóng trở về cơ quan kịp làm tin, phóng ảnh ngay. Trên đường trở về chẳng biết loay hoay thế nào xe lại lạc vào sân nhà ga Đông Anh cũng đang là một trọng điểm đánh phá của địch. Tối om. Lối hẹp, nhiều ngả đường bom cày xới, ngổn ngang những toa xe, hàng hóa chất đống. Trên trời từng tốp máy bay chiến đấu Mỹ vẫn quần đảo yểm trợ cho B52 rút. Đến cầu phao Chương Dương, ô tô đủ loại nối hàng dài chờ vượt sông Hồng. Máy bay địch vẫn gầm rú trên đầu. Tôi nói với Đại Chiến, có giấy ưu tiên, cố lách về nhà càng sớm càng tốt. Đại Chiến là một trong những tay lái thiện chiến vừa mới từ tuyến lửa Quảng Bình về, nói: “Em từng lái trong ấy, qua nhiều trận nhưng quả thật chưa bị trận nào lại loay hoay như đêm nay”.

***

Noel 1972. Sau hai ngày tạm ngưng ném bom, đêm 26/12, B52 lại tiếp tục đánh phá thủ đô ta ác liệt hơn, dã man hơn. Chúng trút bom rải thảm thẳng xuống phố Khâm Thiên giữa lòng Hà Nội đông đúc dân cư. Trong những giờ khắc tạm ngưng tiếng bom, và nhất là vào lúc hai bên hưu chiến, tôi được cử theo Thủ tướng Phạm Văn Đồng đi thăm đồng bào, chiến sỹ ta ở một số nơi. Ngoài một số trận địa pháo, tên lửa; đơn vị không quân; Thủ tướng chứng kiến cảnh cấp cứu những bệnh nhân bị kẹt dưới hầm của Bệnh viện Bạch Mai. Thăm cơ sở kỹ thuật của Đài Tiếng nói Việt Nam ở Mễ Trì. Thăm khu dân cư ở gần đình Láng còn nóng hơi bom và ngổn ngang gạch ngói và vượt sông Hồng sang cả bên Yên Viên.

Chuyến này chỉ có hai xe U-oát. Thủ tướng và một số cán bộ văn phòng một xe, cánh phóng viên quay phim, chụp ảnh một xe. Qua Yên Viên, máy bay trinh sát của Mỹ xẹt trên đầu, xe chúng tôi được lệnh bứt lên tới gần Dốc Lã, còn xe Thủ tướng dừng lại, hai đồng chí bảo vệ dìu ông trú vào chiếc hầm chữ A bên đường. Đồng chí bảo vệ Thủ tướng cùng đi cho biết: Trước giờ hưu chiến, ông nhận được tối hậu thư của Tổng thống Mỹ R.Nixon. Vì vậy ông muốn qua chuyến thăm này thị sát dân tình, một lần nữa khẳng định quyết tâm chiến đấu của nhân dân ta bảo vệ thủ đô. Tôi quan sát, chứng kiến gương mặt cương nghị và khắc khổ của Thủ tướng và khi ông nghẹn ngào cầm khăn tay chấm giọt nước mắt. Ông nói với nhân dân rằng: Đây là trận đánh cuối cùng, phải tiêu diệt B52 trên bầu trời thủ đô và nhắc lại Di huấn của Bác Hồ: Thắng giặc Mỹ ta sẽ xây dựng lại đất nước đàng hoàng hơn, to đẹp hơn. Bắt nắm chủ đích chuyến đi này của Thủ tướng, tôi chăm chú quan sát và ghi lại những sự kiện, hình ảnh nói lên tinh thần quyết tâm cao của quân dân thủ đô.

Đêm 26/12/1972, có thể nói là đêm quyết chiến, quyết thắng của quân và dân thủ đô ta. Đêm đó, máy bay B52 bị hạ nhiều nhất kể từ ngày chúng mò vào đánh phá Hà Nội: 8 chiếc bị bắn rơi, trong đó có 5 chiếc rơi tại chỗ. Mũi nhọn của tôi gồm Trần Đình Thảo và Minh Trường (PV ảnh) có mặt ngay khi nhân dân tóm cổ tên giặc lái ở bãi đá, cạnh cái ao nhỏ thôn Phương Liệt. Chúng tôi qua phố Khâm Thiên còn khét lẹt khói bom. Ngay ở Ngõ Chợ, tiếng khóc, tiếng gào thét đến điên dại bên dãy xác người đang chờ khâm liệm… Nhìn cảnh đau thương ấy, người tôi run lên vì căm uất. Ngay đêm ấy, trong ánh nến, dưới căn hầm nhà số 5 Lý Thường Kiệt, bên chiếc bàn nhỏ chỉ huy “tác chiến” của vị Tư lệnh mến yêu – Đào Tùng – chúng tôi viết tường thuật cuộc chiến đấu của quân dân thủ đô, của nhân dân cả nước ta và tố cáo tội ác động trời của đế quốc Mỹ.

Ít hôm sau, trong giao ban, chúng tôi được nghe lại đặc phái viên TTXVN ở Pari điện về cho biết: Lãnh đạo Đoàn đàm phán của ta hoan nghênh ở nhà đã cung cấp đầy đủ, rất kịp thời tin, ảnh tố cáo tội ác đế quốc Mỹ đánh vào thủ đô Hà Nội.

Những gian nan nguy hiểm còn đang tiếp diễn trong cuộc chiến dường như tiêu tan hết. Trong tôi một cảm giác lâng lâng khó tả khi nghĩ rằng mình đang cùng đồng nghiệp góp một phần nhỏ bé vào “Chiến thắng Điện Biên Phủ trên không” lịch sử này.

Nguyễn Văn Trường
baotintuc.vn

Binh chủng đặc biệt- Kỳ 1: Thông tin nhanh hơn B52

LTS: Có thể nói, thắng lợi của “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” mùa đông năm 1972 là thắng lợi của sức mạnh toàn dân, mà trong đó không thể không nhắc đến sự góp sức của một binh chủng đặc biệt, đó là các phóng viên với tay bút, tay máy – những chiến sĩ trên mặt trận thông tin.

Trong những ngày tháng ấy, những phóng viên, biên tập viên trẻ thực hiện các bản Tin nhanh và Tham khảo đặc biệt của TTXVN đã biên dịch nhiều thông tin liên quan đến các chuyến xuất kích của máy bay B52 từ căn cứ không quân của Mỹ nhằm đánh phá Hà Nội, cung cấp kịp thời cho Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh để chỉ huy quân đội chủ động đối phó. Nhiều thông tin đã được gửi đi chỉ chưa đầy hai tiếng đồng hồ sau khi các tốp máy bay B52 rời căn cứ…

Cũng trong 12 ngày đêm “Điện Biên Phủ trên không” tại Hà Nội, nhiều phóng viên TTXVN đã có mặt kịp thời tại những nơi còn khét lẹt khói bom, phản ánh đầy đủ cuộc chiến đấu gan dạ, anh hùng của quân dân thủ đô. Những tin, bài, ảnh ấy cũng được cung cấp kịp thời cho phái đoàn đàm phán của ta tại Pari, tố cáo tội ác của đế quốc Mỹ, góp phần vào thắng lợi trên bàn đám phán.

Báo Tin tức xin trân trọng giới thiệu loạt bài viết về những hoạt động này của phóng viên TTXVN trong 12 ngày đêm cuối năm 1972.

Kỳ 1: Thông tin nhanh hơn B52

Mới đó mà đã 40 năm. Hồi ấy tôi thuộc nhóm mấy anh em biên tập viên trẻ TTXVN chuyên biên dịch và biên tập những tin bài về âm mưu của Mỹ trong cuộc chiến tranh ở Việt Nam để đưa vào các bản Tin nhanh và Tham khảo đặc biệt, cung cấp mỗi ngày vài lần cho Trung ương và Bộ Tổng Tư lệnh.

Phân xã Việt Nam Thông tấn xã lập tại Sài Gòn ngay sau ngày ký Hiệp định Pari (27/1/1973). Trong ảnh: Người đứng đọc tin là tác giả Nguyễn Như Kim.

Trong hơn một chục năm làm công việc đó, tôi nhớ có hai lần Bác Hồ và đồng chí Trường Chinh góp ý trực tiếp cho bản Tin nhanh về việc dịch thuật chưa chuẩn xác, còn phần lớn là được nhận xét tốt, đặc biệt là được Đại tướng Võ Nguyên Giáp khen trong việc biên tập nhanh các tin có liên quan tới các chuyến xuất kích của máy bay B52 từ Guam và các căn cứ không quân của Mỹ ở Thái Lan sang đánh phá Hà Nội, Hải Phòng và một số nơi khác trong mùa đông 1972. Chỉ chưa đầy hai giờ sau khi các tốp máy bay đó rời căn cứ không quân là chúng tôi đã biên dịch hoặc biên tập xong để gửi lên các địa chỉ đặc biệt ở Trung ương trước khi máy bay địch xuất hiện để ta kịp thời và chủ động đối phó. Vậy là thông tin của chúng tôi đã nhanh hơn B52.

Từ đầu tháng 10/1972, nhiều tin tức từ bàn đàm phán tại Pari giữa ta và Mỹ cho thấy Mỹ lật lọng, không chịu ký tắt Hiệp định Pari về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam như đã thỏa thuận. Mỹ đã đòi sửa lại hàng chục chỗ trong hiệp định này với thái độ rất ngang ngược. Trong các cuộc họp bí mật giữa Cố vấn Lê Đức Thọ và Ngoại trưởng Mỹ Kissinger, ta đã nhân nhượng sửa một đôi chỗ và nói rằng đó là những nhân nhượng cuối cùng. Phía Mỹ cố tình kéo dài tình trạng này nhằm chờ kết quả của cuộc bầu cử tổng thống Mỹ. Nixon thắng cử rồi trở mặt mở chiến dịch đánh bom tàn bạo Hà Nội và các thành phố khác bằng B52.

Chiều 18/12/1972, đồng chí Lê Đức Thọ về đến Hà Nội để báo cáo Trung ương về sự lật lọng của Mỹ và bàn phương sách đối phó, thì ngay đêm hôm đó Mỹ mở màn chiến dịch Linebacker 2.

Khoảng 7giờ 30 tối hôm đó tôi cùng mấy anh em trực tin tối, đang theo dõi tin của các hãng AP, UPI, Reuters, AFP… để biên dịch tin nhanh như thường lệ thì nhận được tin khẩn của hai hãng thông tấn Mỹ từ Guam cho biết có nhiều tốp máy bay B52 rời sân bay Guam bay về phía Việt Nam. Chúng tôi báo cáo Tổng Biên tập TTXVN và nhanh chóng dịch nguyên văn mấy tin này rồi một chị đánh máy giỏi được điều động tới chỗ chúng tôi để gõ máy chữ, mỗi táp 7 bản (hồi đó dùng giấy than để đánh máy nhiều bản) nhằm kịp đưa cho liên lạc chạy xe có cắm cờ hỏa tốc, chạy lên các địa chỉ như: Văn phòng Trung ương, Bộ Tổng Tư lệnh, Phủ Chủ tịch, Phủ Thủ tướng, Bộ Tổng Tham mưu…

Từ đó cho đến 10 giờ đêm chúng tôi còn dịch thêm vài tin máy bay B52 xuất phát tiếp từ Guam và căn cứ Corat ở Thái Lan bay tới miền Bắc nước ta. Và khi hệ thống báo động của Thủ đô báo tin máy bay B52 Mỹ đang đánh phá ở ngoại vi Hà Nội, chúng tôi được lệnh xuống hầm trú ẩn làm việc để bảo đảm an toàn người và phương tiện thu tin.

Sau 10 giờ đêm, các tin tức nói về các B52 đầu tiên bị bắn rơi trong chiến dịch Linebacker 2 được phát đi. Bộ Biên tập TTXVN cũng báo tin mừng đêm đầu tiên ta đã bắn rơi 3 máy bay B52, trong đó có chiếc rơi ở Đông Anh và cử một nhóm phóng viên sang đó để làm tin và hy vọng chụp được ảnh và phỏng vấn tên giặc trời vừa bị bắn hạ ở ngoại thành Hà Nội để công bố cho toàn thế giới biết.

Ngày 19/12/1972, địch cho nhiều loạt máy bay phản lực tiêm kích bay tới Hà Nội, Hải Phòng để săn tìm và tiêu diệt các đơn vị tên lửa và cao xạ của ta. Chúng ta vẫn kiên cường đánh trả địch và lại bắn rơi nhiều máy bay nữa. Ngày hôm đó cơ quan tiếp tục cho sơ tán thêm một số chị em nữ và gia đình lên Quốc Oai (Hà Tây cũ). Tối hôm đó cơ quan chỉ còn hơn chục người trực tin các loại, số còn lại xuống một hầm lớn khác trong khu vực cơ quan để tránh thương vong.

Khoảng hơn 7 giờ tối, chúng tôi lại nhận được những tin của phóng viên Mỹ cho biết các tốp B52 lại rời Guam đi Việt Nam. Và khoảng 10 giờ đêm, sau những tiếng ầm ì từ trên cao vọng xuống là những ánh chớp của tên lửa và pháo cao xạ các cỡ của ta đồng loạt bắn lên. Tiếng phát thanh viên báo tin những nơi địch đang đánh phá và những tin vui tên lửa ta hạ nhiều B52 ngay trên bầu trời thủ đô. Đất trời rung chuyển, lửa cháy ngùn ngụt, một vài người trong chúng tôi còn lẻn ra bờ đê sông Hồng ở trước Bệnh viện Hữu Nghị, nấp trong các hầm cá nhân nhìn sang phía sân bay Gia Lâm, khu kho xăng dầu Đức Giang, cầu Đuống… chứng kiến nhiều loạt bom B52 rải xuống các khu vực này. Rồi những trận ném bom xuống sân bay Bạch Mai và các khu dân cư xung quanh.

Cuộc chiến đấu cứ tiếp diễn như vậy, đêm nào chúng tôi cũng báo tin cho Trung ương và Bộ Tổng Tư lệnh trước hai tiếng đồng hồ, có đêm báo trước tới gần 5 tiếng đồng hồ để chỉ huy quân đội sẵn sàng tác chiến và giáng cho địch những đòn tổn thất nặng nề.

Các đêm tiếp theo, như đã thành thói quen, chúng tôi tiếp tục biên tập các tin máy bay B52 xuất kích. Có lần Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam Văn Tiến Dũng đã khen ngợi chúng tôi báo tin sớm giúp ông chỉ đạo các đơn vị phòng không sẵn sàng chiến đấu. Và chiến công nối tiếp chiến công, sau 12 ngày đêm chúng ta đã làm nên một Điện Biên Phủ rực lửa ngay trên bầu trời Hà Nội, một chiến công lừng lẫy của thế kỷ 20, một chiến công làm nức lòng nhân loại tiến bộ với việc bắn rơi 81 máy bay, trong đó có 34 chiếc B52, 5 chiếc cánh cụp cánh xòe (F.111), bắt sống 43 phi công Mỹ.

Tổn thất lớn lao khiến Mỹ không thể tiếp tục chiến dịch Linebacker 2 nữa và chấp nhận gặp lại phái đoàn ta tại Pari trong cuộc gặp bí mật sau đó mươi ngày. Lần gặp đó Cố vấn Lê Đức Thọ đã mang theo một mảnh xác máy bay B52 tặng Kissinger ngay khi mở đầu cuộc họp để cảnh cáo ông ta. Và chỉ sau một hai phiên họp, Hiệp định Pari về lập lại hòa bình ở Việt Nam đã được ký kết vào ngày 27/1/1973, chấm dứt cuộc chiến tranh phi nghĩa của Mỹ ở Việt Nam và toàn cõi Đông Dương.

Nguyễn Như Kim
baotintuc.vn

Kỳ cuối: “Cần ngay tin, ảnh tố cáo tội ác Mỹ đánh bom B52 vào thủ đô”

“Điện Biên Phủ trên không” trong ký ức chuyên gia Liên Xô

Dù đã 40 năm trận “Điện Biên Phủ trên không” lùi vào lịch sử, những chàng trai trẻ năm nào giờ đã lên ông, sức khỏe không còn cho phép họ nói chuyện sôi nổi hàng giờ về những ngày bầu trời Hà Nội rực lửa, song các chuyên gia Liên Xô từng giúp đỡ Việt Nam trong những năm chiến tranh vẫn nhớ như in từng trận đánh của 12 ngày đêm quyết tử giữ bầu trời Thủ đô.

Thượng tướng Anatoli Khiupenen.

Ngồi giữa Mátxcơva, cách nơi từng xảy ra các trận không chiến ác liệt năm xưa hàng chục nghìn km, nhưng cái cách họ lần giở từng trang hồi tưởng khiến ai cũng nghĩ như chuyện mới ngày hôm qua.

Người đầu tiên chúng tôi muốn nói đến là Thượng tướng Anatoli Khiupenen, Trưởng đoàn cố vấn quân sự Liên Xô tại Việt Nam giai đoạn 1972 – 1975. Chẳng đợi hỏi han nhiều, ông bắt đầu ngay câu chuyện về những ngày Mỹ ném bom Hà Nội. Trong câu chuyện bằng tiếng Nga, thi thoảng xen vào cụm từ “Điện Biên Phủ trên không” lơ lớ tiếng Việt, ông kể: “Có hai trận đánh đáng nhớ nhất ở Việt Nam là Điện Biên Phủ và Hà Nội thì cả hai cường quốc quân sự thế giới là Pháp và Mỹ đều thua.

Cách họ thua giống nhau, chỉ khác nhau về thời gian và mặt trận: một thua năm 1954 và một thất trận năm 1972; một thua trên bộ và một bại trên không. Người Mỹ rõ ràng kỳ vọng Việt Nam sẽ đặt bút ký Hiệp định Pari vào khoảng ngày 13 – 14/12/1972 với những điều kiện do họ áp đặt. Chính vì không đạt được mục đích này, họ đã ném bom rải thảm miền Bắc Việt Nam với âm mưu làm đất nước tê liệt và gây khủng hoảng tâm lý dân chúng. Nhưng cuối cùng họ đã phải hứng chịu thất bại. Người Mỹ thua vì họ quên mất rằng, trước họ, lần lượt phong kiến Trung Quốc, Pháp, Nhật rồi lại đến lượt Pháp đã phải đầu hàng nhân dân Việt Nam.

Trung tướng Victor Philipov (ngồi phía trong).

Nhìn trận không chiến dưới con mắt một nhà quân sự chuyên nghiệp, ông Khiupenen tiếp tục câu chuyện của 40 năm về trước: “Trong hơn 10 ngày oanh kích Hà Nội, người Mỹ đã áp dụng các chiến thuật ném bom khác nhau, từ rải thảm đến tiêu diệt từng mục tiêu riêng lẻ, từ tầm thấp đến tầm cao, từ đêm sang ngày… nhằm khiến lực lượng phòng không – không quân Việt Nam không kịp trở tay. Họ tính toán hạ gục hệ thống phòng không của Hà Nội trước rồi mới oanh tạc Thủ đô và các vùng lân cận.

Song với những thông tin tình báo kịp thời và sự chỉ huy tài tình của các nhà quân sự Việt Nam, lực lượng phòng không Việt Nam đã nắm được thế chủ động trước từng trận đánh. Bên cạnh đó, các cán bộ, chiến sỹ phòng không Việt Nam cũng có sự trưởng thành và rút ra bài học rất nhanh chóng. Nếu ngày đầu Mỹ ném bom, tôi nhớ là ngày 18/12, phòng không Việt Nam phải bắn tới 35 quả tên lửa mới tiêu diệt được 1 máy bay B52 của Mỹ thì đến ngày 26/12 chỉ bắn 42 quả đã hạ gục tới 5 máy bay B52. Với hiệu quả đánh trả như thế, người Mỹ đã không thể tiếp tục tự tung tự tác trên bầu trời Hà Nội”.

“Tôi có cảm giác rằng người Mỹ cố tình sử dụng miền Bắc Việt Nam như một bãi thử các loại vũ khí tối tân nhất của họ lúc bấy giờ, như bom laser, máy bay trinh sát không người lái chẳng hạn, là những khái niệm hoàn toàn mới đối với giới quân sự thời đó. Nhưng điều quan trọng nhất là chính họ đã phải chịu thua, thừa nhận thất bại và ngồi vào bàn đàm phán” – Thượng tướng Khiupenen kết thúc câu chuyện của mình bằng nhận định như vậy.

Cũng từng có mặt tại Việt Nam vào những tháng ngày lịch sử ấy, Trung tướng Victor Philipov, Cố vấn – Trung đoàn trưởng Trung đoàn 263, Sư đoàn 4 – Quân khu 4 giai đoạn 1960 – 1975 rành rọt kể: “Khi công tác tại Việt Nam, tôi chủ yếu hoạt động ở thành phố Vinh, thuộc Quân khu 4. Tôi nhớ năm đó là 1972, khoảng tháng 11 thì bắt đầu có thông tin Hà Nội sẽ bị ném bom. Nhóm chuyên gia chúng tôi lập tức được điều động ra tăng cường cho một đơn vị tên lửa đóng ở ngoại thành Hà Nội. Mặc dù đã có sự chuẩn bị trước nhưng chúng tôi vẫn bất ngờ vì Mỹ ném bom dữ dội ngay từ lần oanh tạc đầu tiên. Bom rơi cách chỗ chúng tôi phục kích chỉ hơn chục mét”.

Còn đây là cảm nhận của ông về những người đồng nghiệp Việt Nam: “Các sỹ quan Việt Nam chiến đấu cùng với chúng tôi phải nói được đào tạo hết sức bài bản. Họ tự chiến đấu mà không cần có sự tư vấn của chúng tôi. Sự tư vấn chỉ cần thiết khi cục diện trận đánh thay đổi căn bản, hoặc cần dự báo chiến thuật lần oanh tạc tiếp theo của không quân Mỹ. Tình cảm của các sỹ quan và nhân dân Việt Nam đối với chúng tôi rất quý báu. Tôi nhớ lúc Chủ tịch Hồ Chí Minh còn sống, Người từng nói rằng cần phải hết sức bảo vệ tính mạng của các chuyên gia Liên Xô để máu của họ không phải đổ trên mảnh đất Việt Nam. Có lẽ vì thế mà các đồng nghiệp Việt Nam thường khuyên tôi vào hầm trú ẩn. Nhưng tôi là người được phân công tư vấn cho họ cách đánh thì làm sao có thể bỏ họ lại để đi trú ẩn một mình? Các bạn cũng nên nhớ, lúc đó tôi là người có quyền đưa ra mệnh lệnh, tôi đã đề nghị các sỹ quan Việt Nam vào hầm trú ẩn nhưng cũng không ai chịu đi. Ngay cả anh phiên dịch cho tôi cũng nhất quyết không chịu rời chiến tuyến. Anh ấy được đào tạo không chỉ để thành phiên dịch mà còn là một người lính thực thụ. Hành động này của các sỹ quan Việt Nam khiến tôi một lần nữa nhớ lại lời cụ Hồ Chí Minh có lần nói rằng không một người Việt Nam nào có thể sống yên ổn nếu đất nước còn chưa được thống nhất dù chỉ một ngày”.

Bài và ảnh: Cao Cường (P/v TTXVN tại LB Nga)
baotintuc.vn

Sẵn sàng chiến đấu bảo vệ bầu trời Tổ quốc

Nhân kỷ niệm 40 năm chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên phủ trên không”, ngày 19/12, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã đến thăm cán bộ chiến sĩ thuộc Quân chủng Phòng không – Không quân.

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang với cán bộ chiến sĩ Trung đoàn Không quân 921(Đoàn Sao Đỏ). Ảnh: Nguyễn Khang – TTXVN

Nói chuyện với cán bộ, chiến sĩ Quân chủng Phòng không – Không quân, Chủ tịch nước nêu rõ, trong gần 50 năm qua, quá trình xây dựng và trưởng thành, chiến đấu và chiến thắng, lập nhiều chiến công xuất sắc của Quân chủng Phòng không – Không quân gắn liền với lịch sử phát triển của quân đội và đất nước ta, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ kính yêu. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, quân chủng là lực lượng nòng cốt của chiến tranh nhân dân đánh thắng hai cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân của đế quốc Mỹ đối với miền Bắc. Đặc biệt, trong cuộc đối đầu lịch sử với không quân Mỹ 12 ngày đêm tháng 12 năm 1972, bộ đội Phòng không – Không quân đã phát huy cao độ chủ nghĩa anh hùng cách mạng, cùng toàn quân, toàn dân ta đánh bại cuộc tập kích chiến lược đường không bằng máy bay B.52 vào Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố khác, bắn rơi 81 máy bay các loại; trong đó có 34 máy bay chiến lược B.52, làm nên chiến thắng vĩ đại “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”. Đây là một trong những chiến công lừng lẫy của dân tộc ta trong thế kỷ 20. Chiến thắng đó đã tô đậm thêm truyền thống vẻ vang của quân đội ta và của bộ đội Phòng không – Không quân anh hùng.

Trong những năm tới, Chủ tịch nước đề nghị cán bộ chiến sĩ quân chủng quán triệt và thực hiện tốt các nghị quyết của Đảng, của Quân ủy Trung ương. Đặc biệt là Nghị quyết Trung ương 8 khóa IX về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới” và Nghị quyết Đại hội XI của Đảng, Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) về xây dựng Đảng; trong đó cần tập trung thường xuyên chăm lo xây dựng quân chủng vững mạnh toàn diện, lấy xây dựng về chính trị làm cơ sở để nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu. Bảo đảm toàn quân chủng là một khối thống nhất về ý chí và hành động, tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc và nhân dân, với chế độ xã hội chủ nghĩa. Chăm lo xây dựng Đảng, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên ngang tầm với yêu cầu nhiệm vụ mới. Thường xuyên nghiên cứu nắm chắc tình hình, âm mưu thủ đoạn của địch, nhất là đối tượng tác chiến phòng không, để có những phương án, quyết tâm chính xác, kịp thời, không ngừng hoàn thiện thế trận phòng không gắn với thế trận phòng thủ trên từng khu vực. Làm tốt vai trò tham mưu cho Đảng, Nhà nước và Bộ Quốc phòng xây dựng các lực lượng phòng không, tạo thành thế trận phòng không nhân dân vững mạnh, rộng khắp, sẵn sàng chiến đấu bảo vệ vững chắc bầu trời Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Chủ tịch nước nhấn mạnh lãnh đạo quân chủng cần tiếp tục nghiên cứu tổng kết những kinh nghiệm quý báu từ thực tiễn các cuộc chiến tranh giải phóng và chiến tranh bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta trong thế kỷ XX và kinh nghiệm trong các cuộc chiến tranh trên thế giới gần đây, đặc biệt là trong các chiến dịch phòng không lớn, để vận dụng trong điều kiện mới. Tăng cường nghiên cứu lý luận, nghệ thuật quân sự, tác chiến phòng không hiện đại; coi giáo dục đào tạo và huấn luyện chiến đấu là nhiệm vụ trọng tâm thường xuyên của tất cả các cấp. Chủ tịch nước khẳng định: Quân chủng huấn luyện phải sát với yêu cầu nhiệm vụ, sát với thực tế chiến đấu hiện nay. Bên cạnh đó, đầu tư chiều sâu các nhà máy quốc phòng, cải tiến, đổi mới trang thiết bị, nâng cao năng lực sửa chữa, ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ mới; bảo đảm công tác hậu cần phục vụ ngày càng tốt hơn cho các nhiệm vụ của quân chủng.

H.G
baotintuc.vn

40 năm Hiệp định Paris

Ông Lê Đức Thọ và ông Henry Kissinger chúc mừng nhau sau lễ ký kết

(VOV) -Hiệp định chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, ký kết tại Paris ngày 27/1/1973

vov.vn

Người anh hùng quật ngã B.52

Tại bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam ở 28A Điện Biên Phủ, Hà Nội có trưng bày hai bảo vật quốc gia. Đó là chiếc xe tăng T54 số hiệu 843 tấn công vào Phủ Tổng thống Sài Gòn năm 1975 và chiếc máy bay MiG-21 số hiệu 5121, từng được Anh hùng Phạm Tuân lái, xuất kích bất ngờ từ sân bay Yên Bái trong đêm 27/12/1972 và “trùm” một chiếc B52 vào biển lửa …

Đêm 27/12/1972 không chỉ là đêm đáng nhớ với Trung tướng Phạm Tuân, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, mà còn mở ra một bước ngoặt lịch sử trong cuộc chiến trên không với B-52 để bảo vệ vùng trời Thủ đô Hà Nội, khẳng định sự đúng đắn của quyết tâm đánh con “ngáo ộp” này bằng lực lượng phòng không ba thứ quân, trong đó lực lượng chủ yếu là máy bay.

Anh hùng Phạm Tuân.

Liên tục trước đó trong vài ngày, MiG 21 đã cất cánh truy kích “pháo đài bay”, song do nhiễu điện tử nặng nên đành quay về. Mặc dù không đánh được B52 song sự xuất hiện của MiG đã thu hút được đám máy bay tiêm kích địch, phá vỡ đội hình B52 từ xa, làm cho cường độ nhiễu giảm, tạo điều kiện cho tên lửa quật ngã B52. Thế nhưng việc hỏa lực tên lửa đã hàng chục lần bắn hạ “Pháo đài bay” trong khi chưa có chiến công nào của Không quân đã khiến B52 thực sự là cái gai trong mắt Không quân Việt Nam.

Tới cái đêm lịch sử tạo bước ngoặt cho cuộc chiến trên không đó, cả bầu trời Thủ đô đen kịt. Mặt đất chốc chốc lại lóe lên những ánh sáng sau tiếng nổ inh tai nhức óc của những chùm bom rải thảm từ “pháo đài bay”. Nhận lệnh từ Bộ Tư lệnh Quân chủng, chiếc MiG-21 mang số hiệu 5121 do Phạm Tuân điều khiển xuất kích từ sân bay dã chiến ở Yên Bái. Lao vút trong màn đêm giữa các lớp mây bằng tốc độ siêu âm với sự hướng dẫn của đội ngũ sĩ quan dẫn đường bay có kinh nghiệm nhất của các sở chỉ huy như Dũng, Vóc, Lê Biên, chiếc MiG 21 xuyên qua đội hình những “con ma” F-4 có nhiệm vụ bảo vệ B52. Tiếp cận cách mục tiêu khoảng 1,5 – 2km, Phạm Tuân nhấn nút phóng 2 quả tên lửa. Trong nháy mắt, chiếc B52 bị “nướng chín”. Chiếc MiG 21 lập tức bổ nhào, xuống độ cao an toàn và hạ cánh.

Thiếu tướng Phạm Tuân nhớ lại đêm “hoa lửa” đó, đặc biệt là lúc hạ cánh chiếc MiG 21 trên đường băng sân bay Nội Bài: Tôi cất cánh trong điều kiện sân bay đã bị F-111A đánh bom. Cháy, khói lửa khắp nơi. Sau đó, B52 lại tiếp tục đánh vào sân bay. Đài chỉ huy bị san phẳng. Tôi về hạ cánh thì sân bay Gia Lâm không liên lạc được, sân bay Kép cũng vậy, tất cả các sân bay không nơi nào nhận tín hiệu. Lúc đó, tôi xin hạ cánh xuống sân bay Nội Bài, vốn cũng đang bị đánh ác liệt lắm. Tôi quyết tâm hạ cánh xuống sân bay Nội Bài, xin bật đèn pha đường băng để hạ cánh. Bấy giờ, tôi không biết có hố bom nằm giữa sân bay, cách nơi hạ cánh 300m. Vừa tiếp đất thì cánh máy bay nghiêng, hai quả tên lửa bay vèo về phía trước, máy bay lật nghiêng 90 độ, chạy bằng cánh, sau đó lật ngược trở lại và quay đầu về hướng hạ cánh.

Sau chiến thắng bắn hạ B52 bằng MiG 21 do phi công Phạm Tuân lái, tất cả các chiến sĩ lái máy bay của không quân ta như được khích lệ. Một không khí ngầm thi đua tiêu diệt B52, làm rạng danh Không quân Việt Nam đã diễn ra. Trong số đó có phi công Vũ Xuân Thiều, một chàng trai người Hà Nội điềm đạm, kỹ thuật bay giỏi. Đã có lần Thiều tâm sự với đồng đội, nếu như gặp B52, bắn không rơi, Thiều sẽ làm quả đạn đâm vào “pháo đài bay”. Rồi như định mệnh, đêm 28/12, Thiều trực chiến và được lệnh cất cánh từ sân bay dã chiến ở Thanh Hóa đến vùng trời Sơn La. Sau khi khéo léo, mưu trí lách qua được vòng vây dày đặc của các chiến đấu cơ địch, Thiều đã cho chiếc MiG 21 của mình áp sát B52 và xin lệnh phóng đạn. Hai quả tên lửa phóng đi nhưng B.52 chỉ bị thương. Thiều xin lệnh tấn công tiếp. Cả Sở chỉ huy thắt lại khi nghe tiếng Thiều: “Thăng Long, Thăng Long, tôi đã bắn 2 quả tên lửa. B52 chỉ bị thương nhẹ. Xin phép được tiêu diệt”. Vài giây sau, tín hiệu của Thiều trên bản đồ bay biến mất, kể cả dấu hiệu của chiếc B.52. Các chiến sĩ liên lạc gọi dồn dập, vừa khóc vừa gọi Thiều nhưng không một tín hiệu hồi âm. Thiều đã anh dũng hy sinh, lao thẳng vào chiếc pháo đài bay Mỹ.

Ngày 10/9/1972, Mỹ cho nhiều máy bay ném bom, bắn phá một số vùng dân cư thuộc thành phố Hà Nội. Các lực lượng vũ trang Thủ đô đã nổ súng chính xác, bắn rơi 2 máy bay, trong đó có một chiếc rơi tại chỗ. Trong ảnh: Xác 1 trong 2 chiếc máy bay bị bắn rơi. Ảnh: Văn Bảo – TTXVN.

Nói về thắng lợi lịch sử của bộ đội Phòng không Không quân trong chiến dịch 12 ngày đêm trên bầu trời Hà Nội, Thiếu tướng Phạm Tuân phân tích: Nguyên nhân chiến thắng thì nhiều, nhưng với một người trực tiếp chiến đấu trong quân đội thì thấy có 2 vế. Đầu tiên là việc “nhìn xa trông rộng” của Đảng, của Bác, đặc biệt là Bác Hồ. Những gì Bác nói đều là tiên đoán đúng. Bác bảo: B52, B57, “bê” gì đi nữa ta cũng đánh và đã đánh là phải thắng. Bác giao đánh B52 cho bộ đội Phòng không Không quân. Bác nói rất rõ: Ở Việt Nam thế nào Mỹ cũng thua, nhưng chúng chỉ thua sau khi thua trên bầu trời Hà Nội. Đó là mệnh lệnh, là kim chỉ nam xuyên suốt mà bộ đội Phòng không Không quân là nòng cốt cùng các lực lượng khác chuẩn bị lực lượng để đánh. Chúng ta đánh giá đúng kẻ thù, đánh giá đúng âm mưu thủ đoạn, rồi đánh giá kỹ chiến thuật của nó để chúng ta chuẩn bị. Thứ hai là công tác chuẩn bị lực lượng dựa trên hai nền tảng: Ý chí, quyết tâm đánh và quyết đánh thắng; phát huy trí tuệ của đội ngũ phi công và lãnh đạo chỉ huy.

Tâm sự về Thủ đô 40 năm trước đỏ khói lửa và Thăng Long – Hà Nội của thời điểm hiện nay, cũng như lớp phi công trẻ của Quân chủng Phòng không không quân hiện nay, Tướng Phạm Tuân bảo: Đảng và Nhà nước rất quan tâm, đầu tư cho lực lượng bộ đội Phòng không Không quân và Hải quân. Bây giờ phi công ta có điều kiện tập luyện tốt, máy bay toàn thế hệ mới, tên lửa mới bắn được rất xa chứ không như trước đây. Với truyền thống của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng, truyền thống của bộ đội Phòng không Không quân mà đặc biệt trong chiến dịch 12 ngày đêm, sẽ còn lưu truyền mãi và được phổ biến đến mai sau. Chắc chắn rằng, đây là cơ sở để đội ngũ phi công hiện nay nhìn nhận, đánh giá đúng lực lượng sẵn sàng nhận nhiệm vụ”.

Anh Tùng
baotintuc.vn

Chiến dịch phòng không 12 ngày đêm qua những con số

QĐND – Tổng số lần xuất kích của các loại máy bay Mỹ đi đánh phá: 4.583 lần chiếc, trong đó B-52 là 663 lần chiếc; không quân chiến thuật 3.920 lần chiếc. Không quân Mỹ ném xuống Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, thị xã trên miền Bắc tổng cộng khoảng 100.000 tấn bom, đạn; phá sập gần 5.500 ngôi nhà, trong đó có gần 100 nhà máy, trường học, bệnh viện; giết hại 2.368 dân thường, làm bị thương hơn 1.350 người…

– Cường độ xuất kích của máy bay chiến lược B-52: Đêm thấp nhất 24 lần chiếc (các đêm 21 và 22-12), cao nhất 105 lần chiếc (đêm 26-12). Cường độ xuất kích của không quân chiến thuật (các loại máy bay khác): Cao nhất 465 lần chiếc (ngày 19-12); trung bình 300-400 lần chiếc; riêng máy bay KC.135 bay hơn 1.300 lần chiếc tiếp dầu trên không.

– Trong 12 ngày đêm chiến đấu đánh trả cuộc tập kích đường không, quân và dân ta đã bắn rơi 81 máy bay Mỹ gồm: 34 chiếc B-52 (trong đó 16 chiếc rơi tại chỗ), 47 máy bay chiến thuật các loại, trong đó có 5 chiếc F.111A, 21 chiếc F4CE, 4 chiếc A6A, 12 chiếc A7… Không quân Mỹ còn bị tổn thất nặng nề, đã mất hàng trăm phi công, hầu hết là những phi công kỳ cựu, đã bay hàng nghìn giờ, là nguồn nhân lực tác chiến bậc cao của quân đội Mỹ.

* Các tập thể, cá nhân được tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân

– Tập thể: Binh chủng Tên lửa; Sư đoàn Phòng không Hà Nội (Sư đoàn 361); Trung đoàn Tên lửa 261; Trung đoàn Tên lửa 257; Trung đoàn Ra-đa 291; Tiểu đoàn Tên lửa 77 (Trung đoàn 257); Đại đội Ra-đa 45 (nay là Trạm ra-đa 45), Trung đoàn 293; Đại đội Ra-đa 25 (nay là Trạm ra-đa 25), Trung đoàn 295; Đại đội Ra-đa 37 (nay là Trạm ra-đa 37), Trung đoàn 293.

Thủ đô Hà Nội, với thành tích to lớn trong hai cuộc kháng chiến, đặc biệt là trong chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, được phong tặng danh hiệu “Thủ đô Anh hùng”.

– Cá nhân: Đồng chí Nguyễn Văn Phiệt, nguyên Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn Tên lửa 57 (Trung đoàn 261, Sư đoàn 361); đồng chí Phạm Tuân, phi công lái máy bay MiG-21; Liệt sĩ Vũ Xuân Thiều, Phi công lái máy bay MiG-21 (Binh chủng Không quân); đồng chí Nguyễn Đình Kiên, nguyên Đại đội trưởng, kiêm sĩ quan điều khiển tên lửa; đồng chí Nguyễn Lành, nguyên sĩ quan điều khiển tên lửa (Sư đoàn 361).

HÀ ANH (tổng hợp)
qdnd.vn