Tag Archive | Văn hóa – Xã hội

Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục – đào tạo

Bác Hồ thǎm đại biểu giáo viên toàn miền Bắc năm 1958.

Trong suốt cuộc đời hoạt động cứu nước, cứu dân của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng sự nghiệp giáo dục và vai trò, vị trí của người thầy. Nhiều lần Bác đã đi thăm các trường học, các hội nghị của ngành giáo dục, gửi và điện cho thầy giáo và học sinh. Mỗi lần như thế Bác đã có lời dạy chân tình.

Trước Cách mạng Tháng Tám, Người coi giáo dục là một bộ phận của công cuộc giải phóng dân tộc. Bản thân Người đã tích cực tham gia huấn luyện, đào đạo đội ngũ cán bộ cách mạng ngay từ khi trở về đất Quảng Châu (Trung Quốc): tổ chức lớp học, biên soạn tài liệu, trực tiếp giảng dạy. Người thực sự là một thầy giáo cách mạng đầu tiên. Nhiều học trò của Người sau đó cũng là những thầy giáo, những nhà giáo dục đi sâu vào phong trào quần chúng vừa dạy văn hóa, vừa tuyên truyền cách mạng cho đồng bào…

Cách mạng Tháng Tám thành công mở ra một kỷ nguyên mới cho dân tộc. trong hoàn cảnh mới, giáo dục trở nên hết sức quan trọng và cấp bách. Chính vì vậy, Hồ Chủ tịch đã đặt nhiệm vụ giáo dục ở hàng thứ hai trong khẩu hiệu “diệt giặc đói, diệt giặc dốt, diệt giặc ngoại xâm”. Người đánh giá rất cao đội ngũ giáo viên: “anh chị em là đội tiên phong trong sự nghiệp tiêu diệt giặc dốt. Anh chị em chịu cực khổ, khó nhọc, hi sinh phấn đấu để mở mang tri thức phổ thông cho đồng bào, để xây đắp nền văn hóa sơ bộ cho dân tộc”(1). Người nhắc nhở phải “chăm lo dạy dỗ con em của nhân dân thành người công dân tốt, người cán bộ tốt của nước nhà”(2).

Thầy cũng như trò, cán bộ cũng như nhân viên phải thật thà yêu nghề mình. “Còn gì vẻ vang hơn là nghề đào tạo những thế hệ sau này tích cực góp phần xây dựng CNXH và CNCS? Người thầy giáo tốt – thầy giáo xứng đáng là thầy giáo, là người vẻ vang nhất. Dù là tên tuổi không đăng trên báo, không được thưởng huân chương, song những người thầy giáo tốt là những anh hùng vô danh. Đây là một điều rất vẻ vang. Nếu không có thầy giáo dạy dỗ cho con em nhân dân thì làm sao mà xây dựng CNXH được? Vì vậy nghề thầy giáo rất là quan trọng, rất là vẻ vang, ai có ý kiến không đúng về nghề thầy giáo thì phải sửa chữa”(3). Người phân biệt rõ vị trí khác nhau của người thầy trong xã hội cũ và xã hội mới. Xưa nghề thầy giáo là gõ đầu trẻ để kiếm cơm ăn, nay là sự nghiệp quan trọng “trăm năm trồng người”, để thực hiện nhiệm vụ nặng nề và cao cả đó, người thầy phải có năng lực phẩm chất cao, phải có lòng yêu nghề, yêu trẻ, phải “làm kiểu mẫu về mọi mặt: tư tưởng, đạo đức, lối làm việc”(4).

Để làm tốt công việc giảng dạy của mình, người giáo viên còn phải hình thành cho mình hàng loạt những năng lực sư phạm khác như năng lực dạy học, năng lực ngôn ngữ, năng lực tổ chức, năng lực giao tiếp…

Trong Đại hội chiến sĩ thi đua toàn Ngành Giáo dục ngày 21-2-1956, Bác đã ân cần căn dặn: “Các cô, các chú là những thầy giáo, những cán bộ giáo dục đều phải luôn luôn cố gắng học thêm, học chính trị, học chuyên môn. Nếu không tiến bộ mãi thì sẽ không theo kịp đà tiến chung, sẽ trở thành lạc hậu”(5).

Tại buổi nói chuyện chỉnh huấn giáo viên phổ thông toàn miền Bắc, năm 1958, Người đã nhắc lại câu “giáo bất nghiêm, sư chi đọa” – dạy không nghiêm là do thầy lười nhác.

Để nhắc nhở trách nhiệm cao cả, đáng trân trọng của người thầy, Người căn dặn: “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây. Vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”(6). Khắc ghi lời Bác dặn, kế thừa truyền thống “tôn sư trọng đạo” của dân tộc, Đảng và Nhà nước ta đã có những quyết sách nhằm phát huy mọi tiềm năng của con người, trong đó có đội ngũ thầy, cô giáo và những người làm công tác quản lý giáo dục. Nguồn lực giáo dục, đào tạo trước hết là nguồn lực con người, trong đó thầy cô giáo và cán bộ quản lý giáo dục là nguồn lực quan trọng nhất. Luật Giáo dục được Quốc hội thông qua ngày 11-12-1998 đã ghi rõ: “Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người phát triển toàn diện có đạo đức, trí tuệ, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và CNXH, hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất, năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng xác định “Giáo dục và đào tạo có sứ mệnh nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần quan trọng phát triển đất nước, xây dựng nền văn hoá và con người Việt Nam. Phát triển giáo dục và đào tạo cùng với phát triển khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu; đầu tư cho giáo dục và đào tạo là đầu tư phát triển. Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo theo nhu cầu phát triển của xã hội; nâng cao chất lượng theo yêu cầu chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá, dân chủ hoá và hội nhập quốc tế, phục vụ đắc lực sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đẩy mạnh xây dựng xã hội học tập, tạo cơ hội và điều kiện cho mọi công dân được học tập suốt đời”(7).

Trong giai đoạn hiện nay, đất nước ta đang trong thời kỳ đổi mới, đẩy mạnh CNH, HĐH và hội nhập kinh tế quốc tế. Do đó, sự nghiệp giáo dục – đào tạo càng trở nên quan trọng. Trước những đòi hỏi đó, vai trò của người thầy càng có ý nghĩa. Sứ mệnh, nhiệm vụ của những nhà giáo hơn lúc nào hết rất nặng nề và người thầy cần phải tạo dựng cho mình những phẩm chất và năng lực nhằm cống nhiến nhiều hơn nữa cho Tổ quốc nói chung, sự nghiệp giáo dục – đào tạo nói riêng.

Để thực hiện được lời dạy cuả Bác, người thầy cần phải đẩy mạnh việc nghiên cứu khoa học, phải luôn tìm tòi, sáng tạo không ngừng để tiếp nối một cách xứng đáng thế hệ những người đi trước, không ngừng rèn luyện, hoàn thành tốt vai trò thiêng liêng đối với xã hội. Đồng thời đổi mới nội dung, phương pháp giảng dạy, phải năng động, sáng tạo, linh hoạt, có phương pháp làm việc khoa học, có ý chí vượt khó và đặc biệt phải có tâm huyết với nghề nghiệp mà mình đã lựa chọn. Người thầy không thể tự bằng lòng với những kiến thức đã có mà phải nâng cao, vươn xa hơn về nhận thức, tiếp cận tốt hơn với phương pháp giảng dạy tích cực nhằm tạo ra những “sản phẩm” tốt đáp ứng có hiệu quả nhu cầu của xã hội, của công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, CNH, HĐH đất nước.

Trần Văn Hạnh
3CB-36 -Tam Phước – TP. Biên Hoà – Đồng Nai
xaydungdang.org.vn

————————–

(1). Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 4, Nxb CTQG, H,2001, tr.220. (2). Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 7, Nxb CTQG, H,2001, tr.501. (3).Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 11, Nxb CTQG H, 2001, tr.329-330. (4). Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 6, Nxb CTQG, H,2001, tr.46. (5).Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 8, Nxb CTQG, H,2001, tr.126-127. (6) Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 9, Nxb CTQG, H,2001, tr.222. (7).Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, H, 2011, tr.77.

Phải ra sức chống hạn

Lời của Bác - Lời của non sôngNgày 4-12-1959, trên Báo Nhân dân số 2088, trong bài “Phải ra sức chống hạn”, Bác Hồ viết:

“Dù cho hạn hán khắp nơi/Người mà quyết chí thì trời phải thua/Không mưa mà vẫn được mùa”.

Sinh thời, Bác Hồ rất quan tâm đến công tác phòng, chống hạn hán. Trong nhiều bài phát biểu, bài viết, Người thường xuyên nhắc đến hai từ “hạn hán”. Người gọi hạn là “giặc hạn” để kêu gọi mọi lực lượng, mọi lứa tuổi ở từng địa phương đều phải tham gia chống hạn: Mỗi người phải ra sức chống hạn. Ai ai cũng thi đua tham gia chống hạn. Các cụ già có kinh nghiệm, thanh niên có sức lực làm đầu tàu. Các cháu thiếu nhi ra đồng động viên, nấu nước cho đồng bào uống. Mỗi người một tay, già trẻ góp sức, nhất định chống hạn thắng lợi.

Cuối năm 1959, thiên tai, hạn hán diễn ra ở nhiều nơi trên miền Bắc, ảnh hưởng đến sản xuất vụ chiêm xuân của bà con nông dân. Song song với việc chỉ đạo các bộ, ngành giúp bà con nông dân chống hạn, Bác đã viết bài báo “Phải ra sức chống hạn” để tuyên truyền rộng rãi trong nhân dân, nhắc nhở từng địa phương phải đặc biệt quan tâm tới mùa màng. Người nêu việc, nhiều địa phương trong cả nước mặc dù bị thiên tai nhưng vẫn được mùa. “Đó là vì đồng bào nông dân và cán bộ ta đã quyết tâm chống hạn”.

Sau khi gặt xong vụ mùa thắng lợi, thời tiết khô hạn kéo dài, nhiều nơi thiếu nước cho sản xuất vụ chiêm, vì thế, Bác nêu rõ: “Chúng ta phải ra sức làm thủy nông nhỏ và quyết tâm tìm mọi cách chống hạn. Các hợp tác xã và tổ đổi công phải hăng hái làm chủ lực. Thanh niên phải là những đội đột kích xung phong. Bộ đội phải cố gắng giúp sức. Toàn thể đảng viên ở nông thôn phải gương mẫu. Cán bộ từ tỉnh đến xã phải  xem xét tận đồng ruộng, phải cùng quần chúng bàn bạc, đặt kế hoạch cho sát và theo dõi đôn đốc, chu đáo liên tục. Như thế thì chúng ta nhất định đánh thắng giặc hạn và bảo đảm vụ chiêm thắng lợi”.

Thực hiện lời dạy của Bác, Đảng, Nhà nước ta rất chú trọng phát triển nông nghiệp, với nhiều chủ trương, giải pháp phòng, chống thiên tai nhằm tăng năng suất cây trồng. Các tỉnh đã cơ bản xây dựng các hồ chứa nước lớn; xây dựng hàng nghìn công trình thuỷ lợi, trong đó có nhiều công trình quy mô lớn góp phần nâng cao năng lực phòng, chống, giảm nhẹ thiên tai.

Những lời dạy của Bác về công tác phòng, chống hạn hán đến nay vẫn còn nguyên giá trị trong công cuộc phòng, chống thiên tai, bảo vệ môi trường.

Theo Báo Hải Dương online
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Rèn luyện tu dưỡng đạo đức suốt đời

Việt Nam - Hồ Chí MinhNgày 26-12-1963, Bác thăm và chúc Tết Hội đồng Chính phủ đang họp phiên cuối năm.

Bác nhắc nhở các thành viên trong Chính phủ phải làm tốt ba Cuộc vận động lớn do Đảng và Chính phủ đã phát động, đặc biệt là Cuộc vận động “3 xây, 3 chống”. Người nói: “Hiện nay, chúng ta làm 3 xây, 3 chống còn kém. Anh chị em công nhân và nhân viên ở cơ sở thì rất hăng hái, nhưng từ cấp giám đốc lên đến bộ trưởng, thứ trưởng thì còn nhiều người chưa chuyển, cho nên có chỗ cuộc vận động bị tắc lại. Bây giờ phải làm 3 xây, 3 chống cả hai chiều, từ dưới lên và từ trên xuống. Bản thân các đồng chí bộ trưởng, thứ trưởng, các cán bộ lãnh đạo phải 3 xây, 3 chống. Hơn ai hết, người lãnh đạo phải nhận rõ cuộc vận động 3 xây, 3 chống này rất quan trọng để làm cho tốt”.

Người yêu cầu các Bộ trưởng, Thứ trưởng và cán bộ lãnh đạo “phải luôn gương mẫu về mọi mặt, phải nêu gương sáng về đạo đức cách mạng: Cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, phải giữ gìn tác phong gian khổ phấn đấu, phải không ngừng nâng cao chí khí cách mạng trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc. Có như thế mới xứng đáng với đồng bào miền Nam đang chiến đấu vô cùng anh dũng chống đế quốc Mỹ và tay sai của chúng để giải phóng miền Nam và hoà bình thống nhất nước nhà”. Người khẳng định: “Nhân dân ta rất tốt. Nếu chúng ta làm gương mẫu và biết lãnh đạo thì bất cứ công việc gì khó khăn đến đâu cũng nhất định làm được”.

Bác Hồ đã phát động cuộc thi đua “3 xây, 3 chống”, viết sách “Người tốt, việc tốt” để tuyên truyền, giáo dục đạo đức, lối sống. Người cho rằng, muốn xây dựng đạo đức mới thì xây phải đi đôi với chống. Cùng với việc xây dựng đạo đức mới, bồi dưỡng những phẩm chất tốt đẹp, nhất thiết phải chống những biểu hiện phi đạo đức, sai trái, xấu xa, trái với những yêu cầu của đạo đức mới, đó là “chủ nghĩa cá nhân”.

Bác khẳng định, đạo đức cách mạng phải qua đấu tranh, rèn luyện bền bỉ mới thành, “phải rèn luyện, tu dưỡng đạo đức suốt đời”. Người viết: “Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hằng ngày mà phát triển và củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”.

Học tập và làm theo những nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức mà Người đã chỉ ra chính là biện pháp quan trọng để mọi cán bộ, đảng viên và tổ chức Đảng sửa chữa, khắc phục tình trạng suy thoái về đạo đức.

Theo Báo Hải Dương online
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Ai phá vỡ Hiệp định Paris 1973?


Trên thực tế, mỗi bên lại ủng hộ những điều khoản nằm trong lợi ích của mình.

Hiệp định Hòa bình Paris về Việt Nam năm 1973 là một sự nhầm tên bởi vì mãi đến tháng 4/1975 hòa bình mới đến với Việt Nam, và chắc chắn không theo cách mà các điều khoản chính thức của văn bản này đã yêu cầu. Về cơ bản, Hiệp định tách bạch các vấn đề về quân sự và chính trị, với các vấn đề về quân sự khá rõ ràng còn các vấn đề về chính trị cần nhiều thương lượng so với thực thi – và những vấn đề này có thể không xảy ra một cách thành công. Hiệp định thiết lập một Ủy ban Liên hợp quân sự nhưng vì các quyết định của ủy ban này phải được nhất trí nên nó tất phải thất bại. Hiệp định tạo ra một Ủy ban Kiểm soát và Giám sát quốc tế bao gồm các thành viên thuộc các nước NATO, các nước cộng sản và trung lập, nhưng vì các quyết định của ủy ban này cũng phải được nhất trí nên nó cũng chỉ là hình thức mà thôi.

Khi hoàn thành văn bản cuối cùng, Nixon tuyên bố rằng Mỹ công nhận Việt Nam Cộng hòa do tướng Nguyễn Văn Thiệu đứng đầu như “chính phủ hợp pháp duy nhất của Nam Việt Nam”. Điều đó có nghĩa là ông sẽ cổ vũ những phần trong Hiệp định mà ông ủng hộ và phớt lờ phần còn lại. Chế độ Thiệu không công nhận Chính phủ Cách mạng Lâm thời và sẽ chỉ ký một thỏa thuận tách biệt không liên quan tới lực lượng này. Trên thực tế, mỗi bên lại ủng hộ những điều khoản nằm trong lợi ích của mình. Các cuộc chiến tranh cách mạng hiếm khi kết thúc bằng ngoại giao.

Đối với Tổng thống Richard Nixon và cố vấn an ninh quốc gia Henry Kissinger, Hiệp định cung cấp thời gian mà cùng với nó họ hy vọng sẽ chiến thắng Cuộc chiến Việt Nam bằng cách bảo với Trung Quốc và Nga – hai nước đang ở trong một tiến trình chia rẽ sâu sắc, rằng nếu họ không hợp tác với Mỹ thông qua cắt viện trợ quân sự cho những người Cộng sản Việt Nam, họ sẽ có các biện pháp tăng cường sức mạnh cho kẻ thù của họ, bằng cách đó đe dọa kích động hai cường quốc cộng sản này chống lại nhau – còn gọi là “phép đạc tam giác”.

Toàn cảnh cuộc ký kết Hòa đàm Paris. Ảnh tư liệu

Niềm tin rằng ngoại giao khéo léo sẽ thành công đã trói buộc chính phủ Mỹ, và họ tin vào ảo tưởng này cho tới tận khi thực tế ở Việt Nam trở nên không thể đảo ngược. Mỹ công khai nói với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Bắc Việt Nam, rằng viện trợ kinh tế sẽ sẵn sàng như một sự “khuyến khích hiển nhiên” nếu họ ngừng “xâm phạm” miền Nam.Nhưng những người Cộng sản đã dốc hết sức, lại kém xa về quân số và trang thiết bị so với các lực lượng của Thiệu, do Thiệu nhận được một nguồn cung quân sự khổng lồ từ Mỹ mà phần lớn trong số đó họ không thể bảo trì hoặc vận hành. Những vũ khí mới này không chỉ là một sự vi phạm Hiệp định Paris mà chúng còn khuyến khích Thiệu dám liều về quân sự, mà rút cục ông ta đã bị đánh bại.

Thực tế kể trên đã khiến quân đội Mỹ đi đến kết luận rằng tiếp thêm vũ khí cho chính quyền Sài Gòn chỉ lãng phí tiền của (hóa ra đúng như vậy). Hơn nữa, vào năm 1973, nhiều sĩ quan Mỹ hiểu rõ thực tế rằng nhiệm vụ chủ yếu của tư lệnh quân đội của Thiệu là củng cố quyền lực chính trị cá nhân của ông này hơn là phục vụ như một lực lượng chiến đấu hiệu quả – và rằng sự vượt trội về vũ khí của lực lượng này là vô nghĩa.

Thiệu cũng tin rằng Mỹ sẽ trở lại cuộc chiến với các máy bay B-52: các danh sách mục tiêu được vẽ ra. Các kiểm soát viên không gian của Mỹ ở Thái Lan luôn sẵn sàng. Bê bối Watergate của Nixon, rút cục dẫn tới việc ông này từ chức Tổng thống Mỹ, sắp chấm dứt khả năng đó. Tuy nhiên, Thiệu chưa từng nhận ra rằng đồng minh quyền lực và thân cận nhất của ông giờ đã ra đi.

Hiệp định cũng gây chia rẽ trong ban lãnh đạo Việt nam Dân chủ Cộng hòa, với một số người nghĩ có thể phải một thập niên nữa hoặc hơn mới đạt được chiến thắng.

Một dòng vũ khí, và khoảng 23.000 cố vấn người Mỹ và người nước ngoài tới dạy cho quân đội Việt Nam Cộng hòa cách sử dụng và bảo quản vũ khí, khiến cho Thiệu ngày càng tự tin, cộng với cam kết bí mật của Nixon rằng sức mạnh không quân Mỹ sẽ trở lại cuộc chiến nếu Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đưa quân trở lại miền Nam, cam kết mà Quốc hội Mỹ không hề hay biết và rất có thể sẽ phản đối nếu xảy ra.

Nhưng cả Trung Quốc và Liên Xô, mặc dù ngày càng chia rẽ, đều không phản bội những người Cộng sản Việt Nam theo cách và thời gian mà chiến lược ngoại giao của Kissinger hy vọng. Ảo tưởng rằng ngoại giao khôn khéo sẽ thành công khi mà sức mạnh quân sự thất bại đã buộc chặt Nixon và Kissinger cho đến khi tất cả trở nên quá muộn. Hơn nữa, các yếu tố mà sẽ quyết định kết quả cuối cùng của một cuộc chiến trường kỳ đã vượt tầm kiểm soát của Mỹ.

Thiệu đã dùng khoảng thời gian trì hoãn mà Hiệp định mang lại cho ông ta để nỗ lực củng cố quyền lực của mình và trong quá trình đó bắt đầu xa lánh các thành phần trong dân chúng miền Nam không phải là “cộng sản” nhưng muốn kết thúc một cuộc xung đột gây đau thương cho Việt Nam trong nhiều thập niên. Hiệp định được dự kiến, ít nhất có vẻ như vậy, mang lại hòa bình và hòa giải, chứ không phải thêm chiến tranh. Họ không hay biết gì về các giả thuyết suông của Kissinger nhằm cho phép Mỹ cứu vãn “tín nhiệm” của mình.

Người dân thành thị ở Nam Việt Nam khi đó, đặc biệt là các Phật tử, phải chịu một mức độ đàn áp chưa từng thấy bởi chính quyền Thiệu. Báo chí và truyền hình bị kiểm soát ở một mức độ mới, và sự trấn áp càng khiến cho một bộ phận ngày càng đông dân cư thành thị xa lánh. Thiệu còn làm xa lánh cả những đồng minh tự nhiên của ông: nhiều người trở nên trung lập.

Những người tha phương muốn trở lại làng quê ở những khu vực có người Cộng sản nhưng nhìn chung họ bị cấm đoán – một sự vi phạm các điều khoản của Hiệp định. Lúa gạo và hàng hóa bán cho nông dân ở vùng châu thổ sông Mekong bị giám sát chặt chẽ để ngăn không cho lúa gạo tới tay quân Mặt trận Dân tộc Giải phóng. Trong khi đó, Thiệu sử dụng nguồn vũ khí dồi dào mà Mỹ cung cấp cho ông ta, đặc biệt là pháo, và đến năm 1974, một cuộc chiến tranh nóng đã tái diễn (nhưng không có quân đội Mỹ), với quân đội Việt Nam Cộng hòa ARVN nổ súng ác liệt hơn nhiều so với những người Cộng sản.

Thực tế, dù dự kiến đạt được gì thì Hiệp định Paris 1973 chỉ mang lại một khoảng thời gian tạm lắng trong Cuộc chiến Việt Nam. Sai lầm của Thiệu là không nỗ lực làm cho Hiệp định Hòa bình có hiệu lực, chia sẻ một chút quyền lực với các Phật tử, với tầng lớp trung lưu, thậm chí với một số người Cộng sản – mà phần lớn họ là những người dân tộc chủ nghĩa thực sự. Thay vào đó, ông ta nghĩ sự vượt trội về vũ khí sẽ cho phép mình giành toàn thắng. Thiệu đã quá nhầm, và phải kết thúc trong cảnh sống tha hương khi quân đội của ông ta tan rã vào mùa xuân năm 1975.

Sam Nguyễn theo Counter Punch
vietnamnet.vn

—–

* Tác giả Gabriel Kolko là sử gia hàng đầu về chiến tranh hiện đại. Ông là tác giả cuốn Century of War: Politics, Conflicts and Society Since 1914 and Another Century of War. Ông cũng là sử gia nổi tiếng về chiến tranh Việt Nam, với tác phẩm: Anatomy of a War: Vietnam, the US and the Modern Historical Experience. (Tạm dịch Giải phẫu một cuộc chiến tranh : Việt Nam, Mỹ và kinh nghiệm lịch sử).

Nhà ngoại giao khổng lồ Lê Đức Thọ

Hội thảo khoa học về ông Lê Đức Thọ – nhà lãnh đạo giàu kinh nghiệm, tài năng trên các lĩnh vực chính trị, quân sự, ngoại giao, cố vấn đặc biệt của phái đoàn đàm phán của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa về Hiệp định Paris lịch sử.

Hội thảo khoa học “Đồng chí Lê Đức Thọ với cách mạng Việt Nam và quê hương Nam Định” do Ban Tuyên giáo Trung ương, Ban Tổ chức Trung ương, Tỉnh ủy Nam Định, Học viện Chính trị – Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh phối hợp tổ chức đã diễn ra tại Nam Định ngày 5/9. Hội thảo được tổ chức nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh của ông, nhà lãnh đạo giàu kinh nghiệm, tài năng trên các lĩnh vực chính trị, quân sự, ngoại giao.

Hơn 60 tham luận và bài viết của lãnh đạo Đảng và Nhà nước, các nhà khoa học và những người từng làm việc với ông Lê Đức Thọ tiếp tục khẳng định những cống hiến to lớn của ông đối với cách mạng Việt Nam qua các thời kỳ, nhưng đậm nét hơn cả vẫn là những đóng góp của ông trên mặt trận ngoại giao.

Ông Lê Đức Thọ (phải). Ảnh: tư liệu

Tên tuổi Lê Đức Thọ, cố vấn đặc biệt của phái đoàn đàm phán của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trở thành tâm điểm cuả giới truyền thông thế giới với cuộc đàm phán kéo dài tới hơn 4 năm. Một cuộc đàm phán kéo dài nhất trong lịch sử ngoại giao Việt Nam buộc Mỹ phải ký Hiệp định Paris ngày 27.1.1973 về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam.

Ủy ban giải thưởng Nobel đã quyết định trao giải thưởng Nobel hòa bình năm đó cho ông Lê Đức Thọ, giải Nobel duy nhất dành cho người Việt từ trước tới nay nhưng ông đã từ chối với lý do hòa bình chưa thực sự lập lại trên đất nước Việt Nam.

“Kiến trúc sư” về công tác cán bộ

Nguyên Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Dy Niên cho hay, đối với các nhà ngoại giao, cái khó trong đàm phán đó là lúc cương, lúc nhu. Ông Lê Đức Thọ trong đàm phán đã có lúc cương với đối phương nhưng ông đã thành công trong cách ứng xử linh hoạt khiến ông Kissinger nể và bị thuyết phục.

Ông Lê Đức Thọ và Ngoại trưởng Mỹ Henry Kissinger. Ảnh tư liệu

“Ông ý là nhà ngoại giao khổng lồ. Ông ý khổng lồ ở chỗ đối phương đối thoại với Lê Đức Thọ là Kissinger, một học giả rất lớn của Mỹ thời đó. Lúc đó, Kissinger rất ngạo mạn, những tưởng có thể đè bẹp Lê Đức Thọ nhưng không thể được. Ví như làm thế nào để thống nhất được với Mỹ về vấn đề Mỹ phải rút quân. Mỹ muốn nếu Mỹ rút quân thì miền Bắc cũng phải rút quân khỏi miền Nam, đánh đồng như thế không thể được. Cuối cùng đồng chí Lê Đức Thọ đưa ra một công thức đó là vấn đề quân đội Việt Nam ở lãnh thổ Việt Nam do các bên Việt Nam giải quyết với nhau. Còn việc Mỹ rút quân là chuyện Mỹ phải rút. Tôi nghĩ trí tuệ của ông ý ở chỗ tìm một giải pháp đúng với lợi ích của mình” – nguyên Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Dy Niên cho hay.

Trải qua nhiều chức vụ quan trọng và sau này khi phụ trách công tác tổ chức cán bộ của Đảng trong nhiều năm, ông đã có nhiều đóng góp quan trọng cho công tác xây dựng Đảng và tổ chức của cả hệ thống chính trị.

Ông Nguyễn Đình Hương, nguyên Phó trưởng Ban Tổ chức Trung ương nhận xét: “Vấn đề cán bộ là quyết định nhất. Thượng bất chính, hạ tắc loạn. Cán bộ không gương mẫu làm thế nào xây dựng Đảng tốt? Cho nên ông Thọ, yếu tố quan trọng của ông ý hàng đầu là vấn đề cán bộ. Cán bộ là quyết định nhất. Đứng đầu một cơ quan, đứng đầu một tỉnh uỷ, đứng đầu một đơn vị, ông thủ trưởng phải mẫu mực, phải trở thành một thủ lĩnh gương mẫu nhất, một thủ lĩnh kiên cường nhất, có bản lĩnh nhất. Ông Thọ thích xây dựng cán bộ kiểu như vậy”. 

Nguyên Tổng bí thư Lê Khả Phiêu đánh giá ông Lê Đức Thọ là một “phái viên chiến lược toàn năng, có thể ví như một tướng quân tài ba thao lược”. Đặc biệt trong công tác cán bộ, ông có những công lao lớn trên cương vị Trưởng ban Tổ chức Trung ương qua nhiều kỳ đại hội Đảng toàn quốc, đặc biệt trong công tác tổ chức – cán bộ. Được đánh giá như là một “kiến trúc sư” trong lĩnh vực này, ông Lê Đức Thọ đã để lại cho Đảng, Nhà nước những kinh nghiệm quý báu trong việc xem xét, đánh giá cán bộ.

“Trong các kỳ Đại hội IV, V, VI của Đảng, đồng chí Lê Đức Thọ được phân công giữ cương vị Trưởng Ban Tổ chức Trung ương, đồng chí đã có công lớn trong việc tham gia soạn thảo xây dựng Điều lệ Đảng, xây dựng quan điểm cách mạng, đấu tranh kiên quyết chống các quan điểm sai trái, đặc biệt là trong công tác tổ chức – cán bộ. Có thể đánh giá đồng chí Sáu Thọ như một “kiến trúc sư” về lĩnh vực này.”

Nhiều tham luận tại hội thảo đi sâu nghiên cứu những đóng góp của ông Lê Đức Thọ trên tất cả các lĩnh vực: chính trị, quân sự, ngoại giao, văn học, nghệ thuật…, khẳng định, trong bất cứ lĩnh vực nào, ông cũng để lại những dấu ấn nổi bật, sáng tạo và sâu sắc.

Từ những luận cứ khoa học nêu ra, các tham luận đều nhất trí cho rằng, ông Lê Đức Thọ không chỉ là một nhà lãnh đạo tài năng mà còn là người có đóng góp to lớn trong việc thực hiện nghĩa vụ quốc tế cao cả của đất nước, là một tấm gương sáng ngời của người cộng sản kiên cường, bất khuất, suốt đời trung thành, tận tụy với nước với dân; là một người cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư; luôn có tinh thần tiến công, lạc quan cách mạng, chủ động, quyết đoán và sáng tạo; hết lòng thương yêu đồng bào.

Ông Lê Đức Thọ, tên thật là Phan Đình Khải, sinh ngày 10/10/1911 tại xã Địch Lễ, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định, nay là xã Nam Vân (TP Nam Định) trong một gia đình nho giáo, ở vùng đất có truyền thống yêu nước, hiếu học. Ông nguyên là Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương, là một trong những học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, một chiến sỹ cách mạng kiên cường, một cán bộ lãnh đạo giàu kinh nghiệm của Đảng và Nhà nước.

Ông đã được Đảng và Nhà nước tặng Huân chương Sao Vàng; Đảng và Nhà nước Liên Xô tặng Huân chương Cách mạng Tháng Mười; Nhà nước Campuchia tặng Huân chương Angkor…

vietnamnet.vn

Hòa đàm Paris 1968: Áp lực gia tăng

Để giải quyết các vấn đề của mình, Humphrey không nhận được nhiều sự ủng hộ từ phía tống thống.

>> Kỳ 1: Hòa đàm Paris 1968: Trò chơi hai cấp độ?
>> Kỳ 2: Hòa đàm Paris: Mỹ xếp Việt Nam Cộng hòa ở đâu?
>> Kỳ 3: Hòa đàm Paris và ‘kẻ xúi bẩy’ đằng sau Johnson
>> Kỳ 4: Hòa đàm Paris giữa cuộc đối đầu của các cố vấn
>> Kỳ 5: Hòa đàm Paris 1968: ‘Hãy đừng bị lừa dối’

Trong một cuộc họp vào cuối tháng 9, Tổng thống Johson còn lớn tiếng mắng Humphrey vì để lộ thông tin mật về Việt Nam.

Như vị Phó Tổng thống sau đó kể cho bác sĩ của ông: “Ông có biết những gì [Johnson] dám nói vào mặt tôi không, sau tất cả những lời sỉ nhục mà tôi nhận được từ ông ấy trong bốn năm qua? Ông ấy nói rằng nếu tôi không xem xét thái độ của mình thì ông ấy sẽ đích thân coi đó là vấn đề cá nhân nếu tôi để mất Texas (vào ngày bầu cử). Ông ấy nói ông ấy sẽ vắt kiệt từng đôla của Đảng Dân chủ từ Maine tới California – như thể ông ấy chưa làm thế. Tôi cố gắng kiềm chế nhưng tôi sẽ không sa sút tới mức độ của kẻ dối trá đó”.

Vào giữa tháng 10, Humphrey tới Nhà Trắng gặp Tổng thống để bàn bạc kín về bầu cử. Tuy nhiên, Johnson từ chối gặp ông bởi vì tin tức về cuộc gặp đã bị rò rỉ cho báo chí. Là Bộ trưởng Nông nghiệp, và cũng là một đồng minh thân cận của Humphrey, Orville Freeman đã nhận xét một cách chán chường: “Đó là sự thể hiện hờn dỗi và cũ rích của Tổng thống”.

Johnson hẳn là đã nhỏ vài giọt nước mắt cho màn thể hiện tồi của Humphrey trong các cuộc thăm dò dư luận. Tuy nhiên, áp lực ngày càng gia tăng lên Johnson đòi ông phải ướm thử thiện ý của Bắc Việt Nam nhằm bắt tay vào các cuộc đàm phán thực sự. Cuối cùng, đồng ý với các yêu cầu của Harriman cho một cú mặc cả ngoại giao quan trọng, Tổng thống đặt ra thời hạn ngừng ném bom là vào 31/10 – chỉ vài ngày trước cuộc bầu cử Tổng thống.

Quyết định này đã được đưa quá muộn để mà nâng Humphrey qua giới tuyến cuối cùng, nhưng cũng đủ kịp để gợi ý rằng Johnson vẫn quan tâm đến việc đảm bảo hòa bình trước khi nhiệm kỳ Tổng thống của ông kết thúc. Johnson đã đạt được các đảm bảo vững chắc từ các mưu trưởng liên quân Mỹ rằng quân đội có thể kiểm soát được việc ngừng ném bom. Vị Tổng tham mưu trưởng Earle Wheeler giải thích rằng Mỹ có thể dễ dàng đánh bom trở lại nếu như Bắc Việt Nam dại dột thực hiện một cuộc tổng tiến công khác.

Hội đàm bí mật Lê Đức Thọ – Kítxinhgiơ tại Pari. Ảnh tư liệu

Tin tức này đã gây ra lo lắng trong nội bộ nhóm vận động tranh cử của Nixon. Họ sợ rằng Humphrey có thể là người được hưởng lợi chính từ nước cờ kiến tạo hòa bình vào phút chót của Johnson. Henry Kissinger chính là tay trong đã thông báo cho nhà quản lý chiến dịch của Nixon, John Mitchell, rằng chính quyền Johnson có kế hoạch dừng ném bom.

Như Herbert Schandler viết: “Kissinger đã gặp riêng Harriman, Vance và các thành viên khác trong đoàn đàm phán ở Paris vào giữa tháng 9, ngay trước cuộc gặp đầu tiên giữa Harriman – Vance với Bắc Việt Nam, và họ đã chia sẻ với ông ấy sự thất vọng của mình, và cập nhật cho ông tình trạng của các cuộc hòa đàm. Khi lên kế hoạch cuộc gặp này, Kissinger đã dùng một thủ đoạn gian xảo nhằm xây dựng lòng tin của Harriman.

Ông ta viết cho Harriman ngày 15/8 rằng “có thể tôi sẽ có mặt ở Paris vào khoảng 17/9 và tôi thực sự muốn ghé qua và gặp ông ở đó. Tôi đã đoạn tuyệt với chính trị Cộng hòa. Đảng này không có năng lực và không phù hợp để lãnh đạo”. Kissinger đã dối trá để thuyết phục Harriman rằng ông ta đồng cảm với các nỗ lực của vị đại sứ và rằng bất cứ vấn đề nào được bàn đến đều sẽ được thực hiện trong sự tin tưởng tuyệt đối”.

Đại diện cho Richard Nixon, một nữ thương gia người Mỹ gốc Hoa có ảnh hưởng tên là Anna Chennault – Giám đốc tổ chức “Phụ nữ Cộng hòa vì Nixon” trên toàn quốc – đã thông báo cho Đại sứ Nam Việt Nam Bùi Diễm rằng ứng viên Tổng thống có kế hoạch bắt tay vào các cuộc đàm phán trực tiếp, thực sự. Chennault khuyên Tổng thống Thiệu nên từ chối tham gia vào các cuộc đối thoại trước khi diễn ra bầu cử, vì ông chắc chắn sẽ có được các điều khoản tốt hơn dưới thời Nixon so với Humphrey. Thủ đoạn này đã đặt chính trị đảng phái lên trước mạng sống của lính Mỹ trên chiến trường. Họ hành động phối hợp với một đất nước ở xa để chống lại các mục đích công khai của chính phủ Mỹ.

Thủ đoạn của nhóm Nixon không lâu sau thì trực tiếp đến tai Tổng thống. Vào cuối tháng 11, anh trai của Walt Rostow, Thứ trưởng Ngoại giao Eugene Rostow, phát hiện ra Nixon muốn các cuộc đàm phán Paris gặp trở ngại. Dựa trên những thông tin do một chỉ điểm trong chiến dịch Cộng hòa cung cấp, Rostow giải thích rằng “những khó khăn này sẽ giúp Nixon thuận tiện hơn khi dàn xếp sau tháng 1.

Giống như Ike năm 1953, ông sẽ có thể dàn xếp các thỏa thuận mà Tổng thống không thể chấp nhận, đổ lỗi cho tình hình từ lúc đó đến tháng 1 hoặc tháng 2 đã xấu đi do người tiền nhiệm của mình. Sau đó vào ngày 29/10, Walt Rostow báo cáo với Tổng thống rằng ông có thông tin về “cách thức một số thành viên Cộng hòa nhất định có thể đã kích động Nam Việt Nam hành xử như họ đã và đang hành xử”.

Tuy nhiên, thay vì công khai bằng chứng mà có thể làm trệch hướng chiến dịch của Nixon, Rostow lại khuyến cáo rằng “các vật liệu rất dễ nổ, chúng có thể gây thiệt hại lớn cho đất nước dù Nixon trúng cử hay không”. Có thể Rostow, khi phản đối các thủ đoạn mà phe Cộng hòa sử dụng, lại cảm thông với mục đích của Chennault là đảm bảo một nền hòa bình tốt hơn để bảo vệ Nam Việt Nam. Một cách bản năng, Rostow ủng hộ một hòa bình do Nixon dàn xếp hơn là do Humphrey dàn xếp.

Vì vậy, thay vì công khai chống lại những can thiệp của Nixon, Rostow lại khuyên Tổng thống tổ chức một cuộc họp kín với ứng viên Tổng thống phe Cộng hòa, trong đó Johnson sẽ khuyên Nixon rằng ông “có thể muốn cảnh báo những người của mình là hãy thận trọng hết mức khi làm việc với Nam Việt Nam vốn dễ bị ảnh hưởng và thiếu kinh nghiệm”. Tổng thống đã nghe theo lời khuyên của Rostow.

Vào ngày 30/9, Hubert Humphrey đã có bài phát biểu ở thành phố Salt Lake, tuyên bố sự độc lập chính trị của ông khỏi chính sách Việt Nam của chính quyền Johnson và bày tỏ ủng hộ cho một sự kết thúc ném bom vô điều kiện. Tổng thống rất tức giận vì Humphrey thiếu tôn trọng khi nêu ra quan điểm chủ bại như vậy. Theo ý của Johnson, Phó Tổng thống đã hướng tới những người chủ trương hòa bình vì lợi ích chính trị của bản thân, và làm như vậy ông đã thể hiện sự phản bội của mình.

Lúc đầu, Johnson định công khai tiết lộ của Chennault: “Nó sẽ làm chấn động thế giới nếu ông ta [Thiệu] đồng lõa với đảng Cộng hòa. Bạn có thể tưởng tượng được những gì người ta sẽ nói nếu sự thật phơi bày rằng Hà Nội đã đáp ứng tất cả các điều kiện và tiếp đó mưu đồ của Nixon với họ khiến chúng ta không đạt được điều đó”.

Trong một cuộc hội thoại với lãnh đạo thiểu số Thượng viện Everett Dirksen ngày 2/11, Tổng thống mô tả các hành động của Nixon là “phản quốc”, và Dirksen trả lời “Tôi biết”. Tuy nhiên, cuối cùng Johnson lại quyết định bỏ qua thủ đoạn xảo quyệt của Nixon. Lyndon Johnson đã làm đúng như Rostow khuyên bảo.

Ông ta gọi Nixon tới vào ngày 3/11để trách cứ riêng và Nixon cười đáp: “Chúa ơi, tôi sẽ không bao giờ làm điều gì khuyến khích Hà Nội – ý tôi là Sài Gòn – không tới bên bàn đàm phán”. Tất nhiên, dối trá là một quá trình đến với Richard Nixon một cách tự nhiên.

Tình tiết này rất quan trọng, liên quan đến cả khoảng thời gian mở rộng của Cuộc chiến Việt Nam lẫn tương lai của chính trị bên trong nước Mỹ. Cuộc chiến Việt Nam kéo dài mãi cho tới tháng 1/1973, trong khi 1968 là một “cơn bĩ cực” đối với Đảng Dân chủ mà mãi tới gần đây đảng này mới có thể nguôi ngoai. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, những nhân vật ít hiếu chiến hơn cũng quá đắn đo về việc công khai hóa tiết lộ của Chennault.

Chẳng hạn, Clark Clifford muốn Humphrey giành chiến thắng vang dội, nhưng lại lo ngại rằng “một số thành phần của câu chuyện đang sửng sốt đến nỗi tôi đang băn khoăn liệu có tốt cho đất nước này không khi tiết lộ câu chuyện, và sau đó có thể để cho một cá nhân nào đó được bầu chọn. Nó có thể đặt toàn bộ chính quyền của người đó vào những nghi ngờ mà tôi nghĩ rằng sẽ có hại cho lợi ích của đất nước chúng ta”. Viễn cảnh tồi tệ nhất cho đoàn kết quốc gia là, theo quan niệm của Clifford, để câu chuyện bung ra và Nixon sẽ vẫn thắng.

Dù sao, những trang nhật ký của Hubert Humphrey cũng bày tỏ sự hối tiếc là đã không hành động nhiều hơn nữa về tiết lộ của Chennault: “Tôi băn khoăn liệu mình có nên thổi còi Anna Chennault và Nixon hay không. Ông ta phải biết về cuộc gọi của bà ấy cho Thiệu. Tôi ước tôi có thể chắc chắn. Thiệu chết tiệt. Kéo chân ông ta cuối tuần rồi đã làm hại chúng ta. Tôi băn khoăn liệu cuộc gọi đó có thế không. Nếu Nixon biết. Có thể dù gì tôi đã nên phá họ”. Một người hiện còn ấn tượng rằng Humphrey vẫn cay đắng chuyện Johnson không khuyên ông ta bằng những lời lẽ mạnh mẽ hơn để công khai mối quan hệ Chennault/Nixon-Thiệu.

Như nhật ký ngày bầu cử của Humphrey đã biểu lộ một cách buồn rầu, “[. . .] Tôi có thể khóc. Chưa từng cảm thấy như thế này. Tôi đã làm quá dở một số điều. Bạn phạm những sai lầm như thế trong một chiến dịch. Có thể sẽ hoàn thành nó trong một tuần lễ khác. Chúng tôi đang tiến tới quá nhanh. Tại sao, tại sao, tại sao chúng ta lại bắt đầu trở lại quá xa thế?”.

Tất nhiên, có một nguyên nhân quan trọng tại sao Humphrey lại bắt đầu trở lại quá xa. Bất cứ lợi thế nào mà một sự đột phá của các cuộc hòa đàm Paris có thể mang lại cho chiến dịch của Humphrey đều bị chặn trước do Tổng thống không sẵn sàng tiếp tục trên mặt trận đó một cách cấp thiết.

Tổng thống đã ra lệnh dừng ném bom như dự định vào ngày 31/10. Trong một giác thư thẳng thắn và thiện chí gửi tới LBJ, Rostow thổ lộ rằng “sự an toàn duy nhất mà tôi từng biết trong 8 năm khó khăn này là cố vấn sự đánh giá và lương tâm của tôi. Và tôi biết rằng đó cũng là niềm an ủi duy nhất của ngài”. Khi đưa ra quyết định khó khăn này, Rostow thể hiện: “Ngài có thể luôn kỳ vọng ở tôi”.

Cảm thông với tình trạng khó xử của Johnson, Rostow viết rằng “Ngài sẽ bị cáo buộc chơi trò chính trị nếu ngài để điều này trôi đi – và chính trị chống lại đảng mà ngài dẫn đầu. Harriman và người Nga sẽ nhìn ra điều đó”. Rõ ràng Averell Harriman đã chìm rất sâu trong đánh giá của Rostow để ông này biện hộ sự so sánh với những người Xô viết. Tuy nhiên, Rostow tin rằng Không lực Mỹ vẫn có thể ra vài đòn trong thời gian chuyển tiếp. Giống như một thiếu niên bị lôi ra khỏi một trận ẩu đả, vẫn còn hăng máu, Rostow nói thêm rằng “chúng ta không thể đảm bảo rằng mọi đơn vị sẽ nhận lệnh đúng thời điểm dừng ném bom. Bởi thế, họ sẽ không phàn nàn nếu có một sự vi phạm nào đó trong 7 giờ đồng hồ sau thời gian họ chỉ định”.

Dù quyết định dừng ném bom tạo một cú huých chậm cho chiến dịch bơ phờ của Humphrey, người Mỹ đã bầu chọn Richard Nixon làm Tổng thống tiếp theo của họ với đa số 510.000 phiếu phổ thông. Có thể hiểu được, từ đó, các cuộc hòa đàm Paris chìm xuống do Sài Gòn không muốn đồng ý các điều khoản dưới một tổng thống đang nắm quyền những ngày cuối cùng, với một triển vọng hấp dẫn của Nixon sắp ló dạng.

Tuy các viễn cảnh chân thực về hòa đàm đã rõ ràng trước đó trong năm, việc dừng ném bom ngày 31/10 của Lyndon Johnson là quá nhỏ nhoi và quá muộn màng. Tuy nhiên, thậm chí đã đến lúc này, Rostow vẫn muốn Harriman ra khỏi các cuộc đàm phán ở Paris. Ông ta bịa ra một kế hoạch ranh ma nhằm đạt được mục đích.

Viết vào ngày 7/11, Rostow thông báo với Tổng thống rằng Harriman sẽ bước sang tuổi 77 vào ngày 15/11: “Tôi vừa nảy ra ý nghĩ rằng nếu chúng ta muốn gạt bỏ ông ta, chúng ta có thể tổ chức cho ông ta một bữa tiệc hoành tráng, mời tất cả bạn bè của ông ta – và sau đó đưa ông ta ra khỏi Paris trong giai đoạn tiếp theo”. Biết rõ rằng mưu đồ này có thể bị từ chối, Rostow vuốt đuôi rằng “dù đó là một ý kiến hay hay dở, tôi nghĩ ngài sẽ muốn biết rằng sắp đến sinh nhật của ông ấy rồi”.

David Milne

  • Tác giả David Milne là một giảng viên cao cấp về Lịch sử Chính trị Mỹ tại Đại học Đông Anglia. Ông là một thành viên Fox International tại Đại học Yale năm 2003, một thành viên cấp cao của Viện Gilder-Lehrman về Lịch sử Mỹ, New York City, năm 2005, và ông có tư cách hội viên tại Hiệp hội Triết học Mỹ, Philadelphia, năm 2008. Chuyên khảo đầu tiên của ông, “Rusputin của Mỹ: Walt Rostow và Cuộc chiến Việt Nam” đã được Hill and Wang xuất bản năm 2008. Hiện nay ông đang viết cuốn sách thứ 2, tựa đề tạm thời là Thuyết duy lý trí trong Ngoại giao Mỹ (Intellectualism in American Diplomacy), cho Farrar Straus and Giroux. Tác phẩm của ông đã xuất hiện trên Tạp chí Lịch sử Quân sự, International Affair, The Nation, và the Los Angeles Times.

Sam Nguyễn dịch
vietnamnet.vn

Hòa đàm Paris 1968: ‘Hãy đừng bị lừa dối’

Harriman “tin rằng việc Tổng thống không dừng ném bom miền Bắc Việt Nam vào cuối tháng 7 hoặc đầu tháng 8 là một bi kịch lịch sử với những hậu quả có thể rất rộng lớn”.

>> Kỳ 1: Hòa đàm Paris 1968: Trò chơi hai cấp độ?
>> Kỳ 2: Hòa đàm Paris: Mỹ xếp Việt Nam Cộng hòa ở đâu?
>> Kỳ 3: Hòa đàm Paris và ‘kẻ xúi bẩy’ đằng sau Johnson
>> Kỳ 4: Hòa đàm Paris giữa cuộc đối đầu của các cố vấn

Vào cuối tháng 8, Harriman viết cho Hubert Humphrey: “tôi thực sự quan tâm việc ông sẽ trở thành Tổng thống tiếp theo của chúng tôi, và mong muốn làm bất cứ những gì có thể để ủng hộ mục tiêu đó. Hơn nữa, tôi thất kinh với tai họa cho đất nước chúng ta nếu Richard Nixon được bầu chọn. Ngoài sự thụt lùi của đất nước chúng ta vì các chính sách phản động của ông ta và những người thuộc cánh hữu của đảng Cộng hòa mà ông ta đại diện, không may là trên khắp thế giới này ông ta đã khuấy động một sự bất tín cá nhân”.

Tuy nhiên, Lyndon Johnson lại thấy thoải mái với viển cảnh đảng Dân chủ sẽ thất bại trong cuộc bầu cử tháng 11. Các nỗ lực của Hubert Humphrey nhằm xoa dịu cánh tự do trong Đảng Dân chủ đã chọc giận Tổng thống, và ông dường như không quan tâm liệu gã người Minnesota này có kế vị mình hay không. Có lần, Johnson lập luận rằng phe Cộng hòa “đã giúp ích cho chúng ta nhiều hơn (về Việt Nam) so với phe Dân chủ trong vài tháng cuối cùng”. Cảm nghĩ này không phải là điều tốt cho các triển vọng của Humphrey, cũng chẳng tốt cho hòa bình.

Suốt tháng 7 đó có một sự lắng dịu tạm thời về cường độ chiến tranh ở Nam Việt Nam. Harriman giải thích đây là “một kiểu dấu hiệu kiềm chế mà Tổng thống đã yêu cầu trong thông điệp ngày 31 tháng 3 của mình” và hăng hái tận dụng ưu thế ngoại giao bằng cách yêu cầu quân đội Mỹ phản ánh trung thực sự giảm bớt các hoạt động của Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam.

Ngày 29/7, Harriman viết cho Dean Rusk rằng “bên cạnh việc thúc đẩy đàm phán thì dừng ném bom trong tương lai gần có thể cứu mạng được nhiều binh sĩ Mỹ, những người có thể sẽ chết khi trong cuộc chiến với Bắc Việt Nam”. Harriman hy vọng một lý do cơ bản như vậy có thể sẽ thuyết phục được Ngoại trưởng.

Vô tình phối hợp với đề nghị của Harriman, tờ Thời báo New York đã đăng xã luận ủng hộ dừng ném bom vào đúng ngày hôm đó và phó Tổng thống cũng “chuẩn bị một bức thư về lập trường của chính ông, bao gồm việc ngừng ném bom”. Gần như chắc chắn nhận được đề cử của Đảng Dân chủ tiếp sau vụ ám sát Bobby Kennedy ở Los Angeles, Humphrey hết lòng ủng hộ các nỗ lực của Harriman, và muốn Tổng thống cho phép ông được linh động đàm phán hơn nữa như mong muốn.

Bà Nguyễn Thị Bình tại Hòa đàm Paris. Ảnh tư liệu.

Sự kết hợp cố vấn này có thể đã không tồi tệ hơn từ góc nhìn của Harriman. Johnson xem thường New York Times và tin rằng Humphrey đang thể hiện một sự phản bội mà đã đặt ông lên trên giới hạn cho phép. Johnson  “rất giận dữ” khi ông nghe tin Humphrey tán thành đề xuất ngừng ném bom của Harriman. Tổng thống dứt khoát không lùi bước và chiến dịch ném bom của Mỹ tiếp tục như trước. Dean Rusk bồi cho một phát súng kết liễu vào ngày 31/7 khi đưa ra những gì mà Averell Harriman mô tả một cách cay đắng là “một cuộc họp báo không khoan nhượng xóa sạch mọi công việc mà Vance và tôi đã làm ở Paris kể từ đầu tháng 5”.

Trong một lá thư gửi Harriman, Rusk viết: Chúng tôi có lý do để tin rằng Hà Nội, Moscow và các bên khác đang cố gắng leo thang một chiến dịch phối hợp để buộc chúng ta dừng mọi hoạt động ném bom mà không có bất kỳ hành động tương ứng nào từ phía Hà Nội. Đó có thể là họ đang hy vọng vào hội nghị và thời kỳ bầu cử để đạt được sự kết thúc này. Họ phải được làm cho tỉnh ngộ khỏi ý tưởng này nếu muốn có hòa bình”. Lyndon Johnson mô tả bức điện của Harriman như “cháo bột mì” và than phiền cay đắng rằng “kẻ thù đang dùng chính người của tôi như những kẻ bị lừa bịp”.

Ngày 22/8, một Harriman cương quyết viết rằng “Tôi tin rằng việc Tổng thống không dừng ném bom miền Bắc Việt Nam vào cuối tháng 7 hoặc đầu tháng 8 (như chúng tôi đề nghị) là một bi kịch lịch sử với những hậu quả có thể rất rộng lớn”. Vào thời điểm này, cựu cố vấn an ninh quốc gia McGeorge Bundy và Clark Clifford cũng lên án Johnson thiếu thiện ý trong việc hạn chế quân sự để tạo điều kiện cho một đột phá đàm phán ở Paris. Clifford cảm thấy không giúp ích nhiều nếu chỉ hạn chế một phần quân đội để giúp Harriman làm công việc của mình. Nếu Tổng thống thực sự muốn tìm kiếm hòa bình, Clifford cho rằng ông phải tìm kiếm một cách đúng đắn: Gần như là không thể đàm phán một cách chân thành với một đối tác mà họng của họ bị anh bóp nghẹt. Bất đồng gay gắt với lập luận của Clifford, Rostow thông báo với Bộ Quốc phòng rằng ông “rất phiền lòng với một số bình luận về việc ném bom [. . .]

Sự thúc ép chủ yếu nhằm vào Hà Nội là các lực lượng và đồng minh ở miền nam. Một trong những áp lực khác đã và vẫn là ném bom xuống miền bắc”. Niềm tin của Clifford rằng Hà Nội có thể đơn giản di chuyển người và quân nhu theo ý muốn – rằng chiến dịch ném bom của Mỹ dứt khoát không thể ngăn cản miền bắc – là không đúng. Rostow thông báo một cách kẻ cả với Clifford rằng “cuộc sống và chiến tranh không đơn giản như thế”.

Hướng sang sự phản đối của McGeorge Bundy, Rostow đã soạn ra một lá thư dài mà Tổng thống đã gửi cho viên cựu cố vấn an ninh quốc gia của ông. “Tôi biết thật khó để tin kẻ ngoài”, Tổng thống nhấn mạnh trong lá thư, “nhưng thực tế đơn giản là bên kia vẫn chưa sẵn sàng cho một thỏa thuận. Tôi không hết hy vọng rằng một lúc nào đó họ có thể sẵn sàng trong những tuần và tháng tới đây – mặc dầu tôi không trông mong điều này”. Tìm sự an ủi trong sự ủng hộ kiên định của Rostow và Rusk, Tổng thống thẳng thừng từ chối thuận theo những người chỉ trích ông bằng cách rút ngắn chiến dịch ném bom.

Trong một bài phát biểu hiếu chiến trước “Các cựu chiến binh tham chiến ở nước ngoài’, Johnson tuyên bố: “Hãy đừng để bị lừa dối. Hãy đừng để bị làm mê muội. Tóm lại, nhân dân của chúng ta và nhân dân của họ phải hiểu rõ một điều: Chúng ta sẽ không dừng ném bom chỉ để cho họ có cơ hội đẩy mạnh cuộc tắm máu của mình”. Tuy nhiên, khó mà không xem sự dứt khoát của Tổng thống là do tức giận vì nghĩ Humphrey và Harriman phản bội – một trạng thái tâm lý o bế mà các cố vấn diều hâu của ông đã tích cực duy trì.

Suốt tháng 8/1968, Phó Tổng thống có một số bước thăm dò để tự thoát ra khỏi quan điểm của chính quyền Johnson về hòa đàm với Bắc Việt Nam.

Trong một cảnh báo bằng lời rất rõ ràng tới Richard Nixon rằng đừng có chính trị hóa các cuộc đàm phán ở Paris trong chiến dịch bầu cử sắp tới, Humphrey nói thêm: “Tôi tin rằng các ứng viên được chọn bởi các chính đảng nợ người dân Mỹ và nợ những người lính trên chiến trường ở Việt Nam việc phải tuyên bố rõ như ban ngày với Hà Nội rằng họ sẽ không có được một thỏa thuận tốt hơn”.

Tại Đại hội Đảng Dân chủ ở Chicago, Humphrey miễn cưỡng đồng ý ủng hộ cương lĩnh cứng rắn của Tổng thống về Việt Nam – một quyết định đã gây chia rẽ trong đảng và khiến cho Humphrey bị bêu riếu là con chó cảnh của Tổng thống. Cảm thấy nhục nhã trước sự chỉ trích này, Humphrey bắt đầu nhận ra rằng muốn đánh bại Nixon thì ông phải chọn một lập trường mà đặt ông gần hơn với ứng viên Tổng thống cùng quê Minnesota, Eugene McCarthy.

Vào cuối tuần ngày 14-15/9, Harriman và Vance báo cáo một số tin tức tích cực từ Paris. Họ đã tổ chức một cuộc đối thoại riêng quan trọng với hai nhà đàm phán chủ chốt của Bắc Việt Nam là Lê Đức Thọ và Xuân Thủy, những người đã thể hiện thiện ý muốn bắt đầu các cuộc đàm phám nghiêm túc ngay khi chiến dịch ném bom kết thúc. Hà Nội cũng tỏ dấu hiệu, thông qua các cuộc thảo luận riêng rẽ diễn ra với trung gian Na Uy ở Oslo, rằng họ sẵn sàng chấp nhận một sự hiện diện của Nam Việt Nam tại các cuộc hòa đàm chính thức ở Paris.

Không hề ấn tượng trước những gì trên thực tế là một bước đột phá quan trọng, Rostow đã viết một cách suy diễn cho Tổng thống rằng “nếu ngài xét thấy ngoại giao đã thất bại”, ngài có thể xem xét “ném bom Campuchia [. . .], ném bom Hà Nội – Hải Phòng, phá hoại Hải Phòng [. . .] và [tiến hành] các cuộc tấn công trên bộ ở phía bắc DMZ”. Thậm chí, ở giai đoạn cuối này, Rostow vẫn hy vọng Tổng thống có thể đồng ý với các kế hoạch xâm lược của ông ta. Khi đưa ra những gợi ý đó, Rostow thể hiện một chút khí sắc thời đại và kiểu cách mà trong đó những nhận thức chung về Cuộc chiến Việt Nam đã thay đổi.

Rostow tiếp tục bày tỏ lo ngại rằng Harriman đang vượt quá quyền hạn cho phép, và muốn Tổng thống nói rõ rằng ông sẽ không theo đuổi hòa bình bằng bất cứ giá nào. Trong một cuộc gặp ngày 17/9 với Harriman, với sự có mặt của Rostow, Johnson tuyên bố rõ: “vì Đại sứ Harriman sắp rời nhiệm”, nên “Tôi sẽ mong đợi ông, Averell, dẫn dắt Đảng và Chính phủ trong việc yêu cầu nối lại chiến dịch ném bom nếu họ vi phạm những hiểu biết này”.

Tình hình có vẻ khó lay chuyển cho Harriman và Phó Tổng thống – người đang tụt lại sau Nixon trong các cuộc thăm dò dư luận. “Đừng tin những gì ông nghe thấy rằng chiến dịch của Humphrey rất dở”, Harriman viết cho Vance một cách thất vọng, “bởi vì nó còn dở hơn ông tưởng nhiều”.

David Milne

(Sam Nguyễn dịch)

  • Tác giả David Milne là một giảng viên cao cấp về Lịch sử Chính trị Mỹ tại Đại học Đông Anglia. Ông là một thành viên Fox International tại Đại học Yale năm 2003, một thành viên cấp cao của Viện Gilder-Lehrman về Lịch sử Mỹ, New York City, năm 2005, và ông có tư cách hội viên tại Hiệp hội Triết học Mỹ, Philadelphia, năm 2008. Chuyên khảo đầu tiên của ông, “Rusputin của Mỹ: Walt Rostow và Cuộc chiến Việt Nam” đã được Hill and Wang xuất bản năm 2008. Hiện nay ông đang viết cuốn sách thứ 2, tựa đề tạm thời là Thuyết duy lý trí trong Ngoại giao Mỹ (Intellectualism in American Diplomacy), cho Farrar Straus and Giroux. Tác phẩm của ông đã xuất hiện trên Tạp chí Lịch sử Quân sự, International Affair, TheNation, và the Los Angeles Times.

vietnamnet.vn

Hòa đàm Paris giữa cuộc đối đầu của các cố vấn

Liên quan đến hòa đàm Paris, những ngày cuối của nhiệm kì Tổng thống, Johnson xoay đổi hướng giữa hiếu chiến và kiềm chế, phản ánh những chia rẽ trong các cố vấn chính sách của ông và cả nước Mỹ.

>> Hòa đàm Paris và ‘kẻ xúi bẩy’ đằng sau Johnson
>> Hòa đàm Paris 1968: Trò chơi hai cấp độ?
>> Hòa đàm Paris: Mỹ xếp Việt Nam Cộng hòa ở đâu?

Các cuộc đàm phán không chính thức với đoàn đại biểu Bắc Việt Nam bắt đầu ở Paris ngày 10/5. Tóm tắt của Harriman là tương đối thẳng thắn: Ông sẽ thiết lập liên hệ với các đại diện Bắc Việt Nam, thuyết phục họ cùng bắt tay xuống thang chiến tranh, và nhất trí ủng hộ các cuộc bầu cử tự do ở Nam Việt Nam, trong đó Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam sẽ hạ vũ khí và tham gia bầu cử như một chính đảng hòa bình.

Harriman tuyên bố trong lúc ông rời khỏi Washington rằng “Chúng tôi sẽ tham gia trong tinh thần ngay thật và thiện chí. Nếu tinh thần đó phù hợp với phía bên kia, tiến bộ có thể được tạo ra hướng tới mục đích của chúng ta là một thỏa thuận hòa bình.”

Tuy nhiên, Rostow không mất nhiều thời gian để phát hiện ra các vấn đề và một lần nữa biện luận thiên về một sự leo thang quân sự nhanh chóng nhằm cản trở nhà đàm phán trưởng của Mỹ. Làm như thế, Rostow va chạm với Harriman và Clark Cliford.

Về sự phản đối của Bộ trưởng Quốc phòng đối với các kế hoạch ném thêm bom, Rostow viết: “Những gì phân tích của Clark không đề cập đến là những gì chính sách mà chúng ta nên theo đuổi nếu không có đột phá trong các cuộc đàm phán ở Paris và nếu họ tiếp tục “đọc danh bạ điện thoại” cho chúng ta nghe mỗi khi chúng ta gặp nhau. Tôi không tin chúng ta có thể ngồi vô hạn định trong những hoàn cảnh như vậy”.

Nếu phe Dân chủ chọn Thượng nghị sĩ New York Robert Kennedy tại Đại hội toàn quốc của đảng ở Chicago hay không và nếu người dân Mỹ có bầu ông vào tháng 11, Rostow sợ rằng Bắc Việt Nam đơn giản là chần chừ cho đến khi Tổng thống Kennedy đưa ra một giải pháp thiện chí hơn. Để ngăn chặn điều này xảy ra, Rostow đề nghị Tổng thống đánh phá “các cảng biển Bắc Việt Nam và/hoặc cử một số quân của chúng ta bắc tiến qua DMZ”. Xâm lược Việt Nam, Rostow lập luận, sẽ tạo cho Tổng thống Robert F. Kennedy một triển vọng không chắc thành công.

Kissinger bắt tay các ông Xuân Thủy, Lê Đức Thọ tại Hòa đàm Paris. Ảnh tư liệu

Thất vọng trước sự hiếu chiến của Rostow, Harriman viết ngày 4/6 rằng “sẽ là một sai lầm lớn khi dọa đánh bom các khu đô thị ở Bắc Việt Nam một khi họ tiếp tục tiến công vào Sài Gòn [. . .]  Đánh bom Hà Nội hoặc Hải Phòng trong những hoàn cảnh hiện tại, chúng tôi tin, sẽ khiến Hà Nội đoạn tuyệt với hòa đàm và có những phản ứng bất lợi khác”.

Phản hồi trước những lo ngại của Harriman, Rostow gửi một lá thư bi quan tới tổng thống. “Tôi miễn cưỡng đi đến kết luận”, Rostow cảnh báo, “Rằng nếu chúng ta tiếp tục duy trì các cuộc đàm phán ở Paris, chúng ta sẽ phải đón nhận nguy cơ giải tán chúng [. . .] Tôi tin rằng họ đang cười vào mặt chúng ta và coi chúng ta như những gã khờ trên mặt trận quân  sự – ngoại giao”.

Rostow khuyên Tổng thống rằng ông hãy “yêu cầu Averell bảo Bắc Việt Nam rằng chúng tôi sẽ phải đáp trả cho mỗi quả tên lửa vào Sài Gòn bằng ít nhất một quả bom nhằm vào Hà Nội”. Rostow đồng tình với “quan điểm của Clark Clifford rằng điều này có thể là một đòn giáng chí tử vào vị thế chính trị của Phó Tổng thống”.

Tuy nhiên, “Clark đã sai lầm khi tin rằng chúng ta – hoặc Phó Tổng thống – có thể tiếp tục sống chung với vị thế phi nhân cách và nhục nhã khi mà [. . .] họ từ chối đàm phán nghiêm túc ở Paris.”

Quan ngại trước sự thiếu nền tảng của Bộ trưởng Quốc phòng, Rostow thậm chí đã cố tách Lầu Năm Góc khỏi vành đai thông tin, từ chối chuyển các báo cáo từ hòa đàm Paris cho Cliford.  Thư ký của Bộ Ngoại giao Benjamin Read đã rất choáng với sự khiếm nhã thô thiển này và đã lập ra một “dịch vụ sứ giả tư nhân” nhằm phá vỡ sự cấm vận thông tin của Rostow.

Có một chút băn khoăn là Harriman, đồng minh thân cận nhất của Clifford, lại chịu mô tả Walt Rostow như một “Rasputin” của Mỹ vì những ảnh hưởng vô vị mà ông này chèn vào việc ra quyết định của Tổng thống.

Các triển vọng về một sự đột phá ngày càng hứa hẹn về phía Bắc Việt Nam và ngày 4/6, Thủ tướng Liên xô Alexei Kosygin viết cho tổng thống nói rằng “Tôi và các cộng sự của tôi tin tưởng” rằng Bắc Việt Nam sẵn sàng đàm phán một thỏa thuận, miễn là Mỹ dừng chiến dịch ném bom.”

Là một chuyên gia có tiếng về USSR, Harriman không hiểu “một lãnh đạo Xô Viết lại đưa ra một lập trường trực tiếp như thế”. Hài lòng với triển vọng về một sự đột phá như vậy, Clifford cùng ông kêu gọi một sự ngừng ném bom. Một Dean Rusk vốn kín đáo ít nói nhưng tỏ rõ sự ủng hộ đối với một phản ứng tích cực trước yêu cầu của Kossygin. Mỹ có thể luôn nối lại chiến dịch ném bom nếu như không có gì tiến triển.

Tuy nhiên, trong một cuộc gặp với Tổng thống ngày tiếp sau đó, Rusk thay đổi chiến thuật và “phá hỏng đề xuất của Clifford, giữ quan điểm rằng tất nhiên chúng ta không thể chấp nhận những gì Kosygin nói một cách nghiêm túc. Không hay biết sự trở mặt của Ngoại trưởng, Clifford và Harriman giữ vững lập trường nhưng không đi đến đâu.

Như Harriman hồi tưởng: “Tác động thực sự của điều này là cực kỳ mạnh mẽ, gạt bỏ Kosygin, và Clifford và tôi đều nghĩ chúng tôi đã để mất một cơ hội đưa chính phủ Liên Xô vào cùng gánh vác trách nhiệm, theo một cách có giá trị nhất, cho tương lai hòa đàm”.

Thất vọng bởi cách hành xử của Rusk, Harriman nhớ lại rằng “Tôi chưa bao giờ tham gia vào bất kỳ một cuộc thảo luận nào ở Nhà Trắng, nơi có một nỗ lực quá rõ ràng được thực hiện về phía một thành viên trong Nội các của Tổng thống với mục đích phá hoại vị thế của người khác trước khi người ta có cơ hội thể hiện nó”.

Trở lại Foggy Bottom cùng nhau, Rusk nói với Harriman rằng “vấn đề với Clark là ông đã đánh mất dũng khí kể từ khi tiếp quản Lầu Năm Góc”. Tức giận bởi sự gièm pha này, Harriman nói với sếp của mình rằng ông không đồng ý về cơ bản với cách giải thích của ông này về các động cơ của Clifford. Sau đó, ông ghi lại: “Tôi cảm thấy Dean chắc chắn đã sử dụng đòn tấn công này vào tính cách của Clark với Tổng thống. Đối với tôi, kiểu tấn công như thế nhằm vào một đồng nghiệp là đê tiện”.

Harriman và Clifford đã có một cuộc trò chuyện qua điện thoại thẳng thắn vào ngày 21/6, trong đó họ thảo luận về vấn đề cốt lõi đang phải đối mặt: cụ thể, họ tỏ ra là hai nhân sự cấp cao duy nhất của chính quyền Johnson quan tâm đến việc đạt được hòa bình ở Việt Nam.

Đối với Clifford, vấn đề chính là Tổng thống chịu ảnh hưởng của các cố vấn “bi quan”, những người đưa ra một phản ứng xa lánh với Bắc Việt Nam. Clifford nói với Harriman rằng Tổng thống “được báo cáo rằng khó có thể chịu nổi về thái độ của chúng ta với Nam Việt Nam, binh lính của chính chúng ta và thậm chí cả vị thế của chúng ta trên thế giới nếu chúng ta để mặc cho Sài Gòn bị nã pháo trong khi Hà Nội không bị đụng đến. Ông ấy bắt đầu khó bảo.

Gắn với cách tiếp cận này, tôi nghĩ, là một nỗ lực từ phía ai đó muốn tỏ dấu hiệu rằng có lẽ sẽ không có kết quả gì từ Paris”. Clifford tin rằng có một cách duy nhất để làm dịu bất mãn của “chính những người đàn ông rất quân phiệt” (ý ông là Rusk và Rostow), những người muốn leo thang một cuộc chiến trên không, và để nhấn mạnh một thực tế rằng các cuộc hội đàm ở Paris đang tạo ra “những chỉ hướng” đầy hy vọng, ngay cả khi điều này không khớp với thực tế. Nếu báo chí Mỹ đưa tin Harriman đang đạt tiến bộ nào đó ở Paris, thì sẽ khó hơn cho Tổng thống khi phê chuẩn kiểu chiến dịch ném bom mà Rostow đề nghị.

“Những gì tôi nghĩ chúng ta phải làm”, Clifford nhận xét, “là theo cách thận trọng nhất phải biểu thị được điều gì đó đang diễn ra”. Cliford hy vọng rằng những bày tỏ hy vọng quá mức về chủ đề đàm phán sẽ phá được niềm tin thái quá của Rostow và Rusk vào khả năng của quân đội Mỹ sẽ vẫn thắng cuộc. Đó là một cách đặc biệt để chính quyền Johnson vận hành. Bộ trưởng Quốc phòng sẽ tham vấn ngoại giao và Ngoại trưởng sẽ đề nghị leo thang quân sự. Clifford tin rằng đối với những người chủ trương hòa bình của chính phủ, các viễn cảnh này là tuyệt vọng đến nỗi chỉ một sự dối trá nhẹ nhàng cũng có khiến cho công luận Mỹ hủy hoại những kẻ diều hâu.

Trong những ngày còn lại của chính quyền Johnson, Tổng thống xoay đổi hướng giữa hiếu chiến và kiềm chế, phản ánh những chia rẽ trong các cố vấn chính sách của ông và cả nước Mỹ. Clifford sau đó than vãn rằng Lyndon Johson hành động “giống như kiểu một nhà lãnh đạo lập pháp, tìm kiếm sự đồng thuận giữa những người luôn đối chọi nhau, chứ không giống như một vị tổng tư lệnh quyết đoán ra lệnh cho cấp dưới”.

Trong khi Clifford mô tả năm 1968 là năm khó khăn nhất trong đời ông, Dean Rusk nhớ lại rằng thời gian đàm phán là “một vết nhơ” mà ông chỉ thoát được nhờ vào một ly rượu scotch, aspirin và thuốc lá hàng ngày. Nhận thấy rõ thời gian cầm quyền còn rất ít, Johnson đã quá kiệt sức để có thể đưa bản thân ra khỏi tình trạng buồn chán đã bén sâu.

Tạp chí Time đưa tin, có một “bầu không khí lặng lẽ bất thường trong Nhà Trắng”, chứng tỏ những dấu hiệu cho thấy Johnson “đã đặt mình vào thì quá khứ”. Bằng cách thể hiện sự thiếu quan tâm như vậy đối với các cuộc hòa đàm Paris, Johnson báo hiệu cho vị Phó Tổng thống của mình rằng ông này phải hạ gục Richard Nixon mà không có ai giúp đỡ.

Harriman và Vance muốn Tổng thống phấn chấn lên và áp đặt kiềm chế hơn nữa lên quân đội, nhưng Johnson không muốn tạo cú huých cần thiết này cho các cuộc hòa đàm Paris. Các nhà đàm phán của Tổng thống muốn hòa bình vì lợi ích của chính nó nhưng cũng lo ngại các cuộc hòa đàm bị kéo dài, mà không thấy hồi kết đâu, có thể mở hé một cánh cửa cho chiến thắng bầu cử của phe Cộng hòa. Và cả hai người đều xem Tổng thống Richard Nixon là một triển vọng kinh hoàng.

David Milne

(Sam Nguyễn dịch)

  • Tác giả David Milne là một giảng viên cao cấp về Lịch sử Chính trị Mỹ tại Đại học Đông Anglia. Ông là một thành viên Fox International tại Đại học Yale năm 2003, một thành viên cấp cao của Viện Gilder-Lehrman về Lịch sử Mỹ, New York City, năm 2005, và ông có tư cách hội viên tại Hiệp hội Triết học Mỹ, Philadelphia, năm 2008. Chuyên khảo đầu tiên của ông, “Rusputin của Mỹ: Walt Rostow và Cuộc chiến Việt Nam” đã được Hill and Wang xuất bản năm 2008. Hiện nay ông đang viết cuốn sách thứ 2, tựa đề tạm thời là Thuyết duy lý trí trong Ngoại giao Mỹ (Intellectualism in American Diplomacy), cho Farrar Straus and Giroux. Tác phẩm của ông đã xuất hiện trên Tạp chí Lịch sử Quân sự, International Affair, TheNation, và the Los Angeles Times.

vietnamnet.vn

Hòa đàm Paris và ‘kẻ xúi bẩy’ đằng sau Johnson

Việc chọn Harriman đứng dầu đàm phán bị Rostow nhìn nhận với thái độ thù địch. Ngày 3/4, Rostow tham gia phe của cựu Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng liên quân và đại sứ Mỹ tại Sài Gòn, Tướng Maxwell Taylor, bày tỏ những nghi ngờ lớn rằng liệu Harriman có phù hợp với chức vụ.

>>Kỳ 1: Hòa đàm Paris 1968: Trò chơi hai cấp độ?
>>Kỳ 2: Hòa đàm Paris: Mỹ xếp Việt Nam Cộng hòa ở đâu?

“Với tất cả sự tôn trọng đối với Thống đốc Harriman”, Rostow và Taylor viết với rất ít sự tôn trọng: “chúng tôi không tin ông ấy là người thích hợp thực hiện cuộc đàm phán này – nếu nó diễn tiến vượt khỏi giai đoạn đầu tiên”. Rostow và Taylor đưa ra hai lý do biện hộ cho phản đối của họ. Thứ nhất, “sức khỏe của ông ấy không được tốt”, và thứ hai, “ông ấy thiếu – và luôn luôn thiếu – một sự hiểu biết cũng như đồng cảm với Nam Việt Nam”.

Tuy Rostow và Taylor thừa nhận rằng “Averell đúng 100% rằng chúng ta không nên để cho Sài Gòn có quyền phủ quyết vị thế của chúng ta trong đàm phán“, ông ấy không chắc liệu mình “có muốn đưa họ theo và cho họ niềm tin rằng sẽ là cần thiết nếu một giải pháp vững bền, vì lợi ích của Mỹ, sẽ xuất hiện”.

Trước đó, Rostow ranh ma hơn Harriman về sự cần thiết phải ngưng ném bom và ông ta nghi ngờ rằng nhà ngoại giao cao niên này chủ yếu bị thúc đẩy bởi danh tiếng cá nhân và chính trị đảng phái – chứ không phải bởi bất cứ mong muốn nào cho Nam Việt Nam. Vị cố vấn an ninh quốc gia có thể đã đúng ở cả hai điểm.

Tuy nhiên, chiến dịch chống lại Harriman của Rostow đã thất bại. Johnson đã chọn một người mà có những đóng góp to lớn cho việc định hình các mối quan hệ quốc tế của thế kỷ 20. Averell Harriman sở hữu một kiểu danh tiếng ngoại giao mà Tổng thống chắc chắn không thể bỏ qua, và ông đã nắm giữ danh hiệu “Đại sứ vì Hòa bình”, được trao tặng năm 1966.

Henry Kissinger với ông Lê đức Thọ tại Hòa đàm Paris. Ảnh tư liệu

Mặc dù vậy, Johnson cũng có một số lo ngại như Rostow về việc Harriman thiếu tính nhạy cảm về Nam Việt Nam và khát vọng đảm bảo hòa bình với một cái giá tiềm năng không chấp nhận được. Trong một lưu ý viết tay cho Rostow, Tổng thống nhất trí rằng “điểm về những nhượng bộ lẫn nhau cần phải được hiểu rõ trong nội bộ chính phủ Mỹ trong thời gian sớm nhất có thể. Nếu không, chúng ta sẽ thấy rằng chúng ta đã cho đi vị thế sức mạnh đàm phán hiện tại mà Hà Nội vừa trao cho chúng ta một cách quá hào phóng [thông qua thất bại chiến lược của Chiến dịch Tết (Mậu Thân)] – mà không nhận lại được gì”.

Cần phải nhấn mạnh ở đây rằng Johnson đã chọn Harriman từ một vị thế yếu kém – ông không có sự yêu mến và sự tôn trọng như của John F. Kennedy dành cho nhà đàm phán đáng kính này. Tín nhiệm của Johnson là bị vấy bẩn sau Tết Mậu thân và ông cảm thấy mình có rất ít lựa chọn.

Khi các sự kiện vỡ lở, phát thanh viên CBS Walter Cronkite đã có câu hỏi nổi tiếng: “Điều gì đang diễn ra ở đây? Tôi đã nghĩ chúng ta đang thắng cuộc chiến này”. Trong một môi trường trong nước thù địch như vậy, sẽ là đê tiện nếu phớt lờ sự tinh tường và hỗ trợ của Harriman.

Tuy nhiên, Tổng thống sẽ phải đảm bảo khá chắc rằng nhà ngoại giao hàng đầu của ông trung thành với tiêu chuẩn đàm phán khắt khe nào đó. Thứ trưởng Quốc phòng Cyrus Vance rốt cục đã được chọn đi cùng Harriman tới Paris, nhưng Johnson và Rostow vẫn lo rằng nhóm này có vẻ chủ hòa.

Với sự chấp thuận của Tổng thống, Rostow đưa một nhân vật diều hâu tin cẩn, thành viên Hội đồng An ninh quốc gia NSC William J. Jorden, vào đoàn để kiểm soát những gì sẽ diễn ra.

Như Jorden hồi tưởng, Rostow đã cử ông tới Paris để “theo dõi những kẻ đáng khinh đó [Harriman và Vance] và đảm bảo họ không mang đồ của nhà đi cho.” Trong một cuộc điện đàm lịch sự thận trọng với Rostow ngày 4/4, Harriman lịch sự buộc phải nói rằng: “Ông sẽ giúp rất nhiều nếu [Jorden] có thể đi cùng”. Rõ ràng Harriman không hay biết rằng vai trò chủ yếu của Jorden là một giám sát viên.

Khi những hoạt động chuẩn bị cho sứ mệnh của Harriman chính thức bắt đầu, Rostow bày tỏ lo ngại với Tổng thống rằng một trong “những mục tiêu đàm phán” của ông là giảm dần cuộc chiến trên không của Mỹ. “Mục tiêu của chúng ta không phải là chấm dứt ném bom”, Rostow lập luận. “Mà là các cuộc hội đàm nhanh chóng và quan trọng hướng tới hòa bình”.

Mặc dù Clark Clifford can thiệp kịp thời, Harriman vẫn được phép cho tiêu chuẩn đàm phán của ông không bị đụng đến. Phản ứng trước những gì ông cho là bới lông tìm vết vô nghĩa, Harriman than phiền rằng những phản đối của Rostow đối với lập trường của ông là “không thích hợp” và “rõ ràng sáng kiến của Clifford đã cứu được các chỉ dẫn [đàm phán] khỏi bị tổn thương”.

Harriman viết rằng “Ngoại trưởng không có bất kỳ đóng góp nào”. Việc người chịu trách nhiệm điều hành các chính sách ngoại giao của Mỹ tỏ ra không quan tâm mấy đến các nỗ lực của Harriman không phải là điềm tốt. Nó trở nên rõ ràng với Harriman rằng mục đích mới của Rusk và Rostow là cản trở các nỗ lực của ông trong việc đạt được một thỏa thuận nhanh chóng.

Nhà báo có ảnh hưởng của Washington Post Drew Pearson từ lâu đã lo ngại về sự xúi bẩy của Rostow với Tổng thống và lo ngại rằng thiện ý của Harriman đang bị nghi ngờ quá mức. Ngày 19/4, Pearson viết một cách thất vọng rằng Rostow “có thể làm cho các ý tưởng của mình về Đông Nam Á gắn chặt vào Lyndon Johnson [. . .] Không một ai biết về Rowtow nghi ngờ tính chính trực của ông. Nhưng họ đặt câu hỏi về đánh giá của ông.

Ngày 28/4, Rostow trình bày với Dean Rusk những gì ông mô tả là “một ý tưởng kỳ cục”. Vì thỏa thuận về miền nam là tâm điểm của vấn đề, Rostow băn khoăn liệu có khả năng là không thể đối với “Thiệu khi chấp nhận sáng kiến và tích cực tìm kiếm các cuộc hòa đàm riêng với “một thành viên” của Mặt trận Giải phóng miền Nam Việt Nam, dùng một người tin cậy”. Đặt Thiệu vào “tâm điểm của mọi sự” sẽ có nghĩa là “sáng kiến nhằm định hướng số phận [của Nam Việt Nam] sẽ nằm trong tay đúng người. Điều này hay hơn là thiết lập hòa bình dựa trên “kết quả của các cuộc hội đàm Mỹ – Hà Nội, vân vân”.

Lo ngại về “sự thiếu nhiệt tình của Harriman với Nam Việt Nam”, Rostow muốn Tổng thống hãy truyền sức mạnh từ nhóm đàm phán của ông sang chính phủ Nam Việt Nam. Việc Hà Nội sẽ đồng ý đàm phán trực tiếp với Thiệu – lãnh đạo của nhà nước “bù nhìn” mà họ không công nhận – là phi hiện thực. Tuy nhiên, Rostow vẫn tin rằng Hà Nội sẽ đồng ý dàn xếp với Sài Gòn và đưa ra bằng chứng để chứng minh điều này.

“Ở các làng Việt Cộng’, Rostow báo cáo với Johnson, “trẻ em đang được dạy hát những câu như sau: “Máu sẽ chảy vào tháng 5; sẽ có hòa bình vào tháng 6″. Nếu họ khuấy động những kiểu hy vọng này, thì điều đó phải có nghĩa là, về mặt ngữ nghĩa, họ đang nghĩ đến một cuộc đàm phán nhanh chóng chứ không phải dai dẳng”.

Than ôi, về mặt ngữ nghĩa, các khúc hát của trẻ con chẳng có có tý nghĩa nào như vậy… Rostow quá mê thích dùng kiểu của CIA theo những cách mang tính bè phái, thường là nhiều màu sắc, để minh họa cho Tổng thống.

Rostow có một yếu tố khác trong đầu khi tư vấn rằng Thiệu nên trở thành một thành phần then chốt trong các cuộc đàm phán: Tổng thống Nam Việt Nam sẽ dễ bảo trong việc dỡ bỏ các giới hạn áp đặt lên chiến dịch ném bom hơn so với Harriman. Ngày 10/5, Rostow bày tỏ hy vọng rằng Mỹ sẽ bắt đầu “ném bom giữa các vĩ tuyến 19 và 20 sớm”. Còn hơn cả phá hủy hòa đàm, Rostow tin rằng nếu Mỹ không ném bom Bắc Việt Nam đủ mạnh thì Hà Nội có thể “đánh giá quá cao hiệu quả của áp lực đối với chúng ta về toàn bộ vấn đề ném bom”. Giả định sai lầm về phía Hà Nội “có thể kéo dài giai đoạn hành động đàm phán qua lại để đổi lấy việc ngừng ném bom hoàn toàn”.

“Ném bom để đổi lấy hòa bình” rõ ràng là thần chú của Rostow. Nhưng tất nhiên, những xúi bẩy quá khôn khéo này không chỉ toàn về hòa đàm. Rostow cũng cảm thấy “chúng ta có thể nhận thêm nhiều trao đổi trước khi họ tới được Nam Việt Nam nếu chúng ta bỏ bom tuyến đường nằm giữa vĩ tuyến 19 và 20“. Có thể đoán trước được rằng Harriman đã phản dối các kế hoạch của Rostow, viết rằng “tái tổ chức chiến dịch ném bom giữa các vĩ tuyến 19 và 20 có thể “làm chậm [đàm phán]“. Sau đó, Harriman bình luận về Rostow rằng “tôi không bao giờ muốn thấy một giác thư nào khác từ người đàn ông đó nữa”.

Còn tiếp

David Milne

(Sam Nguyễn dịch)

  • *Tác giả David Milne là một giảng viên cao cấp về Lịch sử Chính trị Mỹ tại Đại học Đông Anglia. Ông là một thành viên Fox International tại Đại học Yale năm 2003, một thành viên cấp cao của Viện Gilder-Lehrman về Lịch sử Mỹ, New York City, năm 2005, và ông có tư cách hội viên tại Hiệp hội Triết học Mỹ, Philadelphia, năm 2008. Chuyên khảo đầu tiên của ông, “Rusputin của Mỹ: Walt Rostow và Cuộc chiến Việt Nam” đã được Hill and Wang xuất bản năm 2008. Hiện nay ông đang viết cuốn sách thứ 2, tựa đề tạm thời là Thuyết duy lý trí trong Ngoại giao Mỹ (Intellectualism in American Diplomacy), cho Farrar Straus and Giroux. Tác phẩm của ông đã xuất hiện trên Tạp chí Lịch sử Quân sự, International Affair, TheNation, và the Los Angeles Times.

vietnamnet.vn

Hòa đàm Paris: Mỹ xếp Việt Nam Cộng hòa ở đâu?

Trong khi Rostow cho rằng phải đẩy Thiệu lên tuyến đầu của đàm phán thì Harriman tin rằng Mỹ và Bắc Việt Nam là hai thành phần chính trong đàm phán.

>> Kỳ 1: Hòa đàm Paris 1968: Trò chơi hai cấp độ?

Sau “Chiến dịch Tết Mậu thân” ngày 30/1/2968 (trong đó những người cộng sản Bắc Việt tấn công tất cả các thành phố và thị trấn lớn ở miền Nam), Lyndon Johnson, với việc tham khảo ý kiến Bộ trưởng Quốc phòng Clark Cliford, người mà ông tin cậy và mới bổ nhiệm – đã đi đến các kết luận về các triển vọng quân sự của Mỹ ở Việt Nam. Tuy các cuộc tấn công của những người cộng sản bị quân Mỹ đẩy lùi, “tia sáng cuối đường hầm” đốt lên cuối năm 1967 hóa ra chỉ là ảo giác.

Chiến dịch này đặt ra một câu hỏi không hề dễ chịu cho chính quyền Johnson: Làm thế nào mà Mỹ có thể thắng cuộc chiến tại Việt Nam nếu như không bảo vệ được ngay cả trung tâm Sài Gòn?

Không thể tìm ra câu trả lời thỏa đáng, Tổng thống Johnson, vào ngày 31/3/1968, thông báo hạn chế ném bom đơn phương, kêu gọi đàm phán hòa bình lâu dài, và cuối cùng nói thêm rằng ông sẽ không tranh cử nhiệm kỳ 2.

Từ đó, Johnson tuyên bố sẽ dành sinh lực của mình cho việc đạt được hòa bình với Bắc Việt Nam. Như Johnson nhớ lại trong hồi ký của ông: “Tôi chưa từng chắc chắn hơn thế về tính đúng đắn của quyết định của mình. Tôi đặt mọi thứ tôi có thể chỉ đạo và mọi thứ bản thân tôi có vào công cuộc tìm kiếm hòa bình [. . .]’. Tổng thống dường như thừa nhận rằng Miền Nam Việt Nam không thể tiếp tục là trách nhiệm của Mỹ một cách vô hạn định, và rằng ngoại giao là chiến lược tin cậy duy nhất còn lại mà ông có thể sử dụng.

Trong một cuộc thăm dò của Lou Harris được thực hiện ngày tiếp sau đó, tỷ lệ phản đối 57% dành cho Johnson đã quay 180 độ sang con số 57% ủng hộ. Nhưng đòn bẩy tín nhiệm ngắn hạn này không thể che khuất thực tế rằng cuộc chiến tại Việt Nam đã vắt kiệt phần lớn sinh khí chính trị của Tổng thống, thứ đã hun đúc ông thành một nhân vật cải tổ thành thạo và đầy sức thuyết phục suốt những năm đầu tiên ở Phòng Bầu Dục.

Ông Lê Đức Thọ và Henri Kissinger tại cuộc hòa đàm Paris. Ảnh tư liệu

Về phần mình, Bắc Việt Nam vui mừng khi thấy Johnson quyết định lùi bước và tìm kiếm hòa bình. “Chúng tôi rất vui về quyết định của Tổng thống Johnson“, Đại sứ Việt Nam tại Czechoslovakia nói “Tôi cho rằng điều này sẽ đưa cuộc chiến tới hồi kết. Các cuộc đàm phán giờ đây có thể bắt đầu và chúng có thể bắt đầu sớm“.

Để chuẩn bị cho nhóm đàm phán của mình, Johnson chọn W. Averell Harriman, một nhà ngoại giao nổi tiếng và có ảnh hưởng.

Là đặc sứ của Franklin Roosevelt tại London và Moscow trong Thế chiến II, và Thống đốc Dân chủ của New York từ năm 1955 tới 1959, Harriman từ lâu đã tin rằng Chiến tranh Việt Nam chỉ gây hại cho vị thế của Mỹ trên thế giới. Ông cũng muốn đạt được một thỏa thuận mà sẽ mở rộng các triển vọng của phe Dân chủ trong cuộc bầu cử Tổng thống tháng 11/1968; khi Phó Tổng thống Hubert Humphrey có thể phải đối mặt với Richard Nixon, một nhân vật mà Harriman không ưa.

Đạt được sự trung lập hóa của Lào năm 1962, Harriman có một bề dày thành tích trong việc kiến tạo hòa binh ở Đông Nam Á. Lyndon Johnson hoàn toàn có lợi khi trao cho Harriman quyền hạn ngoại giao nhằm đạt được một thỏa thuận trước ngày bầu cử 5/11. Đảm bảo một nền hòa bình danh dự bề ngoài sẽ tăng thêm danh tiếng lịch sử của ông và cho người phó một cơ hội tốt hơn để bảo vệ di sản Xã hội Lớn.

Tiếp sau bài phát biểu ấn tượng của Lyndon Johnson ngày 31/3, các chủ thể chính sách ngoại giao then chốt của chính quyền đã khôn khéo giành ưu thế với hy vọng sự vững vàng của các cuộc đàm phán với Bắc Việt Nam sẽ theo sau. Johnson vẫn chưa thông báo rằng Averell Harriman sẽ dẫn đầu tiến trình tìm kiếm hòa bình, nhưng vị chính khách cao niên này nhận ra rằng mình có cơ hội tốt được bổ nhiệm và muốn đảm bảo rằng chiến dịch đánh bom của Mỹ nhằm vào Bắc Việt Nam sẽ không ngáng trở ông đạt được một thỏa thuận.

Ngày 31/3, Tổng thống tuyên bố ngừng một phần chiến dịch ném bom tại vĩ tuyến 20, nhưng các vi phạm của quân đội Mỹ ngày càng nhiều. Vào  ngày 2/4, Harriman viết cho Tổng thống chúc mừng về “thông báo của ông đêm Chủ nhật” song cảnh báo ông rằng sau đó các máy bay ném bom Mỹ đã phá hủy căn cứ không quân Thanh Hóa, và dường như sẽ xử như một trò chơi công bằng đối với bất kỳ một mục tiêu nào “cách Hà Nội 45 dặm và cách Hải Phòng 30 dặm”.

Quan ngại các cuộc đàm phán với Bắc Việt Nam sẽ tan vỡ thậm chí trước khi chúng bắt đầu, Harriman viết: “Tôi mạnh mẽ kêu gọi ngài hành động để đảo ngược xu hướng tai hại này. Tôi đề nghị rằng, rõ ràng như ý định của ngài, ngài thông báo chiến dịch ném bom sẽ đặc biệt giới hạn ở phía nam Vinh, nơi rõ ràng là cực bắc của dải đất hẹp miền Bắc Việt Nam”.

Sợ rằng thời khắc tài năng lãnh đạo được ngưỡng mộ rộng khắp của mình sẽ bị hủy hoại bởi những viên phi công Mỹ liều lĩnh, Johnson chỉ thị cho Chủ tịch hội đồng Tham mưu trưởng liên quân Earle G. Wheeler phải giới hạn mọi hoạt động ném bom của Mỹ ở phía nam vĩ tuyến 19 – chứ không phải vĩ tuyến 20 như đã thông báo trước đó.

Đây có thể là lần đầu tiên và cũng là lần cuối cùng Tổng thống nghe theo lời khuyên của Harriman năm 1968. Tuy nhiên, hạn chế này vẫn không thay đổi, dù ít hay nhiều, trong khoảng thời gian cầm quyền còn lại của Tổng thống Johnson.

Cùng ngày Harrison yêu cầu sự rõ ràng về chiến dịch ném bom, Walt Rostow khuyên Tổng thống rằng “tôi vẫn tin mục tiêu then chốt là buộc Thiệu phải thực hiện trong khoảng thời gian 1 tháng, hoặc đại loại thế, một đề nghị tới Việt Cộng là để họ hoạt động như một đảng chính trị theo Hiến pháp”.

Rostow nhận ra rằng, đề nghị này khó có thể nhận được hoan nghênh nồng nhiệt ở Sài Gòn nhưng vẫn tin rằng hành xử của Nam Việt Nam “có thể rất khác nếu họ biết rằng chúng ta muốn họ là thành phần chính trong đàm phán về một thỏa thuận”.

Rostow muốn Tổng thống miền Nam Việt Nam Thiệu, không phải là một nhà ngoại giao Mỹ, đóng một vai trò then chốt trong bất kỳ một cuộc đàm phán nào với miền Bắc Việt Nam.

Ông lập luận: Thiệu sẽ chống cự một cách quyết liệt hơn nữa những lời kêu gọi kiềm chế quân đội Mỹ, và sẽ chỉ đồng thuận về một nền hòa bình dựa trên các điều khoản thuận lợi nhất cho đất nước ông ta.

“Nếu không từ bỏ toàn bộ quyền tự do hành động của chúng ta, hoặc cho Thiệu toàn quyền”, Rostow thừa nhận, “chúng ta phải thuyết phục cả chính quyền Thiệu (cùng quân đội của ông ta) và người dân miền nam Việt Nam rằng chúng ta sẽ tham vấn chặt chẽ nhất có thể với chính phủ của họ”. Cơ hội tốt nhất mà Rostow có được đảm bảo rằng cam kết liên tục của Mỹ dành cho Nam Việt Nam, là phải đẩy Thiệu lên tuyến đầu của đàm phán.

Chiến lược của Rostow nhằm đảm bảo “hòa bình” vì thế lại xung đột trực tiếp với những gì mà nhà đàm phán trưởng của Tổng thống hình dung. Harriman tin rằng Mỹ và Bắc Việt Nam là hai thành phần chính trong đàm phán. Ông hiểu rằng Tổng thống Thiệu sẽ rất căm ghét nỗ lực đạt được một nền hòa bình thỏa hiệp của ông, và thoải mái hơn với triển vọng đặt Nam Việt Nam vào một sự việc đã rồi dựa trên một sự hiểu biết song phương với Hà Nội.

Còn tiếp…

David Milne

(Sam Nguyễn dịch)

  • Tác giả David Milne là một giảng viên cao cấp về Lịch sử Chính trị Mỹ tại Đại học Đông Anglia. Ông là một thành viên Fox International tại Đại học Yale năm 2003, một thành viên cấp cao của Viện Gilder-Lehrman về Lịch sử Mỹ, New York City, năm 2005, và ông có tư cách hội viên tại Hiệp hội Triết học Mỹ, Philadelphia, năm 2008. Chuyên khảo đầu tiên của ông, “Rusputin của Mỹ: Walt Rostow và Cuộc chiến Việt Nam” đã được Hill and Wang xuất bản năm 2008. Hiện nay ông đang viết cuốn sách thứ 2, tựa đề tạm thời là Thuyết duy lý trí trong Ngoại giao Mỹ (Intellectualism in American Diplomacy), cho Farrar Straus and Giroux. Tác phẩm của ông đã xuất hiện trên Tạp chí Lịch sử Quân sự, International Affair, The Nation, và the Los Angeles Times.

vietnamnet.vn

Hòa đàm Paris 1968: Trò chơi hai cấp độ?

 Nhìn lại Hòa đàm Paris, cựu Bộ trưởng Quốc phòng McNamara cho rằng, “mức độ các cơ hội bị bỏ lỡ thực sự là không thể tin được.”

LTS: 40 năm đã trôi qua kể từ ngày chúng ta kết thúc đàm phán tại Hội nghị Paris, với việc Mỹ rút quân khỏi Việt Nam. Nhìn lại chặng đường đàm phán kéo dài và căng thẳng ấy, nhiều nhà nghiên cứu Việt Nam từng nêu câu hỏi, liệu đã bao giờ chúng ta bỏ lỡ cơ hội đàm phàn, kết thúc chiến tranh. Đến nay, nhiều tài liệu mật vẫn chưa được giải mã để có câu trả lời.

Từ phía Mỹ, đã có nhiều nỗ lực đi tìm lời giải cho chuyện, có hay không việc bỏ lỡ cơ hội này.  Nhân kỉ niệm 40 năm hòa đàm Paris, Tuần Việt Nam trân trọng giới thiệu một trong những nghiên cứu như vậy, như một góc nhìn tham khảo.

Phần 1:

Một khía cạnh quan trọng của sự chuyển đổi Robert S. McNamara quá cố từ một Hàn Chiến Binh (Cold Warrior) tự tin sang một người chỉ trích chính sách ngoại giao bành trướng của Mỹ là trong những năm 1990 ông mong muốn tìm hiểu thời đại Chiến tranh Việt Nam về “các cơ hội bị bỏ lỡ” vốn đã có thể đã ngăn Mỹ và Việt Nam khỏi cuộc xung đột tàn khốc.

Trong Tranh cãi không hồi kết (Argument Without End), vị cựu Bộ trưởng Quốc phòng cho rằng “Có [. . .] những cơ hội hoặc là đã tránh được chiến tranh trước khi nó bắt đầu, hoặc là đã dập tắt nó từ rất lâu trước khi nó diễn ra”.

Theo đánh giá của McNamara, việc Mỹ và Bắc Việt không đạt được một thỏa thuận hòa bình có thể chấp nhận được nhau là một trong những thất bại lớn của các mối quan hệ quốc tế thời hậu chiến. Với một nhóm các nhà ngoại giao kỳ cựu, và các viện sĩ ở Mỹ, McNamara đã bàn đến một số sáng kiến hòa bình bên thứ ba với những người đồng nhiệm của Bắc Việt, trong đó có những vật có uy tín lớn như Tướng Võ Nguyên Giáp và Thứ trưởng Ngoại giao thứ nhất Trần Quang Cơ.

Trong 6 cuộc họp được tổ chức tại Hà Nội từ tháng 11/1995 đến tháng 2/1998, các bên tham dự đã thảo luận những gì trở nên sai lầm và tìm cách xác định liệu một nền hòa bình đáng tin cậy là có thể trong những năm Johnson. Ngạc nhiên trước mức tiếp thu mà Bắc Việt Nam khẳng định đối với các cuộc đàm phán, McNamara kết luận rằng “mức độ các cơ hội bị bỏ lỡ thực sự là không thể tin được [. . .] , có rất nhiều cơ hội tiến tới một thỏa thuận thông qua đàm phán về cuộc chiến tại Việt Nam trong khoảng thời gian từ tháng 5/1965 đến tháng 10/1967 đã bị bỏ lỡ.’

Vì nhiệm kỳ của McNamara tại Lầu năm Góc kết thúc vào ngày 1/2/1968, Tranh cãi Không Hồi kết không phân tích các cuộc đàm phán trực tiếp giữa Mỹ và Bắc Việt tại Paris từ tháng 5/1968. Đây là một sự bỏ sót đáng tiếc về các sáng kiến bên thứ ba – còn được biết đến bởi các mật danh MAYFLOWER (Tháng 4-5/1965), XYZ (5-9/1965), PINTA (Tháng 12/1965-tháng 1/1966), MARIGOLD (6-12/1966), SUNFLOWER (1-2/1967) và PENNSYLVANIA (6-10/1967) – căn cứ vào những hoạt động phía sau sân khấu và tất cả có rất ít cơ hội thành công.

Mỹ kí vào bản hòa ước tại HN Paris. Ảnh tư liệu.

Trái lại, các cuộc đàm phán song phương ở Paris từ tháng 5/1968 tới tháng 1/1969 mang lại cho Tổng thống Johnson một cơ hội chắc chắn để kết thúc cuộc chiến: Johnson đã tự loại mình khỏi cuộc chạy đua tổng thống, việc đảm bảo một nền hòa bình thỏa hiệp sẽ thúc đẩy các triển vọng bầu cử của đảng Dân chủ, và rất ít cố vấn cho chính quyền (cả bên trong và bên ngoài) vào thời điểm đó coi “chiến thắng” ở Việt Nam là một khả năng có ý nghĩa.

Nhiều sử gia quốc tế – chẳng hạn như George Herring, Lloyd Gardner và Robert Schulzinger – đã nghiên cứu quãng thời gian quan trọng này như một phần của các dự án sách rộng hơn. Nhưng chỉ có một bài báo hoặc một chương sách phân tích các cuộc đàm phán hòa bình Paris một cách trọn vẹn: Tiểu luận của Herbert Schandler mang tựa đề “Lầu Năm Góc và Các cuộc đàm phán Hòa bình sau ngày 31/3/1968”.

Tuy nhiên, tác giả không tham khảo hai nguồn quan trọng đầu tiên: Tài liệu của Cố vấn an ninh quốc gia Walt Rostow tại Thư viện Lyndon Baines Johnson ở Austin, Texas và tài liệu của nhà Đàm phán trưởng W. Averell Harriman tại thư viện Quốc hội ở Washington DC. Hai nhân vật có ảnh hưởng này bất hòa với nhau trong giai đoạn đó, và sự sụp đổ của các nỗ lực của Harriman ở Paris có thể bị quy cho bầu không khí bất thuận lợi ở Washington mà các nhân vật diều hâu như Rostow đã cố hết sức để tạo ra.

Nhưng có nhiều hơn thế trong câu chuyện này, chứ không chỉ sự đấu đá nội bộ đã được phân tích bởi nhiều học giả, chẳng hạn như Graham Allison. Trong một cuộc hội thoại kín hồi tháng 9/1968, Harriman hỏi Bộ Trưởng Quốc phòng Clark Cliford “một cách thẳng thắn, liệu ông có cảm thấy Tổng thống ước được chứng kiến [Phó Tổng thống] Humphrey bị hạ gục [trong cuộc bầu cử Tổng thống] hay không”. Sau khi ngừng một lát để dự liệu phản ứng của mình, Cliford trả lời rằng “Nếu ông nhất trí là chuyện này chỉ giữa ông và tôi thì tôi tin rằng ông đã đúng: Tổng thống muốn chứng kiến ông ấy bị đánh bại”.

Bực bội bởi sự thiếu quan tâm của Tổng thống Johnson đối với các cuộc đàm phán ở Paris, cả hai người dự đoán rằng, trước tiên, Tổng thống muốn để lại việc kiến tạo hòa bình cho người kế nhiệm của mình, và thứ hai, Johnson tin rằng Richard Nixon sẽ bảo vệ sự độc lập của Nam Việt chắc chắn hơn so với vị Phó Tổng thống của ông, Hubert Humphrey.

Bài báo này phân tích tính logic của tuyên bố đó và kết luận rằng cáo buộc này mang trọng lượng đáng kể. Ngoại trưởng Dean Rusk, Walt Rostow và LBJ đều đành cam chịu trước một chiến thắng của phe Cộng hòa ngày 5/11/1968. Lựa chọn ưa thích của Johnson, trên thực tế, là muốn Nelson Rockefeller, một thành viên Cộng hòa ôn hòa dòng dõi, người ông rất cảm phục, đánh bại Richard Nixon giành sự đề cử ứng viên của Phe Cộng hòa và sau đó giành chiến thắng trong cuộc bầu cử trước đối thủ hoặc Humphrey hoặc Kennedy.

Tuy nhiên, những hy vọng này đã tan thành mây khói vào ngày 8/8 khi Nixon giành được sự ủng hộ của đảng mình. Tổng thống sau đó phải đối đầu với một lựa chọn phiền phức là ông sẽ ủng hộ ai về mặt cá nhân. Hubert Humprey chủ trương rút quân Mỹ khỏi cuộc chiến Việt Nam và tư tưởng chủ bại này là không thể chấp nhận đối với Tổng thống và các cố vấn diều hâu, những người đầu tư quá nhiều sức lực và tín nhiệm cá nhân vào cuộc chiến chống lại chủ nghĩa cộng sản Việt Nam. Trong khi các chính sách bảo thủ trong nước của Nixon là lời nguyền cho những người cấp tiến như Rusk, Rostow, và Johnson, nền tảng địa chính trị của ông không bao giờ bị ngờ vực. Và vì vậy, triển vọng một chiến thắng của Nixon được Tổng thống ngầm chấp nhận – do bị kích động theo hướng này bởi các cố vấn diều hâu của ông – như một lựa chọn ít tồi tệ hơn cả cho vị thế thế giới của Mỹ.

Bốn nhân vật chính trong câu chuyện này được chia làm 2 phe: Một phe gồm Averell Harriman và Bộ trưởng Quốc phòng Clark Clifford – tập trung vào đạt được một thỏa thuận thông qua đàm phán ở Paris mà ràng buộc nghiêm túc với cả Bắc Việt và Nam Việt, Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam (NLF). Một phe gồm Ngoại trưởng Dean Rusk và Walt Rostow – những người quả quyết rằng bất cứ một nền hòa bình thỏa hiệp nào trực tiếp bao gồm NLF trong một chính phủ liên hiệp Nam Việt Nam sẽ không thể có vào thời của họ. Lyndon Baines Johnson là trọng tài quyết định và ông chọn cách ủng hộ Rusk – Rostow. Cuối cùng, Richard Nixon là người hưởng lợi chính của việc Lyndon Johnson không quan tâm đặt một dấu chấm hết qua đàm phán cho Chiến tranh Việt Nam trong thời kỳ ông làm Tổng thống.

Như Harriman hồi tưởng một cách cay đắng vào tháng 12/1968: “Gần như chắc chắn rằng tính chất mà vấn đề Việt Nam được giải quyết, với lời khuyên của Rusk and Rostow, đã mang lại chiến thắng cho Nixon”. Hậu quả u ám nhất của cơ hội hòa bình bị bỏ lỡ ở Paris là thực tế rằng các điều khoản hòa bình cuối cùng được Henry Kissinger và trưởng đoàn đàm phán của Bắc Việt, Lê Đức Thọ, nhất trí vào tháng 1/1973 về căn bản không khác biệt lắm so với những gì Harriman và ông Thọ đã nhất trí ở Paris vào tháng 11/1968. Đã cống hiến quá nhiều thời gian và sức lực như vậy cho cuộc chiến Việt Nam nhưng Johnson không có mong muốn tách rời Nam Việt Nam và ngăn cảnh máu đổ trong những gì, vào lúc đó, là một chính nghĩa quân sự tuyệt vọng.

Chào mừng kí kết HN Paris. Ảnh tư liệu.

Lập luận này có những hàm ý quan trọng đối với “Giả thuyết Trò chơi Hai cấp độ” của Robert Putman. Trong bài viết có tựa đề “Ngoại giao và Chính trị trong nước: Logic của Trò chơi Hai Cấp độ”, được International Organization xuất bản năm 1988, Putman cho rằng, các cuộc đàm phán quốc tế giữa các nước diễn ra ở cấp độ trong nước và ở cấp độ quốc tế.Khi thúc đẩy đàm phán, các nhà lãnh đạo buộc phải đáp ứng các nhu cầu và mối quan tâm của các khu vực bầu cử trong nước bằng việc đưa ra các nhượng bộ và tạo dựng liên minh, trong khi đàm phán quốc tế được theo đuổi với sự suy tính chủ yếu trong đầu: bất cứ thỏa thuận nào cũng sẽ không gây thiệt hại nghiêm trọng cho các khu vực bầu cử trong nước. “Win-sets” xảy ra khi các quyền ưu tiên của các chủ thể ở cả hai cấp độ chồng lấn nhau và vì thế thỏa thuận quốc tế trở thành có thể.

Như Putham kết luận: “Diễn biến gở nhất trong lĩnh vực chính trị so sánh và các mối quan hệ quốc tế trong những năm gần đây là sự công nhận giữa các chủ thể trong  phạm vi của nhu cầu phải tính đến những rắc rối giữa hai [. . .] Nghiên cứu có ảnh hưởng sâu rộng này giờ đây được cần đến để phân tích và đào sâu hơn sự hiểu biết của chúng ta về cách thức những trò chơi như vậy được thực hiện. Thông qua triển khai phương pháp luận lịch sử thế giới, dựa chủ yếu vào các dữ liệu văn khố chưa được tận dụng, bài báo này hưởng ứng tuyên bố của Putnam. Bằng cách làm như vậy, tôi hy vọng sẽ thiết lập được một sự kết nối giữa lịch sử quốc tế và giả thuyết các mối quan hệ quốc tế; hai lĩnh vực mà không tương tác với nhau nhiều như lẽ ra nên thế.

Cuối cùng, thuyết trò chơi hai cấp độ của Putnam rất hữu ích trong việc giải thích lý do tại sao các cuộc đàm phán năm 1968 đã tiến triển như thế, mặc dù không hoàn toàn theo cách ông hình dung lúc đầu.

Do từ bỏ việc đảm bảo một thỏa thuận hòa bình năm 1968, Lyndon Johnson đã cố tình phớt lờ các nền tảng của Đảng Dân chủ – bỏ qua một khối cử tri then chốt – để nhường lại một lợi thế quan trọng cho phe Cộng hòa. Ông từ chối xây dựng một liên minh nội địa thân thiết trong đảng – như giả thuyết của Putnam – thay vào đó, lại chọn cách tặng cho Nixon một cú huých bầu cử quyết định: từ chối một nền hòa bình mà Johnson cho là không có giá trị, mà chính nó vốn gần như chắc chắn giúp cho Humphrey trở thành Tổng thống.

Trong các cuộc đàm phán trực tiếp với Hà Nội, Johnson đề cập đầu tiên và tối quan trọng đến việc đảm bảo cho khả năng Nam Việt Nam tiếp tục tồn tại như một nhà nước – một mục tiêu cơ bản, trong rất nhiều khía cạnh. Tuy nhiên, tự nhường bước cho một chiến thắng của Nixon – thực vậy, rất tích cực hỗ trợ cho chiến thắng đó bằng sự chây ì của bản thân – trước vị Phó Tổng thống của chính ông là cách có thể chắc chắn nhất để đạt được mục tiêu này.

Các cuộc đàm phán hòa bình Paris, vì thế, cấu thành một trò chơi hai cấp độ theo kiểu đặc biệt nhất. Mục tiêu lấn át của Tổng thống Johnson là bảo vệ sự độc lập của Nam Việt Nam đã đòi hỏi ông phải vứt bỏ logic chính trị của đảng, giao phó cho Humphrey và đảng Dân chủ một số phận u ám, và phớt lờ chiến thuật lá mặt lá trái (nói một cách chính xác là phản nghịch) của chiến dịch tranh cử Nixon là khuyến khích Tổng thống Thiệu của Nam Việt Nam đẩy lùi các nỗ lực về một nền hòa bình thỏa hiệp cho đến sau cuộc bầu cử Tổng thống và một khả năng chiến thắng của Nixon. Tính liên kết của ngoại giao và chính trị trong nước chưa từng rõ ràng hơn thế trong năm cuối cầm quyền của Lyndon Johnson.

Còn nữa

  • David Milne là một giảng viên cao cấp về Lịch sử Chính trị Mỹ tại Đại học Đông Anglia. Ông là một thành viên Fox International tại Đại học Yale năm 2003, một thành viên cấp cao của Viện Gilder-Lehrman về Lịch sử Mỹ, New York City, năm 2005, và ông có tư cách hội viên tại Hiệp hội Triết học Mỹ, Philadelphia, năm 2008. Chuyên khảo đầu tiên của ông, “Rusputin của Mỹ: Walt Rostow và Cuộc chiến Việt Nam” đã được Hill and Wang xuất bản năm 2008. Hiện nay ông đang viết cuốn sách thứ 2, tựa đề tạm thời là Thuyết duy lý trí trong Ngoại giao Mỹ (Intellectualism in American Diplomacy), cho Farrar Straus and Giroux. Tác phẩm của ông đã xuất hiện trên Tạp chí Lịch sử Quân sự, International Affair, The Nation, và the Los Angeles Time

vietnamnet.vn

Nhân tố quyết định thành công

Nhân tố quyết định thắng lợi của cuộc đàm phán và việc ký kết Hiệp định Paris là đường lối ngoại giao tài tình từ chủ trương đường lối đến lựa chọn cán bộ do Bác Hồ và Bộ Chính trị, Ban Chấp hành trung ương Đảng đề ra. Xung quanh vấn đề này, ông Trịnh Ngọc Thái, nguyên Đại sứ Việt Nam tại Pháp, nguyên Phó Trưởng Ban Đối ngoại Trung ương Đảng, nguyên thư ký của Bộ trưởng Xuân Thủy – Trưởng đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đàm phán tại Hội nghị Paris về Việt Nam đã có cuộc trao đổi với phóng viên báo Đại đoàn kết.

Để chuẩn bị cho cục diện này, Đảng và Bác Hồ đã đề nghị cử ông Lê Đức Thọ làm Cố vấn đặc biệt và ký sắc lệnh cử Bộ trưởng Xuân Thủy làm Trưởng đoàn đàm phán của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ông có thể nói rõ thêm về lý do tại sao lại có sự lựa chọn này?

Ông Trịnh Ngọc Thái: Quyết định như vậy bởi Bác biết rất rõ ông Lê Đức Thọ là người hết sức thẳng thắn và không khoan nhượng. Ông là Phó Bí thư Trung ương Cục miền Nam. Hồi ấy, ông là người am hiểu tình hình chiến sự ở miền Nam hơn ai hết. Điều này có tác dụng rất quan trọng trong quá trình đàm phán theo tinh thần “vừa đánh vừa đàm”. Ông Xuân Thủy là người làm ngoại giao rất lâu năm, ngoài ra còn có khả năng thuyết phục mọi người rất tốt từ hồi làm công tác dân vận ở Mặt trận Tổ quốc. Những ngày bị Pháp bắt giam trong Nhà tù Sơn La, ông Xuân Thủy làm Chủ bút tờ báo Suối reo, sau làm Chủ nhiệm báo Cứu Quốc (tiền thân của báo Đại Đoàn Kết), là nhà thơ. Đến nay kiều bào ta bên đó vẫn còn rất nhớ đến ông. Còn nhớ trong suốt gần 6 tháng đầu đàm phán, ta chỉ duy nhất có một nội dung yêu cầu Mỹ ngừng ném bom miền Bắc, rồi sau mới bàn đến các vấn đề khác. Vậy mà cứ mỗi phiên họp ông lại có một bài phát biểu mới, không bài nào trùng lặp bài nào, có dẫn chứng đầy đủ và rất thuyết phục vạch trần thủ đoạn xảo trá của đế quốc Mỹ đối với nhân dân ta. Từ đó, ta tranh thủ được bạn bè tiến bộ trên thế giới ủng hộ cuộc chiến tranh chính nghĩa của mình.

Vậy còn sự lựa chọn bà Nguyễn Thị Bình làm Trưởng đoàn thì sao, thưa ông?

– Bà Nguyễn Thị Bình là đảng viên lâu năm, nắm rất chắc tình hình chiến sự miền Nam và đường lối lãnh đạo của Đảng. Bà đã từng hoạt động rất sâu và rộng trong quần chúng nhân dân, để lại ấn tượng rất mạnh, đầy sức thuyết phục đối với khách quốc tế và dư luận, công luận trên thế giới. Bà còn là một phụ nữ hết sức sắc sảo mà mềm mỏng, được báo chí mệnh danh là “Nữ hoàng cộng sản”.

Lựa chọn ba người như vậy, Bác Hồ có ý để họ bổ sung cho nhau. Trước khi đi, Bác đã dặn dò cặn kẽ từng người một. Bác dặn phải có cố vấn quân sự để nắm chắc tình hình chiến sự để phối hợp đấu tranh trên bàn Hội nghị Paris, phải thận trọng, kiên trì, vững vàng nhưng khôn khéo khi đàm phán với Mỹ…

Sự chỉ đạo của Bác từ trong nước, theo ông có tác động thế nào đối với quá trình đàm phán của ta ở Paris?

Ở trong nước, Bác thường xuyên họp với Bộ Chính trị để nghe báo cáo tình hình chiến sự ở miền Nam và diễn biến của cuộc đấu tranh ngoại giao. Bác nhắc phải vạch trần luận điệu bịp bợm của Johnson, đập mạnh tuyên bố của chính quyền Sài Gòn. Bác tiếp khách quốc tế, trả lời phỏng vấn, viết thư, viết báo, ra lời kêu gọi đồng bào trong nước và nhân dân thế giới.. “Đế quốc Mỹ chán rồi, nhưng rút ra thế nào? Thua mà danh dự, đó là điều Mỹ muốn.” – Bác nói. Để chứng minh cho sự thất bại của Mỹ như nói trên, Bác viết trên báo Nhân dân ngày 10-6-1968: “Bốn trụ cột chiến tranh xâm lược thì bốn tướng Mỹ Harkin, Taylor, MacNamara và Westmolen đều đã thất bại mà sụp đổ”. Bác nói phải cảnh giác Mỹ vẫn có thể ném bom trở lại miền Bắc, nên ta phải chuẩn bị sẵn sàng và phải đẩy mạnh tuyên truyền ở Hội nghị Paris…

Hồ Chủ tịch đã qua đời, nhưng tư tưởng ngoại giao của Người vẫn tiếp tục tỏa sáng, soi đường cho chúng ta trong suốt quá trình đàm phán, ký kết Hiệp định Paris để đi đến thắng lợi cuối cùng giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Xin cảm ơn ông!

Ông Hà Đăng- Nguyên Uỷ viên TƯ Đảng, nguyên Trưởng Ban Tư tưởng -Văn hoá TƯ, thành viên đoàn đàm phán Paris về Việt Nam:

Nam – Bắc một nhà trên bàn đàm phán

Việt Nam vốn là một nước thống nhất. Sau thắng lợi trong chiến tranh chống Pháp, theo Hiệp định Geneve (1954), nước ta bị chia làm hai miền Nam, Bắc. Cho nên, tuy vẫn cùng một Đảng lãnh đạo nhưng ta lại phải chia ra làm hai: Đảng Lao động Việt Nam ở miền Bắc còn Đảng Nhân dân Cách mạng ở miền Nam. Tương tự như vậy, cùng là một chính phủ, một mặt trận, một quân đội, một đường lối ngoại giao… nhưng ta vẫn phải chia ra làm hai cho hai miền. Tuy hai nhưng vẫn là một. Lẽ ra nếu cuộc tổng tuyển cử được diễn ra đúng theo Hiệp định Geneve thì nước ta đã được thống nhất trở lại sau hai năm kể từ ngày Hiệp định được ký kết, nhưng điều này đã không diễn ra do Mỹ can thiệp quân sự vào miền Nam Việt Nam, phá hoại Hiệp định này, dựng nên chính quyền Sài Gòn, thành lập quốc gia riêng ở miền Nam Việt Nam. Cũng từ đó, khi tiến hành đàm phán ở Paris những năm sau đó, đã hình thành hai đoàn của Việt Nam từ hai miền Nam, Bắc cùng tham gia hội nghị 4 bên với Mỹ và ngụy Sài Gòn. Tuy là hai đoàn nhưng cũng vẫn chỉ là một.

Trong quá trình đàm phán, tuy nói là đoàn của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam nhưng cũng toàn là người của bên này thôi, gọi là người miền Nam nhưng phần lớn là cán bộ tập kết ra Bắc từ hồi năm 1954. Chỉ có ít người thuần túy ở miền Nam thì cũng là cán bộ của ta hoạt động ở trong đó rồi bị địch bắt, được giải thoát hồi tổng tiến công và nổi dậy năm 1968. Mỗi tuần Hội nghị Paris có một phiên họp vào ngày thứ năm. Sau mỗi phiên họp, hai đoàn ta lại họp với nhau tổng kết phiên họp vừa qua và rút kinh nghiệm và chuẩn bị cho những phiên họp tới. Bài phát biểu của hai đoàn cuối cùng đều được đưa qua anh Xuân Thủy và anh Lê Đức Thọ duyệt trước khi sử dụng.

Trần Ngọc Kha (ghi)

Trần Ngọc Kha (Thực hiện)
daidoanket.vn