Tag Archive | Tin tức

Cả cuộc đời vì sự chấn hưng dân tộc

Kỷ niệm 100 năm Ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước (5-6-1911/5-6-2011)

QĐND – Đã có rất nhiều học giả, nhà nghiên cứu dành không ít thời gian và tâm huyết để làm sáng rõ và hiểu sâu sắc, toàn diện hơn ý nghĩa lịch sử, giá trị thời đại của chân lý, tư tưởng Hồ Chí Minh đối với sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Nhân dịp kỷ niệm 100 năm Ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước, trong bài viết này, chúng tôi xin ghi lại buổi trò chuyện, trao đổi với PSG, nhà giáo nhân dân Lê Mậu Hãn – nguyên Chủ nhiệm Khoa Lịch sử, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (nay là Trường Đại học Khoa học-Xã hội và Nhân văn và Trường Đại học Khoa học tự nhiên thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội).

3 kỳ tích làm nên thắng lợi

Suốt cả cuộc đời, Hồ Chí Minh hiến dâng cho sự nghiệp chấn hưng của dân tộc Việt Nam. Hiện nay, dân tộc Việt Nam tiếp tục đi theo con đường của Người đã vạch ra. Đặc biệt, một điều vô cùng đáng khâm phục ở Hồ Chí Minh là Người luôn đi trước, đi trong hoặc song hành chứ không đi sau các sự kiện lớn của dân tộc và của thế giới. Nói riêng về quá trình tìm đường cứu nước của Bác, có thể đưa ra 3 luận cứ làm sáng tỏ điều này.

Nguyễn Tất Thành làm phụ bếp trên con tàu Amiran Latusơ Tơrêvin, đưa Người ra đi tìm đường cứu nước năm 1911. Ảnh tư liệu.

Thứ nhất, phải là người có tư duy mẫn cảm với thời cuộc thì Hồ Chí Minh mới có thể lựa chọn một con đường cứu nước, cứu dân mới vào đầu thế kỷ XX, khi các con đường cứu nước mà các vị tiền bối thực thi đều bế tắc và thất bại. Phải có một tinh thần phê phán đúng đắn, sự thấm nhuần vượt trội chủ nghĩa yêu nước nồng nàn, mới có được chuyến ra đi lịch sử của Người vào ngày 5-6-1911. Theo Người, con đường cứu nước của Hoàng Hoa Thám còn nặng cốt cách phong kiến đã không thể dẫn tới thắng lợi; con đường cầu viện Nhật Bản của Phan Bội Châu chẳng khác gì “đưa hổ cửa trước, rước beo cửa sau”; còn con đường cải lương của Phan Châu Trinh thì chẳng khác gì đến xin giặc rủ lòng thương. Việc không lặp lại thất bại của những người đi trước là một điều khó khăn, nhưng tìm ra một con đường mới phù hợp với quy luật phát triển của lịch sử, đưa dân tộc giành được độc lập, tự do là một điều còn khó khăn hơn nhiều lần. Đây chính là một sự khước từ cái sai để đi tìm cái đúng; sự từ bỏ cái lạc hậu, lỗi thời để đi tìm cái tiên tiến, phù hợp với thời đại mới. Đó là sự vượt qua những lối mòn cũ kỹ để đi tìm được con đường mà dân tộc cần đi. Đó là sự khẳng định một bản lĩnh, một khả năng suy nghĩ độc lập và sáng tạo mà lịch sử đang đòi hỏi.

Có thể nói, vào thời đó, yêu nước nhiệt thành thì có rất nhiều người. Nhưng yêu nước để có một tư duy mẫn cảm, tư duy phê phán sắc sảo về các con đường yêu nước trước đó hoặc đương thời của các bậc cha anh rồi ra đi tìm con đường cứu nước mới, thì dường như chỉ có ở Nguyễn Tất Thành.

Điểm thứ hai trong sự nghiệp cách mạng tìm đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc thể hiện rất rõ ở chỗ: Không phải bất cứ ai đều thành công trong việc đi tìm con đường cứu nước mới. Ở Hồ Chí Minh hội tụ đủ những yếu tố cần thiết cho sự dấn thân vào quá trình tìm đường, mở đường, dẫn đường cho dân tộc Việt Nam phát triển: Ý chí lớn lao, tinh thần ham học hỏi, sẵn sàng vượt qua mọi gian khó, sẵn sàng hòa mình vào cuộc sống của người lao động để cảm nhận thời cuộc. Người không có bằng cấp của học đường, nhưng ở Người hội tụ những tri thức uyên bác, cổ kim Đông – Tây, là sự chắt lọc, tiếp biến văn hóa, đúc kết thành khối tri thức và bản lĩnh chính trị, nhân cách cao đẹp. Nguyễn Tất Thành tiếp nhận chủ nghĩa Mác – Lê-nin, qua đó tìm thấy con đường cứu nước đúng đắn là bởi những yếu tố đó, khác với những bậc tiền bối yêu nước trước kia.

Điểm thứ ba làm nên thắng lợi trong sự nghiệp tìm đường cứu nước của Hồ Chí Minh là đã tìm được con đường cứu nước đúng đắn, nhưng phải vận dụng một cách sáng tạo, phù hợp với tình hình thực tiễn của dân tộc, của đất nước. Sau năm 1920 là thời gian trường kỳ truyền bá, huấn luyện, tổ chức để đưa con đường cứu nước đúng đắn về thực hành trên đất nước Việt Nam, mà một vấn đề có tính chất then chốt là thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam – một tổ chức để lãnh đạo, đoàn kết toàn dân tộc, hòa cùng thời thế, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại và sức mạnh quốc tế để dân tộc ta phát triển theo con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

Hồ Chí Minh luôn sống trong nhịp đập của đất nước bởi sự nghiệp của Người, tư tưởng của Người vẫn đồng hành cùng dân tộc. Tư tưởng của Người có trong hành trang của dân tộc Việt Nam và nhân loại cần lao tiến bước vào văn minh, tiến bộ. Cả cuộc đời Hồ Chí Minh là một thông điệp cho sự phát triển. Điều đó trở thành một tài sản tinh thần quý báu cho dân tộc Việt Nam, cho nhân dân lao động trên toàn thế giới.

Giá trị thời đại – nhìn từ góc độ hội nhập quốc tế

Xuất phát từ các giá trị văn hóa – văn minh nhân loại, lấy văn hóa soi đường cho quốc dân đi, đem văn minh chống lại dã man, vì vậy, sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng con người dưới sự dẫn dắt của Chủ tịch Hồ Chí Minh là sự nghiệp văn hóa – văn minh vĩ đại ở Việt Nam, trong đó, kết hợp chặt chẽ giữa giải phóng với phát triển và hoàn thiện con người. Đó là bí quyết thành công của cách mạng Việt Nam mà Người đúc rút từ tinh hoa văn hóa dân tộc và nhân loại vận dụng vào nước ta. Điều đó cắt nghĩa trong mọi hoàn cảnh lịch sử, Người luôn chủ trương nâng cao dân trí, phát triển văn hóa, đẩy mạnh giáo dục đạo đức và nhân cách cho toàn dân, đi đôi với mở cửa tiếp thu tinh hoa văn hóa – văn minh nhân loại. Xã hội mà Người chủ trương xây dựng là sự kết hợp giữa việc thừa kế, phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp của văn hóa – văn minh dân tộc với tiếp thu tinh hoa văn hóa – văn minh nhân loại, thấm nhuần sâu sắc chủ nghĩa yêu nước – nhân văn Việt Nam và chủ nghĩa quốc tế trong sáng.

Suy cho cùng, con đường mà Chủ tịch Hồ Chí Minh tìm thấy và dẫn dắt dân tộc thực hiện đã đưa tới những thắng lợi vĩ đại của dân tộc, đồng thời cũng là đóng góp vào giải quyết khát vọng lớn lao nhất, mục tiêu văn hóa – văn minh cao cả nhất của nhân loại là cải tạo thế giới để giải phóng con người.

Một thế kỷ đã trôi qua, chúng ta càng thêm thấu hiểu ý nghĩa lịch sử và giá trị thời đại của sự kiện Hồ Chí Minh “đi ra thế giới” để thâu thái những giá trị văn hóa – văn minh nhân loại, tìm đường cho sự sinh tồn và phát triển của dân tộc. Ngày 5-6-1911 không chỉ là sự kiện đánh dấu sự khởi đầu của quá trình tìm đường cứu nước của người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành, mà còn là sự kiện mở ra quá trình Việt Nam từng bước hội nhập vào dòng tiến hóa theo xu thế mới của nhân loại dưới sự dẫn dắt của Người. Trong quá trình đó, trên cơ sở tiếp nhận những giá trị văn hóa – văn minh nhân loại và nắm bắt được xu thế phát triển của loài người trong thời đại mới, thông qua con đường cách mạng mà Người đã lựa chọn, Việt Nam đã kết hợp thành công sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, tạo nên sức mạnh tổng hợp đem đến những thắng lợi vĩ đại cho cách mạng Việt Nam trong một thế kỷ qua. Mặt khác, trong quá trình đó, dân tộc ta đã góp phần vào cuộc đấu tranh chung của nhân loại, làm cho thế kỷ XX trở thành thế kỷ phi thực dân hóa, thúc đẩy lịch sử loài người tiến lên theo hướng tiến bộ. Bởi vậy, kiên trì con đường cách mạng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn không chỉ giữ vững mục tiêu độc lập – tự do – hạnh phúc cho dân tộc và mỗi người dân Việt Nam, mà còn là giữ vững các nhân tố đảm bảo cho thắng lợi của cách mạng nước ta để đất nước tiếp tục tiến bước mạnh mẽ, nhằm hoàn thiện những mục tiêu vì dân tộc, vì con người Việt Nam, góp phần vào cuộc đấu tranh chung của nhân loại vì hòa bình, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới.

Ngày nay, trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, với các giá trị trên đây, sự kiện lịch sử Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước càng có ý nghĩa thực tiễn. Với đường lối đổi mới của Đảng, trên thực tế, sự hội nhập quốc tế của Việt Nam cũng là tiếp tục quá trình dân tộc ta đi ra thế giới trong điều kiện lịch sử mới theo tư tưởng Hồ Chí Minh để thâu nhận các giá trị văn hóa – văn minh nhân loại và nắm bắt xu thế phát triển của loài người, nhằm vận dụng và tiến hành thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tạo ra các điều kiện để thực hiện ngày một hoàn chỉnh các nội dung của tiêu chí độc lập – tự do – hạnh phúc cho dân tộc và con người Việt Nam.

100 năm đã trôi qua nhưng sự kiện Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước vẫn còn nguyên ý nghĩa lịch sử và giá trị thời đại. Ngày nay, trong hành trình hội nhập cùng nhân loại đi đến tương lai, chúng ta càng tin tưởng và kiên trì phấn đấu theo con đường Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại đã chỉ ra, quyết tâm đưa ngọn cờ tiên phong của Người đến đích thắng lợi.

Đào Hồng (ghi)
qdnd.vn

Chuyến đi thay đổi vận mệnh dân tộc

Kỷ niệm 100 năm ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước

QĐND – Cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, chứng kiến cảnh nước mất, nhà tan cũng như sự tàn bạo của thực dân Pháp, cậu thiếu niên mới 13 tuổi quê ở làng Kim Liên, Nam Đàn, Nghệ An đã nung nấu ý chí một ngày nào đó sẽ tới nước Pháp để tìm hiểu cho ra nhẽ, tại sao một đất nước vốn nổi tiếng với cuộc cách mạng giành lấy tự do, bình đẳng, bác ái, nay lại đi xâm lược nước khác. Tám năm sau, ngày 5-6-1911, người thanh niên yêu nước 21 tuổi ấy đã quyết định rời Tổ quốc trên một chiếc tàu buôn của Pháp với cái tên Văn Ba để tìm hiểu sự thực về nước Pháp và con đường giải phóng cho dân tộc mình, đất nước mình.

Trong Hội thảo quốc tế Di sản Hồ Chí Minh trong thời đại ngày nay, tổ chức năm 2010, tại Hà Nội, nhiều học giả trong và ngoài nước đã đề cập khá chi tiết tới chặng đường 30 năm bôn ba ở nước ngoài của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Nguyễn Ái Quốc tại đại hội Tua (Tours, Pháp), năm 1920. Ảnh: vietnamplus.vn

Quan điểm chung của các học giả trong và ngoài nước đều nhấn mạnh, trong suốt hành trình kéo dài 30 năm, ý nghĩ duy nhất, lớn nhất của người thanh niên ấy là giải phóng đồng bào, xóa bỏ ách áp bức, bóc lột của bọn thực dân, phong kiến, giành độc lập dân tộc; khẳng định Chủ tịch Hồ Chí Minh là con người của những bước ngoặt quan trọng, có tính quyết định tới vận mệnh của đất nước và dân tộc Việt Nam. Tư tưởng cùng sự cố gắng phi thường của người Anh hùng giải phóng dân tộc, Nhà văn hóa kiệt xuất của Việt Nam đã làm thay đổi vận mệnh của dân tộc Việt Nam, từ thân phận nô lệ trở thành dân tộc tự do, độc lập, có vai trò và vị trí ngày càng lớn trên thế giới.

Từ năm 1911 tới năm 1917, Người đã đến nhiều nước châu Á, châu Âu, châu Mỹ, châu Phi, sống hòa mình với nhân dân lao động. Thông cảm sâu sắc với cuộc sống cực khổ của nhân dân lao động và các dân tộc thuộc địa cũng như nguyện vọng thiêng liêng của họ. Chứng kiến cảnh những người dân lao động ở khắp các châu lục bị chế độ thực dân cũ áp bức bóc lột, Người đã rút ra kết luận rằng “dù màu da có khác nhau, trên đời này chỉ có hai giống người: bóc lột và bị bóc lột; chỉ có một mối tình hữu ái là thật mà thôi: Tình hữu ái vô sản”. Có thể thấy rõ, ngay từ rất sớm, Người đã nhận thức rõ ràng rằng, cuộc đấu tranh giải phóng của nhân dân Việt Nam là một bộ phận trong cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới.

Cuối năm 1917, Người từ Anh trở lại Pháp tiếp tục hoạt động trong phong trào Việt kiều và phong trào công nhân Pháp. “Ở Pháp lúc đó, Hồ Chí Minh dùng hơn 200 bút danh để đấu tranh chính trị. Hồ Chí Minh chưa bao giờ rời bỏ mục tiêu của mình: đó là đem lại cho dân tộc mình, trong đó có những người thân của mình, sự tự do, nhân phẩm và quyền được làm chủ”, D.Đơ Mít-câu-lơ (D.De Miscault), Tổng biên tập Tạp chí Triển vọng Việt Nam – Pháp, nhận xét.

Theo các học giả Pháp tham dự Hội thảo, sự kiện nổi bật nhất mà Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại dấu ấn tại nước Pháp là vào năm 1919. Người lấy tên là Nguyễn Ái Quốc và thay mặt những người Việt Nam yêu nước tại Pháp gửi tới Hội nghị Véc-xây bản yêu sách đòi quyền tự do cho nhân dân Việt Nam và cũng là quyền cho nhân dân các nước thuộc địa. Tiếp đó, vào tháng 12-1920, Người trở thành một trong những người đầu tiên sáng lập Đảng Cộng sản Pháp. Năm 1921, Người cùng một số người yêu nước ở các nước thuộc địa của Pháp, không phân biệt màu da, sáng lập Hội Liên hiệp thuộc địa. Tháng 4-1922, Hội ra báo Người cùng khổ (Le Paria). Rất nhiều bài báo đanh thép tố cáo tội ác của thực dân Pháp của Người đã được đưa vào tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp.

Đánh giá về điểm sáng nhất trong 30 năm tìm đường cứu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các học giả Nga, Pháp, Trung Quốc đã nhấn mạnh quãng thời gian Người tới nước Nga và bắt gặp ánh sáng của Cách mạng tháng Mười Nga, Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của Lê-nin. Thành công của Cách mạng tháng Mười và Luận cương của Lê-nin đã giải đáp trăn trở của Người về vấn đề giải phóng các dân tộc thuộc địa, giải phóng dân tộc Việt Nam. Hồ Chí Minh đã xúc động đến phát khóc khi gặp được Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của Lê-nin, Người đã thốt lên “đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta”. Và cũng kể từ khi thực sự tìm được con đường giải phóng dân tộc mình, Người quyết tâm thực hiện bằng được sự nghiệp giải phóng dân tộc, giành độc lập dân tộc theo con đường Cách mạng tháng Mười, con đường cách mạng vô sản.

Kể từ khi gặp được ánh sáng của Chủ nghĩa Mác – Lê-nin, của Cách mạng tháng Mười, Người hoàn toàn tin theo Chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tin theo Quốc tế III. Ngay từ khi ấy Chủ tịch Hồ Chí Minh đã mong muốn xây dựng một đảng cách mạng chân chính để lãnh đạo một nước thuộc địa nửa phong kiến như Việt Nam. Và ngày lịch sử cũng đã đến. Ngày 3-2-1930, dưới sự chủ trì của Người, Đảng Cộng sản Đông Dương đã được thành lập, sau này đổi tên thành Đảng Cộng sản Việt Nam, đã đánh dấu bước đi quan trọng và quyết định của cách mạng Việt Nam. Từ khi có Đảng, dưới ánh sáng của Đảng, sự chỉ đạo sáng suốt của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cách mạng Việt Nam đã đi từ thắng lợi này tới thắng lợi khác. Chiến thắng mọi kẻ thù, xây dựng tình đoàn kết quốc tế, tạo dựng một cuộc sống tốt đẹp hơn cho nhân dân Việt Nam.

Đánh giá chung về chặng đường 30 năm bôn ba, từ ngày 5-6-1911 tới ngày 8-2-1941, các học giả quốc tế cho rằng: Trong 30 năm ấy, không lúc nào Người ngừng nghĩ về dân tộc Việt Nam, chưa bao giờ Người đòi hỏi gì cho riêng mình. Con đường đúng đắn mà Người lựa chọn đã mang lại tự do, độc lập, hạnh phúc cho toàn thể nhân dân Việt Nam. Người mãi là gương sáng của người chiến sĩ cộng sản trọn đời vì nước vì dân, là biểu tượng khí phách anh hùng, ý chí độc lập, tự cường, sáng tạo và quyết thắng, không chịu khuất phục.

HOA HUYỀN (tổng hợp)
qdnd.vn

Trả lời phóng viên báo Sự thật và đài phát thanh Mátxcơva (3-1-1964)

– Sự kiện nổi bật nhất trong nǎm qua là: đế quốc Mỹ càng thất bại trong âm mưu gây chiến. Phong trào giải phóng dân tộc càng thêm nhiều thắng lợi, thêm nhiều nước thoát khỏi ách thống trị của chủ nghĩa thực dân. Về khoa học kỹ thuật lại thêm nhiều thành công vẻ vang bởi chuyến bay sóng đôi hai con tàu vũ trụ Phương Đông 5 và 6 của Liên Xô.

Nǎm mới, tôi chúc phe xã hội chủ nghĩa, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế và nhân dân yêu chuộng hoà bình thế giới đoàn kết chặt chẽ để đấu tranh thắng lợi chống chủ nghĩa đế quốc thực dân, vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội.

– Tôi xin thay mặt nhân dân Việt Nam chúc nhân dân Liên Xô anh em, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản vĩ đại, trong nǎm mới thu được nhiều thắng lợi to lớn trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa cộng sản.

—————–

Báo Nhân dân,số 3567, ngày 3-1-1964.
cpv.org.vn

Thư gửi Đại hội hợp tác xã và đội sản xuất nông nghiệp tiên tiến vùng đồng bằng miền Bắc (13-1-1964)

Trong mấy nǎm qua công tác hợp tác hoá cả miền xuôi và miền núi đều có tiến bộ khá.

Hiện nay có gần 30% hợp tác xã tiên tiến. Thế là tốt. Các hợp tác xã và đội sản xuất tiên tiến đang làm đầu tàu thúc đẩy phong trào tǎng gia sản xuất.

Nhưng vẫn còn độ 55% hợp tác xã vào loại trung bình. Và đáng hết sức chú ý là còn 15% hợp tác xã vào loại kém.

Vì vậy, trong Đại hội hợp tác xã là đội sản xuất tiên tiến này, chúng ta cần rút cho được kinh nghiệm để làm cho các hợp tác xã và các đội sản xuất tiên tiến hơn nữa; các hợp tác xã và đội sản xuất trung bình trở nên tiên tiến; các hợp tác xã và đội sản xuất kém phải có quyết tâm trở thành khá.

Một hợp tác xã, một đội sản xuất tiên tiến cần có mấy điều kiện sau đây:

1. Xã viên giác ngộ sâu sắc về giai cấp, có tinh thần làm chủ, có tư tưởng xã hội chủ nghĩa dứt khoát, rõ ràng. Nội bộ phải đoàn kết chặt chẽ, thương yêu giúp đỡ lẫn nhau. Mỗi cán bộ và xã viên phải thi đua thực hiện khẩu hiệu “Cần kiệm xây dựng hợp tác xã”.

2. Mỗi hợp tác xã cần có một phương hướng sản xuất đúng đắn phù hợp với tình hình kinh tế trong hợp tác xã và phù hợp với tình hình và yêu cầu chung của nền kinh tế quốc dân.

3. Xã viên đem hết nǎng lực và nhiệt tình tham gia lao động

trong hợp tác xã. Hợp tác xã cần quản lý tốt lao động để mở rộng sản xuất, cả trồng trọt, chǎn nuôi và nghề phụ.

4. Làm tốt việc cải tiến kỹ thuật và xây dựng bước đầu cơ sở vật chất, kỹ thuật, đặc biệt trước mắt cần chú ý bốn khâu: nước, phân, cần, giống.

5. Tài chính của hợp tác xã phải minh bạch, công khai. Phải hết sức tiết kiệm, kiên quyết chống tham ô, lãng phí. Làm đúng nguyên tắc phân phối theo lao động.

6. Làm tốt nghĩa vụ đối với Nhà nước, góp phần đắc lực vào việc công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa nước nhà.

7. Chi bộ phải được tǎng cường và củng cố, vì chi bộ là hạt nhân lãnh đạo hợp tác xã. Chi bộ tốt thì hợp tác xã tốt, nếu chi bộ kém thì hợp tác xã kém.

Đồng thời phải ra sức củng cố chi đoàn cho thật mạnh. Phụ nữ là một lực lượng rất quan trọng trong hợp tác xã, cần làm tốt việc động viên, tổ chức, giáo dục, giúp đỡ phụ nữ.

8. Cán bộ phải gương mẫu, chí công vô tư, cần kiệm liêm chính, hết lòng vì dân, thực hành dân chủ, làm trọn công việc, tham gia lao động, luôn luôn rèn luyện lập trường, tư tưởng và đạo đức cách mạng, đi sâu vào nghiệp vụ, kỹ thuật.

Cuối cùng, các cấp uỷ đảng cần phải động viên nhân dân làm tốt việc sản xuất Đông – Xuân, nhất là cấy lúa, trồng hoa màu, làm cây công nghiệp kịp thời vụ và đúng kỹ thuật, đồng thời làm tốt cuộc vận động cải tiến quản lý, cải tiến kỹ thuật đợt này.

Bác thân ái chúc Đại hội thành công tốt đẹp.

Hà Nội, ngày 13 tháng 1 nǎm 1964
Hồ Chí Minh

————————–

Báo Nhân dân,số 3579, ngày 15-1-1964.
cpv.org.vn

Thư gửi binh sĩ thuộc chính quyền miền Nam (14-1-1964)

Anh em ơi!

Bước sang nǎm 1964, nên chúc anh em cái gì đây? Có lẽ điều tốt nhất là chúc anh em có đầu óc sáng suốt để phân biệt điều gì phải, điều gì trái, ai là bạn, ai là thù. Do đó mà đi vào con đường chính nghĩa, để xây dựng hạnh phúc cho bản thân và cho cha, mẹ, vợ, con của anh em.

Vì vậy, chúng tôi nêu ra vài điểm sau dây: để anh em suy nghĩ:

– Mỹ tự xưng là bình đẳng và vǎn minh nhất thế giới. Nhưng hơn 18 triệu người Mỹ vì da họ đen mà bị hành hạ như nô lệ. Cứ 100 người Mỹ thì có 2 người phạm tội nặng. Bộ trưởng Tư pháp Mỹ đã nói: “ở Mỹ, các thành phố to đều là truỵ lạc… Lũ ǎn cướp giết người câu kết với bọn tư bản lũng đoạn, với đại biểu Quốc hội, với quan toà án… Hiện nay Bộ Tư pháp có hàng vạn hồ sơ về các vụ giết người cướp của” (5-1963).

Mồ ma tổng Ken cũng nói: “Nhiều thành phố Mỹ không bảo đảm hoà bình và an ninh, vì người ta không được tự do đầy đủ” (6-1963). Không ngờ sau đó nǎm tháng (11-1963), ông ta cũng bị ám sát?

– Mỹ tự xưng là giàu có nhất thế giới. Nhưng ở Mỹ có 2 triệu người muốn tự tử vì đời sống quá khó khǎn. 5 triệu thợ thuyền thất nghiệp hoàn toàn và 2 triệu rưỡi người thất nghiệp từng lúc. Hàng chục triệu người bị buộc “về hưu”. Ngày 9-1-1964, tổng Giônxơn cũng nhận rằng: 20% (độ 40 triệu) người Mỹ sống rất cực khổ.

Tình hình dân Mỹ như vậy đó. Nhưng để xâm lược miền Nam nước ta, trong 10 nǎm qua, đế quốc Mỹ đã cho tên độc tài khát máu Ngô Đình Diệm, gia đình hắn và tay sai hắn (bọn Thơ, Minh, Đính, v.v..) hơn 3.300 triệu đô la để chúng giết hại hơn 150.000 đồng bào miền Nam (gần 3.000 người bị mổ bụng, moi gan, ǎn thịt).

Hãm hiếp hơn 4.000 phụ nữ (có cả em bé và cụ già),

Ném bom làm 200.000 người bị thương,

Giam cầm hơn 400.000 người vô tội,

Tra tấn 1.000.000 người thành tàn tật, v.v..

Thêm vào đó, có hàng trǎm làng bị đốt phá và bị thuốc độc, hàng chục vạn binh sĩ chết và bị thương ở chiến trường.

Trong lúc miền Nam bị tang tóc thê thảm như vậy, thì bè lũ Diệm làm giàu trên xương máu của đồng bào. Chắc anh em đã xem các báo Sài Gòn và thấy rằng: gia đình Diệm chiếm độc quyền hầu hết các ngành kinh tế của nhân dân miền Nam. Khắp các tỉnh miền Nam chúng đều có rất nhiều tài sản. Chúng gửi hơn 1.000 triệu đôla ở nhà bǎng các nước ngoài. ở Trung Bộ, riêng tên Ngô Đình Cẩn đã có hơn 20 toà biệt thự, 50 sở đồn điền, hàng dãy nhà cho thuê, 1 xưởng đóng tàu thuỷ, 1 công ty xe hơi, v.v. đáng giá hàng ngàn triệu đồng. Nó còn xây sẵn cho nó 1 ngôi lǎng ở núi Ngự tốn hơn 10 triệu đồng.

Lũ tay chân khác của Mỹ – Diệm bóc lột cũng gắt. Ví dụ: Khi bị bắt, tên tỉnh trưởng Quảng Ngãi có 22 triệu đồng bạc và 8 kilô vàng, tên quận trưởng Đức Phổ có 17 triệu đồng bạc và 3 kilô vàng, tên giám đốc cảnh sát Sài Gòn có 5 cái biệt thự và 96 triệu đồng, v.v.. “Cháy nhà sẽ ra mặt chuột”, chắc là bọn đảo chính (Thơ, Minh, Đính, v.v..) cũng chẳng trong sạch gì hơn lũ kia.

Trong khi chúng thǎng quan phát tài, thì chúng đẩy anh em binh sĩ đi càn quét giết hại đồng bào và nhiều anh em bỏ mình ở trận địa!

– Trước kia thực dân Pháp câu kết với bọn Việt gian để cướp nước ta, Pháp đã thất bại. Ngày nay đế quốc Mỹ cũng câu kết với bọn Việt gian hòng cướp miền Nam, Mỹ cũng nhất định sẽ thất bại. Kế hoạch “18 tháng” của Taylo đã phá sản rồi. Kế hoạch “Mỹ rút nǎm 1965″cũng bị xoá bỏ. “Quốc sách ấp chiến lược” cũng bị tung toé… Diệm đã thất bại và bị Mỹ thủ tiêu. Diệm chết rồi nhưng chính sách tội ác của Diệm vẫn tiếp tục như cũ, cho nên bọn đảo chính rồi cũng trượt theo vết xe xuống hố của Diệm. Chính người Mỹ cũng đã thấy sự thất bại.

Nǎm 1954, nghị sĩ Ken đã nói: “chính sách xâm lược của Mỹ ở Việt Nam là một chính sách tự sát”. Tháng 12-1962, Tổng thống Ken lại nói: “Chiến tranh chống du kích là một việc hết sức khó khǎn… Chúng ta đang ở trong một đường hầm, chưa có lối thoát!”.

Tuần báo Mỹ(20-8-1962) viết: “Về chính trị, chiến tranh ở Việt Nam là một sự thất bại (cho Mỹ)”. 15-8-1963 báo ấy lại viết: “So với 6 tháng đầu nǎm, số thất bại của Mỹ – Diệm tǎng 33%, mà số thất bại của quân du kích thì giảm 30%”.

Hãng Mỹ AP (3-1-1963) viết: “Tinh thần binh sĩ Mỹ rất xoàng, họ chán nản đến cực độ”. Báo Mỹ Người chiến sĩ (4-3-1963) viết: “Dù Mỹ có nhiều vũ khí mấy, cũng không thắng được”.

Hãng Mỹ UPI(29-7-1963) đã viết một cách rất dứt khoát: “Đây là một cuộc chiến tranh rất tàn bạo và (Mỹ) sẽ thất bại”.

Tình thế đã rõ ràng! Anh em nên suy nghĩ !

– Dù phải chiến đấu rất gay go gian khổ, đồng bào miền Nam nhất định sẽ thắng. Tuy không có máy bay, xe tǎng, tàu chiến, nhưng đồng bào miền Nam đã đánh thắng những thứ vũ khí mới nhất của Mỹ, đã giải phóng hai phần ba đất đai, đã phá hơn một nửa số “ấp chiến lược”, hơn 7 triệu người được sống tự do… Đồng bào miền Nam càng đánh càng mạnh, càng mạnh càng thắng.

Tờ báo Phigarôcủa đại tư bản Pháp (18-12-1963) viết: “Lực lượng Việt cộng mỗi tháng một tǎng, đại đa số nhân dân theo họ và ra sức giúp họ”.

Hãng Anh Roitơ(4-1-1964) viết: “Người phát ngôn quân sự Mỹ nói: So với nǎm ngoái, thì hiện nay Việt cộng lực lượng mạnh hơn, trang bị nhiều hơn, tổ chức tốt hơn…”.

Đồng bào miền Nam thắng vì đoàn kết chặt chẽ, chiến đấu anh dũng và có chính nghĩa, cho nên được nhân dân tiến bộ các nước kể cả nhân dân Mỹ đồng tình và ủng hộ.

Vậy anh em binh sĩ nên làm sao đây?

Đế quốc Mỹ và lũ tay sai đang dùng người miền Nam đánh người miền Nam. Chúng đẩy binh sĩ tỉnh này đi giết hại nhân dân tỉnh kia. Chúng đẩy anh em vào tội lỗi “nồi da nấu thịt”. Và bản thân anh em cũng bị bọn Mỹ ngược đãi, xem khinh: lương của chó ngao Mỹ nhiều gấp bội lương của người lính miền Nam! Bọn “cố vấn” Mỹ thường nói: “Phải đá vào đít thì binh sĩ miền Nam mới chịu tiến lên!” (Báo Diễn đàn Nữu Ước, 10-12-1963). Nhục nhã vậy thay!

Chắc anh em đều có lương tâm đối với Tổ quốc. Vì bị đế quốc Mỹ và lũ tay sai lừa bịp và bắt ép mà anh em cầm súng chống lại đồng bào. Nếu từ nay giác ngộ, quay về với nhân dân, thì anh em cũng xứng đáng với Tổ quốc. Trong bốn nǎm qua đã có hơn 87.000 binh sĩ làm như vậy, họ đã bỏ hàng ngũ địch về với đồng bào. Vài ví dụ gần đây nhất: Trong tháng 12-1963, chỉ ở Tân An – Chợ Lớn đã có hơn 620 binh sĩ và ở Bà Rịa có hơn 700 binh sĩ trở về với nhân dân. Ngày 24-11-1963, anh em binh sĩ ở Hiệp Hoà đã giúp quân du kích phá tan trại huấn luyện của Mỹ. Ngày 3-1-1964, một trung đội lính miền Nam đã giúp du kích diệt một “ấp chiến lược” ở Công Tum, rồi cả trung đội tham gia quân du kích. Ngày 7-1-1964, ở Vĩnh Long, anh em lính đã tự tay đốt hơn 1 triệu lít xǎng của địch, rồi mang súng về với Giải phóng quân.

Những việc dũng cảm mà binh sĩ khác đã làm được, thì anh em chắc cũng làm được. Như thế là:

Trên vì nước,dưới vì nhà,
Một là đắc hiếu, hai là đắc trung.

Chúc anh em trở thành những binh sĩ yêu nước!

Chiến sĩ

——————–

Báo Nhân dân,số 3578, ngày 14-1-1964.
cpv.org.vn

Mừng Đảng ta 34 tuổi (3-2-1964)

Công đức Đảng ta như biển rộng núi cao,
Bǎm tư nǎm ấy biết bao nhiêu tình!

Trong những nǎm qua, Đảng ta đã phấn đấu rất anh dũng, thắng lợi rất vẻ vang. Đó là do Đảng ta có chủ nghĩa Mác – Lênin tất thắng soi đường, do Đảng ta đoàn kết nhất trí. Nhờ vậy mà Đảng ta đã đoàn kết và lãnh đạo dân ta vượt mọi gian khổ, khó khǎn, tiến từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Hiện nay Đảng ta và nhân dân ta đang phải phấn đấu để xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc làm cơ sở vững mạnh cho cuộc đấu tranh thực hiện hoà bình thống nhất nước nhà; và góp phần vào sự nghiệp cách mạng thế giới.

Để hoàn thành tốt những nhiệm vụ rất nặng nề và rất vẻ vang ấy Đảng ta đã đoàn kết phải càng thêm đoàn kết, đã mạnh mẽ phải càng mạnh mẽ thêm.

Đảng mạnh là do mỗi một chi bộ mạnh. Chi bộ mạnh là do mỗi một đảng viên ra sức làm trọn 10 nhiệm vụ đã ghi trong Điều lệ của Đảng do Đại hội lần thứ III của Đảng đã định ra, tức là:

1. Tích cực phấn đấu để thực hiện mọi nghị quyết và chỉ thị của Đảng, tham gia sinh hoạt đảng đều đặn, luôn luôn tìm cách hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ Đảng giao cho.

2. Giữ gìn và củng cố sự đoàn kết thống nhất của Đảng.

3. Phục tùng nghiêm chỉnh kỷ luật của Đảng. Gương mẫu chấp hành pháp luật của Nhà nước và kỷ luật của các đoàn thể cách mạng của quần chúng mà mình tham gia.

4. Ra sức học tập chủ nghĩa Mác – Lênin và đường lối, chính sách của Đảng, học tập vǎn hoá, kỹ thuật và nghiệp vụ; không ngừng nâng cao trình độ chính trị, tư tưởng và nǎng lực công tác của mình.

5. Hết lòng hết sức phục vụ Đảng, phục vụ nhân dân. Đặt lợi ích của Đảng và lợi ích của nhân dân lên trên lợi ích cá nhân.

6. Luôn luôn thắt chặt quan hệ với quần chúng, học tập quần chúng, tìm hiểu, lắng nghe nguyện vọng và ý kiến của quần chúng để phản ánh cho Đảng và kịp thời giải quyết một cách thích đáng. Ra sức tuyên truyền, giáo dục chủ nghĩa Mác – Lênin và đường lối, chính sách của Đảng trong quần chúng, tổ chức quần chúng thực hiện các chủ trương, chính sách và nghị quyết của Đảng; phát triển ảnh hưởng của Đảng trong quần chúng.

7. Gương mẫu trong lao động sản xuất, trong công tác, trong việc chấp hành chính sách của Đảng và Chính phủ, trong việc bảo vệ tài sản của Nhà nước và của tập thể; thực hành tiết kiệm, tích cực đấu tranh chống lãng phí, tham ô.

8. Thực hành tự phê và phê bình; kiên quyết đấu tranh với mọi tư tưởng và hành động ở trong Đảng và ngoài Đảng có hại đến lợi ích chung của Đảng, của cách mạng.

9. Tuyệt đối trung thành và thật thà với Đảng, không giấu giếm, xuyên tạc sự thật và cũng không dung túng cho ai giấu giếm, xuyên tạc sự thật với Đảng.

10. Giữ gìn bí mật của Đảng, của Nhà nước và luôn luôn cảnh giác với âm mưu phá hoại của kẻ địch.

Từ nay, mỗi một chi bộ cần phải luôn luôn lấy 10 điều đó mà giáo dục đảng viên; mỗi một đảng viên cần phải luôn luôn ghi nhớ lấy 10 điều đó mà tự kiểm điểm. Phải như thế mới xứng đáng là một chi bộ tốt, một đảng viên tốt của Đảng ta – một Đảng cách mạng vĩ đại.

T.L.

———————–

Báo Nhân dân,số 3598, ngày 3-2-1964.
cpv.org.vn

Lời viết cho Bảo tàng Xôviết Nghệ – Tĩnh (3-2-1964)

Nǎm 1930-1931, khi Đảng ta ra đời, một phong trào lớn mạnh đã dâng lên trong cả nước, mà đỉnh cao nhất là Xôviết Nghệ – Tĩnh.

Xôviết Nghệ – Tĩnh là chính quyền cách mạng đầu tiên của công nông, đã lật đổ chính quyền phản động của đế quốc và phong kiến ở mấy nơi trong hai tỉnh Nghệ – Tĩnh.

Dù đế quốc Pháp và bọn phong kiến đã tạm thời nhận chìm phong trào cách mạng trong biển máu, nhưng truyền thống oanh liệt của Xôviết Nghệ – Tĩnh đã thúc đẩy phong trào cách mạng trong cả nước tiến lên và đưa đến Cách mạng Tháng Tám thành công rực rỡ.

Ngày nay, nhân dân cả nước ta đương hǎng hái xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đấu tranh giải phóng miền Nam và hoà bình thống nhất nước nhà. Toàn Đảng, toàn dân ta cần phải phát huy truyền thống anh dũng của Xôviết Nghệ – Tĩnh, nâng cao chí khí cách mạng, vượt mọi khó khǎn, đưa cách mạng Việt Nam tiến lên thắng lợi mới.

Cán bộ, đảng viên, đoàn viên thanh niên và toàn thể đồng bào Nghệ – Tĩnh cần đoàn kết chặt chẽ, phấn khởi thi đua xây dựng Nghệ An và Hà Tĩnh thành hai tỉnh gương mẫu, xứng đáng là quê hương của Xôviết Nghệ – Tĩnh anh hùng.

Ngày 3 tháng2 nǎm 1964
Hồ Chí Minh

——————

Sách Bác Hồ với quê hương Nghệ – Tĩnh,
Ban nghiên cứu Lịch sử Đảng Tỉnh ủy Nghệ – Tĩnh, 1977, tr.135-136
cpv.org.vn

Trả lời Chủ nhiệm báo Tin tức hôm nay – Cuba (4-2-1964)

Hỏi: Đảng Lao động Việt Nam thành lập từ bao giờ và trong những điều kiện nào?

Trả lời: Bị đế quốc và phong kiến áp bức, bóc lột tàn tệ. Được Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại chỉ cho con đường giải phóng. Nhân dân Việt Nam vốn có truyền thống đấu tranh yêu nước. Giai cấp công nhân Việt Nam đã hình thành. Được Quốc tế Cộng sản giúp đỡ. Trong hoàn cảnh ấy, Đảng mácxít – lêninnít chúng tôi đã thành lập ngày 3-2-1930. Mặc dù bọn thống trị thẳng tay khủng bố, Đảng vẫn hoạt động bí mật, kiên trì phấn đấu và ngày càng phát triển.

Hỏi: Những giai đoạn chính của quá trình phát triển và sự đấu tranh của Đảng?

Trả lời: Đảng ra đời liền phát động phong trào công nông đấu tranh khắp cả nước. Phong trào cao nhất là việc thành lập chính quyền xôviết ở hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh vào mùa thu nǎm 1930. Phong trào cách mạng bị bọn thống trị khủng bố gắt gao.

Do sự hoạt động kiên trì của Đảng 1935-1939, phong trào cách mạng lại khôi phục và phát triển rộng rãi.

Chiến tranh thế giới lần thứ hai, cách mạng lại bị khủng bố dữ. Đảng lại hoạt động bí mật hoàn toàn.

Nǎm 1941, Đảng tổ chức Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh (Việt Minh) thu hút các tầng lớp nhân dân yêu nước. Mặt trận đã phát triển rất nhanh chóng.

Nǎm 1942, Đảng bắt đầu lập các cǎn cứ địa, tổ chức những nhóm du kích nhằm đánh đuổi đế quốc Pháp, Nhật.

Nǎm 1945, Hồng quân Liên Xô anh dũng đánh thắng phát xít Đức, Nhật, tạo thêm điều kiện thuận lợi cho cách mạng Việt Nam. Đảng lãnh đạo nhân dân làm Cách mạng Tháng Tám thắng lợi, thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

Thực dân Pháp phản bội những điều ước mà họ đã ký, trở lại xâm lược Việt Nam lần thứ hai. Đảng lãnh đạo toàn dân kháng chiến suốt chín nǎm và đã thắng lợi. Hiệp định Giơnevơ nǎm 1954 công nhận độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam.

Hỏi: Nhiệm vụ trung tâm của Đảng trong việc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đấu tranh thống nhất nước nhà và hoàn thành cuộc cách mạng dân chủ nhân dân trong cả nước?

Trả lời: Từ ngày hoà bình được lập lại, miền Bắc hoàn toàn giải phóng. Chúng tôi đã hoàn thành cải cách ruộng đất và hợp tác hoá nông nghiệp, cải tạo công thương nghiệp tư nhân. Hiện nay chúng tôi đang ra sức công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa và đang tiến hành kế hoạch 5 nǎm lần thứ nhất (1961-1965). Trong công cuộc xây dựng này bản thân chúng tôi cố gắng tự lực cánh sinh, đồng thời được sự giúp đỡ nhiệt tình của các nước xã hội chủ nghĩa anh em, nhất là Liên Xô và Trung Quốc.

Trong khi đó miền Nam Việt Nam bị đế quốc Mỹ gây cuộc chiến tranh xâm lược. Đồng bào miền Nam chúng tôi đoàn kết chặt chẽ trong Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam đấu tranh anh dũng, lại được các nước xã hội chủ nghĩa anh em và nhân dân thế giới đồng tình và ủng hộ. Nhân dân miền Nam Việt Nam nhất định sẽ thắng lợi. Tổ quốc Việt Nam nhất định sẽ thống nhất.

Nhân đây, tôi thân ái chúc Đảng, Chính phủ và nhân dân Cuba anh em thu nhiều thắng lợi mới trong công cuộc giữ gìn độc lập, chủ quyền và xây dựng chủ nghĩa xã hội.

————————

Báo Nhân dân, số 3599, ngày 4-2-1964.
cpv.org.vn

Trả lời phỏng vấn của đồng chí B.A.Riốt (1-3-1964)

Hỏi: Xin Chủ tịch cho biết ý kiến của Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đối với các đề nghị của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam ngày 8 tháng 11 nǎm 1963?

Trả lời: Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam đã đưa ra 6 điểm mà tinh thần cơ bản là: Mỹ phải chấm dứt xâm lược vũ trang, rút quân đội ra khỏi miền Nam Việt Nam, để nhân dân miền Nam Việt Nam tự giải quyết lấy công việc nội bộ của mình. Chính quyền miền Nam Việt Nam phải chấm dứt cuộc chiến tranh “nồi da nấu thịt”, phải tạo điều kiện cho nhân dân có thể bầu cử một cách tự do và dân chủ để lập ra một chính phủ theo đúng ý nguyện của mình, tiến tới hoà bình thống nhất nước Việt Nam theo đúng tinh thần Hiệp định Giơnevơ nǎm 1954.

Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà hoàn toàn ủng hộ 6 yêu sách chính đáng ấy vì đó là nguyện vọng cấp bách của nhân dân miền Nam Việt Nam.

Hỏi: Xin Chủ tịch cho biết những thành tựu quan trọng nhất mà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã thu được trong việc thực hiện kế hoạch 5 nǎm lần thứ nhất (1961-1965)?

Trả lời: Về nông nghiệp, đã có hơn 87% số hộ nông dân vào hợp tác xã. Mấy nǎm qua, tuy thường có hạn hán, bão lụt, nhưng sản xuất nông nghiệp vẫn phát triển khá đều. Mà mặc dù số dân tǎng nhanh, đời sống của nhân dân vẫn tạm đủ no ấm.

Vềcông nghiệp, khi mới giải phóng (1955), miền Bắc chúng tôi chỉ có 81 xí nghiệp cũ kỹ, mà nay đã có 1.100 nhà máy mới, 4.300 hợp tác xã thủ công nghiệp sản xuất được nhiều thứ hàng tiêu dùng trong nước và đang tiến lên dần dần trang bị kỹ thuật mới cho các ngành kinh tế quốc dân.

Có kết quả đẹp đẽ ấy, một phần là do sức phấn đấu dũng cảm của nhân dân chúng tôi, một phần do sự giúp đỡ nhiệt tình của Liên Xô, Trung Quốc và các nước anh em khác.

Về vǎn hoá,hồi thuộc Pháp, 95% nhân dân Việt Nam còn mù chữ. Ngày nay, 95% nhân dân đã biết đọc, biết viết. Số học sinh các trường phổ thông có hơn 2 triệu 50 vạn (so với toàn Đông Dương trước kia chỉ có 80 vạn học sinh). Số học sinh đại học và chuyên nghiệp trung cấp có 9 vạn (so với trước kia chỉ có khoảng 600).

Nhiều tệ nạn xã hội cũ như cờ bạc, đĩ điếm, thuốc phiện… đã được xoá bỏ. Y tế vệ sinh có tiến bộ nhiều, các bệnh dịch nguy hiểm trước đã được ngǎn chặn. Khắp nơi sôi nổi phong trào thi đua cần kiệm xây dựng nước nhà.

Tuy đã có những thành tích khá, song trước mắt chúng tôi còn nhiều khó khǎn, nhất là vì đế quốc Mỹ xâm lược mà đất nước còn tạm thời bị chia cắt làm hai miền.

Nhưng nhân dân Việt Nam vẫn có truyền thống đấu tranh anh dũng, lao động cần cù, lại có các nước anh em giúp đỡ, nhất định sẽ vượt mọi khó khǎn, hoàn thành thắng lợi kế hoạch Nhà nước 5 nǎm lần thứ nhất.

Hỏi: Việc tǎng cường các lực lượng Mỹ tại miền Nam Việt Nam trong tương lai có thể xoay đổi chiều hướng của cuộc đấu tranh giải phóng của nhân dân miền Nam Việt Nam được không?

Trả lời: Hơn 9 nǎm qua, đế quốc Mỹ đã tốn hơn 3.000 triệu đôla, đã ném sang 25.000 “cố vấn” quân sự và bao nhiêu là máy bay, đại bác, thuốc độc… vào cuộc chiến tranh xâm lược miền Nam Việt Nam mà chúng vẫn rúc trong đường hầm không lối thoát như Kennơđi trước đây đã thú nhận. Thì từ nay về sau, dù đế quốc Mỹ có ném thêm bao nhiêu đôla, vũ khí và quân lính cũng chẳng ǎn thua gì. Vì sao?

Một là, vì nhân dân miền Nam Việt Nam trước đây đã không chịu thua thực dân Pháp, thì ngày nay nhất định cũng không chịu thua đế quốc Mỹ. Nhân dân miền Nam Việt Nam càng đánh càng mạnh, càng mạnh càng thắng.

Hai là, vì đế quốc Mỹ là kẻ thù chung của nhân dân thế giới, cho nên khắp nǎm châu, nhất là ở châu á, châu Phi và châu Mỹ latinh, phong trào chống Mỹ đều sôi nổi; đó là thuận lợi lớn cho cuộc đấu tranh yêu nước của nhân dân miền Nam Việt Nam.

Ba là, vì cuộc chiến đấu chính nghĩa của nhân dân miền Nam Việt Nam được sự đồng tình và ủng hộ của nhân dân thế giới, kể cả nhân dân tiến bộ Mỹ. Vì vậy dù phải chiến đấu lâu dài và gian khổ nhân dân miền Nam Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, cuối cùng sẽ nhất định thắng lợi.

Hỏi: ảnh hưởng của cuộc cách mạng Cuba tại châu á?

Trả lời: Cuba chỉ có 7 triệu dân, ở cách nước Mỹ 190 triệu dân chỉ độ 180 cây số mà đã anh dũng chống lại đế quốc Mỹ và đã thắng lợi.

Nhân dân Cuba anh em, dưới sự lãnh đạo của Đảng đứng đầu là đồng chí Phiđen Caxtơrô, vừa đấu tranh để bảo vệ độc lập tự do, vừa lao động để xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đó là tấm gương cách mạng sáng ngời cho nhân dân châu á, châu Phi và châu Mỹ latinh.

Nhân dân Việt Nam và nhân dân Cuba anh em cùng có một kẻ thù chung là đế quốc Mỹ, cùng có một mục đích chung là bảo vệ độc lập tự do và xây dựng chủ nghĩa xã hội, cùng phấn đấu dưới ngọn cờ chung là chủ nghĩa Mác-Lênin. Cho nên, tuy cách nhau hàng vạn dặm, nhưng vẫn gần nhau như anh em một nhà.

Chúng tôi coi mọi thắng lợi của Cuba anh em cũng như của mình vậy

Hỏi: Chủ tịch thấy tình hình thế giới và triển vọng hoà bình trên thế giới như thế nào?

Trả lời: Tình hình thế giới ngày nay rất đáng phấn khởi. Phe xã hội chủ nghĩa ngày càng mạnh, phong trào giải phóng dân tộc ngày càng cao, lực lượng của công nhân và nhân dân lao động ở các nước tư bản ngày càng lớn. Thế lực đế quốc thực dân ngày càng tan rã.

Các lực lượng cách mạng đoàn kết chặt chẽ, kiên quyết đấu tranh thì nhất định giữ gìn được hoà bình thế giới.

Hỏi: Chủ tịch đã nghiên cúu rất sâu về nguồn gốc và nguyên nhân của chủ nghĩa thực dân, vậy Chủ tịch có nhận xét gì đối với cuộc đấu tranh mà các dân tộc châu Mỹ latinh đang tiến hành?

Trả lời: Nhân dân Việt Nam rất quan tâm đến cuộc đấu tranh anh dũng của các dân tộc châu Mỹ latinh chống đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai. Theo gương sáng của cách mạng Cuba, nhân dân các nước châu Mỹ latinh đang đoàn kết đấu tranh, tiến mạnh trên con đường độc lập, dân chủ. Cuộc đấu tranh ấy tuy khó khǎn phức tạp, nhưng cuối cùng nhân dân nhất định sẽ thắng lợi.

Nhân dịp này, thay mặt nhân dân Việt Nam, tôi thân ái gửi lời thǎm đồng chí Phiđen Caxtơrô và các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước Cuba. Chúc nhân dân Cuba anh em giành được nhiều thắng lợi mới. Gửi các cháu thanh niên và nhi đồng nhiều cái hôn.

——————–

Báo Nhân dân,số 3624, ngày 1-3-1964.
cpv.org.vn

Gửi chị em phụ nữ Hoa Kỳ (8-3-1964)

Thưa chị em,

Nhân ngày Phụ nữ quốc tế 8-3, chúng tôi xin gửi đến chị em lời chào hữu nghị.

Chắc chị em đều biết rằng suốt mười nǎm nay, Chính phủ Mỹ đang tiến hành một cuộc chiến tranh tàn khốc ở miền Nam nước chúng tôi. Trong thời gian đó, vì chính sách xâm lược của Chính phủ Mỹ mà đồng bào miền Nam chúng tôi đã bị những tai nạn như sau:

– Hơn 4.000 phụ nữ bị hãm hiếp, có cả em bé và cụ già.

– Hơn 200.000 người bị thương vì tàu bay Mỹ ném bom.

– Hơn 400.000 người vô tội bị giam cầm.

– Hơn 1 triệu người thành tàn tật vì bị tra tấn.

– Hơn 150.000 người bị giết hại (3.000 người bị mổ bụng, moi gan, ǎn thịt).

Hàng trǎm làng mạc bị đốt phá và bị thuốc độc, hàng chục vạn binh sĩ chết và bị thương ở chiến trường.

Thảm hoạ đó là do Chính phủ Mỹ gây nên. Vì tàu bay, xe tǎng, súng đạn, thuốc độc, v.v. đều do Mỹ cung cấp cho bọn Ngô Đình Diệm, Dương Vǎn Minh và hiện nay là bọn Nguyễn Khánh.

Trong lúc đồng bào miền Nam chúng tôi bị chết người, hại của, thì nhân dân Mỹ cũng bị một thứ tai hại khác: Người Mỹ (kể cả chị em phụ nữ Mỹ) mỗi ngày buộc phải cung cấp cho cuộc chiến tranh bẩn thỉu và phi nghĩa ấy một triệu rưỡi đôla. Hơn nữa, trong số 25.000 binh sĩ Mỹ bị Chính phủ Mỹ đưa sang tham gia chiến tranh ở miền Nam, đã có hàng trǎm người chết, hàng nghìn người bị thương. Tức là hàng trǎm nghìn chị em phụ nữ Mỹ đã bị mất chồng, mất cha, mất con, hoặc mất người yêu?

Nhân dân hai nước chúng ta không hề có thù oán gì nhau. Chúng ta, nhất là chị em phụ nữ chúng ta, đều muốn chung sống trong hoà bình và hữu nghị.

Chỉ vì chính sách xâm lǎng của Chính phủ Mỹ đã gây nên tội ác tày trời. Gần đây, Chính phủ Mỹ còn hò hét mở rộng chiến tranh ra Bắc Việt. Thật là điên rồ.

Thưa các chị em, chắc các chị em cũng nhớ rằng nhân dân Việt Nam đã đánh đuổi thực dân Pháp, thì nhân dân Việt Nam sẽ đánh đuổi được thực dân Mỹ. Song nếu không chấm dứt ngay chiến tranh, thì nhân dân Mỹ, trước hết là chị em phụ nữ Mỹ, cũng sẽ bị thêm gánh nặng đau thương vì mất chồng, mất con!

Vậy chị em phụ nữ Mỹ cũng cần phải đấu tranh kiên quyết để chặn tay Chính phủ hiếu chiến Mỹ.

Nhân dịp này, chúng tôi tỏ lời biết ơn những đoàn thể và những nhân sĩ tiến bộ Mỹ đã hoạt động chống chiến tranh ở miền Nam nước Việt Nam. Chúng tôi gửi lời chào thân ái đến 400 chị em ở các bang Nữu ước, Mơrilen, Vớcginia, Connếchticớt… vừa rồi đã biểu tình trước Phủ Tổng thống Mỹ để đòi giải quyết hoà bình vấn đề miền Nam Việt Nam?

Chào hữu nghị và thắng lợi!

Thay mặt phụ nữ Việt Nam
CHIẾN SĨ

———————

Báo Nhân dân,số 3631, ngày 8-3-1964.
cpv.org.vn

Bài nói tại Hội nghị cán bộ phụ nữ miền núi (19-3-1964)

Bác thay mặt Trung ương Đảng và Chính phủ thân ái hoan nghênh các đại biểu của Hội nghị cán bộ phụ nữ miền núi.

Ngày trước, hồi còn có Tây, Nhật và vua, quan, đàn bà con gái các dân tộc bị chúng áp bức bóc lột tàn tệ. Mặt khác, chúng xúi giục dân tộc này khinh rẻ, oán ghét dân tộc khác.

Từ ngày cách mạng thành công, kháng chiến thắng lợi, Đảng và Chính phủ đã làm cho gái và trai bình quyền, các dân tộc bình đẳng.

Nhân dịp này, Bác muốn nhắc lại rằng: phụ nữ các dân tộc miền núi đã có công ủng hộ cách mạng và đóng góp cho kháng chiến rất nhiều. Hôm nay, Bác muốn dặn dò chị em miền núi mấy điều sau đây:

1. Pháp luật của Nhà nước ta đã quy định đàn bà cũng có mọi quyền lợi như đàn ông. Để thực hiệnthật sự bình quyền, phụ nữ phải ra sức phấn đấu. Hiện nay, chị em miền núi đã tiến bộ nhiều, như:

– Cô Nguyễn Thị Khương ở Hoà Bình là anh hùng lao động.

– Cô Nguyễn Thị Khoa cũng ở Hoà Bình là uỷ viên tỉnh.

– Cô Vi Thị Hoá ở Nghĩa Lộ là uỷ viên tỉnh.

– Cô Bùi Thị Na, dân tộc Mường ở Thanh Hoá và cô Hoàng Thị Viện, dân tộc Dao ở Bắc Cạn, là chủ nhiệm hợp tác xã giỏi.

– Cô Hồ Thềnh Sùi, dân tộc Hán ở Quảng Ninh, là Chủ tịch Uỷ ban hành chính xã kiêm phó bí thư chi bộ.

Còn nhiều phụ nữ giỏi nữa, Bác chỉ nêu vài ví dụ thôi. Một tiến bộ lớn nữa là nhiều phụ nữ miền núi, nhất là các cháu thanh niên gái đã trở thành công nhân, tổ trưởng và chiến sĩ thi đua ở các xí nghiệp như mỏ thiếc Cao Bằng, khu gang thép Thái Nguyên, v.v..

2. Phụ nữ cũng làngười chủ nước nhà. Để xứng đáng là người chủ thì chị em phải ra sức tǎng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm. Tổ chức và phát triển hợp tác xã cho tốt. Làm cho gia đình ngày càng no ấm, làm tốt nghĩa vụ đối với Nhà nước.

3. Phụ nữ cần phải xung phong trong việc xây dựng đời sống mới. ở miền núi đang còn những phong tục không tốt do bọn phong kiến để lại, như: ma chay, cúng bái rất tốn kém. Cưới vợ, gả chồng quá sớm. Vệ sinh phòng bệnh, v.v. còn kém. Đó là những mê tín và hủ tục nên xoá bỏ, để xây dựng mỹ tục thuần phong.

4. Đoàn kếtlà sức mạnh. Đồng bào miền núi, trước hết là chị em phụ nữ, cần phải đoàn kết chặt chẽ, thương yêu giúp đỡ lẫn nhau. Đoàn kết giữa dân tộc mình, đoàn kết giữa các dân tộc. Đoàn kết với đồng bào miền xuôi lên phát triển kinh tế miền núi. Tất cả các dân tộc miền núi và miền xuôi phải đoàn kết như anh em, chị em trong một nhà, cùng nhau ra sức xây dựng miền Bắc giàu mạnh và ủng hộ đồng bào miền Nam ruột thịt đánh thắng đế quốc Mỹ xâm lược và bè lũ Việt gian.

Một việc rất quan trọng nữa là: toàn thể đồng bào miền núi phải nâng cao tinh thần cảnh giác, giữ gìn trật tự trị an, luôn luôn sẵn sàng tiêu diệt bọn biệt kích, ngǎn chặn bọn phản cách mạng âm mưu phá hoại.

5. Để làm tốt những việc nói trên, chị em phải cố gắng học tập. Học vǎn hoá, học chính trị, học nghề nghiệp. Nếu không học thì không tiến bộ. Có quyết tâm thì nhất định học được. Hiện nay đã có phụ nữ miền núi làm thày giáo, làm bác sĩ, làm cán bộ kỹ thuật, đội trưởng dân quân, v.v.. Tất cả phụ nữ trong huyện Đà Bắc ở tỉnh Hoà Bình đã xoá xong nạn mù chữ. Đó là những gương mẫu có quyết tâm thì thành công. Bác chờ để khen thưởng những chị em có thành tích xuất sắc nhất.

6. Đảng uỷ các cấp ở miền núi cần phải ra sức phát triển đảng viên và đoàn viên phụ nữ, cần phải đào tạo và giúp đỡ cán bộ phụ nữ các dân tộc. Đó là nhiệm vụ mà Trung ương và Bác giao cho các đồng chí phải làm cho tốt.

Cuối cùng, Bác nhờ các cô chuyển lời hỏi thǎm thân ái của Trung ương của Chính phủ và của Bác đến toàn thể đồng bào miền núi. Chúc Hội nghị thành công tốt đẹp.

Nói ngày 19-3-1964.

———————

Báo Nhân dân, số 3643, ngày 20-3-1964.
cpv.org.vn

“Bên Lăng Bác Hồ” – Bài hát đầu tiên viết về Lăng Bác

Tháng 10 năm 1974, nhạc sĩ Dân Huyền cùng Đoàn Văn nghệ sỹ Đài Tiếng nói Việt Nam đến thăm công trường xây dựng Lăng Bác. Cảnh lao động nhộn nhịp với hàng ngàn cán bộ, công nhân viên trên công trình đang khẩn trương lao động, giữa ngổn ngang những giàn giáo, nổi lên khối nhà Lăng Bác sừng sững uy nghi đang được hoàn tất. Nhạc sĩ Dân Huyền vô cùng xúc động và bài hát “Bên Lăng Bác Hồ” đã ra đời trong hoàn cảnh đó.

Ông nhớ lại: Suốt một tuần lễ mình trăn trở hoài với cảm xúc thiêng liêng ấy, cuối tuần bài hát được hoàn thành. Mình đã chọn giai điệu dân ca Nam Bộ để sáng tác bài hát, bởi như Bác Hồ đã nói: “Miền Nam trong trái tim tôi”. Viết xong nốt nhạc cuối cùng, mình hát thử cho đồng nghiệp trong Phòng Âm nhạc của Đài góp ý, lắng nghe ý kiến bổ sung chân thành của anh em. Ban đầu mình lấy tên là “Tiếng hát bên Lăng Người”, nhạc sĩ Triều Dâng, Lương Nguyên góp ý là “Tiếng hát bên Lăng Bác”, cuối cùng mình lấy tên giản dị như ngày nay “Bên Lăng Bác Hồ”.

Ca sĩ Kiều Hưng là người thể hiện bài hát này lần đầu, được đông đảo người nghe yêu thích. Trong ngày hoàn thành Lăng Bác 27/8/1975 – sau hơn hai tháng đất nước hoàn toàn thống nhất, bài hát “Bên Lăng Bác Hồ” được chọn là một trong những bài hát chính thức trình bày trong ngày vui lịch sử này. Từ đó đến nay, có nhiều nhạc sĩ đã sáng tác những bài hát hay về đề tài Lăng Bác: Hoàng Hiệp với “Vào Lăng viếng Bác” (thơ Viễn Phương), Thuận Yến với “Vầng trăng Ba Đình” (thơ Phạm Ngọc Cảnh), Nguyễn Đăng Nước với “Chúng con canh giấc ngủ cho Người”… Hôm nay chúng ta vào Lăng viếng Bác, lại được dịp nghe những bài hát xúc động này.

Nhạc sĩ Dân Huyền tên thật là Phạm Ngọc Dần, sinh năm 1938, quê ở huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An. Ngay khi còn nhỏ mẹ ông đã dạy nhiều làn điệu dân ca quê hương, tình yêu đối với dân ca sâu đậm trong trái tim ông suốt cả cuộc đời. Thuở nhỏ, ông học trong Chủng viện xứ Đoài, Nghệ An. Ở đây, ông được học lý thuyết âm nhạc, chơi đàn… Năm 1954, Dân Huyền chuyển về Đoàn Văn công Quân khu 4 với vị trí nhạc công, rồi về công tác tại Ty Văn hoá Nghệ An. Năm 1959, ông được về học tại Trường Tuyên huấn Trung ương. Ra trường, ông được cử về làm cán bộ văn nghệ của Nhà máy ô tô “Mồng một tháng năm” ở Hà Nội. Ông tham gia viết báo, đặt lời mới cho hàng trăm bài dân ca… Năm 1967, Đài Phát thanh Tiếng nói Việt Nam đã mời ông về làm biên tập viên âm nhạc, sau được phân công là Trưởng phòng “Dân ca và nhạc cổ truyền”. Ông sáng tác nhiều ca khúc được mọi người yêu thích, nhưng đóng góp lớn nhất của ông là soạn lời hát cho các bài dân ca. Tuy đã nghỉ hưu từ năm 2001, ông vẫn hăng hái tham gia Câu lạc bộ “Đàn và hát dân ca” của Đài với cương vị Chủ nhiệm Câu lạc bộ, Chi hội trưởng Chi hội Văn nghệ dân gian.

Theo Phú Cương
Báo Vietnamnet
Phương Thúy (st)

bqllang.gov.vn