Tag Archive | Tin tức

Đáp từ trong tiệc chiêu đãi của Tổng thống R.Praxát (24-3-1959)

Kính thưa Tổng thống kính mến,

Thưa các vị,

Thưa các bạn,

Tôi rất cảm ơn những lời thân thiết của Tổng thống đối với nhân dân Việt Nam.

Tổng thống Ragiǎngđra Praxát đã có nhiều cống hiến to lớn cho công cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, cũng như cho công cuộc tǎng cường tình hữu nghị giữa các nước Á – Phi và cho sự nghiệp giữ gìn hoà bình thế giới. Nhân dân Việt Nam, Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà rất biết ơn Tổng thống, Chính phủ Ấn Độ và nhân dân Ấn Độ đã đồng tình và ủng hộ nhân dân Việt Nam trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc trước kia và trong cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà hiện nay. Suốt đời hy sinh phấn đấu cho độc lập dân tộc, hoà bình và hữu nghị, đạo đức cao quý của Tổng thống đã nêu một tấm gương sáng cho mọi người yêu Tổ quốc, yêu hoà bình.

Được đón tiếp Tổng thống, nhân dân Việt Nam được nhìn thấy người tiêu biểu vĩ đại cho những đức tính yêu nước, cần lao và anh dũng của nhân dân Ấn Độ anh em. Tuy Tổng thống chỉ lưu lại nước chúng tôi một thời gian quá ngắn, nhưng Tổng thống đã để lại trong lòng mỗi người dân Việt Nam một mối tình thân ái rất nồng nàn.

Tôi tin rằng cuộc đi thǎm lần này của Tổng thống sẽ thắt chặt thêm nữa tình hữu nghị sẵn có giữa nhân dân hai nước chúng ta. Với sức đoàn kết của nhân dân Việt Nam và Ấn Độ và của các dân tộc Á – Phi cùng nhân dân yêu chuộng hoà bình trên thế giới, hai nước chúng ta nhất định sẽ vượt được mọi khó khǎn và sẽ thắng lợi trong sự nghiệp xây dựng nước nhà giàu mạnh, góp phần xứng đáng vào việc bảo vệ hoà bình ở châu á và thế giới.

Nhân dịp này, tôi đề nghị nâng cốc:

Chúc sức khoẻ của Tổng thống Ragiǎngđra Praxát.

Chúc sức khoẻ các vị cùng đi với Tổng thống.

Tình hữu nghị Việt – Ấn muôn nǎm!

Hoà bình thế giới muôn nǎm!

————————–

Đọc ngày 24-3-1959.
Báo Nhân dân, số 1836, ngày 25-3-1959.
cpv.org.vn

Lời tiễn Tổng thống R.Praxát (25-3-1959)

Thưa Tổng thống kính mến,

Thưa các vị và các bạn,

Tiễn đưa Tổng thống hôm nay, tuy chúng tôi rất bùi ngùi luyến tiếc, nhưng đồng thời chúng tôi cũng cảm thấy vui mừng, vì cuộc đến thǎm của Ngài đã làm cho nhân dân hai nước chúng ta càng gần gũi nhau hơn, càng yêu mến nhau hơn. Tổng thống đã để lại cho nhân dân Việt Nam mối tình thắm thiết của nhân dân ấn Độ anh em. Trong những cuộc nói chuyện, chúng ta đã nhất trí với nhau về nhiều vấn đề, nhất là trong sự mong muốn tình hữu nghị giữa các dân tộc á – Phi ngày càng củng cố, phát triển và quan hệ giữa hai nước chúng ta ngày càng thêm vững chắc. Nói tóm lại, Tổng thống đến thǎm nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã củng cố thêm nữa lực lượng hoà bình ở á – Phi và trên thế giới.

Trước lúc Ngài từ giã đất nước chúng tôi, tôi trân trọng nhờ Ngài chuyển đến Chính phủ và nhân dân ấn Độ anh em mối tình đoàn kết hữu nghị thắm thiết của toàn thể nhân dân Việt Nam. Tôi cũng trân trọng nhờ Ngài chuyển đến Phó Tổng thống Rađacrixnan và Thủ tướng Nêru lời chúc mừng thân ái của chúng tôi.

Kính chúc Tổng thống và các vị cùng đi với Ngài lên đường bình an mạnh khoẻ.

Chúc tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước Việt Nam và ấn Độ muôn nǎm!

Hoà bình thế giới muôn nǎm!

——————————

Nói ngày 25-3-1959.
Báo Nhân dân, số 1837, ngày 26-3-1959.
cpv.org.vn

Trả lời báo Đảng và Thông tấn xã Hunggari về tình hình quốc tế và trong nước (27-3-1959)

– Mười nǎm qua, ở châu Á đã có một sự thay đổi lớn lao. Mười nǎm trước đây, đế quốc Mỹ và bọn Tưởng Giới Thạch còn thống trị trên lục địa Trung Quốc, nhiều nước khác chưa giành được độc lập, nhưng ngày nay, đại đa số các dân tộc của châu Á đã có một đời sống độc lập. Một số nước như Trung Quốc, Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Triều Tiên, Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đang xây dựng chủ nghĩa xã hội. Nhiều nước khác như: Ấn Độ, Inđônêxia, Miến Điện… cũng đang nỗ lực để xây dựng nền kinh tế của mình và cải thiện đời sống của nhân dân. Điều này không làm cho bọn đế quốc vừa ý. Chúng âm mưu can thiệp và đã can thiệp vào Đài Loan, miền Nam Triều Tiên, miền Nam Việt Nam và nhiều nơi khác. Chúng dùng Khối xâm lược Đông – Nam Á chống lại nhân dân châu Á. Nhưng thắng lợi cuối cùng nhất định sẽ về tay nhân dân.

Bản Tuyên bố của các đảng cộng sản và công nhân 12 nước xã hội chủ nghĩa tại Mátxcơva nǎm 1957 đã phân tích vấn đề này rất rõ. Bản Tuyên bố đã chỉ ra một cách đúng đắn rằng các dân tộc châu Á cũng như châu Phi và châu Mỹ latinh đã vững vàng tiến bước trên con đường độc lập và tiến bộ không gì ngǎn cản nổi. Những cố gắng và cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam là một bộ phận khǎng khít của cuộc đấu tranh vĩ đại nhằm chống chủ nghĩa đế quốc và chủ nghĩa thực dân.

– Hai nước Inđônêxia và Việt Nam có những vấn đề giống nhau. Chính sách của hai nước giống nhau ở chỗ cùng chống thực dân và đế quốc, bảo vệ hoà bình và bảo vệ những nguyên tắc của Hội nghị Bǎngđung. Cũng như nhân dân Việt Nam đấu tranh cho sự thống nhất của Tổ quốc, nhân dân Inđônêxia đấu tranh để giải phóng miền Tây Iriǎng.

… Kế hoạch 7 nǎm của Liên Xô là một nguồn cổ vũ lớn đối với giai cấp công nhân và nhân dân lao động các nước xã hội chủ nghĩa và các nước tư bản chủ nghĩa. Nhiệm vụ trước mắt của nhân dân Việt Nam là tǎng cường cố gắng để hoàn thành kế hoạch 3 nǎm, nâng cao mức sống của nhân dân. Về mặt này, Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa khác, trong đó có Hunggari đã giúp đỡ nhân dân Việt Nam rất nhiều. Sự cố gắng bản thân của nhân dân Việt Nam cùng với những sự giúp đỡ lớn lao đó sẽ đảm bảo hoàn thành công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam một cách tốt đẹp nhất. Công cuộc công nghiệp hoá ở nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đang phát triển nhanh chóng. Tới nǎm 1960, công cuộc hợp tác hoá nông nghiệp sẽ hoàn thành về cǎn bản: từ 60% tới 70% ruộng đất sẽ do các hợp tác xã cày cấy. Phong trào chống nạn mù chữ đã thu được những thành tích to lớn. Trước đây 95% nhân dân Việt Nam mù chữ. Hiện nay 95% nhân dân đã biết đọc biết viết. Nhiệm vụ quan trọng nhất của nhân dân Việt Nam hiện nay là thống nhất đất nước. Công cuộc thống nhất nước Việt Nam có triển vọng tốt. Tuy còn rất nhiều khó khǎn nhưng nhân dân Việt Nam tin chắc rằng thắng lợi là thuộc về mình và đất nước Việt Nam nhất định sẽ thống nhất.

Cuối cùng, tôi nhờ các báo Hunggari chuyển lời chào mừng anh em đến Đảng Công nhân xã hội chủ nghĩa và toàn thể nhân dân Hunggari và gửi nhiều cái hôn đến các cháu thiếu nhi Hunggari. Tôi chúc nhân dân Hunggari anh em thi đua hoàn thành kế hoạch 3 nǎm trước thời hạn. Điều đó sẽ là một sự cổ vũ to lớn đối với nhân dân Việt Nam trong phong trào thi đua hoàn thành kế hoạch 3 nǎm của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, bởi vì mỗi bước tiến của bất cứ một nước xã hội chủ nghĩa nào cũng có ảnh hưởng tốt đến các nước xã hội chủ nghĩa khác.

Trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội, tất nhiên có nhiều khó khǎn trở ngại. Nhưng với tinh thần đoàn kết thống nhất, với ý chí kiên trì và dũng cảm, chúng ta sẽ vượt qua mọi khó khǎn, trở ngại và sẽ thu được thắng lợi.

——————————

Trả lời ngày 27-3-1959.
Sách Hồ Chí Minh Toàn tập, xuất bản lần thứ nhất, Nxb Sự thât, Hà Nội, 1989, t.8, tr. 362-365
cpv.org.vn

Điện mừng ngày Tuynidi tuyên bố độc lập (29-3-1959)

Kính gửi Tổng thống Buốcghiba,

Nhân dịp kỷ niệm lần thứ ba ngày Tuynidi tuyên bố độc lập, thay mặt Chính phủ, nhân dân nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và nhân danh cá nhân, tôi hân hạnh gửi đến Ngài, Chính phủ và nhân dân Tuynidi những lời chúc mừng nhiệt liệt.

Chúc tình hữu nghị giữa nhân dân Việt Nam và nhân dân Tuynidi ngày càng phát triển.

Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà
HỒ CHÍ MINH

——————————-

Báo Nhân dân, số 1480, ngày 29-3-1959.
cpv.org.vn

Bài nói với cán bộ và công nhân công trường Đèo Nai, Cẩm Phả (30-3-1959)

Bác thay mặt Trung ương Đảng và Chính phủ về thǎm các cô, các chú và cảm ơn các đồng chí chuyên gia Liên Xô công tác tại khu mỏ.

Trước hết, Bác khen ngợi những cố gắng của cán bộ và công nhân mỏ trong thời gian vừa qua, nhất là từ tháng 8-1958 tới nay, công nhân đã có tiến bộ trong sản xuất, giữ gìn máy móc. Những tiến bộ đó chưa phải đã hoàn toàn 100%, cần cố gắng hơn nữa để tiến bộ mãi.

Cán bộ Đảng, thanh niên, công đoàn đã gần gũi anh chị em công nhân hơn trước, nhưng mới chỉ là bước đầu.

Nhưng trong sản xuất, các cô, các chú còn nhiều khuyết điểm cần phải sửa chữa, ở đây Bác chỉ nêu vài điểm:

1. Chất lượng than còn kém lắm: than ta sản xuất ra, có xuất khẩu sang các nước anh em, nếu than tốt các anh em sẽ dùng tốt, nếu than xấu chắc anh em cũng phàn nàn. Sở dĩ phẩm chất than kém một phần do công nhân chưa cố gắng đúng mức, một phần do cán bộ thiếu quan tâm chǎm sóc, trong sản xuất làm vượt mức kế hoạch, nhưng phải chú ý đảm bảo chất lượng tốt. Chúng ta không muốn mua hàng xấu thì làm than bán cho các nước anh em phải làm tốt mới đúng.

2. Về than cục còn chưa bảo đảm đúng tỷ lệ quy định. Phải thấy đó là một điều thật lớn vì giá trị than cục hơn than cám nhiều.

3. Giữ gìn lao động còn kém. Một công nhân bất kỳ nam hay nữ đều rất quý báu, chẳng những quý cho gia đình các cô, các chú mà còn quý cho Đảng, Chính phủ và nhân dân nữa. Nếu để xảy ra tai nạn là thiệt chung cho bản thân, gia đình, cho Đảng, Chính phủ và nhân dân. Người bị nạn không đi làm được, gia đình sẽ gặp khó khǎn, sức lao động của nhân dân do vậy cũng kém sút. Vì thế chúng ta phải hết sức bảo vệ an toàn lao động, bảo vệ tính mạng người công nhân.

– Cán bộ có cố gắng nhưng chưa đầy đủ và còn một số cán bộ quan liêu mệnh lệnh. Cần phải gần gũi, giúp đỡ công nhân sản xuất; công nhân và cán bộ đoàn kết thành một khối thì làm gì cũng được.

– Trước đây bốn nǎm nǎm khu mỏ này của thực dân Pháp, công nhân còn là nô lệ bị bóc lột và đàn áp khổ cực. Ngày nay khu mỏ là của nhân dân nói chung và của công nhân nói riêng. Công nhân là giai cấp lãnh đạo, là chủ khu mỏ thì phải làm sao cho xứng đáng; để xe máy hỏng, lười biếng, lãng phí đều không xứng đáng vai trò làm chủ cả. Muốn làm những người chủ xứng đáng thì phải thi đua tǎng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm. Bây giờ chúng ta làm cho mình, cho nhân dân và cho con cháu chúng ta nữa.

– Công nhân Liên Xô đời sống hiện nay sung sướng… vì ai cũng biết công nhân Liên Xô sản xuất nhiều nên hàng hoá rẻ. Ví dụ: Nhà máy sợi mua than tốt, rẻ, thì bán vải rẻ, đời sống sẽ dễ chịu; nông dân mua than đắt, vải đắt, sẽ bán gạo đắt, rau đắt thì không thể nào có sung sướng được. Các cô, các chú muốn sung sướng như công nhân Liên Xô thì cũng phải làm như công nhân Liên Xô. Tới nǎm 1965 nǎng suất lao động của công nhân Liên Xô so với nǎm 1958 sẽ tǎng hơn từ 45% đến 65% (ví dụ: 1 người làm một ngày 1 tấn than trong nǎm 1958 thì đến nǎm 1965 có thể làm tới 1.650 cân). Muốn làm được như vậy phải có tư tưởng làm chủ nước nhà của giai cấp công nhân, phải tǎng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, phải có tinh thần trách nhiệm. Có tinh thần trách nhiệm là phải làm được nhiều, nhanh, tốt, rẻ. Ví dụ: quét nhà phải quét cho sạch, lái xe phải tiết kiệm xǎng dầu, đi đúng giờ và chở được nhiều; cái gì cũng rẻ thì đời sống mới sung sướng.

Công nhân ở đây và ở Hòn Gai đều khá, nhưng nghe nói ở Hòn Gai công nhân có nhiều kinh nghiệm tốt; bộ đội cũng có nhiều kinh nghiệm tốt, sao các cô, các chú không học tập. Trách nhiệm đó là của các cô, các chú và cả cán bộ nữa.

– Một điểm nữa là phải cố gắng thi đua, thi đua liên tục, mọi ngành, mọi người thi đua. Muốn thi đua tốt phải giúp đỡ lẫn nhau, người giỏi giúp người kém để cùng tiến bộ. Thi đua để đoàn kết, đoàn kết để thi đua.

– Bác được biết trong tháng tư tới ở đây sẽ học về cải tiến quản lý xí nghiệp, cần phải học tập cho tốt. Vậy quản lý xí nghiệp là gì?

Hiện nay trong xí nghiệp, cán bộ chỉ biết quản lý, không biết lao động. Công nhân chỉ biết lao động không biết quản lý, như vậy là xí nghiệp có hai hạng người, một hạng chỉ biết quản lý nên dễ quan liêu, mệnh lệnh, sáng kiến của công nhân đưa lên thường bị xếp tủ, một hạng chỉ biết lao động là không làm tròn nhiệm vụ quản lý của người chủ nước nhà. Bây giờ học tập quản lý xí nghiệp, cán bộ phải tham gia lao động với công nhân. Ví dụ: Bí thư chi bộ, quản đốc công trường, v.v. mỗi tuần lao động một ngày; cán bộ trực tiếp khác phải bớt cạo giấy để có thể nửa ngày làm chuyên môn, nửa ngày lao động. Cán bộ tham gia lao động rất có ích lợi, ví dụ: công nhân thiếu một cái cuốc hay cái đèn phải đề nghị lên tổ trưởng, tổ trưởng lên tầng trưởng, tầng trưởng lên ca trưởng, ca trưởng lên quản đốc, quản đốc lên kho; cái cuốc lại từ kho xuống quản đốc, xuống ca, xuống tầng, xuống tổ, rồi mới đến công nhân, mất nhiều thì giờ. Nếu quản đốc đến tận nơi biết thiếu cuốc thì chỉ vài giờ sau là có cuốc ngay. Vì cứ ngồi ở trên sẽ không biết công nhân đói no, lành rách, không biết sáng kiến của quần chúng mà tiếp thu và áp dụng được.

Trong học tập quản lý xí nghiệp, cán bộ, công nhân phải đoàn kết thành một khối thì quản lý mới tốt, mới tǎng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm thành công. Muốn vậy phải phê bình, tự phê bình. Từ trước cán bộ, công nhân tách rời nhau nên cán bộ có làm sai công nhân không biết, có cán bộ lại làm ngơ cho nhau không phê bình thẳng thắn; công nhân có khuyết điểm, cán bộ vì ngồi xa nên cũng không biết thế nào mà phê bình cho đúng. Trong học tập, cán bộ và công nhân phải phê bình nhau thẳng thắn, có đúng nói đúng, có sai nói sai, không sợ mất thể diện; có khuyết điểm nói ra để giúp đỡ nhau sửa chữa. Trước đây do cán bộ xa và lãnh đạo không khéo nên công nhân chưa dám nói, nay thì cán bộ và công nhân phải phê bình thật sự để cùng nhau sửa chữa khuyết điểm. Muốn biết ưu điểm nhiều hay ít phải xem ở tǎng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm. Trước kia trong quản lý xí nghiệp thiếu dân chủ, bây giờ sau học tập, công nhân phải giúp cán bộ sửa chữa, phê bình để xây dựng, để cải tiến quản lý xí nghiệp chứ không phải là nói lung tung, phê bình làm cho xí nghiệp tiến bộ, công nhân và cán bộ ngày càng đoàn kết.

– Bác nói thêm về sản xuất. Vừa qua, công nhân ta có cố gắng nhưng phẩm chất than còn kém, số lượng còn thấp, phải cố gắng nhiều hơn nữa. ở Trung Quốc mức bình quân một công nhân (kể cả gián tiếp) một ngày sản xuất được 1 tấn 900, ở ta chỉ có 500 cân, như vậy ta so với nước bạn còn ít quá. ở Trung Quốc đào than ở sâu có chỗ tới nghìn thước, khó khǎn hơn, ở ta làm lộ thiên thuận lợi hơn. Nếu công nhân Trung Quốc hỏi thǎm các cô, các chú làm một ngày được bao nhiêu, chắc chúng ta cũng lấy làm xấu hổ.

– Lại nói về sản lượng than hàng nǎm ở các nước bạn: Triều Tiên, nước còn nhỏ hơn ta mà sản xuất 10 triệu 78 vạn tấn; Trung Quốc 270 triệu tấn; Liên Xô 540 triệu tấn. Vì sao nhân dân Liên Xô họ sung sướng hơn nhân dân Trung Quốc, nhân dân Trung Quốc sướng hơn ta? Cứ nhìn vào số lượng than sản xuất ra cũng đủ rõ. Nói đến mỏ Cẩm Phả là một mỏ lớn nhất, một nǎm sản xuất được 1 triệu 34 vạn tấn than, như thế còn ít lắm. Vậy muốn cải thiện đời sống phải đào than nhiều, phải tǎng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, phải đoàn kết giữa công nhân với cán bộ, giữa cán bộ với cán bộ, giữa công nhân với công nhân.

– Bây giờ xí nghiệp sắp sơ kết thi đua ba tháng đầu nǎm. Bác gửi tặng 10 giải thưởng cho ngành nào, cá nhân nào có nhiều thành tích hơn cả. Hôm nay Bác đến thǎm nói chuyện với các cô, các chú làm

các cô, các chú mất hơn một giờ sản xuất, vậy các cô, các chú cố gắng làm thế nào mà bù lại.

—————————–

Nói ngày 30-3-1959.
Sách Bác Hồ với công nhân và nhân dân các dân tộc Quảng Ninh, Ban nghiên cứu Lịch sử Đảng tỉnh Quảng Ninh, 1971, tr. 48 – 52.
cpv.org.vn

Nói chuyện với cán bộ các ngành quân, dân, chính, Đảng Hải Phòng (31-3-1959)

Hôm nay Bác qua đây thǎm các cô, các chú, nhân tiện Bác nói chuyện với các cô, các chú về một số việc:

Đầu tiên, Bác nói về công nghiệp. Công nghiệp Hải Phòng rất quan trọng, quan trọng đối với cả nước. Vì thế Hải Phòng phải rất cố gắng, vừa qua các cô các chú cũng có nhiều cố gắng. Công nghiệp Hải Phòng đã có tiến bộ, nhưng so với mức yêu cầu thì còn thấp. Trước đây thì có tiến bộ, nhưng so với khả nǎng của bản thân mình, so với sự giúp đỡ của các nước bạn thì còn kém. So với các nước bạn, như Liên Xô thì không nói làm gì, so với Triều Tiên thôi ta cũng ở mức thấp lắm. Quý I vừa qua Hải Phòng không hoàn thành kế hoạch, có đúng không? Vậy thì quý II các cô các chú phải cố gắng hết sức, không những hoàn thành kế hoạch quý II mà lại còn bù lại quý I nữa.

Phải đẩy mạnh sản xuất. Muốn sản xuất tốt, phải quản lý sản xuất cho tốt. Phải cải tiến quản lý xí nghiệp. Trong khi cải tiến quản lý vẫn phải sản xuất tốt, cải tiến quản lý và sản xuất phải đi song song, phải làm gọn, làm tốt công tác cải tiến quản lý. Bác nghe báo cáo thấy ở đây bước 1 có một số xí nghiệp làm tốt, một số làm vừa, một số làm kém. Có đúng không? Nơi nào làm kém, làm vừa phải học kinh nghiệm nơi làm tốt, nơi làm tốt phải làm tốt hơn. Phải chú ý học kinh nghiệm ở các nơi, nhất là bộ đội có nhiều kinh nghiệm tốt. Phải chú ý phổ biến kinh nghiệm, cả kinh nghiệm tốt để theo, kinh nghiệm xấu để tránh.

Quản lý xí nghiệp phải dân chủ. Các chú có biết dân chủ là thế nào không? Là cán bộ Đảng, công đoàn, thanh niên lao động, nhất là cán bộ kỹ thuật phải tự phê bình thật thà, phê bình xây dựng. Công nhân cũng tự phê bình chu đáo. Như thế mới đoàn kết được, có đoàn kết được công nhân và cán bộ mới đi đến cải tiến quản lý được tốt. Cán bộ phải tham gia lao động, công nhân phải tham gia quản lý. Nói thì dễ, nhưng làm thì không phải dễ. Xí nghiệp xã hội chủ nghĩa thì công nhân làm chủ, nhưng thực sự công nhân chưa làm chủ, cán bộ cũng chưa làm chủ. Vì công nhân chỉ biết lao động sản xuất mà không biết quản lý, cán bộ chỉ biết quản lý mà không biết lao động. Như thế là trong xí nghiệp có hai hạng người, hạng người chỉ biết lao động và hạng người chỉ biết quản lý, đoàn kết vì thế mà không chặt chẽ. Nay cán bộ phải lao động, đi sát công nhân, để bớt dần rồi tiêu diệt quan liêu, mệnh lệnh, bảo thủ, giấy tờ.

Công nhân tham gia quản lý cũng không phải dễ, vì lúc đầu chưa quen. Nhưng cán bộ phải tin, phải dựa vào công nhân, phải hoan nghênh sáng kiến của công nhân. Kinh nghiệm cho biết là công nhân biết quản lý rất mau, rất tốt. Phải tin tưởng ở óc sáng tạo, trí thông minh sáng tạo của công nhân. Làm thế nào cho công nhân thấy được mình là chủ, cán bộ và công nhân không phải là hai hạng người, mà là đồng chí. Có thế mới đưa miền Bắc tiến nhanh lên chủ nghĩa xã hội được.

Muốn tǎng gia sản xuất, cán bộ, đảng viên, đoàn viên thanh niên lao động và những phần tử tích cực trong công đoàn phải làm gương mẫu.

Vì sao tǎng gia sản xuất chưa đẩy mạnh, kế hoạch quý I không hoàn thành? Cố nhiên có những khó khǎn này khác, nhưng chưa khắc phục được khó khǎn là do chưa phát huy được hết sáng kiến của công nhân. Một số cán bộ còn quan liêu, bảo thủ, không chịu nghe ý kiến công nhân, chèn ép sáng kiến của công nhân. Như ở nhà máy xi mǎng xảy ra tai nạn chết người là do cán bộ bảo thủ không coi trọng ý kiến công nhân, tự cho mình là đúng, là giỏi tất cả.

Cách mạng thành công là do ai? Quần chúng; mà quần chúng nghe theo sự lãnh đạo của Đảng là vì Đảng dựa vào quần chúng, quan tâm đến quyền lợi của quần chúng, đi theo đường lối quần chúng. Đó là điều rất rõ ràng, kinh nghiệm lãnh đạo là phải như thế, không thể chỉ trông vào cán bộ kỹ thuật. Trước đây mấy đồng chí kỹ sư không biết dựa vào quần chúng, có việc không làm được. Nhiều việc kỹ sư không dám làm, không biết làm, mà công nhân làm được. Như chú gì đấy, biến được máy chạy ét xǎng thành máy chạy ma dút. Kỹ sư có dám làm đâu. Nói thế, không phải là coi thường cán bộ kỹ thuật. Nhưng cán bộ kỹ thuật phải học tập chính trị, phải theo sự chỉ đạo của Đảng, phải dựa vào quần chúng không được tự cao tự đại, bảo thủ. Lãnh đạo nếu đi đúng đường lối quần chúng thì khó khǎn gì cũng khắc phục được.

Về nông nghiệp: Bác nghe nói cũng không đạt mức diện tích, cần phải chuyển sang trồng màu, chỗ nào chuyển được thì chuyển ngay, chuyển cho tốt, không dùng dằng.

Trước mắt phải chú ý chống hạn. Bác nghe nói hình như ở đây các chú có phần chủ quan vì thấy diện hạn hẹp. Nhưng nắng kéo dài, hạn kéo dài, không thể chủ quan được. Cần phải chống hạn tích cực. Phải tiêu diệt bệnh nấm lúa, phải ra sức trừ sâu.

Phân bón cũng còn ít lắm. Mới được 10 gánh một sào thì ít lắm. Phải tuyên truyền cổ động nông dân bỏ phân cho nhiều. Các chú vận động người ta cày sâu, cấy dày, phải vận động bỏ nhiều phân. Có biết tại sao không? Chú nào phụ trách nông nghiệp phải giải thích cho người ta dễ hiểu, đừng có nói “chất lân” “chất đạm” lôi thôi, nhân dân không hiểu. Cây lúa cũng như người vậy thôi. 3 người ǎn 1 kilô cơm thì no, 10 người ǎn 1 kilô cơm thì không đủ, tất phải đói. Lúa cũng vậy, trước cấy thưa, nay cấy dày, nhiều cây hơn mà không bón nhiều phân thì cây lúa thiếu ǎn cũng không lớn được. Các chú không vận động bón nhiều phân, để lúa kém thì nhân dân lại không tin cán bộ. Cho nên phải tuyên truyền rộng rãi, mạnh mẽ về bón phân. Công tác tuyên truyền còn kém lắm, Bác đi qua mấy nơi vùng nông thôn, chỉ thấy dǎm ba cái khẩu hiệu. Chú nào làm công tác tuyên huấn phải chú ý điều đó. Phải vận động quần chúng kẻ nhiều khẩu hiệu, phải dùng nhiều thứ tuyên truyền cổ động để thúc đẩy tǎng gia sản xuất. Tuyên huấn không làm tốt những cái đó thì tuyên cái gì, huấn cái gì.

Về đổi công hợp tác, Bác thấy cũng có lệch phía này, lệch phía khác. Một là theo đuôi quần chúng, hai là nóng vội. Đều là không đúng cả. Phải theo đúng đường lối giai cấp của Đảng ở nông thôn: dựa vào bần nông và trung nông lớp dưới mà tổ chức đổi công, hợp tác; phải nắm vững nguyên tắc, tổ chức cái nào tốt cái ấy. Hợp tác xã phải hơn tổ đổi công, tổ đổi công phải hơn làm ǎn riêng lẻ. Tiến hành học tập phải khẩn trương, nhưng không được nóng vội, lại không được tách rời sản xuất. Bác nghe có nơi đóng cửa học tập về đổi công hợp tác mà không chú ý sản xuất, hạn cũng bỏ mặc. Thế là không được. Học tập phải đi song song với sản xuất.

Về thủ công nghiệp: Hải Phòng cũng có một số sai lầm, chỉ nhìn cái lợi trước mắt mà chưa quan tâm đến đời sống quần chúng lao động. Ví dụ việc đan len, do kiểu cách, mẫu mực thế nào, do len 2 màu, bắt người ta tháo ra đan lại mà không trả công. Chú nào phụ trách về thủ công nghiệp thử nghĩ xem; không trả công thì người ta lấy gì ǎn, phải nhịn đói để đan lại áo à? Thế là tư bản, là đế quốc, không phải là xã hội chủ nghĩa. Người ta gặp khó khǎn mà ta không chiếu cố đúng mức. Thế là trái với xã hội chủ nghĩa, trái với nhân đạo.

Việc làm bột cũng thế. Lúc có việc thì hô hào vận động, mở ra cho nhiều, lúc ít việc thì cúp, coi như không có trách nhiệm gì. Thế là không được. Phải quan tâm lo lắng, phải chiếu cố đời sống của người lao động.

Còn vấn đề này: có một số đồng bào thất nghiệp, phải chú ý giải quyết cho khéo. Làm sao cho dần dần không còn thất nghiệp nữa.

Công tác xây dựng cơ bản, cũng không đạt kế hoạch, có nhiều nguyên nhân, phải tìm cách khắc phục:

– Thiếu nguyên vật liệu. Chú nào phụ trách mậu dịch phải chú ý cung cấp nguyên vật liệu cho công trường. Cung cấp được bao nhiêu, được thứ gì, thì nói cho rõ, đừng ký hợp đồng bừa đi rồi không cung cấp được để lỡ kế hoạch xây dựng, gây ra lãng phí.

– Công trường phải có kế hoạch cho kịp thời, không để chậm. Phải tích cực xây dựng cho nhanh, xây dựng chậm là sản xuất chậm, ảnh hưởng tới hàng hoá buôn bán, ảnh hưởng tới tài chính tiền tệ, liên quan không tốt tới nhiều mặt.

– Nguyên nhân nữa không đạt kế hoạch là công tác chính trị kém, lãnh đạo ở công trường kém. Phải nhớ là chính trị đi đầu, chính trị tốt thì sản xuất mới tốt được. Tại sao nhân dân Hải Phòng trước cũng ngần ấy người, nay cũng ngần ấy người, mà nay thành phố tiến bộ hơn trước? Đó là do có lãnh đạo, có chính trị. Tại sao nhân dân ta mấy nghìn nǎm lạc hậu, bị đàn áp bóc lột không làm sao được, mà nay cũng vẫn nhân dân Việt Nam lại làm cách mạng thành công, kháng chiến thắng lợi, xây dựng chủ nghĩa xã hội? Cũng là do có lãnh đạo, có chính trị. Đấy là điều rất rõ ràng, cho nên phải coi trọng công tác chính trị.

– Nguyên nhân nữa là do các công trường chỉ nặng theo ngành dọc. Cái gì cũng cứ Bộ với Cục, không biết dựa vào Đảng và chính quyền ở địa phương. Phải chịu sự lãnh đạo của Đảng và chính quyền địa phương. Bộ, Cục giải quyết là cần, nhưng khó khǎn ở địa phương là phải do địa phương giải quyết mới tốt được.

Về Đảng: Phải tǎng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với mọi công tác. Một đảng bộ lãnh đạo tốt hay xấu cứ xem công tác ở địa phương là biết, kết quả công tác của địa phương là cái thước đo sự lãnh đạo của Đảng.

Nội bộ Đảng phải đoàn kết nhất trí, đoàn kết không phải ngoài miệng mà phải đoàn kết trong công tác, trong tự phê bình và phê bình giúp nhau tiến bộ.

Phải chú ý phát triển Đảng. Đảng ở Hải Phòng vừa qua phát triển rất chậm. Hơn 6.000 đảng viên mà một nǎm mới phát triển được 100 người. Đó là do tư tưởng kém, do tổ chức kém, chưa coi trọng công tác phát triển Đảng. Từ nay về sau các chú phải quan tâm hơn, phải tích cực hơn.

Về thanh niên lao động: Đại bộ phận thanh niên rất hǎng hái, thanh niên ở xí nghiệp, thanh niên ở nông thôn, thanh niên ở công trường, chỗ nào cũng có nhiều thanh niên hǎng hái xung phong. Đáng lẽ phải phát triển nhiều thanh niên vào đoàn hơn nữa. Nǎm qua mới phát triển được 400, thế cũng là chậm.

Đoàn Thanh niên Lao động đáng lẽ phải rộng hơn Đảng, đoàn viên thanh niên lao động phải nhiều hơn đảng viên… Thế mà ở Hải Phòng, đoàn viên thanh niên lao động lại ít hơn đảng viên, thế là chưa tốt. Phải phát triển nhanh hơn, nhiều hơn.

*

*     *

Bác kết luận:

Phải chống tư tưởng bảo thủ, chống chủ quan tếu, đồng thời chống bi quan.

Phải có tinh thần phấn khởi, khắc phục khó khǎn, quyết tâm thi đua, hoàn thành vượt mức kế hoạch nǎm 1959. Trước mắt là phải vượt mức kế hoạch quý II, bù lại chỗ hụt của quý I.

Đảng viên, đoàn viên thanh niên lao động, những phần tử tích cực trong công đoàn, phải làm gương mẫu, phải lôi cuốn quần chúng theo mình, quyết tâm hoàn thành vượt mức kế hoạch.

Về lãnh đạo: cán bộ muốn lãnh đạo tốt, phải có chỉ đạo riêng. Bắt tay vào chỉ đạo riêng, rút kinh nghiệm chỉ đạo chung.

Bác nói thêm một việc nữa là đối với chuyên gia các nước bạn. ở Hải Phòng nhiều ngành có chuyên gia làm việc. Các đồng chí chuyên gia được các nước bạn cử sang đây có 2 nhiệm vụ: giúp ta xây dựng và giúp ta đào tạo cán bộ. Nhưng ta thì có 2 cái lệch: một là không cố gắng học tập các đồng chí, hai là đối xử với các đồng chí không chu đáo.

Các đồng chí sang đây là do sự giúp đỡ tận tình của các Đảng và nhân dân các nước anh em đối với chúng ta. Về tình cảm, các đồng chí phải xa nhà, xa gia đình, không hợp khí hậu, phong tục tập quán, đó là sự hy sinh của các đồng chí ấy. Thế mà ta không chịu học tập, đối đãi với các đồng chí rất kém. Từ chỗ ǎn, chỗ ở, giải trí, Đảng không chǎm lo, giao khoán cho giao tế. Cán bộ Đảng không chú ý thǎm hỏi, các ngành có chuyên gia cũng không chú ý. Các anh chị em phục vụ chuyên gia thì không được Đảng coi sóc tới, cho nghề mình là không vinh dự, coi như nghề bồi bếp ngày trước, không có tương lai, tiến bộ. Hôm nay không có mặt chú nào phụ trách giao tế ở đây, thế có phải là xem khinh công việc giao tế nên không gọi đến không?

Bác nhắc là phải chú ý học tập chuyên gia, phải chǎm lo sǎn sóc đời sống các đồng chí ấy.

———————————

Nói ngày 31-3-1959.
Tài liệu lưu tại Ban nghiên cứu Lịch sử Đảng Thành uỷ Hải Phòng.
cpv.org.vn

Bài nói tại buổi lễ thành lập Công an nhân dân vũ trang (3-1959)

Thành lập được lực lượng Công an nhân dân vũ trang là một thành công về đoàn kết và giúp đỡ lẫn nhau giữa bộ đội và công an.

Công an và quân đội là hai cánh tay của nhân dân, của Đảng, của Chính phủ, của vô sản chuyên chính. Vì vậy, càng phải đoàn kết chặt chẽ với nhau, giúp đỡ lẫn nhau, ra sức phát triển ưu điểm, khắc phục những tư tưởng không đúng.

Nhưng có người nói công an làm việc bí mật, ít được khen thưởng, người ta không biết đến, vì thế công an không có tiền đồ. Nói như vậy là không đúng, bất kỳ làm việc gì có ích lợi cho cách mạng, cho nhân dân, có ích lợi cho giai cấp, đều là vẻ vang, không phải được khen mới là có công, mà mỗi người đều cố gắng làm tròn nhiệm vụ của mình là vẻ vang cả.

Có người lo ngại Đảng bộ địa phương không lãnh đạo được, bởi vì quân sự có chuyên môn, kỹ thuật quân sự, công an có chuyên môn, kỹ thuật công an, còn các Đảng bộ địa phương phần nhiều là những đồng chí làm công tác chính trị, không quen công tác chuyên môn, không lãnh đạo được. Nghĩ như thế là không đúng. Không phải chỉ có cán bộ chuyên môn mới lãnh đạo được chuyên môn. Đảng có lãnh đạo chính trị đúng, thì chuyên môn mới đúng. Công an nhân dân vũ trang, hay là quân đội cũng thế, phải phục tùng sự lãnh đạo của Đảng từ trên xuống dưới. Nhất định phải như thế. Đồng thời, những đồng chí lãnh đạo địa phương cũng phải nghiên cứu công tác chuyên môn, hiểu biết chuyên môn thì giải quyết các vấn đề mới được thiết thực.

Cũng có người có ý nghĩ quân đội hơn công an, hoặc công an hơn quân đội. Nghĩ như thế càng không đúng, bởi vì mỗi ngành có nghiệp vụ chuyên môn của nó. Nhưng cả hai đều phục vụ nhân dân, phục vụ cách mạng cả. Vì vậy, không nên coi mình là giỏi mà phải luôn luôn học hỏi lẫn nhau, giúp đỡ nhau để càng ngày càng tiến bộ.

Bác dặn thêm mấy điểm: Công an và bộ đội phải cảnh giác, phải biết trấn áp kẻ địch bên trong và kẻ địch bên ngoài. Kẻ địch bên trong là bọn phản động, bọn phá hoại công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội; kẻ địch bên ngoài là bọn đế quốc, bọn xâm lược. Chống bọn xâm lược và bọn phá hoại là nhiệm vụ của quân đội, của công an nói riêng và toàn dân nói chung; là nhiệm vụ mà quân đội và công an phải dựa vào nhân dân mới hoàn thành được tốt. Ví dụ: một vạn công an thì chỉ có hai vạn tai, hai vạn mắt, hai vạn tay chân, nhưng nhân dân có hàng triệu tai, hàng triệu mắt, hàng triệu tay chân. Cho nên chúng ta phải dựa vào dân để hoạt động. Khi tổ chức được dân, đoàn kết được dân thì việc gì cũng làm được.

Công an phải luôn luôn giúp đỡ, tổ chức, giáo dục nhân dân, làm cho mọi người dân đều là người giúp việc của mình, làm thành mạng lưới công an nhân dân. Như thế công tác mới có kết quả. Hồi kháng chiến, bộ đội cũng thế, nhất là du kích, đều luôn luôn được nhân dân ủng hộ mà giành được thắng lợi. Chúng ta phải dựa vào dân. Nhất là công an biên phòng, ở những nơi đồng bào thiểu số, phải chú ý đến phong tục tập quán của đồng bào, luôn giúp đỡ giáo dục đồng bào, làm cho đồng bào tin yêu, phục cán bộ thì đồng bào sẽ hết sức giúp đỡ, có khi hy sinh cả cho ta. Đối với những đơn vị biên thuỳ hay ở các đảo, việc ấy phải hết sức chú ý; phải giúp đỡ dân, ngày thường tìm mọi cách giáo dục họ, giúp đỡ, tổ chức họ. Muốn làm như thế, phải nắm vững chính sách đối với đồng bào thiểu số, điều đó rất cần thiết.

Một điểm nữa là phải cần kiệm xây dựng quân đội. Đối với công an cũng phải như thế. Không nên đặt ra nhiều bàn giấy, nhiều máy chữ, tránh quan liêu, vô ích, không thiết thực, phải nhớ là cần kiệm.

Một điểm nữa là đối với các anh em ở những nơi hẻo lánh, gian khổ, ra một bước phải trèo núi, v.v. thì cấp trên phải chú ý nhiều

hơn đối với những đơn vị ở thành phố. Nhưng đồng thời các đơn vị ấy cũng phải có tinh thần kiên trì và tự lực cánh sinh một phần nào đó. Ví dụ: đóng ở chỗ nào thì phải trồng rau, trồng khoai, trồng sắn mà ǎn; nuôi gà, nuôi lợn để tự cải thiện đời sống của mình một chừng nào. Những việc ấy, cán bộ và chiến sĩ có sáng kiến là làm được. Cấp trên phải chú ý đến đời sống vật chất và tinh thần của chiến sĩ, nhưng chiến sĩ cũng phải có sáng kiến để cải thiện đời sống của bản thân mình. Đó là một kinh nghiệm.

Thế là Bác đã nói:

1. Những tư tưởng không đúng thì cần phải sửa đổi.

2. Phải đoàn kết và học tập lẫn nhau, luôn luôn giúp đỡ nhau tiến bộ. Phải dựa vào nhân dân, ra sức đoàn kết và giúp đỡ nhân dân.

3. Cán bộ phải chǎm sóc đến đời sống tinh thần và vật chất của chiến sĩ.

Để kết luận, Bác nêu mấy câu sau đây:

Đoàn kết, cảnh giác,

Liêm chính, kiệm cần,

Hoàn thành nhiệm vụ,

Khắc phục khó khǎn,

Dũng cảm trước địch,

Vì nước quên thân,

Trung thành với Đảng

Tận tụy với dân.

Bác chúc các chú khoẻ mạnh, tiến bộ, quyết tâm làm tròn nhiệm vụ của Đảng và Chính phủ đã trao cho.

———————————–

Nói khoảng tháng 3-1959.
Sách Chủ tịch Hồ Chí Minh với ngành công an nhân dân Việt Nam, Viện nghiên cứu khoa học công an, 1980, tr.27-30.
cpv.org.vn

Nói chuyện tại Hội nghị tổng kết quý I của các công ty kiến trúc (9-4-1959)

Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội phải phát triển kinh tế công nghiệp và nông nghiệp. Trong công nghiệp có các nhà máy, nên cần phải xây dựng các công trình nhanh chóng, tốt để sản xuất kịp thời. Công trình xây dựng xấu, chậm, sẽ ảnh hưởng chung đến việc tiến lên chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc. Từ trước đến nay, cán bộ, công nhân, bộ đội, người lao động thuộc ngành xây dựng nói chung đều cố gắng, nhưng cần phải cố gắng nhiều hơn nữa để hoàn thành vượt mức kế hoạch xây dựng từ nay về sau.

Toàn bộ kế hoạch xây dựng quý I còn hụt mức, chất lượng chưa được tốt lắm, cán bộ xây dựng từ trên xuống dưới phải chịu trách nhiệm chính. Đảng, Chính phủ và nhân dân tin cậy cán bộ, giao cho nhiệm vụ xây dựng, không hoàn thành được nhiệm vụ, cán bộ phải tự kiểm điểm và nghiêm khắc tự phê bình. Trong công việc xây dựng, có khó khǎn, nhưng cán bộ phải vượt qua mọi khó khǎn để làm trọn nhiệm vụ, không hoàn thành kế hoạch là khuyết điểm lớn.

Một khuyết điểm phổ biến ở các công ty kiến trúc và công trường là tổ chức quản lý kém. Nguyên nhân chính là lãnh đạo chính trị kém. Cũng một công nhân làm việc, nếu cán bộ lãnh đạo tốt thì công nhân sẽ biết là chính mình làm chủ đất nước, việc làm sẽ tǎng lên nhiều. Nếu lãnh đạo xấu, lề mề, thì công nhân làm xấu, lãng phí sức người, sức của. Lãng phí này, cán bộ phải chịu trách nhiệm. Mặt khác, nếu ưu điểm không biết phát triển, khuyết điểm không biết khắc phục là lãnh đạo kém.

Trong hội nghị này và các hội nghị khác, cán bộ từ trên xuống dưới phải tự phê bình, phải nghiêm chỉnh, phải thành khẩn và

phải phê bình sâu sắc. Sau các cuộc phê bình, các cơ sở phải có những thay đổi tốt.

Quý II này, công tác xây dựng sẽ nhiều gấp rưỡi, các cán bộ phải kịp thời thay đổi tác phong và cách lãnh đạo nhằm làm cho kế hoạch quý II hoàn thành vượt mức để bù vào thiếu sót của quý I. Muốn thế, trước tiên phải chú ý lãnh đạo về chính trị và kỹ thuật. Phải đoàn kết chặt chẽ giữa cán bộ với cán bộ, cán bộ với công nhân, cán bộ phải tham gia lao động mới gần gũi được công nhân, phải chǎm lo đời sống cho công nhân, phải chú ý đến phòng bệnh và đề phòng tai nạn lao động. Không tham gia lao động, cán bộ sẽ trở thành quan liêu. Cán bộ có kỹ thuật, nhưng người áp dụng kỹ thuật là công nhân. Nếu cán bộ không đoàn kết với công nhân thì công việc sẽ hỏng. Lãnh đạo phải dân chủ, kế hoạch phải đưa cho công nhân bàn bạc. Không cho công nhân bàn bạc kế hoạch là cán bộ mệnh lệnh, quan liêu. Cán bộ chính trị phải học tập kỹ thuật, cán bộ kỹ thuật phải học tập chính trị.

Các chuyên gia bạn sang nước ta có hai nhiệm vụ: giúp nhân dân ta xây dựng nhà máy và đào tạo cho cán bộ, công nhân ta trở thành những người làm công tác xây dựng tốt. Cán bộ và công nhân ở các công trường, các đơn vị cần phải đoàn kết với các chuyên gia bạn và khiêm tốn học tập các chuyên gia để dần dần có thể tự lực cánh sinh trong công tác xây dựng và các công tác khác.

Trong các kế hoạch, cán bộ phải bàn bạc với chuyên gia, ý kiến đã thống nhất thì phải chấp hành. Có nơi, lúc đưa ra bàn kế hoạch, cán bộ ta không phát biểu hết ý kiến, đến khi làm không chịu chấp hành nghiêm chỉnh kế hoạch đã bàn. Như thế là thiếu trách nhiệm, thiếu tinh thần quốc tế, cần phải sửa chữa ngay.

—————————

Báo Nhân dân, số 1851, ngày 9-4-1959.
cpv.org.vn

Điện chúc mừng ngày Tết của nhân dân Khơme (11-4-1959)

Kính gửi Quốc vương Nôrôđôm Xuramarít

và Hoàng hậu Cốtxamắc Nêarinrêát

Vương quốc Campuchia

Phnôm Pênh

Nhân dịp Tết Chol Chnam Kor Eksad, thay mặt nhân dân Việt Nam và nhân danh cá nhân tôi, tôi kính gửi tới Quốc vương và Hoàng hậu lời chúc mừng nhiệt liệt nhất.

Kính chúc Quốc vương và Hoàng hậu được mạnh khoẻ, sống lâu.

Chúc nhân dân Khơme được hạnh phúc và hoà bình.

Ngày 11 tháng 4 nǎm 1959
Chủ tịch Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà
HỒ CHÍ MINH

—————————-

Báo Nhân dân, số 1856, ngày 14-4-1959.
cpv.org.vn

Diễn vǎn khai mạc Hội nghị lần thứ 16 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá II) (33) (16-4-1959)

Các đồng chí,

Hội nghị Trung ương lần này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Hội nghị sẽ thảo luận các vấn đề: hợp tác hoá nông nghiệp và cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh theo chủ nghĩa xã hội; quan trọng nhất là vấn đề hợp tác hoá nông nghiệp.

Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân, mà đại bộ phận là nông dân lao động làm Cách mạng Tháng Tám thành công. Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân, mà đại bộ phận là nông dân lao động kháng chiến thắng lợi. Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân, mà đại bộ phận là nông dân lao động đánh đổ phong kiến địa chủ và chia ruộng đất cho nông dân.

Song như thế chưa đủ. So với trước kia, đời sống của đồng bào nông dân lao động hiện nay tuy đã được cải thiện bước đầu, nhưng vẫn còn khó khǎn, thiếu thốn. Chúng ta không thể để như thế mãi. Chúng ta nhất định phải nâng cao dần đời sống của đồng bào nông dân. Nhưng nếu nông dân cứ làm ǎn riêng lẻ thì đời sống không thể nâng cao. Muốn nâng cao đời sống thì chỉ có một cách là tổ chức nông dân làm ǎn tập thể tức là tổ chức nông dân vào hợp tác xã nông nghiệp. Tổ chức hợp tác xã tốt thì mới có thể tǎng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, do đó mà nâng cao dần đời sống vật chất và vǎn hoá của nông dân và củng cố khối liên minh công nông.

Miền Bắc nước ta hiện đang tiến lên chủ nghĩa xã hội. Nền kinh tế xã hội chủ nghĩa có hai chân là công nghiệp và nông nghiệp. Công nghiệp của ta đại bộ phận đã xã hội hoá, nhưng nông nghiệp thì nhiều nơi còn làm ǎn riêng lẻ. Như thế là hai chân không đều nhau, không thể bước mạnh được. Vì vậy, chúng ta phải hợp tác hoá nông nghiệp làm cho nông nghiệp phát triển, làm cho công nghiệp và nông nghiệp tiến đều, thì mới cải thiện tốt đời sống của nhân dân, đồng thời đưa miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội làm nền tảng vững mạnh cho công cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà.

Vì vậy chúng ta phải làm tốt, làm thật tốt hợp tác hoá nông nghiệp.

Hiện nay phong trào tổ chức hợp tác xã nông nghiệp tiến bước khá tốt; nhưng nhiều nơi còn lệch lạc. Chúng ta phải củng cố thật tốt các tổ đổi công và các hợp tác xã đã có, tuyên truyền và giáo dục nông dân, làm cho phong trào phát triển vững chắc.

Phải làm thế nào cho xã viên trong hợp tác xã thu nhập nhiều hơn thu nhập của nông dân trong tổ đổi công và tổ viên trong tổ đổi công thu nhập nhiều hơn thu nhập của nông dân còn làm ǎn riêng lẻ.

Những nơi chưa có hợp tác xã thì phải củng cố tổ đổi công thật tốt để tiến lên hợp tác xã.

Các địa phương phải cố gắng làm cho mỗi làng có một vài hợp tác xã thật tốt để làm kiểu mẫu cho những hợp tác xã sẽ tổ chức sau.

Trong việc củng cố và phát triển phong trào đổi công và hợp tác xã phải chú trọng chất lượng tốt, không nên chỉ chú trọng con số. Trong công việc tổ chức, củng cố quản lý và phát triển tổ đổi công và hợp tác xã, cán bộ đảng viên và đoàn viên thanh niên lao động phải làm gương mẫu, làm đầu tàu, phải chí công vô tư, phải làm đúng nhiệm vụ của người cộng sản.

Hội nghị Trung ương cần phải bàn bạc cho kỹ, cho sâu và cho tốt để định ra đường lối, phương châm và chính sách của công việc hợp tác hoá nông nghiệp. Các đồng chí Trung ương, các đồng chí phụ trách các địa phương, các đồng chí phụ trách các ngành phải chuẩn bị phát biểu ý kiến cho đầy đủ để thống nhất ý kiến, thống nhất tư tưởng, thống nhất hành động.

Sau Hội nghị này, chúng ta phải động viên toàn Đảng, toàn dân

làm tốt công việc hợp tác hoá nông nghiệp. Với truyền thống đoàn kết và tinh thần hǎng hái của toàn dân, với quyết tâm của toàn Đảng, chúng ta nhất định hoàn thành tốt nhiệm vụ ấy.

————————————–

Đọc ngày 16-4-1959.

Tài liệu lưu tại Phòng lưu trữ Vǎn phòng Hội đồng Chính phủ.

(33) Hội nghị lần thứ 16 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá II): Họp vào tháng 4-1959, bàn và thông qua Nghị quyết về vấn đề hợp tác hoá nông nghiệp và vấn đề cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với công thương nghiệp tư bản tư doanh ở miền Bắc.

Về vấn đề hợp tác hoá nông nghiệp ở miền Bắc, Nghị quyết khẳng định sự tất yếu phải từng bước đưa nông dân từ làm ǎn riêng lẻ đi vào tổ đổi công, tiến lên hợp tác xã dựa trên ba nguyên tắc “tự nguyện, cùng có lợi và quản lý dân chủ”. Nghị quyết nhấn mạnh mối quan hệ thúc đẩy lẫn nhau giữa phát triển nông nghiệp và phát triển công nghiệp.

Đối với công thương nghiệp tư bản tư doanh, Nghị quyết nêu rõ: xuất phát từ những đặc điểm của giai cấp tư sản dân tộc Việt Nam là nhỏ bé, số lượng ít, sống trong lòng miền Bắc xã hội chủ nghĩa, tán thành Cương lĩnh của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam …, Đảng chủ trương tiến hành cải tạo họ bằng phương pháp hoà bình, nhằm xoá bỏ chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, giải phóng công nhân trong các xí nghiệp tư bản tư doanh, cải tạo người tư sản thành người lao động, cải tạo quan hệ sản xuất, phấn đấu hoàn thành vượt mức kế hoạch Nhà nước.

Đối với thợ thủ công, cần đưa họ vào các hợp tác xã thủ công nghiệp.

Nghị quyết đặc biệt nhấn mạnh vai trò lãnh đạo của Đảng đối với công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa này. Tr.409.

cpv.org.vn

Bài nói tại Hội nghị cán bộ toàn Đảng bộ Hà Nội (25-4-1959)

Thay mặt Trung ương Đảng và nhân danh là một đảng viên ở Hà Nội, tôi phát biểu một số ý kiến với Hội nghị:

Thủ đô Hà Nội phải làm thế nào để trở thành một Thủ đô xã hội chủ nghĩa. Muốn như thế thì mỗi một xí nghiệp, mỗi một đơn vị bộ đội, mỗi một trường học, mỗi một đường phố, mỗi một cơ quan và mỗi một nông thôn ở ngoại thành phải thành một pháo đài của chủ nghĩa xã hội.

Hà Nội cần phải củng cố và phát triển Đảng, Đoàn Thanh niên Lao động và công đoàn. Đảng bộ Hà Nội cần phát triển thêm thành phần công nhân, nông dân, lao động trí óc và phụ nữ vào Đảng.

Số đảng viên công nhân còn ít, trong khi đó Hà Nội phải trở thành Thủ đô một nước xã hội chủ nghĩa, nơi có nhiều xí nghiệp tập trung công nhân.

Các xí nghiệp ở Hà Nội có gần 6.500 anh hùng, chiến sĩ thi đua và lao động xuất sắc. Nếu Đảng bộ Hà Nội chú ý gần gũi, giáo dục và giúp đỡ anh chị em đó thì chắc chắn có thể phát triển được một bộ phận không phải là nhỏ vào Đảng.

Số phụ nữ là đảng viên cũng còn rất ít, cần phát triển thêm. Tóm lại, cần củng cố và phát triển Đảng – cố nhiên là thận trọng – thành phần công nhân, nông dân, phụ nữ, đồng thời cũng chú ý phát triển các thành phần khác như lao động trí óc.

Muốn đẩy mạnh mọi mặt công tác: cải tiến quản lý xí nghiệp, xây dựng các tổ đổi công và hợp tác xã ở ngoại thành, chǎm sóc giáo dục thiếu nhi, vệ sinh yêu nước, v.v., thì mỗi cán bộ, đảng viên, đoàn viên thanh niên lao động phải có đạo đức cách mạng, phải thực hiện cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, phải lấy phê bình và tự phê bình mà tiêu diệt chủ nghĩa cá nhân và bồi dưỡng chủ nghĩa tập thể. Đảng viên, đoàn viên bất cứ ở đâu, bất cứ làm công việc gì, phải thật gương mẫu. Đảng bộ Hà Nội phải làm gương mẫu cho các đảng bộ khác. Đảng bộ Hà Nội gương mẫu sẽ góp phần đưa miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội, làm cơ sở vững mạnh đấu tranh giành thống nhất nước nhà.

————————–

Nói ngày 25-4-1959.
Sách Bác Hồ với nhân dân Hà Nội, Sở vǎn hoá thông tin Hà Nội, 1970, tr.81-82.
cpv.org.vn

Bài nói tại đại hội lần thứ hai Hội nhà báo Việt Nam (34) (16-4-1959)

Bác thay mặt Đảng và Chính phủ đến thǎm các đồng chí.

Là một người có nhiều duyên nợ với báo chí, Bác nêu vài ý kiến giúp các cô, các chú tham khảo:

Nói đến báo chí trước hết phải nói đến những người làm báo chí. Các cô, các chú đã có những ưu điểm như đã đóng góp vào cuộc kháng chiến thắng lợi, xây dựng hoà bình và đấu tranh thống nhất Tổ quốc. Nhiều đồng chí đã cố gắng làm việc. Gần đây, sau khi nghiên cứu chỉ thị của Trung ương, các đồng chí đã thấy rõ công việc báo chí là rất quan trọng và đã thấy được những ưu điểm và khuyết điểm của mình. Như thế là tiến bộ.

Ưu điểm của các cô, các chú không ít. Nhưng khuyết điểm thì cũng còn nhiều. Trong các đồng chí cũng còn có người hoặc ít hoặc nhiều chưa thoát khỏi ảnh hưởng tư sản và tiểu tư sản, cho nên nắm vấn đề chính trị không được chắc chắn. Nói về vǎn nghệ, Bác thú thật có ít thì giờ xem các bài vǎn nghệ. Có lẽ vì thế mà có lúc xem đến thì thấy cách viết thường ba hoa, dây cà dây muống; và hình như viết là để đếm dòng lấy tiền, có những bài nhạt nhẽo thế nào ấy. Còn viết về chính trị thì khô khan và có hai cái tệ: một là rập khuôn, hai là dùng quá nhiều chữ nước ngoài. Cái bệnh dùng chữ là phổ biến trong tất cả các ngành. Đáng lẽ báo chí phải chống lại cái bệnh đó, nhưng trái lại, báo chí lại tuyên truyền cho cái tệ đó. Cố nhiên, có những chữ không thể dịch được thì ta phải mượn chữ nước ngoài. Ví dụ: những chữ kinh tế, chính trị, v.v., thì ta phải dùng. Hoặc có những chữ nếu dịch ra thì mất cả ý nghĩa, như chữ “độc lập”. Nếu “Việt Nam độc lập” mà nói “Việt Nam đứng một” thì không thể nghe được. Nhưng có những tiếng ta sẵn có, thì tại sao lại dùng chữ nước ngoài. Ví dụ: vì sao không nói “đường to” mà lại nói “đại lộ”, không nói “người bắn giỏi” mà lại nói “xạ thủ”, không nói “hát múa” mà lại “ca vũ”?

Những ví dụ như vậy nhiều lắm, nhiều lắm. Các báo Nhân dân, Thời mới, Quân đội, v.v., đều dùng chữ nhiều lắm. Tóm lại, chúng ta dùng chữ nhiều quá, có khi lại còn dùng sai nữa. Mong rằng báo chí cố gắng sửa đổi cái tệ ấy đi. Tiếng nói là một thứ của rất quý báu của dân tộc, chúng ta phải hết sức giữ gìn lấy nó, chớ để bệnh nói chữ lấn át nó đi.

Khoa học ngày càng phát triển, có những chữ mới mà ta chưa có, thì ta phải mượn. Ví dụ: ta phải nói “kilô”, vì nếu nói “cân”, thì không đúng nghĩa là 1000 gram. Song những chữ dùng tiếng ta cũng đúng nghĩa thì cứ dùng tiếng ta hơn. Có những người hình như sợ nói tiếng ta thì nó xấu hổ thế nào ấy! Họ làm cho các cháu học sinh cũng bị lây bệnh nói chữ, như “phụ đạo”, “giáo cụ trực quan”, v.v.. Thật là tai hại.

Mấy khuyết điểm nữa: sau khi nghiên cứu chỉ thị của Trung ương về báo chí, có một số đồng chí thì tiến bộ, nhưng cũng có một số vì trình độ vǎn hoá và chính trị còn kém thì đâm ra bi quan và muốn đổi làm nghề khác. Họ không biết rằng nghề nào cũng khó, không có nghề nào dễ. Phải có ý chí tự cường, tự lập, kém thì phải cố mà học. Chúng ta phải làm thế nào để vượt được khó khǎn, làm tròn nhiệm vụ. Người cách mạng gặp khó khǎn thì phải đánh thắng khó khǎn, chứ không chịu thua khó khǎn. “Không có việc gì khó, có chí thì làm nên”. Câu nói đó rất đúng.

Có người chỉ muốn làm cái gì để “lưu danh thiên cổ” cơ. Muốn viết bài cho oai, muốn đǎng bài mình lên các báo lớn. Cái đó cũng không đúng. Những khuyết điểm đó đều do chủ nghĩa cá nhân đẻ ra. Họ không thấy rằng: làm việc gì có ích cho nhân dân, cho cách mạng đều là vẻ vang. Bất kỳ việc gì mà mình làm tròn nhiệm vụ đều là vẻ vang. Trong các anh hùng, chiến sĩ lao động có người là công nhân, là nông dân, có người làm thầy thuốc, có người đánh giặc giỏi… và có người dọn cầu xia cũng trở nên chiến sĩ. Tóm lại, trong lao động không có nghề gì là hèn, chỉ có lười biếng mới là hèn; làm tròn nhiệm vụ thì công tác nào cũng vẻ vang.

Nói về Hội nhà báo. Đó là một tổ chức chính trị và nghiệp vụ. Nhiệm vụ của Hội là phải làm cho hội viên đoàn kết chặt chẽ, giúp đỡ lẫn nhau để nâng trình độ chính trị và nghiệp vụ. Có như thế thì Hội nhà báo mới làm tròn nhiệm vụ của mình và những người làm báo mới phục vụ tốt nhân dân, phục vụ tốt cách mạng.

Chúng ta hãy đặt câu hỏi: Báo chí phải phục vụ ai? Có người nói ở các nước tư bản có tự do báo chí và báo chí không có giai cấp. Nói vậy không đúng. Ví dụ: các báo Pháp như báo Phigarô, báo Nước Pháp buổi chiều, v.v., một mặt nó ru ngủ nhân dân, chia rẽ nhân dân, làm cho nhân dân mất chí khí phấn đấu, mất tinh thần đoàn kết giai cấp; mặt khác, nó phục vụ giai cấp tư sản. Đó là những tờ báo chính trị. Lại còn những tờ báo “giật gân”, báo nói về ái tình, báo chuyên về lôi chuyện bí mật của những người có tiền ra để tống tiền, v.v.. Tất cả những báo chí ấy đều phục vụ lợi ích của giai cấp bóc lột. Báo chí Pháp có thật tự do không ? Không! Ví dụ báo Nhân đạo thường bị bọn thống trị tìm mọi cách để phá: nào phạt tiền, nào cho bọn du côn phá phách, nào làm khó khǎn về giấy in, nhiều khi báo bị tịch thu, v.v..

Báo chí của ta thì cần phải phục vụ nhân dân lao động, phục vụ chủ nghĩa xã hội, phục vụ cho đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà, cho hoà bình thế giới. Chính vì thế cho nên tất cả những người làm báo (người viết, người in, người sửa bài, người phát hành, v.v.) phải có lập trường chính trị vững chắc. Chính trị phải làm chủ. Đường lối chính trị đúng thì những việc khác mới đúng được. Cho nên các báo chí của ta đều phải có đường lối chính trị đúng.

Báo chí ta không phải để cho một số ít người xem, mà để phục vụ nhân dân, để tuyên truyền giải thích đường lối, chính sách của Đảng và Chính phủ, cho nên phải có tính chất quần chúng và tinh thần chiến đấu.

Mục đích chung của chúng ta là xây dựng chủ nghĩa xã hội, đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà, giữ gìn hoà bình thế giới. Nhưng mỗi tờ báo như báo của nông dân, báo của công nhân, báo của thanh niên, báo của phụ nữ, v.v., nên có đặc điểm của nó, về hình thức thì không rập khuôn; rập khuôn thì báo nào cũng thành khô khan, làm cho người xem dễ chán.

Về trách nhiệm báo chí, Lênin có nói: báo chí là người tuyên truyền, người cổ động, người tổ chức chung, người lãnh đạo chung. Vì vậy, nhiệm vụ của người làm báo là quan trọng và vẻ vang. Muốn hoàn thành tốt nhiệm vụ ấy thì phải cố gắng học tập chính trị, nâng cao tư tưởng, đứng vững trên lập trường giai cấp vô sản; phải nâng cao trình độ vǎn hoá, phải đi sâu vào nghiệp vụ của mình. Cần phải luôn luôn cố gắng, mà cố gắng thì nhất định thành công.

Trong nghề làm báo, ta có những kinh nghiệm của ta, nhưng ta cũng cần phải học thêm kinh nghiệm của các nước anh em. Muốn thế, thì những người làm báo ít nhất cũng cần biết một thứ tiếng nước ngoài. Ví dụ: phải biết chữ Hán thì mới xem được báo Trung Quốc và học được kinh nghiệm của báo Trung Quốc.

Trên đây nói nhiều về người viết báo. Nhưng trong nghề làm báo còn có nhiều ngành khác, như ngành in mà các cô các chú thích nói chữ gọi là ngành “ấn loát”, cũng rất quan trọng. Bởi vì có những lúc không cẩn thận, in thiếu nét, thiếu dấu, hoặc in lờ mờ không rõ. Người viết bài lại thích dùng chữ, như gọi người đánh cá là “ngư dân”, rồi người in lại in thiếu cái dấu ở chữ ư hoá ra “ngu dân”. Đấy chỉ là một ví dụ để thấy rằng việc in cũng phải làm cho tốt. Việc phát hành cũng rất quan trọng. Phải làm thế nào cho báo có nhiều người xem. Giá tiền báo cũng cần phải đúng mức. Trong công tác, người viết, người in, người sửa bài, người phát hành, v.v., đều phải ǎn khớp với nhau.

*

*     *

Có đồng chí hỏi kinh nghiệm làm báo của Bác. Kinh nghiệm của Bác là kinh nghiệm ngược. Bác học viết báo Pháp trước, rồi học viết báo Trung Quốc, rồi sau mới học viết báo Việt Nam. Còn học thì một là học trong đời sống của mình, hai là học ở giai cấp công nhân. Lúc ở Pari, tuy biết nhiều tội ác của thực dân Pháp, nhưng không biết làm thế nào để nêu lên được. Một đồng chí công nhân ở toà báo Đời sống thợ thuyền cho Bác biết báo ấy có mục “tin tức vắn”, mỗi tin chỉ nǎm ba dòng thôi và bảo Bác có tin tức gì thì cứ viết, đồng chí ấy sẽ sửa lại cho. Từ đó, ngoài những giờ lao động, Bác bắt đầu viết những tin rất ngắn. Mỗi lần viết làm hai bản, một bản đưa cho báo, một bản thì giữ lại. Lần đầu tiên thấy tin được đǎng thì rất sung sướng. Mỗi lần đều đem tin đã đǎng trên báo so với bài mình đã viết, xem sai chỗ nào. Về sau đồng chí ấy bảo Bác cố viết dài thêm vài dòng nữa, rồi lại vài dòng nữa… Cứ thế kéo dài đến 15, 20 dòng, rồi đến cả một cột dài. Lúc đó đồng chí ấy lại bảo: “Thôi, bây giờ phải viết rút ngắn lại, cũng những việc như vậy nhưng phải viết cho rõ, cho gọn”.

Các báo đǎng bài của mình đều là báo phái “tả”, đều nghèo, không trả cho mình đồng tiền nào. Mình ngày thì đi làm, tối đi mít tinh, tuy khá vất vả, nhưng vẫn cố gắng viết để nêu tội ác của bọn thực dân.

Khi đã biết viết báo, mình lại muốn viết tiểu thuyết. Nhưng lại e rằng biết chữ Tây võ vẽ như mình thì viết tiểu thuyết sao được. Tình cờ đọc một truyện ngắn của Tônxtôi, thấy viết một cách rất giản dị, dễ hiểu, thì cho rằng mình cũng viết được… Từ đó mình bắt đầu viết truyện ngắn.

Lúc đó mình sống ở khu phố công nhân nghèo, hiểu rõ đời sống của họ, mình cứ viết những điều mắt thấy tai nghe. Viết xong đưa đến báo Nhân đạo và nói với đồng chí phụ trách về vǎn nghệ: “Đây là lần đầu tiên tôi thử viết truyện ngắn, nhờ đồng chí xem và sửa lại cho”. Đồng chí ấy xem xong rồi bảo: “Được lắm, chỉ cần sửa lại một vài chỗ thôi”. Cách mấy hôm sau, thấy chuyện của mình được đǎng báo thì sướng lắm. Sướng hơn nữa là nhà báo trả cho 50 phrǎng
tiền viết bài. Chà! Lần đầu tiên được trả tiền viết báo. Với 50 phrǎng đó mình có thể sống 25 ngày không phải đi làm, tha hồ tham gia mít tinh, tha hồ viết báo, tha hồ đi xem sách…

Kinh nghiệm học viết báo của Bác là như thế.

Có một thời gian mình làm cả chủ bút, chủ nhiệm, giữ quỹ, phát hành và bán báo của tờ báo Paria (35). Các đồng chí người thuộc địa Á – Phi viết bài và quyên tiền, còn bao nhiêu công việc mình đều bao hết. Cách bán báo: bán cho anh em công nhân Việt Nam, họ không biết chữ Pháp, nhưng họ vẫn thích mua vì họ biết báo này chửi Tây, mua rồi họ nhờ anh em công nhân Pháp đọc cho họ nghe. Một cách nữa là: ở Pari có những chỗ bán báo lấy hoa hồng. Vì là đồng chí với nhau cả, các anh chị ấy bán hộ cho mình mà không lấy hoa hồng và họ bán được khá nhiều. Các số báo Paria vừa ra đều được Bộ thuộc địa Pháp mua gần hết. Còn báo gửi đi các thuộc địa thì mấy chuyến đều bị tịch thu và người đưa báo thì bị bắt bỏ tù. Về sau, nhờ anh em thuỷ thủ Pháp bí mật chuyển hộ, thì không xảy ra việc gì. Nhưng rồi bọn thực dân cũng dò ra. Sau cùng, phải dùng đồng hồ có chuông mà gửi. Cách gửi như vậy đắt lắm, nhưng báo đều đến được các thuộc địa.

Cách thứ tư: trong những cuộc mít tinh, mình đưa báo ra phát rồi nói: “Báo này nói cho các đồng chí biết bọn thực dân áp bức chúng tôi như thế nào. Báo này để biếu thôi, nhưng đồng chí nào có lòng giúp cho báo thì chúng tôi cảm ơn”. Kết quả là: nếu đem bán thì 100 tờ báo được 5 phrǎng, nhưng “biếu không” thì có khi được tới 10, 15 phrǎng. Vì anh em công nhân có một, hai xu hoặc một, hai phrǎng cũng cho cả.

Khi đi qua Liên Xô, đồng chí L. phóng viên tờ báo Tiếng còi bảo mình viết bài và dặn phải viết rõ sự thật: việc đó ai làm, ở đâu, ngày tháng nào, v.v. và phải viết ngắn gọn. Cách đấy mấy nǎm, mình trở lại Liên Xô. Đồng chí L. lại bảo mình viết. Nhưng L. lại bảo: chớ viết khô khan quá. Phải viết cho vǎn chương. Vì ngày trước khác, người đọc báo chỉ muốn biết những việc thật. Còn bây giờ khác, sinh hoạt đã cao hơn, người ta thấy hay, thấy lạ, thấy vǎn chương thì mới thích đọc.

Khi đến Hoa Nam, mình lại tập viết báo Trung Quốc. Mỗi lần viết xong, mình sửa đi sửa lại mấy lần rồi mới gửi đến Cứu vong nhật báo (36) … Thấy bài mình đã được đǎng, lại được đóng khung, điều đó khuyến khích mình tiếp tục viết. Nói tóm lại, mình phải học tập không ngừng và phải luôn luôn khiêm tốn.

Đến ngày Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí Hội ra tờ báo Thanh niên (37) thì mình lại học viết tiếng ta. Lúc ấy, vấn đề khó khǎn là làm thế nào để gửi báo về nước cho đến tay người đọc.

Nǎm 1941, bí mật về nước. Theo lời dạy của Lênin là: tờ báo là công cụ tuyên truyền, cổ động, tổ chức và lãnh đạo. Cho nên mình cố gắng ra một tờ báo (38) ngay và phải làm rất bí mật vì luôn luôn có mật thám của Pháp, Nhật và Bảo Đại rình mò. Điều kiện sinh hoạt thì bữa đói, bữa no. Làm báo thì phải có đá in. Mấy đồng chí đã đi lấy trộm những tấm bia đá rồi mài mất mấy ngày mới thành bản in. In thì phải viết chữ trái lên đá, thế là có một đồng chí phải hì hục học tập viết chữ trái. Mấy số báo đầu, ba bốn anh em cùng làm, nhưng in cứ toe toét, chỉ in được ít và xấu xí. Nhưng về sau cứ tiến bộ dần, mỗi lần in được gần 300 số. Phải đặt bia đá “nhà in” ở ba chỗ khác nhau. Khi động chỗ này thì chạy đến chỗ khác mà in và báo vẫn ra đúng kỳ. Địch chịu không làm gì được.

Vấn đề giấy cũng gay. Lúc bấy giờ ai mua nhiều giấy, địch cũng nghi và theo dõi. Các chị em mỗi người đi chợ mua nǎm, mười tờ, nói dối là mua cho con cháu học, rồi góp lại để in báo.

In bản đá, muốn sửa chữ thì phải dùng axít. Mà axít thì mua đâu được? Có đồng chí nghĩ ra cách dùng chanh thay cho axít, chị em lại giúp mua chanh để ủng hộ báo.

Còn việc phát hành: để báo ở các hang đá bí mật. Các đồng chí phụ trách cơ sở Việt Minh cứ đến đó mà lấy. Báo bán hẳn hoi, chứ không biếu.

Thế là mọi việc đều dựa vào quyết tâm của mình, dựa vào lực lượng và sáng kiến của quần chúng.

Đồng bào địa phương rất thích đọc báo, vì báo viết điều gì cũng thấm thía với họ. Đồng bào còn tự động tổ chức những tổ đọc báo và bí mật đưa tin tức cho báo. Đồng bào lại tìm mọi cách tuyên truyền cho lính dõng đọc báo để làm “binh vận”.

*

*     *

Về nội dung viết, mà các cô các chú gọi là “đề tài”, thì tất cả những bài Bác viết chỉ có một “đề tài” là: chống thực dân đế quốc, chống phong kiến địa chủ, tuyên truyền độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Duyên nợ của Bác đối với báo chí là như vậy đó.

Kết luận: kinh nghiệm của 40 nǎm là không sợ khó, có quyết tâm. Không biết thì phải cố gắng học, mà cố gắng học thì nhất định học được. Bây giờ các cô, các chú có điều kiện học tập dễ dàng hơn Bác trước kia. Mong các cô, các chú cố gắng và tiến bộ!

—————————————–

Nói ngày 16-4-1959.

Sách Hồ Chí Minh: Về công tácvǎn hoá, vǎn nghệ, Nxb. Sự thật,Hà Nội, 1971, tr.40-49.

(34) Đại hội lần thứ hai Hội nhà báo Việt Nam: Họp ngày 16-4-1959, tại Hà Nội. 220 đại biểu của các báo, tạp chí, đài phát thanh, thông tấn xã đã tới dự Đại hội. Các đại biểu đã thông qua Báo cáo về nhiệm vụ trước mắt của báo chí và kế hoạch công tác 2 nǎm 1959-1960, Điều lệ sửa đổi và bầu Ban chấp hành mới của Hội. Thay mặt Trung ương Đảng và Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tới thǎm và nói chuyện với Đại hội. Tr.412.

(35) Báo Lơ Paria (Le Paria): Cơ quan tuyên truyền của Hội liên hiệp thuộc địa, do Chủ tịch Hồ Chí Minh – lúc đó lấy tên là Nguyễn ái Quốc – cùng một số nhà cách mạng của các nước thuộc địa, sáng lập nǎm 1922, tại Pari (Pháp).

Báo xuất bản bằng tiếng Pháp, lúc đầu mỗi tháng ra một kỳ, sau tǎng lên hai kỳ. Số đầu tiên ra ngày 1-4-1922 với tiêu đề: Diễn đàn của các dân tộc thuộc địa. Đến tháng 1-1924 đổi thành Diễn đàn của vô sản thuộc địa.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là chủ nhiệm kiêm chủ bút và quản lý của tờ báo. Sau khi Người sang Liên Xô hoạt động (giữa nǎm 1923) báo ra không đều và đến số 38 (tháng 4-1926) thì đình bản.

Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Chủ tịch Hồ Chí Minh, báo Lơ Paria đã vạch trần chính sách đàn áp, bóc lột dã man của chủ nghĩa đế quốc nói chung và của đế quốc Pháp nói riêng, góp phần quan trọng vào việc truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin vào Đông Dương và các thuộc địa khác, thức tỉnh các dân tộc bị áp bức vùng dậy đấu tranh tự giải phóng. Tr.417.

(36) Cứu vong nhật báo: Cơ quan ngôn luận của Hiệp hội cứu vong, một tổ chức của giới vǎn hoá yêu nước Thượng Hải, ra đời khi cuộc kháng chiến chống Nhật của nhân dân Trung Quốc bùng nổ. Ra mắt ở Thượng Hải không được bao lâu, báo bị đình bản vì Nhật chiếm Thượng Hải, Toà soạn chuyển về Quảng Châu, rồi lại tiếp tục chuyển về Quế Lâm. Do tác dụng tích cực của tờ báo trong việc động viên nhân dân Trung Quốc kháng chiến, vạch trần luận điệu giả cách mạng của bọn Hán gian, tố cáo âm mưu của các đế quốc đối với Trung Quốc, tờ báo bị chính quyền phản động Quốc dân đảng bắt đình bản vào cuối tháng 2-1941.

Khoảng đầu tháng 10-1940, Nguyễn ái Quốc từ Côn Minh (Vân Nam) trở lại Quế Lâm (Quảng Tây) cùng với các đồng chí bàn kế hoạch chuyển địa bàn hoạt động về biên giới để tìm cách trở về nước hoạt động trước tình hình thế giới và Đông Dương có nhiều chuyển biến có lợi cho cách mạng Việt Nam.

Trong thời gian ngắn lưu lại ở Quế Lâm, dưới danh nghĩa một nhà báo Trung Quốc, Nguyễn ái Quốc đã viết nhiều bài gửi cho Cứu vong nhật báo ký bút danh Bình Sơn.

Những kết quả sưu tầm cho đến nay cho biết, chỉ tính từ 15-11 đến 18-12-1940, Cứu vong Nhật báo đã đǎng 10 bài viết của Nguyễn ái Quốc, gồm: “Ông – trôi – co – mat” (Ông trời có mắt), Chú ếch và con bò, Trò đùa dai của Rudơven tiên sinh, Hai chính phủ Vecxây, Bịa đặt, Nhân dân Việt Nam và báo chí Trung Quốc, Ca dao Việt Nam và cuộc kháng chiến của Trung Quốc, Mắt cá giả ngọc trai, ý Đại Lợi thực bất đại lợi, Việt Nam “phục quốc quân” hay là “mại quốc quân”. Tr.418.

(37) Báo Thanh niên: Cơ quan ngôn luận của Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí Hội. Báo Thanh niên do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và trực tiếp chỉ đạo. Báo ra hàng tuần, bằng tiếng Việt, số đầu tiên ra vào ngày 21-6-1925. Đến tháng 4-1927, báo ra được 88 số.

Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa là người phụ trách vừa là cây bút chủ chốt của tờ báo. Với nội dung ngắn gọn, lời vǎn giản dị, trong sáng, các bài của Người đǎng trên báo Thanh niên đã tuyên truyền tôn chỉ, mục đích của Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí Hội, giới thiệu chủ nghĩa Mác – Lênin và Cách mạng Tháng Mười Nga, nêu lên các vấn đề về đường lối chiến lược và sách lược của cách mạng Việt Nam.

Báo Thanh niên đã góp phần quan trọng vào việc truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin vào Việt Nam; chuẩn bị về chính trị, tư tưởng và tổ chức để tiến tới thành lập chính đảng của giai cấp công nhân Việt Nam vào đầu nǎm 1930. Tr.418.

(38) Ở đây Chủ tịch Hồ Chí Minh muốn nhắc tới báo Việt Nam độc lập, cơ quan tuyên truyền của Ban Việt Minh tỉnh Cao Bằng, do Người sáng lập và số đầu tiên ra ngày 1 tháng 8 nǎm 1941. Đa số bài in trên tờ báo này đều có nội dung tố cáo những tội ác của phátxít Nhật – Pháp và tay sai, cổ động mọi tầng lớp nhân dân tham gia Mặt trận Việt Minh. Báo còn thường xuyên đǎng những bài có nội dung phân tích tình hình, nhiệm vụ cách mạng nhằm giúp cho cán bộ và nhân dân hiểu rõ tình hình và hành động đúng với đường lối, chủ trương của Đảng.

Cùng với những tờ báo khác của Đảng ta, báo Việt Nam độc lập đã góp phần vào việc tuyên truyền, giáo dục quần chúng, xây dựng lực lượng và chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám nǎm 1945. Tr.418.

cpv.org.vn