Tag Archive | Tin tức

Điện gửi Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô nhân dịp Đoàn Chủ tịch xôviết tối cao Liên Xô quyết định tặng Huân chương Lênin (6-11-1967)

Kính gửi Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô,
Thưa các đồng chí kính mến,

Được tin các đồng chí quyết định tặng tôi Huân chương Lênin, tôi vô cùng cảm động và vô cùng cảm ơn các đồng chí. Tôi xin trình bày ý kiến sau đây:

Lúc này, giặc Mỹ đang đẩy mạnh chiến tranh xâm lược Tổ quốc Việt Nam chúng tôi. Chúng đang giết hại một cách cực kỳ dã man hàng vạn đồng bào tôi ở miền Nam cũng như ở miền Bắc.

Toàn quân và toàn dân Việt Nam chúng tôi đang phải hy sinh xương máu để đánh Mỹ, cứu nước.

Trong lúc đó, riêng tôi lại được hưởng vinh dự đặc biệt to lớn và nhận Huân chương Lênin thì lòng tôi không yên chút nào. Vì lẽ đó, tôi vô cùng cảm ơn các đồng chí, nhưng xin các đồng chí hãy tạm hoãn việc trao tặng phần thưởng cực kỳ cao quý ấy. Đến ngày nhân dân chúng tôi đánh đuổi được bọn đế quốc Mỹ xâm lược, giải phóng hoàn toàn đất nước Việt Nam, tôi sẽ đại biểu cho toàn thể đồng bào tôi, trân trọng và vui mừng lãnh lấy Huân chương mang tên Lênin vĩ đại.

Kính gửi các đồng chí lời chào cộng sản.

Hà Nội, ngày 6 tháng 11 nǎm 1967
Hồ Chí Minh

———————-

Báo Nhân dân, số 4965, ngày 14-11-1967.
cpv.org.vn

Thư khen dân quân gái xã H.,Thanh Hoá (13-11-1967)

Thân ái gửi các cháu dân quân gái xã H.1) ,huyện Hoằng Hoá, tỉnh Thanh Hoá,

Ngày 11 tháng 11 nǎm 1967, các cháu đã chiến đấu dũng cảm, bắn rơi một máy bay phản lực Mỹ. Cùng với thành tích to lớn chống Mỹ, cứu nước của phụ nữ cả nước ta, chiến công của các cháu càng làm rạng rỡ thêm truyền thống của phụ nữ Việt Nam dũng cảm, đảm đang.

Bác rất vui lòng khen ngợi các cháu và tặng mỗi cháu một huy hiệu.

Các cháu hãy luôn luôn cố gắng học tập, sản xuất giỏi, chiến đấu giỏi, cùng với bà con địa phương và quân dân cả nước giành nhiều thắng lợi to lớn hơn nữa.

Bác hôn các cháu.
Chào thân ái và quyết thắng

Hà Nội, ngày 13 tháng 11 nǎm 1967
Bác Hồ

————————

Báo Nhân dân, số 4965, ngày 14-11-1967.
1) Xã Hoằng Hải
cpv.org.vn

Thư khen quân và dân Hà Nội (7-11-1967)

Thân ái gửi đồng bào, chiến sĩ các lực lượng vũ trang và cán bộ Hà Nội,

Ngày 6 tháng 11 nǎm 1967, Hà Nội đã bắn rơi 3 máy bay Mỹ, trong đó có chiếc thứ 2.500 trên miền Bắc. Một lần nữa giặc Mỹ lại bị quân và dân Hà Nội trừng trị đích đáng.

Đó là thành tích thiết thực kỷ niệm lần thứ 50 Cách mạng Tháng Mười.

Bác rất vui lòng khen ngợi đồng bào, chiến sĩ các lực lượng vũ trang và cán bộ Hà Nội đã nêu cao cảnh giác, đoàn kết chặt chẽ, chiến đấu dũng cảm và mưu trí, chiến thắng vẻ vang.

Quân và dân Hà Nội hãy nâng cao cảnh giác, luôn luôn sẵn sàng, ra sức thi đua chiến đấu giỏi, sản xuất giỏi, giành nhiều thắng lợi to lớn hơn.

Chào thân ái và quyết thắng

Hà Nội, ngày 7 tháng 11 nǎm 1967
Bác Hồ

———————–

Báo Nhân dân, số 4959, ngày 8-11-1967.
cpv.org.vn

Thư khen đơn vị dân quan gái xã N. huyện Quảng Ninh, Quảng Bình (16-11-1967)

Thân ái gửi các cháu dân quân gái xã N1), huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình,

Bác rất vui lòng khen ngợi các cháu đã chiến đấu giỏi, bắn rơi tại chỗ một máy bay phản lực Mỹ. Bác gửi tặng mỗi cháu một huy hiệu.

Các cháu hãy ra sức rèn luyện, học hỏi những kinh nghiệm hay, sản xuất giỏi, chiến đấu giỏi hơn nữa.

Dân quân, tự vệ, già trẻ, gái trai nhiều địa phương đã bắn rơi máy bay Mỹ. Như vậy là rất tốt.

Các tỉnh hãy đưa phong trào dân quân, tự vệ thi đua bắn rơi máy bay Mỹ lên cao hơn nữa, góp phần cùng với cả nước đánh thắng hoàn toàn giặc Mỹ xâm lược.

Chào thân ái và quyết thắng

Hà Nội, ngày 16 tháng 11 nǎm 1967
Bác Hồ

———————-

Báo Nhân dân, số 4968, ngày 17-11-1967.
1) Xã Võ Ninh
cpv.org.vn

Thư khen dân quân gái các xã P. và T. huyện Hà Trung, Thanh Hoá (18-11-1967)

Thân ái gửi các cháu dân quân gái xã P. và xã T.1), huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá,

Thi đua với dân quân gái Hậu Lộc, Tĩnh Gia, ngày 7 tháng 11 nǎm 1967, các cháu đã phối hợp chặt chẽ, chiến đấu dũng cảm, bắn rơi một máy bay Mỹ. Thành tích đó góp phần làm vẻ vang truyền thống chiến đấu của tỉnh nhà và của phụ nữ cả nước ta.

Bác gửi lời khen ngợi và tặng mỗi cháu một huy hiệu.

Bác mong các cháu sản xuất giỏi, chiến đấu giỏi hơn nữa, cùng với toàn quân và toàn dân ta kiên quyết đánh thắng hoàn toàn giặc Mỹ xâm lược.

Chào thân ái và quyết thắng

Ngày 18 tháng 11 nǎm 1967
Bác Hồ

——————–

Báo 1) Xã Hà Phú và xã Hà Toại

Nhân dân, số 4970, ngày 19-11-1967.
cpv.org.vn

Thư khen dân quân gái các xã H. và T. huyện Hoằng Hoá, Thanh Hoá (20-11-1967)

Thân ái gửi các cháu dân quân gái xã H. và xã T.1), huyện Hoằng Hoá, tỉnh Thanh Hoá,

Bác rất vui lòng khen ngợi các cháu ngày 16-11-1967 đã hiệp đồng chặt chẽ, chiến đấu hết sức dũng cảm, mưu trí, bắn rơi cả tốp hai máy bay Mỹ. Bác đặc biệt khen ngợi các cháu xã H. trong sáu ngày đã bắn rơi 2 máy bay Mỹ.

Riêng các cháu dân quân gái xã T. đã lập công đầu, Bác gửi tặng mỗi cháu một huy hiệu.

Thanh Hoá là tỉnh có nhiều đội dân quân gái bắn rơi máy bay Mỹ. Đó là vinh dự chung của tỉnh nhà và của phụ nữ cả nước ta.

Các cháu chớ vì thắng lợi mà chủ quan, hãy chịu khó học hỏi và thi đua với dân quân, tự vệ các tỉnh bạn, chiến đấu giỏi và sản xuất giỏi hơn nữa.

Bác hôn các cháu
Chào thân ái và quyết thắng

Hà Nội, ngày 20 tháng 11 nǎm 1967
Bác Hồ

————————

Báo Nhân dân, số 4972, ngày 21-11-1967.
cpv.org.vn

Điện gửi Chủ tịch Nguyễn Hữu Thọ và vị trong Uỷ ban Trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam (19-12-1967)

Thưa Chủ tịch và các vị trong Uỷ ban Trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam,

Nhân dịp kỷ niệm lần thứ bảy ngày thành lập Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam quang vinh, tôi xin gửi đến Chủ tịch và các vị trong Uỷ ban Trung ương Mặt trận cùng toàn thể đồng bào, chiến sĩ và cán bộ miền Nam lời chúc mừng nhiệt liệt nhất.

Bảy nǎm qua, dưới ngọn cờ lãnh đạo của Mặt trận, đồng bào và các lực lượng vũ trang nhân dân miền Nam anh hùng đã giành được những thắng lợi to lớn, đập tan mọi kế hoạch xâm lược của giặc Mỹ và tay sai. Những thắng lợi liên tiếp trong đầu mùa khô này đang làm nức lòng nhân dân cả nước ta và nhân dân toàn thế giới. Trong ba nǎm qua, sát cánh cùng với đồng bào miền Nam, quân và dân miền Bắc đã bắn rơi hơn 2.660 máy bay của giặc Mỹ, ra sức phát triển sản xuất và hết lòng hết sức ủng hộ đồng bào miền Nam ruột thịt, quyết cùng đồng bào đánh thắng giặc Mỹ xâm lược.

Thắng lợi của nhân dân ta trong cả nước đang đẩy địch vào thế sa lầy, bị động và thất bại nặng.

Tôi tin rằng, trong thời gian tới, ra sức thực hiện Cương lĩnh chính trị của Mặt trận, với tinh thần “tất cả để chiến thắng giặc Mỹ xâm lược”, quân và dân miền Nam sẽ giành được những thắng lợi vang dội hơn nữa.

Đế quốc Mỹ càng tàn ác, ngoan cố và xảo quyệt thì thất bại của chúng càng lớn.

Cuộc kháng chiến của nhân dân ta lâu dài, gian khổ, nhưng nhất định sẽ thắng lợi hoàn toàn.

Chào thân ái và quyết thắng

Hà Nội, ngày 19 tháng 12 nǎm 1967
Hồ Chí Minh

———————

Báo Nhân dân, số 5001, ngày 20-12-1967.
cpv.org.vn

Bài nói tại cuộc mít tinh trọng thể kỷ niệm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22-12-1944) và ngày toàn quốc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (19-12-1946) (26-12-1967)

Thưa các đồng chí và các bạn,

Trong dịp kỷ niệm ngày xây dựng Quân đội nhân dân ta và ngày cả nước kháng chiến lần thứ nhất, tôi là một trong những người rất vui mừng, rất phấn khởi. Tôi thấy trẻ lại 20 tuổi. Vì lẽ rằng cách đây 23 nǎm, tôi và một số đồng chí được Đảng ta giao cho nhiệm vụ vẻ vang là tổ chức, huấn luyện và lãnh đạo Quân đội nhân dân ta. Lúc đầu chỉ có mấy nhóm du kích bé nhỏ với những vũ khí thô sơ. Nhờ đường lối mácxít – lêninnít của Đảng và sự ủng hộ hǎng hái của đồng bào, quân đội ta đã lớn mạnh nhanh chóng, đã góp phần quan trọng giành chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám và sau gần chín nǎm kháng chiến đã đánh thắng quân đội nhà nghề thực dân trong trận Điện Biên Phủ oanh liệt. Nay quân đội ta lại có thêm người anh em ruột thịt là các lực lượng vũ trang anh hùng dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam. Các lực lượng vũ trang đó đang đánh thắng 1 triệu 20 vạn quân Mỹ và bè lũ tay sai.

Trong cuộc chiến tranh nhân dân của cả nước ta chống đế quốc Mỹ, đã nảy nở rất nhiều anh hùng và dũng sĩ. Vài ví dụ:

Ở miền Bắc, có những đơn vị dân quân già như ở Thanh Hoá đã bắn rơi nhiều máy bay Mỹ. Có những trung đội dân quân toàn là các cháu gái nông thôn đã bắn rơi máy bay Mỹ. Đặc biệt là có cháu Nguyễn Thị Xuân, 19 tuổi, ở tỉnh Quảng Bình, một mình dùng súng bộ binh với hơn 20 viên đạn, đã bắn rơi máy bay phản lực của Mỹ. Có những đồng chí phi công trẻ tuổi, một mình đã bắn tan xác bảy máy bay Mỹ.

Ở miền Nam Việt Nam, Phó Tổng tư lệnh Quân đội giải phóng là một phụ nữ, đồng chí Nguyễn Thị Định. Cháu Hồ Vǎn Mên, ở khu Đông Nam Bộ, mới 13 tuổi đã giật mìn diệt 75 tên giặc Mỹ và tay sai. Cháu Nguyễn Thị Hạnh, ở tỉnh Long An, là một cán bộ du kích ưu tú, đã xây dựng được một đội du kích rất mạnh, tổ chức đánh hơn 300 trận, diệt nhiều địch, thu nhiều vũ khí. Cháu Kpacơlơng, người dân tộc Giarai, lúc 15 tuổi, đã làm chông bẫy, dùng tên nỏ diệt tám tên địch, nay là một chiến sĩ trẻ đã diệt hơn 100 giặc Mỹ và tay sai.

Những chuyện như thế có rất nhiều và được cả thế giới ca ngợi. Tôi tưởng ca ngợi là phải mà chúng ta tự hào là phải.

Đường lối, chính sách của ta đúng đắn.

Toàn dân ta đoàn kết, nhất trí, quân đội ta anh hùng vô song, ta lại được các nước anh em trong phe xã hội chủ nghĩa giúp đỡ tận tình và bạn bè khắp nǎm châu ra sức ủng hộ, cho nên ta nhất định thắng, Mỹ nhất định thua!

Mỹ thua đã rõ ràng. Một chứng cớ là Mắc Namara, một trong những tên trùm gây chiến tranh xâm lược, đã bị buộc phải thôi chức Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ, chịu đòn thay cho Giônxơn và phe lũ. Tuy vậy, đế quốc Mỹ “chết thì chết, nết không chừa”, chúng chưa từ bỏ âm mưu xâm lược. Vậy quân và dân cả nước ta hãy đoàn kết chặt chẽ hơn nữa, luôn luôn nâng cao cảnh giác, thừa thắng xông lên, kiên quyết đập tan mọi âm mưu của chúng.

31 triệu đồng bào ta ở cả hai miền, bất kỳ già trẻ, gái trai, phải là 31 triệu chiến sĩ anh dũng diệt Mỹ, cứu nước, quyết giành thắng lợi cuối cùng.

Nhân dịp này, tôi thay mặt nhân dân và Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà cảm ơn nhân dân và chính phủ các nước anh em trong phe xã hội chủ nghĩa, cảm ơn nhân dân và chính phủ các nước bạn, cảm ơn nhân dân thế giới, kể cả nhân dân tiến bộ Mỹ, đang chống đế quốc Mỹ xâm lược và ủng hộ cuộc chiến đấu chính nghĩa của nhân dân Việt Nam.

Tôi thân ái khen ngợi quân đội và đồng bào ta không ngại gian khổ, hy sinh, kiên quyết chống Mỹ, cứu nước, giành nhiều thắng lợi to lớn, để hoàn thành nhiệm vụ vĩ đại là bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà.

Cuối cùng, chúc các đồng chí và các bạn sang nǎm mới, cố gắng mới và giành nhiều thắng lợi mới!

—————————-

Báo Nhân dân, số 5007, Ngày 26-12-1967.
cpv.org.vn

Mỗi ngày viết một câu chuyện về Người

(Dân trí) – Ở thôn Nhan Biều 3 (Triệu Thượng, TriệuPhong, Quảng Trị) có một ông đại tá già ngày nào cũng đọc một câu chuyện, viết một bài viết về Bác Hồ. Tài sản vô giá của ông hiện là cuốn sách dày 200 trang dày đặc những câu chuyện về vị Cha già của dân tộc.

Ông đại tá già đó là ông Nguyễn Đức Vũ, 85 tuổi, người được người dân Nhan Biều coi là “cuốn sách sống về Bác Hồ”.

Ban thờ Bác được ông Vũ lập trang trọng trong một căn phòng riêng.

Bốn mươi năm khôn nguôi nhớ Bác

Bốn mươi năm trước, ngày Bác mất, triệu triệu người Việt Nam đã khóc, đã đau nỗi đau của dân tộc. Ngày đó, có một người lính đặc công cũng òa khóc nức nở như mất đi một người thân ruột thịt. Người lính đặc công ấy là ông Nguyễn Đức Vũ, người ôm nỗi nhớ khôn nguôi về Bác từ đó đến nay.

Vốn là bộ đội trinh sát, rồi được chọn vào đội ngũ của binh chủng đặc công, ông Vũ đã đi qua hai cuộc chiến ác liệt nhất của đất nước, dân tộc. Quãng đời lính xem cái chết nhẹ tựa lông hồng của ông Vũ đầy những chiến tích hào hùng, oai lẫm. Nhưng niềm tự hào lớn nhất của người chiến sĩ cách mạng Nguyễn Đức Vũ chính là hai lần vinh dự được gặp Bác Hồ. Kỷ niệm quý giá ấy đã ăn sâu vào máu thịt, tuôn chảy trong từng mạch máu luân chuyển khắp cơ thể, chảy tràn qua tim ông Vũ.

“Đời lính của tôi vào sống ra chết, trở về với hai bàn tay trắng và một khối tài sản vô hình, vô giá. Đó chính là hai lần tôi vinh dự được cùng anh em đồng chí trong đơn vị gặp mặt Bác Hồ, nghe Bác kể chuyện, nhìn tận mắt gương mặt, đôi mắt sáng và nụ cười hiền từ ấm áp của Bác. Tôi vẫn nhớ mãi những kỷ niệm đó” – ông Vũ xúc động kể.

Đau đáu một nỗi nhớ Bác, khắc ghi hình ảnh của Người trong tim, khi đối mặt với quân thù, người lính Nguyễn Đức Vũ luôn tự nhủ “phải chiến đấu hết mình để giữ mảnh đất mà Bác Hồ và cả dân tộc đã đổ máu để gìn giữ”. Ông đã đi qua chiến tranh với niềm tin, nhiệt huyết ấy.

Cho đến lúc về nghỉ hưu, ông Vũ vẫn không ngừng học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Người, giữ mãi hình ảnh Bác trong tim.

Lập bàn thờ, xây phòng thờ Bác

Lòng kính yêu đối với Bác Hồ của ông đại tá già “đặc biệt” hơn rất nhiều người. Ông dành hẳn một gian phòng để làm nơi thờ Bác Hồ, đó cũng là nơi ông đọc truyện, viết sách về Bác.

Năm 1990, ông Vũ về nghỉ hưu với quân hàm đại tá, cái biệt danh thân mật “Vũ đại tá” bắt đầu được người dân Nhan Biều tặng cho ông từ đó. Ngay sau khi về hưu, việc đầu tiên ông Vũ nghĩ đến là lập bàn thờ và xây phòng thờ Bác Hồ.

“Hồi đó, tôi mới về phải sửa sang lại căn nhà cũ nên tạm thời tôi thờ Bác chung với bàn thờ tổ tiên, cha mẹ tôi. Năm 2006, tôi mới ổn định ổn định cuộc sống và cho xây phòng thờ Bác ngay. Sau đó, tôi chuyển tấm ảnh Bác đem về từ chiến trường, phóng to lên và đặt lên bàn thờ Bác để ngày ngày tôi thắp hương riêng cho Người” – ông Vũ kể lại.

Xây xong phòng, lập xong bàn thờ Bác, ông Vũ bắt đầu đọc những câu chuyện về Bác và viết lại thành sách. Tài sản mà ông Vũ gom góp đến bây giờ là đống sách vở, tài liệu, tranh ảnh về Bác mà ông đặt mua, sưu tầm. Đặc biệt là tập sách dày 200 trang do ông viết ra. Tập sách do chính tay ông Vũ viết với những dòng chữ rất rõ ràng, rất đẹp được ông đóng bìa rất cẩn thận mà ông đang có ý định đặt tựa đề “Bốn mươi năm nhớ Bác”.

Cuốn sách vô giá của vị đại tá già.

“Tôi viết tập tài liệu này mới có mấy năm nhưng bốn mươi năm nay tôi luôn nhớ đến Người nên tôi muốn đặt tựa đề như vậy”, vị đại tá kể. Giở tập tài liệu ấy ra đọc, bất kỳ một người đọc khó tính nào cũng không khỏi ngạc nhiên, hết lời khen ngợi bởi những câu chuyện, những bài học do ông Vũ viết đều rất hay và hấp dẫn lòng người. Tập sách là tâm huyết, tình cảm quý giá của một người lính luôn hướng lòng mình theo tư tưởng của Bác, nhớ về Bác.

Căn phòng ông Vũ cho xây làm phòng thờ, đặt bàn thờ Bác rộng chừng hơn 15 mét vuông đặt một bộ bàn ghế để ông làm việc, đọc viết sách và để tiếp những ai muốn nghe ông kể chuyện về Bác. Căn phòng chỉ rộng chừng hơn 15 mét vuông. Ngay chính giữa gian nhà, ông Vũ trịnh trọng đặt tượng Bác Hồ (thay cho bức ảnh đã cũ nát), bên trên là lá cờ Tổ quốc có sao vàng năm cánh và hình ảnh búa liền cùng dòng chữ Đảng Cộng Sản Việt Nam quang vinh muôn năm. Hai bên phải trái là hai câu đối “Suốt đời hy sinh cho lý tưởng cộng sản” và “Ra sức học tâp, làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”.

Chiếc lư hương luôn đầy ắp những đuôi nhang bởi ngày nào ông cung thắp hương khấn nguyện cho Bác và được ông thay cát mỗi tháng một lần. Trong căn phòng này, rất nhiều người đã được ông Vũ kể cho nghe hàng trăm, hàng ngàn câu chuyện hấp dẫn và cảm động về Bác Hồ. Nhiều Đảng viên ở Nhan Biều đã được kết nạp tại đây, đứng đọc lời tuyên thệ dưới bàn thờ nghi ngút khói hương của Bác. Cả những cô cậu sinh viên ở Nhan Biều trước khi nhập học cũng đến đây đọc lời thề, thắp hương trước bàn thờ Bác.

Mỗi lần kỷ niệm ngày sinh hay ngày mất của Bác là ngôi nhà của ông Vũ luôn có rất đông người do ông mời đến hoặc tự đến để cùng ông tổ chức hát những bài hát, kể những câu chuyện về Bác Hồ. “Những dịp ấy, ông Vũ kể chuyện suốt ngày. Cứ nhắc đến chuyện về Bác, nói về Đảng là ông ấy nói cả ngày cũng không hết. Những lúc ấy ông vui vẻ, phấn khởi lắm chẳng thiết ăn, thiết uống gì cả chỉ nói chuyện đó cũng đủ… no rồi” -bà Lan, em gái ông Vũ kể.

Ông Vũ sẽ còn viết, còn kể mãi những câu chuyện, bài học về Bác Hồ đến khi nào không còn đủ sức nữa mới thôi. Nhưng có một điều mà ông luôn chắc chắn “Bác luôn sống mãi trong tôi, trong trái tim tôi”.

Văn Được
dantri.com.vn

Những lão nông say mê vẽ Bác Hồ

(Dân trí) – Vẽ với các ông là cái duyên, cái nghiệp; nhưng vẽ về Bác lại là nghĩa vụ, là niềm say mê, là sự thôi thúc phải làm gì đó để tỏ lòng tôn kính Bác, để thế hệ mai sau hiểu về cuộc đời cách mạng cao quý của Người…

“Vẽ về Bác là nghĩa vụ đối với tôi”

Năm nay vừa tròn 70 tuổi, ông sống “ẩn dật” trong một ngôi nhà nhỏ trên lưng chừng đồi ở xóm vắng thôn Thạch Nham Đông (xã Hòa Nhơn, Hòa Vang, TP Đà Nẵng). Ngoài những lúc làm vườn, thời gian còn lại ông chỉ chuyên tâm vẽ tranh. Tranh của ông mang nhiều nội dung, thể loại, từ tranh cổ động, tranh về hai cuộc chiến tranh, tranh về cuộc sống… nhưng nhiều nhất và đẹp nhất là tranh về đề tài Bác Hồ. Ông lý giải đơn giản: “Vẽ về Bác là một nghĩa vụ đối với tôi”.

Ông Hạnh giới thiệu tập tranh và ký họa “Uống nước nhớ nguồn” tập hợp hàng trăm bức tranh mà ông đã vẽ trong cuộc đời sáng tác của mình. (Ảnh: Công Bính)

Đó là lão nông-họa sĩ Nguyễn Đức Hạnh. Trong căn nhà cấp 4 tuềnh toàng, ông dành riêng một phòng để làm “phòng triển lãm” khoảng 200 tác phẩm của mình, trong đó những bức tranh về Bác được ông trân trọng nhất. Những bức tranh ấy ông không bao giờ bán.

Ông từng tốt nghiệp Cao đẳng Mỹ thuật công nghiệp Hà Nội năm 1967, sau đó ông vào Nam vẽ tranh ghi lại các hoạt động, công tác chiến đấu của bộ đội, dân quân du kích… ở chiến trường khu V thuộc đơn vị đặc khu tuyên huấn Quảng Đà.

Nhìn những bức tranh về Bác bày khắp nơi trong phòng triển lãm, tôi hỏi: “Ông đã gặp Bác mấy lần rồi?”. Ông bảo: “Hồi nhỏ làm gì được gặp Bác, chỉ đọc tài liệu rồi tưởng tượng ra vẽ thôi. Nhưng vẽ rất chuẩn đấy nhé”.

Để vẽ được tranh về cuộc đời cách mạng của Bác, ông nói mình đã phải đọc rất nhiều tài liệu, bài báo và chiêm nghiệm con người Bác rồi từ đó phóng tác ra tranh. Và cuộc đời Bác đã ngấm vào máu của ông, sau ông cứ thế mà vẽ ra.

Trong “không gian tranh” của mình, ông trưng bày nhiều bức về Bác như “Lòng Bác”, “Đêm nay Bác không ngủ”, “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”, “Bác Hồ với đất Quảng”, “Bác Hồ với Thủ tướng Phạm Văn Đồng”, “Bác Hồ hoạt động cách mạng ở Thái Lan”, “Cho Bác thêm hai quả cà muối”…

Hiện trong “phòng trưng bày” tại gia của ông có 15 bức tranh rất đẹp về của Bác Hồ trong hai cuộc kháng chiến được đưa vào khung và treo trang trọng. Khi có khách đến chơi, điều đầu tiên ông khoe với khách chính là 15 bức tranh đó; đồng thời thuyết minh tường tận ý nghĩa của từng bức.

Một số bức tranh về Bác Hồ trong phòng trưng bày tại gia của ông Hạnh. (Ảnh: Công Bính)

Đối với ông, vẽ là để thư giãn nhưng vẽ về Bác Hồ là nghĩa vụ, là việc phải làm. “Nếu tôi không vẽ có nghĩa là tôi đã chết”, ông khẳng khái. Càng về sau này đề tài về Bác Hồ được ông quan tâm, do đó trí lực của ông dồn hết vào những bức tranh về Bác.

Trong tập tranh và ký họa với chủ đề “Uống nước nhớ nguồn” tập hợp hàng trăm bức tranh của ông sáng tác từ xưa đến nay, ngay trang đầu tiên có ghi lời nói của Bác Hồ về Mỹ thuật trong một cuộc triển lãm tranh năm 1958 mà ông đã chép lại cẩn thận. Và ông lấy đó làm kim chỉ nam cho hoạt động sáng tác nghệ thuật của mình.

Ông tâm sự: “Bây giờ có mạnh thường quân nào tài trợ là tôi mở một cuộc triển lãm hoành tráng về Bác Hồ tại Quảng Nam hoặc Đà Nẵng”. Ông bảo đó là giấc mơ cuối đời của mình và “nếu thực hiện xong ý nguyện này có nhắm mắt tôi cũng yên lòng”.

Hơn 40 năm miệt mài vẽ Bác

Ông là Võ Đức Thuận (SN 1948), quê xã Quỳnh Lập, huyện Quỳnh Lưu, Nghệ An. Hơn 40 năm qua ông miệt mài đi đó đây để sưu tập tranh ảnh của Bác Hồ để phác thảo nên chân dung Người theo cách rất riêng của mình. Giờ đây phòng tranh vẽ chân dung Bác Hồ của ông đã trở thành nơi tham quan lý tưởng và miễn phí cho các em học sinh khắp nơi mỗi khi muốn hiểu về Bác Hồ.

Khi chúng tôi đến nhà thăm, ông Thuận đang vẽ dở bức “Bác Hồ với lá cờ quyết thắng”. Ông “hòa hoãn”: “Các chú chờ tôi chút. Tôi đang thổi hồn vào bức tranh này, có gì lát nữa nói chuyện”. Nói đoạn ông như nhập hồn vào bức tranh, quên bẵng có chúng tôi bên cạnh.

Ông Thuận đang phác họa bức chân dung Bác Hồ với lá cờ quyết thắng. (Ảnh: Duy Thái)

Ông bảo: “Việc làm của tôi chỉ là để mai này con cháu biết để tôn thờ vị cha chung của dân tộc thôi. Tôi vẽ chân dung Bác Hồ mấy hơn 40 năm nay rồi. Tôi làm việc này cho các thế hệ học sinh noi gương Bác Hồ kính yêu…”.

Ông Thuận sinh ra ở cố đô Huế, năm lên 4 tuổi ông theo gia đình ra Nghệ An và sinh sống tại Nam Đàn – quê hương của Bác Hồ. Năm 1957, khi mới tròn 9 tuổi, trong một lần Bác Hồ về thăm quê, ông Thuận được mẹ dẫn đi cùng với nhân dân Nam Đàn đón Bác. Vì còn quá nhỏ, ông không chen lên để nhìn Bác được, ông tiếc lắm, quyết tâm sẽ học tập thật tốt, đạt nhiều thành tích để sau này được gặp Bác Hồ.

Một tác phẩm xúc động về phút lâm chung của Chủ tịch Hồ Chí Minh. (Ảnh: Duy Thái)

“Đề tài về Bác Hồ được rất nhiều văn nghệ sĩ sáng tác nhưng với tôi vẽ chân dung của Bác là một niềm hạnh phúc nhất cuộc đời này. Thứ đến, là tuổi già như tôi phải làm một cái gì đó để truyền dạy cho con cháu sau này hiểu hơn về Bác Hồ”, ông Thuận tâm sự.

Thầy Nguyễn Văn Sơn, phụ trách đoàn đội trường THCS Quỳnh Lập tâm sự: “Hàng năm, vào các dịp lễ lớn như Quốc khánh 2/9, hay như sinh nhật Bác 19/5… nhà trường thường hay tổ chức các em học sinh vào nhà bác Thuận để chiêm ngưỡng những bức chân dung về Bác Hồ. Chính từ phòng tranh về Bác Hồ của bác Thuận đã cho thầy và trò nhà trường chúng tôi nhiều tư liệu quý báu. Đặc biệt, là để các em học sinh rõ hơn về cuộc đời của Bác”.

Bác Hồ về thăm quê (Ảnh: Duy Thái)

Đến nay, trong phòng trưng bày tranh về đề tài Hồ Chí của ông Thuận đã lên đến hàng trăm bức. Mỗi tác phẩm là một nét chấm phá thể hiện phong cách sống của Hồ Chủ Tịch.

Công Bính – Duy Thái

dantri.com.vn

Gặp người đầu tiên được mang họ Bác Hồ

(Dân trí) – “Bốn lần được gặp Bác Hồ, cùng ăn cơm, cùng nói chuyện với Bác cũng là lúc tôi vinh dự được Bác đặt cho họ Hồ” – anh hùng Hồ Đức Vai, người dân tộc Pa Kô, không giấu niềm tự hào.

Anh hùng Hồ Vai chụp ảnh với Bác Hồ năm 1965, Hồ Vai đứng bên phải Bác.

Anh hùng Hồ Đức Vai sinh năm 1940, đến nay vẫn được người dân vẫn âu yếm gọi là người thành lập ra họ Hồ ở thôn Lê Lộc, xã Hồng Bắc, huyện A Lưới, Thừa Thiên – Huế.

Những năm 1961, 1962, ở mảnh đất Trị Thiên khói lửa, giặc Mỹ tàn phá dã man. Hồ Vai lúc ấy đang là anh du kích của xã, nghe trên đài về những chiến công của Bác, ngưỡng mộ Bác, ơn Đảng, ơn Bác Hồ như suối nguồn chảy mãi không bao giờ cạn. Cũng vì lẽ đó Hồ Vai đã tự nguyện lấy họ Bác Hồ làm họ của mình để thể hiện một long son sắc theo cách mạng.

Năm 1964, anh du kích Hồ Vai (24 tuổi) vinh dự được đi dự Đại hội chiến sĩ Anh hùng thi đua toàn miền Nam tổ chức tại Tây Ninh. Trong số 32 cán bộ chiến sĩ được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực Lượng vũ trang có 2 du kích người dân tộc (A Vai, dân tộc Pa Kô tỉnh Thừa Thiên-Huế và Pi Năng Tak, dân tộc Răglai tỉnh Ninh Thuận).

Sau năm 1965 anh hùng Hồ Vai được ra Hà Nội thăm quan, học văn hóa, học sĩ quan lục quân… Anh tự hào là người bốn lần được gặp Bác Hồ, cùng ăn cơm nói chuyện với Bác.

40 năm trôi qua rồi, giờ nghĩ lại, anh hùng Hồ Vai vẫn rơi những giọt nước mắt hạnh phúc. “Điều mà Bác hỏi tôi nhiều nhất là về vấn đề người dân tộc ít người. Thấy tui nói rành mạch, Bác khen”, ông nhớ lại.

Cũng từ lần đầu tiên đó, Bác chính thức đặt tên họ Hồ cho chàng du kích người dân tộc Pa kô là Hồ Đức Vai.

Năm 1968 khi chuẩn bị cho tết Mậu Thân, Hồ Vai trở lại Miền Nam chiến đấu. Ông vận động tuyên truyền cho lực lượng vũ trang tất cả đều bỏ họ mình lấy họ Bác Hồ. “Tất cả có đồng ý không? Đồng ý, đồng ý”. Rồi từ đó họ Hồ đi sâu vào lòng quần chúng nhân dân, cho đến ngày nay chủ yếu là ở các dân tộc thiểu số như: Pa Cô, Tà Ôi, Cà Tu, Pa Hy…

“Ngày xưa chưa có họ Bác Hồ, người dân nơi đây nghèo lắm. Thời đó, đồng bào miền núi sống du canh du cư, săn bắn, hái măng và củ rừng, thiếu cơm lạt muối, dẫn đến đau ốm, bệnh tật, chết dần chết mòn. Ngay cái tên, cái họ của mình cũng được đặt theo tên các loài cây rừng như Ra pát, Pơ loong, Pi siêh, A relơ… Từ ngày có cán bộ, bộ đội lên giúp bà con xây dựng bản làng, đánh đuổi giặc Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, dạy cái chữ Bác Hồ, cuộc sống đồng bào mới thoát khỏi cảnh đói nghèo, tăm tối” – Anh hùng Hồ Vai kể lại.

Năm 1969, khi Bác mất, để nhớ ơn Bác, đồng bào các dân tộc thiểu số miền núi tỉnh Thừa Thiên- Huế đồng loạt mang họ Bác Hồ để tỏ lòng thương kính đối với Bác.

Núi Phấn

dantri.com.vn

Kỷ niệm lần được đón Bác từ Fontainebleau về nước

(Dân trí) – Sau ngày Cách mạng tháng Tám thành công, Bác Hồ sang Pháp dự hội nghị Fontainebleau. Người về nước tại cảng Hải Phòng tháng 10/1946. Thiếu tá Cao Phong – người nhận nhiệm vụ đón Bác Hồ – không bao giờ quên giây phút lịch sử ấy.

Bài viết dưới đây được ghi lại theo tư liệu của ông Nguyễn Thế Vinh, con trai cố Thiếu tá Cao Phong, Nguyên Trưởng Ty liên kiểm Việt – Pháp miền duyên hải Bắc bộ năm 1946.

“Trong những năm hoạt động cách mạng, có biết bao nhiêu sự kiện đến với tôi. Song được đón Bác Hồ từ Fontainebleau trở về là một kỷ niệm mà cho đến nay tôi vẫn không sao quên được.

Sau khi tham gia trận đánh lớn tiễu phỉ ngày 08 tháng 12 năm 1945 giải phóng thành Hà Giang, tôi được Bộ Quốc Phòng điều về Trường Cán bộ Việt Nam Trần Quốc Tuấn do đồng chí Trần Tử Bình làm Giám đốc.

Từ trái sang: Hoàng Hữu Nam – Trưởng ban Liên kiểm TW; Chủ tịch Hồ Chí Minh; Thiếu tá Cao Phong; Bác sĩ Nguyễn Xuân Nguyên – Chủ tịch uỷ ban hành chính Hải Phòng (Ảnh do ông Nguyễn Thế Vinh, con trai Thiếu tá Cao Phong cung cấp)

Đến ngày 15 tháng 3 năm 1946, tôi lại được Bộ giao nhiệm vụ Trưởng Ty Liên kiểm Việt – Pháp Hải Phòng với quân hàm thiếu tá. Trước khi đi nhận nhiệm vụ, đồng chí Hoàng Văn Thái có gọi tôi lên căn dặn nhiêm vụ quan trọng của Liên kiểm trong tình hình đang có sư đoàn thuỷ quân lục chiến Pháp ở Hải Phòng. Trước khi trao cho tôi quyết định nhận nhiệm vụ, đồng chí Hoàng Văn Thái mở ngăn kéo lấy ra năm mét vải kaki đưa cho tôi và bảo: “Liên kiểm hàng ngày phải giáp mặt với quân Pháp, nên phải ăn mặc cho đàng hoàng. Anh cầm vải đi may ngay một bộ quân phục và phải có mặt ở Hải Phòng đúng ngày 15 tháng 3 năm 1946 để nhận nhiệm vụ”.

Ở Hải Phòng đến ngày 12 tháng 8 năm 1946 tôi lại nhận được quyết định của cấp trên giao cho chức vụ Trưởng Ty Liên kiểm Việt – Pháp miền duyên hải Bắc Bộ, quản lý một vùng đất từ Hải Phòng đến Móng Cái.

Bác Hồ trở về nước là một sự kiện quan trọng. Với tư cách là chỉ huy Liên kiểm miền duyên hải Bắc Bộ, tôi cũng được cấp trên cho biết trước. Phía Pháp, Đại tá Đép, Tổng chỉ huy sư đoàn thuỷ quân lục chiến ở Hải Phòng, gặp tôi, đề nghị cho binh sỹ Pháp được tham gia lễ đón Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tôi báo cáo ngay với đồng chí Hoàng Văn Thái về yêu cầu của phía Pháp và nhận được sự đồng ý với điều kiện phía Pháp phải đón Bác Hồ theo nghi lễ trọng thể nhất của nước Pháp.

Tôi trở lại làm việc với Đại tá Đép. Lần này tôi nói rõ từng chi tiết phía Pháp phải làm trong nghi lễ đón rước Chủ tịch Hồ Chí Minh. Mọi yêu cầu của ta phía Pháp đều đồng ý. Riêng phần quân kỳ danh dự của nước Pháp chào Hồ Chủ tịch như thế nào thì cứ bàn đi bàn lại mãi. Cuối cùng phía Pháp phải đồng ý cử hành nghi lễ như đón chào Tổng thống của chính nước họ. Nghĩa là khi Hồ Chủ tịch đi qua quân kỳ của nước Pháp thì quân kỳ danh dự của nước Pháp phải hạ xuống chấm đất để chào Người. Đó là nghi lễ trọng thể nhất của nước Pháp

Chân dung Thiếu tá Cao Phong

Ngày 21 tháng 10 năm 1946, thông báo hạm Đuy-mông Đuyếc-vin-lơ của hải quân Pháp đưa Bác cập bến Ngự, Hải Phòng. Hàng quân danh dự đứng đón Bác, một bên là Vệ quốc đoàn của ta, còn một bên là hàng quân danh dự của Sư đoàn thuỷ quân lục chiến Pháp, có quân kỳ trung đoàn, có cả quân nhạc.

Nhân dân Hải Phòng đứng đón Bác chật ních cả hai bên đường. Vì có quân đội Pháp tham gia nghi lễ đón Bác và phải chịu sự chỉ huy chung của tôi nên khẩu lệnh tôi sẽ phải hô bằng tiếng Pháp. Hôm ấy, đứng ngay dưới cầu tàu đón Bác, tôi thấy có đông đảo quan khách trong đó có cụ Nguyễn Văn Tố; Bộ trưởng Quốc phòng kiêm Tổng chỉ huy quân đội Võ Nguyên Giáp; ông Nghiêm Kế Tố; ông Trần Huy Liệu; ông Phạm Văn Bạch. Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Võ Nguyên Giáp gọi tôi lại gần, chỉ thị: “Anh là chỉ huy cuộc duyệt binh, anh phải lên tàu rước mời Bác xuống duyệt đội danh dự”.

Nhận lệnh của Bộ trưởng, tôi bước lên tàu Đuy-mông Đuyếc-vin-lơ trong bộ quân phục chỉnh tề, bên mình đeo kiếm chỉ huy danh dự. Khi tới nơi, tôi thấy Bác Hồ chỉ có một mình, hai tay chắp ra phía sau, đi đi lại lại trên sàn tàu như Người đang suy nghĩ điều gì. Tôi mừng quá sững người lại trong tư thế đứng nghiêm, đưa tay lên vành mũ kính cẩn chào Bác và thưa: “Kính thưa Bác, Quân uỷ Trung ương uỷ nhiệm cháu lên đón Bác, kính mời Bác xuống duyệt đội danh dự ạ”.

Là chỉ huy cuộc duyệt binh, tôi hiểu trọng trách và vinh dự lớn của mình. Tôi đi chếch về phía bên phải Bác, theo đúng nghi thức một sỹ quan cận vệ bên cạnh một nguyên thủ quốc gia. Khi còn cách hàng quân danh dự chừng mười thước, tôi hô to khẩu lệnh để nghi lễ đón Bác được bắt đầu.

Sau lời hô của tôi, hai bên hàng quân danh dự nghiêm lệnh bồng súng chào. Quân nhạc phía Pháp long trọng cử Quốc ca. Khi Bác qua hàng quân danh dự, Quân kỳ danh dự của nước Pháp đã hạ xuống chấm đất để chào Người theo đúng nghi thức trọng thể nhất. Lúc ấy, tôi thấy một nhà quay phim nước ngoài đã quỳ xuống sát đất rất lâu để quay cảnh ấy. Lòng tôi bỗng rộn lên một niềm vui sướng.

Đi qua hàng quân, Bác tiếp cận đông đảo nhân dân Hải Phòng đứng chật hai bên đường. Bác giơ tay vẫy chào đồng bào rồi lên xe về nhà khách của Ủy ban thành phố. Còn tôi, cả cuộc đời đi theo cách mạng, đã có biết bao nhiêu kỷ niệm. Song lần được đón Bác là kỷ niệm sâu sắc nhất của một người lính đã đi suốt hai cuộc trường chinh.

Quốc Cường (trích ghi)

cpv.org.vn