Tag Archive | Tin tức

Điện gửi Đại hội anh hùng, chiến sĩ thi đua và dũng sĩ các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam lần thứ hai (9-1967)

Kính gửi Đại hội anh hùng, chiến sĩ thi đua và dũng sĩ các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam Việt Nam lần thứ hai,

(Kính nhờ Chủ tịch Nguyễn Hữu Thọ chuyển tới Đại hội)

Nhân dịp các cô, các chú về họp Đại hội anh hùng, chiến sĩ thi đua và dũng sĩ các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam lần thứ hai, Bác gửi các cô, các chú những cái hôn thân ái nhất và nhiệt liệt khen ngợi các cô, các chú đã lập được nhiều thành tích xuất sắc trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Nǎm 1965, Đại hội anh hùng miền Nam lần thứ nhất là Đại hội đánh thắng “chiến tranh đặc biệt” của giặc Mỹ. Đại hội anh hùng lần này là Đại hội của những người sẽ đánh thắng “chiến tranh cục bộ” của chúng, thực hiện Cương lĩnh chính trị của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam.

Hơn hai mươi nǎm nay, đồng bào và chiến sĩ miền Nam anh hùng phát huy truyền thống quật cường, bất khuất của dân tộc, đã chiến đấu vô cùng anh dũng và bền bỉ, vượt mọi gian khổ, hy sinh, quyết giành lại độc lập, tự do.

Là tinh hoa của dân tộc, các anh hùng, chiến sĩ thi đua và dũng sĩ các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam đã nêu cao tinh thần trung với nước, hiếu với dân, dũng cảm, mưu trí, khiêm tốn, giản dị, thương yêu, giúp đỡ lẫn nhau, khó khǎn không ngại, gian khổ không sờn, quyết hoàn thành mọi nhiệm vụ cứu nước, góp phần vào sự nghiệp cách mạng vẻ vang của dân tộc ta.

Miền Nam nước ta có những anh hùng, chiến sĩ và dũng sĩ xuất sắc là vì có đường lối, chính sách đúng đắn của Mặt trận, có những tập thể anh hùng, có nhân dân miền Nam anh hùng, có dân tộc Việt Nam anh hùng. Bác nhắc các cô, các chú chớ vì thắng lợi mà chủ quan, khinh địch, trái lại cần ra sức phát huy ưu điểm, khắc phục khuyết điểm, làm đầu tầu dẫn dắt mọi người tiến lên lập nhiều chiến công mới rực rỡ.

Giặc Mỹ đã thua to, nhưng chúng còn ngoan cố, chưa từ bỏ âm mưu xâm lược miền Nam, bắn phá miền Bắc, chia cắt lâu dài Tổ quốc ta. Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của toàn dân ta còn gặp nhiều khó khǎn, gian khổ, nhưng nhân dân ta nhất định sẽ đánh thắng giặc Mỹ xâm lược và bè lũ tay sai, giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, tiến tới thực hiện hoà bình thống nhất Tổ quốc.

Bác tin chắc rằng dưới ngọn cờ vẻ vang của Mật trận dân tộc giải phóng, đồng bào và chiến sĩ miền Nam, với tinh thần anh dũng và kinh nghiệm phong phú của mình, sẽ giành được nhiều thắng lợi to lớn hơn nữa, đưa sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước đến thắng lợi hoàn toàn.

Chào thân ái và quyết thắng

Tháng 9 nǎm 1967
Bác Hồ

—————

Báo Nhân dân, số 4934, ngày 14-10-1967.
cpv.org.vn

Bác Hồ với sự nghiệp giáo dục, khuyến học – khuyến tài

(Dân trí) – Nhân dịp kỷ niệm 118 năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chúng tôi xin trân trọng giới thiệu những câu nói của Người về sự nghiệp giáo dục và khuyến học, khuyến tài.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đặt nền móng và xây dựng nền giáo dục dân chủ mới. Sinh thời, Người đã từng nói: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành…”. Dưới đây, chúng tôi xin trân trọng giới thiệu những câu nói của Người về sự nghiệp giáo dục và khuyến học, khuyến tài.

* Đồng bào bây giờ phải biết chữ hết để trả lời cho thế giới biết nước ta là nước văn minh, ai cũng biết chữ.

(Bài nói chuyện với các đại biểu thân sĩ trí thức, phú hào tỉnh Thanh Hoá. Ngày 20/2/1947. Hồ Chí Minh toàn tập, t.5, tr.60).

* Biết chữ, biết tính, thì làm việc gì cũng dễ dàng hơn. Một người không biết chữ, biết tính thì như nửa mù, nửa quáng. Biết rồi ta học thêm.

(Đời sống mới. 1947. Hồ Chí Minh toàn tập, t.5, tr.99)

* Người có học mới có tiến bộ. Càng học càng tiến bộ.

(Đời sống mới. 1947. Hồ Chí Minh toàn tập, t5, tr99)

* Nếu không học tập văn hoá, không có trình độ văn hoá thì không học tập được kỹ thuật, không học tập được kỹ thuật thì không theo kịp được nhu cầu kinh tế nước nhà; Nhưng phải chú ý học tập chính trị vì nếu chỉ học văn hoá, kỹ thuật mà không có chính trị thì như người nhắm mắt mà đi.

(Nói chuyện tại Đại hội Liên hoan Thanh niên tích cực ngành Đường sắt ngày 25/7/1956. Hồ Chí Minh toàn tập, t.8, tr.221)

* Trình độ văn hoá của nhân dân nâng cao sẽ giúp chúng ta đẩy mạnh công cuộc khôi phục kinh tế, phát triển dân chủ. Nâng cao trình độ văn hoá của nhân dân cũng là một việc cần thiết để xây dựng nước ta thành một nước hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh.

(Thư gửi đồng bào đã thanh toán nạn mù chữ. Ngày 21/12/1956. Hồ Chí Minh toàn tập. t.8, tr.281)

* Ý thức làm chủ không phải chỉ tỏ rõ ở tinh thần hăng hái lao động, mà còn phải tỏ rõ ở tinh thần say mê học tập để không ngừng nâng cao năng lực làm chủ của mình.

(Học tập không mỏi, cải tiến không ngừng, Báo Nhân dân, ngày 14/3/1960. Hồ Chí Minh toàn tập, t.10, tr.105).

dantri.com.vn

Gặp người 2.555 ngày đêm bảo vệ Hồ Chủ tịch

(Dân trí) – Cho đến bây giờ, nhớ lại 7 năm vinh dự được cận kề bên Bác, cụ Nguyễn Tùng vẫn không khỏi bồi hồi xúc động: “Bảo vệ Bác Hồ là bảo vệ cả Tổ quốc, bảo vệ cả giang sơn đất nước thời bấy giờ. Vinh dự ấy tôi không thể nào quên…”.

Cụ Nguyễn Tùng sinh năm 1926 ở Quỳnh Hậu, Quỳnh Lưu (Nghệ An). Năm nay đã bước qua tuổi 82, trí đã mỏi, thân đã mệt nhưng trong cụ vẫn sáng những kỷ niệm không thể phôi phai về khoảng thời gian 7 năm làm lính bảo vệ Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chúng tôi đến thăm cụ khi cả gia đình cụ đang quây quần quanh bàn thờ Bác, kỷ niệm 118 năm ngày sinh của Người.

“Cầu thang có mấy bậc?”

Cụ nhớ lại: “Đối với tôi, thời niên thiếu được làm nhiệm vụ bảo vệ Bác là một vinh dự lớn nhất đời người. Tôi xem đó là một công việc hết sức phải cẩn trọng, lớn lao”. Năm 1958 ấy, Bộ Công an được giao nhiệm vụ tuyển lựa hàng trăm thanh niên trên cả nước về làm nhiệm vụ bảo vệ Bác. Trong số ấy, cụ Tùng đã xuất sắc lọp vào tốp 19 người được lựa chọn để bảo vệ Bác.

Cụ kể, bảo vệ Bác phải hết sức cẩn trọng, chú ý từng hành động, lời ăn tiếng nói, giờ giấc làm việc… của Bác. Khi Bác làm việc, tuyệt đối không gây một tiếng động, không thốt một câu nói.

“Lo lắm chứ, Bác là lãnh tụ mà”, cụ Tùng chia sẻ. Cụ vẫn nhớ những buổi sáng theo sát bước chân Bác khi Người đi tập thể dục. Thời tiết khô ráo thì đi ngay sau Bác, trời mưa thì đi song song bên Bác, kịp đỡ khi Bác trượt chân. Khi Bác làm việc, cụ ngồi ngay dưới chân cầu thang, để Bác cần là có mặt.

Người bảo vệ Bác năm xưa vẫn nhớ một mẩu đối thoại cùng Bác, giản dị thôi nhưng nhắc cụ phải luôn quan sát, chú ý đến sự vật xung quanh. Bác hỏi: “Chú Tùng, chú ngồi ở cầu thang đây đã lâu chưa?”. “Cũng lâu rồi ạ”. “Thế chú có biết chiếc cầu thang này có mấy bậc không?”. Cụ Tùng ấp úng: “Dạ thưa Bác… cháu… không biết ạ”. “.

Bác về thăm làng gốm Bát Tràng. (Ảnh do cụ Nguyễn Tùng cung cấp)

“Dân còn rét Bác không thể ấm một mình”

Một câu chuyện cảm động khác mà cụ Tùng vẫn nhớ. “Đó là hồi cuối năm 1959, rét cắt da cắt thịt. Trong giờ nghỉ giải lao cuộc họp Bộ Chính trị, anh Ba (đồng chí Lê Duẩn) vẫy tôi lại nói nhỏ “Tùng về mua một bếp sưởi điện đặt vào nơi làm việc để Bác Hồ đỡ rét”.

Lúc vào phòng làm việc, thấy cái bếp sưởi điện, bác gọi tôi hỏi. Khi biết đó là quyết định của Bộ Chính trị, bác im lặng không nói gì, nhưng khi tôi định mở lò thì Bác bảo: “Quyết định của tập thể Bác phải phục tùng, nhưng tập thể quyết đặt bếp chứ không quyết mở giờ nào nên mở hay không là quyền Bác”.

Hôm sau tôi báo cáo với anh Ba, anh phàn nàn: “Thế Tùng không có cách gì mở à?”. Tôi nghĩ được một mẹo. Tối đó, Bác đang làm việc thì tôi lên: “Thưa Bác, cháu rét lắm ạ”. Bác mỉm cười độ lượng: “Rét thì mở lò mà sưởi”. Tôi thích chí vì mẹo của mình đã đạt. 30 phút sau, Bác hỏi: “Chú Tùng thấy ấm đủ chưa?”. Tôi lúng túng: “Thưa Bác đủ rồi ạ”. “Đủ thì đi làm nhiệm vụ”. Tôi vội đi xuống, Bác cũng tắt luôn lò sưởi.

Sáng hôm sau, giờ tập thể dục, Bác bảo: “Cái bếp lò vướng lắm, Bác đi lại không thoải mái”. Tôi báo cáo anh Ba, anh đành trực tiếp gặp Bác đề đạt nguyện vọng đặt lò sưởi vì lo cho sức khoẻ cuả Bác. Bác ôn tồn: “Bác cảm ơn Bộ Chính trị, cảm ơn sự quan tâm của dân của Đảng, Bác biết mở ra thì ấm, nhưng hiện nay toàn dân đang rét, Bác không thể ấm một mình. Hơn nữa, điện đang rất cần cho nông nghiệp, công nghiệp, các cơ sở sản xuất đều thiếu điện nhiều lắm, mình phải biết tiết kiệm. Bao giờ Bắc Nam thống nhất, nhân dân cả nước đều ấm, lúc đó Bác sẽ sưởi”.

Cụ Tùng dừng câu chuyện, toàn bộ những người có mặt cùng rưng rưng nước mắt trước tình thương bao la, “hy sinh tất cả chỉ quên mình” của Bác.

Bác mừng sinh nhật bằng buổi kéo lưới cùng ngư dân

Gần đến ngày 19/5, biết trước chính quyền có ý định sẽ tổ chức sinh nhật cho mình, để tránh sự lãng phí khi đất nước còn chiến tranh, Bác bí mật dặn cụ Tùng chuẩn bị sẵn gạo cùng thức ăn để đi công tác. Nhưng Bác không nói cụ thể đi đâu, đi việc gì.

Sáng 18/5/1960, trước ngày sinh nhật Bác một ngày, mọi thứ đã chuẩn bị xong, Bác và chú Tùng cùng lên xe. Xe đưa 2 bác cháu đến Sầm Sơn (Thanh Hoá) nhưng lãnh đạo nơi đây không biết. Tại đây, Bác và người cận vệ vào nghỉ trong ngôi đền Độc Cước cạnh bãi biển; tự nấu cơm cùng ăn. Sau bữa cơm, Bác lại rủ chú Tùng vào một tiệm cơm gần bãi biển để xem bà con ở đây ăn uống thế nào.

Cụ Nguyễn Tùng sinh năm 1926, quê quán xóm 12, xã Quỳnh Hậu, huyện Quỳnh Lưu (Nghệ An).

Năm 1944, cụ tham gia kháng chiến, tham gia Việt Minh bí mật. Năm 1945, cụ tham gia cướp chính quyền… Ngày 20/8/1958, cụ Tùng được lựa chọn trong số 19 người về làm cận vệ cho Hồ Chủ tịch.

Hôm đó nhà hàng nấu cơm bị khê, mặc dù vậy, Bác vẫn bình thản ăn và còn dặn chú Tùng ăn cố để tránh lãng phí. Sáng 20/5, 2 bác cháu đi tắm biển, gặp nhóm ngư dân đang kéo lưới trên biển, 2 bác cháu cũng tích cực tham gia. Buổi hôm đó, không người ngư dân nào được biết mình vừa có vinh hạnh kéo lưới cùng vị Cha già của dân tộc.

Tối hôm đó, Bác nói cùng chú Tùng: Ở Sầm Sơn cơm nấu khê quá, ăn không được thì người dân lấy sức đâu mà chiến đấu. Sáng 21/5, Bác cho gọi đồng chí Ngô Thuyên – Bí thư Tỉnh ủy Thanh Hoá lúc bấy giờ, xuống gặp.

Bác hỏi: “Cơm ở đây có ngon không?”. Đồng chí Ngô Thuyền trả lời: “Ngon lắm Bác ạ”. Bác hỏi tiếp: “Đồng chí đã ăn cơm ở đây lần nào chưa?”. “Chưa ăn lần nào Bác ạ”. “Tại sao chưa ăn mà đồng chí lại bảo là ngon?”. Lúc này đồng chí Ngô Thuyên im lặng.

Cụ Tùng trầm ngâm, 7 năm bên Bác, nhìn, xem, nghe, cảm nhận… những lời Bác nói, những việc Bác làm, mới thấu hiểu hết cái tâm của Người. “Mong rằng những người cầm bút như các anh, nghe những điều tôi tâm sự về gương Bác Hồ thì hãy viết lại, để mọi người cùng soi vào học tập…”, cụ nói, nước mắt lăn trên gò má nhăn nheo.

Ước mơ cuối đời người cận vệ

Sau những năm tháng bên Bác, năm 1982, cụ Tùng về nghỉ hưu; những kỷ niệm của 2.555 ngày bảo vệ Bác được cụ xem như những báu vật vô giá. Nay đã ở cái tuổi xưa nay hiếm, hàng ngày cụ vẫn luôn nhắc nhở con cháu học tập gương đạo đức Bác Hồ, coi đó là cái kim chỉ nam trong cuộc sống này.

Cụ Tùng mong được về thăm quê Bác lúc cuối đời. (Ảnh: Nguyễn Duy)

Hỏi về ước mơ cuối đời, cụ tâm sự: “Bao năm chiến đấu bảo vệ tổ quốc, 7 năm bảo vệ Bác là một niềm vinh hạnh lớn cho tôi. Nhưng chiến tranh đi qua để lại trong tôi biết bao đau thương. Đứa con gái út của tôi bị chất độc da cam nay đã hơn 40 tuổi vẫn phải sống một mình. Giờ chỉ mong chính quyền xã giải quyết để con tôi có chỗ nương tựa khi tôi đã qua đời”.

Chúng tôi nhìn xung quanh, thấy cận vệ năm xưa của Bác, giờ sống trong một căn nhà xập xệ, dột nát, trống hoác huơ. Bao năm nay, cụ vẫn nuôi dưỡng tinh thần bằng những vinh quang của quá khứ. Một ước mơ khác của cụ là trước khi nhắm mắt xuôi tay, được một lần về lại làng Sen quê Bác, thăm lại ngôi nhà, nơi đã sinh ra người con ưu tú của dân tộc.

Nguyễn Duy – Đình Lộc
dantri.com.vn

Chiếc áo Bác mặc ngày Quốc khánh

Trong số những hiện vật liên quan đến thời điểm lịch sử 2/9/1945, Viện Bảo tàng Cách mạng Việt Nam đặc biệt trân trọng bộ quần áo Bác Hồ đã mặc trong ngày lễ khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Bộ quần áo bạc màu, cổ sờn, ve áo hơi tù.

Ngày 23/8/1945 Hồ Chủ Tịch về đến thôn Gạ (Phú Thượng, Hà Nội), nghỉ ở đây một ngày. Hôm sau Người được trung ương và Thành uỷ bố trí đến ở tại gác hai số nhà 48 Hàng Ngang (nhà của ông Trịnh Văn Bô, một thương gia yêu nước, cơ sở tin cậy của Cách mạng). Về đến Hà Nội, Bác gầy và yếu (sau trận ốm và phải đi xa), nhưng những người xung quanh vẫn thấy đôi mắt của Người luôn sáng rực.

Bà Trịnh Văn Bô, nữ chủ nhân của ngôi nhà 48 Hàng Ngang lịch sử, kể: “Bác từ chiến khu về chỉ có một đôi dép cao su nhãn hiệu con hổ trắng, chiếc quần soóc nâu, chiếc áo sơ mi ngắn tay, một chiếc can và chiếc mũ phớt bạc màu. Hàng ngày lúc 7h, ông Vũ Đình Huỳnh đón Bác ra Bắc Bộ phủ làm việc đến chiều mới về 48 Hàng Ngang. Buổi tối, Bác thường xuyên bận vì phải hội kiến làm việc với các ông Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp, Hoàng Quốc Việt… Đêm đêm, Bác thức rất khuya đánh máy chữ. Chuông đồng hồ điểm 12 tiếng, đèn bàn của ông cụ mới tắt, nhưng 5h hôm sau đã thấy ông cụ tập thể dục ngoài ban công”.

Sau này bà Bô mới biết, khi tiếng đánh máy chữ vang lên trong đêm khuya ấy chính là lúc Bác Hồ thảo Bản hùng văn vô giá – Bản tuyên ngôn lịch sử khai sinh ra nước Việt Nam.

Thời gian này Hà Nội đang chuẩn bị cờ hoa và cả vũ khí cho ngày trọng đại sắp tới. Bước vào tuổi 91, nhưng bà Bô vẫn còn nhớ rõ những năm tháng hào hùng đó. Vào khoảng những ngày 26 – 27/8 tức là khi đã ấn định Lễ tuyên ngôn vào 2/9/1945, anh em cán bộ mới sực nhớ ra cần phải trang bị mỗi người một bộ quần áo thật tươm lúc ra mắt trên lễ đài, đặc biệt là Hồ Chủ tịch. Đa số anh em từ chiến khu trở về và kể cả Bác cũng đều ăn mặc những đồ đã cũ sờn hoặc chắp vá tạm.

Bà Bô bồi hồi nhớ lại: “Lúc bấy giờ trong tủ nhà chúng tôi có rất nhiều vải (bà Bô là nhà buôn vải), tôi lấy ra mấy súc ka ki để may cho anh em. Trong tủ có vài chục bộ quần áo khá sang trọng may sẵn mà ông Bô chưa dùng nên tôi lấy ra cho các anh mặc tạm trước. Ông Phạm Văn Đồng, rồi ông Võ Nguyên Giáp… ai mặc vừa bộ nào thì dùng bộ nấy. Nhưng tầm người như Bác Hồ không bộ nào hợp cả”.

Gần sát ngày lễ ông bà Trịnh Văn Bô đã chọn riêng loại vải kaki cốt lê của Anh và ông Vũ Đình Huỳnh, nguyên là thư ký lễ tân mang đến xin ý kiến Bác. Bác nói: “Tôi mặc xuềnh xoàng thôi. Không len, dạ đắt tiền làm gì, cốt tươm tất giản dị, không phải cà vạt cổ cồn là tốt”.

Lúc đó, ông Vũ Đình Huỳnh chợt nhớ tới một bức ảnh của Xtalin nên ướm thử với Bác may theo kiểu áo đó, cũng không có cà vạt mà oai vệ. Bác mỉm cười nói: “Nhưng mình có phải là Xtalin đâu”. Bác luôn học hỏi tinh hoa nhưng không chấp nhận bắt chước khuôn mẫu sẵn.

Cuối cùng ông Vũ Đình Huỳnh mời ông Phú Thịnh chủ hiệu may có tiếng ở phố Hàng Quạt tới và trình bày: “Tôi có người nhà là cụ lý ở quê ra thăm thủ đô, tôi muốn cắt vài bộ đồ cho cụ, nhờ anh cắt may kiểu áo bốn túi, mặc kín cổ khi có việc quan trọng, lúc thường nhật thì mở khuya áo thoải mái, đi giày đi dép đều hợp với cụ lý nhà tôi”.

Ông Phú Thịnh ngẫm nghĩ một lúc dè dặt nói: “Tôi đã mường tượng ra kiểu áo ấy rồi. Chỉ cần tính toán cái ve áo nhọn hay tù?”. Ông Phú Thịnh ngắm nghía tấm ảnh Xtalin rồi nói: “Kiểu tướng soái này oách lắm nhưng không hợp với các cụ người nhà mình. Thôi được tôi sẽ lo liệu để có bộ áo hợp ý với cụ lý”.

Hai hôm sau, ông Phú Thịnh đem hai bộ quần áo đến, cười ý nhị nói: “Tôi trộm nghĩ cụ lý này không phải là lý trưởng mà có lẽ là một cụ lý… khác thường”, ông Vũ Đình Huỳnh cười đáp lại tình cảm tinh tế của ông thợ may.

Hôm sau, lựa lúc Bác tập thể dục, tắm sáng xong, ông Vũ Đình Huỳnh đem bộ quần áo mới vào. Bác ướm thử, ngắm kỹ cổ áo và mỉm cười: “Được, thế này là hợp với mình”. Ông Vũ Đình Huỳnh lúc đó đã rất vui và thầm mỉm cười nghĩ, chỉ trong vài ngày nữa, ông Phú Thịnh sẽ vô cùng sung sướng và ngạc nhiên vinh dự khi “cụ lý” mà mình may quần áo cho lại chính là Chủ tịch Hồ Chí Minh, Người đọc Tuyên ngôn độc lập tại Vườn hoa Ba Đình để khai sinh ra một quốc gia mới – Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

Theo Báo Đất Việt

dantri.com.vn

Thư khen trung đội lão dân quân xã H. Thanh Hoá (17-10-1967)

Kính gửi Trung đội lão dân quân xã H.1) huyện Hoằng Hoá, tỉnh Thanh Hoá,

Tôi rất vui mừng được tin ngày 14 tháng 10 vừa qua, các cụ đã bắn rơi chiếc máy bay Mỹ thứ 2.400 bằng súng bộ binh.

Tôi nhiệt liệt mừng chiến công vẻ vang của các cụ. Với lòng yêu nước nồng nàn, chí cǎm thù địch sâu sắc, các cụ đã nêu cao quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược. Thật là : tuổi cao, chí càng cao. Đây là một gương sáng cho đồng bào cả nước tiến lên đưa sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước của toàn dân ta đến thắng lợi hoàn toàn.

Chúc các cụ khoẻ mạnh, tiếp tục sản xuất tốt, chiến đấu giỏi, lập những chiến công mới.

Chào thân ái và quyết thắng

Ngày 17 tháng 10 nǎm 1967
Hồ Chí Minh

———————-

Báo Nhân dân, số 4938, ngày 18-10-1967.
1) Hoằng Trường.
cpv.org.vn

Điện mừng thành công của khoa học vũ trụ Liên Xô (20-10-1967)

Kính gửi – Đồng chí L.Brêgiơnép, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô,
– Đồng chí N.Pốtgoócnưi, Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Xô viết tối cao Liên Xô,
– Đồng chí A.Côxưghin, Chủ tịch Hội đồngBộ trưởng Liên Xô,

Mátxcơva

Các đồng chí thân mến,

Trong không khí sôi nổi thi đua sản xuất và chiến đấu lấy thành tích kỷ niệm lần thứ 50 Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười vĩ đại20, nhân dân Việt Nam vô cùng phấn khởi được tin Liên Xô, lần thứ nhất trong lịch sử loài người, đã cho một trạm nghiên cứu khoa học, trạm Sao Kim 4, đổ bộ nhẹ nhàng xuống Sao Kim. Đấy là một thành công mới hết sức kỳ diệu của nền khoa học xôviết, một bước tiến dài của con người trên đường đi vào vũ trụ. Tôi rất vui mừng thay mặt nhân dân Việt Nam, Đảng Lao động Việt Nam và Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà gửi đến các đồng chí, đến nhân dân Liên Xô, Đảng Cộng sản Liên Xô và Chính phủ Liên Xô lời chúc mừng nhiệt liệt nhất.

Xin chúc nhân dân Liên Xô và các nhà bác học, kỹ sư và công nhân ngành khoa học vũ trụ Liên Xô thu được nhiều thắng lợi to lớn hơn nữa.

Kính chào cộng sản

Hà Nội, ngày 20 tháng 10 nǎm 1967
Hồ Chí Minh

——————

Báo Nhân dân, số 4941, ngày 21-10-1967.
cpv.org.vn

Thư khen quân và dân Hà Bắc (20-10-1967)

Thân ái gửi đồng bào, chiến sĩ các lực lượng vũ trang và cán bộ Hà Bắc,

Bác rất vui lòng được tin Hà Bắc đã bắn rơi 100 máy bay Mỹ.

Thay mặt Trung ương Đảng và Chính phủ, Bác gửi lời khen ngợi đồng bào các dân tộc, chiến sĩ và cán bộ Hà Bắc đã đánh giỏi, chiến thắng vẻ vang, đặc biệt là dẫn đầu các tỉnh trong việc bắt sống được nhiều giặc lái máy bay.

Giặc Mỹ bị thua nặng, nhưng chúng còn rất ngoan cố. Quân và dân Hà Bắc hãy nâng cao cảnh giác, đoàn kết chặt chẽ, tiến lên giành nhiều thắng lợi to lớn hơn nữa trong chiến đấu, sản xuất và bảo đảm giao thông vận tải.

Chào thân ái và quyết thắng

Gửi ngày 20-10-1967.
Bác Hồ

———————

Báo Nhân dân, số 4941, ngày 21-10-1967.
cpv.org.vn

Thư khen dân quân gái xã T. huyện Tĩnh Gia, Thanh Hoá (22-10-1967)

Thân ái gửi các cháu dân quân gái xã T (1), huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hoá,

Bác rất vui lòng khen ngợi các cháu đã cố gắng học tập, thi đua với các bạn dân quân gái xã H. (Hậu Lộc) và đã bắn rơi một máy bay Mỹ. Để thưởng chiến công đầu vẻ vang đó, Bác tặng mỗi cháu một huy hiệu.

Bác chúc các cháu luôn luôn cố gắng sản xuất tốt, tập luyện giỏi để thu nhiều thành tích hơn nữa.

Bác mong các đội dân quân gái các địa phương hãy ra sức thi đua với dân quân gái Hậu Lộc và Tĩnh Gia để góp phần xứng đáng với toàn quân và toàn dân ta trong sự nghiệp vĩ đại chống Mỹ, cứu nước.

Bác hôn các cháu

Ngày 22 tháng 10 nǎm 1967
Hồ Chí Minh

————————–

Báo Nhân dân, số 4950, ngày 30-10-1967.
1) Xã Thanh Thuỷ.
cpv.org.vn

Thư khen quân và dân Hà Nội (27-10-1967)

Thân ái gửi chiến sĩ các lực lượng vũ trang, đồng bào và cán bộ Hà Nội,

Bác rất vui lòng khen ngợi chiến sĩ các lực lượng vũ trang, đồng bào và cán bộ Hà Nội đã liên tiếp chiến thắng vẻ vang, trong bốn ngày bắn rơi 30 máy bay Mỹ, bắt sống nhiều giặc Mỹ lái máy bay.

Một lần nữa giặc Mỹ lại liều lĩnh đánh phá Thủ đô thân yêu của chúng ta. Chúng đã bị quân và dân Hà Nội anh hùng trừng trị đích đáng.

Trong cơn khốn quẫn, giặc Mỹ giở mọi thủ đoạn tàn bạo hòng gỡ thế bí. Nhưng chúng càng gây thêm tội ác thì quân và dân ta càng cǎm thù, càng quyết tâm đánh thắng chúng.

Quân và dân Hà Nội hãy luôn luôn cảnh giác, đoàn kết chặt chẽ, chiến đấu dũng cảm, bền bỉ, mưu trí, làm tốt công tác phòng không nhân dân hơn nữa, cùng với quân và dân cả nước anh dũng tiến lên, quyết đánh thắng hoàn toàn giặc Mỹ xâm lược.

Chào thân ái và quyết thắng

Ngày 27 tháng 10 nǎm 1967
Bác Hồ

———————–

Báo Nhân dân, số 4948, ngày 28-10-1967.
cpv.org.vn

Đoàn kết: Chúng ta là sức mạnh!

Khi Bác Hồ nói: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết; thành công, thành công, đại thành công”, chúng ta đều hiểu rằng: Đoàn kết là cái gốc của thành công.

Cũng nói về vấn đề này, từ xa xưa dân gian có câu: “thuận vợ thuận chồng, biển Đông tát cạn – Thuận bè thuận bạn, tát cạn biển Đông”. Vậy là câu ca dao cổ này đã dậy cho ta thêm một tác dụng nữa: Đoàn kết là động lực của thành công!

Nhưng, Đoàn kết chỉ thực sự là cái gốc, là động lực của thành công, khi đó là thứ Đoàn kết thực lòng; Đoàn kết mang tính chiến lược, chứ không mang tính chiến thuật (tiếc thay, người ta lại hay lạm dụng cái chiến thuật này trong ứng xử với đồng bào, đồng chí!).

Trong thực tế lịch sử Dân tộc ta, “Đoàn kết” không chỉ là cái gốc, là động lực; mà Đoàn kết còn là mục tiêu của cuộc sống nữa: thương yêu, đùm bọc trong tình đồng loại, trong “tình làng nghĩa xóm”,… vốn là truyền thống nhiều đời của Con Người Việt Nam. Đó chính là tầm cao hơn của Đoàn kết; là tính xã hội rộng nhất, tính nhân văn sâu sắc nhất, tính không vụ lợi rõ rệt nhất và cũng là tình Người cao cả nhất!

Và mục tiêu Đoàn kết chỉ và chỉ thực hiện được trong môi trường Dân chủ, Bình đẳng; đương nhiên là Dân chủ thật sự, Bình đẳng thật sự. Dân chủ, Bình đẳng là điều kiện tiên quyết để có Đoàn kết. Không có Dân chủ thì không thể có Bình đẳng; không có Dân chủ, Bình đẳng thì không thể có Đoàn kết. Đó là chân lý vĩnh cửu! Không ai khác, chính Bác Hồ đã từng nhấn mạnh trong “Di Chúc”: “Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất trong Đảng”.

Tư tưởng Dân chủ của Đảng và Bác Hồ trước hết cần được thể hiện trong tất cả các hoạt động của Quốc Hội – cơ quan quyền lực cao nhất của Nhân Dân. Tiếc rằng cho đến nay, điều đó chưa thực hiện được là bao! Chúng ta hãy nghe tâm sự của giáo sư Nguyễn Lân Dũng, vị đại biểu quốc hội nổi tiếng “dám nói”, khi phóng viên báo Dân trí phỏng vấn ông (ngày 8 tháng 1 năm 2008):

PV: Ông có thể cho những ví dụ cụ thể về sự chưa dân chủ trong hoạt động Quốc hội ?

Đại biểu Nguyễn Lân Dũng: Không ít đâu. Ví như việc bầu các chức danh chẳng hạn. Khi không có số dư thì không có sự lựa chọn nào khác mà không có sự lựa chọn khác thì sao gọi là dân chủ được? Tôi biết rằng khi có người được đề cử xin rút khỏi danh sách đề cử thì nhẽ ra phải được Quốc hội thảo luận có đồng ý cho rút hay không? Rồi việc dự thảo các văn bản luật lại giao cho các Bộ, Ngành chủ trì thì làm sao tránh khỏi sự chủ quan và phiến diện? Cũng cần nói thêm là cho đến giờ, chưa có một luật nào được soạn thảo từ ý kiến của Đại biểu Quốc hội, chưa có đại biểu nào phát hiện được một vụ tiêu cực cụ thể nào và cũng chưa lần nào Quốc hội thực hiện được việc bỏ phiếu bất tín nhiệm đối với những chức danh do Quốc hội phê chuẩn. Điều này rõ ràng là luật chưa đi vào cuộc sống và cũng không thể nói những hiện tượng nêu trên đã là thực sự dân chủ.

Nhưng, công bằng mà nói, chính ngay một số vị đại biểu Quốc hội, nhiều khi cũng không thực thi quyền dân chủ của mình trong vai trò đại diện cho Dân, nói lên tiếng nói dân chủ của Cử tri. Tại phiên họp Thường vụ Quốc hội (khoá XI) ngày 3 tháng 5 năm 2006, Chủ tịch Nguyễn Văn An đã phải nói: “… chúng ta chưa làm cho các đại biểu QH có dũng khí, sự mạnh dạn để dám nói…” (Báo Thanh Niên số 124 ngày 4/5/2006). Làm sao mà người “đại diện cho quyền lực của Dân” lại yếu đuối đến thế? Khi Cử tri tín nhiệm bầu một người vào Quốc hội, thì nhất định người đó phải có đủ trình độ kiến thức và sự dũng cảm cần thiết, để nói được tiếng nói của Dân, thực thi quyền lực của Dân trong việc giám sát các hoạt động của Chính phủ. Không làm được như thế thì tham gia Quốc hội để làm gì? Đại biểu Quốc hội là phải biết “giơ tay” biểu quyết, tức là biết thể hiện chính-kiến-của-cử-tri. Nhưng trước khi “giơ tay”, cần phải biết thảo luận, tranh luận để tìm ra chân lý của vấn đề. Nếu không, sẽ chỉ là một dạng khác của… “nghị gật”!

Mặt khác, công việc điều khiển các cuộc thảo luận, tranh luận ở Quốc hội, phải mang tính định hướng tư duy, chứ không áp đặt tư duy. Càng không thể là thầy giáo hướng dẫn học trò thảo luận bài học! Đấy chính là Dân chủ trong hoạt động Quốc hội!

Đến đây, cũng cần nhắc lại một chút Lịch sử: ở nước ta, người đề cập và hô hào sớm nhất vấn đề Dân quyền, chính là cụ Phan Tây Hồ. Theo cụ, “Dân chủ vừa là phương pháp để tự cường, vừa là cứu cánh, là mục đích tự nó nữa”. Cái lý để cụ Phan coi trọng Dân chủ là: “Quốc tương hưng tắc thỉnh chư Dân!”. Điều đó chứng minh cuộc đấu tranh cho Dân chủ ở nước ta đã được các bậc Cách mạng tiền bối chú trọng từ rất sớm. “Dân chủ” chính là mục tiêu đầu tiên, trước hết của cuộc đấu tranh giải phóng Dân tộc, giành độc lập cho Tổ quốc.

Không phải ngẫu nhiên khi cách mạng Tháng Tám (1945) thành công, Bác Hồ lại đặt tên nước là Việt Nam Dân chủ Cộng hòa… Trong đó, yếu tố Dân chủ được đặt lên trước tiên!

Một chế độ Dân chủ trong một nền Cộng hòa, là sự đảm bảo chắc chắn cho một Nhà nước Độc lập và một cuộc sống Tự do Hạnh phúc cho Nhân dân, ít nhất cũng là điều đúng đắn ở thời điểm ấy.

Dân chủ để Đoàn kết, Đoàn kết trong Dân chủ – đó là kỳ vọng hàng đầu mang tính thời đại; là sức mạnh vô địch của tư tưởng Hồ Chí Minh!

Trần Huy Thuận

LTS Dân trí – Nhà nước thật sự của dân, do dân và vì dân thì bao giờ cũng chủ trương “thực hành dân chủ rộng rãi” đúng như tư tưởng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tư tưởng ấy được thể hiện rõ từ những ngày đầu Cách mạng Tháng Tám, như tác giả bài viết trên đây đã phân tích và khẳng định..

Xã hội càng tiến lên thì nội hàm dân chủ càng phong phú và đa dạng hơn; cách thức thực hiện rộng rãi dân chủ cũng phải đổi mới kịp với xu thế phát triển. Chỉ có như vậy mới bảo đảm được sự đoàn kết rộng rãi và thật lòng của mọi người trong xã hội để cùng phấn đấu cho mục tiêu chung là “dân giầu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.

Đối chiếu với tình hình thực tế, còn nhiều điều bất cập trong việc “thực hành dân chủ rộng rãi”; một mặt vì quyền dân chủ của người dân trong các lĩnh vực hoạt động chưa được thể chế hóa một cách đúng đắn và đầy đủ; mặt khác, nhiều nơi nhiều lúc cách thức tổ chức “thực hành dân chủ rộng rãi” còn nặng về “hình thức” mà chưa đi vào thực chất.

dantri.com.vn.vn

Cách mạng Tháng Mười vĩ đại mở ra con đường giải phóng cho các dân tộc (1-11-1967)

Cùng với nhân dân Liên Xô và nhân dân lao động toàn thế giới, nhân dân Việt Nam đang sôi nổi chào mừng ngày kỷ niệm lần thứ 50 cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại.

Trong cao trào chống Mỹ, cứu nước, với quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội trên đất nước mình, nhân dân Việt Nam nhiệt liệt hướng về Liên Xô, quê hương của Lênin vĩ đại và của Cách mạng Tháng Mười vẻ vang, đầy lòng biết ơn và tin tưởng.

Giống như mặt trời chói lọi, Cách mạng Tháng Mười chiếu sáng khắp nǎm châu, thức tỉnh hàng triệu hàng triệu người bị áp bức, bóc lột trên trái đất. Trong lịch sử loài người chưa từng có cuộc cách mạng nào có ý nghĩa to lớn và sâu xa như thế.

Cách mạng Tháng Mười là thắng lợi đầu tiên của chủ nghĩa Mác và học thuyết Lênin ở một nước lớn là Liên Xô, rộng một phần sáu thế giới. Đó là thắng lợi vĩ đại nhất của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và các dân tộc bị áp bức do giai cấp công nhân và đội quân tiên phong của họ là Đảng bônsêvích lãnh đạo. Cách mạng Tháng Mười đã dùng bạo lực cách mạng đánh đổ giai cấp tư sản và giai cấp phong kiến địa chủ, lập nên chính quyền của những người lao động, xây dựng một xã hội hoàn toàn mới, một xã hội không có người bóc lột người.

Cách mạng Tháng Mười mở ra con đường giải phóng cho các dân tộc và cả loài người, mở đầu một thời đại mới trong lịch sử, thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên toàn thế giới.

Về ý nghĩa lịch sử của Cách mạng Tháng Mười, Lênin nói:

“Chúng ta có quyền tự hào và thực thế, chúng ta tự hào là chúng ta có vinh hạnh được bắt đầu xây dựng Nhà nước xôviết và do đó, mở đầu một thời đại mới trong lịch sử thế giới, thời đại thống trị của giai cấp mới, giai cấp bị áp bức trong tất cả các nước tư bản chủ nghĩa và ở bất cứ nơi nào cũng đang tiến tới một cuộc đời mới, tiến tới chiến thắng giai cấp tư sản, tiến tới chuyên chính của giai cấp vô sản, tiến tới giải phóng loài người khỏi ách tư bản, khỏi những cuộc chiến tranh đế quốc chủ nghĩa”2.

Tình hình thế giới trong 50 nǎm qua, đã chứng minh hùng hồn nhận định thiên tài ấy của Lênin. Thật vậy, từ Cách mạng Tháng Mười, trên thế giới đã diễn ra rất nhiều sự biến đổi cách mạng cực kỳ to lớn!

Liên Xô, Nhà nước chuyên chính vô sản đầu tiên, đã tỏ ra có sức mạnh phi thường. Ngay từ khi mới thành lập, Liên Xô chẳng những đập tan được bọn phản cách mạng trong nước, mà còn đánh thắng cuộc can thiệp vũ trang của 14 nước đế quốc21 chưa đầy 30 nǎm sau lại đánh thắng hoàn toàn bọn phát xít Đức -ý – Nhật, chẳng những bảo vệ được Nhà nước xôviết mình mà còn góp phần to lớn giải phóng nhiều nước khác, cứu cả loài người khỏi ách nô lệ của chủ nghĩa phát xít.

Mặc dù bị chiến tranh tàn phá nặng nề và chịu đựng muôn nghìn gian khổ, hy sinh (20 triệu người chết, 1.710 đô thị bị tàn phá và hơn 3 vạn xí nghiệp bị hư hại), do sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng và sự cố gắng phi thường của toàn dân, chỉ trong mấy nǎm, Liên Xô đã phấn đấu vô cùng anh dũng, hàn gắn lại vết thương của chiến tranh, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và tiến lên xây dựng cơ sở vật chất và kỹ thuật của chủ nghĩa cộng sản, Liên Xô đã trở thành một nước công nghiệp lớn có một nền khoa học và kỹ thuật hiện đại bậc nhất trên thế giới và là nước đầu tiên đã mở đường chinh phục vũ trụ.

Sau Cách mạng Tháng Mười Nga, thắng lợi của cách mạng Trung Quốc cũng có ý nghĩa quốc tế cực kỳ quan trọng. Đó là một thắng lợi vĩ đại mới của chủ nghĩa Mác – Lênin ở một nước nửa thuộc địa và nửa phong kiến với 700 triệu dân do Đảng Cộng sản Trung Quốc lãnh đạo. Chưa đầy 20 nǎm, từ một nước nông nghiệp lạc hậu bị bọn đế quốc nước ngoài cùng bọn tư sản quan liêu và địa chủ phong kiến trong nước áp bức, bóc lột nặng nề, Trung Quốc đã vùng dậy giành lại và củng cố nền độc lập dân tộc, xây dựng chủ nghĩa xã hội và ngày nay đã trở thành một nước lớn có công nghiệp hiện đại, nông nghiệp phát triển, khoa học và kỹ thuật tiên tiến.

Thắng lợi của cách mạng giải phóng dân tộc và cách mạng xã hội chủ nghĩa ở các nước Ba Lan, Bungari, Cộng hoà Dân chủ Đức, Hunggari, Rumani, Tiệp Khắc, Anbani, Mông Cổ, Triều Tiên, Cuba và Việt Nam cũng có ý nghĩa lịch sử rất to lớn.

Với tất cả những thắng lợi nói trên, đã hình thành một hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới, kéo liền từ Trung – Âu đến Đông – Namá và một tiền đồn xã hội chủ nghĩa đầu tiên ở Mỹ latinh. Phe xã hội chủ nghĩa được thành lập và ngày càng lớn mạnh. Đó là nhân tố quyết định sự phát triển của cách mạng thế giới và tương lai tươi sáng của loài người.

Được Cách mạng Tháng Mười Nga và các nước xã hội chủ nghĩa cổ vũ và giúp đỡ, phong trào cách mạng của giai cấp công nhân ở các nước tư bản và phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa đang dâng lên mạnh mẽ và ngày càng phát triển với quy mô chưa từng thấy. Khắp châuá, châu Phi và Mỹ latinh, phong trào giải phóng dân tộc nổi lên như vũ bão, làm tan rã từng mảng hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc, mở đường cho hàng trǎm triệu người thoát khỏi xiềng xích nô lệ và tiến lên độc lập, tự do.

Lực lượng của phe xã hội chủ nghĩa, phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân ở các nước tư bản chủ nghĩa và phong trào cách mạng giải phóng dân tộc, cả ba lực lượng cách mạng vĩ đại đó hợp lại thành một sức mạnh vô cùng to lớn, liên tục đánh vào những dinh luỹ của chủ nghĩa đế quốc do đế quốc Mỹ cầm đầu. Hình thế chung hiện nay trên thế giới là các lực lượng cách mạng và yêu chuộng hoà bình đã mạnh hơn các lực lượng đế quốc chủ nghĩa, phản động và gây chiến. Nói chung, cách mạng thế giới đang ở thế tiến công, ngày càng lớn mạnh và thắng lợi. Trái lại, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động khác đang ở vào thế phòng ngự, ngày càng suy yếu, thất bại và sẽ đi đến diệt vong.

Chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản từ chỗ chỉ là một ước mơ cao đẹp của loài người, sau Cách mạng Tháng Mười vĩ đại đã trở thành một hiện thực trong xã hội, có sức mạnh vô cùng to lớn lôi cuốn hàng nghìn triệu người vào hành động cách mạng, vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.

Thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Mười đã dạy cho giai cấp công nhân, nhân dân lao động và các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới nhiều bài học hết sức quý báu, bảo đảm cho sự nghiệp giải phóng triệt để của giai cấp công nhân và của cả loài người. Giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam ngày càng thấm nhuần những lời dạy của Lênin và những bài học lớn của Cách mạng Tháng Mười.

– Cần có sự lãnh đạo của một đảng cách mạng chân chính của giai cấp công nhân, toàn tâm toàn ý phục vụ nhân dân. Chỉ có sự lãnh đạo của một đảng biết vận dụng một cách sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể của nước mình thì mới có thể đưa cách mạng giải phóng dân tộc đến thắng lợi và cách mạng xã hội chủ nghĩa đến thành công.

– Thực hiện cho được liên minh công nông vì đó là sự bảo đảm chắc chắn nhất những thắng lợi của cách mạng. Chỉ có khối liên minh công nông do giai cấp công nhân lãnh đạo mới có thể kiên quyết và triệt để đánh đổ các thế lực phản cách mạng, giành lấy và củng cố chính quyền của nhân dân lao động, hoàn thành nhiệm vụ lịch sử của cách mạng dân tộc, dân chủ và tiến lên chủ nghĩa xã hội.

Dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân và trên cơ sở liên minh công nông ngày càng vững chắc, trong mỗi giai đoạn cách mạng, cần tập hợp mọi lực lượng cách mạng và tiến bộ thành một mặt trận rộng rãi, thực hiện thống nhất hành động dưới nhiều hình thức giữa các lực lượng ấy để chống kẻ thù chung.

– Trong cuộc đấu tranh gian khổ chống kẻ thù của giai cấp và của dân tộc, cần dùng bạo lực cách mạng chống lại bạo lực phản cách mạng, giành lấy chính quyền và bảo vệ chính quyền.

Tuỳ tình hình cụ thể mà quyết định những hình thức đấu tranh cách mạng thích hợp, sử dụng đúng và khéo kết hợp các hình thức đấu tranh vũ trang và đấu tranh chính trị để giành thắng lợi cho cách mạng.

– Không ngừng tǎng cường và củng cố nền chuyên chính vô sản. Sau khi đã giành được chính quyền thì nhiệm vụ hàng đầu của giai cấp công nhân là phải tǎng cường nền chuyên chính vô sản để hoàn thành những nhiệm vụ lịch sử của cách mạng, triệt để xoá bỏ chế độ người bóc lột người, xây dựng quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, xây dựng chủ nghĩa xã hội để tiến lên chủ nghĩa cộng sản.

– Trong cuộc đấu tranh một mất một còn giữa một bên là giai cấp công nhân, nhân dân lao động và các dân tộc bị áp bức với một bên là bọn đế quốc cùng bè lũ tay sai bán nước, bọn phong kiến địa chủ và tư sản phản động, nhân dân các nước cần có tinh thần cách mạng triệt để, luôn luôn giương cao ngọn cờ của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, không sợ gian khổ, hy sinh, kiên quyết đấu tranh đến cùng vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

– Kết hợp chặt chẽ lòng yêu nước với tinh thần quốc tế vô sản trong cách mạng giải phóng dân tộc cũng như trong cách mạng xã hội chủ nghĩa. Trong thời đại ngày nay, cách mạng giải phóng dân tộc là một bộ phận khǎng khít của cách mạng vô sản trong phạm vi toàn thế giới; cách mạng giải phóng dân tộc phải phát triển thành cách mạng xã hội chủ nghĩa thì mới giành được thắng lợi hoàn toàn. Thắng lợi của cuộc đấu tranh vì độc lập, tự do của các dân tộc gắn liền với sự ủng hộ và giúp đỡ tích cực của phe xã hội chủ nghĩa và của phong trào công nhân ở các nước tư bản chủ nghĩa.

“Giai cấp vô sản và các dân tộc bị áp bức đoàn kết lại!”, Lời kêu gọi thiêng liêng ấy của Lênin còn vang mãi bên tai chúng ta, nhắc nhở chúng ta luôn luôn bảo vệ và tǎng cường tình đoàn kết vĩ đại giữa các lực lượng cách mạng vì lợi ích chung của giai cấp công nhân và của loài người.

Trên đây là tóm tắt những kinh nghiệm thực tiễn của cách mạng Việt Nam chúng tôi.

*

*      *

Việt Nam có câu tục ngữ: “Uống nước nhớ nguồn”. Càng nhớ lại những ngày tủi nhục mất nước, nhớ lại mỗi bước đường đấu tranh cách mạng đầy hy sinh, gian khổ mà cũng đầy thắng lợi vẻ vang thì giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam càng thấm thía công ơn to lớn của Lênin và Cách mạng Tháng Mười.

Trước Cách mạng Tháng Mười, nhân dân Việt Nam bị bọn đế quốc thực dân bưng tai bịt mắt, chưa hiểu gì về chủ nghĩa Mác và cũng chưa nghe nói đến Lênin. Với thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười vĩ đại chấn động thế giới, chủ nghĩa Mác – Lênin dần dần được truyền bá ở Việt Nam. Đầu nǎm 1930, Đảng Cộng sản Đông Dương (tức Đảng Lao động Việt Nam ngày nay) ra đời22, phất caongọn cờ lãnh đạo cách mạng. Một phong trào giải phóng dân tộc sôi nổi dâng lên, đến đỉnh cao nhất là Xôviết Nghệ – Tĩnh (1930-1931)23. Từ đó, giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam đã tìm thấy con đường giải phóng của mình. Bất chấp chính sách khủng bố đẫm máu của bọn thực dân, nhân dân Việt Nam vẫn kiên quyết tiến lên. Tháng Tám nǎm 1945, thừa dịp quân đội xôviết anh hùng đánh thắng bọn phát xít Đức và bọn phát xít Nhật, Đảng Cộng sản Đông Dương đã lãnh đạo toàn dân khởi nghĩa, giành chính quyền trong cả nước, đánh đổ phát xít Nhật và bè lũ tay sai, thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Cách mạng Tháng Tám Việt Nam là một cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đầu tiên thắng lợi ở Đông – Namá. Mới giành được chính quyền còn non trẻ chưa đầy một tháng, chưa có thời gian để tổ chức và củng cố lực lượng của mình, nhân dân Việt Nam chỉ có gậy tầm vông làm vũ khí, đã phải tiến hành một cuộc kháng chiến lâu dài và anh dũng chống bọn thực dân Pháp xâm lược có đế quốc Mỹ giúp sức và cuối cùng đã giành được thắng lợi vĩ đại ở Điện Biên Phủ, giải phóng hoàn toàn miền Bắc. Hiệp định Giơnevơ nǎm 1954 được ký kết, chính thức thừa nhận những chủ quyền dân tộc thiêng liêng của nhân dân Việt Nam là: độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ. Từ nǎm 1954, nhân dân Việt Nam tiến hành hai nhiệm vụ chiến lược cách mạng: cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đồng thời đấu tranh yêu nước để giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai, tiến tới thực hiện thống nhất nước nhà.

Cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc đã giành được những thắng lợi to lớn. Sau khi hoàn thành thắng lợi cải cách ruộng đất, Đảng Lao động Việt Nam đã lãnh đạo nhân dân tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với nông nghiệp, thủ công nghiệp, công thương nghiệp tư bản chủ nghĩa và thương nghiệp nhỏ, xây dựng quan hệ sản xuất mới, xoá bỏ chế độ người bóc lột người. Cơ sở vật chất và kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội được xây dựng từng bước, sản xuất nông nghiệp và công nghiệp không ngừng phát triển, mức sống vật chất của nhân dân ngày càng được nâng cao. Về mặt vǎn hoá, đã xoá xong nạn mù chữ và mở rộng sự nghiệp giáo dục.

Trong những nǎm đó, ở miền Nam, mặc dù đế quốc Mỹ và bọn bù nhìn bán nước ra sức khủng bố và tàn sát dã man, đồng bào miền Nam Việt Nam chúng tôi không hề khuất phục, trái lại vẫn tiếp tục cuộc đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang cực kỳ anh dũng. Nhân dân miền Nam Việt Nam đã đánh thắng cuộc “chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ và đang đánh thắng cuộc “chiến tranh cục bộ” của chúng, một cuộc chiến tranh xâm lược vô cùng tàn bạo, với hơn một triệu quân gồm có gần 50 vạn quân viễn chinh Mỹ và hơn nửa triệu quân nguỵ và quân chư hầu, với hàng nghìn máy bay, hàng trǎm tàu chiến, hàng triệu tấn vũ khí hiện đại và những phương tiện chiến tranh dã man nhất: những chất độc hoá học, hơi độc, những bom napan, bom bi, v.v.. Dã man hơn cả bọn phát xít Hítle trước kia, chúng thi hành khắp nơi chính sách đốt sạch, phá sạch, giết sạch. Hòng gỡ thế bị sa lầy ở miền Nam Việt Nam, đế quốc Mỹ tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại bằng máy bay và tàu chiến ngày càng ác liệt đối với miền Bắc chúng tôi. Chúng bắn phá các đường giao thông, các khu công nghiệp, các vùng đông dân cư ở thành thị và nông thôn, các nhà thương, trường học, nhà thờ, đền chùa, đê đập, v.v.. Bằng bom đạn, chúng lầm tưởng có thể làm nhụt lòng yêu nước và phá hoại tinh thần đoàn kết chiến đấu thiêng liêng của nhân dân Việt Nam ở cả hai miền. Nhưng vì độc lập và tự do của Tổ quốc mình, 31 triệu nhân dân Việt Nam đoàn kết một lòng quyết tâm chống Mỹ, cứu nước, quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược.

Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam đã giành được nhiều thắng lợi to lớn. Trên chiến trường miền Nam, chỉ tính trong hai mùa khô vừa qua, số quân địch bị tiêu diệt là 290.000, trong đó có 128.000 quân Mỹ và chư hầu. Chiến dịch mùa khô trước (1965-1966), tổng số quân Mỹ, quân nguỵ và chư hầu là 700.000, đã bị Quân giải phóng và quân du kích miền Nam đánh, loại ra ngoài vòng chiến đấu 114.000 tên. Chiến dịch mùa khô 1966-1967, tổng số quân địch là 1.200.000 tên, đã bị loại ra ngoài vòng chiến đấu 175.000 tên.

Ở miền Bắc, từ tháng 8 nǎm 1964 đến tháng 9 nǎm 1967, hơn 2.300 máy bay Mỹ bị hạ. Rõ ràng, đế quốc Mỹ càng tǎng thêm quân xâm lược thì thất bại của chúng càng nặng nề. Mặc dù còn nhiều gian khổ, hy sinh, nhân dân Việt Nam càng đánh càng mạnh và nhất định sẽ thắng lợi hoàn toàn.

Vì sao cách mạng Việt Nam đã giành được thắng lợi to lớn như vậy? Vì sao nhân dân Việt Nam nhất định sẽ đánh thắng giặc Mỹ xâm lược được trang bị mạnh mẽ hơn nhiều ?

Đó là do sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng Lao động Việt Nam và của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam. Đảng Lao động Việt Nam khi định ra đường lối chính trị của mình, luôn luôn cố gắng kết hợp chân lý phổ biến của chủ nghĩa Mác – Lênin với thực tiễn cách mạng Việt Nam, đồng thời khiêm tốn học tập kinh nghiệm quý báu của các đảng anh em. Đảng chúng tôi luôn luôn coi trọng việc giáo dục cán bộ, đảng viên và nhân dân nâng cao tinh thần triệt để cách mạng, tinh thần dũng cảm hy sinh vì lợi ích của giai cấp và của dân tộc. Đảng chúng tôi luôn luôn giữ vững quan hệ khǎng khít với quần chúng. Do đó, Đảng được nhân dân hết lòng tin yêu và ủng hộ; đường lối, chính sách của Đảng được nhân dân ra sức thực hiện. Đảng chúng tôi đã xây dựng được Mặt trận dân tộc thống nhất chống chủ nghĩa đế quốc dựa trên cơ sở liên minh công nông. Mặt trận đó bao gồm các đảng phái dân chủ, các đoàn thể nhân dân, các tổ chức tôn giáo, các dân tộc cùng nhau phấn đấu dưới sự lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam để thực hiện Cương lĩnh chung của Mặt trận, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh.

Đảng chúng tôi biết sử dụng các hình thức đấu tranh cách mạng tuỳ theo tình hình cụ thể của phong trào, đặc biệt là kết hợp đấu tranh vũ trang với đấu tranh chính trị, tiến hành cuộc chiến tranh nhân dân lâu dài, gian khổ và anh dũng để đánh thắng quân xâm lược.

Đảng chúng tôi luôn luôn giáo dục cho cán bộ, đảng viên và cho quần chúng nhân dân lòng yêu nước chân chính và chủ nghĩa quốc tế vô sản, luôn luôn tǎng cường đoàn kết hữu nghị với Liên Xô, nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa và các nước anh em khác. Đảng chúng tôi chủ trương dựa vào sức mình là chính, đồng thời tranh thủ sự ủng hộ và giúp đỡ tích cực của các nước xã hội chủ nghĩa anh em và của nhân dân yêu chuộng hoà bình và công lý trên toàn thế giới, kể cả nhân dân tiến bộ Mỹ.

Qua kinh nghiệm của bản thân mình, nhân dân Việt Nam tin tưởng chắc chắn rằng trong điều kiện thuận lợi cho phong trào cách mạng của thời đại ngày nay, bất cứ một dân tộc nào dù nhỏ nhưng nếu đoàn kết chặt chẽ và kiên quyết chiến đấu theo đường lối chính trị và quân sự đúng đắn, lại được sự ủng hộ và giúp đỡ tích cực của phe xã hội chủ nghĩa và của nhân dân cách mạng trên thế giới, thì nhất định có thể đánh thắng bất cứ bọn đế quốc xâm lược nào, kể cả tên đế quốc đầu sỏ là đế quốc Mỹ.

*

*      *

Đi theo con đường do Lênin vĩ đại đã vạch ra, con đường của Cách mạng Tháng Mười, nhân dân Việt Nam đã giành được thắng lợi rất to lớn. Chính vì vậy mà mối tình gắn bó và lòng biết ơn của nhân dân Việt Nam đối với Cách mạng Tháng Mười vẻ vang, đối với Lênin vĩ đại và đối với nhân dân Liên Xô là vô cùng sâu sắc.

Nhân dân Việt Nam luôn luôn nhớ rằng những thắng lợi của mình không tách rời sự giúp đỡ to lớn của Liên Xô, của nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa và các nước xã hội chủ nghĩa anh em khác, không tách rời sự ủng hộ tích cực của nhân dân tiến bộ toàn thế giới.

Nhân dịp kỷ niệm lần thứ 50 cuộc Cách mạng Tháng Mười vẻ vang, thay mặt toàn thể nhân dân Việt Nam, tôi tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với Đảng của Lênin và nhân dân Liên Xô anh em đã hết lòng giúp đỡ cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân chúng tôi.

Trong niềm vui chung của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và các dân tộc bị áp bức trên thế giới, chúc mừng lễ kỷ niệm lần thứ 50 cuộc Cách mạng Tháng Mười vĩ đại, nhân dân Việt Nam xin chúc nhân dân Liên Xô anh em lập thêm nhiều thành tích rực rỡ trong sự nghiệp xây dựng cơ sở vật chất và kỹ thuật của chủ nghĩa cộng sản và ngày càng phát huy vai trò to lớn của mình trong cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới chống chủ nghĩa đế quốc, vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội.

Chủ nghĩa Mác – Lênin muôn nǎm!

Tình đoàn kết anh em giữa nhân dân Việt Nam và nhân dân Liên Xô muôn nǎm!

Tình đoàn kết anh em trong đại gia đình các nước xã hội chủ nghĩa và trong phong trào cộng sản quốc tế muôn nǎm!

Hồ Chí Minh

————————

1) Bài viết cho báo Pravđa (Liên Xô) nhân kỷ niệm lần thứ 50 Cách mạng Tháng Mười Nga.
1*. V.I.Lênin: Toàn tập, bản tiếng Pháp, Nxb. Xã hội, Pari và Nxb. Ngoại vǎn, Mátxcơva, 1961, t.33, tr.47.

Báo Nhân dân, số 4952, ngày 1-11-1967.
cpv.org.vn

Thư khen quân và dân Nghệ An (5-11-1967)

Thân ái gửi chiến sĩ các lực lượng vũ trang, đồng bào và cán bộ Nghệ An,

Bác rất vui lòng khen ngợi quân và dân Nghệ An đã bắn rơi 300 máy bay Mỹ, góp phần xứng đáng vào thắng lợi chung của cả nước.

Nghệ An đã đánh thắng vẻ vang ngay từ trận đầu cuộc chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ, lại là tỉnh thứ hai trên miền Bắc bắn rơi nhiều máy bay Mỹ nhất. Quân và dân tỉnh ta thật xứng đáng với truyền thống Xôviết Nghệ – Tĩnh anh hùng.

Giặc Mỹ đã thua to nhưng chúng còn nhiều âm mưu độc ác. Sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta còn khó khǎn gian khổ nhưng nhất định thắng lợi. Đồng bào và chiến sĩ Nghệ An hãy nêu cao cảnh giác, đoàn kết chặt chẽ, thi đua với các tỉnh bạn, chiến đấu giỏi, sản xuất giỏi, làm tốt công tác giao thông vận tải và phòng không nhân dân, cùng với quân và dân cả nước kiên quyết đánh thắng hoàn toàn giặc Mỹ xâm lược.

Bác Hồ

————————-

Báo Nhân dân, số 4956, ngày 5-11-1967.
cpv.org.vn