Tag Archive | Quân sự

Ký ức 12 ngày hoa – lửa

Những ngày này cách đây 40 năm, người dân thủ đô Hà Nội đã sống trong không khí hào hùng của trận Điện Biên Phủ trên không. Ký ức về những ngày ấy vẫn sống động trong nhiều người.

Chiến dịch rải thảm bom bằng máy bay B52 của không lực Mỹ vào cuối tháng 12-1972 đã khiến Hà Nội từ vị trí hậu phương trở thành tiền tuyến. Một nơi thanh bình như Ngọc Hà, làng hoa nổi tiếng nhất ở Hà Nội, cũng trở thành mục tiêu bắn phá. 38 năm sau, chúng tôi đã tìm gặp vợ chồng ông Nguyễn Chí Hiền và bà Phạm Thị Quy, những nhân chứng của sự kiện Điện Biên Phủ trên không.

Vợ chồng ông Nguyễn Chí Hiền và bà Phạm Thị Quy, những nhân chứng của sự kiện Điện Biên Phủ trên không

Làng hoa thành lũy thép

Đến Ngọc Hà, chúng tôi vẫn được nghe những câu chuyện về trận chiến kéo dài 12 ngày đêm này. Hàng trăm người thiệt mạng trong những ngày máy bay Mỹ trút bom xuống Hà Nội. Bà Phạm Thị Quy nhớ lại: “Sáng 27-12-1972, một chiếc B52 rơi xuống hồ Hữu Tiệp, bom cũng rơi vãi khắp làng. May mắn là không quả nào nổ, chỉ có một quả rơi trúng hầm trú ẩn làm 2 người dân thiệt mạng. Sáng hôm sau, Đại tướng Võ Nguyên Giáp về làng thăm hỏi chúng tôi và ca ngợi chiến công của bộ đội ta. Lúc ấy, Mỹ đã sắp thua trận Điện Biên Phủ trên không”.

Ngày ấy, bà Quy chưa đầy 30 tuổi, tham gia lực lượng dân quân của làng Ngọc Hà bảo vệ Hà Nội. Bà Quy bồi hồi: “Có hơn 90 quả bom từ xác chiếc máy bay này rơi vãi khắp làng, quả cắm sâu xuống lòng đất, quả nằm ngay trên đường làng… Hôm đó, bộ đội công binh được cử đến giúp dân tháo gỡ bom mìn, phải đến một tuần sau mới dọn sạch”. Tháng 12-1972, làng hoa giữa lòng thủ đô cũng trở thành lũy thép và mỗi người dân đều là một chiến sĩ.

Trong bản anh hùng ca của người Hà Nội, có nhiều câu chuyện xúc động đã được viết thành tiểu thuyết, dựng thành phim. Bà cụ gần 70 tuổi vừa kể cho chúng tôi câu chuyện về ngôi làng của bà cũng có một chuyện tình gắn chặt với trận đánh trên bầu trời thủ đô năm nào.

Vợ chồng cùng trận địa

Với dân làng Ngọc Hà, bà Quy là một nhân chứng lịch sử không thể không nhắc đến của trận Điện Biên Phủ trên không. Bà cũng chính là người tặng hoa Đại tướng Võ Nguyên Giáp khi ông về thăm làng một năm sau trận đánh ấy. “Khi Đại tướng về thăm lại làng Ngọc Hà, mọi người đều tin rằng cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc đã sắp đến ngày thắng lợi. Hôm ấy, tôi thưa với Đại tướng: “Người dân Ngọc Hà mong Đại tướng và quân đội ta sớm thực hiện ước nguyện của Bác Hồ, đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào để đất nước sạch bóng quân thù” – bà Quy hồi tưởng.

Chồng bà Quy, ông Nguyễn Chí Hiền, từng tham gia trận Điện Biên Phủ trên không, hiện là đại tá nghỉ hưu. Ông cũng là một “pho sử” về sự kiện 12 ngày đêm người Hà Nội bảo vệ bầu trời thủ đô. Hằng năm, cứ đến dịp kỷ niệm chiến thắng này, ông vẫn thường được mời đến các trường học ở Hà Nội để kể cho học sinh về trận chiến ấy.

Cuối những năm 1960, ông Hiền được điều động tới nhiều mặt trận nóng bỏng như Quảng Trị, Campuchia. Khi đó, vợ chồng ông đã có với nhau hai mặt con. “Tôi đang làm nhiệm vụ bảo vệ Hải Phòng, được Quân chủng Phòng không – Không quân điều về Hà Nội để tăng cường” – ông Hiền kể. Nhiều năm xa nhà, lúc ấy về Hà Nội, ông Hiền cứ nghĩ thế là có cơ hội được gặp vợ con nhưng khi đóng quân ở một huyện ngoại thành Hà Nội, chỉ cách nhà hơn chục cây số, mọi thứ ác liệt hơn ông nghĩ.

“Suốt năm 1972, tôi đóng quân ở Hà Nội nhưng không được rời trận địa nửa bước, thế nên ở rất gần nhưng cũng không được về gặp vợ con”- ông Hiền cho biết. Bà Quy gia nhập đội dân quân của làng Ngọc Hà năm đó. “Thế là cả hai vợ chồng tôi đều không sơ tán hay rời Hà Nội trong những ngày ấy”- bà Quy nhớ lại. Bà muốn ở lại để chiến đấu và hy vọng sẽ được gặp chồng. Ngọc Hà những ngày ấy phải gồng mình trong những cơn mưa bom của địch. Ông Hiền ở trận địa pháo cứ thấp thỏm lo cho vợ con, không biết ở nhà có được yên bình. Bà Quy vừa nuôi hai con vừa canh cánh trong lòng mỗi khi nghe thông báo máy bay Mỹ lại mở rộng chiến dịch phá hoại hay đánh phá thêm một căn cứ nào đó của ta…

Vì tình yêu chung mà vợ chồng ông Hiền đã hy sinh tình yêu riêng để rồi sau đó, họ được đền đáp xứng đáng bằng thời khắc hội ngộ. Hà Nội sạch bóng máy bay địch, cuộc chiến tranh cứu nước đạt được một thắng lợi quan trọng buộc đế quốc Mỹ phải ngồi vào bàn đàm phán Hiệp định Paris.

Tự hào

Ông Hiền nay đã cao tuổi nhưng vẫn thuộc từng con số về chiến công của lực lượng bộ đội tên lửa mà ông tham gia ngày nào: “Trong suốt 12 ngày đêm của trận Điện Biên Phủ trên không, miền Bắc bắn rơi 34 máy bay B52, trong đó có 16 chiếc rơi tại chỗ. Riêng các lực lượng bảo vệ Hà Nội bắn rơi 30 máy bay, trong đó có 23 chiếc B52”.

Chiếc B52 của không quân Mỹ đầu tiên rơi trên bầu trời Hà Nội cũng là “pháo đài bay” đầu tiên bị bắn hạ trên thế giới. Người lính tên lửa năm nào hào hứng: “Cái khó nhất là phải bắt được mục tiêu và chống được dải nhiễu do máy bay B52 tạo ra. Đêm 18-12-1972, hôm đầu tiên của trận Điện Biên Phủ trên không, Tiểu đoàn 59 – Trung đoàn 263 bắn rơi một máy bay Mỹ ở cánh đồng Chuông, huyện Đông Anh. Trên đài quan sát, bằng kính quang học, chiến sĩ của ta reo lên: “Cháy rồi! Đúng B52 rồi!”.

Ông Hiền không nén nổi những cảm xúc từ 38 năm trước ùa về: “Bộ đội tên lửa của ta báo cáo với Đại tướng Võ Nguyên Giáp, ông liền hỏi: “Có đúng B52 không?”. Lúc ấy, chúng tôi liên tưởng ngay câu nói của Đại tướng tại chiến dịch Điện Biên Phủ đánh tan cứ điểm quân sự Pháp năm 1954 – khi nghe tin bắt được tướng De Castries, ông cũng hỏi ngay: “Có đúng De Castries không?”.

Nếu như chiếc B52 đầu tiên rơi trên bầu trời Hà Nội khiến những chiến sĩ bộ đội tên lửa như ông Hiền phấn khích tột độ thì chiếc B52 cuối cùng rơi trúng làng Ngọc Hà lại khiến ông hết sức âu lo về sự an nguy của gia đình. Ông Hiền xúc động: “Lo lắm  nhưng tôi không thể về được. May mắn là trong một lần hành quân qua bến Chèm sang bên kia sông Hồng, tôi tranh thủ xin đơn vị về thăm nhà vài giờ. Về nhà không gặp vợ con, tôi hoang mang lắm nhưng bà con cho biết vợ tôi đang là chính trị viên trung đội dân quân của làng, phải tham gia gỡ bom mìn… Tôi yên tâm trở về đơn vị, tiếp tục hành quân”.

Nhắc lại những ngày hoa – lửa năm xưa, bà Quy không giấu được niềm tự hào:  “B52 rơi xuống cháy rực đỏ mặt hồ Hữu Tiệp, đến tận sáng hôm sau khói vẫn còn bốc lên. Mọi người nô nức đổ ra hồ xem xác  máy bay Mỹ. Khi ấy, tôi cảm thấy rất tự hào vì chồng mình là một chiến sĩ bộ đội tên lửa góp phần giữ gìn bình yên cho thủ đô”.

Dấu tích không phai

Hàng chục năm đã trôi qua, nhiều vết thương đã lành nhưng ký ức của những người sống trong thời khắc mà ranh giới giữa sự sống và cái chết trở nên mong manh ấy vẫn rõ mồn một.

Những dấu tích của bom B52 ở Hà Nội năm 1972 cũng đã phai mờ, đây đó chỉ còn vài đài tưởng niệm. Thế nhưng, nếu có dịp đi qua Ngọc Hà, người ta vẫn cứ phải ngoái nhìn xác chiếc máy bay B52 nằm ngay trên hồ Hữu Tiệp giữa làng.

Bà Phạm Thị Quy chỉ chiếc B52 cuối cùng bị bộ đội ta bắn rơi xuống hồ Hữu Tiệp giữa làng Ngọc Hà sáng 27-12-1972

Bài và ảnh: MẠNH DUY
nld.com.vn

————————-

Tin bài liên quan:

Ký ức 12 ngày hoa – lửa 1: Phi đội bay quyết tử
Ký ức 12 ngày hoa – lửa 2: Tuổi trẻ can trường
Ký ức 12 ngày hoa – lửa 3: Hào khí Điện Biên Phủ trên không

Một đêm bắt sống 5 phi công Mỹ

QĐND – Như thường lệ, từ trước hôm đế quốc Mỹ tập kích đường không chiến lược bằng B-52 vào Hà Nội, Hải Phòng, tối 21-12-1972, chúng tôi – dân quân của thôn Nghĩa Dũng, xã Đại Đồng (Tứ Kỳ, Hải Hưng, nay là Hải Dương) tập trung tại sân kho đầu làng, chờ lệnh của xã đội. Bầu trời phía Hà Nội rực lửa, kẻ thù đã bị trừng trị, cuộc chiến đấu kéo dài tới lúc rạng đông…

Buổi trưa, loa truyền thanh loan tin: Thêm 10 máy bay Mỹ bị bắn rơi, trong đó có 3 chiếc B-52 rơi tại chỗ, 7 máy bay chiến thuật bị bắn hạ ở Hà Nội và Hải Phòng. Ấn tượng nhất là được nghe thông tin: “Quân dân Hải Hưng, đêm qua bắt sống 5 phi công Mỹ”.

Bắt giặc lái B52. Ảnh: TTXVN.

Trước khi vào buổi trực chiến đêm 22-12, ông Phạm Đức Dục, cán bộ dân quân xã vừa đi nghe quán triệt nhiệm vụ ở huyện về, kể: Dưới những làn lửa đạn rạch chéo trời đêm, khi dân quân xã Tráng Liệt, huyện Bình Giang nhìn thấy hai chiếc dù đang rơi trên cánh đồng, tiếng reo hò gọi nhau đi bắt giặc lái nổi lên khắp các thôn xóm. Hai tên phi công Mỹ khi vừa chạm đất đã vội giơ tay xin hàng. Các chiến sĩ dân quân tóm luôn và “tống giam” chúng trong trụ sở hợp tác xã, đợi bàn giao lên cấp trên. Các nữ dân quân xã Tráng Liệt từng bắn rơi máy bay AD6 Mỹ ngày 31-3-1968, nay chính họ lại xung kích lập công bắt sống 2 giặc lái B-52 vào những ngày đầu của chiến dịch “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”.

Ông Dục tiếp lời: “Chính sách đối với tù hàng binh đã được quán triệt! Tôi nhắc lại, nếu tóm được phi công Mỹ, phải báo cáo chỉ huy để trình lên huyện, không được tùy tiện xử lý nó. Đó là chính sách, là kỷ luật chiến trường…”.

Bà con đồng thanh: Nhớ rồi, nhưng còn ba tên phi công nữa đâu?

– Ba tên kia nhảy dù bên Mỹ Hào. Cùng lúc xã Tráng Liệt bắt phi công thì nhân dân xã Dương Quang, huyện Mỹ Hào theo dõi trận chiến trên không phía Hà Nội, phát hiện 3 chiếc dù rơi xuống địa phận xã. Nhiều người dân và bộ đội, dân quân bủa vây, bắt ngay ba tên giặc lái khi dù của chúng vừa tiếp đất. Cả ba tên đều là phi công lái máy bay B-52…

Câu chuyện đó là một trong những điều gây ấn tượng sâu sắc và niềm tự hào về quê hương trong suốt cuộc đời quân ngũ của tôi. Những ngày lịch sử này, kỷ niệm đó lại trỗi dậy trong tôi như một lời nhắn nhủ về truyền thống “Đường 5 anh dũng – Bãi Sậy kiên cường” của vùng đồng bằng phía đông thủ đô Hà Nội.

PHẠM XƯỞNG
qdnd.vn

Điện Biên Phủ trên không là nguồn lực tinh thần lớn lao

Trong không khí cả nước hướng về kỷ niệm 40 năm chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, ngày 28-12, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã gặp mặt thân mật đoàn cựu chiến binh dân quân tự vệ Phòng không – Không quân trực tiếp tham gia chiến dịch.

Biểu dương chiến công ngàn đời không quên của các anh hùng, chiến sĩ, dân quân tự vệ, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang nhấn mạnh: “40 năm nhìn lại, chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” mãi là nguồn lực tinh thần lớn lao, sâu sắc, khích lệ thế hệ trẻ hôm nay trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.

Đại diện Bộ Tư lệnh TPHCM trao giấy khen cho các tập thể, cá nhân dũng cảm truy bắt cướp. Ảnh: PHAN ANH

Chủ tịch nước đề nghị cán bộ, chiến sĩ Phòng không – Không quân tiếp tục quán triệt sâu sắc các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng; lấy xây dựng về chính trị làm cơ sở nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu; xây dựng quân chủng “cách mạng – chính quy – tinh nhuệ – hiện đại”, xứng đáng với niềm tin yêu của Đảng, Nhà nước và nhân dân.

– Sáng cùng ngày, Bộ Tư lệnh TPHCM đã sơ kết thi đua cao điểm “Âm vang Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”.

Diễn ra từ ngày 19 đến 28-12, đợt thi đua đã tạo khí thế sôi nổi trong toàn đơn vị với 450 cán bộ, chiến sĩ tham gia hành trình “Tuổi trẻ lực lượng vũ trang TP – Hành trình về với bảo tàng”; 1.200 chiến sĩ tham gia hội trại “Tuổi trẻ giữ nước”. Bên cạnh đó, Bộ Tư lệnh TP còn phối hợp với các tổ chức, đoàn thể tặng 200 phần quà cho gia đình chính sách; khám bệnh và phát thuốc cho 200 lượt người; tặng 6 căn nhà tình nghĩa, tình thương, tình bạn cho gia đình chính sách có hoàn cảnh khó khăn và 30 suất học bổng cho trẻ em nghèo hiếu học…

Dịp này, Bộ Tư lệnh TP đã tuyên dương 2 tập thể và 29 dân quân dũng cảm truy bắt cướp.

Ph.Anh – T.Bình
nld.com.vn

Vị Đại sứ Liên Xô và quyết định điều chỉnh SAM 2 tại Việt Nam

QĐND – Có một quyết định rất đặc biệt đã giúp tháo gỡ những bế tắc tưởng chừng không có lối ra của quân và dân ta, góp phần vào chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” tháng 12-1972. Người đưa ra quyết định táo bạo ấy là Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Liên Xô tại Hà Nội nhiệm kỳ 1964-1974 I-li-a S. Se-rơ-ba-cốp (Ilia S.Shcherbakov).

Tháng 9-1967, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiên đoán không quân Mỹ sẽ sử dụng B-52 để quyết định chiến tranh tại Việt Nam. Việc nghiên cứu đánh B-52 đã được Bác Hồ giao cho đồng chí Tư lệnh không quân tập trung nghiên cứu cách đánh B -52. Nhờ sự chuẩn bị chu đáo với nhiều cách đánh sáng tạo, riêng có của bộ đội phòng không Việt Nam bằng cuốn “Cẩm nang bìa đỏ” thì ngay từ ngày 18-12-1972 (ngày đầu tiên bắt đầu bước vào Chiến dịch “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” năm 1972), lực lượng tên lửa Việt Nam đã quật ngã tại chỗ máy bay B-52 của không quân Hoa Kỳ mặc dù B -52 có hệ thống gây nhiễu hiện đại nhất thời bấy giờ. Pháo đài bay B-52 bị bất ngờ và bị quy phục trên bầu trời Việt Nam, khi mà các đơn vị kỹ thuật của quân đội Hoa Kỳ đã khẳng định vô hiệu hóa SAM 2 thông qua tần số.

Phó thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân trao cho Trung tướng B.V. Nhi-cô-la-e-vích bức tranh bằng đồng để gửi tới gia đình đồng chí I-li-a S. Se-rơ-ba-cốp.

Một trong những người góp phần quan trọng vào chiến thắng “Hà Nội -Điện Biên Phủ trên không” là Đại sứ Đặc mệnh toàn quyền Liên Xô tại Hà Nội nhiệm kỳ 1964-1974 I-li-a S. Se-rơ-ba-cốp. Thấu hiểu tình hình thực tế ở Việt Nam, với tinh thần quốc tế cộng sản cao cả, bằng tất cả tinh thần trách nhiệm của một vị Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Liên Xô tại Việt Nam, ông đã thay mặt Chính phủ Liên Xô ra quyết định cho phép các chuyên gia Liên Xô đang có mặt ở Việt Nam được can thiệp trực tiếp vào hệ thống của tên lửa SAM 2 theo hướng tăng công suất ra-đa lớn hơn công suất hệ thống gây nhiễu của B -52.

Thời kỳ đó, Chính phủ và Quân đội Liên Xô đã quy định: Việc can thiệp vào SAM 2 bằng bất cứ hình thức gì cũng không được phép thực hiện ở đâu trên thế giới mà chỉ được phép thực hiện khi SAM 2 ở trong lãnh thổ Xô-viết. Vì vậy, quyết định táo bạo của vị Đại sứ Đặc mệnh toàn quyền Liên Xô tại Việt Nam đã góp phần giải mã hoàn toàn việc quy phục pháo đài bay B-52 trong năm 1972.

Kết quả này đã thu được kết quả vô cùng bất ngờ, khi liên tục hạ gục pháo đài bay B-52. Riêng 12 ngày đêm trong Chiến dịch “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” đã có 34 chiếc B-52 phải đền tội (chiếm 16,2% tổng số B-52 tham chiến tại Việt Nam) góp phần quyết định vào thắng lợi vang dội năm 1972.

Chiều 28-12-2012, tại Trụ sở Chính phủ, Phó thủ tướng Chính phủ Nguyễn Thiện Nhân đã tiếp thân mật Trung tướng Bôn-đa-rép Vích-to Nhi-cô-la-e-vích (Bondarev Viktor Nhikolaevich), Tổng tư lệnh Không quân -Lực lượng vũ trang LB Nga dẫn đầu Đoàn đại biểu Bộ Quốc phòng LB Nga sang dự Lễ kỷ niệm 40 năm Chiến thắng “Hà Nội -Điện Biên Phủ trên không”. Bằng tất cả tình cảm chân thành, qua Trung tướng B.V. Nhi-cô-la-e-vích, Phó thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân đã gửi tới gia đình đồng chí I-li-a S. Se-rơ-ba-cốp bức thư bằng tiếng Nga cùng bức tranh bằng đồng để tỏ lòng tri ân của nhân dân và Quân đội nhân dân Việt Nam. Phó thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân mong muốn các thành viên của gia đình Đại sứ I-li-a S. Se-rơ-ba-cốp luôn hạnh phúc, gặp nhiều may mắn và sẽ tới thăm Việt Nam trong thời gian sớm nhất.

Bài và ảnh: TỪ LƯƠNG
qdnd.vn

“Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”: Mãi sáng ngời biểu tượng hào hùng (*)

(NLĐO) – Ngày 29-12, tại Trung tâm Hội nghị quốc gia Hà Nội, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã có bài phát biểu quan trọng trong Lễ kỷ niệm 40 năm Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” (12/1972-12/2012). Người Lao Động Online trân trọng giới thiệu toàn văn bài phát biểu của Chủ tịch nước (đầu đề do Báo NLĐO đặt):

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang phát biểu tại lễ kỷ niệm 40 năm
 Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” . Ảnh: TTXVN

Kính thưa các đồng chí Lãnh đạo Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam,

Kính thưa các đồng chí lão thành cách mạng; các Mẹ Việt Nam anh hùng, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, các vị khách quý,

Thưa đồng bào, đồng chí và chiến sĩ cả nước,

Hôm nay, trong niềm phấn khởi và tự hào của đồng bào và chiến sỹ cả nước, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch nước, Quốc hội, Chính phủ Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tổ chức trọng thể Lễ kỷ niệm 40 năm Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, sự kiện lịch sử trọng đại và kỳ tích có một không hai – biểu tượng chiến thắng của bản lĩnh, trí tuệ và chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam. Đây là chiến thắng có ý nghĩa lịch sử và thời đại sâu sắc, góp phần rất quan trọng đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta đi đến thắng lợi hoàn toàn.

Thay mặt Lãnh đạo Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tôi thân ái gửi tới các vị đại biểu, khách quý, cùng toàn thể đồng bào, đồng chí và chiến sĩ cả nước lời chúc mừng tốt đẹp nhất.

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang thăm hỏi các đại biểu tại lễ kỷ niệm 40 năm
Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” . Ảnh: TTXVN

Thưa đồng bào, đồng chí và chiến sĩ cả nước,

Tháng 12 năm 1972, sau khi đơn phương tuyên bố hoãn không thời hạn Hội nghị Pari về “Chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam”, đế quốc Mỹ đã mở cuộc tập kích chiến lược bằng đường không vào miền Bắc nước ta với tên gọi Chiến dịch “Lai-nơ-bếch-cơ II” nhằm đánh phá, huỷ diệt tiềm lực kinh tế, quốc phòng miền Bắc, gây sức ép buộc ta phải chấp nhận ký Hiệp định Pari theo các điều khoản có lợi cho Mỹ; hạn chế sự chi viện cho cách mạng miền Nam; làm tê liệt ý chí chiến đấu, giảm thế và lực của ta so với địch trên chiến trường; đe doạ phong trào đấu tranh của nhân dân tiến bộ, yêu chuộng hòa bình trên thế giới. Đây là cuộc tập kích bằng đường không huy động lực lượng lớn nhất của Mỹ kể từ sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, với hàng trăm máy bay ném bom chiến lược B.52, được mệnh danh là “Siêu pháo đài bay” – “thần tượng bất khả chiến bại” của không lực Hòa Kỳ cùng hàng ngàn máy bay chiến thuật và nhiều tàu sân bay, tàu chiến tối tân, hiện đại.

Ngay từ những năm đầu của cuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của Mỹ ở miền Bắc, sớm nhận rõ và dự báo chính xác tình hình, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã xác định quyết tâm chiến lược, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, động viên quân và dân ta chuẩn bị sẵn sàng về mọi mặt để quyết đánh, quyết thắng cuộc tập kích chiến lược bằng máy bay B.52 của Mỹ. Từ cuối năm 1967, đầu năm 1968, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Sớm muộn rồi đế quốc Mỹ cũng sẽ đưa B.52 ra đánh Hà Nội rồi có thua nó mới chịu thua. Phải dự kiến trước tình huống này càng sớm càng tốt, để có thời gian mà suy nghĩ, chuẩn bị… Ở Việt Nam, Mỹ sẽ nhất định thua, nhưng nó chỉ thua sau khi thua trên bầu trời Hà Nội”.

Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Quân uỷ Trung ương, Quân chủng Phòng không – Không quân đã sớm có kế hoạch tác chiến đánh trả cuộc tập kích bằng B.52 của Mỹ vào Hà Nội, Hải Phòng. Với sự chủ động, sáng tạo của nghệ thuật quân sự Việt Nam, qua nhiều năm nghiên cứu, tìm tòi cách đánh máy bay B.52, các lực lượng vũ trang ta với nòng cốt là quân chủng Phòng không – Không quân và nhân dân miền Bắc, nhất là quân dân Thủ đô Hà Nội đã tổ chức, phát huy sức mạnh tổng hợp của thế trận phòng không nhân dân vững chắc, hợp đồng tác chiến chặt chẽ giữa các lực lượng, quyết đánh, biết đánh và quyết thắng.

Ngay từ trận đầu ra quân, đêm 18 tháng 12 năm 1972, ta đã bắn rơi tại chỗ “siêu pháo đài bay B.52”, mở màn cho những thắng lợi vang dội trong những trận đánh tiếp theo. Trong 12 ngày đêm chiến đấu anh dũng, kiên cường, mưu trí, sáng tạo, quân và dân ta đã đánh bại hoàn toàn cuộc tập kích chiến lược đường không quy mô lớn chưa từng có, chủ yếu bằng B.52 của Mỹ, làm nên chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” lẫy lừng, bắn rơi 81 máy bay các loại, trong đó có 34 chiếc B.52, tiêu diệt và bắt sống hàng trăm giặc lái Mỹ. Đây cũng là lần đầu tiên trong lịch sử, “siêu pháo đài bay B.52” thảm bại và không quân Mỹ phải chịu thiệt hại nặng nề nhất. Sau thất bại này, nhà cầm quyền Mỹ phải tuyên bố ngừng ném bom từ vĩ tuyến 20 trở ra và chấp nhận quay trở lại bàn đàm phán. Ngày 27/01/1973, Hiệp định Pari về “chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam” được ký kết. Cuối tháng 3/1973, quân đội Mỹ và chư hầu phải rút khỏi miền Nam Việt Nam.

Sau chiến công của phi công Phạm Tuân đêm 27-12-1972, đêm sau đó,

phi công Vũ Xuân Thiều tiếp tục tiêu diệt thêm 1 chiếc B-51. Ảnh tư liệu

Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” là một trong những chiến thắng mang tầm vóc lịch sử ở thế kỷ XX, viết tiếp những trang sử vàng chiến công chói lọi trong lịch sử chống ngoại xâm, giữ nước của dân tộc ta. Chiến thắng đó đã góp phần bảo vệ vững chắc miền Bắc xã hội chủ nghĩa, giữ vững thành quả cách mạng; tạo ra cục diện mới để quân và dân ta thực hiện trọn vẹn lời dạy của Bác Hồ kính yêu “đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào”; giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước vào mùa Xuân năm 1975.

Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” đã chứng minh hùng hồn chân lý: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, một nước đất không rộng, người không đông nhưng biết đoàn kết đấu tranh cho độc lập dân tộc, hoà bình, dân chủ và chủ nghĩa xã hội, dưới sự lãnh đạo của một đảng mácxít chân chính với đường lối và phương pháp cách mạng đúng đắn, được sự đồng tình, ủng hộ của nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới thì có thể chiến thắng mọi kẻ thù, dù chúng có các loại vũ khí, phương tiện chiến tranh hiện đại nhất.

Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” đã góp phần làm tăng thêm sức mạnh và thế tiến công của phong trào cách mạng thế giới; củng cố niềm tin chiến thắng cho các lực lượng tiến bộ đấu tranh vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” là chiến thắng của đường lối chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện; chiến thắng của nghệ thuật quân sự Việt Nam: mưu trí, sáng tạo, lấy ít địch nhiều, lấy nhỏ đánh lớn, dựa trên cơ sở phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc; chiến thắng của nghệ thuật xây dựng thế trận phòng không nhân dân vững chắc, phát huy cao nhất vai trò của lực lượng phòng không ba thứ quân; là chiến thắng của tinh thần độc lập tự chủ, tự lực, tự cường, thông minh, sáng tạo; của ý chí quyết đánh và quyết thắng; đồng thời tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ, giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa anh em, các lực lượng tiến bộ, yêu chuộng hòa bình trên thế giới.

Làm nên Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, có sự đóng góp hy sinh to lớn của lực lượng vũ trang và nhân dân các địa phương miền Bắc, trực tiếp là Thủ đô Hà Nội. Trong 12 ngày đêm, Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, thị xã trên miền Bắc đã phải hứng chịu hơn tám mươi ngàn tấn bom đạn tàn phá, hủy diệt, nhưng quân và dân ta, Đảng bộ, chính quyền, lực lượng vũ trang và nhân dân Thủ đô văn hiến, anh hùng đã biến đau thương thành hành động cách mạng, giữ vững niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, vào thắng lợi cuối cùng của cuộc kháng chiến; vượt qua mọi hy sinh gian khổ, anh dũng, ngoan cường, quyết chiến đấu với tinh thần “quyết tử để Tổ quốc quyết sinh”. Đó là một trong những điển hình về sức mạnh chính trị tinh thần trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta.

Trong những ngày chiến đấu đó, cả nước hướng về Thủ đô, bảo vệ Thủ đô. Quân và dân ta ở miền Nam ruột thịt đã “chia lửa” cùng đồng bào và chiến sĩ miền Bắc, đẩy mạnh tiến công trên khắp các chiến trường, làm cho kẻ địch phải phân tán lực lượng, bị động đối phó trên nhiều hướng, nhiều mặt trận, hoang mang, nhụt chí chiến đấu.

Đêm 26-12-1972, bộ đội tên lửa tiếp tục bắn rơi 6 chiếc B-52, trong tổng số 8 chiếc bị tiêu diệt. Ảnh tư liệu

Năm tháng sẽ qua đi, Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” mãi mãi là biểu tượng của ý chí kiên cường, bất khuất, thông minh, sáng tạo; là niềm tự hào của dân tộc ta, nhân dân ta, quân đội ta, là một trong những chiến công hiển hách trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam anh hùng; ghi đậm dấu ấn của cuộc đấu tranh cách mạng hào hùng của nhân dân ta trong thời đại Hồ Chí Minh.

Thưa đồng bào, đồng chí và chiến sĩ cả nước,

Ngày nay, đất nước ta hòa bình, thống nhất, đang thực hiện công cuộc đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế vì dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) và Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 2011- 2020 được thông qua tại Đại hội lần thứ XI của Đảng tiếp tục khẳng định đường lối xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới; phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại; giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ; nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế; tạo tiền đề vững chắc để phát triển cao hơn trong giai đoạn tiếp theo.

Để thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ đó, đòi hỏi sự quyết tâm, nỗ lực phấn đấu rất cao của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Chiến công oanh liệt của trí tuệ, lòng dũng cảm và ý chí quật cường của dân tộc ta, quân đội ta, của cán bộ, chiến sĩ Quân chủng Phòng không – Không quân, của quân dân Thủ đô và các tỉnh, thành phố miền Bắc trong 12 ngày đêm chống cuộc tập kích chiến lược bằng đường không của đế quốc Mỹ cổ vũ, khích lệ chúng ta vững bước đi lên.

Lòng dũng cảm, trí thông minh, sáng tạo đánh thắng máy bay chiến lược B.52 và những phẩm chất cao đẹp của cán bộ, chiến sĩ và đồng bào ta trong những năm tháng kháng chiến gian khổ, sẵn sàng hy sinh tất cả vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội cần được giữ gìn, truyền lại cho các thế hệ hôm nay và mai sau.

Những bài học về dự báo tình hình, chuẩn bị và tổ chức lực lượng; nghệ thuật xây dựng thế trận phòng không nhân dân; tinh thần tự chủ, tự lực, tự cường và sử dụng có hiệu quả sự giúp đỡ quốc tế, tạo nên sức mạnh tổng hợp để kháng chiến thắng lợi, cần được vận dụng sáng tạo và phát triển trong điều kiện mới. Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục lý tưởng, tinh thần yêu nước, niềm tự hào dân tộc, trách nhiệm và nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc trong toàn dân, nhất là thế hệ trẻ. Tiếp tục củng cố, tăng cường tiềm lực mọi mặt của đất nước. Kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế – xã hội với tăng cường quốc phòng – an ninh; xây dựng nền quốc phòng toàn dân, toàn diện, tự chủ, tự lực, tự cường và ngày càng hiện đại; tăng cường đoàn kết gắn bó giữa quân và dân, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân vững chắc. Phát huy truyền thống 68 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội nhân dân Việt Nam và thành tựu 23 năm Ngày hội Quốc phòng toàn dân, tập trung nâng cao chất lượng xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, xây dựng Quân chủng Phòng không – Không quân hiện đại, xứng đáng là lực lượng chính trị, chiến đấu, tuyệt đối trung thành với Đảng, Nhà nước và nhân dân, hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao.

Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam luôn ghi nhớ và biết ơn sự ủng hộ, giúp đỡ chí tình, chí nghĩa của các nước xã hội chủ nghĩa anh em, bạn bè quốc tế, nhân dân yêu chuộng hòa bình và công lý trên thế giới, trong đó có nhân dân Mỹ, đã giành cho nhân dân ta trong những năm tháng chiến tranh gian khổ ác liệt. Trải qua những tàn phá nặng nề và hy sinh to lớn trong chiến tranh, hơn ai hết, nhân dân Việt Nam thiết tha, quý trọng hòa bình để xây dựng và phát triển đất nước. Kế thừa và phát huy truyền thống hòa hiếu của dân tộc Việt Nam, “khép lại quá khứ, hướng tới tương lai”, nhân dân ta luôn mong muốn tăng cường quan hệ hữu nghị hợp tác cùng phát triển với các nước trên thế giới, trong đó có Hoa Kỳ, theo tinh thần Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và lợi ích của đất nước; xây dựng một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh, góp phần xứng đáng vào cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.

Thưa đồng bào, đồng chí và chiến sĩ cả nước!

Kỷ niệm 40 năm Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, chúng ta tự hào về những chiến công oanh liệt, truyền thống yêu nước, đoàn kết, ý chí kiên cường, bất khuất của dân tộc; tự hào về Đảng ta, một Đảng mácxít kiên trung, có đường lối đúng đắn, sáng tạo, lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác; tự hào với truyền thống vẻ vang của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng, một Quân đội từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, sẵn sàng hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân; tự hào về dân tộc ta, một dân tộc giàu lòng yêu nước, yêu chuộng hòa bình và công lý, không bao giờ chịu cúi đầu, khuất phục trước bất kỳ thế lực xâm lược hung bạo nào; toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta quyết tâm giữ gìn và phát huy cao độ truyền thống vẻ vang đó trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hôm nay.

Các đại biểu dự lễ kỷ niệm, ôn lại chiến thắng hào hùng của dân tộc

Hào khí Việt Nam, vận hội mới của đất nước thôi thúc chúng ta tranh thủ thời cơ, vượt qua thách thức, nỗ lực phấn đấu xây dựng thành công và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, xứng đáng với công lao to lớn, khát vọng cháy bỏng và sự hy sinh cao cả của các thế hệ đi trước, viết tiếp trang sử vẻ vang của dân tộc Việt Nam anh hùng.

Tinh thần Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” bất diệt!

Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh muôn năm!

Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam muôn năm!

Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta!

Xin cảm ơn toàn thể đồng bào, đồng chí và các vị đại biểu!

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang

Theo nld.com.vn

Món quà hậu phương

QĐND – Tìm đến nhà Đại tá Hoàng Bình bây giờ không còn vất vả như những năm trước kia nữa, cho dù chỗ ở của ông không hề thay đổi suốt mấy chục năm qua. Vẫn ở khu tập thể Nam Đồng, Hà Nội nhưng nhờ quy hoạch của thành phố mà tự nhiên cái tòa nhà ông nằm tít tận cuối khu tập thể ẩm thấp nay lại ngoi ra mặt phố Hồ Đắc Di, nhìn thẳng xuống hồ Xã Đàn nước trong xanh dìu dịu. Căn hộ của ông được cấp ở tầng 1, ngày xưa chưa mưa đã lụt nhưng nay hóa may, bước vài bước là xuống tới đường.

Lâu lâu tôi không đến thăm nên hôm nay ông hỏi đủ thứ chuyện, nào là tình hình quân đội hiện nay ra sao, ta có thêm được những vũ khí hiện đại gì, anh em mình hiện nay có ra nước ngoài học tập nhiều không? Lựa lúc ông đang hào hứng sau câu chuyện vui, tôi đặt vấn đề:

– Bác ạ, hôm nay đến thăm bác nhưng cũng có việc cháu muốn hỏi bác kỹ hơn về lá thư Hoàng Hà gửi cho bác và những món quà bác nhận được trong thời gian chiến đấu ở chiến trường miền Trung 40 năm trước đây.

– Chuyện đó thì mọi người đều rõ cả rồi, mà đó cũng là việc làm bình thường thôi. Hà làm việc đó khi còn là học sinh, bây giờ đã là anh sĩ quan cấp tá, có hơn ba chục năm phục vụ trong quân ngũ rồi còn gì?

– Gần hai chục năm qua, kể từ khi Bảo tàng Quân chủng Phòng không – Không quân trưng bày những kỷ vật bác tặng có rất nhiều khách đến tham quan quan tâm tìm hiểu về việc này. Năm nay, nhân dịp kỷ niệm 40 năm chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, anh em chúng cháu muốn nhấn mạnh thêm về mối quan hệ giữa hậu phương và tiền tuyến mà câu chuyện của gia đình ta là một trong những câu chuyện rất có ý nghĩa đối với sự kiện lịch sử quan trọng này.

– Ừ! Mà nói cho đúng thì miền Bắc lúc đó cũng là mặt trận chứ! Không những thế còn là mặt trận, là chiến trường vô cùng ác liệt và nóng bỏng nữa.

Rồi ông kể.

Hồi đó ông đang chiến đấu ở mặt trận Quảng Đà, Quân khu 5 với cương vị là Tham mưu trưởng Sư đoàn 711, sau là Sư đoàn 2. Giữa lúc đơn vị ông đang phải đối phó quyết liệt với âm mưu “Mỹ hóa” trở lại thì được thông báo Mỹ đang ráo riết chuẩn bị dùng B-52 đánh phá Hà Nội. Nghe tin mà lo đến nao lòng. Cái gì chứ B-52 thì cánh lính chiến trong chiến trường miền Trung, miền Nam chẳng ai lạ lẫm gì. Bom B-52 như cơm bữa, bom ném bất cứ lúc nào, có trận kéo dài hàng giờ. Sau mỗi đợt bom B-52, mặt bằng chiến trường như thay đổi, sự tan hoang đổ nát đã làm biến dạng cả địa hình, thậm chí san phẳng cả một khu vực gò, đồi hoặc biến cả đoạn đường dài thành một chuỗi ao chuôm xếp gối nhau như dòng sông nham nhở, nhiều trận bị địch đánh bất ngờ đã gây cho ta tổn thất không nhỏ về người và vũ khí trang bị. Nhưng dù sao ngoài chiến trường, không gian còn rộng lớn, còn có núi, rừng, sông, suối chứ Hà Nội, một thành phố nhà cửa san sát, người chen chúc như nêm, khi phải hứng chịu những loạt bom rải thảm của B-52 thì hậu quả sẽ khủng khiếp thế nào? Hà Nội là nơi Trung ương và các cơ quan trọng yếu của cả nước đang lãnh đạo, điều hành cuộc chiến tranh thần thánh của dân tộc, khi kẻ thù liều lĩnh dùng B-52 đánh hủy diệt thì tình hình sẽ ra sao? Không hiểu ta có thể đánh thắng được loại máy bay ném bom khổng lồ B-52 này hay không? Chỉ nghĩ tới đó đã rùng mình, càng lo cho Thủ đô trước trận cuồng phong của bom, đạn…

Ông kể tiếp, ngày ấy ở chiến trường, thường thì khi B-52 chuẩn bị đánh, cấp trên đều thông báo sớm để sơ tán, phòng tránh nên cũng hạn chế được thương vong, thế nhưng mỗi lần nhìn thấy chúng ngang nhiên hoành hành mà uất ức đến tận cổ. Chúng biết ta chưa có hỏa lực gì chống trả được nên bay tương đối thấp, những ngày trời quang mây nhìn thấy rõ mồn một. Những lúc như thế chỉ mong có thứ vũ khí gì bắn tan thây chúng nó cho hả giận. Hy sinh, mất mát thì nhiều nhưng ông không bao giờ quên được cái trận bom B-52 đã cướp đi sinh mạng những đồng đội của mình mà vừa mới vài chục phút trước đó họ còn trò chuyện vui vẻ với ông.

Hôm ấy, ông và ông Củng, Phó chủ nhiệm Chính trị sư đoàn cùng một số anh em đang làm nhiệm vụ ở chân núi Chôm, lợi dụng công sự cũ để tổ chức chiến đấu. Tang tảng sáng, ông Củng tới mời ông đến chỗ anh em cơ quan chính trị uống trà do mấy anh em tuyên huấn của sư đoàn mang xuống. Ông hẹn một lúc nữa sẽ qua nhưng đúng lúc đó thì ba chiếc B-52 từ phía nam bay rất thấp về phía trận địa, tất cả anh em xuống hầm ẩn nấp. Bỗng một loạt tiếng nổ dài, vang lên dữ dội. Biết địch ném bom ở khu vực của mình, ông đã lao khỏi hầm chạy lại nơi khói bụi đang mịt mù.

Trước mắt ông là cảnh tan hoang không còn nhận ra hầm hào gì nữa. Phán đoán vị trí cái hầm trú ẩn của anh em cơ quan chính trị, ông đã dùng tay ra sức moi đất đá hy vọng sẽ cứu được anh em. Nhưng khi moi tới hầm thì cả bốn đồng chí đã hy sinh, trong đó có Phó chủ nhiệm Chính trị và Trưởng ban Tuyên huấn Sư đoàn. Thời điểm này đã chuẩn bị ký kết Hiệp định Pa-ri, Tâm – Trưởng ban Tuyên huấn Sư đoàn xuống Sở chỉ huy phía trước để phổ biến tình hình cho bộ đội nhưng chưa kịp làm thì đã bị hy sinh vì bom B-52. Đơn vị ông phải di chuyển trận địa. Vừa đến trận địa mới, ông lại nhận được tin có thư và quà từ miền Bắc gửi vào. Ông không biết quà của vợ con hay cơ quan nào hoặc ai đó gửi cho mình. Ông chợt lo lắng không biết liệu có chuyện gì đã xảy ra với gia đình vì đã rất lâu kể từ khi nhận được cuốn băng ghi âm, ông không hề nhận được tin tức gì ở nhà. Vừa qua Hà Nội lại bị ném bom dữ dội như vậy… Tự nhiên ông phát run lên. Sống trong bom B-52 đã bao năm nay, nhiều trận cái chết đã cận kề gang tấc mà không có cảm giác sợ, nhưng không hiểu sao cứ khi nào nghĩ đến cảnh hậu phương bị “con quái vật” ấy mò ra gây tội ác, ông lại thấy lo lắng, bồn chồn không yên.

Cậu chiến sĩ thông tin rất mau mồm mau miệng, chưa về đến nơi đã oang oang thông báo rằng thủ trưởng Hoàng Bình có thư và quà của con trai gửi vào, lúc đó ông mới thở phào nhẹ nhõm. Bỗng mặt ông biến sắc, tim đập thình thịch khi thoáng nghĩ bà ấy đâu mà lại để con trai ông gửi thư cho bố? Cả ba đứa con của ông đều còn nhỏ, đứa lớn mới vào tuổi mười lăm. Từ trước tới giờ thư vẫn do bà ấy viết, mấy đứa có viết thư cho bố thì cũng để chung trong phong bì của mẹ. Nghĩ vậy ông đã giật ngay gói quà từ tay cậu chiến sĩ thông tin rồi vội vã xé toạc tờ giấy bọc, lấy lá thư. Thấy ông đọc đến đâu mặt giãn ra đến đấy, có lúc bất chợt còn thốt lên: “Thế chứ! Cho đáng đời chúng mày. Giỏi lắm, con trai của bố giỏi lắm!”, anh em đứng xung quanh mới thở phào. Thì ra lá thư là của Hoàng Hà – cậu con trai thứ hai. Khi ông vào Nam thì Hà chưa đi học, mấy năm sau ông ra Bắc lại không gặp vì Hà được sang Quế Lâm, Trung Quốc học cấp I. Hà báo tin đợt B-52 đánh vào Hà Nội, ba anh em đều đi sơ tán, chỉ có mẹ ở lại nhà máy, cả nhà đều an toàn. Phần lớn bức thư Hà dành để kể cho bố nghe chuyện các chú bộ đội chiến đấu bắn rơi máy bay B-52 ở Hà Nội. Thấy ông đang bị hút hồn vào lá thư và dường như lá thư đã thôi miên, làm cho ông ngây ngất nên anh em cứ đứng xung quanh chờ đợi, không ai nỡ làm gián đoạn cái giây phút sung sướng hiếm hoi của ông…

Đợi ông bớt xúc động, anh em mới đưa món quà đặc biệt mà do vui quá ông quên không đả động gì đến. Đó chính là một mảnh nhỏ xác máy bay B-52, Hà đã gửi vào cùng với lá thư. Ông sực tỉnh, trong thư Hà đã nói qua về “xuất xứ” những “chiến lợi phẩm” này. Hà kể, mảnh xác B-52 và mấy mảnh tài liệu tiếng Anh cháy nham nhở do chính Hà nhặt từ đống xác chiếc B-52 rơi ở nơi ba anh em sơ tán, (xã Tam Hưng, huyện Thanh Oai, Hà Tây cũ) rạng sáng ngày 19-12. Đã biết tin quân và dân Hà Nội chiến đấu rất kiên cường, bắn rơi hàng chục “pháo đài bay” B-52 nhưng không ngờ ở tận trong này ông và anh em lại được cầm trên tay cái mảnh xác của “con quái vật” B-52 mới bị đền tội. Những năm tháng ở chiến trường chứng kiến B-52 tung hoành gieo rắc tội ác, gây cho ta biết bao tổn thất, hy sinh, giờ cầm mảnh xác nó trên tay mới thấy hả lòng, hả dạ… Ông Bình nhớ ra là chưa đọc thư cho anh em nghe như những lần trước. Mà cũng lạ, lần này không thấy đứa nào đòi xem thư mà đều dán mắt vào mảnh xác máy bay B-52…

– Thế sau chiến thắng của quân và dân miền Bắc, ở trong đó các bác có còn bị B-52 gây khó dễ nữa không? Tôi hỏi Đại tá Hoàng Bình.

– Đỡ nhiều chứ, cũng chỉ một thời gian ngắn là chấm dứt ngay, nó còn hơi sức đâu nữa mà đánh với đấm. Với lại B-52 là của Mỹ, Mỹ buộc phải rút thì “con ngáo ộp” cũng phải “cuốn gói” theo. Thế mới biết trận thắng B-52 ở Hà Nội quan trọng thật, quật cổ được lũ B-52 là cục diện chiến trường cả nước thay đổi ngay… Sau chiến thắng của ta ở miền Bắc, đơn vị tôi tiếp tục chiến đấu đến ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, nhiều đồng chí được thấy món quà quý báu của tôi ngày đó đã ngã xuống trên đường tiến về Sài Gòn, một số sau khi trở về hậu phương già yếu và đã qua đời khá nhiều…

Nói xong ông rút khăn chấm chấm vào đôi mắt đã đỏ hoe từ lúc nào. Nhìn về xa xăm, giọng ông khẽ khàng như nói với đồng đội cũ của mình:

– Đã mấy chục năm xa nhau, nay người còn người mất nhưng với người lính chúng ta cái còn lại vẫn là nghĩa tình đồng đội. Thỉnh thoảng gặp nhau ôn lại những kỷ niệm một thời trận mạc càng thấm thía sự chia ngọt sẻ bùi có giá trị thế nào. Bây giờ người ta có thể tặng nhau những món quà đắt tiền nhưng nó không thể thiêng liêng như những lá thư, gói quà nhỏ bé của hậu phương gửi vào tiền tuyến hồi chiến tranh. Những thứ đó bình thường nó là của riêng, chỉ có chủ nhân mới được sở hữu, nhưng trong chiến tranh, nó là của chung. Chính sự sẻ chia ấy đã gắn kết người lính lại thành một khối vững chắc để vượt qua gian khổ, hy sinh.

– Có phải vì vậy mà bác đã quyết định tặng lại bảo tàng toàn bộ những kỷ vật mà bác đã nâng niu, giữ gìn trong suốt hơn hai mươi năm?

– Món quà của tôi đã là của anh em đồng đội từ khi tôi nhận nó rồi. Năm 1995, khi gặp lại đồng đội cũ, anh em khuyên tôi nên tặng lại bảo tàng để mọi người biết được phần nào nghĩa tình của hậu phương với tiền tuyến trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc nên tôi đã quyết định tặng cho Bảo tàng Quân chủng Phòng không – Không quân.

Ông tỏ ra mãn nguyện. Tôi hiểu tâm trạng của ông. Đã 40 năm trôi qua, kể từ khi cậu bé mười ba tuổi Hoàng Hà đến tận nơi máy bay rơi, lửa khói còn đang ngùn ngụt, chờ cho lửa tắt rồi nhanh tay lượm một mảnh xác nhỏ và mấy miếng tài liệu cháy dở gửi cho bố nơi chiến trường ác liệt chỉ với suy nghĩ giản đơn là báo tin cho bố: Hà Nội đã bắn rơi máy bay B-52. Hẳn lúc đó cậu chưa đủ khôn để hiểu rằng món quà nhỏ bé đó đã có một ý nghĩa lớn lao, nó đã tiếp sức cho bố mình và đồng đội trong những trận đánh cuối cùng. Cậu bé Hoàng Hà ngày nào, nay đã mang trên vai quân hàm Đại tá. Tiếp bước cha anh, Hà đã toại nguyện ước mơ là vào bộ đội tên lửa và công tác liên tục trong Quân chủng Phòng không – Không quân cho đến nay, trải qua nhiều cương vị khác nhau, trong đó có vị trí từ khi còn nhỏ, anh đã từng mơ ước là chỉ huy một đơn vị hỏa lực tên lửa. Chỉ có khác với bố là Hoàng Hà không phải ra trận. Ông Bình nói đó là điều ông mong ước không chỉ cho Hà mà cho cả con cháu của Hà. Ông kể, năm 1975, ông được sang Cộng hòa dân chủ Đức chữa bệnh, đón ông tại sân bay, một nữ cán bộ của bạn đã làm cho ông ngạc nhiên. Bà ta nói: “Chào Đại tá thất nghiệp Hoàng Bình”, rồi giải thích: “Ông đã đánh thắng Mỹ thì còn ai dám đến nữa mà đánh nên ông là Đại tá thất nghiệp”…

Trải lòng xong, ông cười sảng khoái, cái cười của vị Đại tá già cứ văng vẳng mãi bên tai làm cho tôi hào hứng viết ra những dòng gan ruột này.

NGUYỄN PHƯƠNG DIỆN
qdnd.vn

Mở đường thống nhất đất nước

Huyền thoại “Điện Biên Phủ trên không” của các chiến sĩ không quân miền Bắc đã thôi thúc lòng quyết chiến, quả cảm của phi công trẻ Nguyễn Thành Trung thả bom Dinh Độc Lập, mở đường thống nhất đất nước.

Năm 1972, khi không quân Mỹ mang “pháo đài bay” đánh phá miền Bắc thì ở miền Nam, một người con cách mạng được cài cắm vào không quân ngụy đau thắt từng ngày bởi hơn ai hết, ông hiểu rất rõ sự hủy diệt mang tên B52. Từ đó, một điều mãnh liệt luôn thôi thúc ông là mang bom ném vào dinh thự đầu não của chế độ Sài Gòn như lời đáp trả cho những mất mát, đau thương mà nhân dân thủ đô Hà Nội gánh chịu trong 12 ngày đêm. Ông là đại tá – Anh hùng Lực lượng Vũ trang nhân dân Nguyễn Thành Trung.

Đại tá Nguyễn Thành Trung (giữa) nhận hoa chúc mừng từ đồng đội

5 giây quyết định

Ông Trung còn nhớ rất rõ việc Mỹ ném bom đã tác động rất lớn đến thanh niên lúc bấy giờ. “Sinh ra trong chiến tranh, sống trong chiến tranh nên chúng tôi mơ biết bao ngày hòa bình! Vì vậy, sự kiện 12 ngày đêm ở Hà Nội một lần nữa thúc đẩy chúng tôi làm nhanh, làm cho bằng được để chấm dứt cuộc chiến, để đồng bào ta không chịu thêm cảnh chết chóc” – ông thổ lộ.

Khi được tổ chức phân công ném bom Dinh Độc Lập, ông Trung vô cùng sung sướng. Ông hồi tưởng: Hôm ấy, ngày 8-4-1975, không quân ngụy có nhiệm vụ đi ném bom ở Phan Rang. Đây là một cơ hội tốt cho ông nhưng cũng là việc cực kỳ khó khăn vì khi đã bay thì không thể tách khỏi phi đội, càng không thể lấy máy bay trong căn cứ. “Nghĩ đến chuyện “pháo đài bay” bất khả xâm phạm của Mỹ còn bị các chiến sĩ không quân miền Bắc bắn rơi, tôi quyết tâm thực hiện cho được nhiệm vụ này” – ông cho biết.

Theo quy định của đài chỉ huy, khi phi đội cùng bay, mỗi chiếc sẽ bay cách nhau 5 giây. Nếu máy bay nào đó bị trễ, họ cho thêm 5 giây, tổng cộng là 10 giây. Nếu quá 10 giây, sang giây thứ 11 mà không thể cất cánh, phi công sẽ không được bay nữa, trở về nơi đỗ an toàn. Lợi dụng điểm này, ông Trung đã quyết định táo bạo: Đánh lạc hướng, làm cho phi đội trưởng và đài kiểm soát không lưu nhầm lẫn trong việc chỉ huy bay.

“Phi đội bay ra Phan Rang lần ấy có 3 chiếc, tôi ở vị trí số 2. Khi viên chỉ huy quay lại nhìn, tôi giơ 2 ngón út và áp út để báo bị trục trặc về điện. Ông ấy ra hiệu cho tôi ở lại, còn số 1 và 3 cất cánh bình thường. Tôi vừa mừng vừa hồi hộp, thầm nhủ thời cơ đến rồi” – ông Trung nhớ lại. Sau khi 2 máy bay cất cánh, ông Trung đếm 5 giây, cộng thêm 5 giây nữa và cũng cất cánh. Phi đội nghĩ là ông ở lại, còn đài chỉ huy cho rằng ông chỉ bị trễ một chút và đã tiếp tục cất cánh chứ không có gì trục trặc. Trong khoảnh khắc ngắn ngủi 5 giây cuối đó, ông đã bay thẳng về hướng Sài Gòn.

Chỉ sau 5 phút, ông đã đến mục tiêu và ném bom xuống Dinh Độc Lập. Hoàn thành nhiệm vụ, ông hạ cánh an toàn trên đường băng dã chiến ở sân bay Phước Long (nay thuộc Bình Phước) trong sự vui mừng khôn xiết của các cán bộ, chiến sĩ. Hai tuần sau, ngày 21-4, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu từ chức và chạy ra nước ngoài.

Điều không tưởng với người Mỹ

Đại tá Nguyễn Thành Trung còn làm nên một kỳ tích khi chỉ trong 4 ngày đã huấn luyện Phi đội Quyết thắng lái được máy bay A37 để thực hiện nhiệm vụ ném bom sân bay Tân Sơn Nhất vào ngày 28-4-1975.

Năm 1985, một đoàn khách Mỹ 5 người đến Việt Nam muốn gặp đại tá Trung để nói chuyện về chiến tranh. Sau khi gặp, Bộ Ngoại giao cũng như ông hoàn toàn bất ngờ vì biết trong đoàn có 2 nhân viên CIA. Trong buổi gặp, họ hỏi: “Tôi biết ông lấy được máy bay chúng tôi ở Đà Nẵng rồi đem về huấn luyện đồng đội nhưng không thể nào hiểu được vì sao chỉ trong thời gian rất ngắn, ông có thể làm được?”. Ông Trung khẳng khái: “Người Mỹ các ông sẽ không bao giờ hiểu được. Khi mất nước, chúng tôi có thể làm bất cứ điều gì để mang lại kết quả cao nhất”.

Đại tá Trung cho biết ngày 22-4-1975, ông mới đến Đà Nẵng nhưng ngày 28-4 phải ném bom. Thời gian 6 ngày nhưng chuyển quân hết 2 ngày, ông chỉ còn 4 ngày để huấn luyện. Khó nhất là lúc bấy giờ, phi công của ta chưa từng lái máy bay Mỹ, chỉ quen Mig của Liên Xô và chủ yếu sử dụng máy bay tiêm kích. Lần này, nhiệm vụ của họ là phải sử dụng thành thạo những “con chim sắt” A37. “Bằng ý chí, trí tuệ và nghị lực, chúng tôi đã làm được. Đó là điều không tưởng với người Mỹ bởi họ huấn luyện một phi công phải mất 3 tháng” – ông Trung tự hào.

Cũng tại cuộc gặp này, một nhân viên CIA đã tiếp lộ rằng khi đó, Mỹ biết chắc chắn Việt cộng sẽ tấn công Sài Gòn. “Mỹ nghĩ trận chiến đó sẽ xảy ra ở Sài Gòn nên để 3.000 cố vấn ở lại chỉ với mục đích duy nhất là xem đánh nhau” – ông Trung kể. Thế nhưng, người Mỹ đâu ngờ được ngày 28-4-1975, ta ném bom Tân Sơn Nhất, họ buộc phải thay đổi kế hoạch và lập tức đưa ngay 3.000 cố vấn rời Sài Gòn bằng trực thăng. Chính sự rút đi đột ngột của Mỹ đã khiến cuộc chiến rối loạn. Một lực lượng quân ngụy đã buông súng đầu hàng và 2 ngày sau, Chiến dịch Hồ Chí Minh thắng lợi vẻ vang, đất nước hoàn toàn thống nhất.

Không còn đứng 2 đầu chiến tuyến

Chiến dịch ném bom xuống Hà Nội của Mỹ 40 năm trước gặp sự phản đối mạnh mẽ trên khắp thế giới. Làn sóng phản đối càng gay gắt hơn trong lòng nước Mỹ. Trong những ngày B52 đánh phá ác liệt ấy, cựu binh Robert Mulholland đã tổ chức cuộc vận động sâu rộng trên toàn nước Mỹ để chống chiến tranh xâm lược Việt Nam, chống ném bom bằng B52 xuống Hà Nội. “Tôi là lính nhảy dù của Mỹ ở chiến trường miền Nam những năm 1967-1968. Sau khi tìm hiểu và đọc Hiệp định Geneve năm 1954, tôi hiểu tổng thống Lyndon Baines Johnson và Richard Milhous Nixon đã nói dối người dân Mỹ” – ông Robert Mulholland cho biết. Còn cựu binh Mỹ David Anderson Everett, phi công lái máy bay F4, tâm sự: “Vì mệnh lệnh, chúng tôi đã ném bom xuống mảnh đất xinh đẹp của các bạn. Tôi rất lấy làm tiếc. Sau 40 năm, trở lại Việt Nam, tôi rất vui khi chúng ta không đứng ở 2 đầu chiến tuyến nữa”.

Bài và ảnh: PHAN ANH
nld.com.vn

Kỳ trước: Huyền thoại “Điện Biên Phủ trên không”

Hào khí Điện Biên Phủ trên không

12 NGÀY ĐÊM CẢM TỬ (***)

Những người lính phòng không – không quân hôm nay luôn nêu cao khẩu hiệu: Không để Tổ quốc bị bất ngờ từ những tình huống trên không. Với họ, truyền thống của đơn vị anh hùng trong 12 ngày đêm là tài sản tinh thần vô giá.

Sư đoàn Phòng không Hà Nội và Sư đoàn Không quân Thăng Long những ngày này rộn ràng với những phong trào thi đua chào mừng 40 năm chiến thắng Điện Biên Phủ trên không. Đây là 2 đơn vị sở hữu “bảng vàng thành tích” đáng tự hào trong 12 ngày đêm cảm tử.

Bài học vô giá

Trung tá Trương Bảo Anh, Trung đoàn phó Trung đoàn 257, đang làm luận văn thạc sĩ về đề tài “Xây dựng thế trận phòng không Hà Nội trong chiến thắng Điện Biên Phủ trên không”. Trung đoàn 257 chính là đơn vị bắn rơi nhiều máy bay B52 nhất trong chiến dịch 12 ngày đêm. “Tôi say mê những câu chuyện về trận đánh trên không 40 năm trước từ thời còn là học sinh. Sau này, tôi quyết tâm thi vào trường quân đội và trở thành sĩ quan lực lượng phòng không để tiếp tục nghiên cứu, tìm hiểu nhiều hơn về chiến thắng hào hùng của thế hệ cha anh” – ông tâm sự.

Lớp phi công trẻ từng bước làm chủ chiến đấu cơ hiện đại

Tổ hợp tên lửa C300 đời mới của lực lượng phòng không.Ảnh: QUÂN CHỦNG PHÒNG KHÔNG – KHÔNG QUÂN

Trung tá Bảo Anh cho rằng hào khí Điện Biên Phủ trên không cũng như những bài học của thế hệ cha anh để lại là vô giá. “Đường lối chiến tranh nhân dân, thế trận phòng không nhân dân vẫn là bài học lớn nhất rút ra được từ chiến thắng Điện Biên Phủ trên không” – ông nhìn nhận.

Trong luận văn của mình, trung tá Bảo Anh ghi rõ: “Một trong những yếu tố tác động trực tiếp đến thành công của chiến dịch 12 ngày đêm là quân và dân ta đã xây dựng được một thế trận phòng không hết sức sáng tạo, độc đáo, trở thành yếu tố cấu thành nghệ thuật tác chiến phòng không, góp phần làm nên trường phái của học thuyết quân sự Việt Nam”.

Vị chỉ huy trung đoàn tên lửa anh hùng đúc kết: “Ta đã xây dựng được một thế trận phòng không 3 thứ quân vững chắc và duy trì được sự hiệp đồng tác chiến chặt chẽ giữa các lực lượng. Bên cạnh lực lượng phòng không chủ lực, tại Hà Nội, ta đã tổ chức được gần 100 trận địa pháo phòng không tầm thấp và 4 đại đội cao xạ tầm trung, nhiều trận địa được bố trí trên các tòa nhà cao tầng, gần những mục tiêu trọng điểm, đón lõng các đường bay của địch…”.

Hiện đại hóa khí tài, vũ khí

Đại tá Nguyễn Việt Hùng, Phó Chính ủy Sư đoàn Không quân Thăng Long, cho biết: “Vừa qua, Quân chủng Phòng không – Không quân đã tiến hành tổng kết một số trận đánh mà không quân của ta bắn rơi nhiều máy bay Mỹ để đưa vào chương trình giáo dục, giảng dạy cho lớp phi công mới”.

Trong quá trình xây dựng và chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, riêng Sư đoàn Không quân Thăng Long có tới 33 người được tuyên dương anh hùng. Đó là những người đã tô thắm trang sử của sư đoàn được coi là “anh cả” của không quân Việt Nam này. Theo đại tá Hùng, yêu cầu đặt ra trong tình hình hiện nay là phải đổi mới và nâng cao khả năng chiến đấu của đơn vị. Những Mig 17, Mig 19, Mig 21 từng là niềm tự hào của không quân miền Bắc giúp ta lập nhiều chiến công đang dần được thay thế bằng các loại máy bay chiến đấu hiện đại hơn như Su 22, Su 22M4, Su 30MK2 và trực thăng vũ trang. “Với trang bị như hiện nay, chúng tôi đủ khả năng sẵn sàng chiến đấu, cùng với các lực lượng quản lý vững chắc vùng trời, vùng biển đảo và thềm lục địa của Tổ quốc, không để đất nước bị bất ngờ từ những tình huống trên không” – ông Hùng tự tin.

Dù vậy, vị phó chính ủy sư đoàn không quân anh hùng vẫn ưu tư: “Cái thiếu hiện nay là nhân lực, đội ngũ phi công giỏi. Đội ngũ phi công các loại máy bay cũ của chúng tôi từ nay đến năm 2016 sẽ được chuyển loại toàn bộ để có thể vận hành những chiến đấu cơ hiện đại”.

Vũ khí, khí tài phục vụ thế trận phòng không của ta hiện nay cũng đang từng bước được hiện đại hóa. Trung tá Trương Bảo Anh nhìn nhận: “Quan trọng là phải khai thác hết các tính năng, làm chủ khí tài, vũ khí”. Vị chỉ huy trung đoàn 40 năm trước từng lập nên kỳ tích bắn rơi 25 “pháo đài bay” liệt kê các loại tên lửa, tổ hợp tên lửa mà Quân chủng Phòng không – Không quân đang có trong tay và khẳng định: “Chúng ta đủ sức đánh trả bất kỳ âm mưu tập kích đường không nào”.

Tổn thất chưa từng có của Mỹ

Một phi công Mỹ may mắn thoát chết trong chiến dịch Linebacker II (12 ngày đêm) kể lại ác mộng kinh hoàng: “Khi những chiếc B52 đầu tiên tới vùng trời Hà Nội, tên lửa đất đối không bắn như pháo hoa lên máy bay chúng tôi. Từ khi vào mục tiêu, anh bạn xạ thủ đã đếm được 32 tên lửa SAM bắn vào hoặc ít ra cũng bay sát máy bay chúng tôi”.

Qua 12 ngày đêm, từ ngày 18 đến 29-12-1972, có 81 máy bay Mỹ bị bắn rơi, trong đó gồm 34 “pháo đài bay”. Trong hồi ký của mình, Tổng thống Mỹ Nixon thừa nhận: “Nỗi lo của tôi trong những ngày ấy không phải là những làn sóng phản đối, phê phán nghiêm khắc ở trong nước và trên thế giới, mà chính là mức độ tổn thất về máy bay B52 quá nặng nề”.

Trong các cuộc chiến tranh, ở những trận tập kích đường không lớn, tỉ lệ tổn thất máy bay của phe tấn công khoảng 1%-2%. Tuy nhiên, trong chiến dịch Linebacker II, tỉ lệ tổn thất máy bay của Mỹ (chỉ tính riêng B52) đã lên tới 17%, một con số chưa từng có.

MẠNH DUY
nld.com.vn

————————-

12 NGÀY ĐÊM CẢM TỬ
Phi đội bay quyết tử
Tuổi trẻ can trường

Người lính canh chừng B-52 bên Cột cờ Hà Nội

(Chinhphu.vn) – “Suốt 12 ngày đêm tháng 12/1972, chúng tôi biết mình có thể hi sinh bất cứ lúc nào nhưng chưa bao giờ run sợ trước kẻ thù, luôn bám trụ Cột cờ Thủ đô”, ông Trần Đức Thịnh, ở xã Úc Kỳ (huyện Phú Bình, Thái Nguyên), nguyên Tiểu đội trưởng Tiểu đội Cột cờ bồi hồi nhớ lại.

Những người lính của Tiểu đội Cột cờ năm xưa-Ảnh do nhân vật cung cấp

Nhiệm vụ của Tiểu đội Cột cờ trong những ngày Mỹ ném bom phá hoại miền Bắc là quan sát Hà Nội và vùng phụ cận, bằng mắt thường, hay qua ống nhòm, trong từng trận ném bom để báo cáo diễn biến cho Cục Tác chiến, Bộ Tổng Tham mưu.

Ông Dương Sỹ Nguyên, Chủ tịch Hội Cựu chiến binh xã Úc Kỳ, trên đường dẫn chúng tôi đến nhà ông Thịnh cứ tấm tắc mãi: “Mỗi lần nghe anh Thịnh kể về những ngày tháng làm nhiệm vụ bảo vệ Cột cờ Hà Nội dưới bom đạn của đế quốc Mỹ, chúng tôi luôn cảm thấy tự hào về ý chí quật cường của quân và dân ta”.

Qua câu chuyện bên chén trà nóng, ông Thịnh cho biết từ năm 1966, ông đã được điều chuyển sang tiểu đội Cột cờ Hà Nội.

Hàng ngày, tiểu đội chia làm 3 ca thay nhau trực. Mỗi ca có 4 người, chia làm 4 hướng. Mỗi người chịu trách nhiệm quan sát một hướng nhất định. Cả tiểu đội bao quát toàn bộ các vị trí ở Hà Nội, kịp thời báo cáo diễn biến từng trận đánh về Cục Tác chiến bằng điện thoại.

Bình thường trên đỉnh Cột cờ rất bằng phẳng, nhưng trong những trận ném bom, mỗi người lính tự buộc mình vào cột thu lôi trên cột cờ bằng dây dây da cho khỏi bị ngã, nhất là trong những trận bom ném gần ga Hà Nội, phố Khâm Thiên, Cửa Nam…

Biết mình có thể hi sinh bất kể lúc nào, nhưng ông Thịnh và đồng đội luôn tâm niệm lời thề trong bất kể tình huống nào, cũng không rời vị trí.

Từ Cột cờ Hà Nội, nhiều lần ông Thịnh và đồng đội vô cùng đau xót khi chứng kiến cảnh tàn phá khủng khiếp của những trận bom Mỹ rải xuống Hà Nội và vùng phụ cận.

 “Có lần tôi đang làm nhiệm vụ, máy bay Mỹ đến oanh kích Hà Nội, ném bom cầu Long Biên. Mới đầu, chúng thả bom hơi, rồi bom phá, cuối cùng là bom tấn làm mấy nhịp cầu đổ sập xuống, trời đất mù mịt. Người tôi giật tung lên. Có nhiều lúc chúng tôi cảm tưởng như bom nổ ngay bên mình”, ông Thịnh nhớ lại.

Song mọi thành viên trong Tiểu đội Cột cờ đều nén đau thương để nhìn kỹ, nhìn chính xác vị trí của từng trận ném bom của địch để báo cáo về Cục Tác chiến, góp phần cung cấp thông tin trong việc xây dựng các phương án phòng không hiệu quả cho Thủ đô.

Ông Trần Đức Thịnh đang xem lại những kỉ vật thời chiến tranh-Ảnh: VGP/Nguyễn Thắng

Ông Thịnh nói rằng, trong suốt 7 năm làm nhiệm vụ ở Cột cờ Hà Nội, 12 ngày đêm cuối năm 1972 là khốc liệt, gian khổ nhưng cũng rất tự hào, anh dũng.

12 ngày đêm rực lửa ấy, máy bay Mỹ rải bom dữ dội xuống Thủ đô và các tỉnh lân cận, ông cùng đồng đội làm việc suốt đêm không ngủ. Cứ mỗi lần nghe tiếng báo động, mọi người xuống hầm trú ẩn còn cả Tiểu đội Cột Cờ lại lên vị trí quan sát không sợ mưa bom bão đạn của kẻ thù.

“Lúc đó, ranh giới giữa sự sống và cái chết rất mong manh. Chúng tôi biết mình có thể hi sinh bất cứ lúc nào. 12 người chúng tôi cầm tay nhau đứng dưới chân Cột cờ cùng thề sẵn sàng hi sinh vì Tổ quốc”, ông Thịnh nói.

Đêm 19/12/1972, máy bay B-52 của Mỹ liên tục dội bom xuống Thủ đô làm rung chuyển đất trời. lực lượng phòng không Việt Nam đáp trả bằng tên lửa, pháo phòng không sáng rực cả bầu trời.

Xác máy bay B-52 bị bắn rơi, cháy đỏ rực. Các mảnh vỡ bay tung tóe…

Giờ đây, hồi tưởng về những ngày tháng không thể nào quên ấy, trong tình cảm của người cựu chiến binh vẫn còn nguyên vẹn niềm tự hào. Ông nói: “Chúng tôi không sợ bom đạn của kẻ thù. 12 người lính trong tiểu đội Cột cờ đều thấy vinh dự và tự hào khi được làm nhiệm vụ dưới lá cờ Tổ quốc giữa Thủ đô Hà Nội trong những ngày tháng rực lửa ấy”.

Nguyễn Thắng
chinhphu.vn

“Điện Biên Phủ trên không” qua ký ức một tiêu đồ viên

(Chinhphu.vn) – Trong chiến dịch “Điện Biên Phủ trên không”, Hầm Chỉ huy tác chiến Bộ Tổng Tham mưu là nơi chứng kiến cuộc đấu trí cam go giữa Việt Nam với Hoa Kỳ.

Ông Nguyễn Đức Phách, ngoài cùng bên trái, thăm lại Hầm Tác chiến. Ảnh: VGP/Việt Hà

 

Phóng viên Cổng Thông tin Điện tử Chính phủ có dịp trò chuyện với cựu chiến binh Nguyễn Đức Khách, một tiêu đồ viên đã có mặt trong Hầm Tác chiến trong những ngày khốc liệt năm 1972.

Thưa ông, nhiệm vụ của một tiêu đồ viên là gì?

Tiêu đồ viên có nhiệm vụ theo dõi đường bay của máy bay địch và máy bay ta, ghi lại thông tin tình hình về máy bay địch do rađa thu thập qua tổng hợp của tổng đài Phòng không – Không quân.

Thông tin đó về từng tốp máy bay, loại gì, bao nhiêu chiếc. Có những tốp vào gần ven biển lại quay ra, có thể muốn trinh sát hoặc thăm dò một cái gì đó. Diễn biến đó phải được theo dõi sát.

Ông làm việc dưới Hầm Tác chiến Bộ Tổng Tham mưu thời gian nào?

Tôi nguyên từ Trung đoàn rađa 291 đóng tại Sân bay Gia Lâm. Đồng chí Phùng Thế Tài điều tôi về làm tiêu đồ viên từ tháng 2/1965. Năm 1967, Hầm Tác chiến được xây dựng xong, chúng tôi xuống làm việc ở đây, cho đến khi hòa bình.

Trong 12 ngày đêm với cường độ dày đặc máy bay Mỹ vào như vậy, các tiêu đồ viên làm như thế nào để kịp ghi đường bay?

Chúng tôi vẫn làm việc như ngày thường nhưng chỉ có điều phải nhanh mắt, nhanh tay và cường độ làm việc tối đa. Chúng tôi làm việc bằng tất cả tinh thần và ý chí để làm thế nào thông tin kịp thời và chuẩn xác cho Sở chỉ huy, giúp Trung ương và Bộ Quốc phòng lãnh đạo toàn quân, toàn dân đánh thắng B-52.

Tinh thần của cán bộ, chiến sỹ trong Hầm Tác chiến khi đó thế nào?

Chúng tôi chỉ trào lên lòng căm thù trước tội ác ném bom giết hại người dân vô tội nhưng phải nén lại để hoàn thành nhiệm vụ mà quân đội giao cho. Ban đêm, chúng tôi tập trung hết dưới hầm, vừa trú ẩn nhưng thực ra là trực chiến.

Những lúc lên khỏi hầm, đứng trên Lầu Công chúa, chúng tôi thấy một Hà Nội hiên ngang đánh trả những trận bom B52 dội xuống. Người dân Hà Nội những ngày đó rất bình thản, những người lại đều tham gia dân quân, tự vệ, luôn khoác súng trên vai.

Ông có kỷ niệm nào đáng nhớ nhất trong 12 ngày đêm ấy?

Kỷ niệm thì nhiều lắm. Nhưng kỷ niệm mà chúng tôi không thể quên là khi nghe thông báo đã bắn gục B52. Lúc đó, chúng tôi sung sướng lắm, càng thêm quyết tâm và  ý chí trong công việc.

Mỗi lúc như vậy, chúng tôi thấy vui vì mình đã hoàn thành tốt nhiệm vụ của một người lính.

Nhưng chúng tôi cũng không thể quên hình ảnh Bạch Mai, Khâm Thiên bị tàn phá bởi bom Mỹ, hàng nghìn người chết, có gia đình không còn ai…

Hôm nay về đây, cảm xúc của ông thế nào ?

Nhiều lần muốn về thăm lại nơi này nhưng đây là lần đầu tiên tôi trở lại nơi mình đã gắn bó suốt thời trai trẻ. Chúng tôi rất xúc động và phấn khởi. Trong không khí kỷ niệm 40 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ trên không, tôi tự hào vì đã góp phần cùng với quân dân cả nước đánh bại B52 của Mỹ. Đó cũng là niềm tự hào mà tôi muốn nhắn nhủ tới con cháu và các thế hệ sau này: Bất cứ giá nào cũng phải giữ được độc lập tự do, phải xây dựng được Tổ quốc ta mạnh giàu.

Việt Hà (Thực hiện)
chinhphu.vn

Công an nhân dân với chiến thắng “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không”

(Chinhphu.vn) – Nhân dịp kỷ niệm 40 năm chiến thắng “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không”, Cổng TTĐT Chính phủ trân trọng giới thiệu bài viết: “Lực lượng Công an nhân dân góp phần xứng đáng vào chiến thắng Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không” của Thượng tướng Trần Đại Quang,  Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Công an. Bài viết nêu  bật những đóng góp to lớn của lực lượng Công an nhân dân trong những ngày lịch sử ấy.

Đúng vào những ngày này cách đây 40 năm, từ 18-29/12/1972, đế quốc Mỹ đã cho máy bay chiến lược B52 và các loại máy bay chiến thuật trút hơn 100 nghìn tấn bom xuống Hà Nội, Hải Phòng và một số mục tiêu trọng yếu khác trên miền Bắc nước ta, hòng đè bẹp ý chí chiến đấu của quân và dân ta, gây sức ép buộc ta phải chấp nhận những điều kiện của họ tại Hội nghị Paris về “Chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam”.

Với tinh thần chiến đấu kiên cường, quả cảm, mưu trí, sáng tạo, quân và dân ta đã đánh bại hoàn toàn cuộc tập kích đường không chiến lược chủ yếu bằng B52 của đế quốc Mỹ, làm nên chiến thắng lững lẫy “Hà Nội – Điện Biên phủ trên không”, buộc đế quốc Mỹ phải ngồi lại vào bàn đàm phán, ký kết Hiệp định Paris chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, tạo ra bước ngoặt lịch sử, góp phần rất quan trọng đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta đi đến thắng lợi hoàn toàn.

Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy đang chữa cháy tại Tổng kho Xăng dầu Đức Giang năm 1972. Ảnh tư liệu

 

Hiệp đồng chiến đấu, chủ động bảo vệ an ninh trật tự

Trong trận chiến đấu 12 ngày đêm lịch sử ấy, có sự đóng góp quan trọng của lực lượng Công an nhân dân trên lĩnh vực bảo vệ an ninh, trật tự, bảo vệ tài sản của Nhà nước, tính mạng, tài sản của nhân dân.

Ngay từ năm 1971, tại Hội nghị Công an toàn quốc lần thứ 26, Đảng đoàn và lãnh đạo Bộ Công an đã xác định rõ phương hướng, nhiệm vụ cho toàn lực lượng Công an năm 1972: “Tiếp tục giữ vững an ninh chính trị và bảo đảm trật tự xã hội với yêu cầu cao hơn và khẩn trương hơn; xác định các địa bàn trọng điểm phải tập trung chỉ đạo là Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh. Các cấp công an từ Đồn, Huyện đến Ty, Sở đều phải chuyển sang thực hiện nếp sống quân sự hoá, mọi sinh hoạt, công tác, học tập đều phải chuyển hướng theo tình hình thời chiến để có thể sẵn sàng đối phó có hiệu quả trước mọi âm mưu phiêu lưu quân sự mới của địch”. Đồng thời, quán triệt Nghị quyết số 220-NQ/TW, ngày 1/6/1972 của Bộ Chính trị “Về chuyển hướng và đẩy mạnh mọi mặt công tác ở miền Bắc để tiếp tục đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”, Bộ Công an đã kịp thời có kế hoạch chuyển hướng hoạt động nhằm đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ đảm bảo an ninh, trật tự trong tình hình mới.

Khi đế quốc Mỹ gây chiến tranh phá hoại trở lại miền Bắc, thả mìn, phong toả cảng và đánh phá thành phố Hải Phòng, Bộ Công an đã chỉ đạo Sở Công an Hà Nội cử đoàn cán bộ xuống Hải Phòng nghiên cứu quy luật đánh phá của địch, rút kinh nghiệm công tác phòng không sơ tán, khắc phục hậu quả, giữ gìn trật tự, an ninh của thành phố Hải Phòng để bổ sung kịp thời vào kế hoạch và các phương án chiến đấu của Công an Thủ đô.

Quán triệt tư tưởng chỉ đạo của Bộ Công an, Công an Hà Nội, Công an thành phố Hải Phòng và một số địa phương khác đã tổ chức thực tập phương án phối hợp, hiệp đồng chiến đấu giữa lực lượng Công an với lực lượng Quân đội, Giao thông, Y tế… trong công tác đảm bảo giữ gìn an ninh, trật tự khi có tình huống xảy ra. Lực lượng Công an đã tham mưu với cấp ủy, chính quyền tổ chức sơ tán ra khỏi các thành phố Hà Nội, Hải Phòng hơn 500.000 người già, trẻ em và những người không trực tiếp sản xuất, chiến đấu; tổ chức lực lượng tuần tra, canh gác bảo vệ những địa bàn trọng điểm, bảo vệ các tuyến đường giao thông vận tải và tổ chức các đội cứu hỏa, cứu sập; phối hợp với các ban, ngành trong việc nạo vét, củng cố các hầm trú ẩn đã có, tích cực làm hầm mới và lập hồ sơ hầm trú ẩn trong thành phố; thành lập các đội tải thương, cứu thương, sửa chữa điện, nước, thu dọn đường sá, hướng dẫn giao thông, chôn cất người bị hy sinh và cứu giúp người bị nạn; phối hợp với Quân đội thành lập Bộ Chỉ huy chung để thống nhất chỉ đạo, xây dựng và triển khai thực hiện các phương án tuần tra cảnh giới, bảo vệ mục tiêu. Công tác tuần tra, bảo vệ an toàn tài sản của những người dân đi sơ tán đã được lực lượng Cảnh sát khu vực, Cảnh sát bảo vệ phối hợp với lực lượng dân quân tự vệ đảm bảo tốt.

Công an các địa phương đã mở đợt tấn công trấn áp những phần tử có thể gây nguy hại đến an ninh, trật tự, bắt tập trung giáo dục cải tạo hàng nghìn đối tượng lưu manh, trộm cắp. Do công tác chuẩn bị khẩn trương, tích cực, nên khi bước vào cuộc chiến đấu ác liệt với địch, lực lượng Công an đã đối phó với tình hình một cách chủ động, linh hoạt, bảo vệ an ninh, trật tự, phục vụ tốt nhiệm vụ chiến đấu, góp phần làm giảm thiệt hại về tài sản của Nhà nước, tính mạng và tài sản của nhân dân.

Trong những ngày cuối tháng 12/1972, công an Thủ đô luôn sát cánh cùng các lực lượng khác chiến đấu và giữ gìn an ninh. Ảnh Tư liệu

 

Trong chiến dịch 12 ngày đêm chiến đấu, giữa mưa bom, bão đạn, cán bộ, chiến sĩ công an Hà Nội, Hải Phòng và một số địa phương đã luôn bám sát vị trí chiến đấu, tiếp tục làm tốt công tác vận động nhân dân phòng không sơ tán, dũng cảm cứu dân, bảo vệ tài sản của Nhà nước và tài sản của nhân dân. Lực lượng Cảnh sát bảo vệ  đã dũng cảm chiến đấu, bảo vệ các mục tiêu chính trị, kinh tế, văn hoá, khoa học – kỹ thuật của Trung ương và địa phương, như Đài phát thanh Mễ Trì (Từ Liêm), kho xăng Đức Giang (Gia Lâm), Đài Điện Ly (Đông Anh), Đài phát tín Sơn Đồng (Hoài Đức), cầu Long Biên, Nhà máy Điện Yên Phụ ở Hà Nội, cảng Hải Phòng và các mục tiêu khác thường xuyên bị máy bay Mỹ bắn phá. Lực lượng Công an đã ngày, đêm bám trụ, tổ chức việc cứu người, dập lửa, tổ chức canh gác, chăm lo bảo vệ tài sản cho nhân dân; thăm hỏi động viên những gia đình bị nạn, tích cực góp phần cùng với chính quyền địa phương và các đoàn thể nhanh chóng ổn định mọi sinh hoạt  thường ngày cho nhân dân. Đặc biệt, lực lượng Công an Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh…  đã không quản tính mạng, tập trung đào bới cứu hàng nghìn người bị  sập hầm.

Hình ảnh người chiến sĩ công an với sắc phục truyền thống, có mặt ở các trận địa nóng bỏng nhất, trên từng con đường, ngõ, phố của Hà Nội, Hải phòng, Quảng Ninh… trong 12 ngày đêm chiến đấu đã trở nên quen thuộc, gần gũi với người dân. Xuất hiện nhiều tấm gương cán bộ, chiến sĩ công an xông pha trong nơi lửa đạn cõng em bé, cụ già ra hầm trú ẩn; hướng dẫn và cùng đội viên dân phòng, bảo vệ dân phố chữa cháy, cứu thương, cứu sập; tiêu biểu cho tinh thần “Vì nước quên thân vì dân phục vụ” là tấm gương của anh hùng Nguyễn Văn Uân, cảnh sát khu vực Mai Hương, khu phố Hai Bà Trưng đã dũng cảm hy sinh thân mình cứu dân dưới làn bom, đạn xối xả của kẻ thù.

Lực lượng Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy của Bộ và các địa phương đã tổ chức sẵn sàng chiến đấu về lực lượng và phương tiện; bố trí thường trực cao nhất để tiếp nhận, xử lý thông tin, kịp thời có mặt tại hiện trường, bất chấp bom rơi, dập tắt các đám cháy, cứu thương, cứu sập, bảo vệ tính mạng của nhân dân, tài sản của Nhà nước và của nhân dân. Khi máy bay Mỹ tập trung đánh phá các trận địa tên lửa phòng không, kho xăng dầu, cảng, khu dân cư, nhà máy điện… lực lượng Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy đã không quản hy sinh, kiên cường bám trụ, ngày đêm chữa cháy; đặc biệt khi trận địa tên lửa phòng không Chèm bị trúng bom, một quả tên lửa đang nằm trên bệ phóng bị mảnh bom xuyên thủng, nhiên liệu chảy ra ngoài gây cháy, cán bộ, chiến sĩ phòng cháy, chữa cháy đã kịp thời có mặt, khống chế nhiên liệu chảy ra từ quả tên lửa, tập trung dập gọn từng cụm lửa, cứu được cả trận địa tên lửa trước sự khâm phục của bộ đội và nhân dân. Đêm 19 rạng ngày 20/12/1972, khi máy bay địch ném bom cảng Hải Phòng, làm cháy tàu JOZEP KORNAD của Ba Lan và một số kho hàng trong cảng, lực lượng Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy đã phối hợp với bảo vệ cảng chữa cháy kịp thời, dập tắt đám cháy trên tàu, cứu được 11 thuỷ thủ bạn bị thương.

Trên mặt trận đảm bảo an toàn giao thông, với quyết tâm “Sống bám cầu đường, chết kiên cường anh dũng”, cán bộ, chiến sĩ cảnh sát giao thông đã phối hợp với lực lượng Giao thông ngày đêm bám tuyến đường, thường trực chiến đấu, phân tuyến, phân luồng, dũng cảm chỉ huy trật tự giao thông trên đường phố; giải toả kịp thời tắc nghẽn, đảm bảo giao thông thông suốt, nhân dân đi sơ tán được thuận lợi, an toàn. Nhiều tấm gương chiến đấu dũng cảm của lực lượng Cảnh sát giao thông bảo vệ cầu, phà, đường bộ, đường sắt, đường thủy đã được nhân dân ca ngợi, tiêu biểu là đồng chí cảnh sát giao thông Phan Điện Biên đã dũng cảm nhảy lên toa xe lửa đang cháy, giật chốt cho toa xe lửa tách toa hàng để bảo vệ tài sản Nhà nước.

Cùng với việc tập trung lực lượng vào công tác phòng không và khắc phục hậu quả do bom đạn Mỹ gây ra, Công an Hà Nội, Hải Phòng và một số địa phương khác vẫn đẩy mạnh các mặt công tác trấn áp các loại tội phạm lợi dụng tình hình địch đánh phá để trộm cắp tài sản, gây rối trật tự, an ninh; việc phối hợp với lực lượng dân quân, tự vệ, thanh niên tuần tra trong khối phố được tăng cường, nên tội phạm và các tệ nạn xã hội đã giảm nhiều so với trước.

Bài học quý từ thực tiễn chiến đấu

Sau chiến dịch 12 ngày đêm, lực lượng Công an nhân dân tiếp tục phối hợp cùng với các ban, ngành, các lực lượng nhanh chóng tổ chức ổn định đời sống sinh hoạt của nhân dân và giải quyết hậu quả chiến tranh, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội.

Trong đợt chiến đấu ác liệt này, 18 cán bộ, chiến sĩ công an đã anh dũng hy sinh, hàng trăm đồng chí khác bị thương; 2 tập thể và 1 cá nhân được tuyên dương Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân; 15 đơn vị được tặng thưởng Huân chương Chiến công các loại. Cùng với Công an Hà Nội, Công an Hải Phòng, Ty Công an Quảng Ninh cũng được Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng ký lệnh khen thưởng Huân chương Kháng chiến và Huân chương Chiến công vì thành tích xuất sắc trong chống chiến tranh phá hoại miền Bắc của đế quốc Mỹ, đặc biệt là trong chiến dịch 12 ngày đêm chống B.52 của đế quốc Mỹ.

Những phi công Mỹ bị bắt và giam giữ tại Hỏa Lò, trong chiến dịch Hà Nội-Điện Biên phủ trên không-Ảnh tư liệu

 

Kỷ niệm 40 năm chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên phủ trên không”, lực lượng Công an nhân dân tự hào về những chiến công, những đóng góp to lớn trên lĩnh vực đảm bảo an ninh, trật tự, góp phần xứng đáng cùng với quân và dân cả nước đánh bại cuộc tập kích đường không chiến lược tàn bạo của đế quốc Mỹ.

Thực tiễn bảo vệ an ninh, trật tự, bảo vệ tài sản của Nhà nước, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân trong cuộc chiến đấu ác liệt 12 ngày đêm chống pháo đài bay B.52 của đế quốc Mỹ trên bầu trời Hà Nội, Hải Phòng và một số địa phương khác đã để lại những bài học kinh nghiệm quý báu cho các thế hệ cán bộ, chiến sĩ công an.

Trước hết, đó là bài học kết hợp chặt chẽ giữa phòng không nhân dân với thế trận an ninh nhân dân, chủ động nắm tình hình kịp thời, chính xác; nhanh chóng chuyển hướng về tổ chức và chỉ đạo toàn lực lượng thích ứng với tình hình thời chiến; tích cực làm tốt công tác chuẩn bị trước khi bước vào trận chiến đấu; đoàn kết, phối hợp, hiệp đồng chiến đấu chặt chẽ với lực lượng quân đội, dân quân tự vệ, bảo vệ dân phố và các ban, ngành có liên quan và quan trọng nhất là bài học nêu cao tinh thần trách nhiệm vì nước, vì dân, quên thân phục vụ, giữ vững hình ảnh cao đẹp của người cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân trong lòng nhân dân. Những bài học đó vẫn còn nguyên giá trị đối với sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội và xây dựng lực lượng Công an nhân dân Việt Nam trong tình hình hiện nay.

Phát huy truyền thống quật cường, anh dũng của chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên phủ trên không”, lực lượng Công an nhân dân nguyện trung thành tuyệt đối với Đảng, với Tổ quốc và hết lòng phụng sự nhân dân, tiếp tục nỗ lực phấn đấu, vươn lên, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội trong tình hình mới, góp phần thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế của đất nước.

*Các tiêu đề bài viết do Cổng TTĐT Chính phủ đặt
chinhphu.vn

Bắn rơi F-111A bằng súng phòng không

(Chinhphu.vn)-Chỉ với những khẩu súng máy cao xạ 14,5mm nhưng lực lượng tự vệ Nhà máy cơ khí Lương Yên, Nhà máy cơ khí Mai Động, Nhà máy gỗ Hà Nội, đã bắn rơi 1 máy bay chiến đấu hiện đại F-111A của Mỹ, góp phần vào chiến thắng “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không” 40 năm trước.

Bà Phạm Thị Viễn

Kể về những ngày tháng bom Mỹ cày xới Hà Nội 40 năm trước, bà Phạm Thị Viễn, nữ pháo thủ của Trung đội tự vệ Nhà máy cơ khí Mai Động, Hà Nội, nhiều lần nghẹn lời khi nhớ lại những người thân bị bom Mỹ sát hại.

Năm 1967, mẹ của bà Viễn đã thiệt mạng trong một đợt ném bom của máy bay Mỹ. Còn trong những ngày liên tục trực chiến tại trận địa phòng không những ngày cuối năm 1972, bà Viễn lại đón nhận tin dữ, đêm 26/12, bom B52 đã dội trúng hầm và giết hại 2 người anh họ và bố của bà Viễn.

Trong đau thương, mất mát, bà Viễn và đồng đội càng nung nấu quyết tâm chiến đấu và cùng quân và dân Thủ đô Hà Nội làm nên chiến thắng lịch sử “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không”.

Trong 12 ngày đêm cuối năm 1972, bên cạnh những đợt ném bom rải thảm bằng máy bay B52, không quân Mỹ còn sử dụng máy bay F-111A bay rất thấp, liên tục đột nhập vùng trời Hà Nội để đánh phá.

Bộ Tư lệnh Thủ đô Hà Nội khi ấy đã kịp thời điều chỉnh lực lượng, triển khai đội hình, trận địa hợp lý, tổ chức và trực tiếp chỉ huy một liên đội tự vệ với 5 súng máy cao xạ 14,5mm. Các chiến sỹ trong biên chế gồm 3 trung đội tự vệ của Nhà máy gỗ Hà Nội, Nhà máy cơ khí Mai Động và Nhà máy cơ khí Lương Yên.

14 giờ chiều ngày 22/12, bà Viễn và đồng đội nhận lệnh trực chiến tại trận địa Vân Đồn (ngoài bãi sông Hồng, Hà Nội). Đến 21 giờ 30 phút thì còi báo động nổi lên, một tốp F-111A xuất hiện, bay thấp, dọctheo  sông Hồng. Đến cự ly thích hợp, chỉ huy trận địa hô: “Một điểm xạ ngắn, bắn!”, cả 5 khẩu súng máy đồng loạt phát hỏa.

“Tôi ở vị trí pháo thủ số 1 nhìn thấy rất rõ chiếc máy bay trúng đạn, phần đuôi của nó lóe sáng. Đấy là chiến công đầu tiên của đơn vị chúng tôi mà cũng vào ngày 22/12 nên chúng tôi không bao giờ quên được”, bà Viễn nhớ lại.

Sáng hôm sau (23/12), cấp trên thông báo trận địa Vân Đồn đã bắn rơi chiếc F111A (chiếc may bay này rơi tại Lương Sơn, Hòa Bình, du kích địa phương bắt sống được hai phi công Mỹ).

Cũng trong ngày hôm đó, Bí thư Thành ủy Hà Nội Nguyễn Văn Trân và Chủ tịch UBND TP Hà Nội Trần Duy Hưng đã tới thăm các chiến sỹ dân quân tự vệ trận địa Vân Đồn đồng thời khen ngợi: “Các đồng chí chiến đấu rất dũng cảm. Đó là niềm tự hào đối với dân quân Hà Nội”.

Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng và Đại tướng Võ Nguyên Giáp cũng đã tới thăm anh chị em và tặng lẵng hoa cho các tự vệ ngay tại trận địa.

Việt Hà-Bảo Minh (ghi)
chinhphu.vn