Tag Archive | Quân sự

Ca khúc “Hà Nội – Điện Biên Phủ”: Chạm vào một phần lịch sử dân tộc

Nhạc sĩ Phạm Tuyên.

Ngay đêm đó, trong căn hầm trú ẩn chỉ có ngọn đèn dầu leo lét cháy, đôi lúc ngả nghiêng trong tiếng bom rơi đạn nổ, những nốt nhạc, những lời ca hùng tráng vẫn chảy tràn, như dòng cảm xúc chân thành của người nhạc sĩ. Ông thấy như không phải mình đang viết, mà là trái tim sục sôi căm thù đang dẫn dắt cho những nốt nhạc ra đời.

Đúng 40 năm sau ngày ca khúc “Hà Nội – Điện Biên Phủ” ra đời, nhạc sĩ Phạm Tuyên lại thêm tự hào khi cụm từ “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” giờ đây đã được nhắc trên tất cả các văn bản chính thức của Nhà nước, của các phương tiện truyền thông, gần như trở thành danh từ thay thế cho tên gọi chiến thắng của quân và dân ta trong trận đánh 12 ngày đêm cuối tháng 12/1972. Ông còn vui hơn, khi những ngày này, ca khúc “Hà Nội – Điện Biên Phủ” đã chạm đến một phần lịch sử dân tộc, lại vang lên trên khắp phố phường Hà Nội v.v…

Sáng cuối năm se lạnh, Hà Nội vẫn tưng bừng trong muôn sắc cờ hoa và không khí sôi nổi kỷ niệm 40 năm ngày chiến thắng lịch sử, chúng tôi đến Hội Nhạc sĩ Hà Nội tìm gặp nhạc sĩ Phạm Tuyên, để cùng ông nhắc nhớ về ca khúc nổi tiếng mà ông đã sáng tác dưới mưa bom bão đạn, để thêm tự hào về ký ức hào hùng còn chưa xa.

Người nhạc sĩ tài hoa bồi hồi đưa chúng tôi ngược dòng ký ức: Sau những trận bom Mỹ rải thảm xuống Hà Nội đêm 26/12, Khâm Thiên, Bạch Mai chỉ còn là đống đổ nát. Căn hộ của gia đình ông ở Ngã Tư Sở cũng chỉ còn là gạch vụn. Ông phải xách ba lô lên cơ quan – Đài Tiếng nói Việt Nam (TNVN) ở và cùng đồng nghiệp trực chiến, với nỗi đau in hằn và lòng căm thù sục sôi. Ông khao khát được làm một điều gì đó để cùng mọi người nêu cao quyết tâm đánh Mỹ.

Trong tâm thế ấy, những điều mà Tổng Giám đốc Đài TNVN Trần Lâm thông báo tại cuộc giao ban sáng 27/12/1972, khiến nhạc sĩ Phạm Tuyên và tất cả mọi người đều vui mừng tột độ, khi đêm trước quân ta đánh trả giặc Mỹ những đòn đích đáng: bắn rơi 8 máy bay B52, riêng Hà Nội đã hạ 5 “thần sấm Mỹ”. Quân ủy Trung ương và Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã ra lời kêu gọi quân và dân ta “Hãy giáng cho không quân Mỹ một đòn Điện Biên Phủ ngay trên bầu trời Hà Nội”.

Từng trải qua những giây phút tràn ngập khí thế sau chiến thắng Điện Biên 1954, nhạc sĩ Phạm Tuyên cảm nhận thật rõ ý nghĩa sâu sắc trong lời nói của vị tướng, cùng với niềm hân hoan trước chiến thắng của quân và dân ta trong cuộc đụng đầu lịch sử với không quân Mỹ, đã truyền cho ông cảm xúc mạnh mẽ.

Để rồi, ngay đêm đó, trong căn hầm trú ẩn chỉ có ngọn đèn dầu leo lét cháy, đôi lúc ngả nghiêng trong tiếng bom rơi đạn nổ, những nốt nhạc, những lời ca hùng tráng vẫn chảy tràn, như dòng cảm xúc chân thành của người nhạc sĩ. Ông thấy như không phải mình đang viết, mà là trái tim sục sôi căm thù đang dẫn dắt cho những nốt nhạc ra đời. Bởi thế, trái với ca khúc trữ tình “Hà Nội những đêm không ngủ” ông vừa cho ra đời hôm 23/12, “Hà Nội – Điện Biên Phủ” mạnh mẽ, chất chứa cả lòng căm thù và niềm tin vào thắng lợi. Những ca từ rắn rỏi, những nốt nhạc hào hùng, thôi thúc và tự tin đã khắc họa một Hà Nội gan góc, vững vàng giữa đau thương.

Nhạc sĩ Phạm Tuyên nhớ lại: “Sáng hôm sau, tôi hát cho mọi người nghe ca khúc vừa sáng tác và ai cũng thích. Tổng Giám đốc Trần Lâm khen bài hát đĩnh đạc, khỏe khoắn, đúng tinh thần “Điện Biên Phủ trên không”, rồi dặn tôi phải đăng trên Báo Nhân dân”. Nghe lời ông, sáng đó, tranh thủ lúc máy bay địch không tới, nhạc sĩ Phạm Tuyên vội đạp xe đến Báo Nhân dân. Lúc này, Tòa soạn rất vắng vì mọi người đi sơ tán hết, nhưng dưới gốc cây đa lớn, ông Thép Mới, lúc đó là Phó Tổng Biên tập và nhà báo Hữu Thọ đang ngồi. Nhạc sĩ Phạm Tuyên liền đưa bài hát cho 2 người, rồi hát cho họ nghe. Những giai điệu sôi sục, đầy hào khí của ca khúc đã chạm vào thời khắc lịch sử ấy lập tức thuyết phục 2 ông. Để rồi, sáng hôm sau, 29/12/2972, ca khúc đã ra mắt công chúng trên Báo Nhân dân.

Sau khi bản nhạc được in, ông Trần Lâm yêu cầu ca khúc phải được hát để phổ biến cho nhân dân. Nhưng lúc đó, Đoàn ca múa nhạc của Đài TNVN đi sơ tán hết, nhạc sĩ Phạm Tuyên phải đạp xe khắp Hà Nội, tìm một số người bạn thân thiết: nhạc sĩ Trần Thụ, Mạnh Hà, Hoàng Mãnh, rồi cùng họ hát để thu thanh và phát ngay tối đó. Nhạc sĩ Phạm Tuyên hào hứng: Việc thu âm được tiến hành khẩn trương, đề phòng Mỹ ném bom. Còn chúng tôi cũng hát hết mình, với tâm thế không biết ngày mai mình còn sống không. Tối đó, khi nghe bài hát được phát trên sóng Đài TNVN, chúng tôi vô cùng vui sướng và tự hào, nhất là khi bài hát được nhiều người yêu thích.

Vài hôm sau, bài hát được gửi ra nơi Đoàn ca múa nhạc sơ tán để dựng lại, do NSND Trần Khánh thể hiện cùng dàn hợp xướng, từ đó lan tỏa đi muôn phương. Trên các trận địa phòng không quanh Hà Nội thời đó, đâu đâu cũng vang lên tiếng hát: “B52 tan xác cháy sáng bầu trời. Hào khí Thăng Long ánh lên ngời ngợi…”, “Hà Nội đây! Đế quốc Mỹ có nghe chăng câu trả lời của Hà Nội chúng ta? Đâu chỉ vì non nước riêng này. Phất ngọn cờ sao chính nghĩa…”, đã góp phần động viên tinh thần, cổ vũ quân dân ta chiến đấu, giành chiến thắng

Thanh Hằng
cand.com.vn

Nghẹn ngào ký ức về những ngày đông năm 1972

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang cùng các đại biểu dự Lễ kỷ niệm 40 năm chiến thắng “ Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” (Ảnh: Trọng Đức – TTXVN)

“Máy bay địch cách Hà Nội 70 kilomet… Đồng bào chú ý! Máy bay địch cách Hà Nội 50 kilomet…” Cả hội trường Trung tâm Hội nghị Quốc gia trong lễ kỷ niệm 40 năm chiến thắng Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không sáng 29/12 như lặng đi. Tất cả cùng sống lại không khí của 12 ngày “rung chuyển địa cầu” đau thương nhưng oai hùng cuối năm 1972.

Những ngày cuối tháng 12, trong cái rét đậm đặc trưng của miền Bắc, thủ đô Hà Nội rộn rã cờ hoa, tưng bừng kỷ niệm 40 năm chiến thắng Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không (1972-2012).

Một buổi sáng mùa đông sau bốn thập kỷ, những bà mẹ Việt Nam anh hùng, những người cựu chiến binh năm ấy gặp lại nhau trong sự xúc động trào dâng xen lẫn niềm tự hào rạng ngời. Những âm thanh, thước phim tư liệu đã đưa những con người của hôm nay trở về với hào khí của năm 1972.

Hồi tưởng lại khung cảnh Thủ đô những ngày cuối năm 1972, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Văn Phiệt chia sẻ: “Mặc dù không nói ra nhưng trong tất cả chúng tôi đều nghĩ đến một cuộc chiến đấu không cân sức, không hề dễ dàng đối với quân và dân ta. Bởi, không quân địch có tiềm lực, trang bị hiện đại, chiếm ưu thế tuyệt đối trên không, chúng lại vô cùng tàn bạo và xảo quyệt; còn chúng ta, lực lượng không nhiều, đạn dược có hạn.”

“Nhiều đồng chí đã hy sinh oanh liệt để góp phần đánh thắng ‘siêu pháo đài bay B-52 của kẻ thù. Có trắc thủ dù bị thương rất nặng nhưng vẫn gượng sức mình báo cáo chính xác phần tử mục tiêu về sở chỉ huy trước khi ngã xuống. Và vẫn còn đây lá thư viết giở trước giờ xuất kích của liệt sỹ phi công để lại. Tuy thời gian đã làm trang giấy ố vàng nhưng vẫn sáng mãi khí tiết kiên trung của tuổi 20,” người cựu chiến binh nói, giọng nghẹn ngào xúc động.

Hà Nội giờ đây rực rỡ trong ánh đèn, cờ hoa. Nếu không có những thước phim, bức ảnh tư liệu, những hồi ức, câu chuyện của những con người từng sống và chiến đấu qua những ngày khói lửa đạn bom ấy thì thật khó hình dung về cảnh điêu tàn, đổ nát của “Thành phố vì hòa bình” này 40 năm trước.

Với âm mưu tàn độc “đưa Hà Nội trở về thời kỳ đồ đá,” đế quốc Mỹ đã huy động hàng trăm lượt oanh kích bằng B52, trút hơn 40 ngàn tấn bom xuống nhiều khu dân cư ở Hà Nội như: Khâm Thiên, An Dương,… khiến hàng nghìn người chết và bị thương.

Thế nhưng, mưa bom, bão đạn đó đã không quật đổ được ý chí, tinh thần người Hà Nội. Khi trên thế giới còn chưa có lời giải cho cách đánh B-52 thì lần đầu tiên trên bầu trời Hà Nội, “siêu pháo đài bay B-52” bốc cháy rừng rực.

Trong 12 ngày đêm lịch sử, “Rồng lửa Thăng Long” đã bắn tan 23 máy bay B52, trong đó có 16 chiếc rơi tại chỗ; tiêu diệt 2 máy bay F111 và 5 máy bay chiến thuật.

Biểu diễn văn nghệ mừng chiến thắng Điện Biên Phủ trên không (Nguồn: TTXVN)

40 năm đã trôi qua nhưng tinh thần của chiến thắng Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không vẫn luôn in đậm trong ký ức của mỗi người dân Việt nam, để thế hệ trẻ hôm nay càng thêm tự hào về dân tộc Việt Nam anh hùng, bất khuất, về con người Việt Nam bản lĩnh, trí tuệ.

“Tháng năm qua đi nhưng tinh thần của chiến Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không sẽ mãi bất diệt! Và tinh thần ấy sẽ luôn được thế hệ trẻ ngày hôm nay gìn giữ và phát huy, hun đúc thành ngọn lửa của sức mạnh trong thời đại mới,” anh Nguyễn Ngọc Tùng, phi công trẻ của Quân chủng Phòng không-không quân khẳng định./.

Phương Mai (Vietnam+)
vietnamplus.vn

Phú Quang khóc trước ký ức về “mùa đông năm ấy…”

(Dân trí) – Sinh ra và lớn lên tại phố Khâm Thiên (Hà Nội), chứng kiến sự tàn phá trong 12 ngày đêm của trận đánh Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không, nhạc sĩ Phú Quang không cầm được nước mắt khi kể về những ngày tháng oai hùng của quân và dân Hà Nội.

Nhân kỷ niệm 40 năm chiến thắng Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không (18/12/1972 -18/12/1012) Đài PT –TH Hà Nội phối hợp với Sư đoàn phòng không Hà Nội, báo Quân đội nhân dân tổ chức cầu truyền hình mang tên Bản hùng ca Hà Nội tối ngày 16/12.

5 điểm cầu tham gia cầu truyền hình Bản hùng ca Hà Nội bao gồm: Bảo tàng Lịch sử Quân sự (tổng cầu), Sư đoàn Phòng không Hà Nội, Bảo tàng chiến thắng B52, Đài tưởng niệm Khâm Thiên và Trận địa tên lửa Chèm. Đây là những địa điểm,những chứng tích anh hùng của quân và dân Hà Nội trong 12 ngày đêm chiến đấu hy sinh oanh liệt của quân và dân Hà Nội.

Từng chứng kiến thời điểm B52 đổ xuống phố Khâm Thiên, nhạc sĩ Phú Quang cũng là chủ nhân của ngôi nhà số 49, phố Khâm Thiên, một trong 3 ngôi nhà đã được giữ lại làm chứng nhân mãi mãi cho nỗi đau của người Hà Nội.

Nhạc sĩ Phú QuangNhạc sĩ Phú Quang

Khi quay trở về lại Hà Nội trong những thời khắc thiêng liêng sau 40 năm sau trận đánh Hà Nội Điện Biên Phủ trên không, ông chia sẻ trong nước mắt: “ 40 năm qua, là một khoảng tời gian rất dài, nhưng khi tôi trở lại vẫn thấy xót xa khi nhớ lại những thời khắc đó, trong những ngày tháng oanh liệt tôi đã chứng kiến người bạn thân nhất, những người hàng xóm đã hy sinh, đó là một nỗi đau theo tôi  trong suốt cuộc đời mình, những hình ảnh đó không thể nào quên”.

Ông hát Em ơi Hà Nội phố bằng chính những tình cảm thật thật của mình, không cầu kì, hoa mỹ, nhưng nó chạm đến trái tim của những người theo chương trình… “Mùa đông năm ấy tiếng dương cầm trong căn nhà đổ, Tan lễ chiều sao còn vọng tiếng chuông ngân. Ta còn em một màu xanh thời gian, một chiều phai tóc em bay chợt nhòa, chợt hiện. Người nghệ sĩ lang thang hoài trên phố bỗng thấy mình chẳng nhớ nổi một con đường…”

Nhạc sĩ Phú QuangCầu truyền hình “Bản hùng ca Hà Nội” đã tái hiện 12 ngày đêm anh dũng bảo vệ bầu trời Thủ đô của quân và dân ta (Ảnh tư liệu)

Chương trình còn có sự kết hợp độc đáo của con gái và con rể nhạc sĩ Phú Quang là nghệ sĩ piano Trinh Hương và nghệ sĩ violin Bùi Công Duy, biểu diễn bản nhạc Chuyện kể tình yêu và Im lặng đêm Hà Nội…Các ca sĩ góp mặt trong chương trình như Mỹ Linh, Tấn Minh, Mai Hoa, Trọng Tấn … và các nghệ sĩ quốc tế như Cho Hea Ryong, Park Sung Min (Hàn Quốc), Kyo York (Mỹ).

Bên cạnh tiết mục biểu diễn của các nghệ sĩ, chương trình cũng chiếu trích đoạn phim Hà Nội 12 ngày đêm, Những ngày đêm không thể nào quên,… và những trích đoạn trong các bộ phim tài liệu nói về trận chiến của quân và dân Hà Nội, cho khán gải thấy rõ hơn những hy sinh, gian khổ để đổi lấy sự tự do, độc lập cho Hà Nội nói riêng và cả nước ta nói chung.

Nhạc sĩ Phú QuangNữ tự vệ Phạm Thị Viễn trong giờ trực chiến đánh B52 năm 1972 ( Ảnh tư liệu). Bà là một nhân chứng xuất hiện trong cầu truyền hình “Bản hùng ca Hà Nội”

Góp mặt trong chương trình Bản hùng ca Hà Nội, những nhân chứng lịch sử kể những câu chuyện của chính mình, của đồng đội, của gia đình trong những ngày tháng đau thương và không thể nào quên trong trận chiến 12 ngày đêm đỏ lửa. Những câu chuyện thấm đẫm nước mắt của những nhân chứng lịch sử giúp 2 thế hệ tuổi trẻ (tuổi trẻ của 40 năm trước và tuổi trẻ bây giờ) như sống lại cuộc chiến 40 năm trước, khiến khán giả không thể cầm được lòng mình.

Thiên Lam
dantri.com.vn

Trung tướng Phạm Tuân: “Máy bay Mỹ không dễ bắn trúng ta!”

(Dân trí) – “Cất cánh lên trời lần nào tôi cũng gặp rất nhiều máy bay F4, F11 của Mỹ quần đảo bảo vệ B52. Nhiều lần tôi thấy tên lửa địch bắn sáng rực. Thế nhưng họ bắn trúng vào tôi không dễ…”, Trung tướng Phạm Tuân nhớ lại.

Đến ngày 27/12/1972, hàng loạt máy bay B52 của Mỹ đã bị bắn hạ, thế nhưng chiến công của lực lượng không quân vẫn chưa thấy. Những ngày đó, ông và lãnh đạo đơn vị không quân có sốt ruột không?Sốt ruột chứ! Nhiệm vụ chính là đánh B52, nhưng khi nó vào mà chưa đánh được chúng, tôi rất sốt ruột, rất băn khoăn và lo lắng. Trong khi đó truyền thống không quân của mình là bắn rơi tất cả các loại máy bay địch. Hơn nữa, cấp trên giao nhiệm vụ đích danh cho không quân là phải góp phần bắn rơi B52. Sau Noel, Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhắc nhở không quân chúng tôi làm thế nào để đánh được máy bay địch.

Trung tướng Phạm Tuân: “Máy bay Mỹ bắn ta trên trời không dễ!”Trung tướng Phạm Tuân: “Máy bay Mỹ bắn ta trên trời không dễ!”

Thực tế, tuy chưa bắn rơi B52 nhưng chúng tôi đã phối hợp với tên lửa rất tốt để bảo vệ Hà Nội. Không quân hoạt động ban đêm làm cho đội hình địch rối loạn, tạo điều kiện cho SAM2 hạ gục B52. Còn ban ngày không quân bay để bảo vệ các trận địa, tạo điều kiện cho các đơn vị tên lửa lắp đạn, chấn chỉnh lại đội hình.

Tâm trạng sốt ruột cùng với những băn khoăn, lo lắng, tạo động lực cho các ông hạ gục B52 thế nào?

Máy bay B52 vào như thế mà ta chưa bắn hạ được nên càng hạ quyết tâm tìm mọi cách để đánh. Qua những lần chiến đấu, xuất kích, anh em ngồi lại với nhau tìm cách để hạ gục B52 trên bầu trời. Chúng tôi hỏi nhau khi địch chặn trên trời, mình có sợ không. Thực tế khi cất cánh lên trời, thấy máy bay địch nhiều lắm nhưng nó không dễ bắn vào máy bay mình. Từ đó, rút ra rằng mình không nhất thiết phải giấu lực lượng mà cứ bay làm sao đạt tốc độ và độ cao nhất định để khi gặp B52 có thể bắn ngay. Với tính năng của B52, chúng ta có thể bắn rơi nhưng vì khó khăn quá nên không quân chưa làm được.

Trung tướng Phạm TuânTrung tướng Phạm Tuân

Khó khăn ở đây là gì thưa ông?

Về phía địch, họ xác định không quân là lực lượng chính nên ngay ngày đầu, tất cả các sân bay miền Bắc bị chúng đánh phá. Hoạt động của lực lượng không quân của ta luôn bị Mỹ theo dõi, đặt vào tầm ngắm. Máy bay chúng tôi cất cánh ở sân bay nào Mỹ đều biết và cho máy bay đuổi đánh. Sau này, khi tên lửa phòng không bắn rơi nhiều B52 thì Mỹ mới tỉnh ngộ.

Hơn nữa, lực lượng của ta có ít – máy bay có nhiều nhưng phi công lái máy bay đêm chỉ vài chục người. Điều kiện tập luyện để đánh B52 trước đây cũng khác xa so với thực tế 12 ngày đêm “Điện Biên Phủ trên không”. Hoàn cảnh chúng ta như vậy địch lại tung hàng nghìn máy bay F4, F11 đi theo để bảo vệ 192 máy bay B52…

Với hàng loạt thách thức ở dưới đất cũng như trên trời, đêm 27/12/1972, ông bay thế nào để hạ gục B52?

Đêm đó tôi cất cánh từ sân bay Yên Bái khá muộn (khoảng 22h đêm) và cũng rất may địch không đánh sân bay. Khi cất cánh lên, địch cũng biết mình, đám F4 đang trực sẵn trên đầu. Thấy F4 tôi tránh một cách nhẹ nhàng, nghĩa là làm động tác vượt qua nó chứ không bám vào.

Không hiểu thế nào thời điểm tôi cất cánh sóng nhiễu rất ít, ở khoảng cách 50km tôi đã phát hiện B52. Có thể do đêm hôm trước, địch thua ta quá lớn (8 chiếc B52 bị bắn rơi) nên đội hình địch đã rệu rạo.

Khi chiếc MIG-21 đã vượt qua các tốp F4 vào được phía sau đuôi B52 tôi mới chỉnh điểm ngắm, thấy tín hiệu tên lửa tốt, tôi phóng hai quả tên lửa. Quả tên lửa thứ nhất bay vút đi, quả thứ hai theo sau tạo thành một đường sáng rực. Chiếc B52 nổ tung.

Trận ấy không thực sự phức tạp. Nhưng thành quả đó có được là do chúng ta đã từng đổ xương máu, đổ mồ hôi cho những trận chiến đấu trước.

Phi công Phạm Tuân gặp lại phi công Mỹ sau 12 ngày đêm Điện Biên Phủ trên khôngPhi công Phạm Tuân gặp lại phi công Mỹ sau 12 ngày đêm “Điện Biên Phủ trên không”

Như ông nói địch rất đông, luôn đợi sẵn trên trời, tại sao lại để ông dễ dàng vượt qua để hạ gục B52?

Họ rất đông nhưng ban đêm ra đa của địch cũng rất khó phát hiện máy bay của ta. Nếu chúng phát hiện được ta trên trời nhưng ở góc không tốt thì chỉ vài giây sau là mất dấu. Mục tiêu của địch và của ta cùng bay ở trong một khu vực cũng không dễ để phân biệt được hết.

Khi gặp lại những phi công Mỹ, họ đánh giá thế nào về chiến thắng của ta trong trận chiến 12 ngày đêm “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, thưa ông?

Trước khi vào Việt Nam, người Mỹ tự tin rằng phòng không – không quân mình bắn rơi họ là rất khó. Thứ nhất, họ cho rằng đã rất rõ điểm mạnh, yếu của tên lửa, máy bay của ta ra sao. Thứ hai, họ đã diễn tập với nhiều tình huống giả định như ở chiến trường Việt Nam. Thấy họ trả lời vậy, tôi lại hỏi:Các ông cảm thấy thế nào khi ngồi ở đây (trại giam)? Phi công Mỹ trả lời đó là điều chưa biết hết sức mạnh của người Việt Nam.

Cuộc chiến 12 ngày đêm, phòng không – không quân ta hạ gục tới 34 “pháo đài bay” B52, khiến báo chí phương Tây chua cay nhận định, nếu kéo dài cuộc chiến thêm 3 tháng nữa, B52 sẽ tuyệt chủng. Quan điểm của ông thế nào?

Nhiều người cũng hỏi tôi điều đó. Câu nói đó thực ra hơi cường điệu nhưng ngẫm cho cùng thực tế là như vậy. Tôi nói nếu đem chiến tranh để áp đặt một dân tộc dù nhỏ bé cũng rất khó, không chỉ ở Việt Nam. Mỹ có thể đánh thắng nhưng làm sao có thể chiếm được, làm sao có thể tiêu diệt được tinh thần dân tộc khác! Khi Mỹ muốn chiếm nước khác mà họ luôn đứng lên đấu tranh, chống lại thì chiếm để làm gì. Cứ liên tục như vậy liệu họ có chịu được không?

Trúc Linh
dantri.com.vn

Nơi lưu giữ những ký ức không thể nào quên

Những chứng nhân lịch sử – Bài cuối:

Có những khoảng ký ức không thể nào quên, có những bằng chứng lịch sử không thể mất đi. Bảo tàng Phòng không – Không quân Hà Nội và Bảo tàng Chiến thắng B52 là 2 trong số những nơi lưu giữ một phần ký ức của những ngày tháng hào hùng làm nên chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” của 40 năm xưa bằng hiện vật.

Các em học sinh trường Ngọc Hà học tập bên hồ B52.

Nếu gặp một sinh viên ở lứa tuổi mười tám, đôi mươi, những người sinh ra rất lâu sau chiến tranh, những gì họ biết về những ngày tháng oanh liệt xưa chắc chỉ có trong sách vở. Nếu gặp một người bạn nước ngoài, những gì tôi kể về Hà Nội cũng sẽ có “lối nhỏ, phố nhỏ”, Hồ Gươm xanh thắm… Nhưng còn cả một Hà Nội hào hùng của trận chiến suốt 12 ngày đêm mà tôi muốn cho họ biết đang hiện hữu tại hai bảo tàng lớn của Hà Nội.

“Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” hiển hiện ở Bảo tàng Chiến thắng B52 (157 Đội Cấn, Hà Nội) là xác chiếc máy bay B52 bị bắn rơi trên bầu trời Hà Nội nằm chiếm gần hết khoảng sân rộng như bằng chứng cho sự thất bại của đế quốc Mỹ trong trận chiến 12 ngày đêm năm 1972. Ngay trước cửa bảo tàng, Đài điều khiển tên lửa Sam – 2 đã từng “vít cổ” pháo đài bay B52 xuống hồ Hữu Tiệp (phường Ngọc Hà, Hà Nội) vẫn kiêu hãnh hướng lên bầu trời Thủ đô. Thượng tá Vũ Chí Công, Giám đốc Bảo tàng Chiến thắng B52 cho biết, bảo tàng hiện lưu giữ hơn 9.000 hiện vật, tài liệu, hình ảnh chủ yếu là về chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” năm 1972.

Xác máy bay B52 tại Bảo tàng chiến thắng B52.

“Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” còn là hình ảnh của những người anh hùng như anh bộ đội tên lửa bắn rơi máy bay B52; hình ảnh không quân nhân dân Việt Nam sẵn sàng cất cánh chiến đấu bảo vệ Thủ đô; bà Phạm Thị Viễn đầu chít khăn tang vẫn ra trận địa bắn rơi máy bay F11 và hình ảnh cô gái làng hoa Ngọc Hà. Hay như cảnh đau thương tại khu phố Khâm Thiên, Bệnh viện Bạch Mai khi bị bom B52 hủy diệt… đang được lưu giữ tại bảo tàng là những chứng tích lịch sử của một thời điểm đầy cam go quyết liệt, hy sinh to lớn.

Nằm trong phạm vi quản lý của Bảo tàng Chiến thắng B52 và nằm trong tổng thể các di tích của trận chiến “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, di tích lịch sử hồ Hữu Tiệp, nơi mà đêm 27/12/1972, một chiếc B52 của Mỹ đã bị quân và dân Hà Nội bắn hạ và một phần của chiếc máy bay đó rơi xuống hồ cũng đã được cải tạo lại để phục vụ du khách tham quan.

Còn tại Bảo tàng Phòng không – Không quân (171 đường Trường Chinh, Thanh Xuân, Hà Nội) cũng trưng bày những hiện vật quý như minh chứng cho chiến thắng của quân và dân miền Bắc, đặc biệt là dân và quân thủ đô Hà Nội đã đánh bại cuộc tập kích của không quân chiến lược Mỹ tại miền Bắc và thủ đô Hà Nội tháng 12/1972.

Đại tá Nguyễn Hữu Đạc cho biết: “Ở bảo tàng có nhiều hiện vật rất quý, từ máy bay Mig 21 bắn rơi B52, pháo phòng không hay còn gọi là pháo cao xạ 100 mm, bệ tên lửa và cả những loại tên lửa bắn rơi B52 trong 12 ngày đêm, những loại rađa đã bắt được mục tiêu B52 thông báo về cho Bộ Tổng tư lệnh, Sở chỉ huy quân chủng và nhân dân Thủ đô Hà Nội sớm 35 phút để chúng ta kịp chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu, kịp để nhân dân Thủ đô Hà Nội xuống hầm trú ẩn.

Và trong những ngày sau đó, bằng những loại vũ khí được trưng bày tại đây, chúng ta đã đánh thắng cuộc tập kích 12 ngày đêm của không quân chiến lược Mỹ.” Những hiện vật này thể hiện lòng dũng cảm, trí tuệ của quân và dân Việt Nam, tài thao lược của Đảng Cộng sản Việt Nam và Bộ Tổng tư lệnh mà lực lượng nòng cốt là bộ đội phòng không không quân, đã đập tan cuộc tập kích chiến lược bằng B52 này.

12 ngày đêm cuối tháng 12/1972 là một dấu mốc đáng nhớ. Quá khứ về chiến tranh, bom đạn tuy đau thương, mất mát nhưng lớn lao hơn là lòng tự hào, sự quật cường vươn lên của những thế hệ người Việt Nam. Đến với Bảo tàng Phòng không – Không quân như một sự trở về với quá khứ, bạn Lô Thị Linh, quê Sơn La, sinh viên Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, chia sẻ cảm xúc: “Mỗi hiện vật mang trong mình lịch sử của một quá khứ quật cường và chiến thắng càng cho tôi thấy sự hy sinh to lớn của cha ông đi trước để làm nên một Hà Nội – thành phố vì hòa bình hôm nay. Nhưng không chỉ có vũ khí, đạn bom, trong 12 ngày đêm ấy, tôi còn thấy những bức ảnh về người chiến sỹ, về những người dân thành phố trong nụ cười rạng rỡ, tràn đầy tình yêu thành phố và niềm tin chiến thắng”.

Bác Nguyễn Thế Minh – cựu chiến binh trong kháng chiến chống Mỹ, đến tham quan bảo tàng, đứng trước những hiện vật oanh liệt một thời đã bày tỏ: “Hà Nội 12 ngày đêm luôn sống trong ký ức những người con Hà Nội xưa như chúng tôi. Những hiện vật trong bảo tàng sẽ là cầu nối giúp thế hệ con cháu hiểu về một phần lịch sử và thêm tự hào về thành phố nơi mình sinh ra và lớn lên. Chỉ có sức mạnh toàn dân tộc, tinh thần đoàn kết và ý chí quật cường mới có thể chiến thắng những vũ khí, phương tiện chiến tranh hiện đại của đế quốc Mỹ.”

Trung bình mỗi năm có hơn 10 vạn khách đến tham quan bảo tàng Chiến thắng B52. Càng gần đến ngày Kỷ niệm 40 năm Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” càng có nhiều tổ chức, cá nhân đến đăng ký tham quan bảo tàng. Với khuôn viên rộng, các hiện vật phong phú, được giữ gìn cẩn thận, Bảo tàng Phòng không – Không quân Hà Nội cũng là điểm đến quen thuộc của nhiều gia đình người dân Hà Nội mỗi cuối tuần. Tự hào về Hà Nội, tự hào về chiến thắng 12 ngày đêm, những gì các bảo tàng lịch sử đã và đang làm được là đưa những ký ức không thể nào quên về tầm vóc lớn lao của chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” ấy sống mãi với thời gian.

Bài và ảnh: Lê Sơn
baotintuc.vn

Lao vào điểm nóng để ghi lại tội ác của giặc

Cùng với những phóng viên viết, trong suốt thời kỳ chiến tranh phá hoại, Thông tấn xã Việt Nam (TTXVN) có một đội ngũ đông đảo các phóng viên ảnh tỏa đi khắp các chiến trường, đặc biệt là những “điểm nóng” để ghi lại những hình ảnh về cuộc chiến đấu anh dũng của quân dân ta, tố cáo tội ác của đế quốc Mỹ. Trong 12 ngày đêm Mỹ sử dụng B52 ném bom Hà Nội cuối năm 1972, những phóng viên ảnh TTXVN cũng có mặt ở nhiều nơi địch đánh ác liệt để chụp ảnh. 

Nhân kỷ niệm 40 năm chiến thắng Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không, chúng tôi đã gặp gỡ nhà báo Chu Chí Thành, phóng viên ảnh TTXVN tác nghiệp trong những ngày B52 trút bom xuống Hà Nội.

Pháo thủ Phan Tuấn Thi, khẩu đội 4, phân đội 2 pháo cao xạ bảo vệ Thủ đô (1972).Ảnh: Chu Chí Thành

Trong căn phòng khách rộng rãi của ngôi nhà trên phố Minh Khai (Hà Nội), nhà báo Chu Chí Thành xúc động kể cho chúng tôi nghe những gì ông được tận mắt chứng kiến trong quá trình tác nghiệp 12 ngày đêm cuối năm 1972.

Mở đầu câu chuyện, nhà báo Chu Chí Thành kể: “Cho đến tận bây giờ, tôi vẫn nhớ như in cái ngày đầu tiên B52 Mỹ ném bom xuống Hà Nội. Hôm đó là tối 18/12/1972, tôi đang chụp ảnh cho một cuộc họp báo ở 37 Hùng Vương thì nghe tiếng ù ù từ xa, rồi thấy bầu trời Hà Nội sáng rực bởi tên lửa, cao xạ bắn lên. Tất cả mọi người dự họp báo đều xuống hầm trú ẩn. Lúc đó, B52 đã đánh ra Hà Nội, nhưng chủ yếu là ở mạn Đông Anh, Yên Viên. Ngay sau đó tôi về cơ quan thì được lệnh cùng một số anh em sang Yên Viên chụp ảnh, lấy tin tức. Từ hôm đó, ban ngày thì máy bay tiêm kích, các trận địa cao xạ, đêm thì B52 quần đảo trên bầu trời Hà Nội. Các phóng viên ảnh, tin của TTXVN thay nhau trực 24/24 giờ để sẵn sàng tác nghiệp.

“Anh em phóng viên chúng tôi chia nhau ra để đi vào các trận địa cao xạ trong nội thành và quanh Hà Nội chụp ảnh. Có hôm tôi ở sân Hàng Đẫy, có hôm lại lên đường Thanh Niên, chỗ bán đảo hồ Trúc Bạch, có hôm sang Yên Viên… Những bức ảnh chúng tôi chụp chủ yếu là ảnh quân và dân ta chiến đấu kiên cường, ảnh chụp những máy bay Mỹ rơi, bắt được giặc lái… Bên cạnh đó là những bức ảnh chụp những nơi bị bom Mỹ tàn phá…”.

Khu trung tâm Bệnh viện Bạch Mai sáng sớm ngày 22/12/1972 sau trận bom B52 của Mỹ.Ảnh: Chu Chí Thành

Theo lời ông Thành, thời đó, TTXVN thường gửi ảnh ra nước ngoài theo đường telephoto, vừa là tuyên truyền về việc nhân dân ta chiến đấu và chiến thắng như thế nào, vừa là để tố cáo tội ác của địch đến với bạn bè quốc tế.

Trong suốt 12 ngày đêm lăn lộn ở nhiều trận địa, nhiều nơi chụp ảnh, nhưng có lẽ lần đi chụp ở Bệnh viện Bạch Mai và phố Khâm Thiên sau trận bom rải thảm đã để lại trong ông những ấn tượng sâu sắc nhất, nhưng cũng đau thương nhất. Ông trầm ngâm kể lại: “4 giờ sáng ngày 22/12, Mỹ ném bom xuống Bệnh viện Bạch Mai. Ngay khi trời sáng rõ, tôi nhận lệnh đến Bệnh viện Bạch Mai chụp ảnh. Khi tôi đến nơi, thấy cả tòa nhà trung tâm bệnh viện bị sập. Các lực lượng từ công an, bộ đội, dân quân, bác sỹ, y tá… đều lao vào khắc phục, cứu những người mắc kẹt. Và tôi chứng kiến một cảnh tượng vô cùng thương tâm, đó là để mở đường, người ta phải tháo khớp của những người đã chết, để lấy chỗ kéo người bị thương ra. Lần khác là khi tôi đến chụp ảnh khu phố Khâm Thiên vào sáng 27/12. Khi tôi tới hiện trường, nhìn thấy dãy quan tài xếp hàng dài trên đường phố. Cả khu phố Khâm Thiên hầu như bị san phẳng. Những người sống sót đang đi nhặt nhạnh từng cái bát, cái mâm, những đồ dùng còn sót lại trong gia đình sau trận bom, trông thương lắm. Đi đến Cống Trắng, tôi nhìn thấy một phụ nữ, đầu đội chiếc khăn rằn, vai đeo súng, đang rảo những bước chân vội vã trên đống đổ nát. Hỏi ra mới biết đêm qua cô trực chiến, biết khu phố nhà mình bị ném bom, sáng ra vừa hết ca trực, cô vội vã trở về xem nhà mình ra sao…”.

Còn một hình ảnh nữa khiến ông nhớ mãi cho đến tận bây giờ, đó là hình ảnh một viên phi công Mỹ chết bên cạnh xác máy bay rơi ở cánh đồng Định Công đêm 26/12. Khi ông cùng đồng nghiệp đến nơi để chụp xác chiếc máy bay rơi, ông nhìn thấy trong chiếc túi cá nhân của viên phi công Mỹ rơi ra từ buồng lái có tấm hình một phụ nữ và một em bé. Có lẽ đó là vợ và con của viên phi công đã chết.

Người vợ trẻ trung, xinh đẹp, đứa con có lẽ chưa đầy một tuổi trông rất dễ thương. “Khoảnh khắc ấy, trong lòng tôi trào dâng nỗi xót xa. Tôi thầm nghĩ, nếu người lính ấy không tham gia cuộc chiến tranh phi nghĩa này, có lẽ anh ta đang sống rất hạnh cùng vợ con, chứ không phải phơi xác nơi đất khách quê người ngay tại chính nơi anh ta gây tội ác như vậy”, ông Thành nhớ lại.

Phương tiện đi lại của các phóng viên thời đó thường là xe đạp, nhưng nhiều lúc không có cả xe thì phải chạy bộ. Thỉnh thoảng cũng được đi ô tô, nhất là khi đi chụp xa. “Lãnh đạo cơ quan thường dặn anh em chúng tôi, khi tác nghiệp cần phải bảo đảm an toàn, không chỉ để bảo vệ tính mạng mình mà còn là để thực hiện được nhiệm vụ. Nhưng nào có ai chịu nghe đâu. Cứ thấy máy bay là chúng tôi lại lao ra, tìm chỗ nào cao nhất, góc nào thoáng nhất để chụp được những bức ảnh tốt nhất. Nhiều khi đang ngồi ở cơ quan, nghe tiếng còi báo động, mọi người chạy xuống hầm trú ẩn thì các phóng viên ảnh lại chạy ngược lên gác thượng, tìm vị trí thuận tiện nhất để chụp ảnh. Cũng chính trong một lần như vậy mà anh Lâm Hồng Long đã chụp được bức ảnh rất giá trị, đó là khoảnh khắc máy bay B52 bị bắn cháy trên bầu trời Hà Nội đấy” – nhà báo Chu Chí Thành hào hứng kể.

Những phóng viên ảnh thời chiến tuy không trực tiếp cầm súng chiến đấu, nhưng họ cũng là những người rất dũng cảm, sẵn sàng lao vào những nơi bom đạn để lưu lại những bằng chứng tố cáo tội ác của giặc Mỹ với thế giới, thể hiện tinh thần chiến đấu bất khuất của quân và dân ta. “Chúng tôi đều biết mình có thể hy sinh bất cứ lúc nào, nhưng ai nấy đều sẵn sàng nhận nhiệm vụ”.

Khi được hỏi: “Điều gì khiến cho những phóng viên ảnh không ngần ngại lao vào những nơi bom đạn ấy?”, ông Thành trả lời ngay: “Khi ấy, cả Hà Nội đang bừng bừng khí thế, tinh thần quyết chiến rất cao. Ta cũng thường xuyên tổ chức những cuộc họp báo để công bố danh sách phi công, số máy bay Mỹ bị bắn rơi. Mọi góc phố, nhà máy, công trường, cơ quan… luôn luôn sẵn sàng, tình người yêu thương gắn bó. Nơi nào có công việc, nơi nào cần sự giúp đỡ là mọi người sẵn sàng lao vào hỗ trợ giải quyết, không ngần ngại. Trong không khí ấy, người phóng viên như chúng tôi cũng thấy vững vàng, tự tin nên không hề có cảm giác sợ hãi, thậm chí còn rất yêu đời. Tôi còn nhớ phóng viên Minh Lộc, hôm nào cũng mua một bó hoa ở Ngọc Hà về cắm trên bàn làm việc…”.

Phương Lan
baotintuc.vn

Về Trung đoàn bắn rơi chiếc máy bay B52 đầu tiên

Để làm nên chiến thắng “Hà Nội- Điện Biên Phủ trên không”, một trong những đơn vị luôn được nhắc tới là Trung đoàn 238 (Sư đoàn 363, Quân Chủng Phòng không – Không quân)- đơn vị bắn rơi chiếc máy bay B52 đầu tiên của cả nước. Trung đoàn cũng là đơn vị chủ lực nghiên cứu cách đánh B52, sau này in thành cuốn “Cẩm nang đỏ”- tài liệu để đánh B52, làm nên chiến thắng 12 ngày đêm năm 1972.

Xác chiếc máy bay B-52 của Mỹ bị quân và dân Thủ đô bắn rơi ngày 22/12/1972. Ảnh: TTXVN

Bắn rơi pháo đài “bất khả xâm phạm”

Những ngày này, Trung đoàn tên lửa 238 (Đoàn Hạ Long) đóng trên địa bàn xã Tân Dương, huyện Thủy Nguyên, Hải Phòng đang sôi nổi thi đua chào mừng kỷ niệm 40 năm chiến thắng “Hà Nội- Điện Biên phủ trên không”.

Trung tá Nguyễn Duy Hiền, Phó Chính uỷ Trung đoàn Tên lửa 238 tự hào cho biết: “238 là Trung đoàn bắn rơi chiếc máy bay B52 đầu tiên của đế quốc Mỹ. Trong chiến dịch Linerbacker II- chiến dịch tấn công dồn dập bằng máy bay ném bom chiến lược B52 vào Hà Nội, Hải Phòng và một số tỉnh khác từ 18/12- 30/12/1972- Trung đoàn Tên lửa 238 là đơn vị bắn rơi chiếc máy bay B52 đầu tiên và cuối cùng trên bầu trời Hải Phòng.

Để tìm ra cách bắn rơi máy bay B52, pháo đài “bất khả xâm phạm” của Mỹ, cán bộ Trung đoàn nói riêng và cán bộ của Quân chủng Phòng không Không quân phải trải qua bao khó khăn, vất vả, khắc phục khó khăn do thiếu vũ khí, các trang thiết bị phục vụ tác chiến”.

Theo Hồi ký của cố Đại tá Lê Thanh Cảnh- nguyên Trung đoàn Trưởng Trung đoàn 238, năm 1967, đế quốc Mỹ có các phương tiện chiến tranh hiện đại, trong đó có máy bay B52 ngày ngày ném bom xuốngVĩnh Linh, Quảng Binh hòng hủy diệt tất cả những gì có trên mặt đất. Để đáp trả sự tấn công dữ dội của đế Quốc Mỹ, Bộ Tư lệnh Quân chủng phòng không- Không quân đã điều Trung đoàn 238 vào tuyến lửa Vĩnh Linh để nghiên cứu cách đánh B52.

Một đặc điểm của khí tài tiêu diệt máy bay chiến đấu của Mỹ là phải cố định tại chỗ, nhưng với sự thông minh, sáng tạo, cán bộ chiến sĩ của Trung đoàn 238 đã di chuyển khí tài cơ động đi qua nhiều tỉnh, thành phố. Ngày 17/9/ 1967, sau một thời gian dày công nghiên cứu, nhận dạng, kíp chiến đấu của Tiểu đoàn 84-Trung đoàn 238 đã bắn rơi 1 chiếc B52. Đây là lần đầu tiên ta bắn rơi “Siêu pháo đài bay B52” của đế quốc Mỹ.

Chiến công này đã tác động rất lớn đến tư tưởng và quyết tâm chiến đấu của quân và dân ta, khẳng định khả năng đánh thắng các cuộc tập kích đường không bằng B52 của địch, củng cố lòng tin, tinh thần quyết chiến, quyết thắng của bộ đội và nhân dân. Từ chiến công này, Quân ủy Trung ương giao cho Trung đoàn 238 là đơn vị đầu tiên nghiên cứu cách đánh B52, sau này tập hợp lại thành cuốn tài liệu có tên “Cẩm nang đỏ” nói về cách bắn rơi máy bay B52.

Đế quốc Mỹ đã từng đưa máy bay B52 đánh phá thành phố Cảng. Trong chiến dịch Linebacker II, từ đêm 18/12, chúng dồn dập đưa B52 cùng các máy bay chiến thuật khác đánh phá Hà Nội và Hải Phòng. Quân và dân thành phố Cảng anh dũng chiến đấu, bắn rơi tại chỗ nhiều máy bay địch. Đêm 22, rạng ngày 23/12, địch cho 24 lần chiếc B52 và 27 lần máy bay chiến thuật khác đánh phá Nhà máy Xi măng, Sở Dầu, khu tập thể An Dương. Trung đoàn Tên lửa 238 cùng các đơn vị chiến đấu khác đánh trả địch quyết liệt.

Hơn 5 giờ sáng, Trung đoàn 238 đã bắn rơi chiếc B52 đầu tiên trong chiến dịch Linerbacker II của đế quốc Mỹ. Đêm 26/12, đế quốc Mỹ toan tính đánh đòn quyết định. Chúng sử dụng 105 lần chiếc B52 và 110 lần chiếc máy bay chiến thuật ồ ạt tập kích đánh vào nhiều mục tiêu. Riêng ở Hải Phòng, đế quốc Mỹ sử dụng hàng chục tốp máy bay, trong đó có 18 lần máy bay B52 đánh phá Sở Dầu và nhà máy Xi măng. 22 giờ 36, Trung đoàn 238 bắn rơi chiếc máy bay B52 cuối cùng của địch trên bầu trời thành phố Cảng.

Với thành tích xuất sắc trong chiến đấu, Trung đoàn tên lửa 238 đã được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang nhân dân 15/1/1976.

Viết tiếp truyền thống anh hùng

Tiếp nối truyền thống của lớp cha anh đi trước, cán bộ, chiến sĩ của Trung đoàn tên lửa 238 tiếp tục phấn đấu học tập, chiến đấu bảo vệ vùng trời Hải Phòng. Để thiết thực kỷ niệm 40 năm chiến thắng “Hà Nội- Điện Biên Phủ trên không”, Trung đoàn phát động đợt thi đua cao điểm trong 40 ngày (từ 19/11 đến 28/12/2012) với nội dung: “Bốn nhất, một không”. Bốn nhất là: Sẵn sàng chiến đấu cao nhất; Hoàn thành phong trào thi đua quyết thắng năm 2012 và triển khai thực hiện nhiệm vụ năm 2013 đạt chất lượng tốt nhất; chấp hành kỷ luật và duy trì nề nếp chính quy tốt nhất; Tham gia giúp dân, thực hiện công tác đền ơn đáp nghĩa tốt nhất. Một là không để xảy ra vi phạm kỷ luật, mất an toàn trong trong huấn luyện và tham gia giao thông.

Cán bộ Trung đoàn 238 về thăm lại trận địa cũ nhân kỷ niệm 40 năm
ngày bắn rơi máy bay B52 đầu tiên ở Việt Nam. Ảnh: quangtri.gov.vn

Để hoàn thành mục tiêu này, Trung đoàn 238 tiếp tục nâng cao nhận thức cho cán bộ, chiến sĩ về nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, âm mưu của các thế lực thù địch trong chiến lược “diễn biến hòa bình”, âm mưu chống phá cách mạng nước ta. Trung đoàn duy trì nghiêm nề nếp sẵn sàng chiến đấu từ Sở chỉ huy đến các phân đội, không để bất ngờ, lỡ thời cơ. Thông tin liên lạc đảm bảo thông suốt trên các hướng, canh thu các mạng đúng, đủ, kịp thời, không để sai sót, lọt, chậm…

Bên cạnh việc hoàn thành nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu với các phương án sát thực tế, Trung đoàn còn tích cực tham gia giúp đỡ nhân dân khi gặp thiên tai bão lũ. Sau trận lốc lớn tàn phá xã An Lư, huyện Thủy Nguyên, Hải Phòng vào tháng 6/2011, Trung đoàn đã kịp thời cử quân nhân xuống xã giúp bà con dựng lại nhà cửa, giải quyết hậu quả do cơn lốc gây ra. Ngoài ra, Trung đoàn còn quyên góp, ủng hộ các quỹ Vì người nghèo, ủng hộ đồng bào lũ lụt, các cháu nạn nhân chất độc da cam với số tiền gần 200 triệu đồng, xây dựng 2 nhà tình nghĩa…

Lớp cha anh đi trước, lớp chiến sĩ trẻ đi sau luôn tự hào với truyền thống của Trung đoàn.Tâm sự với chúng tôi, Trung sĩ Phạm Văn Ánh cho biết: “Em nhập ngũ vào đơn vị từ đầu năm 2011. Vào đây, được nghe các bác kể về truyền thống của đơn vị, em rất tự hào, động viên bản thân luôn tự phấn đấu, rèn luyện. Với sự giúp đỡ của các bác, các chú đi trước, em từng bước hoàn thành nhiệm vụ được giao”. Ánh hồ hởi khoe năm 2012, em giành giải nhì trong cuộc thi “Hội thao tiêu đồ 5 x 5”. Ánh phấn đấu học tập, mong muốn sẽ được ở lại Trung đoàn cống hiến, làm việc giống như các thế hệ cha anh đi trước.

TTXVN/Tin Tức
baotintuc.vn

Chiến công thầm lặng của lực lượng trinh sát kỹ thuật

QĐND – Cuối năm 1965, chúng tôi gồm hơn 60 sinh viên vừa tốt nghiệp đại học, phần lớn là của Khoa Toán, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội và một số trường khác được điều động vào học khóa đặc biệt tại Trung tâm Đào tạo trinh sát kỹ thuật (TSKT) thuộc Cục 2 (Bộ Tổng tham mưu). Kết thúc khóa huấn luyện, tôi được điều động về Mặt trận 959.

Giữa tháng 12-1972, lãnh đạo Phòng 2 (Bộ tư lệnh Mặt trận 959) cử tôi về Cục 2 báo cáo tình hình. Tôi về tới Hà Nội giữa lúc cả thành phố đang hối hả chuẩn bị bước vào trận chiến cam go, quyết liệt. Không chỉ các cơ quan, đơn vị trực chiến, mà cả những người dân không có điều kiện đi sơ tán luôn phải trong tư thế sẵn sàng đối phó với những đợt không kích của không quân Mỹ. Mấy ngày ở Trạm 66 (phố Hoàng Diệu), tôi chứng kiến nhiều đợt oanh kích khốc liệt, tàn nhẫn của Không quân Mỹ vào Ga Hàng Cỏ, Bệnh viện Bạch Mai, Kho xăng Đức Giang… Khói bom mù mịt, tiếng gầm rú của máy bay xé nát màn đêm bầu trời Hà Nội. Nhưng quân và dân Thủ đô lại không hề nao núng, đặc biệt, không ít đêm, nhiều người còn ra đường phố, lên sân thượng hò reo, cổ vũ bộ đội ta bắn trúng máy bay Mỹ, thiêu cháy “pháo đài bay” B-52, nhất là khi những mảnh xác máy bay Mỹ cháy, rơi lả tả thắp sáng cả bầu trời Hà Nội.

Sáng 24-12-1972, đồng chí trực ban đến Trạm 66 đón tôi vào Cục 2 làm việc. Anh X.L, Trưởng phòng 70, biết tôi ở bộ phận TSKT, anh rất vui và đánh giá cao lực lượng TSKT đã thu và báo cáo tin tức về Cục rất nhanh và chính xác, góp phần để Bộ Tổng tham mưu chỉ đạo các quân, binh chủng, lực lượng phòng không của các địa phương bình tĩnh, chủ động đưa ra phương án tác chiến phù hợp, đón đánh máy bay Mỹ đúng hướng, đúng tầm, tạo hiệu suất chiến đấu cao, hạn chế thương vong, tổn thất… Anh kể lại, cách đây mấy ngày, trong buổi giao ban của Bộ Tổng tham mưu, sau khi nghe báo cáo tình hình địch của Cục 2, một đồng chí lãnh đạo cấp cao trầm tư giây lát rồi hướng về phía đồng chí lãnh đạo Cục 2 hỏi: Theo các đồng chí, nhận định thì đợt tập kích bằng không quân chiến lược của Mỹ ra miền Bắc sẽ kéo dài đến bao giờ? Rất nhiều ý kiến nêu ra, trong đó anh X.L bình tĩnh, khiêm tốn nói: “Căn cứ trên thông tin chúng ta tổng hợp được, theo tôi, đợt tập kích bằng không quân chiến lược của Mỹ sẽ không thể bước sang năm 1973…”.

Trở lại chiến trường, hằng ngày tôi vẫn hồi hộp theo dõi chiến sự đang diễn ra ác liệt trên bầu trời Hà Nội. Sáng 30-12-1972, nghe tin Tổng thống Mỹ Ních-xơn buộc phải tuyên bố ngừng ném bom từ vĩ tuyến 20 trở ra và chấp nhận họp lại Hội nghị Pa-ri về Việt Nam, tôi cùng đồng đội sung sướng, reo hò mừng chiến thắng. Càng vui hơn khi biết chiến thắng đó có phần đóng góp của lực lượng TSKT chúng tôi, những người lính trinh sát kỹ thuật của ngành Tình báo quân sự anh hùng.

VŨ MINH TÂM
qdnd.vn

Chiến dịch 12 ngày đêm sẽ còn lưu truyền mãi

Tháng mười hai 40 năm trước, Thủ đô Hà Nội bị đế quốc Mỹ dùng “pháo đài bay” B52 ném bom rải thảm. Trong mưa bom bão đạn, Hà Nội vẫn kiên cường, quả cảm, vượt qua đau thương, đổ nát, anh dũng chiến đấu để đập tan cuộc tập kích chiến lược “Linebacker II”, gây chấn động địa cầu.

Những ngày tháng vừa bi thương vừa hào hùng đã lùi xa. Vết tích “mưa bom” B52 đã nằm sâu dưới các tòa nhà cao tầng. Những mảnh đất năm nào nay đã thành địa danh lịch sử. Những người góp phần làm nên huyền thoại một thời, nay đã được khắc ghi. Và ký ức về 12 ngày, đêm khói lửa (từ 18 đến 30/12/1972) vẫn vẹn nguyên trong tâm trí của Trung tướng Phạm Tuân (ảnh), Báo Tin tức Cuối tuần đã có cuộc trò chuyện với người phi công Anh hùng đã bắn cháy pháo đài bay B52 năm 1972.

Thưa Trung tướng, đâu là nguyên nhân thắng lợi của bộ đội Phòng không Không quân (PKKQ) trong chiến dịch 12 ngày đêm trên bầu trời Hà Nội?

Theo tôi, nguyên nhân chiến thắng thì nhiều, nhưng phải khẳng định rằng đó là sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, của sức mạnh tổng hợp, sự giúp đỡ của bạn bè quốc tế, sự đoàn kết quân và dân…

Nhưng với một người chiến đấu trong quân đội thì tôi thấy có hai vấn đề: Thứ nhất: Đó là việc “nhìn xa trông rộng” của Đảng, của Bác. Những gì Bác nói đều là tiên đoán đúng. Bác nói: “… dù đế quốc Mỹ có lắm súng nhiều tiền, dù chúng có B57, B52 hay “B” gì đi nữa, ta cũng đánh, mà đã đánh là nhất định thắng”. Và Bác đã giao nhiệm vụ đánh B52 cho bộ đội PKKQ. Bác đã khẳng định: Ở Việt Nam thế nào Mỹ cũng thua, nhưng chúng chỉ thua sau khi thua trên bầu trời Hà Nội. Nghĩa là Người đã dự đoán trước rằng thế nào cũng xảy ra chiến tranh và tất cả những cái đó là mệnh lệnh, là kim chỉ nam xuyên suốt mà bộ đội PKKQ là nòng cốt cùng các lực lượng khác chuẩn bị lực lượng để chiến đấu. Chúng ta đánh giá đúng kẻ thù, đánh giá đúng âm mưu thủ đoạn của chúng và đánh giá đúng kỹ chiến thuật của nó để chúng ta chuẩn bị.

Thứ hai, đó là công tác chuẩn bị lực lượng của ta với nhiều quân binh chủng, trong đó có đội ngũ phi công, xây dựng đội ngũ chỉ huy và phi công trên hai nền tảng: Ý chí quyết tâm đánh và quyết đánh thắng, đây chính là bản lĩnh chiến đấu. Chúng ta có ý chí vươn lên chưa đủ mà phải biết đánh địch, mà muốn đánh được địch thì phải biết chúng mạnh cái gì, yếu cái gì, ta mạnh cái gì, còn thiếu cái gì để phát huy và hạn chế cái mạnh của địch. Tôi tâm huyết hai vấn đề đó.

Xác 1 trong 2 chiếc máy bay bị bắn rơi. Ảnh: Văn Bảo – TTXVN

Thưa Trung tướng! Thời điểm đó địch đánh vào sân bay Nội Bài rất ác liệt, đường băng hư hỏng nặng. Vậy tại sao máy bay của ta vẫn hạ cánh được?

Khi F111 của địch đánh phá, dẫn đường cho B52 vào bầu trời Hà Nội, tất cả các phi công của ta luôn sẵn sàng chờ lệnh cất cánh. Khi máy bay này cất cánh, chẳng may gặp trục trặc thì máy bay khác lên thay, đó là mệnh lệnh, là quyết tâm của bộ đội không quân. Đây là ý chí của cấp trên và việc thực hiện là phi công.

Có lần khi tôi nhận lệnh cất cánh trong lúc sân bay đã cháy, khói lửa khắp nơi. Sau khi tôi đã cất cánh thì B52 tiếp tục đánh vào sân bay, đài chỉ huy bị san phẳng. Tôi quay về hạ cánh thì sân bay Gia Lâm không liên lạc được, sân bay Kép cũng vậy, tất cả các sân bay không nơi nào nhận tín hiệu, lúc đó chỉ còn cách là hạ cánh xuống sân bay Nội Bài, trong khi đó sân bay Nội Bài bị đánh ác liệt. Tôi quyết tâm hạ cánh xuống sân bay Nội Bài, xin bật đèn pha đường băng để hạ cánh. Lúc đó, tôi hoàn toàn không biết có hố bom nằm giữa sân bay, cách nơi hạ cánh chỉ 300 m. Vừa tiếp đất, thấy cánh máy bay nghiêng, hai quả tên lửa bay vèo về phía trước, máy bay lật nghiêng, chạy bằng cánh sau ít phút lấy lại thăng bằng tôi điều khiển máy bay quay đầu về hướng hạ cánh.

Ngay từ ngày đầu tiên của chiến dịch, Trung tướng đánh giá mức độ thiệt hại của các sân bay và không quân của ta như thế nào?

Ngay từ những ngày đầu tiên, tất cả các sân bay đều bị đánh phá ác liệt, hầu như đều bị trúng bom nhưng may mà sân bay Nội Bài vẫn còn đường băng 400 m cộng thêm 400 m cỏ nữa là 800 m nên chúng tôi vẫn bay và hạ cánh an toàn.

Về cơ sở vật chất, quân Mỹ không đánh vào nhà xưởng của không quân, mà chủ yếu đánh hỏng đường băng. Sau chiến tranh, các sân bay phải sửa lại hết còn máy bay thì mất khoảng 5-7 chiếc. Lực lượng của chúng ta vẫn được bảo toàn.

Phố Khâm Thiên (Hà Nội), trong trận bom rải thảm đêm 26/12/1972 đã có 278 người thiệt mạng, hàng nghìn ngôi nhà bị phá sập. Ngày nay, bên số lẻ của con phố này không có ba số nhà 47, 49, 51, bởi ba số nhà này với diện tích gần 1.000m2 đã được dành để xây Đài tưởng niệm Khâm Thiên. Ảnh: Trọng Đạt – TTXVN (chụp tháng 12/2012)

So sánh về lực lượng không quân giữa ta và Mỹ lúc đó, Trung tướng có đánh giá gì?

Phải nói thật không quân lúc đó của ta lực lượng nhỏ, phi đội bay đêm của chúng tôi chỉ có hơn 10 phi công, lúc đó máy bay thì ta không thiếu, phần lớn là phi công mới, chủ yếu bay ngày là chính. Trong khi đó sân bay của chúng ta không nhiều, sau này ta làm thêm một vài sân bay nữa mới đủ đáp ứng. Trong khi đó địch có 194 máy bay B52, mỗi một đêm chúng bay 50 lần và 200-300 lượt máy bay hộ tống, nghĩa là chúng gấp mấy lần ta. Nếu so sánh máy bay và vũ khí thì chúng hiện đại hơn mình nhiều.

Sau 40 năm chiến thắng Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không, Trung tướng có suy nghĩ gì?

Nhìn lại chiến thắng này với tư cách là người trong cuộc, tôi tâm huyết về sự lãnh đạo tài tình của Đảng ta. Là một phi công, tôi nhận thấy phải khơi dậy lòng yêu nước trong mỗi con người, để nó thấm vào trái tim, thớ thịt của mình. Nhưng như thế thì chưa hẳn, mà phải biết biến lòng yêu nước đó thành ý chí quyết tâm, sẵn sàng cất cánh trong mọi tình huống để đánh địch. Nếu bắn mà không tiêu diệt được máy bay địch, thì sẵn sàng đâm thẳng vào chúng để tiêu diệt địch.

Ngày nay, thời buổi kinh tế thị trường dù có ảnh hưởng cái này, cái khác nhưng lòng yêu nước vẫn là cội nguồn, ẩn sâu trong tâm hồn mỗi con người chúng ta. Khi đất nước cần, bộ đội ta luôn sẵn sàng, những phi công trẻ cũng sẵn sàng nhận lệnh lên đường chống kẻ thù xâm lược. Trong thời đại hòa bình như ngày nay, chúng ta vẫn tiếp tục trau dồi lý tưởng cách mạng, phát huy những giá trị lịch sử trong thời bình, làm cho truyền thống của quân đội ta không chỉ để cất giữ mà phải “đánh bóng” cho nó sáng thêm lên, có sức mạnh hơn lên để chúng ta xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện hiện nay.

Trung tướng có thông điệp gì cho thế hệ phi công trẻ ngày nay?

Ngày nay, đất nước ta đang xây dựng và phát triển gắn liền với nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đây là hai nhiệm vụ gắn chặt với nhau. Xây dựng tốt để có tiềm năng bảo vệ Tổ quốc tốt hơn và bảo vệ Tổ quổc tốt để ta xây dựng đất nước thuận lợi hơn. Hiện nay, tình hình an ninh trong khu vực vẫn còn tiềm ẩn bất ổn nên nhiệm vụ quốc phòng, an ninh của chúng ta vẫn còn rất nặng nề. Đảng và Nhà nước rất quan tâm đến lực lượng bộ đội PKKQ và hải quân nên đầu tư khá nhiều. Bây giờ máy bay toàn thế hệ mới, tên lửa mới bắn được rất xa chứ không như trước đây. Phi công của chúng ta có điều kiện tập luyện tốt. Với truyền thống của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng, truyền thống của bộ đội PKKQ mà đặc biệt trong chiến dịch 12 ngày đêm sẽ còn lưu truyền mãi và được phổ biến đến mai sau. Chắc chắn rằng đây là cơ sở để đội ngũ phi công hiện nay nhìn nhận, đánh giá đúng lực lượng, sẵn sàng nhận nhiệm vụ.

Tôi biết rằng bộ đội PKKQ luôn có tinh thần sẵn sàng chiến đấu rất cao. Nếu có chiến tranh xảy ra, bộ đội PKKQ luôn sẵn sàng làm nhiệm vụ tốt.

Xin cảm ơn Trung tướng!

Nguyễn Viết Tôn(thực hiện)
baotintuc.vn

Những chứng nhân lịch sử – Phố Khâm Thiên – “Máu và hoa” một thuở

LTS: Dù 40 năm đã trôi qua, trận “Điện Biên Phủ trên không” với 12 ngày đêm kiên cường của quân và dân Hà Nội vẫn được nhắc nhớ, lưu truyền và ôn lại mỗi dịp kỷ niệm. Những đau thương mất mát của một thành phố năm xưa đã hứng gần 4 vạn tấn bom vào các khu dân cư, bệnh viện, trường học, nhà ga… Những chứng tích bằng sắt thép vô tri hay còn hằn sâu trong tâm khảm các nhân chứng một thời.

Sẽ là nỗi đau nếu lớp trẻ hôm nay lãng quên hoặc không biết đến những trang sử ghi bằng máu, bằng sự quật cường, sáng tạo trong chiến đấu ấy của cha ông.

Bài 1: Phố Khâm Thiên – “Máu và hoa” một thuở

Con phố nhỏ với những chuyến tàu cần mẫn đi qua nơi đầu phố. Con phố của “một thời đạn bom – một thời hòa bình”. Giữa tấp nập ngày hôm nay, có những khoảng lặng đầy thiêng liêng của hồi ức về tháng 12 rực lửa bầu trời Hà Nội năm xưa…

“… phố Khâm Thiên sụp đổ
tiếng người la khủng khiếp xé đêm dài…”

Đài tưởng niệm các nạn nhân B52 phố Khâm Thiên.

Thực khó cầm lòng để trích dẫn đầy đủ những câu thơ của nhà thơ Lưu Quang Vũ về nỗi thương đau trên con phố nhỏ năm xưa. Sau 40 năm, những ngôi nhà, tòa nhà mới đã mọc lên, quang cảnh cũng nhiều thay đổi. Thật may mắn khi tìm gặp được những nhân chứng sống của năm xưa để nghe kể về những hồi ức không muốn nhớ nhưng thật khó nguôi quên.

Chung ngày giỗ, chung ký ức đau thương…

Chúng tôi tìm đến nhà ông Nguyễn Văn Cầu, một cựu chiến binh, cán bộ hưu trí ở số nhà 19, ngõ Sân Quần, phường Khâm Thiên (Hà Nội), một trong ít những nhân chứng còn ở lại Khâm Thiên sau sự kiện bi thảm năm 1972. Giờ đã 76 tuổi, tóc bạc trắng, mắt mờ đi, nhưng ông vẫn hăng hái tham gia công tác đoàn thể, là Bí thư chi bộ kiêm Tổ trưởng tổ dân phố. 40 năm đã qua đi nhưng những ký ức về phố bom khi ấy thì chưa bao giờ phai nhạt trong ông. Ông bảo, rất nhiều đêm vẫn gặp ác mộng, với cảnh phố cháy rừng rực của 40 năm trước…

Ông Cầu kể lại: “Tôi còn nhớ rất rõ hôm đó là ngày 26/12, trời lạnh, khoảng 9 giờ tối, tôi đi trực chiến tại Nhà máy in Hà Nội, ở nhà chỉ còn vợ và con. Khoảng hơn 10 giờ đêm, đèn điện vụt tắt, hàng loạt tiếng nổ lớn kéo dài, tiếp theo là những đám cháy lớn bùng lên sáng rực. Tôi chạy vội về… Một cảnh tượng khủng khiếp hiện ra trước mắt: Hầu như toàn bộ khu phố Khâm Thiên trong chốc lát chỉ còn là một đống gạch vụn. Tôi tìm đường vào nhà, nhà tôi bị san phẳng, vợ và con tôi không thấy đâu, đêm tối không nhìn thấy gì cả, chỉ có những tiếng gọi nhau, kêu khóc. Lửa vẫn bập bùng cháy đây đó, người sống bới tìm người chết trong tuyệt vọng…

Chưa tìm thấy vợ con, tôi tiếp tục đi làm nhiệm vụ trực chiến và hy vọng mong manh rằng vợ con còn sống sót. Sáng hôm sau về nhà, trời sáng nhìn cảnh tượng tàn phá của bom B52 càng ghê rợn hơn. Đứng từ đầu phố có thể nhìn thấy cuối phố vì đã bị san phẳng. Nỗi lo sợ lớn nhất cũng đã được khẳng định: Chiếc hầm trú ẩn chứa hơn 40 người, trong đó có cả vợ và con tôi, cùng hai đứa cháu con bà chị gái và chú em ruột đã bị bom Mỹ ném trúng! Vợ con tôi và những người trong hầm đã tan vào đất đá, không nhận ra được gì nữa…

Xung quanh tôi lúc đó mọi người ra sức đào bới với hy vọng tìm thấy xác người thân, nhưng hầu hết không thấy. Tiếng khóc cha, khóc mẹ, khóc con, khóc người thân vang một góc phố. Xa xa là tiếng máy bay phản lực Mỹ vẫn ì ầm. Nhìn hàng dài những chiếc quan tài được mang đến để khâm liệm những nạn nhân, lòng tôi đau thắt… Chưa khi nào tôi phải hứng chịu một nỗi đau lớn lao đến vậy. Chỉ sau một loạt bom, giặc Mỹ đã cướp đi của tôi 5 người thân!” – giọng ông Cầu nghẹn lại.

Cũng hứng chịu những cảnh tang thương sau loạt bom B – 52 của Mỹ đêm 26/12/1972, gia đình ông Nguyễn Đình An mất 2 người thân. Năm nay, ông đã ngoài 70 tuổi, dù 40 năm đã trôi qua nhưng những hồi ức về cái đêm khủng khiếp đó vẫn hiển hiện trong ông, khi mất đi mẹ và người em chỉ trong một khoảnh khắc.

Không riêng gì nhà ông Cầu, ông An, trong cái đêm 26/12/1972 khủng khiếp ấy, toàn bộ 6 khối phố của Khâm Thiên hầu như đã bị xóa sạch. Gần 2.000 ngôi nhà bị sập, trong đó có 534 nhà bị phá hủy hoàn toàn. Bom Mỹ đã giết 287 sinh mạng. Trong phút chốc, hàng trăm gia đình phải chịu cảnh tang tóc, 178 em bé trở nên mồ côi, trong đó có 66 em bé mồ côi cả cha lẫn mẹ. Nhiều gia đình cả nhà không còn ai sống sót…

Ngày giỗ chung của hàng trăm gia đình ở Khâm Thiên, còn có gia đình chị Lê Thị Đức, ở ngõ Hồ Dài. Tuổi ngoài 50, chị vẫn mang trong mình di chứng do bom B52 gây ra cách đây đã 40 năm. Cái đêm đó khi máy bay Mỹ ném bom Hà Nội, còi báo động vang lên, mọi người lao xuống hầm trú ẩn… Một quả bom đã rơi trúng vào nhà và khu hầm nơi có 4 anh chị em chị Đức. Sau giây phút ấy, chị chẳng còn nhớ được gì cho đến khi tỉnh lại tại bệnh viện. Đau đớn hơn, mãi đến sau này chị mới biết, chỉ mỗi mình chị sống sót sau loạt bom đánh sập căn hầm…

Cuộc sống của chị kể từ đó trở nên cơ cực khi di chứng của vết thương do bom B52 đã làm ảnh hưởng đến sức lao động. “Tôi không sao quên được cái đêm kinh hoàng đó. Nó khiến nhiều gia đình rơi vào cảnh tang tóc, không một mái nhà, mọi thứ mất hết mà chưa biết rồi cuộc sống sẽ ra sao”, chị Đức ngậm ngùi kể lại. Những tấm giấy dầu do Nhà nước cấp, những viên gạch vỡ còn lại sau trận bom… là tất cả những gì mà gia đình chị Đức cùng hầu hết người dân Khâm Thiên có được để xây dựng lại cuộc sống.

Ngày mới trên khu phố cũ

Cuộc sống của người dân Khâm Thiên hôm nay đã khác xưa rất nhiều. Với chị Đức, cuộc sống đã ổn định và no đủ. Với ông Cầu, ông An giờ có thể an nhàn vui tuổi già bên con cháu. Đúng như lời ông Nguyễn Văn Hòa, Bí thư Đảng ủy phường Khâm Thiên nói: 40 năm đã trôi qua, tất cả đã trở thành quá khứ. Cuộc sống của người dân Khâm Thiên hôm nay đã đổi thay. Bộ mặt đô thị đã đàng hoàng hơn, to đẹp hơn. Những khu phố sầm uất, những dãy nhà cao tầng và cuộc sống no ấm đã xóa đi cảnh hoang tàn ngày nào. Khâm Thiên hôm nay tươi sáng màu với Rạp chiếu phim Dân chủ đông vui mấy ca chiếu mỗi ngày, với những cửa hiệu thời trang sang trọng, cửa hàng bánh xinh xắn… hay quán ăn tấm tắc tiếng khách hàng xuýt xoa.

Ký ức đau thương ngày nào, giờ chỉ còn là hình ảnh Đài tưởng niệm (mà người dân nơi đây vẫn quen gọi là Bia Căm thù) nơi góc phố, với bức tượng người phụ nữ bế xác trẻ thơ… Nơi, để hàng ngày, những người còn sống nhớ về một nỗi đau không gì bù đắp được. Nơi, để thế hệ trẻ biết đến tội ác của B – 52 và những gì thế hệ trước đã trải qua trong cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc. Và cũng là nơi những du khách quốc tế đến Việt Nam có thể hiểu rõ hơn về nỗi đau chiến tranh vẫn còn âm ỉ đâu đó trên đất nước hiền hòa thanh bình này.

Bài và ảnh: Lê Sơn
baotintuc.vn

Bài 2: “Hồ B52” – Nơi lũy thép làng hoa

Những chứng nhân lịch sử – “Hồ B52” – Nơi lũy thép làng hoa

Đêm 27/12/1972, một chiếc máy bay B52 của Mỹ bị quân và dân Hà Nội bắn hạ, rơi xuống hồ Hữu Tiệp, phường Ngọc Hà, quận Ba Đình. Đây là điểm duy nhất mà máy bay B52 rơi trong nội thành Hà Nội còn được lưu giữ đến hôm nay, nên nơi đây được người dân gọi là “hồ B52” và được giữ lại thành chứng tích lịch sử. Hồ B52 luôn là biểu tượng của chiến thắng Điện Biên Phủ trên không, là niềm tự hào của người dân Hà Nội nói riêng và dân tộc Việt Nam nói chung.

Một phần xác chiếc máy bay B52 tại hồ Hữu Tiệp.

Đến phường Ngọc Hà sau gần 40 năm kể từ khi chiếc máy bay B52 bị bắn rơi xuống hồ Hữu Tiệp, chúng tôi được nghe những câu chuyện vẫn còn in đậm trong trí nhớ của người dân nơi đây về trận chiến 12 ngày đêm anh dũng của quân và dân Hà Nội.

Bà Lê Thị Huệ, đội viên đội dân quân tự vệ làng Hữu Tiệp năm nào bồi hồi nhớ lại, chiến dịch rải thảm bom bằng máy bay B52 của không lực Hoa Kỳ vào cuối tháng 12/1972 đã khiến một nơi thanh bình như làng Hữu Tiệp cũng trở thành mục tiêu bắn phá. Làng hoa thành lũy thép và mỗi người dân là một chiến sĩ. Với bà Huệ, ký ức không phai mờ trong cuộc chiến quyết liệt giữa “Rồng lửa Thăng Long” với “pháo đài bay Mỹ” là hình ảnh chiếc máy bay B52 bị Tiểu đoàn 72, Trung đoàn 285 tên lửa phòng không bắn rơi ngày 27/12/1972, mà một phần của nó đã rơi xuống hồ Hữu Tiệp. Chiếc B52 đó bị bắn hạ khi chưa kịp “cắt bom” gây tội ác. Cũng rất may cho người dân trong làng, khi rơi xuống hồ, trong thân pháo đài bay Mỹ vẫn còn nguyên bom đạn. Ngay sau đó, lực lượng công binh đã đến ngay để tháo gỡ bom đạn trong xác chiếc máy bay.

Ông Nguyễn Lê Huy, người dân làng Ngọc Hà vẫn nhớ như in cảm giác hạnh phúc, tự hào khi được thấy máy bay B52 bị bắn rơi xuống chính mảnh đất quê mình. Đêm ấy, làng Hữu Tiệp có một đêm không ngủ, mọi người đều nói cười, vui sướng. Tiếng người gọi nhau vang khắp làng, ai cũng muốn tận mắt chứng kiến con ngáo ộp Mỹ phơi xác như thế nào. “Chiếc B52 bị trúng đạn cháy sáng cả một vùng. Khi máy bay rơi xuống lòng hồ thì nước hồ sôi lên sùng sục. Lúc đó, một số người còn ở lại làng để sản xuất thấy máy bay rơi đều chui lên khỏi hầm để xem. Lúc máy bay rơi mọi thứ chìm trong im lặng, khác hẳn với trước đó khi máy bay quần thảo ầm ĩ trên bầu trời. Rồi không khí vỡ òa ra khi người dân trong làng vừa chạy vừa hoan hô máy bay rơi. Chưa bao giờ người dân Ngọc Hà lại vui như vậy, cả đêm thức trắng. Đến giờ người dân nơi đây cũng không sao hiểu nổi chiếc máy bay Mỹ to đến vậy mà lại rơi đúng cái hồ nhỏ của làng” – ông Huy kể lại.

Là người con của làng Hữu Tiệp, ông Nguyễn Trọng Hiển luôn tự hào vì được trực tiếp chiến đấu bảo vệ bầu trời Hà Nội. Sau nhiều năm chiến đấu ở những mặt trận nóng bỏng xa nhà, ông được điều động về Hà Nội để tăng cường, ông Hiển nghĩ sẽ có cơ hội được gặp vợ con. Nhưng khi đóng quân ở một huyện ngoại thành, chỉ cách nhà hơn chục cây số, mà ông chưa một lần được về thăm nhà. Vợ ông khi đó cũng tham gia lực lượng tự vệ làng Hữu Tiệp để có thể sát cánh chiến đấu cùng chồng. Ông Hiển tâm sự: “Chiến đấu vì Tổ quốc đã rất thiêng liêng rồi, nhưng là người Hà Nội lại được về bảo vệ Hà Nội, tôi cảm thấy nhiệm vụ này thiêng liêng vô cùng. Dù rất gần vợ con, có khi chỉ cách chỗ con tôi sơ tán có hơn một cây số, nhưng bố con cũng không gặp được nhau, vì cuộc chiến quá ác liệt. Hôm biết tin máy bay B52 bị bắn rơi xuống đúng nơi gia đình mình đang sinh sống tôi lo lắng lắm, nhưng tôi không thể về nhà và cũng không có cách nào để liên lạc được với vợ con. Hôm sau, tôi tranh thủ xin đơn vị về thăm nhà. Về nhà không thấy vợ con mình đâu, tôi rất hoang mang. Nhưng khi được bà con hàng xóm cho biết là vợ tôi đang cùng lực lượng bộ đội tham gia gỡ bom trong xác máy bay, dù không gặp được vợ con ngay lúc đó nhưng tôi yên tâm trở về đơn vị, tiếp tục nhiệm vụ của mình”.

Hồ Hữu Tiệp luôn là niềm tự hào của người dân Ngọc Hà, biểu tượng của chiến thắng 12 ngày đêm Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không. Hiện khu vực quanh hồ này đã được cải tạo thành con đường nhỏ, trở thành nơi dạo chơi của trẻ em, nơi tập dưỡng sinh, thể dục của các cụ già và ngay cạnh đó là Trường Tiểu học Ngọc Hà. Ít có nơi nào, học sinh lại được dạy lịch sử từ một bài học truyền thống sống động, trực quan như ở đây.

Em Vũ Thị Thảo Anh, lớp 5A3, Trường Tiểu học Ngọc Hà, là gia đình gốc làng Hữu Tiệp. Từ nhỏ em cùng các bạn trong “làng” đã được ông bà, bố mẹ đưa ra hồ B52 để chơi và kể cho em biết về lịch sử gắn liền với xác chiếc máy bay đang nằm ở đây. Khi đi học em lại được các cô giáo giảng giải thêm, khiến các em càng trân trọng di tích này hơn. Vừa nhắc đến hồ B52, em Thảo Anh rất tự hào khoe: “Hàng ngày chúng em được học ở ngôi trường kế bên di tích lịch sử này, được giáo dục về truyền thống lịch sử của vùng đất nơi mình đang sống. Hàng tuần, chúng em đều ra đây làm vệ sinh, nhặt rác quanh hồ để cùng mọi người giữ gìn cảnh quan. Bây giờ, khi gặp khách du lịch, chúng em có thể tự tin giới thiệu với họ về lịch sử của chiếc máy bay rơi tại hồ của làng mình”.

Cô Vũ Thanh Hương, giáo viên lớp 5A3, Trường Tiểu học Ngọc Hà tâm sự: “Chúng tôi có một may mắn khi giáo dục các em về lịch sử, về truyền thống uống nước nhớ nguồn bởi ngay trước mặt trường học của chúng tôi đây là một chứng tích lịch sử, ngay trong mỗi gia đình các em đều có những nhân chứng lịch sử. Và như thế, mỗi buổi học về lịch sử, đạo đức với chúng tôi đều nhẹ nhàng và đầy xúc động.”

Cùng với Đài tưởng niệm nạn nhân của bom Mỹ ở phố Khâm Thiên, xác pháo đài bay B52 ở Ngọc Hà không chỉ góp phần làm cho thế giới hiểu hơn về cuộc chiến tranh Việt Nam, mà còn giúp thế hệ sau thấm thía rằng chiến thắng hào hùng đã phải trả bằng máu và nước mắt của những thế hệ đi trước, để càng cố gắng hơn trong sự nghiệp xây dựng thủ đô và đất nước văn minh, giàu đẹp.

Bài và ảnh: Lê Sơn
baotintuc.vn

Bài cuối: Nơi lưu giữ những ký ức không thể nào quên

Chuyện về những người chở đò dưới làn bom B52

Trong những năm chiến tranh phá hoại bằng không quân của đế quốc Mỹ, cầu Long Biên (Hà Nội) là một trong những mục tiêu bắn phá dữ dội. Và trong những ngày cuối năm 1972, cầu Long Biên cũng bị bom Mỹ phá hỏng nhiều đoạn.

Trong ngôi nhà nhỏ của mình, ông Tư Nở đã kể cho chúng tôi nghe câu chuyện chở đò dưới tầm B52 trong những ngày cuối năm 1972.

Để đảm bảo đưa người dân nội thành Hà Nội đi sơ tán sang các vùng lân cận, trong 12 ngày đêm B52 trút bom xuống thành phố, đã có hàng trăm chuyến đò chở hàng ngàn người dân qua sông Hồng an toàn. Những người chở đò năm ấy giờ người còn, người mất. Nơi từng là bến đò năm xưa nay chỉ còn trong hoài niệm…

Trong những ngày kỷ niệm 40 năm Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không, chúng tôi trở lại bến đò xưa với mong muốn tìm lại miền ký ức của một thời từ những người chở đò đưa người qua sông năm ấy. Hỏi thăm mãi, chúng tôi mới tìm được đến nhà cụ Nguyễn Văn Lân, Chủ nhiệm hợp tác xã chở đò Thái Thủy năm xưa, hiện đang trú tại phường Phúc Tân (quận Hoàn Kiếm). Năm nay đã 97 tuổi, nhưng cụ Lân vẫn còn khá minh mẫn. Cụ kể lại: Trong 12 ngày đêm B52 ném bom Hà Nội, cầu Long Biên, tuyến đường huyết mạch nối nội thành với bờ bắc sông Hồng bị bom Mỹ phá huỷ nhiều đoạn. Bà Thuần, khi ấy đại diện cho lãnh đạo khu Hoàn Kiếm liên tục đến động viên anh chị em trong hợp tác xã, đồng thời yêu cầu phải thiết lập tuyến đò qua sông để nối mạch máu giao thông của thủ đô. Những người chèo đò cũng là chiến sỹ, ai hy sinh sẽ được công nhận liệt sỹ…

“Vậy là trong suốt 12 ngày đêm ấy, tại bến đò ngang của hợp tác xã Thái Thủy (nằm ở đoạn giữa của cầu Long Biên và cầu Chương Dương hiện nay – PV) hợp tác xã và anh em lái đò thay nhau trực và chở đò cả ngày lẫn đêm. Khi bom đánh sập cầu, số lượng người qua sông xếp hàng dài trên bờ, có lúc phải căng dây để giữ trật tự. Hai bên bờ sông được hợp tác xã cho đào rất nhiều hầm cá nhân, mỗi khi có máy bay địch đến ném bom, mọi người lại nhanh chóng xuống hầm trú ẩn, đến khi báo an lại lên đi tiếp” – cụ Lân chậm rãi nhớ lại.

Được sự giới thiệu của cụ Lân, chúng tôi tìm gặp ông Nguyễn Văn Nở (Tư Nở) hiện đang sống ở bãi An Dương (phường Phúc Xá) là một trong những người lái đò ngày ấy. Ngoài 70 tuổi, ông Tư Nở đã có quá nửa đời người gắn bó với nghề sông nước. Và ông đã kể cho chúng tôi nghe về công việc của những người lái đò đã chở hàng ngàn người vượt sông Hồng an toàn trong những ngày cuối năm 1972. Với ông Tư Nở, câu chuyện ấy dường như mới chỉ diễn ra cách đây không lâu.

Đưa tôi xuống thăm lại bến đò xưa, ông Tư Nở nhớ lại: “Ngày ấy hợp tác xã có chừng chục anh em, khoảng 5-6 chiếc thuyền to, mỗi thuyền chở được từ 30-40 người. Trong những ngày đó, thuyền là một trong những phương tiện qua sông khá quen thuộc của mọi người dân sống ở Hà Nội, nhất là khi cầu Long Biên bị bom phá hỏng nhiều đoạn”.

“Những ngày đó sao mà ác liệt thế, công việc của chúng tôi nguy hiểm không kém gì các chiến sỹ trên mâm pháo. Ở trên bờ, lúc máy bay đến còn xuống hầm trú ẩn được, chứ công việc của chúng tôi giữa mênh mông sông nước thì chỉ còn biết trông cậy vào con đò. Từ 6-7 giờ sáng, các lái đò đã tập trung ở bến cầu phao Hàm Tử Quan để nhận nhiệm vụ. Có những chuyến đò tôi đưa dân mình qua sông mà máy bay của địch lượn vèo vèo trên đầu, bom ném xuống sông dựng lên từng cột nước, dù ở cách khá xa mà chúng tôi vẫn thấy hơi nóng phả lên rát mặt. “Vũ khí” duy nhất mà chúng tôi có là mái chèo. Nhiều khi một tay chèo, một tay tôi cầm tấm ván che đầu để tránh mảnh bom…” – ông Tư Nở bồi hồi kể lại những ngày tháng ác liệt năm ấy.

“Tuy suốt ngày ở bến đò, nhưng ngày ấy tôi cũng biết khối chuyện, và cũng biết rất rõ việc Mỹ vừa ném bom ở đâu trong Hà Nội đấy nhé” – ông Tư Nở ‘khoe” với chúng tôi. Thì ra, tuy phải bám bến, bám thuyền, không có điều kiện đi đến những nơi khác, nhưng trên mỗi chuyến đò, ông đều được nghe những người dân đi đò kể chuyện, hôm thì chúng đánh khu nhà máy nước thế nào, hôm thì chuyện bom Mỹ ném xuống bệnh viện Bạch Mai ra sao, rồi thì chuyện chúng ném bom khu phố Khâm Thiên, khiến hàng trăm người chết… ông đều được nghe và biết cả. “Có nhiều khi mọi người trên thuyền đang nói chuyện thì máy bay Mỹ đến, mọi người chỉ còn cách nằm rạp xuống thuyền. Cũng hú hồn lắm đấy cô ạ” – ông Tư Nở nhớ lại.

Trong 12 ngày đêm B52 ném bom Hà Nội, hợp tác xã chở đò đã làm việc suốt ngày, đêm, mỗi ngày chở đến vài chục chuyến. Hỏi ông có lo lắng gì những khi chở đò qua sông không, ông lắc đầu bảo: “Có lo cũng không giải quyết được gì. Lúc ấy, mối quan tâm duy nhất của những người lái đò như chúng tôi là làm sao nhanh chóng qua được sông; và khi mọi người hoang mang, thì chúng tôi chính là những người trấn an, nhắc nhở bà con bình tĩnh, không nhốn nháo để bảo đảm an toàn. Cũng may mà bom đạn nhiều thế, nhưng không đánh trúng chiếc đò nào, bà con mình qua sông đều an toàn. Đó là thành tích của anh chị em trong HTX chở đò năm ấy” – ông Tư Nở không giấu được sự tự hào khi kể về thành tích của hợp tác xã mình.

Những ngày bom đạn khốc liệt ấy đã lùi xa, trên mảnh đất từng một thời hằn lên những vết thương của chiến tranh ấy giờ đã mọc lên một làng chài mới, với vài chục hộ sinh sống. Nhìn đám trẻ con làng chài nô đùa trên bãi cát, tôi chợt nhận thấy, tuy cuộc sống còn khó khăn, nhưng trong từng ánh mắt, nụ cười trẻ thơ vẫn ánh lên sự hồn nhiên, vô tư như tương lai tươi sáng của các em.

Bài và ảnh: Phương Lan
baotintuc.vn