Tag Archive | Lãnh tụ vĩ đại

Tổ Kỹ thuật trên Công trình K9

Tổ thiết kế và chỉ đạo thi công công trình K9 (Đá Chông), nơi giữ gìn thi hài Bác Hồ trong thời gian trước khi có Lăng gồm 6 kỹ sư của Ban thiết kế Phòng Công trình – Bộ Tư lệnh Công binh: kỹ sư xây dựng Nguyễn Trọng Quyển – Trưởng ban trực tiếp phụ trách chung; kỹ sư Nguyễn Cao Đàm phụ trách phần xây dựng; kỹ sư Bùi Danh Chiêu đảm nhiệm thiết bị điều hoà thông gió; kỹ sư Hoàng Quang Bá phụ trách phần cấp nước; kỹ sư điện Phạm Hoàng Vân tổ chức thi công và tôi, Nguyễn Trung Thành, phụ trách hệ thống điện và tự động. Trong thời gian này, 6 anh em chúng tôi sống và làm việc liên tục tại công trường trong điều kiện hết sức khó khăn.

Buổi sáng, cầm củ sắn luộc vừa ăn vừa đi ra công trường, bữa trưa và bữa tối ăn “bo bo” với cá khô, ăn cùng bếp ăn của tiểu đoàn thi công. Những lúc rỗi rãi hoặc buổi chiều, ngày chủ nhật, chúng tôi rủ nhau đi câu cá để cải thiện.

Nhiệm vụ của tôi gồm 4 hạng mục:
– Thiết kế và chỉ đạo thi công hệ thống cấp điện dự phòng. Nói là dự phòng nhưng trong thời gian chiến tranh, hệ thống điện lưới quốc gia hầu như bị mất, nên hệ thống này thành nguồn cấp điện chính.

– Giám sát và nghiệm thu việc kéo đường dây cao thế 35 KV và lắp đặt trạm biến áp hạ thế để cấp điện lưới quốc gia cho công trình.

– Thiết kế và chỉ đạo thi công phòng điều khiển trung tâm số 7 để điều khiển hệ thống điều hoà, cấp nước đảm bảo thông số nhiệt, ẩm giữ gìn thi hài Bác.

– Thiết kế lắp đặt hệ thống chiếu sáng đặc biệt phục vụ việc tổ chức viếng Bác.

Một loạt vấn đề kỹ thuật đặt ra, tôi phải cân nhắc lựa chọn các giải pháp thiết kế sao cho phù hợp với yêu cầu tiến độ, trình độ thi công và tình hình cung cấp vật tư thời đó. Nhiều khi vừa đi vừa nghĩ các giải pháp trong đầu, nhặt miếng giấy xi măng vẽ phác thảo để đêm về thể hiện lên bản vẽ cho công nhân thi công. Buổi sáng xắn quần lội mấy cây số đường rừng cùng anh em công nhân chi nhánh điện Hà Đông giám sát thi công đường dây cao thế dẫn vào công trình; gần trưa trên đường về đói quá, bị hạ đường huyết, hoa mắt chóng mặt, đành ngồi tựa cột điện nghỉ. Giá có một chiếc kẹo để ngậm thì có thể đi tiếp được, nhưng giữa rừng lấy đâu ra của hiếm đó. Mồ hôi ướt đầm áo, chân tay bủn rủn, tưởng gục dọc đường, nhờ sức trẻ nghỉ một lúc lại tiếp tục trở về công trường. Về đến nhà, cơm canh nguội tanh nguội ngắt, cố chan canh và ào vào bụng cho đỡ đói. Khi những thợ điện được đào tạo tại đơn vị chạy lại nhờ đọc bản vẽ để thi công hệ tự động điều chỉnh phòng điều khiển, tôi lại xé giấy xi măng vẽ tách ra từng phần để giảng giải cho anh em. Nhưng cuối cùng tôi vẫn phải ra hiện trường trực tiếp vừa làm, vừa hướng dẫn cho công nhân. Tôi cầm kìm tuốt dây uốn khuyết làm mẫu, cầm đồng hồ đo thử các đi ốt để mọi người khỏi đấu nhầm. Đã từng là công nhân nên tôi nói anh em hiểu ngay và tiếp tục thi công suôn sẻ. Đang làm việc với thợ thi công, thì anh Hanh phụ trách vật tư công trình đến, anh nói:

– Các loại vật tư cậu yêu cầu, tôi đã đến tận nhà máy sản xuất thiết bị điện, nhưng đều không có chủng loại đó. Mai cậu bố trí thời gian đi với tôi đến Văn Giang để xác định loại thay thế.

Thế là tôi thành cán bộ vật tư cùng với anh Hanh đi Văn Giang, Hà Đông rồi lên Thái Nguyên. Đi trong ngày về trong đêm cho kịp thi công, ngủ gà gật trên xe. Chẳng riêng gì tôi, các đồng chí khác cũng ở trong tình trạng vừa thiết kế, vừa chỉ đạo thi công, vừa chạy vật tư do yêu cầu tiến độ khẩn trương. Vật tư ngành điện vốn nhiều chủng loại nên tôi càng vất vả.

Khi thiết kế nguồn điện dự phòng, tôi nhận được yêu cầu kỹ thuật rất cao, có cả yêu cầu quân sự mà người làm công tác kỹ thuật phải am hiểu. Nguồn điện này phải đủ công suất cho mọi yêu cầu sử dụng điện của công trình và khởi động bình thường các máy điều hoà công suất lớn. Chất lượng điện (điện áp và tần số) phải đảm bảo và ổn định để các thiết bị y tế làm việc tốt. Nguồn điện có khả năng làm việc liên tục lâu dài trong trường hợp đế quốc Mỹ bắn phá các nhà máy điện và trạm phân phối. Đồng thời tính đến phương án tiết kiệm nhiên liệu, phòng khi việc cung cấp bị gián đoạn do cầu đường bị bắn phá. Việc chuyển đổi các nguồn điện không cho phép mất điện quá một phút, vì quá thời gian trên ảnh hưởng đến thông số nhiệt, ẩm giữ gìn thi hài Bác.

Phải mất nhiều ngày xắn quần lội khắp khu vực công trường chúng tôi mới xác định được vị trí xây hầm đặt các trạm phát điện. Đi khắp các kho sơ tán của Phòng khí tài Bộ Tư lệnh Công binh ở Thái Nguyên, Lạng Sơn, Hoà Bình, tôi mới chọn được các trạm phát điện vừa ý. Nhiều đêm ngồi đọc sách tham khảo, tôi mới tìm đủ các giải pháp thoả mãn các yêu cầu trên. Thực tế vận hành nhiều năm sau này ở K9 đã lần lượt xảy ra như các giả định ban đầu và hệ thống nguồn điện đã phục vụ tốt cho nhiệm vụ.

Tôi đã chọn các trạm phát điện di động đi-ê-zen AД 75 (75 KVA) của Liên Xô, có khả năng cơ động cao, công suất đảm bảo, dễ vận hành, tự động điều chỉnh tốc độ và công suất nên điện áp và tần số ổn định, nhược điểm của trạm là khó khởi động, nhất là buổi sáng mùa đông. Tôi không chọn máy xăng cho dễ khởi động, là vì lúc này các kho Bộ Tư lệnh Công binh không có máy xăng công suất lớn, hơn nữa về lâu dài nhiên liệu đi-ê-zen tiết kiệm hơn, dễ cung cấp hơn. Tôi bố trí mỗi hầm 2 tổ máy nằm sâu vào trong lòng đất. Tất cả ống khói được kéo dài ra ngoài hầm và qua xử lý kiểu bếp Hoàng Cầm nên khói chỉ lan toả dưới bụi cây. Ba hầm máy bố trí cách nhau theo thế chân vạc xung quanh khu vực. Ngoài các giải pháp kỹ thuật đi kèm còn có quy trình vận hành, chăm sóc máy chặt chẽ, được tập huấn cho công nhân vận hành một cách chu đáo. Các tổ máy phát điện nằm trong chế độ trực, buổi sáng đều phải được nổ máy 10 đến 20 phút, máy nóng trong tư thế sẵn sàng khởi động. Tôi còn thiết kế một trạm nạp bù ắc quy, một khu chăm sóc ắc quy bổ sung nước cất và axit.

Tính đến việc tiết kiệm máy, tiết kiệm nhiên liệu trong thời gian mùa đông nhiệt độ ngoài trời thấp, máy lạnh làm việc ít, thời gian về khuya công suất tiêu thụ nhỏ, tôi xây dựng một trạm máy phát công suất nhỏ, AД – 15 (15 KVA).

Yêu cầu không để mất điện quá một phút làm tôi lúng túng đau đầu nhất. Thiết kế một mạch tự động đóng nguồn dự phòng không có gì khó khăn đối với một kỹ sư điện. Cái khó ở đây là nguồn dự phòng do các máy đi-ê-zen đảm bảo. Làm sao trong vòng một phút máy phải nổ nhanh, ổn định công suất và điện áp để mang tải. Trong trường hợp khởi động máy một không nổ phải tự động chuyển sang máy hai hoặc máy ba. Để cho các máy đi-ê-zen nổ ngay phải có các yếu tố sau: ắc quy phải thật khoẻ, máy nóng, các kim phun nhiên liệu tốt và cả dầu đi-ê-zen phải hâm nóng… Đúng là phải có giải pháp tổng hợp vừa kỹ thuật, vừa trình độ vận hành. Phác thảo trong đầu rồi lắp ráp và thử đi thử lại nhiều lần, nhưng đều thất bại ở khâu đếm giờ, chuyển mạch. Nếu như ngày nay tìm một bộ vi xử lý có mạch đếm giờ tự động chuyển mạch không khó khăn gì, còn thời kỳ đó tôi phải lắp lấy bằng các linh kiện rời, rồi mò mẫm thí nghiệm, cuối cùng tôi cũng tìm ra mạch đạt yêu cầu.

Thiết kế và lắp đặt bảng điện ở phòng trung tâm điều khiển số 7 lại có tính chất phức tạp khác. Xung quanh phòng giữ thi hài Bác có 9 máy điều hoà thay nhau làm việc. Các máy này đều của Nhật kiểu cục bộ, tất cả bảng điều khiển đều lắp trước mặt máy. Các công nhân vận hành không được phép vào phòng đặt thi hài để điều khiển máy, cũng không thể bóc tất cả bảng điều khiển về tập trung ở phòng số 7, làm như vậy dây rợ rất phức tạp, giảm độ tin cậy làm việc của máy. Yêu cầu đặt ra là công nhân ngồi tại buồng trung tâm có thể biết được nhiệt độ, độ ẩm trong phòng thi hài, máy nào đang làm việc, cũng như nhiệt độ, độ ẩm ngoài trời để quyết định tăng giảm máy lạnh bằng cách ấn nút trên bảng điện. Ngoài ra công nhân còn theo dõi các thông số khác như: lượng nước, nhiệt độ nước làm mát v.v… Nhìn các đèn đỏ, đèn xanh nhấp nháy và tiếng kêu sè sè của đồng hồ tự ghi làm việc, các chuyên gia y tế Liên Xô chăm chú theo dõi, ngạc nhiên, nhưng rất tin tưởng. Để có một bảng điều khiển như vậy, ngày nay chắc khó ai tưởng tượng nổi, các đèn đỏ đèn xanh đều dùng bóng đèn pin sơn xanh đỏ, làm việc được một thời gian sơn bong hết, lại phải sơn lại hoặc thay thế, tôi cũng đã tìm cách hạ điện áp cấp để kéo dài tuổi thọ bóng đèn pin. Thành công này có sự giúp đỡ to lớn của anh Chiêu, anh Bá và sự sáng ý của các công nhân Trung đoàn Công binh 259; sự giúp đỡ của Nhà máy Y cụ Hà Nội và Xưởng X49 Bộ Tư lệnh Công binh. Họ sẵn sàng tháo từng cái nút bấm, công tắc của máy công cụ để phục vụ công trình bảo quản giữ gìn thi hài Bác làm tôi rất cảm động.

Công trường bước sang giai đoạn gấp rút hoàn thiện để đón Bác lên. Công nhân chuyển sang làm 3 ca liên tục, còn nhiều hạng mục dang dở. Chúng tôi liên tục bám công trường để xử lý kịp thời các vướng mắc, chỉ tranh thủ ngủ khi nào quá mệt. Ai nấy đều gầy rộc, đen sạm, đến như đồng chí Cao Đàm mọi người quen gọi là “Đàm sữa”, vì da anh trắng như thư sinh, giờ cũng mai mái đen, nhưng không ai bị ốm.

Chúng tôi đã làm việc như vậy ở nhiều công trình, chưa một ai được biểu dương khen thưởng, ngay cả trong các cuộc giao ban, mọi người coi đó là chuyện bình thường. Lúc nào cũng được giáo dục tinh thần trách nhiệm, niềm vinh dự lớn lao được thay mặt Quân đội nhân dân Việt Nam đảm nhận những công trình cơ mật quốc gia. Ở đây, ai cũng quá quen phong cách làm việc của Phó Tư lệnh Trần Bá Đặng. Ông đã đi khắp các công trình mật. Ông là con người của công việc. Phó Tư lệnh thường gọi vui chúng tôi là ông “vua” của các ngành: xây dựng, điều hoà, điện nước.

Một buổi sáng chủ nhật, cả công trường nghỉ, chúng tôi được Phó Tư lệnh quan tâm đặc biệt cho theo xe ông về Hà Nội thăm vợ con. Ai cũng rất vui mừng vì đã lâu không được về thăm nhà. Mọi người lễ mễ xách theo lương khô, suất bồi dưỡng ca đêm giành làm quà cho con. Xe qua thị xã Sơn Tây được mấy cây số, đang chạy bon bon, bỗng một chiếc Uoát từ phía Hà Nội lên dừng lại ven đường vẫy chúng tôi. Phó Tư lệnh và anh Quyển bước xuống xe, một vị tướng bệ vệ, trán hói bước ra. Lần đầu tiên tôi trông thấy Tướng Phùng Thế Tài. Ngay sau đó, xe chúng tôi chở Thủ trưởng Tài, Phó Tư lệnh và anh Quyển quay lại công trường, không giải thích, động viên. Tất cả chúng tôi nhìn nhau ngỡ ngàng, ai cũng buồn, có lẽ do thói quen phục tùng của người lính nên không ai kêu ca gì.

Những ngày lao động hết mình, bao nhiêu công sức của cả đơn vị, bao mong đợi bấy lâu đã được đền bù. Đêm đón thi hài Bác lên đã tới. Từ chập tối tất cả các đèn quanh công trình đã bật sáng. Từ ngoài cổng dưới chân đồi con đường dẫn lên đỉnh đồi, những ngọn đèn cao áp hai bên đều bật sáng tạo thành một vệt sáng trắng lượn vòng quanh chân đồi lên đến đỉnh trông rất huyền ảo. Chúng tôi tất cả vào vị trí trực của mình sẵn sàng đảm bảo thiết bị hoạt động để đón Bác.

Phó Tư lệnh Trần Bá Đặng hạ lệnh cho tôi thử các phương án mất điện. Ông cầm đồng hồ bấm giây theo dõi, đứng cạnh ông là đồng chí Lê Quang Đạo. Tôi ấn nút tắt điện lưới quốc gia, chưa đầy mấy giây sau máy đi-ê-zen số một hoà mạng. Chạy được một lúc giả định sự cố, mấy giây sau máy hai hoà mạng, tiếp đó có điện lưới quốc gia, tự động đóng nguồn trở lại . “Thật tuyệt vời – Phó Tư lệnh khen – chính xác đến mức người ta chưa cảm nhận được mất điện”. Gần sáng đoàn xe đưa thi hài Bác đến công trình.

Để thiết kế hệ thống chiếu sáng phục vụ thăm viếng, tôi đã về Hà Nội trèo lên trần sân khấu Hội trường Ba Đình xem xét hệ thống chiếu sáng đã phục vụ lễ tang Bác trước đó rồi đến Xưởng Phim truyện I ở Thụy Khuê xem cách họ chiếu sáng diễn viên để quay phim, mua đèn và phụ kiện của họ. Phòng đặt quan tài kính của Bác ở K9 thấp và nhỏ nên không thể dùng phương án chiếu sáng ở Hội trường Ba Đình. Tôi thiết kế các giá lắp đèn, thiết bị điều chỉnh nhỏ gọn hơn, gắn lên tường, chiếu từ xa. Tất cả đèn và giá đều được mạ crôm bóng loáng phù hợp với yêu cầu y tế. Mọi việc đã xong, nhưng không có điều kiện chiếu thử trên mô hình để xác định góc chiếu và màu sắc, tôi rất lo lắng vì thời gian hiệu chỉnh trên thi hài Bác chỉ được phép 15 phút. Biết được lo lắng của tôi, Phó Tư lệnh Trần Bá Đặng đã báo cáo Thủ trưởng Tài, người phụ trách trực tiếp đón các đồng chí Uỷ viên Bộ Chính trị lần đầu tiên lên viếng Bác nhân Ngày sinh của Người (19- 5). Thật bất ngờ, ông cho phép tôi thử trực tiếp trên người ông. Thấy tôi băn khoăn quá, ông hỏi:

– Còn đắn đo gì nữa ?

– Thưa, nếu chiếu trực tiếp lên người thủ trưởng không có hòm kính sẽ rất nóng, các đèn có công suất lớn đến 1.000W- Tôi đành thú thật.

– Có nóng bằng đèn chiếu lên đầu Nguyễn Đức Thuận không? – Ông cười hỏi tôi.

– Dạ ! Chắc không đến, vì các đèn để xa từ 2m trở lên – Tôi giải thích.

– Thế thì chuẩn bị, mai thử, sau đó lắp thật sáng, ngày kia các anh ấy lên viếng Bác rồi. Cậu chỉ được phép làm tốt như hồi tang lễ, sẽ có thưởng! – Ông vỗ vai tôi.

Hôm sau, ông nằm trên phản hai tay đặt trên bụng như tư thế Bác vẫn nằm. Tôi bật đèn, những luồng sáng mạnh hắt lên khuôn mặt của ông. Tôi nhanh tay hiệu chỉnh góc nghiêng, tiêu cự. Mới được mấy phút mà mồ hôi trên trán ông chảy ròng ròng xuống phản. Tôi luống cuống. Đang giữa hè, nơi thử không có quạt. Thế mà nét mặt ông vẫn bình thản chịu đựng. Tôi nhanh tay hiệu chỉnh lần nữa. Mọi người đứng ở phía sau thấy rất đạt tiêu chuẩn. Tôi tắt đèn. Ông bật dậy. Lập tức, người đưa khăn ướt, người dùng tấm bìa quạt mát cho ông.

– Các cậu thấy thế nào ?- Ông hỏi mọi người.

– Đẹp lắm thủ trưởng ạ !

Tôi chuẩn bị thu dọn, bỗng ông lại nằm lên phản và nói: thử lần nữa cho chắc, các cậu xem kỹ đi, cậu Thành nhớ mai mà chiếu cho Bác.

Tôi bật đèn, hiệu chỉnh lại tiêu cự cho tia sáng tập trung hơn vào khuôn mặt, mọi người nhất trí.

Nhìn ông đi ra cùng mọi người, áo phía sau tấm lưng to ướt đẫm, trên trán vẫn còn nhiều giọt mồ hôi, tôi ái ngại, thấy thương và cảm phục ông.

Tối hôm đó tôi được gọi lên phòng đặt thi hài Bác, các Thủ trưởng đã có mặt ở đó đông đủ, có vài chuyên gia y tế Liên Xô. Tôi chỉ được phép 15 phút để hiệu chỉnh ánh sáng trên thi hài Bác để hội đồng duyệt.

Đứng sau quan tài kính ngắm Bác một lúc lâu, tôi mới bắt tay hiệu chỉnh. Tôi sung sướng vô cùng được ngắm Bác thoả thích như đứa cháu nhỏ lâu ngày về thăm ông. Tôi nhớ lại những lần gặp Bác trước đây. Hồi ở Vai Cày -Thái Nguyên, công binh chúng tôi xây dựng khu nhà tạm để Trung ương ở trước khi về tiếp quản Thủ đô, chiều chiều tôi ra ngồi xem Bác đánh bóng chuyền cùng các đồng chí cảnh vệ, ngày ấy Bác gầy và đen hơn. Lần thứ hai là ngày tôi đứng giới thiệu gian trưng bày bom mìn trong triển lãm sáng kiến toàn quân tại phố Lý Nam Đế. Một hôm Bác đến thăm, Người mặc bộ bà ba lụa nâu, chân đi dép lốp, chăm chú nghe tôi giới thiệu. Khi ra ngoài sân tôi đẩy xe cút kít giới thiệu sáng kiến rải mìn bằng xe thô sơ, Người cười và nói: “Người ta sắp lên mặt trăng rồi, các chú còn đi bằng xe cút kít”. Mọi người cười vui vẻ.

Lần này, thấy Bác nằm thanh thản như đang ngủ, vẫn vầng trán cao vời vợi, chòm râu trắng. Tôi tự nhủ phải chỉnh ánh sáng sao cho mọi người đều cảm nhận rằng: Bác như đang ngủ. Bác thật vĩ đại mà gần gũi, giản dị.

Đại tá Nguyễn Trung Thành
Nguyên Phó Chủ nhiệm Kỹ thuật – Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh

bqllang.gov.vn

Nơi Bác Hồ yên nghỉ trong những năm tháng chiến tranh

Tôi nhớ như in một buổi chiều thu năm 1968 tại khu sơ tán ở Hà Tây, anh Tạ Xuân Mẫn, Trưởng ban Thiết kế Phòng công trình Bộ Tư lệnh Công binh báo cho biết: “Về ngay Hà Nội để nhận nhiệm vụ mới”. Nhận thông báo như vậy, tâm trạng tôi vừa mừng, vừa lo. Mừng vì được trên tin tưởng giao nhiệm vụ. Lo là nhiệm vụ mới, môi trường công tác mới, xa anh em, đơn vị, liệu mình có đảm đương, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao?

Tổ công tác gồm 4 người: Đồng chí Nguyễn Trọng Quyển phụ trách chung và 3 chúng tôi là: anh Phạm Hoàng Vân – Kỹ sư điện, anh Nguyễn Lam Sinh – Kỹ sư xây dựng và tôi – Kỹ sư công trình thiết kế phần điều hoà thông gió.

Công việc đầu tiên của chúng tôi là đến ngay Viện Quân y 108 để cùng thảo luận và làm việc với Tổ y tế đặc biệt do bác sĩ Nguyễn Gia Quyền phụ trách.

Nhiệm vụ đòi hỏi chúng tôi phải cải tạo khu phẫu thuật của Bệnh viện thành một khu thí nghiệm đặc biệt có phiên hiệu 75A, mà buồng chính phải đảm bảo được các điều kiện sau:

– Nhiệt độ: 160C ± 0,20C;
– Độ ẩm: 75% ± 5%;
– Không được có gió lùa;
– Phải vô trùng tuyệt đối;
– Thời gian hoàn thành càng nhanh càng tốt và phải tuyệt đối giữ bí mật.

Việc đầu tiên là tìm kiếm thiết bị vật tư có ở Việt Nam, sau đó lập phương án thiết kế cho từng buồng, từng công trình. Để nắm chắc các thông số kỹ thuật của máy điều hoà, chúng tôi đã phải làm thí nghiệm liên tục 24/24 giờ. Tôi cùng đồng chí Phạm An Đông, Lê Trần Đống thay nhau theo dõi. Sau đó, chúng tôi về buồng số 1 tại khu giải phẫu của bệnh viện tiếp tục nghiên cứu thí nghiệm.

Công việc hết sức gian nan! Gian nan một cách thầm lặng, đòi hỏi phải kiên nhẫn, một sự kiên nhẫn tột cùng. Ở khu giải phẫu này, ngày cũng như đêm, hết sức tĩnh lặng. Đêm nghe tiếng dế, tiếng côn trùng kêu át cả tiếng máy chạy. Sau nhiều ngày đêm nghiên cứu, tôi và đồng chí Vân mới tìm ra được cách đấu lại hệ thống điện trong máy để đáp ứng yêu cầu hạ nhiệt của máy.

Để giải quyết việc đọng sương, chúng tôi đã dùng tấm nhựa cách điện “bakêlít” ốp trên trần, việc này đồng thời đảm bảo được cả yêu cầu vô trùng. Bây giờ nghĩ lại tôi càng thấm thía câu thành ngữ: “Cái khó ló cái khôn”.

Khó khăn nhất là công việc đảm bảo độ ẩm của buồng chính, nơi giữ thi hài theo yêu cầu của y tế. Công việc đó được thực hiện vào thời điểm của 37 năm về trước, khi máy móc còn rất thiếu thốn và thô sơ, hơn nữa trong hoàn cảnh đất nước đang có chiến tranh, khó khăn bộn bề. Cuối cùng, chúng tôi đã tìm ra cách dùng lượng gió nóng của máy WPH-105 hoà trộn với lượng gió lạnh của máy UC-26. Việc thử nghiệm đã cho kết quả tốt.

Công trình 75B là công trình phục vụ Lễ Quốc tang tại Hội trường Ba Đình. Công trình này tuy nhỏ nhưng hết sức khó khăn về mặt kỹ thuật. Tôi đã phải túc trực thường xuyên bên máy để điều chỉnh. Có lúc hơi focmol và hoá chất lọt ra ngoài làm mắt cay xè. Để đảm bảo công việc, tôi đã nhiều đêm thức trắng. Có lúc buồn ngủ quá, tôi phải đổ nước lạnh lên đầu cho tỉnh táo để tiếp tục làm việc. Tôi đã có một kỷ niệm nhỏ không thể quên trong những ngày này. Đó là buổi họp của Ban lễ tang để kiểm tra các công tác chuẩn bị. Vừa nghe Phó tổng Tham mưu trưởng Phùng Thế Tài nói được 5 phút, tôi đã gục xuống ngủ không hay biết gì. Các đồng chí xung quanh thấy vậy nhưng biết chúng tôi đã phải thức đêm liên tục nên không đánh thức, để tôi được chợp mắt trong chốc lát. Thủ trưởng Tài cũng biết nhưng ông đã rộng lượng tha thứ.

Thực tế khách quan lại đưa đến một khó khăn mới buộc chúng tôi phải suy nghĩ và tìm cách giải quyết. Đó là tại Hội trường Ba Đình lúc đó chưa có máy điều hoà nhiệt độ, chỉ có quạt thông gió đơn thuần. Nhiệt, ẩm do dòng người vào viếng Bác toả ra, cộng với nhiệt do đèn chiếu sáng để quay phim, chụp ảnh v..v… ảnh hưởng đến nhiệt độ của quan tài kính và gây ra hiện tượng đọng sương. Qua nhiều ngày đêm thí nghiệm, nghiên cứu quên cả ăn, ngủ, chúng tôi đã tìm được cách khắc phục là dùng tốc độ gió của quạt bàn, cộng với lượng gió lạnh thổi xung quanh quan tài kính để giải quyết.

Đáp lại niềm tin của Đảng, Chính phủ, của nhân dân và quân đội, chúng tôi đã làm việc suốt ngày đêm, chạy đua với thời gian, bảo đảm tiến độ và chất lượng tốt nhất. Cuối tháng 8 năm 1969, đoàn cán bộ y tế Liên Xô và Ban chỉ đạo công tác giữ gìn thi hài Bác kiểm tra công trình 75A, 75B đã kết luận có đủ điều kiện để tiến hành công tác giữ gìn thi hài Bác giai đoạn đầu phục vụ lễ viếng, lễ tang Bác.

Trong những ngày tổ chức Lễ Quốc tang tại Hội trường Ba Đình, cả nhóm chúng tôi và các Thủ trưởng Bộ Tư lệnh Công binh luôn có mặt, không ai rời vị trí công việc của mình một phút. Lễ viếng Bác sang ngày thứ 3, đồng chí Nguyễn Lương Bằng- Uỷ viên Trung ương Đảng, Trưởng ban Kiểm tra Trung ương hỏi chúng tôi: “Liệu có đảm bảo thêm thời gian để nhân dân vào viếng Bác không?” Chúng tôi rất tự tin thưa: “Về kỹ thuật, chúng tôi hoàn toàn bảo đảm, kéo dài bao lâu cũng được”.

Tiếp theo là việc cải tạo công trình K9 (sau này đổi tên là K84), công trình bảo vệ, giữ gìn lâu dài thi hài Bác trong những năm chiến tranh gồm 2 khu: khu mặt đất và khu ngầm để tránh bom đạn của địch. Công trình phải được hoàn thành trong 3 tháng. Điều kiện thi công rất khó khăn, không có điện lưới, không đủ nước cung cấp cho thiết bị điều hoà. Ngoài ra còn phải tuân thủ các quy tắc nghiêm ngặt, không được dùng thuốc nổ và máy thi công lớn để đảm bảo bí mật.

Các bộ phận thiết kế, điện, nước, điều hoà, cơ khí, xây dựng làm việc liên tục suốt ngày đêm. Chúng tôi đều hiểu rõ đây là nhiệm vụ quan trọng và có ý nghĩa lịch sử lớn lao, vì thế mọi người đều hết sức cố gắng, cùng chung ý chí, cùng thương yêu, động viên nhau hoàn thành tốt nhiệm vụ. Ngày 15/12/1969, công trình K9 hoàn thành, vượt trước thời gian quy định 10 ngày và được đổi thành K84. Sáng sớm ngày 24 tháng 12 năm năm đó, thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh được di chuyển lên K84 để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ, giữ gìn lâu dài trong những năm tháng chiến tranh ác liệt chống đế quốc Mỹ xâm lược.

Năm 1972, Tổng thống Ních Xơn ra lệnh ném bom trở lại miền Bắc. Bom Mỹ bắn phá ác liệt nhiều nơi như Hà Nội, Hải Phòng. Mặc dù K84 ở xa Hà Nội nhưng lại nằm trong phạm vi đường bay của máy bay Mỹ. Đề phòng khi bị đánh trả quyết liệt, máy bay Mỹ sẽ ném bom bừa bãi để tháo chạy. Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương quyết định di chuyển thi hài Bác đến một nơi khác an toàn hơn, trước ngày 15 tháng 7 năm 1972. Chúng tôi tiếp tục được giao nhiệm vụ xây dựng công trình này. Tôi cùng đồng chí Phạm Hoàng Vân, Hoàng Quang Bá được lệnh lên khảo sát thiết kế thi công tại chỗ. Chúng tôi đề ra mục tiêu phấn đấu hoàn thành công việc trong 20 ngày. Địa điểm là nơi rừng núi, hang sâu ẩm ướt, vắt muỗi nhiều vô kể. Đường lên khó khăn, điện nước không có, ăn uống vô cùng thiếu thốn. Nhưng khó khăn không làm nhụt được tinh thần và ý chí của chúng tôi. Với tấm lòng kính yêu vô hạn và biết ơn đối với Bác, được sự chỉ đạo của Thiếu tướng Phạm Ngọc Mậu, công trình đã hoàn thành đúng thời gian, đảm bảo chất lượng. Hơn một tuần sau khi hoàn thành công trình, thi hài Bác kính yêu đã được đưa về giữ gìn tại đây.

Hơn một phần ba thế kỷ trôi qua nhưng mỗi khi nhớ lại những suy nghĩ, tình cảm, những đêm thức trắng, cùng đồng chí, đồng đội miệt mài nghiên cứu, thiết kế, những khó khăn vất vả phải vượt qua … tôi vô cùng xúc động. Đó là những năm tháng không thể nào quên. Những năm tháng “khó khăn nào cũng vượt qua” để hoàn thành nhiệm vụ vinh quang mà Đảng và nhân dân giao cho.

Bộ phận kỹ thuật chúng tôi kết hợp với bộ phận y tế đã cùng nhau giữ gìn nguyên vẹn thi hài Bác đến khi đón Bác về Lăng. Chúng tôi rất xúc động khi được nghe Hội đồng khoa học gồm các chuyên gia y tế Liên Xô và Việt Nam sau khi kiểm tra đã kết luận: Ở một nước khí hậu nhiệt đới, lại phải di chuyển xa, nhưng hình dáng Người vẫn nguyên vẹn như khi Người còn sống và có đủ điều kiện để giữ gìn lâu dài.

Viết lại những dòng kỷ niệm ngắn ngủi này, tôi chỉ muốn nhắn nhủ rằng: Ở Thế kỷ XX, trong những năm tháng chiến tranh gian khổ của đất nước, cán bộ, chiến sĩ kỹ thuật Công binh đã thầm lặng xây dựng những công trình tuyệt mật, nơi Bác Hồ yên nghỉ trong những năm chiến tranh, góp phần nhỏ bé của mình vào sự nghiệp giữ gìn lâu dài thi hài Bác kính yêu.

Đại tá Bùi Danh Chiêu
Nguyên cán bộ Phòng Công trình – Bộ Tư lệnh Công binh

bqllang.gov.vn

Tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh và Quảng trường mang tên Người tại Matxcơva.

Tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh là một trong những bức tượng đồng có tầm cỡ ở Matxcơva. Cuối năm 1969, sau khi Người tạ thế, khu Công viên Akademichexki rộng hơn một hec-ta được đặt hòn đá đầu tiên chuẩn bị cho việc dựng tượng.

Đây là một vị trí rất đẹp của Thành phố. Công viên là điểm cắt của hai con đường lớn, đường Đmitria Ulianôpva và đường 60 năm Tháng Mười, xung quanh là những ngôi nhà cổ và nhà bằng gạch cao từ tám đến mười tầng, không che mất tầm nhìn. Lúc này, Nhà hàng Hà Nội đang tồn tại, án ngữ phía Tây như là một biểu tượng của văn hóa ẩm thực Việt Nam… Chín năm sau, tượng Bác bằng đồng cao 5 mét được đặt trên bệ cũng bằng đồng khối có chiều dài 6 mét, dày nửa mét; diện tích khuôn viên là 676m2, có ba chiếu nghỉ và 8 bậc thang rộng được khánh thành. Hàng chữ “Không có gì quý hơn Độc lập, Tự do” bằng tiếng Nga, khắc sâu vào mặt trước của tượng đài, cách vài ba trăm mét vẫn có thể đọc được. Trước nhà số 1/24 và số 2/22 của hai phố Đmitria Ulianôpva và phố Công đoàn đều có hai tấm bảng bằng đá khổ 1m x 1m20 ghi rõ “Quảng trường Hồ Chí Minh” và tóm tắt thân thế và sự nghiệp của Người.

Quảng trường, khu tượng Bác là nơi nghỉ ngơi, giải trí của khu dân cư, lao động khu vực Viện Hàn lâm. Những hàng ghế gỗ màu xanh kê dọc các lối đi, không lúc nào vắng bóng các cụ già dừng chân, những đôi gái trai ngồi tâm sự. Những ngày đẹp trời, các em bé rải vụn bánh mì cho hàng đàn bồ câu và chim sẻ.

Vì chỉ nằm cách lối vào Metrô Viện Hàn lâm chưa đầy 100 mét, nên ngày ngày trước tượng Bác lúc nào cũng cuồn cuộn dòng người qua lại. Vào những ngày thứ Bảy, Chủ Nhật, ngày lễ, hàng chục thanh niên Nga lại tụ tập trước tượng Bác chơi đến tận khuya.

Đã thành một truyền thống, các Đoàn đại biểu cấp cao từ trong nước sang thăm hữu nghị chính thức nước bạn đều đến thành kính đặt hoa trước tượng đài Hồ Chủ tịch và cũng thành thông lệ hàng năm, vào ngày 19-5 và ngày 2-9, đúng mười giờ sáng, cán bộ Đại Sứ quán, đại biểu Cộng đồng người Việt làm ăn và sinh sống ở Matxcơva và những người bạn Nga lại xếp hàng làm lễ dâng hoa trước tượng Người. Những người Nga sống quanh khu vực vừa ngạc nhiên, vừa trân trọng tình cảm thành kính của người Việt Nam và cả bạn bè Nga yêu mến Việt nam đối với lãnh tụ Hồ Chí Minh.

Chủ tịch QH Nguyễn Phú Trọng và Đoàn Đại biểu Quốc hội Việt nam tại Tượng đài Hồ Chủ tịch tháng 4 năm 2009

Hầu như trong chương trình những đám cưới của người Việt, bao giờ các đôi trai gái cũng mang hoa đến đặt trước tượng Bác và Đài Liệt sĩ vô danh tại điện Kremli như là một nghĩa cử và một nếp sống văn hóa. Những điều này, hầu như một người Việt nào ở Nga cũng biết….

40 năm kể từ khi Tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh và Quảng trường mang tên Người được khởi công, giờ đây sự hiện hữu của công trình tưởng niệm Người lớn nhất và sớm nhất ở nước ngoài này đã trở thành một biểu tượng của tình hữu nghị giữa hai dân tộc, hai đất nước, niềm tự hào của mỗi người Việt nam, đặc biệt đối với những ai đã từng học tập làm việc, công tác tại Liên xô trước đây nói chung và Thủ đô Matxcova nói riêng với Lãnh tụ Hồ Chí Minh, anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hoá thế giới .

Vladimir Efimovich Tsigal tác giả tượng đài Hồ Chủ tịch ở Matxcova

Sinh năm 1917, tác giả bức tượng đài Hồ Chí Minh ở Matxcơva, Nghệ sĩ điêu khắc Nhân dân Liên Xô và LB Nga V.E. Tsigal đã bỏ bao công sức sáng tạo nên, đã làm ấm lòng biết bao người Việt xa xứ, khiến họ cảm thấy gần gũi nhau hơn mỗi khi đặt chân tới quảng trường Hồ Chí Minh ở Matxcơva.

Nghệ sĩ điêu khắc Nhân dân Liên Xô và LB Nga Vladimir Efimovich Tsigal

V.E.Tsigal luôn tự hào rằng Quảng trường Hồ Chí Minh cùng bức chân dung Người bằng đồng đã trở thành địa chỉ gần gũi không những đối với người Việt đang học tập, làm ăn, sinh sống tại LB Nga, mà còn đối với nhiều người dân Matxcơva. Không chỉ vào dịp sinh nhật Người, mà vào ngày lễ tết, nhiều người Việt Nam luôn tới đây đặt hoa tưởng nhớ vị lãnh tụ vĩ đại đã mang lại độc lập, tự do cho dân tộc. Cô dâu chú rể người Việt trong ngày hạnh phúc cũng không quên đến bên Người, coi đây là địa điểm dừng chân mang ý nghĩa lớn trong khoảnh khắc đặc biệt của cuộc đời. Các đoàn đại biểu Việt Nam sang thăm và làm việc tại LB Nga cũng coi việc tới đặt vòng hoa tại Quảng trường Hồ Chí Minh là một phần không thể thiếu trong chương trình nghị sự… Và khi tới đây, không ít khách tham quan chắc hẳn đều nhắc tới ông – người nghệ sĩ đã góp phần đáng kể tạo nên một địa điểm gặp gỡ mang ý nghĩa văn hóa xã hội rất lớn .Cái tên Vladimir Efimovich Tsigal, người được vinh dự nhận giải thưởng Lênin và nhiều giải thưởng quốc gia Liên Xô – LB Nga, viện sĩ Viện hàn lâm mỹ thuật Liên Xô, đã trở nên thân quen, và Quảng trường Hồ Chí Minh đã trở thành địa điểm gắn liền với nhiều sự kiện lớn góp phần tăng cường tình đoàn kết hữu nghị, thúc đẩy sự hợp tác giữa hai nước Việt Nam và LB Nga.

Là một trong số 6 tượng đài Hồ Chí Minh được đặt ở nước ngoài gồm Cuba, Hungary, Pháp, Ấn Độ, Madagascar, tượng đài Hồ Chí Minh ở Matxcơva được tọa lạc trong một không gian có thể nói là rộng lớn nhất. Đặt chân tới đây, chắc hẳn không ai bỏ qua cơ hội ngắm nhìn thật kỹ bức chân dung bằng đồng của Bác. Từ trên cao, với nụ cười hiền hậu, vầng trán cao và chòm râu bạc, Người như đang mỉm cười với mỗi người khách tới thăm Quảng trường.

Nhớ lại cách đây 4 năm, chúng tôi đã có dịp được nhà điêu khắc V.E. Tsigal đón tiếp tại nhà riêng ở Matxcơva. Khi đó, mặc dù đã 88 tuổi, nhưng V.E. Tsigal vẫn nhanh nhẹn và đặc biệt ông có trí nhớ thật tuyệt vời. Trong căn phòng bài trí nên thơ với những bức tranh vẽ phong cảnh nước Nga và tĩnh vật mang phong cách cổ điển, V.E. Tsigal ngồi trầm ngâm và lục tìm trong trí nhớ những ký ức về hai chuyến thăm Việt Nam, về quá trình sáng tạo nên bức phù điêu chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh và về quãng thời gian ông miệt mài với từng đường nét trên bức chân dung và toàn bộ bố cục của tượng đài. Có lẽ thời gian ông giành cho bức tượng đài rất dài, nên ông không thể nhớ cụ thể đã mất bao nhiêu năm để hoàn thành tác phẩm. Ông nhớ rằng, khi lần đầu sang thăm Việt Nam năm 1985, ông đã mang theo dự án đầu tiên về bức phù điêu Hồ Chí Minh. Khi đó, theo tư duy của ông, Hồ Chí Minh là vị lãnh tụ vĩ đại, là học trò của Các Mác và Lênin, là người đã mang lại tự do cho dân tộc Việt Nam, vì vậy ý tưởng ban đầu của nhà điêu khắc là muốn tạo hình tượng Hồ Chí Minh theo cách truyền thống – ở tư thế đứng, tay đặt trên quyển sách, tượng trưng cho những tác phẩm của Mác và Lênin.

“Nhưng khi thực hiện chuyến đi xuyên Việt bằng ôtô, có cơ hội tìm hiểu cuộc sống, tính cách, phong tục tập quán của những người dân sống ở những vùng quê dọc theo đất nước Việt Nam, tôi nhận ra rằng Việt Nam mà tôi tận mắt thấy hoàn toàn khác với Việt Nam trong trí tưởng tượng của tôi và tôi đã quyết định bỏ dự án thứ nhất và bắt tay vào soạn thảo dự án thứ hai với những cảm xúc hoàn toàn mới” – V.Tsigal tâm sự. Để có tư liệu phục vụ cho dự án thứ hai của bức tượng đài Hồ Chí Minh, nhà điêu khắc đã ghi nhớ và sâu chuỗi từng chi tiết nhỏ khi tới thăm nhà sàn, ao cá Bác Hồ, khi xem những bức ảnh chụp về cuộc đời hoạt động của Bác và khi nghe ông Vũ Kỳ – nguyên Giám đốc Viện Bảo tàng Hồ Chí Minh, kể về Người. Ngoài ra, V.Tsigal còn đọc những tác phẩm viết về Bác, nghiên cứu di chúc của Bác viết trước lúc đi xa. Ông đã cố gắng hết sức mình không chỉ để tìm hiểu con người, tính cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh, mà còn tìm hiểu cuộc sống của đất nước, con người Việt Nam. “Người Việt Nam sống ra sao, họ nghĩ gì và quan tâm đến điều gì? Tất cả những kiến thức đó rất cần cho tôi” – V.Tsigal khẳng định.

Nếu có dịp được chiêm ngưỡng bức phù điêu Hồ Chí Minh ở Matxcơva, chắc hẳn bất cứ ai cũng có thể nhận thấy phong cách thể hiện ý tưởng và cấu trúc của tác phẩm là độc nhất vô nhị, không giống với những bức tượng đài khác. Đó cũng chính là mục đích hướng tới của nhà điêu khắc tài năng V.Tsigal: “Tôi muốn bức phù điêu Hồ Chí Minh thu hút sự chú ý và sẽ để lại ấn tượng sâu sắc cho bất cứ ai từng một lần đứng trước tác phẩm này”.

Để bức phù điêu Hồ Chí Minh được công chúng tiếp nhận như một tác phẩm điêu khắc “có một không hai”, tác giả V.Tsigal đã gửi gắm vào tác phẩm tình cảm và suy tư của ông về lịch sử đất nước, con người Việt Nam, về Chủ tịch Hồ Chí Minh – vị lãnh tụ đã được UNESCO công nhận là danh nhân thế giới và năm 1990 – năm khai trương bức phù điêu, cũng là Năm Quốc tế Hồ Chí Minh. Từ khi khánh thành đến nay, Quảng trường Hồ Chí Minh với bức chân dung Người được khắc nổi trên tấm đồng tròn khổng lồ cùng câu nói nổi tiếng của Người được dịch sang tiếng Nga “Không có gì quí hơn độc lập tự do”, với hình tượng chàng trai Việt Nam ở thế chuẩn bị bật dậy, hình tượng cây tre, đã trở thành điểm du lịch tôn thêm vẻ đẹp của thành phố vốn nổi tiếng với nhiều bức tượng mang tính nghệ thuật cao là Matxcơva.“Vòng tròn là hình tượng mặt trời của Việt Nam, tiềm ẩn mơ ước về một Việt Nam với tương lai tươi sáng – V.Tsigal miêu tả ý tưởng sáng tạo bức tượng đài – Ở mặt sau của hình tròn là hai cây tre – loài cây luôn sẵn sàng gồng mình chống chọi với bão tố. Tôi xây dựng hình tượng cây tre cũng là xuất phát từ sự hiểu biết về loài cây đặc trưng của Việt Nam: cây có thể bị uốn cong, nhưng khó bị bẻ gẫy, giống như ý chí và sức mạnh Việt Nam vậy”.

Đối với nhà điêu khắc, lịch sử Việt Nam là lịch sử của những cuộc đấu tranh giành độc lập và tự do cho đất nước. Người Việt Nam đã trải qua bao đau thương và mất mát mới giành được nền độc lập của hôm nay. Bởi vậy ban đầu, ý tưởng thiết kế hình tượng chàng trai Việt Nam ở phía dưới chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh là chàng trai cầm khẩu súng máy trong tay. “Nhưng sau đó tôi đã suy nghĩ lại, – V.Tsigal nhớ về thời kỳ cuối những năm 80 khi ông bắt tay đúc bức phù điêu, – Tôi đã tự hỏi mình: Tại sao lại gắn hình ảnh vị lãnh tụ Việt Nam bên cạnh vũ khí như vậy? Hãy để đất nước này sống trong hòa bình, không bao giờ còn biết tới những khẩu súng. Và tôi đã bỏ khẩu súng đó ra khỏi bố cục của bức tượng”. Giờ đây, chàng trai Việt Nam trong tác phẩm của ông là một chàng trai với sức vóc khỏe mạnh, đang trong tư thế chuẩn bị xuất phát trên con đường đến với tương lai. Và cho tới nay, ông nhận thấy ý tưởng loại bỏ khẩu súng trong tay chàng trai thật đúng với hiện thực: Việt Nam đang vươn mình đi lên xây dựng tương lai no ấm trong hòa bình.

Và không chỉ bức phù điêu bằng đồng khổng lồ mang ý nghĩa sâu xa, mà cả bệ đá hoa cương mà bức phù điêu trụ trên đó cũng hàm chứa nhiều ý nghĩa. “Chắc có nhiều người đặt câu hỏi: tại sao không phải là 3 hay 5 bậc đá hoa cương dẫn tới tượng đài, mà lại là 8 bậc? – Tác giả Tsigal dường như tự hỏi mình – Con số 8 mang ý nghĩa tượng trưng, bởi tôi nhận thấy bông sen – loài hoa được người Việt Nam coi là biểu tượng của sự thanh tao, thường có 8 cánh”.

Có thể nói, mỗi chi tiết điêu khắc thể hiện trên bức phù điêu Hồ Chí Minh đều mang ý nghĩa sâu xa xuất phát từ sự hiểu biết, từ tấm lòng ngưỡng mộ của tác giả đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, với lịch sử đất nước và con người Việt nam. Và như cảm tưởng của nhiều vị khách từng đến với Quảng trường Hồ Chí Minh, thì đây là địa điểm mang đậm phong cách và tinh thần Việt Nam. Phong cách và tinh thần Việt Nam ấy đã được nghệ sĩ điêu khắc tài năng V.E.Tsigal chuyển tải một cách tài tình và đầy sức thuyết phục. Phát biểu cảm tưởng của mình về Chủ tịch Hồ Chí Minh, V.E. Tsigal đã nói: “Đó là vị Chủ tịch giản dị nhất trong số các vị Chủ tịch và Tổng thống mà tôi từng được biết. Có vị Tổng thống nào mà trong túi luôn có kẹo để phân phát cho trẻ nhỏ! Đó là con người thật thông minh, phúc hậu”.

Nhà điêu khắc còn ghi nhớ từng sự kiện nhỏ liên quan tới quá trình sáng tác bức tượng đài Hồ Chí Minh .Ông biết rằng Chủ tịch Hồ Chí Minh từng mơ ước được gặp V.I.Lênin . Khi ông đúc bức phù điêu Hồ Chí Minh trong một xưởng điêu khắc rất lớn ở Matxcơva, thì cùng thời điểm đó, một nhà điêu khắc khác cũng đang đúc tượng V.I.Lênin. “Và đôi lúc tôi cảm thấy rất vui vì dường như mình đã góp phần tạo điều kiện để hai con người vĩ đại đó gặp gỡ nhau trong lĩnh vực điêu khắc”./-

Theo vtv4.vn
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

Hồ Chí Minh kế thừa và phát triển giá trị văn hóa dân tộc và nhân loại

Đại hội IX của Đảng khẳng định: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại”. Ở đây, xin làm rõ phần nào nhận định đúng đắn của Đảng ta về tư tưởng vĩ đại của Người.

1-Tư tưởng Hồ Chí Minh kế thừa và phát triển những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc.

Tư tưởng Hồ Chí Minh có cội nguồn từ những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Khi tôn vinh Người là danh nhân văn hóa kiệt xuất và Anh hùng giải phóng dân tộc, tổ chức UNESCO đã ghi nhận: Nhà văn hóa kiệt xuất Hồ Chí Minh là kết tinh của truyền thống văn hóa ngàn năm của dân tộc Việt Nam và những tư tưởng của Người là hiện thân của những khát vọng của các dân tộc trong việc khẳng định bản sắc của mình và tiêu biểu cho việc thúc đẩy hiểu biết lẫn nhau… Dân tộc Việt Nam trải qua hàng nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước đã tạo lập cho mình một nền văn hóa riêng, phong phú và bền vững với những giá trị truyền thống tốt đẹp và cao quý.

Trước hết đó là chủ nghĩa yêu nước và ý chí bất khuất đấu tranh để dựng nước và giữ nước. Đây là một trong những tài sản có giá trị nhất trong hành trang của Hồ Chí Minh lúc ra đi tìm đường cứu nước năm 1911. Nó là cơ sở xuất phát, là động lực, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của Người. Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam đã có quá trình lịch sử hàng ngàn năm với nội dung phong phú và sâu sắc như: yêu nước gắn liền với yêu quê hương, yêu con người Việt Nam, yêu truyền thống văn hóa quý giá. Thời kỳ phong kiến, yêu nước có nội dung trung quân ái quốc, lợi ích giai cấp thống trị phù hợp với lợi ích của nhân dân lao động trong sự nghiệp chống xâm lược, bảo vệ Tổ quốc.

Hồ Chí Minh đã làm phong phú nội dung của chủ nghĩa yêu nước. Yêu nước đối với Người là gắn liền với yêu nhân dân. Người nói, lòng thương yêu nhân dân và nhân loại của Người không bao giờ thay đổi…Người có một ham muốn tột bậc là làm sao nước ta được độc lập, dân ta có cơm ăn, áo mặc và được học hành. Người đã nêu ra chuẩn mực “trung với nước, hiếu với dân” và phát triển những nội dung mới của chủ nghĩa yêu nước. Đó là yêu nước dựa trên quan điểm giai cấp công nhân, yêu nước mở rộng ra thành tình yêu vô cùng rộng lớn đối với nhân dân lao động, những người cùng khổ, đối với giai cấp công nhân các nước trên thế giới. Trên cơ sở tư tưởng của giai cấp công nhân, Người đã nêu ra nội dung mới: Yêu Tổ quốc, yêu nhân dân gắn liền với yêu chủ nghĩa xã hội, vì chỉ có chủ nghĩa xã hội thì nhân dân mình mới ngày một ấm no thêm, Tổ quốc ngày một giàu mạnh thêm.

Trong các giá trị truyền thống Việt Nam, tinh thần nhân nghĩa, truyền thống đoàn kết, tương thân, tương ái là những nét hết sức đặc sắc. Truyền thống này hình thành một lúc với sự hình thành dân tộc, từ hoàn cảnh và nhu cầu đấu tranh quyết liệt với thiên nhiên và giặc ngoại xâm. Người Việt Nam gắn bó với nhau trong tình làng, nghĩa xóm. Hồ Chí Minh đã kế thừa, phát huy sức mạnh bốn chữ “đồng” (đồng tình, đồng sức, đồng lòng, đồng minh). Người thường nhấn mạnh, nhân dân ta đã từ lâu sống với nhau có tình có nghĩa. Tình nghĩa ấy được Người nâng lên cao đẹp hơn, trở thành tình nghĩa đồng bào, đồng chí, tình nghĩa năm châu bốn biển một nhà. Ngay cả khi tiếp thu lý luận Mác-Lênin – đỉnh cao của trí tuệ nhân loại – cũng phải trên nền tảng của giá trị truyền thống. Người nhấn mạnh: Hiểu chủ nghĩa Mác-Lênin là phải sống với nhau có tình, có nghĩa. Nếu thuộc bao nhiêu kinh sách mà sống không có tình nghĩa thì sao gọi là hiểu chủ nghĩa Mác-Lênin được…Tư tưởng đại nhân, đại nghĩa ở Hồ Chí Minh là phấn đấu vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, vì tự do, hạnh phúc của con người, là cứu nước, độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội, tạo mọi điều kiện cho con người phát triển. Trong văn hóa đạo đức Việt Nam, chữ “Nghĩa” có ý nghĩa là lẽ phải, ngay thẳng. Nguyễn Trãi đã từng nói: Phàm mưu việc lớn phải lấy nhân nghĩa làm gốc, nên “công to phải lấy nhân nghĩa làm đầu”, Hồ Chí Minh lấy chữ nghĩa để phân rõ bạn thù. Ai làm điều gì có lợi cho nhân dân, cho Tổ quốc đều là bạn. Bất kỳ ai làm điều gì có hại cho nhân dân và Tổ quốc đều là kẻ thù.

Trong những giá trị truyền thống cao đẹp của dân tộc, Hồ Chí Minh đã kế thừa tinh thần cộng đồng, một lối sống thành thực, thân ái, những thuần phong mỹ tục, trở thành những yếu tố đậm nét trong tư tưởng Hồ Chí Minh.

Ngay từ năm 1947, trong khi cuộc chiến chống thực dân Pháp đang diễn ra quyết liệt, người đã nói đến đời sống mới của một người, một nhà, một làng và khắp cả nước. Xoay quanh hạt nhân của đời sống mới là cần, kiệm, liêm, chính. Hồ Chí Minh đã nói đến thuần phong mỹ tục, không có cờ bạc, hút xách, bợm bài, trộm cắp. Người nhắc đến tục ngữ “lá lành đùm lá rách”, “đói cho sạch rách cho thơm”. Và, nếu một mình no ấm mà nỡ để đồng bào xung quanh đói rét…, thì dù giàu cũng không hưởng được. Người nói: Cách cư xử đối với đồng bào thì nên thành thực, thân ái, sẵn lòng giúp đỡ…Nhiều lần, Người nhấn mạnh đến việc xây dựng và phát triển thuần phong mỹ tục, tức là phát triển một trong những giá trị truyền thống. Mặt khác, khi trân trọng giữ gìn thuần phong mỹ tục, Hồ Chí Minh luôn gắn với việc phê phán, bài trừ đồi phong, bại tục. Người đã nói đến việc “khôi phục vốn cũ” với một tinh thần trân trọng các giá trị của người xưa để lại như: tương thân tương ái, tận trung với nước, tận hiếu với dân…Song, Người yêu cầu xóa bỏ cái xấu (tính lười biếng, tham lam…), sửa đổi các phiền phức (cúng bái, cưới hỏi quá xa xỉ).

2- Hồ Chí Minh tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại

Nói đến văn hóa nhân loại có tầm cỡ vĩ đại nhất và ảnh hưởng lớn nhất đối với Hồ Chí Minh là phải nói đến chủ nghĩa Mác-Lênin. Có thể nói, Hồ Chí Minh đã tiếp thu phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin và ứng dụng sáng tạo vào điều kiện cụ thể của đất nước, đưa cách mạng Việt Nam giành nhiều thắng lợi vĩ đại và cống hiến nhiều vào kho tàng lý luận mác-xít cũng như phương pháp hoạt động sáng tạo của cuộc cách mạng vô sản.

Xuất thân trong một gia đình khoa bảng, với tư chất thông minh tuyệt vời, từ nhỏ, Hồ Chí Minh đã được giáo dục Hán học và đã tiếp thu nền văn hóa phương Tây tại trường Quốc học Huế. Khi bôn ba khắp năm châu, bốn bể, Người vừa hoạt động cách mạng, vừa học hỏi không ngừng. Người đã thông thạo các ngôn ngữ tiêu biểu cho nền văn minh của nhân loại, am tường các nền văn hóa Đông, Tây, kim, cổ. Khi tiếp thu các nền văn hóa, Người bao giờ cũng phân tích các yếu tố giá trị toàn nhân loại và vĩnh cửu. Người đã làm giàu trí tuệ của mình bằng tinh thần văn hóa nhân loại. Người là tượng trưng cho sự kết hợp hài hòa giữa các nền văn hóa và tỏa ra một nền văn hóa của tương lai.

Tiếp thu văn hóa phương Đông, trước hết là Nho giáo, Hồ Chí Minh đã đánh giá đúng đắn vai trò của Nho giáo và người sáng lập ra nó là Khổng Tử và đã đặc biệt khai thác những mặt tích cực của tư tưởng Nho giáo.

Hơn ai hết, Hồ Chí Minh hiểu rõ những mặt bất cập, hạn chế của Nho giáo. Đó là trong Nho giáo có những yếu tố duy tâm, lạc hậu, phản động như tư tưởng đẳng cấp, khinh lao động chân tay, khinh phụ nữ, khinh thường thực nghiệm, doanh lợi…Tuy nhiên, Hồ Chí Minh cũng thấy được những mặt tích cực của nó và khuyên chúng ta “nên học”. Theo Người, mặt tích cực của Nho giáo là nó đề cao văn hóa, lễ giáo, tạo ra truyền thống hiếu học với châm ngôn “Học không biết chán, dạy không biết mỏi”. Về điểm này, Nho giáo hơn hẳn các học thuyết cổ đại, bởi vì nhiều học thuyết cổ đại chủ trương ngu dân để dễ cai trị.

Hồ Chí Minh đã khai thác Nho giáo, lựa chọn những yếu tố tich cực, phù hợp để phục vụ cho nhiệm vụ cách mạng.

Tiếp thu tư tưởng vị tha ở Phật giáo, Hồ Chí Minh là hiện thân của lòng nhân ái, độ lượng, khoan dung – những nét đặc trưng của giáo lý đạo Phật.

Thứ nhất là, tư tưởng vị tha, từ bi, bác ái, cứu khổ cứu nạn, thương người như thể thương thân – một tình yêu bao la không chỉ dành cho con người mà dành cho cả chim muông, cây cỏ.

Thứ hai là, nếp sống có đạo đức, trong sạch, giản dị, chăm lo làm điều thiện.

Thứ ba là, tinh thần bình đẳng, tinh thần dân chủ chất phác chống lại mọi phân biệt đẳng cấp.

Thứ tư là, Phật giáo Thiền tông đề ra luật “chấp tác”: “nhất nhật bất tác, nhất nhật bất thực” (một ngày không làm, một ngày không ăn), đề cao lao động, chống lười biếng. Cuối cùng, Phật giáo vào Việt Nam, gặp chủ nghĩa yêu nước, tinh thần đấu tranh bất khuất chống ngoại xâm của dân tộc ta, đã hình thành nên Thiền phái Trúc lâm Việt Nam, chủ trương sống không xa rời, lẩn tránh mà gắn bó với đời sống của nhân dân, với đất nước, tham gia vào cộng đồng, vào cuộc đấu tranh của nhân dân, chống kẻ thù dân tộc.

Như thế, có thể nói, những mặt tích cực của Phật Việt Nam đã đi vào đời sống tinh thần dân tộc và nhân dân lao động. Gia đình Bác Hồ là gia đình nhà nho nghèo, gần gũi với nông dân, cũng thấm nhuần tinh thần đó và để lại dấu ấn trong tư tưởng Hồ Chí Minh.

Ngoài ra, còn có thể tìm thấy nhiều trích dẫn khác nữa về các nhà tư tưởng phương Đông như Lão Tử, Mặc Tử, Quản Tử… trong các bài nói, bài viết của Hồ Chí Minh. Cũng như sau này, khi đã trở thành người mác-xít, Nguyễn Ái Quốc vẫn tìm hiểu thêm về Chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn và tìm thấy trong đó “những điều thích hợp với điều kiện nước ta”. Các tiêu chí của chủ nghĩa Tam dân là dân tộc – độc lập; dân quyền – tự do; dân sinh – hạnh phúc đã được Hồ Chí Minh rút gọn trong quốc hiệu của Việt Nam “Độc lập – Tự do – Hạnh phúc”. Là người mác-xít tỉnh táo và sáng suốt, Hồ Chí Minh đã biết khai thác những yếu tố tích cực của tư tưởng và văn hóa phương Đông để phục vụ cho sự nghiệp cách mạng nước ta.

Lĩnh hội tư tưởng văn hóa phương Tây: Trong ba mươi năm hoạt động cách mạng ở nước ngoài, Hồ Chí Minh sống chủ yếu ở châu Âu nên cũng chịu ảnh hưởng rất sâu rộng của nền văn hóa dân chủ và cách mạng của phương Tây.

Khi xuất dương, Người đã từng sang Mỹ, đến sống ở Niu Oóc, làm thuê và thường đến thăm khu ở của người da đen. Trong các bài viết sau này, Người thường nhắc đến ý chí đấu tranh cho tự do, độc lập, cho quyền sống của con người được ghi lại trong Tuyên ngôn độc lập 1776 của nước Mỹ. Người đã tiếp thu giá trị của tư tưởng nhân quyền với nội dung là quyền tự do cá nhân thiêng liêng trong bản tuyên ngôn này. Sau này Người đã phát triển nó thành quyền sống, quyền độc lập, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc của tất cả các dân tộc. Nội dung nhân quyền được Người nâng lên một tầm cỡ mới trong Tuyên ngôn độc lập của Việt Nam năm 1945.

Cuối năm 1917, Người từ Anh sang Pháp và quyết định sống và hoạt động ở thủ đô nước Pháp có ý nghĩa lịch sử rất lớn, mở ra một thời kỳ mới trong cuộc đời mình. Là Thủ đô của nước Pháp, Pa-ri cũng đồng thời là trung tâm văn hóa – nghệ thuật của Châu Âu. Các trào lưu triết học và các trường phái nghệ thuật nổi tiếng thế giới phần lớn đều được hình thành và ra mắt tại đây. Sống ở giữa nơi hợp lưu của các dòng văn hóa thế giới, Người đã có điều kiện thuận lợi để nhanh chóng chiếm lĩnh vốn tri thức của thời đại, đặc biệt là truyền thống văn hóa dân chủ và tiến bộ của nước Pháp.

Đến với quê hương của lý tưởng tự do, bình đẳng, bác ái, Hồ Chí Minh được tiếp xúc trực tiếp với tác phẩm của các nhà tư tưởng khai sáng: Von-te, Rút-xô, Mông-tét-xki-ơ, những lý luận gia của đại cách mạng Pháp 1789, như Tinh thần pháp luật của Mông-tét-xki-ơ, Khế ước xã hội của Rút-xô, v.v… tư tưởng dân chủ của các nhà khai sáng đã có ảnh hưởng tới tư tưởng của Người. Ngoài ra, Người còn hấp thụ được tư tưởng dân chủ và hình thành được phong cách dân chủ của mình từ trong cuộc sống thực tiễn. Rõ ràng là, ở Pháp, Người đã có thể hoạt động và đấu tranh cách mạng một cách tương đối tự do, thuận lợi hơn ở trên đất nước mình, dưới chế độ thuộc địa.

Nhờ được rèn luyện trong phong trào công nhân Pháp và sự cổ vũ, dìu dắt trực tiếp của nhiều nhà cách mạng và trí thức tiến bộ Pháp như M. Ca-sanh, P.V. Cu-tuya-ri-ê, G.

Mông-mút-xô…mà Hồ Chí Minh đã từng bước trưởng thành. Con người ấy, trên hành trình cứu nước, đã làm giàu trí tuệ của mình bằng vốn trí tuệ của thời đại, Đông và Tây, vừa thâu thái, vừa gạn lọc để có thể từ tầm cao của tri thức nhân loại mà suy nghĩ và lựa chọn, kế thừa và đổi mới, vận dụng và phát triển.

Kế thừa lòng nhân ái, đức hy sinh của Thiên chúa giáo: Nói đến việc kết hợp văn hóa Đông, Tây trong con người Hồ Chí Minh, không thể không đề cập đến sự kế thừa lòng nhân ái, đức hy sinh, những giá trị cơ bản của Thiên chúa giáo. Người đã cống hiến cả cuộc đời cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng nhân dân lao động khỏi ách áp bức, bóc lột; đã là hiện thân của lòng nhân ái và đức hy sinh cao cả. Sau này, Người luôn luôn giáo dục cán bộ, đảng viên về lòng thương người, thương dân, thương các chiến sỹ ngoài mặt trận – đó là những tư tưởng thấm đậm những giá trị cao cả mang tính nhân loại mà Thiên chúa giáo đã khởi xướng và răn dạy.

Người lên án gay gắt những kẻ “giả danh Chúa” để thực hiện những “hành vi ác quỷ”: dẫn đường cho đội quân viễn chinh; cướp của cải, đánh đập, bắt giết người (đặc biệt là trẻ em); chiếm ruộng đất canh tác, v.v…Người coi những hành động đó là sự đi ngược lại và phản bội lòng nhân ái cao cả của Chúa, làm hoen ố tư tưởng lớn của Ngài là muốn mưu cầu phúc lợi cho xã hội. Người viết: “Nếu Chúa bất hạnh đã chịu đóng đanh trên cây thánh giá trở về cõi thế này, thì chắc Ngài sẽ vô cùng ngao ngán khi thấy “các môn đồ trung thành” của mình thực hiện đức khổ hạnh như thế nào”.

Người lên án những giáo sĩ đại diện cho chủ nghĩa tư bản phương Tây, những kẻ nhân danh Chúa để quan hệ mật thiết với thế lực thực dân, tham gia vào guồng máy của chủ nghĩa thực dân, xâm nhập về kinh tế và quân sự, áp đặt nền văn hóa thực dân, làm xuất hiện nguy cơ bá quyền văn hóa, v.v…

Tóm lại, Hồ Chí Minh tiếp thu các tinh hoa văn hóa nhân loại một cách có chọn lọc rồi vận dụng tinh hoa đó một cách sát hợp vào những điều kiện cụ thể của đất nước, của dân tộc vì mục đích không chỉ cho sự nghiệp giải phóng dân tộc mình mà còn góp phần tích cực nhất vào sự nghiệp của các dân tộc khác trên thế giới./.

Theo TS. Hồ Văn Chiểu
Ban Tư tưởng – Văn hóa TW
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

Nghĩ về nét độc đáo trong Tư tưởng Hồ Chí Minh

Đến nay ở nước ta có nhiều công trình nghiên cứu về Tư tưởng Hồ Chí Minh dưới nhiều góc độ khác nhau; nhưng về cơ bản các nhà nghiên cứu đã thống nhất chung về nền tảng của Tư tưởng Hồ Chí Minh và quá trình hình thành hệ tư tưởng đó; đồng thời phân chia hệ tư tưởng ra làm 3 bộ phận lớn: Tư tưởng Hồ Chí Minh, đạo đức Hồ Chí Minh và phương pháp phong cách Hồ Chí Minh.

Trong khuôn khổ phạm vi bài viềt này xin nói lên cảm nghĩ về một trong 3 bộ phận nói trên của hệ Tư tưởng Hồ Chí Minh, đó là đạo đức Hồ Chí Minh. Thiết nghĩ đây là nét độc đáo nhất trong hệ tư tưởng của Người. Bởi lẽ bộ phận đạo đức trong hệ tư tưởng nói trên được thế hiện là đặc trưng kết hợp giữa tinh hoa dân tộc với tinh hoa thời đại, trong đó bao trùm là tính tư tưởng nhân văn được diễn đạt một cách khái quát: độc lập và thống nhất cho Tổ quốc, tự do và dân chủ cho nhân dân, công bằng và hạnh phúc cho mọi người; hòa bình và hữu nghị cho các dân tộc, sự phát triển các quan hệ văn hóa và nhân dân cho thời đại.

Đạo đức Hồ Chí Minh được các nhà nghiên cứu khẳng định là tấm gương đạo đức lớn, là sức mạnh chính trị, tinh thần to lớn cho toàn Đảng, toàn dân noi theo. Đạo đức Hồ Chí Minh bao gỗm 2 bộ phận là tư tưởng đạo đức và tấm gương đạo đức.

Tư tưởng đạo đức của Hồ Chí Minh đã đóng góp làm phong phú thêm tư tưởng đạo đức cách mạng của đạo đức học Mác-Lênin, được biểu hiện vận dụng nhuần nhuyễn giữa tính nhân văn của các dân tộc Việt Nam với đạo đức cách mạng của giai cấp công nhân.

Tấm gương đạo đức của Nguời là đỉnh cao đặc trưng con người mới. Đó là: Suốt đời hy sinh cho dân tộc không một chút riêng tư, hết lòng yêu thương nhân dân, lấy dân làm gốc; chí công vô tư, cần kiệm liêm chính; giản dị, khiêm tốn; suỗt đời học tập rèn luyện vươn lên. Từ đó Người đã hết lòng vì sự nghiệp giải phóng con người bao gổm: đồng bào bị đau khổ, nhân loại bị áp bức không phân biệt màu da, chủng tộc… yêu con người, tin vào sức mạnh con người và đem lòng chí công vô tư để đối xử với con người.

Đạo đức Hồ Chí Minh còn được thể hiện rõ nét và độc đáo trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc qua 2 thời kỳ, Người đã kế thừa và nâng cao truyền thóng đạo đức của dân tộc Việt Nam trong đấu tranh với kẻ thù: “Lấy chí nhân thay cường bạo, lấy đại nghĩa thắng hung tàn. Người không những thế hiện lòng nhân đạo đối với kẻ thù, cảm thông đối với những ai lầm đường lạc lối và với cả những người lính viễn chinh, công cụ của giai cấp bóc lột cũng là nạn nhân của chiến tranh phi nghĩa. Sau Cách mạng Tháng Tám thành công, Người vẫn mời Vĩnh Thụy (Bảo Đại) và giám mục Lê Hữu Từ làm cồ vấn cho Chính phủ.

Khi lập ra Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Người đa chủ trương thực hiện chính sách thêm bạn bớt thù; đã cử các ông Nguyễn Hải Thần làm Phó Chủ tịch Chính phủ, NguyễnTườngTam, làm Bộ trưởng Ngoại giao, Vũ Hồng Khanh làm Phó Chủ tịch Quân ủy hội, cùng nhiều nhân vật khác của Quốc dân Đảng tham gia vào Ban Thường trực Quốc hội. Điều đó nói lên đức khoan hồng, đại độ và bản lĩnh của Người. Ngày 31-5-1946, trong thư gởi đổng bào Nam Bộ, Người viết: “Tôi khuyên đồng bào đoàn kết chặt chẽ và rộng rãi. Năm ngón tay có ngón ngắn, ngón dài. Nhưng ngắn dài đều hợp lại nơi bàn tay, trong mấy triệu người cũng có người thế này, người thế khác, nhưng cả thảy đều là dòng dõi tổ tiên ta.

Vậy nên ta phải khoan hồng đại độ, ta phải nhận rằng đã là con Lạc cháu Hồng thì ai cũng có ít hay nhiều lòng ái quốc. Đối với đồng bào lạc lối lầm đường, ta phải lấy tình thân ái mà cảm hóa họ; có thế mới thành đoàn kết, có đại đoàn kết thì tương lai chắc chắn sẽ vẻ vang. Trong công cuộc giải phóng miền Nam, Đảng và quân đội ta thực hiện tư tưởng của Người: Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”. Tuy nhiên, phải đánh như thế nào đề miền Nam ít tổn thất về sinh mạng và của cải nhân dân. Thể hiện tính nhân đạo của Người, lúc sinh thời là đánh thế nào làm tan rã về tỗ chức của quân ngụy, đánh sụp đổ về tinh thần và ý chí, đồng thời mở con đường sống cho quân ngụy còn có ngày cải tà qui chính quay về với dân tộc.

Ngày nay, đất nước đang tiếp tục sự nghiệp đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng, việc phát huy nâng cao Tư tưởng Hồ Chí Minh là rất to lớn. Điều đó sẽ giúp cho việc đổi mới chỉnh đốn Đảng trong sạch vững mạnh; đồng thời đoàn kết rộng rãi mọi tầng lớp nhân dân và kiều bào ở nước ngoài, cũng như mở ra chính sách ngoại giao làm bầu bạn các nước trên thế giới; nhằm huy động sức mạnh tổng hợp cho sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước.

(Thành đoàn TP HCM)

bqllang.gov.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh

“Tư tưởng Hồ Chí Minh” không khép kín, tự đủ, không nhất thành bất biến mà luôn luôn phát triển với dân tộc và thế giới.

Nói về thế kỷ XX vừa lùi vào quá khứ, có người đã khái quát bằng một hình ảnh thật độc đáo có ý nghĩa khơi gợi rất lớn: Nếu lịch sử hơn 4 triệu năm của loài người thu lại trong 1 năm thì thế kỷ XX chỉ là 13 phút, từ 23h47’ đến 24h của ngày 31/12 . Trong 13 phút ấy, đặc biệt trong 5 phút cuối cùng, loài người đã hiểu biết nhiều hơn toàn bộ hệ thống kiến thức tích luỹ trước đó, tức là từ khi trên trái đất bắt đầu có con người! Bình minh của thiên niên kỷ mới với những năm đầu của thế kỷ XXI đã cho ta những cảm nhận thật sống động, những biến động dữ dội khó mà tiên liệu được! Một sự dồn nén như vậy tất sẽ đưa đến những đột biển lớn lao trong lịch sử tư tường của loài người, “lượng” sẽ biển thành “chất”. Đúng là, “chúng ta đang làm biến đổi môi trường của ta đến tận gốc rễ đến mức rồi ta phải tự biến đổi chính mình để tồn tại được trong môi trường đó” (Nobert Wiener)

Chính những diễn biển của cuộc sống ở buổi bình minh của thiên niên kỷ đang khẳng định một sự thật: Chuẩn mực chính là sự thay đổi!

Với Hồ Chí Minh, chúng ta có tấm gương tuyệt vời vế sự nhất quán từ trước đến sau, từ lúc khởi đầu cuộc tìm đường cứu nước, với bao sức ép từ mọi phía cho đến khi Đảng ra đời qua bao thăng trầm, thử thách khốc liệt để có cách mạng Tháng Tăm 1945, ra đời nước cộng hoà non trẻ giữa vòng vây trùng điệp của kẻ thù, tiến hành hai cuộc kháng chiến với ý chí “Không có gì quý hơn độc lập tự do”. Đó là sự dân quyền về mục tiêu độc lập cho dân tạc, tự do cho nhân.

Với mục tiêu đó, Hồ Chí Minh đã đấu tranh cho sự hợp nhất và ra đời của Đảng năm 1930, thậm chí có lúc vì mực tiêu đó mà dám có quyết định táo bạo cho dù đau đớn là tuyên bố Đảng tự giải tán. Thực chất là Đảng rút vào hoạt động bí mật chính vào lúc giành được chính quyền vào năm 1945. Rồi cũng vì mục tiêu đó mà sáng suốt và kiên quyết đổi tên Đảng Cộng sản Đông Dương thành Đảng Lao động Việt Nam vào năm 1951.

Tên tuổi và sự nghiệp của Hồ Chí Minh đã thực sự là ngọn cờ trong khối óc và trái tim cửa người Việt Nam của dân tộc Việt Nam. Giương cao ngọn cờ tư tưởng Hồ Chí Minh để vẫy gọi và quy tụ mọi tấm lòng Việt Nam vốn nặng lòng vì quê hương, đất nước. Những người đã trải qua sự thử thách trong gần nửa thế kỷ chiến đấu và chiến thắng. Những người với những hoàn cảnh và điếu kiện khác nhau đã gửi gắm tình yêu nước thương nòi của mình trong nhiều hành động và nghĩa cử không ai giống ai. Làm cho mọi giọt máu của mỗi người Việt Nam cùng chảy về trái tim của dân tộc để rồi toả đi khắp bốn phương nuôi dưỡng hành động vì nghĩa lớn đất nước. Làm được điều đó cũng là cách tao nên được sự đồng thuận xã hội sâu sắc và rộng lớn, có sức vẫy gọi và hội được khối đại đoàn kết toàn dân tộc hường về mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội dân chủ công bằng văn minh.

“Tư tưởng Hồ Chí Minh” không khép kín, tự đủ, không nhất thành bất biến mà luôn luôn phát triển với dân tộc và thế giới. Phải biết làm cho tư tường Hồ Chí Minh sống trong cuộc sống của mọi người Việt Nam, tiếp tục cho nghị lực và tâm hồn của mỗi con người đang xây dựng cuộc sống của mình, gia đình mình và góp phần vào sự nghiệp chung của đất nước. Có thể làm được điều đó vì tư tưởng Hồ Chí Minh gần gũi với mọi tấm lòng Việt Nam, gần gũi như khí trời, như cơm ăn nước uống trong mạch sống Việt Nam từ túp lều tranh cho đến ngôi biệt thự.

Tư tưởng Hồ Chí Minh gần gũi với người nông dân còn bao gian khó, đổ mồ hôi, sôi nước mắtt trên cánh đồng chưa có mấy trợ lực của khoa học và công nghệ, cũng như với bà con nghèo đô thị nơi xóm thợ nghèo khổ của những công nhân làm việc tại các khu chế xuất, các xí nghiệp liên doanh… với bao nỗi lo toan trong cuộc mưu sinh nhọc nhằn. Hồ Chí Minh đến được với họ vì bình sinh Người chỉ có một “ham muốn, ham muốn tột bậc là làm cho cuộc sống của họ được no ấm, con em của họ được học hành. Những người lao động lam lũ ấy hiểu Hồ Chí Minh vì tư tưởng của người lãnh tự nhân dân, đã quy tụ được những khát vọng, những mong mỏi hàng ngày vốn bình dị và nghiệt ngã như chính cuộc sống của họ vậy thôi.

Và, với những nhà doanh nghiệp đang có vai trò lớn trong xây dựng nến kinh tế thị trường lành manh, dấn bước trên con đường hội nhập kinh tế quốc tế, Hồ Chí Minh không xa lạ với họ. Từ những ngây đầu của chính quyến cách mạng Hồ Chí Minh đã nhận rõ vi trí của các nhà công thương trong khối đại đoàn kết dân tộc để làm cho đất nước phú cường. “Tuyên ngôn Độc lập” khai sinh ra nước Việt Nam mới được có trong căn phòng của một nhà tư sản lớn giàu lòng yêu nước.

Hơn ai hết, những người trí thức Việt Nam hiểu rõ Hồ Chí Minh, nhận ra tầm vóc lãnh tụ của dân tộc ở trí tuệ một nhà văn hoá lớn cùng trái tim ấp ủ những khát vọng nhân văn của một con người khao khát tự do: “Trên đời ngàn vạn điều cay đắng/ Cay đắng chi bằng mất tự do”. Hồ Chí Minh đã biết cách trả về lại cho người trí thức Việt Nam ngọn nguồn yêu nước truyền thống vốn nằm sâu trong tâm thức của họ, khơi dậy năng lực cống hiến của tiềm lực trí tuệ trong họ. Với Hồ Chí Minh, người trí thức Việt Nam hiểu được chỗ đứng của họ trong lòng dân tộc.

Thời gian đủ để kiểm nghiệm độ chính xác và sự tường minh của một tư tưởng, trải qua những biến động dồn dập cả trong nước và trên thế giới vẫn chứng minh được sức bền, độ “chín” của tư tưởng Hồ Chí Minh. Đó là sự kết tinh trí tuệ và khí phách của một dân tộc, là sự tiếp nhận và hội tụ những tinh hoa của tư tưởng mà loài người đã giữ lại qua quá trình tiếp biến, thanh lọc và kiểm nghiệm. Vì thế nó đủ tầm cao của sự khái quát của lý luận và đường hướng phát triển, vừa gần gũi, đi thẳng vào lòng người Việt Nam vì nó diễn đạt được chân lý của cuộc sống.

Chân lý thì luôn luôn đơn giản, song hiểu được chân lý, đến được với chân lý thì thường lại cực kỳ gian chuân.

Cuộc sống đang sải những bước đi táo bạo và quyết đoán trong thời đại của những biến động dồn dập. Tầm mắt không ít người dã được mở rộng hơn nhờ vào “sự xé toang một tấm màng bưng bít, sự hiện ra và sáng lên của sự thật, sự tan vỡ một số huyền thoại, sự phá sản nhiều giáo điều, sự bộc lộ những sai lầm trầm kha, sự nhận thức mới, không phải về tưởng mà về lý luận cách mạng, thực tiễn hoạt động và thực tế đời sống, sự khơi dậy những niềm hy vọng mới, sự bắt đầu một quá trình thanh lọc và tái tạo đầy hứa hẹn” (trích từ bài viết thế kỷ XX của Việt Phương – thành viên Ban nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ).

Để bắt đầu một quá trình thanh lọc và tái tạo đầy hứa hẹn ấy, mở rộng tầm mắt là điều kiện tiên quyết. Đó cũng là đòi hỏi trước tiên đề có thể chủ động đón nhận sự thách thức mới trong qúa trình hội nhập quốc tế. Tính chất gay gắt và chưa có tiền lệ của những thách thức ấy đang đòi hỏi một bản lĩnh mới của những người đang gánh trên vai mình trách nhiệm nặng nề của lịch sử. Bản lĩnh ấy, xét đến cùng lại cũng được quyết định quyết định bởi tầm nhìn mới, bởi “đôi mắt mới nhìn vào thế giới”.

Không phải là không có lý khi người ta cho rằng: thế giới đã thay đổi và kiểu tư duy tuyến tính không con thích hợp với một thế giới phi tuyến. Không có một bản đồ vạch sẵn cho con đường phía trước. Những kinh nghiệm có sẵn, những phương pháp truyền thống không còn đủ cho hành trình của dân tộc đi về phía trước. Vì thế, sáng tạo và linh hoạt trong tư duy cũng như trong hành động phải là phẩm chất hàng đầu của con người Việt Nam đang sống trong thế kỷ XXI. Để có được phẩm chất đó, đỏi hỏi phải có “sự nhận thức mới, không phải về lý tưởng mà về lý luận cách mạng, thực tiễn hoạt động và thực tế đời sống”. Để làm được điều đó, phải biết khai thác cái lợi thế vô song của chúng ta, đó là uy tín của tên tuổi và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh – anh hùng giải phóng dân tộc và danh nhân văn hoá mà thế giới từng biết và đã tỏ lòng ngưỡng mộ.

Theo Báo Lao Động

bqllang.gov.vn

Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh nơi hội tụ tình cảm của nhân dân Việt Nam và bầu bạn Quốc tế

Ngày 2/9/1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ kiệt xuất, Anh hùng giải phóng dân tộc, người chiến sĩ cộng sản quốc tế lỗi lạc, Danh nhân văn hoá của nhân loại đã đi vào cõi vĩnh hằng, để lại niềm tiếc thương vô hạn cho toàn thể nhân dân Việt Nam và bầu bạn quốc tế.

Thể theo nguyện vọng thiết tha của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, Bộ Chính trị Trung ương Đảng đã quyết định: “Với tấm lòng kính yêu vô hạn và đời đời nhớ ơn Hồ Chủ tịch, chúng ta phải thực hiện đến mức tốt nhất nhiệm vụ giữ gìn lâu dài thi hài Hồ Chủ tịch và xây dựng Lăng mộ của Người”.

Quyết định của Bộ Chính trị vừa phù hợp với truyền thống, phong tục tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, một dân tộc từ lâu đời đã có truyền thống thờ phụng ông bà, tổ tiên, xây dựng Lăng mộ để tưởng nhớ những người có công trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; đồng thời cũng đáp ứng với nguyện vọng của mọi người dân Việt Nam được tận mắt trông thấy Người, được thường xuyên đến viếng thăm Người, được thể hiện tấm lòng tôn kính và đời đời biết ơn công lao to lớn của Người đối với dân tộc. Đặc biệt là tình cảm của đồng bào, chiến sĩ miền Nam đang ngày đêm trực tiếp đối mặt với quân thù, chưa một lần được gặp Bác.

“Dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta đã sinh ra Hồ Chủ tịch, người Anh hùng dân tộc vĩ đại và chính Người đã làm rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta”…

Chủ tịch Hồ Chí Minh là kết tinh của những giá trị tinh thần cao quý của dân tộc và thời đại. Nhân dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Người, tổ chức giáo dục, khoa học và văn hoá của Liên hợp quốc (UNESCO) đã công nhận Hồ Chí Minh là Anh hùng giải phóng dân tộc của Việt Nam và là nhà văn hoá lớn của nhân loại. Nghị quyết của UNESCO khẳng định: “Chủ tịch Hồ Chí Minh là một biểu tượng kiệt xuất về quyết tâm của cả một dân tộc đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc của Việt Nam, góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội”.

Với công lao to lớn của Người, với tư tưởng đạo đức cách mạng và nhân cách trong sáng của Người, Chủ tịch Hồ Chí Minh mãi mãi xứng đáng là một con người vĩ đại nhất của dân tộc Việt Nam anh hùng. Tấm gương hy sinh cả cuộc đời vì dân, vì nước; tư tưởng, đạo đức, tác phong của Người luôn cổ vũ, động viên các thế hệ người Việt Nam vững bước đi theo con đường mà Người và dân tộc đã lựa chọn. Giữ gìn lâu dài thi hài và xây dựng Lăng của Người là góp phần giữ gìn tư tưởng, đạo đức, sự nghiệp cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng thời là giữ gìn một di sản vô giá của dân tộc và toàn nhân loại.

Thấm thoắt đã 38 năm Người đi xa và 32 năm khánh thành công trình Lăng vĩ đại. Ngày nối ngày, trên Quảng trường Ba Đình, nhân dân trong nước và khách quốc tế lại về bên Người. Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn ung dung, giản dị như vừa chợp mắt sau một ngày làm việc…

Ba hai năm đã qua kể từ ngày khánh thành Lăng đến nay đã có hơn 33 triệu lượt người, trong đó hàng triệu lượt người nước ngoài của hầu hết các quốc gia và tổ chức quốc tế vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Những năm gần đây, thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, kinh tế trong nước tăng trưởng, hệ thống giao thông được mở mang, đời sống nhân dân có nhiều cải thiện… nhân dân vào Lăng viếng Bác mỗi ngày một tăng, năm sau cao hơn năm trước; nhất là những ngày nghỉ, ngày lễ; đặc biệt vào dịp kỷ niệm 19/5 và 2/9 mỗi ngày có tới hàng vạn người vào Lăng viếng Bác. Đối với khách nước ngoài, theo đánh giá của Tổng cục Du lịch, hầu như 100% khách du lịch khi đến Hà nội đã vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh và hiện nay, số lượng khách quốc tế vào Lăng viếng Bác tăng từ 3 đến 4 lần so với các năm trước đây.

Về Lăng viếng Bác, đối với mỗi người dân Việt Nam như một nhu cầu tình cảm, một phong tục tập quán mới, một sinh hoạt truyền thống biết ơn cội nguồn, hướng về gốc rễ trước mỗi bước đi lên. Từ cụ già đến các cháu thiếu nhi; từ người dân bình thường đến cán bộ, công chức nhà nước, tuy mỗi người có một tâm trạng khác nhau nhưng khi về bên Bác đều thấy thanh thảnh, bình yên. Nhiều người nước ngoài khi đến Việt Nam, đứng trước Lăng của Người đã có cảm nhận: Hiếm có lãnh tụ nào trên thế giới được nhân dân mến mộ như Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Ngoài hoạt động phục vụ thăm viếng, trước Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh và Quảng trường Ba Đình còn diễn ra các sinh hoạt văn hoá, chính trị. Những lễ báo công, giao ước thi đua, kết nạp Đảng, kết nạp Đoàn… và những năm gần đây, nam nữ thanh niên đã hình thành nên phong tục tập quán mới đó là đặt hoa trước Lăng Bác trong ngày cưới. Từ ngày 19/5/2001, nghi lễ chào cờ hàng ngày đã được tiến hành trang trọng trước Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Hình ảnh của Tổ quốc với lãnh tụ được hoà quyện vào nhau, càng tôn thêm giá trị văn hoá, tinh thần và ý nghĩa chính trị của công trình Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Những năm tới, trong bối cảnh đất nước hội nhập, mở rộng quan hệ giao lưu quốc tế số lượng người nước ngoài đến Việt Nam sẽ nhiều hơn và khách đến viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh dự kiến sẽ cao hơn so với trước. Tình hình đó đòi hỏi công tác bảo đảm an ninh phải được quan tâm, lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ.

Mặt khác, thực hiện Chỉ thị số 23 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khoá IX) về việc tăng cường học tập tư tưởng Hồ Chí Minh và Chỉ thị số 06 của Bộ Chính trị (khoá X) về triển khai cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, khu vực Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, Quảng trường Ba Đình sẽ diễn ra nhiều hoạt động phong phú, thu hút với số lượng lớn nhân dân và khách quốc tế. Để góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả các hoạt động đón tiếp, tuyên truyền và phát huy ý nghĩa chính trị, văn hoá của công trình Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, xin đề xuất một số nội dung sau đây:
– Một là, thường xuyên chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ các cấp, các ngành, các địa phương trong việc tổ chức để nhân dân được về Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh thuận tiện, chu đáo.

Thực tế hiện nay, nhu cầu tình cảm của nhân dân các địa phương trong cả nước được về Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh rất lớn. Mặc dù Đảng, chính quyền, các ngành của địa phương, nhất là ngành lao động, thương binh và xã hội, những năm qua đã có nhiều cố gắng để tổ chức cho các đoàn chính sách, các Mẹ Việt Nam anh hùng… được về Lăng viếng Bác, nhưng số lượng còn quá ít ỏi so với nhu cầu. Vì vậy vấn đề đặt ra là cần có một kế hoạch cụ thể để phối hợp chặt chẽ các ngành, các địa phương trong việc tổ chức để nhân dân được về thủ đô Hà Nội và vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Vấn đề này, ngành lao động, thương binh và xã hội nên chủ trì và phối hợp với ngành du lịch, giao thông vận tải và các tổ chức quần chúng khác để lập kế hoạch phối hợp với Ban quản lý Lăng tổ chức để nhân dân, nhất là các gia đình chính sách được về Lăng viếng Bác.

– Hai là, thường xuyên chú trọng nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đón tiếp, tuyên truyền phục vụ nhân dân và khách quốc tế khi về Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh và tham gia các hoạt động văn hoá, chính trị trong Cụm di tích Lịch sử – Văn hoá Ba Đình.

Cụm di tích Lịch sử – Văn hoá Ba Đình gồm các công trình, di tích lịch sử: Lăng Bác, Khu di tích Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch, Bảo tàng Hồ Chí Minh và Đài tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ. Hàng ngày, trên khu vực Quảng trường Ba Đình, thường xuyên có hàng nghìn người đến viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh và tham gia các hoạt động văn hoá, chính trị. Đây là lực lượng quần chúng đông đảo, tự giác đến để được nghe tuyên truyền, học tập về cuộc đời, sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh và tấm gương đạo đức cách mạng, trong sáng của Người. Vì vậy, cần có sự quan tâm, chỉ đạo chặt chẽ của Ban Tuyên giáo Trung ương và Bộ Văn hoá – Thông tin trong việc giáo dục tuyên truyền, định hướng tư tưởng cho nhân dân và khách quốc tế đến tham quan khu vực. Mặt khác, đối với các lực lượng làm nhiệm vụ trực tiếp tại Lăng Bác, Khu di tích Phủ Chủ tịch và Bảo tàng Hồ Chí Minh cần chủ động đề xuất và tích cực cải tiến nội dung, hình thức giáo dục, tuyên truyền, nhất là hình thức trực quan sinh động để tạo ấn tượng hấp dẫn phong phú cho nhân dân và khách quốc tế đến với khu vực Quảng trường Ba Đình lịch sử.

– Ba là, phối hợp chặt chẽ các lực lượng làm nhiệm vụ bảo đảm an ninh trong khu vực, nhất là hai lực lượng nòng cốt bộ đội và công an trong tình hình hiện nay.

Tổ chức đón tiếp nhân dân và khách quốc tế đến viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh và tham gia các hoạt động trong khu vực vừa thuận lợi, chu đáo; vừa tuyệt đối an toàn là yêu cầu lớn nhất đối với các lực lượng làm nhiệm vụ trong Cụm di tích Lịch sử – văn hoá Ba Đình. Trong tình hình hiện nay, kẻ địch có thể lợi dụng bất cứ sự sơ hở nào của chúng ta để gây mất ổn định chính trị, tạo cớ để vu khống, phá vỡ sự bình yên của đất nước. Chính vì thế, các lực lượng bộ đội và công an cần phải có kế hoạch, phương án cụ thể và hợp đồng chặt chẽ để chủ động ứng phó với mọi tình huống, tuyệt đối không để bị động bất ngờ. Bên cạnh việc tăng cường các biện pháp bảo đảm an ninh, cần chú trọng làm tốt công tác đón tiếp, hướng dẫn nhân dân và khách quốc tế, để mọi người đều cảm nhận được sự thoải mái, chu đáo khi về Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh và tham quan khu vực, không vì nhiệm vụ bảo đảm an ninh mà ảnh hưởng đến công tác đón tiếp, tuyên truyền. Mỗi suy nghĩ, mỗi việc làm của cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên phải thấm nhuần tư tưởng nhân ái, yêu thương con người như sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nhắc nhở. Làm tốt những điều đó chính là góp phần vào việc tuyên truyền, học tập tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh trong mọi tầng lớp nhân dân và tuyên truyền quảng bá hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với nhân dân và bầu bạn quốc tế. Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh sẽ mãi mãi trường tồn cùng với dân tộc và là nơi hội tụ tình cảm của nhân Việt Nam và bầu bạn quốc tế.

TS. Đặng Nam Điền

bqllang.gov.vn

Chương VI: Đón Bác về Lăng

1. Mùa xuân năm 1975, một mùa xuân mãi mãi đọng lại trong ký ức của mỗi người dân, mỗi người lính một dấu son chói lọi. Cả đất nước đã chuyển mình trong mùa xuân lịch sử ấy. Đó cũng chính là mùa xuân thứ sáu của những chiến sĩ đảm nhận trước dân tộc một sức mệnh đặc biệt: giữ gìn và bảo vệ thi hài Bác. Khu đồi 84 sau sáu năm kể từ khi Đoàn 69 ra đời đã thực sự trở thành một khu vườn đầy hoa trái, thanh tịnh và thoáng đãng. Sau khi Hiệp định Pa-ri được ký kết, từ khu căn cứ K2 trở về, cán bộ, chiến sĩ Đoàn 69 đã khẩn trương củng cố và xây dựng đơn vị.

Giữa lúc trên Quảng trường Ba Đình, nhịp độ xây dựng Lăng Bác cứ mỗi ngày một dồn dập, khẩn trương thì ở K84 các chuyên gia cùng các cán bộ, chiến sĩ trong toàn đoàn cũng liên tiếp triển khai mọi công tác, luyện tập phương án đảm bảo kỹ thuật và an ninh để chuẩn bị cho đợt di chuyển cuối cùng: đón Bác về Lăng. Song song với công tác luyện tập các phương án đảm bảo trong hai năm 1974 – 1975, các chuyên gia cùng với những cán bộ chuyên môn của ta đã tiến hành nhiều thí nghiệm nhằm xác định những thông số, nhiệt độ, độ ẩm để áp dụng ở Lăng sau này.

Vào mùa xuân năm 1974, một ngày khoảng giữa tháng 2, đoàn cán bộ Trung ương Cục miền Nam do đồng chí Nguyễn Văn Linh dẫn đầu, trước khi trở lại chiến trường chuẩn bị cho Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 đã lên K84 viếng Bác. Ngày hôm ấy, những người con của mảnh đất thành đồng, mảnh đất mãi mãi nằm trong trái tim vĩ đại của Người đã im lặng đứng trước lĩnh cữu, thầm hứa sẽ làm trọn những lời di chúc thiêng liêng của Người. Trong chiếc hòm kính trong suốt, Bác nằm thanh thản, trên đôi môi như vẫn còn phảng phất một nụ cười và hơi ấm từ thân thể Người như vẫn còn lan tỏa khắp khu rừng đang tràn ngập mùa hương của các loài hoa. Dường như Người vừa mới đi dạo trở về đang say nồng trong một giấc ngủ yên lành.

Mùa xuân lịch sử 1975, vào lúc Cuộc tổng tiến công nổi dậy diễn ra như vũ bão trên khắp chiến trường miền Nam thì ở khu đồi K84, các chiến sĩ Đoàn 69 cũng bước vào những đợt luyện tập cuối cùng, bởi ai cũng hiểu rằng thắng lợi đã gần kề, Lăng Bác gần hoàn thành và họ sắp được đón Bác về Lăng, 150 cán bộ chiến sĩ lữ đoàn 144 cũng được lệnh hành quân lên một vùng đồi ở Vĩnh Phú, dựng lên một mô hình giống như mô hình của Lăng, để luyện tập. Những động tác bồng súng đứng nghiêm, đi đều đổi gác, khênh hoa, dẫn khách đã được tập đi tập lại nhiều lần giữa những trưa hè nắng gắt cho đến khi thật thuần thục. Kết thúc thời gian luyện tập, các cán bộ, các chiến sĩ kể trên trở về Hà Nội kết hợp với một số cán bộ, chiến sĩ ở cơ quan lữ đoàn thành lập Đoàn 275 làm nhiệm vụ chủ yếu gác tiêu binh danh dự và bảo vệ an toàn khu vực Lăng. Đó cũng là tiền thân của Đoàn 275 hiện nay.

Cho đến những ngày cuối cùng của tháng 4 năm 1975, cả khu rừng K84 sống trong một tâm trạng rạo rực và xao động. Tin chiến thắng từ chiến trường dồn dập bay về. Suốt ngày đêm cán bộ và chiến sĩ Đoàn 69 vừa làm nhiệm vụ vừa theo dõi diễn biến chiến sự và truyền cho nhau nghe từng tin chiến thắng. Khuôn mặt người nào cũng bừng lên một thứ ánh sáng, tràn đầy những xúc động. Đó là những ngày thật lạ lùng, mọi người vừa có cái gì như thảng thốt vừa như sung sướng. Những vất vả hy sinh của cả một dân tộc suốt 30 năm qua, nhưng nỗi đau đớn mà trái tim vĩ đại của Bác hằng đau nhói đêm đêm đã sắp được quân và dân ta đền đáp trọn vẹn.

Các chuyên gia Liên Xô, những người đồng chí, những người bạn từng chia sẻ những niềm vui, nỗi buồn với các đồng nghiệp Việt Nam cũng không giấu nổi được niềm vui và xúc động. Trong phòng ngủ của đồng chí tổ trưởng chuyên gia Ca-dan-xép, có một tấm bản đồ Việt Nam. Ca-dan-xép đã làm rất nhiều những cây cờ đỏ nhỏ. Cứ mỗi lần có tin một thành phố, một tỉnh lỵ ở miền Nam được giải phóng, ông lại cắm một cây cờ đỏ lên vùng đất đó trên bản đồ và khi lá cờ cuối cùng của Ca-dan-xép được cắm trên mảnh đất Sài Gòn thì các chuyên gia Liên Xô cũng chạy ùa cả ra ngoài hành lang ôm chầm lấy các đồng nghiệp Việt Nam reo hò chiến thắng.

Không thể nói hết được niềm sung sướng đến bàng hoàn của các cán bộ, chiến sĩ Đoàn 69, khi nghe tin miền Nam đã hoàn toàn giải phóng. Đó là một ngày trên những ô kính trong ngôi nhà Bác đang yên nghỉ. Mọi người ở các bộ phận đều dừng làm việc để ra ôm chầm lấy nhau reo hò đến khản cả giọng. Thế là đã chấm dứt, chấm dứt vĩnh viễn những đau khổ mà nhân dân cả nước phải chịu đựng hơn ba chục năm trời. Từ đây, Bác sẽ được yên nghỉ thanh thản, sẽ không còn những cảnh sơ tán vì bom, đạn Mỹ và không bao lâu nữa, nhân dân cả nước sẽ được đến Quảng trường Ba Đình lịch sử để vào Lăng viếng Người.

Ngày 26 tháng 5 năm 1975, Ban chỉ huy Đoàn 69 nhận được lệnh của Bộ Quốc phòng chuẩn bị chu đáo mọi mặt để đón Bác về Lăng. Từ đây, đơn vị đã bắt đầu chuẩn bị bước vào một giai đoạn mới, một nhiệm vụ mới. Đó là nhiệm vụ vừa bảo vệ giữ gìn thi hài Bác, vừa quản lý vận hành Lăng, đón tiếp nhân dân và khách quốc tế vào viếng Bác.

Ngày 27 tháng 5 năm 1975, Đảng uỷ Đoàn đã triệu tập cuộc họp mở rộng, nhằm nghiên cứu bàn bạc phương án tổ chức hành quân di chuyển.

Cuộc hành quân di chuyển đón Bác về Lăng diễn ra giữa lúc miền Bắc đã trở lại hoà bình sẽ hoàn toàn không giống như những cuộc hành quân di chuyển lần trước. Lực lượng tham gia bảo đảm cho cuộc hành quân được mở rộng, vì vậy, ngay sau khi phương án hành quân được ban chỉ đạo thông qua, đoàn đã cử một số cán bộ đi liên hệ với các địa phương trên trục đường di chuyển và thành phố Hà Nội đề nghị sửa chữa đường, đảm bảo an ninh trên dọc tuyến đường. Cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị đã tích cực kiểm tra sửa chữa các loại phương tiện đảm bảo hành quân. Một phong trào thi đua nước rút đã dấy lên sôi nổi trong toàn Đoàn. Không khí của ngày vui chiến thắng hoà lẫn với khí thế của công tác chuẩn bị đón Bác về Lăng đã làm cho nhiều cán bộ, chiến sĩ ở các bộ phận quên ăn, quên ngủ, làm việc liên tục không kể ngày đêm. Khu rừng K84 vốn yên tĩnh nay cũng trở nên sôi động nhộn nhịp. Gió rào rào thổi trên đỉnh rừng và nắng chan hoà trong tiếng chim hót thiết tha bên dòng sông. Thiên nhiên trong sáng và đẹp đẽ cũng như đang chuyển mình, nô nức chuẩn bị cho ngày tiễn đưa Bác về xuôi.

Hạ tuần tháng sáu – các địa phương báo cáo đường đã được sửa chữa xong và đề nghị Đoàn cho kiểm tra, sáu năm trời Bác yên nghỉ trên mảnh đất này nhưng mãi đến lúc ấy, lúc mà các cán bộ Đoàn 69 đến liên hệ sửa chữa đường thì các đồng chí lãnh đạo địa phương mới biết. Các đồng chí lãnh đạo địa phương vô cùng xúc động, không ngờ vùng đất quê mình lại được vinh dự nhường ấy.

Trung tuần tháng bảy, tất cả mọi lực lượng của Đoàn 69 được tập trung về K84 trong tư thế sẵn sàng nhận nhiệm vụ. Hầu hết các mặt công tác đảm bảo cho đợt hành quân di chuyển đã được hoàn tất. Các phương tiện, xe máy sử dụng cho cuộc hành quân đều được kiểm tra chạy thử. Sáng ngày 15 tháng 7, thay mặt Quân uỷ Trung ương và Bộ Quốc phòng, các đồng chí Phạm Ngọc Mậu, Phùng Thế Tài và Kinh Chi trực tiếp lên kiểm tra các mặt công tác chuẩn bị cho Đoàn và chính thức phổ biến mệnh lệnh: Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương quyết định đón Bác về Lăng vào ngày 18 tháng 7 năm 1975.

Ngày 16 tháng 7, không khí trong Đoàn chộn rộn, náo nức. Các bộ phận khẩn trương, kiểm tra lại lần cuối công tác chuẩn bị, thu xếp đồ đạc, tư trang và phân công công việc cho từng người. Ai cũng biết rằng rồi đây, không biết đến bao giờ họ mới có dịp trở lại khu rừng thiêng liêng này. Bởi vậy trong lòng mỗi người đều thoảng lên một nỗi bùi ngùi, lưu luyến khi phải từ giã cánh rừng, ngọn đồi, dòng sông quen thuộc từng gắn bó, chia sẻ ngọt bùi với họ trong sáu năm trời qua.

Ngày 17 tháng 7, một bộ phận của Đoàn cùng với 3 chiếc xe chở các phương tiện lên đường về Hà Nội trước. Đúng 16 giờ hôm sau, ngày 18 tháng 7, đoàn xe đặc biệt chở thi hài Bác được lệnh xuất phát rời khu căn cứ. Hầu như đêm qua cả Đoàn không ai chợp mắt. Bởi mọi người đều hồi hộp chờ đợi cái giây phút thiêng liêng này. Lúc đó hoàng hôn đã nhuộm một màu đỏ uốn mình mềm mại giữa đôi hàng cây xanh biếc.

Đoàn xe chạy chầm chậm. Ra khỏi khu rừng, ánh hoàng hôn đã nhạt dần. Tạm biệt ngọn núi, dòng sông, tạm biệt đồi K84 thân yêu đã một thời âm thầm chịu đựng, một thời đầy những lo âu, khắc khoải lặng lẽ che chở cho thi hài Bác.

Sau đoàn xe những đỉnh núi uy nghi đang lùi dần. Rừng dăng dăng chuyển dần sang một màu lam nhạt và dòng sông đang cuồn cuộn chảy như muốn nói lên lời từ giã, như muốn níu giữ những kỷ niệm đẹp đẽ của những tháng ngày chiến tranh gian khổ. Tạm biệt tất cả, vì ngày hôm nay toàn Đảng, toàn dân đang mong đợi: Được đón Bác về Lăng!

2. 20 giờ đêm, ngày 18 tháng 7, đoàn xe về tới Quảng trường Ba Đình. Tất cả mọi người có mặt trong đoàn xe lúc ấy đều ngỡ ngàng đứng lặng đi trước ngôi Lăng đồ sộ, chói lòa ánh điện. Nhiều đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước đã đứng đợi cái giây phút cảm động nhất sau sáu năm trời sơ tán gian khổ để đón Bác vào Lăng.

Cánh cửa lớn phía sau Lăng vừa mở, mọi người đến bên chiếc xe Páp, kính cẩn và trang nghiêm rước Bác vào Lăng, nơi yên nghỉ vĩnh hằng của Người và cũng là nơi sẽ diễn ra các lễ viếng của đời đời các thế hệ đối với một con người vĩ đại nhất của một dân tộc luôn luôn khao khát tự do và công lý.

Bên linh cữu Bác, đồng chí Nguyễn Lương Bằng, thay mặt Đảng và Nhà nước ta đã bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với Đảng và Chính phủ Liên Xô đã cử các chuyên gia giàu kinh nghiệm sang giúp đỡ Việt Nam giữ gìn thi hài Bác trong sáu năm chiến tranh ác liệt. Đồng chí cũng biểu dương tinh thần chịu đựng gian khổ, vược mọi khó khăn của cán bộ, chiến sĩ Đoàn 69 đã bảo vệ, giữ gìn trọn vẹn thi hài Người trong tình hình đất nước luôn luôn có biến động do bom đạn Mỹ và thiên tai gây nên.

Ngày 29 tháng 8 năm 1975, lễ kháng thành Lăng Bác đã được tổ chức trọng thể tại Hội trường Ba Đình. Trong lời khai mạc, đồng chí Trường Chinh đã thay mặt Trung ương Đảng, Quốc hội, Chính phủ và Uỷ ban Trung ương Mật trận Tổ quốc Việt Nam nhiệt liệt biểu dương tinh thần lao động quên mình của quân và dân các địa phương và các đơn vị, của đồng bào, đồng chí, hai miền Nam – Bắc. Đồng chí cũng biểu dương tinh thần quốc tế vô sản của các chuyên gia Liên Xô cùng với nhân dân Việt Nam hoàn thành Lăng Bác đúng thời hạn quy định.

Cả Hội trường chợt lặng đi khi đồng chí Lê Duẩn, thay mặt Ban Chấp hành Trung ương đọc diễn văn nhắc lại công lao to lớn của Bác đối với dân tộc, với đất nước và khẳng định “Công lao và sự nghiệp của Người, tinh thần và đức độ của Người toả sáng đến muôn đời thế hệ mai sau”…

Đồng chí Xô-lô-men-xép trưởng đoàn đại biểu Đảng và Chính phủ Liên xô sang dự lễ kháng thành Lăng cũng đã đọc diễn văn ca ngợi tư tưởng, đạo đức, tác phong của Người và khẳng định:

“Toàn thể loài người tiến bộ đều tưởng nhớ Chủ tịch Hồ Chí Minh. Hàng triệu người ở tất cả các nước và ở khắp năm châu đánh giá cao Người, vị lãnh tụ của cách mạng Việt Nam bách chiến, bách thắng”…

Nhắc đến công lao của Bác, chúng ta có thể nhắc mãi. Song trong buổi sáng trọng đại ấy, mọi người đều thấy lòng mình bùi ngùi nhớ Bác, mong sớm được vào Lăng để chiêm ngưỡng Người, sau sáu năm trời Người xa vắng. Ước nguyện ấy hôm nay đã được thực hiện. Sau lễ khánh thành, các đại biểu đã lặng lẽ, lần lượt vào Lăng viếng Bác. Những vòng hoa tươi đầu tiên được đặt trước cửa Lăng. Các đồng chí lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, những người học trò, người đồng chí trung thành của Bác đã vào Lăng, đứng trước anh linh Người với lòng kính yêu và tiếc thương vô hạn.

Sau lễ viếng, mọi người đều cảm thấy yên tâm, bởi Bác đang ở rất gần họ, luôn luôn ở bên họ trong mọi thử thách, mọi khó khăn, gian khổ của cuộc sống.

Nông Văn Thành và Nguyễn Văn Ri là những chiến sĩ được vinh dự đứng tiêu binh trong phiên gác đầu tiên trước Lăng hôm ấy, là những chiến sĩ khởi đầu cho những ngày đêm bất tận của các chiến sĩ cảnh vệ đứng canh cho Bác ngủ. Họ đứng nghiêm, mắt nhìn thẳng, tay nắm chặt thân súng, không một cử động nhỏ trong bất kể thời tiết, hoàn cảnh nào. Cứ 60 phút một lần những phiên đổi gác lại diễn ra nhịp nhàng, đẹp đẽ và trang trọng. Trước mắt họ là dòng người với nét mặt ưu tư, đau buồn, đi từng bước một như một dòng chảy vô tận vào cửa Lăng, để rồi khi trở ra, mỗi người lại như được nhận thêm một vật gì đó ở con người Bác.

Đón Bác về Lăng, Đoàn 69 phải đảm nhiệm hàng loạt công việc, vừa theo dõi, giữ gìn thi hài Bác, vừa phải bảo đảm an toàn tối đa cho tất cả các trang thiết bị vận hành trong Lăng, và giữ cho các lễ viếng được tổ chức trang nghiêm, đáp ứng nguyện vọng của đồng bào cả nước và bạn bè quốc tế – những công việc mà bản thân Đoàn 69 không thể đảm đương được hết. Xuất phát từ yêu cầu nhiệm vụ trong hoàn cảnh mới, ngày 28 tháng 12 năm 1975, Quân uỷ Trung ương đã ra nghị quyết về việc tổ chức Đơn vị bộ đội bảo vệ Lăng. Thực hiện nghị quyết của Quân uỷ, ngày 14 tháng 5 năm 1976, Bộ trưởng Quốc phòng đã ra quyết định thành lập Bộ tư lệnh bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, lấy phiên hiệu là Đoàn 969, do đồng chí Kinh Chi, làm tư lệnh kiêm chính uỷ.

Bộ tư lệnh 969 có nhiệm vụ:

– Trực tiếp chăm lo, giữ gìn thi hài của Bác.

– Quản lý, sử dụng các thiết bị máy móc của các công trình kiến trúc ở khu vực Lăng.

– Tổ chức gác danh dự và bảo vệ an toàn khu vực Lăng.

– Hướng dẫn quần chúng vào Lăng viếng Bác.

Đến đây, Đoàn 69 đã kết thúc một giai đoạn lịch sử hết sức vẻ vang của mình trong nhiệm vụ bảo vệ, giữ gìn thi hài Bác. Mười sáu năm qua, Đoàn đã tự lực, tự cường, vượt qua hết khó khăn này đến khó khăn khác, hoàn thành xuất sắc mọi sứ mệnh cao cả và thiêng liêng mà Đảng, Chính phủ và nhân dân đã giao phó: Trong bất kể tình huống nào cũng phải giữ gìn trọn vẹn thi hài của Bác.

Ngay sau khi có quyết định thành lập Bộ tư lệnh 969, Đoàn 69 cũng được lệnh tách riêng bộ phận tổ y tế đặc biệt, thành lập Viện 69 do đồng chí Nguyễn Gia Quyền làm viện trưởng. Cùng đứng chung trong đội hình đoàn 969, còn có đoàn 275 làm nhiệm vụ gác danh dự và bảo vệ Lăng, đoàn 195 quản lý vận hành các thiết bị kỹ thuật của Lăng, đoàn 295 kiến trúc, xây dựng và đoàn 395 làm nhiệm vụ sửa chữa máy móc, thiết bị.

Việc Bộ tư lệnh 969 ra đời đánh dấu một bước phát triển quan trọng của các lực lượng tham gia bảo vệ và giữ gìn thi hài Bác. Từ những đơn vị nhỏ lẻ, làm một số nhiệm vụ, tiến tới thành lập Đoàn 69, rồi Bộ tư lệnh 969 là cả một quá trình phấn đấu không mệt mỏi của các cán bộ, chiến sĩ được phục vụ bên Bác.

Đoàn 969 ra đời, lịch sử của những chiến sĩ làm nhiệm vụ giữ gìn thi hài Bác bước sang một trang mới, vinh dự nhiều hơn nhưng trách nhiệm cũng nặng nề hơn.

3. Trải qua hơn 30 năm giữ gìn thi hài Bác và 25 năm bảo vệ, quản lý vận hành Lăng, Đoàn 969 đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó. Những truyền thống vẻ vang của quân đội đã được Đoàn củng cố, xây đắp và phát huy với những nét đặc trưng của một đơn vị đặc biệt, làm một nhiệm vụ đặc biệt. Truyền thống vẻ vang đó được khái quát trong 16 chữ “Trung hiếu vẹn toàn, đoàn kết hiệp đồng, tự lực tự cường, chủ động sáng tạo” và được thể hiện ở những nét tiêu biểu là:

– Với tấm lòng tôn kính, tin yêu và đời đời biết ơn Bác, cán bộ, công nhân viên chiến sĩ trong đơn vị luôn coi nhiệm vụ bảo vệ, giữ gìn thi hài Bác và công trình Lăng của Người, tổ chức đón tiếp đồng bào và khách quốc tế đến viếng Bác là nhiệm vụ hết sức nặng nề và vinh quang mà Đảng, Nhà nước và nhân dân đã tin cậy trao cho, nên trong bất kỳ hoàn cảnh nào, cũng thể hiện lòng trung thành vô hạn với Tổ quốc, với Đảng, với sự nghiệp giữ gìn tuyệt đối an toàn và lâu dài thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh, công trình Lăng của Người, luôn luôn tận tụy phục vụ nhân dân.

– Nêu cao ý chí độc lập tự chủ, tự lực, tự cường, cán bộ, công nhân viên, chiến sĩ trong đơn vị đã ngày đêm ra sức phấn đấu, vượt mọi khó khăn gian khổ, làm việc thầm lặng, lao động cần cù, dũng cảm và chủ động sáng tạo, không ngừng vươn lên để tự đảm nhiệm nhiệm vụ mang tính khoa học chuyên ngành, chưa có tiền lệ ở Việt nam và hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao.
– Là đơn vị quản lý một công trình đặc biệt, có cơ sở vật chất – kỹ thuật hết sức tinh vi, phức tạp, có yêu cầu rất cao trên tất cả các lĩnh vực công tác, đơn vị đã luôn luôn chăm lo xây dựng bồi dưỡng, đào tạo và phát huy tinh thần trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, công nhân viên, chiến sĩ, đề cao ý thức tổ chức kỷ luật đặc biệt nghiêm cách trong thực hiện nhiệm vụ chính trị, không để xảy ra một sai sót nhỏ nào.

– Luôn luôn giữ vững và phát huy tinh thần đoàn kết gắn bó nội bộ, bảo đảm sự thống nhất ý chí và hành động của đơn vị dưới sự lãnh đạo của cấp uỷ và người chỉ huy, đoàn kết gắn bó với nhân dân, hiệp đồng chặt chẽ giữa các cơ quan, đơn vị và đoàn kết hữu nghị, hợp tác có hiệu quả với các chuyên gia bạn theo đúng đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta.

30 năm qua, Đoàn 969 đã được Đảng và Nhà nước tặng thưởng 1 Huân chương Hồ Chí Minh, 22 Huân chương các loại, bốn lần được nhận cờ thưởng luân lưu của Hội đồng Bộ trưởng, 676 lượt cán bộ, chiến sĩ đã được tặng danh hiệu chiến sĩ thi đua, chiến sĩ quyết thắng. Năm 1995, Viện 69 được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động.

Đoàn 969 đã hình thành và phát huy được những nét truyền thống tốt đẹp đó là nhờ có sự lãnh đạo chặt chẽ của Trung ương Đảng, Chính phủ và Đảng uỷ Quân sự Trung ương. Sự chỉ đạo đúng đắn của Đảng uỷ Đoàn, sự quan tâm giúp đỡ của nhân dân, của các ngành, các đoàn thể và các cơ quan của Đảng và Nhà nước.

Một nhân tố đóng góp hết sức quan trọng vào việc gìn giữ thành công thi hài Bác trong suốt 30 năm qua cũng như việc góp phần hoàn thành công trình Lăng đúng thời hạn, đó là sự giúp đỡ trực tiếp, to lớn và quý báu của Đảng, Chính phủ và nhân dân Liên Xô mà trực tiếp là đội ngũ các chuyên gia đã cùng các đồng nghiệp Việt Nam chia ngọt sẻ bùi ngay từ những giờ phút đầu tiên, sau khi trái tim Bác vừa ngừng đập và đã cùng với các đồng nghiệp Việt Nam trong suốt những năm tháng chiến tranh làm việc quên mình, theo đơn vị di chuyển đến bất cứ nơi nào.

Ngày 4 tháng 10 năm 1975, để tỏ lòng biết ơn đối với Đảng, Chính phủ và nhân dân Liên Xô, Chính phủ ta đã tặng danh hiệu Anh hùng Lao động Việt Nam cho ba đồng chí chuyên gia tiêu biểu nhất:

– Đê-bốp, Viện sĩ y học, Viện trưởng Viện nghiên cứu khoa học Lăng Lê-nin.

– I-xa-cô-vích Ga-ron, Kiến trúc sư công trình Lăng.

– Mét-vê-đê-ép, Tổng công trình sư công trình Lăng.

Nhiều tập thể và cá nhân khác của đoàn chuyên gia cũng được Chính phủ ta trao tặng Huân chương Lao động và Hữu Nghị…

Gần 25 năm trôi qua kể từ khi Đoàn 969 được thành lập và hơn ba mươi năm Bác Hồ kính yêu vĩnh biệt chúng ta tính đến ngày 19 tháng 5 năm 2000, đã có 21.002.458 lượt người, trong đó có 849.122 lượt khách của 115 nước và 61 tổ chức quốc tế vào Lăng viếng Người. Đón tiếp 2.947 Bà mẹ Việt Nam anh hùng đến viếng Bác. Tổ chức 663 buổi sinh hoạt chính trị – văn hoá trước Lăng.
Ngày nối ngày, những dòng người lặng lẽ đến trước Lăng Người để nhận ở đó một lòng tin, một phẩm giá trong sáng của Người chiến sĩ cách mạng, để yêu cái mà Người đã từng yêu, để mong cái mà Người đã từng mong, để đi trọn con đường mà Người đã từng đi suốt cả cuộc đời.

Nhiều đơn vị tân binh trước ngày lên đường, nhiều lễ tuyên thệ của những đoàn viên, nhiều xí nghiệp cơ quan, trường học cũng đã về Lăng để báo cáo với Người ý chí, quyết tâm của đơn vị mình trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Nhiều đôi trai gái khi làm lễ thành hôn cũng đến trước Lăng bày tỏ lòng biết ơn Người.

Hơn ba mươi năm qua, Người vẫn thường xuyên có mặt trong từng niềm vui, nỗi buồn của cả dân tộc, cả đất nước. Người vẫn sống một cuộc sống giản dị trong nhân dân của Người. Đã có hàng trăm phái đoàn quốc tế, trước khi làm việc với Đảng và Nhà nước ta đã bồi hồi đến đặt vòng hoa và vào Lăng viếng Người.

Trong cuốn sổ vàng mà Bộ tư lệnh Đoàn 969 lưu giữ đã ghi lại biết bao cảm tưởng của đồng bào, đồng chí của nhân dân các dân tộc ở khắp mọi miền của đất nước và của bè bạn trên khắp các lục địa.

Đoàn đại biểu Mặt trận Tổ quốc quận 1 thành phố Hồ Chí Minh viết: “Vô cùng xúc động được đến viếng Lăng Bác”, “Bác mãi mãi sống trong trái tim đồng bào Nam Bộ”, “lời ấy đời đời giữ mãi trong lòng của nhân dân thành phố Hồ Chí Minh. Viếng Lăng Bác nhớ thương Bác vô cùng. Nguyện học tập và sống theo gương Bác”.

Đoàn cán bộ hợp tác xã Minh Thuận, huyện Vụ Bản, tỉnh Hà Nam Ninh viết: “Đoàn chúng tôi thấy Bộ Chính trị, Trung ương Đảng, Chính phủ đã xây dựng nơi an nghỉ cuối cùng của Bác thật mẫu mực và vĩ đại chưa từng thấy. Đoàn chúng tôi gửi lời chân thành cảm ơn Ban tổ chức đã đón tiếp chúng tôi rất nồng nhiệt, sắp xếp nơi ăn nghỉ cho Đoàn chúng tôi…”.

Cô giáo Nguyễn Thị Huệ, người dân tộc Mèo viết: “Người Mèo chúng tôi được như ngày nay, được cơm no, áo ấm, được có chữ, cùng tiến bộ như các dân tộc đa số, riêng tôi lớn lên trở thành cô giáo là nhờ ơn Đảng, ơn Bác. Tôi và dân tộc Mèo chúng tôi rất ơn Bác ơn Đảng. Tôi nguyện cố gắng giảng dạy cho các em người Mèo đời đời theo Đảng, theo Bác”.

Đoàn nhà báo Sự thật Liên Xô viết: “Lần này đến viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh làm cho chúng tôi rất cảm động, gây được ấn tượng sâu sắc chẳng có gì so sánh được.

Tấm gương và cuộc đời hoạt động của người vĩ đại này, một nhà hoạt động cách mạng đầy nhiệt tình chiến sĩ quốc tế, người yêu nước nồng nhiệt, người lao động không mệt mỏi, biểu hiện sự khiêm tốn kỳ diệu, Di chúc và học thuyết của Người động viên mỗi chúng tra trong cuộc đấu tranh, trong lao động vì tương lai huy hoàng vì hạnh phúc của nhân dân, vì hoà bình trên trái đất”.

Đoàn đại biểu Ê-ti-ô-pi-a viết: “Đến thăm Lăng Bác Hồ, chúng tôi có một ấn tượng sâu sắc” Bác Hồ không chỉ là một nhà cách mạng vĩ đại của nhân dân Việt Nam, mà Người còn là niềm hy vọng của các dân tộc Châu Phi cũng như những dân tộc khác đang đấu tranh quét sạch chủ nghĩa đế quốc ra khỏi Tổ quốc mình…”.

Đoàn đại biểu phụ nữ Mỹ viết: “Chúng tôi yêu mến đất nước Việt Nam vì ở Việt Nam có lãnh tụ Hồ Chí Minh. Cuộc đời của Người là một biểu tượng hoà bình đầy đủ nhất… Chúng tôi coi lãnh tụ Hồ Chí Minh như lãnh tụ của nhân dân tiến bộ Mỹ. Nhưng rất tiếc, ở đất nước chúng tôi không có vị lãnh tụ nào như Chủ tịch Hồ Chí Minh của các bạn”…

Một khách du lịch người Thái Lan viết: “Tôi đã đến thăm Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nơi đây rất đẹp và trang nghiêm. Đây không chỉ dành riêng cho người Việt Nam mà còn là của nhân loại”.

Thấm thoát 29 năm đã trôi qua. Bầu trời trên Quảng trường Ba Đình luôn luôn lộng gió và đầy nắng. Những dòng người từ khắp nơi liên tục về viếng Bác. Mỗi lần đến với Bác, mỗi người đều cảm thấy yên tâm bởi dung nhan Bác vẫn hồng hào, thanh thản như khi Người còn sống.

Hết.

bqllang.gov.vn

Chương V: (Phần 2) Ngày, đêm trên Quảng trường Ba Đình

7. Công việc lắp máy tới lúc đã trở thành vấn đề nóng bỏng của toàn công trường. Tiến độ xây bị chậm khiến cho tiến độ lắp máy ngày đêm bồn chồn không yên. Hiệp định ngày 9 tháng 2 năm 1971 đã nói rõ việc thi công xây-lắp là do Việt Nam đảm nhiệm.

Với một công trình đồ sộ, kỹ thuật phức tạp như thế, cán bộ chiến sĩ ta mới tiếp xúc lần đầu trong khi quỹ thời gian hết sức co hẹp. Đồng chí Phùng Thế Tài đã hai lần gặp đồng chí tham tán kinh tế sứ quán Liên Xô và đồng chí Xu-cu-nốp đại diện tổng cục Kỹ thuật Liên Xô tại Hà Nội. Thông cảm với những khó khăn của ta, hai đồng chí đã viết thư về nước đề xuất các giải pháp giúp đỡ cụ thể. Hệ trung tâm điều hoà không khí được coi như “lá phổi” của công trình, bạn đã thiết kế xong và dặt hàng cho một nước khác sản xuất vào năm 1974. Thời gian lắp và hiệu chỉnh rõ ràng là quá muộn. Việc chậm trễ này sẽ ảnh hưởng tới lắp ráp các hệ kỹ thuật khác. Các thiết bị khác, bạn cũng cho biết phải tới cuối năm 1974 mới về tới công trình. Vậy muốn hoàn thành lắp máy để khánh thành Lăng vào đúng ngày mồng 2 tháng 9 năm 1975 thì cần tăng lực lượng kỹ thuật và các cơ sở vật chất khác lên bao nhiêu? Có cách nào khác giải quyết tốt hơn?

Sau khi cân nhắc mọi mặt, Bộ chỉ huy lắp máy đã xác định phương hướng hành động: Một mặt, bám sát bạn, bám sát cấp trên để tiếp nhận nhanh vật tư thiết bị, làm trước những gì có thể làm được trong công tác lắp đặt. Mặt khác, đề xuất với cấp trên cho phép làm việc với các chuyên gia một phương án dự phòng. Theo phương án này, bạn sẽ đảm nhiệm lắp các thiết bị phức tạp và hướng dẫn kỹ thuật cho Việt Nam. Lắp đặt các thiết bị còn lại bạn cần cử sang Việt Nam 59 kỹ sư và một số công nhân kỹ thuật. Nếu bạn lắp toàn bộ thiết bị của công trình thì bạn phải cử sang Việt Nam 169 kỹ sư và một số công nhân kỹ thuật, còn cán bộ và công nhân ta chỉ làm việc phụ trợ và học tập để quản lý vận hành sau này. Đồng chí Xu-cu-nốp đã gửi về Liên Xô dự thảo phương án này để xin ý kiến.

Ban phụ trách xây Lăng cần thiết phải cử một đoàn cán bộ cấp cao đủ quyền hạn giải quyết công việc sang Liên Xô trực tiếp làm việc với bạn. Đoàn do đồng chí Phùng Thế Tài dẫn đầu.

Đoàn cán bộ Việt Nam được đồng chí Nô-vi-cốp, phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô tiếp, khẳng định lại quyết tâm của Đảng, Chính phủ và nhân dân Liên Xô giúp đỡ nhân dân Việt Nam hoàn thành xây Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đúng dịp mồng 2 tháng 9 năm 1975.

Ban phụ trách xây dựng Lăng đánh giá cao sự giúp đỡ cao cả và chí tình của nhân dân Liên Xô. Song cũng thường xuyên giáo dục cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên toàn công trường nêu cao ý thức tự lực, tự cường. Thời gian lúc này là lực lượng. Mùa mưa sắp tới, nếu không kết thúc được việc đổ bê tông phần ngầm của công trình, tiến độ xây và lắp sẽ lùi tới mùa khô năm sau.

Từ cuối năm 1973, cơ quan đặc trách của Bộ chỉ huy lắp máy và ban phụ trách đã dự báo với lãnh đạo về khả năng xây không bảo đảm tiến độ. Dự báo trên đã được thực tiễn những tháng 11,12 năm 1973 và tháng 1 năm 1974 chứng minh.

Ban phụ trách xây dựng Lăng đã nghĩ tới khả năng huy động thêm lực lượng quân đội tham gia chi viện cho công việc xây dựng và giao cho cơ quan đặc trách dự thảo các phương án thực hiện chủ trương này.

Thường vụ Quân uỷ Trung ương nêu ra nguyên tắc: Nếu công trường có yêu cầu và quân đội có khả năng thì quân đội phải sẵn sàng tích cực chi viện. Ban chỉ huy công trường yêu cầu bộ đội chi viện thợ sắt, quân đội đã cử một bộ phận thợ ưu tú của đoàn công binh Hùng Vương tới ngay Ba Đình. Các chiến sĩ được lệnh hành quân về công trường đúng ngày 28 tết và chỉ sau vài giờ nhận lệnh những người lính thợ đã khoác ba lô và trang bị lên đường. Họ gác lại niềm vui đón tết ở đơn vị, gác lại chuyến đi phép sum họp gia đình, và cả những cuộc hẹn hò đâu đó. Không khí chuẩn bị đón xuân không níu được bước chân họ. Đoàn xe lướt nhanh qua rừng đào, rừng quất và rừng người đi mua sắm tết đưa họ tới Ba Đình đang bộn bề công việc. Họ mang đến công trường khí thế hò hởi quyết tâm. Đêm 30 tết, những nồi bánh chưng đang reo trên bếp lửa hồng của mọi nhà, tiếng pháo nổ ran khắp các ngõ phố của Hà Nội cũng là lúc họ ra quân. Với hình thức phối thuộc cho công trường, đơn vị đã hình thành một đội sắt riêng, nhận làm gọn một hạng mục công trình từ đầu đến cuối. Họ đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, gây niềm tin cho toàn công trường. Bộ đội trên công trường Lăng Bác đón cái tết Giáp Dần năm ấy bằng những thành quả lao động đầy ý nghĩa. Đoàn lắp máy Ba Đình vinh dự được đón nhân lẵng hoa đầu xuân của Bác Tôn trao tặng.

Ban chỉ huy công trường tiếp tục đề nghị quân đội chi viện thêm 120 thợ sắt nữa. Hai đại đội thuộc tiểu đoàn 2, đoàn Hùng Vương lại được điều động về nhập với đại đội 34 thành một tiểu đoàn. Tiểu đoàn này phụ trách đặt sắt móng bè cho khu giữa. Tới giữa tháng 3 năm 1974, riêng quân đội đã đặt 920 tấn thép. Năng suất bình quân 121 kg/công, tăng năng suất hơn hai lần quy định.

Lực lượng quân đội tăng cường công trường và kết quả công việc đã mở khả năng mới : nếu quân đội tham gia với lực lượng đông hơn nữa vào những khâu căng thẳng của công trình, thì tiến độ thi công có thể hoàn thành đúng thời hạn quy định. Một trong những việc trọng điểm lúc này là đổ bê tông. Quân đội phải tham gia gánh vác công việc, nay góp phần nâng cao tiến độ xây Lăng rõ ràng đã trở thành tất yếu, thành yêu cầu, nguyện vọng của mọi người.

Vào lúc này, Đoàn đại diện Ban phụ trách xây dựng Lăng do đồng chí Phùng Thế Tài dẫn đầu sang Liên Xô đã mang về nước bản tổng tiến độ thi công. Ta và bạn thoả thuận việc đổ bê tông phần ngầm khu giữa phải hoàn thành vào ngày 30 tháng 4 năm 1974. Nhưng cho tới lúc này, khối lượng công việc vẫn còn rất lớn, thời gian để hoàn thành nó lại không còn bao nhiêu.

Theo yêu cầu của Ban chỉ huy công trường. Ban phụ trách chính thức đề nghị với Quân uỷ Trung ương đưa lực lượng đưa lực lượng quân đội váo tham gia đổ bê tông phần ngầm.

Ngày 8 tháng 3năm 1974, đồng chí Phùng Thế Tài mời Thường vụ Đảng uỷ và Ban chỉ huy công trường họp phổ biến quyết định của Ban phụ trách dùng lực lượng quân đội tham gia trong việc đổ bê tông. Ngay chiều hôm đó, đồng chí Phùng Thế Tài giao nhiệm vụ này cho đoàn công binh Hùng Vương. Ngoài đoàn Hùng Vương, đồng chí Văn Tiến Dũng còn cho phép có thể sử dụng cả đoàn Bắc Sơn (trung đoàn 289) tham gia. Với nhiệm vụ được giao, quân đội sẽ đảm nhận toàn bộ khu trung tâm (phần ngầm).

Ngày 11 tháng 3 năm 1974, bộ đội đoàn Hùng Vương có mặt đầy đủ tại vị trí tập kết. Chỉ sau hai ngày, hàng nghìn người đã làm xong công tác chuẩn bị. Sáng ngày 15 tháng 3, họ đã đổ mẻ bê tông đầu tiên bắt đầu những ngày dầm mình trong nóng nắng, vật lộn với cát, sỏi, xi măng và giành giật với thời gian. Vài ngày sau, hàng ngàn cán bộ, chiến sĩ đoàn Bắc Sơn cũng hành quân về tới công trường. Sau buổi làm lễ ra quân họ đã triển khai đội hình tác nghiệp và đổ mẻ bê tông đầu tiên tại khu hầm đặc biệt.

Bắt đầu từ đây, công trường xây dựng Lăng Bác được tiếp thêm sức mạnh mới. Dọc các lối đi lại xung quanh công trường, các lán trại “dã chiến” của bộ đội mọc lên san sát. Công trường ngập sắc áo lính. Tiếng búa, tiếng máy, tiếng hát cười vang vọng một góc trời Thủ đô.

Cả hai đơn vị Hùng Vương và Bắc Sơn đều đặt dưới sự chỉ huy trực tiếp của Bộ chỉ huy lắp máy và sự chỉ đạo nghiệp vụ của các cơ quan chức năng thuộc Ban chỉ huy công trường. Khó có thể hết được không khí lao động nhộn nhịp, khẩn trương và hết sức căng thẳng ở công trường trong những ngày này. Để tạo điều kiện cho lực lượng quân đội làm tốt nhiệm vụ, công trường đã cử hai đội mộc, một đội thép hình, một đội hàn, một đội giàn giáo và hai tổ trắc đạc phối thuộc với lực lượng quân đội. Ngoài ra, cán bộ công nhân công trường xây nhận nhiệm vụ làm các công việc ở hai lễ đài phụ của lăng. Bộ Xây dựng cũng điều gọn từng đội sản xuất ở các địa phương về chi viện cho công trường như đội sắt ở Thác Bà, Hà bắc… Bộ Xây dựng còn cử thâm đồng chí Thứ trưởng Vũ Quý về giúp đỡ công trường với chức năng cố vấn.

Cả hai mũi thi công (quân sự và dân sự) đều ra quân với những lực lượng mới, tổ chức mới, trong “trận quyết chiến” có tính chất quyết định này. Song trung tâm của sự chú ý vẫn nhằm vào khu giữa của Lăng – nơi lực lượng quân đội đảm nhiệm.

Từ mọi miền đất nước, mọi người cũng đang hướng về Thủ đô Hà Nội, về Quảng trường Ba Đình chờ đợi những tin tức về xây dựng Lăng, nhân dân khắp nơi nô nức khai thác và đóng góp những vật liệu đặc sản của địa phương mình cho công trình. Công trường sôi nổi hẳn lên và cảm động vô cùng khi đoàn xe chở gỗ của Quân giải phóng miền Nam cắm cờ nửa xanh, nửa đỏ lấp lánh dưới nắng chiều từ từ lăn bánh vào công trường. Cán bộ chiến sĩ chạy ào đến vây quanh lấy những chiến sĩ đội mũ tai bèo, xúm xít quanh những chiếc xe đầy bụi đường. Đây là những cỗ xe của đồng bào miền Đông Nam Bộ, nơi có những cánh rừng bạt ngàn, có nhiều gỗ quý. Nhân dân miền Đông đã tìm chọn cây gỗ quý nhất là cây nu gửi ra xây Lăng Bác. Gỗ nu không chỉ là loại gỗ tốt nổi tiếng mà còn có màu sắc hấp dẫn. Ở mặt cắt gỗ nu, giữa có màu vàng tươi, viền xung quanh là màu nâu sẫm, đường vân gỗ thanh thoát, chỗ góc bướu cuộn xoắn thành những dáng hình mây bay, sóng lượn. Cây gỗ được chở từ Lộc Ninh và tới công trường Lăng Bác sau 20 ngày lặn lội vất vả. Trong buổi lễ đón nhân gỗ quý miền Nam, đồng chí Nguyễn Thị Định, phó tư lệnh Quân giải phóng đã thay mặt đồng bào, chiến sĩ miền Nam biểu lộ tấm lòng với Bác Hồ kính yêu. “Cây gỗ nu quý giá sống mấy trăm năm trong căn cứ miền Đông tượng trưng cho sức sống kiên cường bất khuất của nhân dân. Với tấm lòng trung trinh vô hạn, đồng bào, chiến sĩ nam Bộ kính dâng lên Bác để đời đời ghi nhớ công ơn vị Cha già dân tộc…”. Những lời nói thân thương từ nơi tuyến đầu Tổ quốc có sức lay động tới tận trái tim mỗi cán bộ, chiến sĩ công nhân viên ở công trường, đã cổ vũ mọi người tiến công vào phần việc của mình, xứng đáng với đồng bào, đồng chí miền Nam ruột thịt.

Những tuần tiếp sau đó, cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên công trường lại tiếp nhận những xe gỗ của Tây Nguyên kiên cường bất khuất, của Quảng Nam – Đà Nẵng nổi danh “Đi đầu đánh Mỹ”, của Trị Thiên đất lửa anh hùng… Bộ đội Trường Sơn cũng gửi cây gỗ trắc đại thọ ra góp phần xây dựng Lăng Bác, dự kiến sẽ làm khuôn cửa ra vào Lăng bằng cây gỗ trắc. Phải chăng những người lính từng bất chấp mọi gian nguy mở đường mòn Hồ Chí Minh mong mỏi được gửi lòng mình qua cây gỗ trắc đứng canh giấc ngủ cho Người. Những nhà thiết kế phải chăng đã lắng được tiếng lòng thầm thì đó, ghi nhận nó và vì vậy cây gỗ trắc đã được dành làm những khuôn cửa bền vững, làm sáng đẹp thêm “Ngôi nhà của Bác”.

Hai trung đoàn Hùng Vương, Bắc Sơn đã qua nhiều năm xây dựng các công trình quốc phòng. Tuy nhiên chưa quen thi công cơ giới với mức độ cao, với quy trình công nghệ chặt chẽ và việc hợp đồng đòi hỏi nghiêm ngặt. Các cán bộ chỉ huy từ cấp trung đoàn trở xuống của cả hai đơn vị do thời gian gấp, chưa được nghiên cứu kỹ bản thiết kế thi công nên trong chỉ huy chỉ đạo dễ xảy ra sai sót. Cơ quan đặc trách đã trình lên Ban phụ trách xây dựng Lăng một phương án thi công thích hợp: Hai đơn vị chịu sự chỉ đạo của các phòng nghiệp vụ nhưng phải chủ động về kế hoạch và tự quản lý con người theo các chế độ của quân đội quy định.

Cơ quan đặc trách cũng đề ra một số yêu cầu, một số chỉ tiêu cụ thể để hướng dẫn hai đơn vị. Ban phụ trách xây dựng Lăng cân nhắc các điều kiện thực tế ở công trường đã đồng ý lấy mức đổ bê tông 400m3/ngày và quy định thời hạn hoàn thành việc đổ bê tông vào ngày 19 tháng 5 năm 1974.
Toàn thể cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên toàn công trường và lực lượng bộ đội tham gia xây dựng Lăng đã mở “chiến dịch” đổ bê tông phần ngầm, lập thành tích kỷ niệm sinh nhật Bác.

Đây là một “chiến dịch” thi công lớn khẩn trương đầy ý nghĩa. Đổ xong bê tông phần ngầm coi như đã hoàn thành cơ bản công tác bê tông. CÓ làm xong phần ngầm mới thi công được phần nổi và mới làm các việc khác như trang trí, hoàn thiện, lắp máy,… Nếu như toàn bộ công việc xây Lăng là một trận đánh thì đây là điểm đột phá có tính quyết định.

Nhận nhiệm vụ, cán bộ chiến sĩ hai đoàn Hùng Vương và Bắc Sơn suy tính mọi khả năng, mọi biện pháp và các tình huống để đảm bảo chắc thắng. Căn cứ vào kết cấu công trình chia thành từng khối đổ bê tông hợp lý.

Khi bộ đội nêu quyết tâm thực hiện những chỉ tiêu này, dư luận chung rất hoan nghênh. Song cũng không ít người cho rằng đây chỉ là mong ước tốt đẹp chứ khó có thể thực hiện được. Có người quả quyết: Ở công trường Thác Bà chỉ 560m3 bê tông/năm. “Ở đây điều kiện có khác nhưng cũng không thể vượt quá mức 200m3/ngày”. Những người chín chắn hơn thì nói: “Hãy chờ kết quả tuần đầu xem sao đã”.

8 giờ sáng ngày 15 tháng 3 năm 1974, đợt thi công bắt đầu. Công việc cùng một lúc được triển khai ào ạt nhưng vẫn rất nhịp nhàng. Nhiều khối đổ bê tông cũng được đổ trong một thời gian, máy trộn bê tông làm việc hối hả. Vận chuyển bê tông từ máy trộn tới chỗ đổ là những chiếc xe ben liên tục nối đuôi nhau. Cần cẩu tháp như những cánh tay khổng lồ với từ nơi tập kết, đưa bê tông đến từng khối đổ. Kết hợp với cần cẩu là những mũi thi công dùng xe cải tiến, sẵn sàng thay thế những vị trí mà cần cẩu không với tới. Những chiếc “cầu” làm bằng những phương tiện sẵn có của công trường như giàn giáo, dầm thép, ván gỗ đã được bắc từ nơi tập kết vữa bê tông tới các khối đổ đón các xe cải tiến rầm rập lăn bánh qua lại. Vận dụng kinh nghiệm “đưa pháo vào sát lô cốt địch, ngắm bắn lốp đặt lên nắp hầm đặc biệt để phục vụ để bê tông nóc phần ngầm khu giữa. Mặc cho nóng nắng chói chang, mùi vữa bê tông ngột ngạt, tiếng máy, tiếng xe, tiếng những bước chân rầm rập vẫn không lúc nào ngừng nghỉ. Những tấm lưng gù xuống, những bắp cơ vồng lên, những gương mặt nhễ nhại mồ hôi của cán bộ, chiến sĩ và công nhân viên như là sự thách thức với thời tiết khốc nghiệt và thời gian ngặt nghèo…

Kết hợp với công đoạn đổ bê tông cốt thép, cán bộ và chiến sĩ đảm nhiệm công việc lắp thuộc đoàn Ba Đình đã lắp ráp hàng chục tấn chi tiết cần đặt trước trong bê tông. Tại khu hầm đặc biệt trong 12 ngày thi công liên tục, toàn hệ thống “cửa nặng” đã được lắp ráp vào vị trí đúng tiến độ và đạt yêu cầu kỹ thuật. Đây cũng là một công việc vừa nặng nhọc vừa đòi hỏi độ chính xác cao. Sau đó họ lại tiếp tục lắp hoàn thành các hệ thống “cửa nhẹ” khác.
Đợt thi công đổ móng bè thắng lợi đã tạo tiền đề thuận lợi cho đợt thi công tiếp theo. Thi công phần tường có nhiều phức tạp hơn. Kết cấu mỏng, cao diện thi công hẹp rất khó đổ bê tông. Phấn khởi với kết quả đợt đầu, cán bộ, chiến sĩ đã triển khai công việc trên toàn tuyến, thi công liên tục, thận trọng, tỉ mỉ, an toàn.

Giai đoạn cuối của chiến dịch bao giờ cũng có nhiều khó khăn, cuộc chạy đua về cuối thường sức lực không còn dồi dào; lại phải hết sức khẩn trương. Khẩu hiệu của cán bộ chiến sĩ trên công trường là “tất cả cho đợt tổng công kích cuối cùng hoàn thành đúng ngày sinh nhật Bác”.

Cán bộ chiến sĩ ta đã tận dụng tối đa thi công cơ giới. Sáng kiến làm cầu cho các xe thô sơ chạy theo hành trình ngắn nhất được áp dụng rộng rãi. Bộ đội cũng đưa cần cẩu bánh lốp đặt trên sàn của các khối đổ trước để bê tông ở các khối xa mà cần cẩu tháp không với tới được.

Cuộc vận lộn trong đợt cuối cùng này diễn ra quyết liệt. Bộ phận phục vụ mang cơm, nước ra ngay bờ hố móng. Điều quan trọng đối với mọi người lúc này là kết thúc công việc đúng ngày giờ quy định. Và nguyện vọng của họ đã được thực hiện mỹ mãn. Đúng 24 giờ ngày 19 tháng 5 năm 1974, các đơn vị đã thực hiện xong 7 khối đổ lớn.

Trong cả ba đợt của chiến dịch, cán bộ, chiến sĩ ta đã thực hiện đúng kế hoạch trên giao, hoàn thành nhiệm vụ đúng ngày giờ quy định. Cốt thép đặt đúng, đẹp được chuyên gia khen ngợi. Bê tông đảm bảo độ bền chắc vĩnh cửu. Từ khối lớn đến khối nhỏ, từ tấm dày hàng mét tới tấm mỏng vài trăm ly, trong điều kiện thi công khẩn trương, phối hợp hiệp đồng rất phức tạp, tư thế làm việc khó khăn…nhưng tất cả đều đạt yêu cầu một cách tốt đẹp.

Thành công của chiến dịch đổ bê tông phần ngầm khu trung tâm có rất nhiều ý nghĩa, nhưng ý nghĩa sâu xa nhất là ở chỗ con đường dẫn tới việc hoàn thành công trình Lăng Bác để khánh thành vào ngày 2 tháng 9 năm 1975 đã mở ra.

Ngày 18 tháng 5 năm 1974, Bác Tôn đến thăm công trường, Bác đi mọi nơi, xem xét công việc, Bác dừng lại ở những nơi cán bộ chiến sĩ đang hoàn tất những công việc cuối cùng của chiến dịch. Đôi mắt hiền từ của Bác âu yếm nhìn cán bộ, chiến sĩ. Bác xúc động hỏi thăm, khen ngợi và khích lệ mọi người. Bác mong cán bộ, chiến sĩ và công nhân viên toàn công trường sẽ làm việc hăng say hơn nữa, chất lượng hơn nữa, hoàn thành Lăng đúng thời hạn để đồng bào trong nước và bầu bạn năm châu đến viếng Bác Hồ. Ngày 19 tháng 5, Bác Tô dành thời gian nghe báo cáo tình hình toàn diện ở công trường. Bác rất vui. Bác ra lệnh thưởng cho toàn công trường được đi thăm nhà sàn của Bác Hồ trong Phủ Chủ tịch…

8. Cán bộ, chiến sĩ hai đơn vị Hùng Vương và Bắc Sơn rút quân khi công trường xây dựng Lăng Bác đã hoàn thành một phần công việc khá nặng nề và quan trọng: Đổ xong bê tông phần ngầm.

Riêng tiểu đoàn 2, đoàn Hùng Vương ở lại theo yêu cầu của Ban phụ trách để tiếp tục chi viện cho công trường, đảm nhiệm đặt cốt thép phần nổi của công trình.

Nếu như đổ bê tông phần ngầm có một khối lượng lớn, cần tốc độ và sức mạnh thi công, thì phần nổi không thể triển khai lực lượng rầm rộ như trước. Diện tích thi công lúc này chật hẹp và ở trên cao, yêu cầu mỹ thuật cũng rất nghiêm ngặt. Những tường ngang tường dọc, chồng chéo lên nhau và trong mỗi bức tường đường nét kiến trúc lại rất phức tạp, vì vậy không thể áp dụng phương pháp thủ công. Song họ rất lạc quan bước vào một đợt thi công mới với những kinh nghiệm phong phú qua đợt thi công trước. Chín mươi ngày đêm lao động tiếp theo, họ đã cùng với cán bộ công nhân công trường xây Lăng hoàn thành tốt đẹp nhiệm vụ được giao. Ngày 30 tháng 10 năm 1974, một trong những ngày vui đáng ghi nhớ: Công trường xây đốt pháo mừng hoàn thành mẻ bê tông cuối cùng ở nóc, Lăng Bác.

Lăng Bác là một công trình văn hoá nghệ thuật , phần công việc trang trí và hoàn thiện chiếm hơn một nửa thời gian xây dựng. Hơn bất cứ một công đoạn nào, phần công tác này đòi hỏi trình độ kỹ thuật và mỹ thuật rất cao.
Ngay việc trát vữa, quét sơn đã không giống nhiều công trình xây dựng khác đòi hỏi thực hiện những quy trình công nghệ phức tạp, những cán bộ, công nhân vừa làm vừa rút kinh nghiệm nên đã hoàn thành tốt đẹp.

Nhìn từ ngoài Lăng cũng như đi sâu vào bên trong, người xem dễ nhận thấy toàn bộ khối Lăng chủ yếu được kết cấu trang trí bằng đá. Quả thật, việc gia công đá, làm đá cho công trình Lăng đã vượt quá khả năng mà cán bộ chiến sĩ công nhân viên trong công trường suy tính. Lúc đầu ta tưởng có thể tự lực cánh sinh đảm nhiệm phần làm đá. Đất nước ta vốn có nhiều núi đá và không thiếu những đá quý. Nhưng khi gia công, mới biết có được những viên đá vuông thành sắc cạnh có kích thước lớn và bóng bẩy như vậy không dễ dàng gì.

Sản xuất một khối lượng đá như thế vừa tốn không ít thời gian, vừa phải có máy móc ở trình độ nào đó mới kham nổi. Đảng, Nhà nước và nhân dân Liên Xô đã hết sức thông cảm với ta. Hai vạn miếng đá hoa cương và cẩm thạch mài nhẵn đã đi vòng quanh nửa trái đất để đến với công trình Lăng Bác.

Nhưng số lượng ấy cũng mới chỉ là một phần. Cán bộ, công nhân viên nhà máy gia công đá An Dương phối hợp với Tổng cục Địa chất và cán bộ Bộ Xây dựng, cán bộ các địa phương đã đi các vùng khác nhau của đất nước tìm nguồn đá quý . Những loại đá quý này được nhân dân các địa phương khai thác và được vận chuyển về nhà máy An Dương. Tại nhà máy, việc cắt và mài đá là công việc cũng rất mới mẻ, Liên Xô đã cử người đào tạo thợ cho ta tại chỗ.

Ngày 1 tháng 11 năm 1974, lễ ốp viên đá đầu tiên ở phòng khách B2 đã được tiến hành. Đồng chí Đỗ Mười trực tiếp chủ trì. Tất cả mọi người trong phòng chăm chú nhìn viên đá màu đầu tiên được trân trọng đặt vào tường. Điều quan trọng trong việc ốp đá không phải chỉ làm cho viên đá phẳng, ngay ngắn, mà còn làm sao cho khe nối giữa viên đá này với viên kia phải rất khít, gây cảm giác không có vữa liên kết mà chỉ có viên đá đầu tiên được ốp ở phòng khách, hàng loạt bức tường khác đã được ốp đá, mỗi tường có những quy cách khác nhau tạo dáng phong phú đa dạng, phù hợp với ánh sáng, màu sắc, hài hoà với bố cục chung. Mặt ngoài của Lăng được ốp bằng đá hoa cương, một loại đá cứng vào loại thứ ba thứ tư sau kim cương huyền vũ. Đá này chịu đựng thử thách của thời gian, của nắng mưa và của nhiệt độ khắc nghiệt của vùng nhiệt đới. Những tấm đá màu xanh đậm có những nét vân hoa ốp rất quy cách, tạo vẻ tôn nghiêm thành kính của Lăng. Chữ “Chủ tịch Hồ Chí Minh ” trên nóc Lăng được ghép bằng đá ngọc Cao Bằng. Cửa chính của Lăng được ốp bằng đá đen bóng. Người đi qua lấp loáng hình mình như có tấm gương phản sáng bên trong.

Hai phòng khách và lối ra lễ đài, các nền và các bậc cầu thang cũng lát bằng đá hoa cương. Tất cả các tường và cột ốp bằng đá cẩm thạch, một loại đá mềm hơn nhưng mịn hơn, đẹp hơn. Riêng tường chính tiền sảnh ốp đá hoa cương vân đỏ hồng tươi, làm nền cho dòng chữ “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” và chữ ký của Bác, dòng chữ và chữ ký được mạ vàng rực rỡ.

Phòng Bác nằm vẫn là đá cẩm thạch Hà Tây, nhưng những viên đá có hình chữ nhật xếp hình thẳng đứng kế tiếp nhau nối từ chân tường đến đỉnh trần làm ta liên tưởng tới những thanh gỗ lát nhà sàn của Bác. Có cảm giác căn phòng thật ấm cúng, thật yên tĩnh. Và như có phép nhiệm màu từ đâu đó, mỗi lần ta có dịp đến viếng Bác, tự trong tiềm thức sâu xa mách bảo ta: “Hãy nhẹ chân – Bác đang yên ngủ. Hãy giữ yên giấc ngủ của Người”. Đầu Bác hướng về bức tường có hai lá cờ rất lớn – Cờ Đảng và cờ Tổ quốc. Nhân dân Bá Thước, Thanh Hoá đã cất công đi tìm loại đá Hồng Ngọc này trên những triền núi trung điệp của mình gửi về Lăng. 4000 miếng đá này đã được ghép lại thành hai lá cờ màu đỏ thắm. Búa liềm và sao năm cánh ghép bằng đá cẩm vân vàng sáng.

Phần trang trí và hoàn thiện Lăng Bác còn phải kể đến việc hoàn thành 200 bộ cửa và tất cả các loại gỗ khác trong Lăng. Để không lãng phí một chút gỗ nào của đồng bào, chiến sĩ miền Nam gửi ra, các xúc gỗ đều được xẻ tay. Ban chỉ huy công trường đã giao cho 20 cặp thợ xẻ Nam Hà. Nhà máy gỗ Bạch Đằng chịu trách nhiệm ngâm tẩm chống mối mọt. Gỗ được sấy bằng các lò sấy hiện đại. Các thợ mộc giỏi của Nam Hà, Hà Bắc, Nghệ An đã tụ hội thi thố tay nghề. Có hai bố con bác thợ mộc làng Gia Hoà nổi tiếng về nghề đóng cử đã tới đây. Hai bố con bác là đời thứ sáu làm nghề mộc. Cánh cửa vào phòng thi hài là do hai bố con bác đóng. Cửa chốt theo kiểu mộng mòi. Có khoá cài cả hai chiều, không cần ke, không cần đóng chốt, khó phân biệt mối ghép. Những cánh cửa với kỹ xảo điêu luyện này đã biểu hiện tài hoa của những người thợ mộc Việt Nam, được các chuyên gia Liên Xô thừa nhận là “Đôi tay vàng”. Cửa ra lễ đài được ốp đá, những cửa tiếp giáp với nắng được quyết nhựa chống nứt. Ngoài đồ gỗ, trong Lăng còn dùng các thứ kim loại để trang trí như trần nhôm, lan can mạ kền, lưới gió, cửa trang trí, rào chắn, tay vịn bằng đồng…

Cộng tác trang trí được Ban phụ trách Lăng, Ban chỉ huy công trường và các chuyên gia đánh giá cao. Chất lượng vật liệu được kiểm tra thử nghiệm chu đáo. Trước khi thi công chính thức đều có mẫu hình thông qua Hội đồng kỹ thuật. Một số mẫu đã được Bộ Chính trị trực tiếp duyệt. Sự thận trọng, chu đáo, cùng với nỗ lực cố gắng của cán bộ, công nhân viên phụ trách phần này đã góp phần làm cho Lăng Bác có một vẻ đẹp hoàn thiện.

9. Trong lúc công trường xây khởi công và thi công dồn dập, công trường lắp do quân đội đảm nhiệm cũng ráo riết chuẩn bị mọi mặt để sẵn sàng bước vào cuộc “chiến đấu” của mình. Đây là một công trình có nhiều hệ thống máy móc hiện đại nhằm phục vụ việc giữ gìn nguyên vẹn lâu dài thi hài Bác. Các đồng chí lãnh đạo quân đội luôn luôn nhắc nhở cán bộ, chiến sĩ: “Hết sức thận trọng, tỉ mỉ, chu đáo, không cho phép sai sót một ly”. Những người trực tiếp tham gia lắp máy đã ý thức được trách nhiệm nặng nề của mình, chuẩn bị chu đáo mọi mặt để “đã ra quân là chiến thắng”.

Từ tháng 9 năm 1973, Ban phụ trách đã cử một đoàn cán bộ kỹ thuật điện, cấp thoát nước, thông hơi, điều hoà, cơ khí sang Liên Xô tham gia thiết kế thi công phần lắp, nắm trước thiết kế, nắm trước các biện pháp thi công để sau này về nước chỉ đạo lắp đặt máy móc.

Mặc dù các chuyên gia Việt Nam và Liên Xô bố trí sát sao giờ giấc làm việc và mỗi người đều mang hết sức lực, trí tuệ suy nghĩ nghiên cứu, nhưng tới tháng 3 năm 1974, bản thiết kế thi công điện nước mới xong. Và tới tháng 4 phần thiết kế thi công thông hơi, điều hoà mới kết thúc.

Làm bản thiết kế thi công này so với thời gian dự định có chậm, nhất là hệ điều hoà không khí do đặt làm tại một nước khác nên phải chờ nhà máy của họ thông báo các thông số kỹ thuật, mới thiết kế được.

Công trường lắp bước vào cuộc chiến đấu muộn hơn công trường xây, cán bộ công nhân viên nóng lòng được bắt tay vào công việc. Cơ sở vật chất, hiện trường bước đầu được ổn định, các đơn vị trực tiếp thi công đến các đơn vị hỗ trợ, các cơ quan chức năng đều đã có chương trình hành động của mình.
Theo hiệp định các phương tiện thi công cho công trường lắp do ta tự đảm nhận. Vì thế, cán bộ, chiến sĩ công nhân viên phải tự chuẩn bị. Một mặt đi mượn ở các nơi, mặt khác phải tự sản xuất những phần làm được.

Hệ thống ống hơi, bạn thiết kế định tuyến và quy định kích thước ống, muốn gia công đúng yêu cầu, công trường phải thiết kế toàn bộ bản vẽ gia công chi tiết. Trong gia công ống hơi, khâu hàn có ý nghĩa rất quan trọng. Công trường đã bố trí thợ hàn đi học chuyển loại chu đáo.

Đang những ngày đầu hè nóng nực, nắng chói chang từ sáng đến tận chiều, nhưng cán bộ, chiến sĩ các đội ra quân hầu như ngày nào cũng đạt 100% quân số. Tiếng máy rộn ràng, người đi lại làm việc trên hiện trường tấp nập. Những chớp hàn loé sáng, khói hàn bốc mờ mịt. Các đội thi đua với nhau, người này thi đua với người khác, không những tự răn mình phải làm sao sản xuất được sản phẩm tốt nhất, mà còn có năng suất cao nhất. Lại Văn Cường, thợ hàn bậc 3/7, sau khi đi học chuyển loại về nâng năng suất hàn từ 16m/công lên 47m/công. Công trường lắp trở nên sôi động về những con số tăng năng suất, những tấm gương lao động mỗi ngày một xuất hiện thêm nhiều. Song song với việc sản xuất ống hơi, bảo ôn các đoạn ống cần thiết, công trường lắp còn phải sản xuất chi tiết lắp điện. Các chi tiết như hộp chia dây, móc giá… đều ghi theo chuẩn của Liên Xô, ở nước ta chưa sản xuất mặt hàng này, đơn vị lắp phải thiết kế và tổ chức gia công toàn bộ chi tiết này.

Chất lượng đặt “sắt chờ” quyết định đội chính xác vị trí lắp các thiết bị, đồng thời cũng ảnh hưởng nhiều tới tốc độ thi công cả xây và lắp. Việc đặt các chi tiết “sắt chờ” vào bê tông để sau này cố định các ống dây điện vào tường và trần rất phức tạp. Có tới 10.000 đoạn sắt chờ như vậy với sự tải trọng khác nhau. Trong thiết kế chưa tính toán được hết nên “sắt chờ” đặt trước không đủ, đội thi công lắp điện đã nghĩ cách hàn sắt chờ vào hệ thống lưới sắt của bên xây. Sáng kiến này đã khắc phục được tình trạng đục bê tông, công trình nhanh hơn, đảm bảo chắc chắn mà vẫn không thương tổn đến vẻ đẹp công trình. Cán bộ kỹ thuật tổng hợp gồm các đồng chí kỹ sư, cán bộ kỹ thuật thông hơi, điều hoà, điện, cơ khí, cấp thoát nước và trắc đạc… Bộ phận này không những nghiên cứu cả thiết kế phần xây để có phương án thi công hợp lý nhất.

Khối lượng công việc lớn, nhưng điều kiện thi công hết sức khó khăn. Mạng lưới ống hơi, đường ống nước, đường ống điện vừa nặng vừa cồng kềnh, lúc thì ở trên cao, lúc dưới hầm sâu. Điều kiện thi công chật hẹp và cùng một lúc, các phần công việc khác nhau đan xen vào nhau. Công trường xây lúc này đang dồn dập ốp đá, trát vữa, quét sơn. Trong cùng một diện tích hẹp đã có đủ mặt các loại thợ lắp, thợ xây, các loại dụng cụ, thiết bị. Trong lúc thợ xây đang trang trí hoàn thiện tường, trần thì thợ điện nhấp nhỏm đợi chờ bên cạnh để lắp hệ thống điện trên trần. Lợi dung giàn giáo và các phương tiện của đội bạn bên xây vừa làm, cán bộ công nhân lắp máy tổ chức làm thêm ca, thêm kíp. Mới đêm qua, trong phòng còn do bên xây làm chủ, sáng hôm sau các đoạn ống hơi, ống nước, ống điện đã được lắp đặt chằng chịt.

Mặc dù chạy đua với thời gian, tranh thủ mọi thời cơ để công việc hoàn thành với thời gian sớm nhất, song chất lượng công việc vẫn được đặt lên hàng đầu. Khẩu hiệu hàng đầu của công trường lúc này là: “Chất lượng là mệnh lệnh của trái tim”, “chất lượng là thể hiện lòng trung thành với Đảng, với Bác”. Phải “Đoàn kết hợp đồng, lập công tập thể”.”Xây hỗ trợ lắp, lắp hỗ trợ xây, triển khai toàn tuyến”. “Năng suất ngày hôm nay phải cao hơn ngày hôm qua”.

Không khí làm việc hững ngày này như có chất men say của người lính ra trận năm xưa. Những câu hát, câu hò quen thuộc ngày nào lại vút cao trong những phút nghỉ ngơi như nhắc nhủ động viên bộ đội vượt qua những gian nan hiện tại. Trong khó khăn, tình đồng đội càng gắn bó keo sơn. Những sáng kiến không ngừng nảy nở. Ở hào thông hơi từ tầng ngầm lên tầng kỹ thuật cao 21m, trong hào không những lắp 5 ống hơi lớn mà còn là vị trí của thang điện. Đường ống dài theo phương thẳng đứng, các ống nằm sát nhau không có chỗ để thao tác bảo ôn và xử lý độ kín của mối nối… làm sao có thể lắp tốt và tránh được mọi nguy hiểm? Nhóm kỹ sư thông hơi điều hoà đã đưa ra giải pháp: phân đoạn đường ống thành nhiều đoạn. Mỗi đoạn từ 2 đến 3 ống ghép lại. Dùng tời kéo từng đoạn ống để lắp với nhau và liên kết các đoạn vào với nhau, cứ như thế lần lượt lắp đến đoạn cuối cùng. Kết quả là cả 5 ống hơi được lắp nhanh, chất lượng tốt, an toàn tuyệt đối cho người và thiết bị.
Cùng với những sáng kiến không ngừng phát sinh là những tấm gương lao động quên mình luôn nảy nở trong cán bộ, chiến sĩ, công nhân công trường. Lê Văn Duyệt, thợ hàn điện của đội lắp điện đang say mê hàn trên thang ở độ cao 2,5m bỗng lịm dần rồi ngất xỉu. Mọi người vội vã chạy đến đỡ Duyệt xuống và sau 30 phút cấp cứu, anh vừa tỉnh dậy lại thiết tha trở lại vị trí của mình. Anh đã làm việc liên tục mỗi ngày 12 giờ liền. Anh xin được làm như thế trong hàng tuần lễ để sớm xong công việc giải phóng mặt bằng cho bên xây. Ý chí của anh thật vô hạn.

Trọn cuộc đời, Bác Hồ kính yêu của chúng ta đã hy sinh phần hưởng thụ riêng, cống hiến toàn bộ sức lực cho công việc chung. Phải chăng những chiến sĩ quân đội mà Người hằng chăm sóc giáo dục, những ngày này đã noi gương của Người.

Cuối tháng 12 năm 1974, cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên công trường lắp đã cơ bản hoàn thành lắp hệ mạng của hệ kỹ thuật.

Cùng thời gian này, đồng chí Trường Chinh đến thăm công trường. Đồng chí Trường Chinh xem xét tình hình thi công, đột nhiên đồng chí chỉ ra một đoạn ống hàn chưa thật thẳng. Đồng chí ân cần nhắc nhở: “Lăng Bác là công trình tôn nghiêm vĩnh cửu, các đồng chí phải làm thế nào đạt chất lượng tốt nhất, đẹp nhất”. Đồng chí Trường Chinh chỉ nói vậy thôi, nhưng ngày hôm sau, mọi người đề nghị được cắt bỏ đoạn ống đó thay bằng đoạn khác, thẳng đẹp hơn. Cũng từ đó ý thức về chất lượng và mỹ thuật của công trình được quán xuyến sâu sắc hơn trong cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên công trường.

Công việc đầu tiên của những người thợ lắp là hoàn thành phần điện trạm nguồn và các tủ bảng phân phối điện. Các kỹ sư, cán bộ kỹ thuật, và thợ lắp máy lành nghề đã được huy động tới lắp trạm biến áp 3×1000 KVA. Cụm máy này được coi như quả tim của công trình. Trước ngày lắp đặt, các đội đã được nghiên cứu kỹ thuật thiết kế, quy trình, quy phạm kỹ thuật. Các đồng chí chuyên gia luôn có mặt với cán bộ kỹ thuật Việt Nam chỉ đạo việc di chuyển lắp đặt và xử trí các tình huống phức tạp. Người ra vào Lăng tấp nập, hối hả. Từ dưới hầm sâu khu giữa, khu trái, khu phải lên tới độ cao 19m, cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên, bám trên thang, trên giá lắp tủ bảng điện các loại. Xen kẽ với thợ lắp tủ bảng điện là thợ lắp điện đèn chiếu sáng. Đèn trên trần, đèn trên tường, đèn ở những chỗ cheo leo ẩn khuất. Mỗi bộ đèn chiếu sáng đều có một mục đích, một ý nghĩa riêng, theo yêu cầu kỹ thuật, mỹ thuật rất nghiêm ngặt. Quá trình lắp đèn chiếu sáng, những người thợ lắp đã cải tiến sơ đồ khối và điều chỉnh độ sáng để nâng hiệu quả của ánh sáng phục vụ nhân dân vào thăm viếng Bác tốt hơn.

Dưới hầm sâu, trên mặt nền, và cả ở những vị trí lơ lửng trên cao, hàng trăm động cơ điện từ 0,6kW đến 2000kW đang được bàn tay của những người lính thợ nâng nhấc, đưa vào vị trí. Tại buồng điều độ trung tâm, từng tốp thợ lặng lẽ lắp các bảng điều khiển, kiểm tra hệ điều hoà không khí. Công việc này tuy không nặng nề như căng thẳng. Các bảng này rồi đây sẽ thay con người những công việc chi ly tinh xảo, tự động báo những con số, những sai lệch để kịp thời điều chỉnh hệ thống điều hoà.

Ở một phòng khác, tổng đài điện thoại 100 số, và hệ thống truyền hình công nghiệp cũng đang được lắp ráp tỉ mẩn công phu. Hàng trăm chi tiết lớn, nhỏ, trông đến rối mắt đang được những đôi bàn tay khéo léo và những bộ óc tỉnh táo ghép nối thành hệ thống hoàn chỉnh. Cạnh đó là một tốp thợ vừa lắp vừa kiểm tra lại hệ tín hiệu bảo vệ, hệ tín hiệu báo cháy. Chỉ cần một sai sót nhỏ xảy ra trong các chi tiết máy đều có thể gây nhiễu loạn. Và sẽ thiệt hại cho công trình biết chừng nào nếu trong điều kiện khẩn cấp, các tín hiệu này không bảo đảm độ tinh nhậy chính xác.

Trong lúc có những bộ phận làm việc lặng lẽ căng thẳng thì ở đội kéo cáp động lực lại nổi lên tiếng dô hò, ầm ĩ và sôi động. Cáp tiết diện lớn nhỏ đang được các chiến sĩ giăng hàng, dồn hết sức lực kéo như kéo pháo để đưa vào vị trí lắp đặt. đường kéo cáp vòng vèo, nhiều chỗ ngoặt khúc khuỷu. Số người kéo lên tới bốn năm chục người mà vẫn trầy trật vất vả. Găng tay bảo hộ lao động không đủ, nhiều bàn tay rộp phồng, vậy mà không ai bỏ cuộc, không ai kêu ca phàn nàn.

Khối công việc nặng nề nhất, có tầm quan trọng đặc biệt nhất trong thời gian này là lắp hệ thống thông hơi, điều hoà nhiệt độ. Cuối tháng 2 năm 1975, các bộ phận máy móc này cập bến Hải Phòng. Cả công trường náo nức hẳn lên. Chỉ trong vòng một tuần, 240 tấn hàng đã được bốc dỡ về công trường.
Ngày 1 tháng 3 năm 1975, Bộ chỉ huy lắp máy quyết định mở chiến dịch “40 ngày lắp xong hệ điều hoà”. Đây là hệ thiết bị công nghệ cơ bản và tự động hoá cao nhất trong Lăng, có nhiệm vụ tạo ra môi trường tinh khiết, có độ ẩm và nhiệt độ thích hợp phục vụ cho việc giữ gìn thi hài, phục vụ quần chúng đi viếng Bác và phục vụ nhân viên vận hành. Hệ điều hoà này còn có nhiệm vụ chống nấm mốc cho công trình. Ngày 2 tháng 3 năm 1975, tức là chỉ sau một ngày của chiến dịch đầy sôi động, một vinh dự bất ngờ lại đến với cán bộ, chiến sĩ: Đại tướng Võ Nguyên Giáp đến thăm và động viên đơn vị.

Lắp đặt hệ thống điều hoà là công việc hoàn toàn mới mẻ với cán bộ, chiến sĩ, công nhân của đội lắp máy. Hệ thống máy này do Liên Xô thiết kế, nhưng máy móc được đặt ở một nước khác, các phụ tùng, linh kiện, các mô dun của máy lại do nhiều hãng thuộc nhiều nước như Nhật, Mỹ, Ý, Đan Mạch, Phần Lan, Thuỵ Điển, Na Uy, Thuỵ Sỹ… chế tạo. Tất cả hệ thông hơi, điều hoà, 4 hệ điều hoà trung tâm nặng 160 tấn, rất hiện đại, chưa từng có ở nước ta. Hỗ trợ cho hệ điều hoà trung tâm còn có các bộ làm lạnh cục bộ, các bộ sấy cục bộ, các máy điều hoà treo. Đưa không khí đã điều hoà đi có hàng chục máy quạt gió với tổng lượng gió trên 8 vạn mét khối giờ. Không kể hệ thống đường ống hơi chằng chịt, cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên công trường lắp còn phải lắp thiết bị lẻ như tiêu âm, van gió, mô tơ, lưới hút, thổi… Và một nhà máy lạnh có sáu cụm máy lạnh với tổng công suất hơn 2,5 triệu kW/h, cũng được lắp đặt để phục vụ hệ thống điều hoà.

Đưa một khối lượng máy móc lớn vào trong Lăng quả là một việc không ít khó khăn. Đội lắp máy chẳng những đã phải huy động lực lượng các đội khác cùng giúp sức, mà còn phải không ngừng phát huy những sáng kiến trong quá trình làm việc. Để đưa máy nén nặng 7 tấn của trạm lạnh lên bệ, biện pháp thi công lúc đầu là “kích”. Một vài lần làm theo phương pháp này, anh em thấy vừa tốn quá nhiều thời gian, sức lực, vừa không bảo đảm an toàn. Quá trình “kích” máy đã hai lần nghiêng vì nâng hạ kích không đều. Anh em đã đề nghị cho cố định pa-lăng vào sắt chờ, phía trên bệ máy để đưa máy vào bệ. Nhờ sự cải tiến này, năng suất tăng 200%, bảo đảm an toàn tuyệt đối khi đưa máy vào bệ. Tốp thợ căn chỉnh máy nén cũng có những sáng kiến đáng kể, anh em sử dụng dụng cụ thông thường mất 12 giờ một máy. Sau khi nghiên cứu thiết kế một bộ tăng đơn giản cho phép nâng hạ máy với khoảng cách nhỏ tuỳ ý. Biện pháp này chẳng những làm cho việc căn chỉnh máy rất chính xác mà còn đưa năng suất lên 300%. Việc kiểm tra và bảo dưỡng thiết bị trước khi lắp ráp máy cũng được cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên công trường lắp tiến hành rất nghiêm khắc và tỉ mỉ.

Cùng với việc lắp hệ thống điều hoà nhiệt độ, đội lắp máy còn lắp hệ thống cấp thoát nước. Trong Lăng có hệ thống cấp và thoát nước, quan trọng nhất là hệ thống nước kỹ thuật: Nước làm mát bình ngưng máy lạnh và hệ thống nước tải lạnh. Nhu cầu cấp nước cho Lăng rất lớn. Lượng nước của thành phố chưa đáp ứng được nên công trường đã xây dựng nhà máy nước riêng. Bảo đảm một ngày đêm cấp được một vạn khối nước. Ống dẫn nước đưa vào Lăng cũng được đặt hai đường, một sử dụng và một dự bị. Nhà máy nước này cũng có hệ thống lọc để bảo đảm chất lượng.

Cán bộ chiến sĩ, công nhân viên công trường lắp máy đã phải lắp 5 bình chưa nước dung tích từ 10 đến 50 mét khối, gần 50 máy bơm các loại, hơn 450 van khoá và một khối lượng ống nước lớn có đến 5000m. Ngoài việc lắp các hệ thống máy móc cơ bản trên, anh em còn phải lắp nhiều máy móc cơ khí khác. Lắp thang máy đặc biệt. Lắp hệ thống bảo vệ gồm các cửa nặng, các cửa kín, cửa tròn, các van phòng sóng xung kích, và hệ quang treo giảm chấn.

Các máy móc ở đây thiết kế khá độc đáo, yêu cầu lắp ráp với độ chính xác cao. Hệ cửa bảo vệ có thể điều khiển từ xa. Thang máy có nhiều giải pháp thiết kế bảo đảm an toàn. Trong các loại máy móc tinh vi quan trọng có thiết bị quan tài. Thiết bị này do đồng chí chuyên gia lắp. Quan tài trong suốt và kín. máy móc nâng hạ quan tài cũng theo nguyên lý chuyển động chính xác đặc biệt. Hai mươi loại đèn nhiều tia, có màu khúc xạ bởi nhiều bộ lăng kính và hệ thoát nhiệt. Trình độ công nghệ và trình độ khoa học ở các thiết bị này rất cao.

Tuy việc lắp ráp các máy móc tinh xảo đòi hỏi có trình độ khoa học kỹ thuật rất cao, cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên công trường lắp không những hoàn thành tốt mà còn phát huy được nhiều sáng kiến để thay đổi bổ sung cho thiết kế và lắp đặt được tốt hơn. Nhờ tinh thần chủ động sáng tạo và tinh thần đoàn kết hiệp đồng cao của toàn thể cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên công trường, chiến dịch 40 ngày đêm lắp máy đã hoàn thành thắng lợi. Đây cũng là tấm lòng của cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên công trường đối với Bác với Đảng kính yêu.

10. Cùng với việc thiết kế, xây dựng Lăng Bác là việc thiết kế, cải tạo xây dựng lại Quảng trường Ba Đình. Nơi đây, ngày 2 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hoà. Xây dựng lại Quảng trường Ba Đình to đẹp hơn, trang nghiêm hơn, hiện đại hơn cũng là ý nguyện của toàn Đảng, toàn dân ta biểu dương lực lượng, biểu hiện ý chí quyết tâm xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của mình mà còn là nơi nhân dân ta, các thế hệ mai sau cùng bạn bè năm châu quy tụ về đây thăm viếng Hồ Chủ tịch và tham quan những di tích lịch sử thời đại Hồ Chí Minh.

Trên cơ sở phác thảo của ta, chuyên gia Liên Xô đã thiết kế Quảng trường, đường sá và vườn hoa tiếp giáp Lăng trên diện tích, bao gồm vườn Bách Thảo, khu lưu niệm và chỗ ở của Hồ Chủ tịch, Phủ chủ tịch, Lăng, Hộ trường Ba Đình… Trước mắt cải tạo xây dựng lại khu trước Lăng để kịp hoàn thành với Lăng trong dịp Quốc khánh 2 tháng 9 năm 1975.

Ngày 19 tháng 4 năm 1974, Liên Xô cử một đoàn chuyên gia Liên Xô do đồng chí A. Lê-ốp, đại diện Xô -viết Mát-xcơ-va làm trưởng đoàn sang Việt Nam. Đoàn mang dự án thiết kế cải tạo Quảng trường và vườn hoa tiếp giáp Lăng sang Việt Nam để Nhà nước ta xem xét duyệt.

Phó Thủ tướng Đỗ Mười đã triệu tập một hội nghị gồm đại biểu 14 bộ, ngành, địa phương có liên quan để giao nhiệm vụ. Đồng chí Đỗ Mười yêu cầu mỗi bộ, mỗi ngành cử cán bộ có năng lực tập trung nghiên cứu thiết kế của đoàn chuyên gia, đề xuất ý kiến trước khi Nhà nước xem xét và duyệt phương án này.

Chấp hành nghiêm chỉnh chỉ thị của đồng chí Đỗ Mười, các đồng chí cán bộ được giao trách nhiệm đã miệt mài nghiên cứu, thảo luận dự án của bạn. Ngày 7 tháng 5 năm 1974, biên bản làm việc giữa ta và bạn đã được ký kết. Kết quả của cuộc hội đàm này được báo cáo lên Bộ Chính trị và Hội đồng Chính phủ. Bản dự án thiết kế của đoàn chuyên gia Liên Xô đã được phê duyệt. Một số thay đổi, bổ sung trong quá trình thảo luận đã được phía đưa vào bản dự án cho phù hợp với hoàn cảnh thực tế.

Theo thiết kế đã thống nhất thì Quảng trường Ba ĐÌnh, vườn hoa tiếp giáp và Lăng Bác là một quần thể kiến trúc thống nhất. Tổng diện tích cải tạo và xây dựng là 14ha. Quảng trường ở phía trước Lăng, diện tích là 2,8 ha, chứa khoảng 10 vạn người, chia thành 168 ô vuông trồng cỏ, giữa có lối đi rộng 1,4m. Xung quanh Quảng trường là hè rộng 7m và 4m lát bằng tấm bê tông cốt thép sỏi nổi trang trí. Tổng diện tích lát hè là 7800m2. Dưới mặt đất là hệ thống tưới tiêu thoát nước. Nước được thu dồn về hai trạm bơm đặt ngầm dưới mặt đất. Mạng đường sá sẽ được làm lại rộng và chắc chắn hơn. Đường Hùng Vương, đi qua trước Lăng, làm bằng bê tông cốt thép, dài 1060m, rộng 40m. Riêng đoạn trước Lăng rộng 60m. Đường Bắc Sơn dài 280m, rộng 60m, chia làm 2 làn, ở giữa là dải ngăn cách rộng 12m làm vườn hoa. Đường Ba Đình dài 400m, rộng 18m. Ngoài ra còn có đường xung quanh Lăng gồm các đoạn ra vào vườn hoa hai bên và phía sau Lăng…

Để cho Quảng trường khô ráo nhưng vẫn bảo đảm hàng trăm thứ cây cảnh, cây hoa, các vuông cỏ có thể sống tốt tươi, những người thiết kế quảng trường hết sức chú ý đến hệ thống cấp thoát nước. Hệ thống này phải tiêu thoát nước cho một diện tích 14ha trong đó có Lăng, Quảng trường, hệ thống đường và các khu tiếp giáp. Một hệ thống ống cống bằng bê tông cốt thép đặt ngầm dưới các hè dọc đường với tổng chiều dài 4.200m được nối với mạng đường thoát nước của thành phố. Dưới các vuông cỏ của Quảng trường có các tầng lọc nước, mạng ống và mương ngầm. Đi đôi với hệ thống thoát nước, có hệ thống cấp nước. Đường ống dẫn nước được bố trí trên các khu vực Quảng trường, sau Lăng và đường Bắc Sơn.

Công trình điện cho Quảng trường chủ yếu cấp và phân phối năng lượng cho tất cả các thiết bị dùng điện chiếu sáng mặt ngoài Lăng, chiếu sáng Quảng trường, vườn hoa và các đường phố phụ cận. Quảng trường sử dụng các đèn thuỷ ngân cao áp và các đèn nêông đặt trên các cột cao.

Quảng trường còn có một hệ thống thông tin truyền thanh, truyền hình. Các công trình này sẽ bảo đảm thông tin liên lạc, truyền thanh, thu thanh và thu phát hình tại chỗ.

Công trình cây xanh, cây cảnh và vườn hoa làm tôn vẻ đẹp và tạo ra không khí trong lành trong Lăng Bác và quảng trường. Vơi công trình này các dịa phương trên mọi miền đất nước có thể gửi về Thủ đô những cây xanh, cây cảnh và những loại hoa tiêu biểu cho vùng đất của mình.

11. Hoàn thành một khối lượng công việc như thiết kế nói trên, lại trong một thời gian ngắn sao cho cùng xong với công trình Lăng. Công tác tổ chức, chỉ huy đảm bảo để nhanh chóng thi công là công tác rất thiết yếu lúc này.
Đúng ra, khi thành lập công trường xây dựng Lăng, chính phủ có giao nhiệm vụ cho công trường gồm việc xây dựng Lăng và làm lại Quảng trường Ba Đình. Nhưng tới tháng 5 năm 1974, công trường xây Lăng có nhiều khó khăn trong tiến độ xây dựng, nên khó đảm đương nổi cả nhiệm vụ thi công Quảng trường. Vì vậy, ngày 5 tháng 6 năm 1974, Thủ tướng Chính phủ đã ra quyết định phân giao nhiệm vụ này cho cán bộ, các ngành và các địa phương.

Thực hiện chỉ thị của Quân uỷ Trung ương và Bộ Quốc phòng, ngay từ những buổi đầu, cán bộ kỹ thuật của quân đội đã tham gia thiết kế cải tạo Quảng trường và vườn hoa tiếp giáp Lăng với chuyên gia và chuẩn bị các phương án tổ chức bộ máy để giúp cho Ban Phụ trách. Lăng theo dõi công trình này: Thành lập Ban Kiến thiết và một công trường thống nhất, hoặc do nhiều đơn vị thi công chuyên ngành. Cả hai phương án nói trên, quân đội sẽ cử một đoàn cán bộ tham gia vào Ban Kiến thiết và nếu có yêu cầu thì sẵn sàng cử một lực lượng tham gia thi công trực tiếp.

Ban Phụ trách Lăng đã trao đổi với Bộ Quốc phòng về sự cần thiết phải có một cơ quan quản lý thi công có đủ năng lực vừa làm nhiệm vụ Ban Kiến thiết vừa làm tham mưu giúp Ban Phụ trách. Ban Phụ trách xây dựng Lăng uỷ nhiệm cho Bộ Quốc phòng tổ chức khung Ban Kiến thiết Quảng trường, lấy quân đội làm nòng cốt. Ngày 29 tháng 6 năm 1974, Ban Kiến thiết Quảng trường Ba Đình đã được thành lập, dưới sự chỉ huy trực tiếp của Ban Phụ trách. Cùng ngày Bộ Tổng tham mưu ra chỉ thị quyết định về cơ cấu Ban Kiến thiết và lấy cán bộ của Phòng sân bay Bộ tư lệnh Công binh là nòng cốt.

Ban Kiến thiết Quảng trương gồ 75 người, trong đó 85% là cán bộ kỹ thuật quân đội. Ngoài ra còn cán bộ của các Bộ Vật tư, Bộ Tài chính, Bộ Xây dựng tham gia. Đồng chí Nguyễn Văn Tưởng được cử làm Trưởng ban Kiến thiết Quảng trường.

Ngày 1 tháng 9 năm 1974, công trường cải tạo Quảng trường chính thức khởi công. Tin chiến thắng ở chiến trường, cùng với tốc đọ thi công khẩn trương trong giai đoạn chót của cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên ở công trường xây Lăng đã cổ vũ mọi người trên công trường kiến thiết Quảng trường ba Đình. Các cán bộ, các ngành và thành phố Hà Nội, mỗi ngành, mỗi địa phương nhận thi công một khu vực hoặc một việc chuyên ngành. Tuy Nhà nước chưa có đủ vật tư, các đơn vị thi công phải tự giải quyết lấy, Nhà nước sẽ trả sau. Song người và nguyên vật liệu từ các ngả đường ùn ùn tiến về Quảng trường. Bộ này thi đua với đội kia, ngành này thi đua với ngành kia. Các đơn vị thi công nhà cửa và hàng rào lập thành một khối do Bộ Xây dựng làm tổng B. Các đơn vị thi công chuyên ngành làm việc trực tiếp với Ban Kiến thiết Quản trường.

Mười bốn công ty của các bộ và thành phố Hà Nội tham gia xây dựng, và giải phóng mặt bằng. Công trường luôn có hàng nghìn người lao động. Lúc này đang là đầu mùa thu, trời se lạnh nhưng Quảng trường như sống lên bới không khí lao động nồng nhiệt, khẩn trương của mọi người. Tiếng tường đổ, tiếng cuốc xẻng đào xới, tiếng hò reo… không khí Quảng trường lúc nào cũng náo nhiệt.
12. Ngày 31 tháng 8 năm 1974, Liên Xô mới gửi bản thiết kế cơ bản sang cho công trường, chưa có thiết kế chi tiết và bản vẽ thi công. Đi đôi với việc giải phóng mặt bằng. Ban Phụ trách xây dựng Lăng đã huy động cùng một lúc hơn 100 cán bộ của 13 Viện Thiết kế chuyên ngành đến Quảng trường triển khai cụ thể hoá thiết kế của bạn.

Ngày 20 tháng 11 năm 1974, công trường bước vào thi công các công trình theo thiết kế mới. Có lẽ từ trước đến lúc này chưa có một công trường lao động nhân lực được lựa chọn tinh nhuệ đến như vậy. Tổng bộ Quảng trường như một sự huy động tổng hợp lực lượng chuyên ngành.

Lực lượng của Bộ Giao thông vận tải, có đủ các loại xe tải đang lăn bánh rầm rập chuyển nguyên vật liệu, thiết bị từ cấc nơi về công trường cho tất cả các đơn vị thi công. Lực lượng của họ được rải ra trên các trục đường chạy dọc, chạy ngang trên Quảng trường. Tất cả các đường bê tông nhựa đều do họ đảm nhiệm.

Lực lượng của Bộ Xây dựng tiến hành khai thác, sản xuất, gia công nguyên vật liệu, cấu kiện bê tông đúc sẵn cho toàn công trường. Họ còn là những người thi công thi công các hạng mục công trình Quảng trường, hệ thoát nước, cấp nước, điện chiếu sáng, lát gạch và tấm bê tông cho hè đường và cải tạo, lắp đặt thiết bị Nhà chỉ huy trung tâm…

Cánh quân của Tổng cục Bưu điện thi công toàn bộ công trình thông tin, truyền thanh, phát thanh và truyền hình…

Đội quân của Tổng cục Lâm nghiệp là những con người đang đem lại màu xanh cho Quảng trường, cho các đường quanh Lăng, và cho khu vườn của Bác. Công việc đầu tiên của họ là tiếp nhận hàng trăm thứ cây xanh, cây cảnh và các loại hoa của nhân dân từ trăm vùng đất nước gửi tới. Mỗi cây hoa, cây cảnh biểu hiện nồng thắm tấm lòng của các địa phương đối với Bác – Qua bao nhiêu chặng đường mưa gió nó vẫn tươi xanh như mầm chồi búp. Các anh chị trong ngành lâm nghiệp hơn ai hết biết cái giá của mỗi loại cây được chuyển tới đây. Họ sẽ trồng những cây này đúng nơi, đúng chỗ như bản thiết kế quy định, như ước mong của nhân dân.

Những cây chò nâu từ đất tổ Hùng Vương đã được chuyển tới. Các nhà thiết kế đã nghĩ đến việc trồng loại cây này trên con đường lớn nhất, trang trọng nhất chạy trước Lăng Bác. Đó là đường Hùng Vương. Đây là loại cây cao, thẳng, tán lá rộng có màu xanh đậm. Tất cả các loại cây được lựa chọn gần như cùng một lứa tuổi, độ lớn, độ cao giống nhau. Những cây chò nâu đất tổ sẽ tạo cho con đường một vẻ đẹp, một sức sống bền vững thiêng liêng.

Hai bên đường Bắc Sơn sẽ trồng hai hàng hoa ban giáp lòng đường; và hàng dầu nước bên trong. Hoa ban gợi nhớ một vùng đất mang chiến công oanh liệt của cả nước: Tây Bắc, Điện Biên Phủ. Đồng bào các dân tộc Tây Bắc rất quý loại hoa này. Họ gửi về công trường một loại hoa cây to, cao, hoa trắng muốt và nở từ tháng 5 trở đi, những cánh hoa ban là thể hiện tấm lòng thuỷ chung, thanh bạch của họ gửi về Bác trong những dịp sinh nhật của Người.

Những cây dầu nước bên trong là hình ảnh tượng trưng cho tinh thần kiên cường, bất khuất “đi trước về sau”, bám trụ trên mảnh đất quê hương đến thắng lợi cuối cùng của đồng bào chót mũi Cà Mau.

Ngoài hàng rào, hai bên đường Hùng Vương và Bắc Sơn cán bộ, công nhân viên lâm nghiệp trồng những hàng phi lao – một loại cây tượng trưng cho sự chịu đựng gan góc trước nắng, mưa bão táp. Cây phi lao hầu như sống được ở khắp nơi. Những vùng cát trắng ven biển, những đồi núi khô cằn…

Đôi bàn tay của người thợ lâm nghiệp cò vinh dự được trồng những loại cây có ý nghĩa lịch sử, như trúc Pác Bó mọc dưới núi Các Mác và bên suối Lê nin, từng gần gũi với Bác những năm gian nan khốc liệt của đất nước, những cây đa Tân Trào – kỷ niệm những ngày Bác đến Tân Trào, những ngày Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân ra đời. Những cây luồng, cây tre vùng Lam Sơn, Thanh Hoá tiêu biểu cho ý chí quật khởi của các cuộc khởi nghĩa của anh hùng dân tộc Lê Lợi… Những người thợ lâm nghiệp còn được dón nhận những thứ cây quý từ miền Trung gửi về như cây quế trà my, nổi tiếng về chất lượng và mì thơm, cây loòng boong Quảng Nam – Đà Nẵng, một thứ cây đặc sản từng nuôi sống cán bộ, chiến sĩ miền Trung trong những năm chống Mỹ ác liệt…

Hàng trăm loại cây ăn quả mà trước đây Bác vẫn chăm bón hàng ngày, lấy quả làm quà gửi tặng các chiến sĩ quân đội, các cháu thiếu nhi và nhân dân các vùng như vú sữa, cam, chanh, bòng, bưởi cũng được quy hoạch lại, chăm chút thêm để tiếp tục sinh sôi nảy nở bên Người.

Còn những chàng trai, cô gái thanh lịch Thủ đô, thi công toàn bộ hệ thống đường ống cống thoát nước, trồng cỏ, trồng hoa và cây cảnh. Các cô gái công ty công viên cấy xuống Quảng trường những vuông cỏ, vừa có sức chịu nắng mưa, vừa xanh tốt bốn mùa. Ở vườn hoa tiếp giáp, họ đang nâng niu những loại hoa có nhiều ý nghĩa, như các cây đào được chiết ra từ cây đào Tô Hiệu, và những cành mai đủ màu sắc chỉ quen sống ở vùng đất phía Nam.

Phía sau Lăng một chút, những bồn hoa nhiều hương sắc mà sinh thời Bác vẫn ưu thích như nhài, hương mộc, dạ hương… được trồng xen kẽ với nhau, và vô vàn những loài hoa khác đặc sắc về màu sắc và hương thơm được nhân dân các địa phương gửi tới. Đồng bào cả nước muốn Bác nằm giữa muôn vàn hương thơm của hoa lá. Hoa lá như tấm lòng của nhân dân cả nước muốn được vây quanh Bác, muốn được quấn quýt bên Người.

Ở hai phía Lăng là loại ngọc bút trắng, cánh hoa tường vi hồng tươi, phía trước, sát bên Lăng Bác là hai hàng vạn tuế. Dưới chân Lăng là hai cây đại tượng trưng cho sự thanh khiết, trường tồn.

Ngoài các bộ, ngành, thành phố Hà Nội, xây dựng Quảng trường còn có lực lượng của 14 tỉnh, thành tham gia. Việc phối hợp, điều hoà sao cho hợp với tiến độ, kế hoạch chung là việc không dễ dàng. Mặt khác vật tư thiết bị lúc thiếu, lúc chậm cũng làm cho công trường gặp không ít khó khăn.

Lực lượng lao động gồm nhiều thành phố khác nhau, nếu tổ chức phối hợp không tốt sẽ ảnh hưởng đến năng suất lao động, do đó các chỉ tiêu kế hoạch của các đơn vị thi công đạt rất thấp. Ban Kiến thiết Quảng trường sớm nhận thấy phải có biện pháp củng cố về tổ chức, vì vậy đã đề nghị Ban Phụ trách xây dựng Lăng thành lập một Ban chỉ huy chung để điều hành công việc phối hợp cho nhịp nhàng ăn khớp do trưởng ban kiến thiết làm chỉ huy trưởng. Tháng 2 năm 1975, Ban chỉ huy này được thành lập và quả nhiên tình hình thi công có khá hơn.

Ban chỉ huy chung đã đề nghị với Ban Phụ trách huy động thêm lực lượng chi viện. Các cán bộ, công nhân viên ở các cơ quan Trung ương và Hà Nội, các sinh viên các trường đại học, trung học chuyên nghiệp đã hăng hái tham gia lao động xã hội chủ nghĩa, chi viện đắc lực cho công trường. Từ tháng đến tháng năm 1974, lực lượng này đã góp được khoảng bảy vạn ngày công.

Tháng 6 năm 1974, tính chung toàn công trường mới hoàn thành được khoảng 60% khối lượng. Ban Phụ trách Lăng đã đề nghị Bộ Quốc phòng chi viện thêm lực lượng. Thế là, một lần nữa quân đội đã điều động khẩn cấp một lực lượng gồm hai trung đoàn: trung đoàn Trung Dũng của Đồng Bằng và trung đoàn Tân Trào của Quân khu Việt Bắc đến Quảng trường Ba Đình.

H là lực lượng cơ động của Ban Kiến thiết Quảng trường, xung kích ở những “điểm nóng”. Lực lượng làm đường thiếu người, có bộ đội bổ sung; lực lượng trồng cây cần người đào hố, có bộ đội chi viện… Bộ đội còn có mặt trong các lực lượng xây lắp hệ thống thông tin, phát thanh, truyền hình và các công việc phức tạp khác. Chỗ nào gặp khó khăn, bộ đội sẵn sàng tới chi viện.
Tuy không phải là lực lượng kỹ thuật, chuyên ngành, song nhờ có lãnh đạo và chỉ huy chặt chẽ, bảo đảm vật chất và hậu cần có nền nếp ở mọi nơi, mọi chỗ bộ đội tham gia đều hoàn thành tốt nhiệm vụ.

Cán bộ, chiến sĩ hai trung đoàn Trung Dũng và Tân Trào đã nêu một tấm gương sáng về tinh thần lao động quên mình, và về năng suất và chất lượng công việc, xứng đáng với truyền thống “Đánh đâu được đấy” của quân đội ta. Sự có mặt của họ trong lúc công trường đang khó khăn đã gây được niềm tin yêu của mọi người, thúc đẩy và động viên mọi lực lượng nỗ lực phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ được giao đúng thời hạn quy định.

Thế là gần năm năm, kể từ ngày Bác Hồ vĩnh biệt chúng ta, cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên xây dựng Lăng, cải tạo Quảng trường Ba Đình đã vượt trăm nghìn gian khó, những gian khó tưởng chừng không thể vượt qua được để lúc này có thể báo cáo với toàn Đảng, toàn dân, toàn quân rằng: Ngôi nhà vĩnh hằng của Bác, Quảng trường Bác đọc Tuyên ngôn độc lập năm xưa đã được xây dựng tốt đẹp, trọn vẹn.

Tất cả đã sẵn sàng đón Bác về giữa trái tim Tổ quốc!

Ngày 22 tháng 8 năm 1975, các đơn vị quân đội tham gia xây dựng Lăng Bác và Quảng trường Ba Đình tổ chức lễ mừng công hoàn thành nhiệm vụ trong không khí tràn ngập niềm vui. Đến dự, có các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, quân đội và đông đảo đại diện các quân khu, quân chủng, binh chủng, cơ quan Bộ Quốc phòng và đại diện của các bộ, các ngành có liên quan. Các đồng chí lãnh đạo rất vui vẻ tự hào về những chiến sĩ yêu quý của mình. Họ đã đáng là những đại diện ưu tú của lực lượng vũ trang đi xây dựng Lăng Bác. Họ đã góp phần quan trọng lập nên những kỳ tích trong lao động, để lại một dấu son góp phần tô thắm lịch sử anh hùng của Quân đội nhân dân Việt Nam.

(còn nữa)

bqllang.gov.vn

Chương V: (Phần 1) Ngày, đêm trên Quảng trường Ba Đình

1. Ngày 28 tháng 1 năm 1973, tin kí kết Hiệp định Pa-ri được công bố trên Đài tiếng nói Việt Nam. Ở nơi sơ tán, cán bộ chiến sĩ Đoàn Ba Đình rất xúc động, có người nhảy cẫng lên reo hò, có người chạy ào tới ôm ghì bạn tỏ niềm vui sướng, có người giữ khư khư chiếc đài bán dẫn, nghe đi nghe lại chị phát thanh viên, nghẹn ngào nước mắt… Bên cạnh niềm vui chung của dân tộc, anh em còn có niềm xúc động riêng dào dạt. Sau bao đêm không ngủ, nhìn về Hà Nội thấy cảnh bom đạn nổ, lửa cháy, máy bay giặc gầm rú, lòng mỗi người như se lại, ai cũng muốn được chia lửa với đồng bào và đồng đội. Ai cũng muốn sớm được về Hà Nội tiếp tục phần công việc còn dang dở của mình. Hôm nay, nguyện vọng đó đang được khơi nguồn.

Đúng 10 giờ sáng, đơn vị được lệnh hành quân gấp về Thủ đô. Dọc đường, trên các ngọn cây, trên các nóc nhà, cột đèn… cờ đỏ sao vàng, cờ nửa xanh, nửa đỏ phấp phới bay. Cờ trên các ô tô, cờ trên xe đạp… từng đoàn chạy trên đường.

Ban phụ trách xây dựng Lăng họp ngay tối 29 tháng 1 năm 1973. Đồng chí Đỗ Mười sau khi truyền đạt chỉ thị của đồng chí Trường Chinh, đã nhắc nhở các lực lượng xây dựng Lăng “Không cho phép nghỉ ngơi. Không cho phép chậm trễ”. Việc chuẩn bị lực lượng lúc này vô cùng bức xúc. Ngoài nhân lực của Bộ Xây dựng, Nhà nước sẽ lấy thêm người ở các ngành, các địa phương. Lực lượng lắp đặt máy móc thiết bị do Bộ Quốc phòng đảm nhiệm, nếu thiếu người có thể huy động thêm ở các ngành và địa phương khác. Nhà nước sẽ gửi Công hàm đề nghị Liên Xô nối lại mọi công việc xây dựng Lăng như đã thoả thuận trước đây.

Trong không khí tràn ngập chiến thắng, cả guồng máy được khởi động lại hối hả. Mọi người bắt tay vào việc với những suy nghĩ, tìm tòi để đạt được hiệu suất chất lượng cao nhất, bù lại thời gian đã mất.

Đợt ra quân đầu tiên của Đoàn Ba Đình là tham gia bảo dưỡng ngôi nhà sàn của Bác. Mặc cho bom đạn kẻ thù bao lần dội xuống lòng Thủ đô Hà Nội, ngôi nhà sàn vẫn được bảo vệ an toàn và hôm nay được bàn tay cán bộ chiến sĩ chăm chút, thành kính tu tạo. Bác Tôn, các đồng chí Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt, Võ Nguyên Giáp .. đã tới thăm công trình và động viên cán bộ chiến sĩ của Đoàn. Với phong thái ung dung và nụ cười rạng rỡ, đồng chí Trường Chinh nói: “Mỗi lần các cháu được tham gia làm một việc có ý nghĩa như thế này tức là các cháu có thêm một “dấu son” trong cuộc đời của mình”. Cán bộ, chiến sĩ hôm ấy rất cảm động đối với sự quan tâm chăm sóc của các đồng chí lãnh đạo.

Công tác tuyển chon người ở các quân chủng, binh chủng được đẩy mạnh. Bộ Quốc phòng giao chỉ tiêu cho các quân chủng, binh chủng, có trách nhiệm tuyển chọn, bảo đảm đúng tiêu chuẩn đã đề ra.

Những đồng chí được tuyển chọn tham gia xây dựng Lăng Bác đã thật sự là niềm vinh dự của đơn vị. Họ vô cùng cảm động trước những tấm lòng của cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị gửi gắm vào họ. Những cuộc liên hoan, tiễn đưa, những lời dặn dò, chỉ bảo của cán bộ chỉ huy và lãnh đạo, sự lưu luyến của đồng đội… thật sự là những kỷ niệm động viên họ trước cuộc chiến đấu mới mà họ có vinh dự tham gia. Cho tới bây giờ nhiều cán bộ, chiến sĩ còn nhắc lại những giây phút cảm động, thiêng liêng không thể nào quên đó. Các chiến sĩ Quân khu 4 nhớ mãi buổi lễ dâng hương tại nhà Bác trước lúc lên đường ra Hà Nội. Quân khu Việt Bắc tổ chức cho anh em đi thăm bảo tàng cách mạng của địa phương mình, như nhắc nhủ anh em hãy xứng đáng với truyền thống của một địa danh đã từng được gọi là “cái nôi của cách mạng”. Và còn biết bao nhiêu hình ảnh cảm động khác nữa!.

Đối với quân đội ta, Hiệp định Pa-ri được kí kết không có nghĩa là nhiệm vụ của quân đội bớt nặng nề, Các lực lượng vũ trang ở miền Bắc vẫn phải nêu cao cảnh giác, cầm chắc tay súng. Nhiệm vụ giải phóng miền Nam, giành độc lập, thống nhất, toàn vẹn cho Tổ quốc vẫn là nhiệm vụ chính trị số một của quân đội. Do vậy mặc dù đã cố gắng tới mức cao nhất, quân đội vẫn không cung cấp đủ số lượng công nhân kỹ thuật theo yêu cầu. Được sự đồng ý của Nhà nước, một lực lượng đáng kể công nhân kỹ thuật ở các ngành dân sự đã “biệt phái” vào quân đội để tham gia thi công lắp ráp công trình Lăng. 90 công nhân kỹ thuật có tay nghề bậc cao của các ngành Điện-Than, Cơ khí-Luyện kim, Công nghiệp nhẹ, Giao thông vận tải, Lương thực – Thực phẩm, Vật tư, Hoá chất, Thuỷ sản và các thành phố Hà Nội, Hải phòng… đã được tuyển lựa bổ sung cho Đoàn Ba ĐÌnh làm nhiệm vụ. Cuối năm 1973, lực lượng công nhân kỹ thuật lắp ráp thiết bị của Lăng đã lên tới 484 người.

Lực lượng thi công phần xây dựng của công trường – người anh em sinh đôi với công trường lắp cũng hình thành nhanh chóng. Bộ Kiến trúc xác định lấy công trường 57 làm nòng cốt. Các địa phương cũng mong mỏi được góp phần xây Lăng Bác. Để đáp ứng nguyện vọng chính đáng đó, Ban phụ trách xây dựng Lăng đã gửi công văn tới các tỉnh, thành phố và đặc khu trực thuộc Trung ương huy động 1200 thợ xây. Chỉ một tháng sau, tất cả các địa phương đều cử đầy đủ những công dân ưu tú của mình đi nhận nhiệm vụ. Hà Nội, Hải Phòng có vinh dự và trách nhiệm đóng góp nhiều nhất, mỗi thành phố 100 người; Vĩnh Phú – đất tổ Hùng Vương 50 người; Nghệ An – quê hương Bác 90 người có tay nghề nổi tiếng đi xây dựng Lăng Bác…

Với nguyện vọng thiêng liêng và quyết tâm không gì sánh nổi của nhân dân cả nước ta trong những ngày này, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã ký quyết định lấy ngày 2 tháng 9 năm 1975 là ngày hoàn thành đưa công trình vào hoạt động.
Quyết định có ghi:

“Cùng với việc hoàn thành xây dựng công trình Lăng, phải hoàn thành cải tạo Quảng trường Ba Đình và vườn hoa tiếp giáp Lăng trước ngày 2 tháng 9 năm 1975..”.

Song song với công tác chuẩn bị trong nước, Ban phụ trách xây dựng Lăng cử gấp đoàn cán bộ đi Liên Xô để bàn bạc với các cơ quan hữu quan của Liên Xô về những vấn đề thiết kế công trình Lăng , vườn hoa tiếp giáp và Quảng trường Ba Đình theo kế hoạch khởi công và hoàn thành như đã quy định. Để tạo thuận lợi cho đoàn làm việc, Phó Thủ tướng Lê Thanh Nghị viết thư gửi đồng chí Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô Nô-vi-cốp đề nghị Liên Xô tiếp tục các công việc giúp đỡ về xây dựng Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, công việc diễn ra gặp không ít khó khăn. trước đây ta thông báo với bạn chủ trương tạm dừng xây Lăng không có thời hạn. Kế hoạch năm 1973 của bạn không có danh mục công việc này, vì vậy việc điều chỉnh kế hoạch của bạn gặp nhiều khó khăn, nhất là vật tư và thiết bị.

Nhằm huy động mọi cố gắng cao nhất của cả hai bên phục vụ cho công trình, đồng chí Vương Quốc Mỹ phái viên của Ban phụ trách xây dựng Lăng được cử sang Liên Xô để phổ biến ý kiến của Ban phụ trách cho đoàn ta và làm việc thêm với bạn. Phó Thủ tướng Đỗ Mười điện uỷ nhiệm đại sứ Võ Thúc Đồng ký nghị định thư giữa hai nước. Nghị định thư ghi rõ:

“Xét thời gian xây dựng Lăng ngắn và khẩn trương, phía Việt Nam trong trường hợp cần thiết sẽ tìm tại chỗ một số vật tư thiết bị thuộc diện Liên Xô cung cấp năm 1973 để khởi công..”. “Sau đó Liên Xô sẽ hoàn lại cho Việt Nam những vật tư thiết bị nói trên”.

Vấn đề nan giải nhất là thiết bị lắp đặt trong Lăng. Dù khó khăn đến đâu, bạn sẽ cố gắng khắc phục. Nhưng còn một số chủng loại thiết bị tối tân, bạn đặt chế tạo tại một số nước, thời gian sẽ phụ thuộc vào người sản xuất ở các nước này.

Nghị định thư ngày 7 tháng 6 năm 1973, một lần nữa thể hiện tình hữu nghị vĩ đại, tình đồng chí thắm thiết giữa hai Đảng và nhân dân hai nước Việt – Xô. Nhân dân Liên Xô thấm nhuần tinh thần quốc tế vô sản của Lê-nin vĩ đại, vượt lên mọi khó khăn, tạo mọi điều kiện thuận lợi để nhân dân ta thực hiện nguyện vọng thiêng liêng mà hơn mọt năm trước đây kẻ thù đã làm gián đoạn. Nghị định thư này tạo cơ sở vững chắc để công trình Lăng có thể khởi công đúng thời gian quy định.

Cả công trường 75808 sôi động với khẩu hiệu “Tất cả cho ngày khởi công”. Các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước tuy bộn bề công việc vẫn dành cho công trường sự chỉ đạo thường xuyên, trực tiếp giải quyết những vấn đề vượt quá khả năng của Ban chỉ huy công trường. Ngày 11 thán 5 năm 1973, Phó Thủ tướng Lê Thanh Nghị điện cho đại sứ Võ Thúc Đồng yêu cầu chuyên chở gấp cọc bản thép về nước bằn cách đề nghị các đồng chí Liên Xô đưa vào kế hoạch quá cảnh qua Trung Quốc. Ở trong nước cũng sẽ trao đổi thêm với Trung Quốc về vấn đề này.

Đồng chí Đỗ Mười cũng điện cho đồng chí Võ Thúc Đồng đề nghị bạn gửi gấp chuyên viên đóng cọc và bản thiết kế thi công đóng cọc sang Việt Nam chậm nhất là đầu tháng 7 năm 1973 để có thể thi công sớm, tranh thủ đổ bê tông móng công trình trước mùa mưa lũ năm tới. Đồng chí Đỗ Mười còn điện cho Thường trực Đại sứ quán ta tại Liên Xô yêu cầu chuyển các bơm hút nước hố móng về nước bằng đường sắt, đôn đốc ngay việc chuyên chở cọc bản thép từ cảng O-đét-xa về công trường… Sự quan tâm chỉ đạo của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước thực sự đã tháo gỡ những khó khăn tưởng chừng như bế tắc.

Ngày 18 tháng 6 năm 1973, một ngày không bao giờ quên đối với các chiến sĩ và công nhân công trường. 8 giờ sáng hôm ấy, các đồng chí Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Hoàng Quốc Việt, Võ Nguyên Giáp… đã cùng với đại diện cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên xây dựng Lăng tiến hành tháo dỡ lễ đài Ba Đình cũ. Đồng chí Trường Chinh xúc động nhắc lại công lao trời biển của Bác Hồ, ý nghĩa của việc xây dựng Lăng của Người, và nhắc nhở cán bộ, chiến sĩ, công nhân tham gia xây dựng công trình lịch sử này hãy xứng đáng với sự tin cậy và mong mỏi của toàn dân. trong không khí trang nghiêm và thành kính, các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước ta – những học trò trung thành và gần gũi của Bác, đã trực tiếp tháo gỡ mảnh bê tông nơi Bác đã từng đứng chủ trì các ngày lễ lớn của dân tộc.

Cùng một lúc, tất cả mọi người có mặt đều nghĩ: Chính nơi đây những năm xưa, bóng Bác in lồng lộng trên Quảng trường, Bác tươi cười vẫy chào đồng bào, đồng chí. Nơi đây, trên lễ đài, dấu chân Bác như còn ấm nóng, lời nói của Bác như còn vang vọng khắp non sông, động viên quân và dân ta vượt qua bao thử thách khắc nhiệt trong công cuộc kháng chiến cứu nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Mơ ước của Bác “Đất nước thống nhất, đồng bào Nam – Bắc sum họp một nhà…” đang thành hiện thực.

Mảng bê tông Bác thường đứng trên lễ đài, di vật quý báu ấy được lưu giữ cho các đời sau, sẽ góp phần kể lại một thời đại hiển hách của dân tộc – thời đại Hồ Chí Minh.

Đúng 10 giờ đêm hôm ấy, toàn bộ mặt bằng công trường bắt đầu được quây kín bằng lớp hàng rào bảo vệ. Hàng trăm cán bộ, chiến sĩ quân đội cùng anh chị em công nhân công trường xây dựng đã hoàn thành trận ra quân đầu tiên này vào lúc trời rạng sáng trước sự ngỡ ngàng, thích thú của nhân dân. “Tin lành đòn xa”, không mấy chốc người Hà Nội và khách vãng lai trên đất Thủ đô đã truyền tin nhau, vui vẻ đàm luận. Tất cả như đều hướng về Quảng trường Ba Đình với một nỗi chờ mong, một niềm tin yêu thiết tha.

Có thể nói, ngày 18 tháng 6 năm 1973 là thời khắc đánh dấu sự kết thúc của một thời kỳ chuẩn bị và mở đầu một giai đoạn – một giai đoạn thi công lăng Bác.

2. Từ tháng 9 năm 1973, mô hình tổ chức của lực lượng bộ đội lắp máy đã ổn định và hoạt động có hiệu lực, Đảng uỷ, Thủ trưởng Bộ Tư lệnh Công binh quyết định thành lập “Bộ chỉ huy lắp máy” gồm các đồng chí “Trần Bá Đặng, Lương Soạn, Nguyễn Văn Tý”.

Một cơ quan đặc trách đã được thành lập – cơ quan này vừa giúp việc cho Bộ chỉ huy lắp máy vừa giúp việc cho Ban Phụ trách và Ban chỉ huy công trường 75808. Quân đội đã cử 32 cán bộ tham gia vào các cơ quan nghiệp vụ thuộc Ban chỉ huy công trường. Nhiều đồng chí được bổ nhiệm giữ cấp trưởng các phòng kế hoạch, chính trị. Cấp phó các phòng kỹ thuật, cơ điện, cung ứng vật tư, bảo vệ… Ngoài ra quân đội còn cử 31 cán bộ khác tham gia vào cơ quan giúp việc Ban phụ trách xây dựng Lăng như các phòng chuyên gia, phòng giám sát chất lượng, văn phòng của Ban phụ trách…

Cơ quan đặc trách ở lúc cao điểm được tăng cường tới 90 cán bộ. Đồng chí Lương Soạn được chỉ định phụ trách cơ quan.

Trung đoàn 259B – Đoàn Ba Đình – là lực lượng trực tiếp thi công lắp ráp thiết bị của Lăng đến lúc này đã ổn định về tổ chức. Ban chỉ huy Đoàn gồm các đồng chí Nguyễn Văn Tý đoàn trưởng, Đinh Văn Khánh chính uỷ. Các đồng chí kỹ sư: Nguyễn Văn Tưởng, Nguyễn Quế, Lê Hãn là đoàn phó phụ trách từng mặt công tác như tham mưu, kỹ thuật, khí tài.

Các cơ quan của Đoàn cũng đã hình thành các ban tham mưu, chính trị, hậu cần, kỹ thuật, khí tài, hành chính… tập hợp một lực lượng đông đảo kỹ sư và cán bộ kỹ thuật các ngành.

Lực lượng thi công trực tiếp gồm các đội lắp máy (C7), đội lắp điện (C8), đội lắp ống (C9), đội gia công (C10) và đội vận tải (C11).

Thường vụ Đảng uỷ Binh chủng Công binh quyết định lập Ban cán sự Đảng, thay mặt cho Đảng uỷ binh chủng lãnh đạo toàn diện các mặt công tác của bộ đội tại Lăng Bác. Ban cán sự Đảng gồm các đồng chí: Trần Bá Đặng, Lưu Công Tiền, Lương Soạn, Văn Đình Khánh, Nguyễn Văn Tý.

Chỉ trong thời gian ngắn, cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên ưu tú được điều động về đã được sắp xếp hợp lý. Hàng trăm cán bộ đủ các ngành nghề, đủ mọi quân chủng đã nhanh chóng vượt qua những bỡ ngỡ buổi đầu, hoà nhập với nhau không chỉ trong nhiệm vụ mà cả trong phương pháp công tác, tác phong sinh hoạt…

Cán bộ các ngành nghề điều về đơn vị đều được luân phiên nhau đi bồi dưỡng nâng cao trình độ tại các nhà máy, công trường lắp ráp, các cơ sở nghiên cứu khoa học… Trình độ chỉ huy, chỉ đạo chuyên môn, nghiệp vụ được nâng lên nắm bắt được các biện pháp thi công tiên tiến. Các kỹ sư của 22 chuyên ngành được rèn luyện qua thực tiễn đã trưởng thành nhanh chóng và phát huy tác dụng khi bắt tay vào thi công lắp ráp các thiết bị ở Lăng.

3. Sau cuộc chiến tranh phá hoại ác liệt đường sá, cầu phà đều trở ngại. Cảng Hải Phòng chưa khôi phục hết năng lực bốc dỡ, tàu vào cảng phải chở hàng tháng… Song các cán bộ chiến sĩ làm công tác cung ứng vật tư không bao giờ ỷ vào những khó khăn trên mà luôn luôn phấn đấu hết sức mình để hoàn thành nhiệm vụ. Hàng ngàn mặt hàng tập kết ở các sân bay, sân ga, cầu cảng, đã được đưa về công trường bằng tất cả phương tiện từ thô sơ đến hiện đại… Nguồn hàng chi viện cho công trình đã được cơ quan khí tài – vật tư tiếp nhận kịp thời, bảo quản tốt, sẵn sàng đưa vào sử dụng cho công trình theo tiến độ thi công. Ở đây cần ghi nhận sự giúp đỡ hết lòng của các ngành, các địa phương có liên quan. Cảng Hải Phòng luôn ưu tiên cho các tàu có hàng của công trình Lăng Bác được bốc dỡ sớm. Ngành đường sắt dành cho công trình Lăng Bác những toa tàu tốt nhất, bảo vệ nghiêm ngặt các mặt hàng cho công trình suốt dọc đường…

Quân đội với cố gắng cao nhất của mình trong việc tìm kiếm vật tư nhưng cũng chỉ đáp ứng được 40% nhu cầu. Đất nước còn nghèo, chiến tranh chưa hoàn toàn chấm dứt, các địa phương, các ngành đều gặp những khó khăn, nhưng với công trình Lăng Bác họ sẵn sàng chi viện hết mình cho công trình. Uỷ ban hành chính Ninh Bình rút từ một xí nghiệp của tỉnh để cho công trình Lăng mượn máy cắt thép tấm. Công trường nhà máy cán thép Gia Sàng giúp gia công toàn bộ vỏ nhôm bảo ôn ống nước và cho mượn pa-lăng, tời, máy đánh gỉ, máy uốn ống. Bộ tư lệnh Phòng không-Không quân cho mượn nhiều loại máy đo lường điện – điện tử. Nhà máy quy chế Từ Sơn, Nhà máy cơ khí điện ảnh và xưởng quân giới X10, đã nhận sản xuất hàng chục vạn bộ bulông – đai ốc có chất lượng cao để liên kết các đường ống hơi, ống nước của công trình…

Công đoạn đóng cọc bản thép tạo thành bức tường thép bao quanh hố móng của công trình đã tới. Song cọc bản thép do bạn cấp chưa đưa sang kịp. Thông cảm với khó khăn của bạn, công trường đã tạm mượn 200 cọc bản thép tại cảng Hải Phòng. Cán bộ của công trường cùng với cán bộ của hai Bộ Giao thông vận tải và Vật tư đến các nơi (Quảng Ninh, Lạng Sơn, Hà Bắc, Hà Nội…) thu gom, chuyên chở được 1237 tấn cọc bản thép về công trình trước khi hàng của bạn cập cảng Hải Phòng. Chiếc búa hơi nước của Tổng Công ty công trinh cảng Hải Phòng cũng được cấp tốc điều về Ba Đình.

Ngày 9 tháng 8 năm 1973, tấm cọc thép đầu tiên đã được cắm xuống. Chiếc búa đi-ê-den của công ty thi công cơ giới Bộ Xây dựng cũng được điều về tiếp sức. Cả hai chiếc búa đều đã dầm mưa dãi nắng trên nhiều công trình. Tuy đã “già nua” cũ kỹ, nhưng kỳ diệu thay lúc này nó như đang sức hồi xuân, như một chàng trai bừng dậy với sức lực phi thường. Ngày cũng như đêm, dưới trời mưa tầm tã hay giữa trưa hè nắng gắt, tiếng búa đóng cọc vẫn cần mẫn, đều đặn. Một kỷ lục mới về năng suất đóng cọc đã được mở tại nơi đây. Bình quân mỗi ngày mỗi chiếc búa đóng được 18 cọc. Đột xuất có ngày búa hơi nước đóng được 34 cọc, búa đi-ê-den đóng được 21 cọc. Năng suất cao như vậy nhưng chất lượng vẫn đảm bảo, độ vững chắc của công trình trả lời minh chứng.

Ngày 20 tháng 10 năm 1973, tấm cọc thép thứ 1200 – tấm cọc thép cuối cùng của công trình được đóng xuống, khép kín bức tường bao quanh hố móng,vượt thời gian quy định.

4. Tháng 8 mưa bão đến dồn dập, những cơn mưa tầm tã làm cho bầu trời Hà Nội như giăng một lớp mù xám xịt. Mặt đất ẩm ướt, nhiều chỗ nước đọng thành vũng. Ai đã từng có mặt ở công trường mới thấy hết nỗi vất vả, nhọc nhằn của cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên những ngày này. Mưa vẫn xối xả, tiếng búa máy vẫn vang vang. Những bộ quần áo đẫm nước. Những lúc này, các đồng chí lãnh đạo của Ban phụ trách xây dựng Lăng, Ban chỉ huy công trường thay phiên nhau có mặt tại hiện trường, cũng gội mưa, lội nước như những công nhân thực thụ.

Nỗi lo trùm lên tất cả là nguồn nguyên vật liệu. Không đổ xong bê tông phần ngầm trước mùa mưa lũ, kế hoạch khánh thành Lăng theo quy định không thể thực hiện được. Ban phụ trách xây dựng Lăng cử gấp hai đồng chí thuộc Bộ Xây dựng và một đồng chí cán bộ quân đội sang Liên Xô cùng bạn đẩy nhanh tiến độ thiết kế thi công, và thường trực cùng với bạn tổ chức điều hành việc đưa vật tư – thiết bị về công trường. Chưa thật yên tâm, Ban phụ trách lại cử tiếp đồng chí đoàn phó phụ trách vật tư của Đoàn Ba Đình cùng một đồng chí phiên dịch sang “cắm chốt” tại Mát-xcơ-va theo dõi, đôn đốc việc gửi thiết bị từ Liên Xô về nước.

Đồng chí Đỗ Mười đã liên tục điện cho sứ quán ta tại Mát-xcơ-va đề nghị bạn tạo mọi điều kiện gửi vật tư thiết bị sang ngay, đề nghị bạn tổ chức một chuyến táu hoả đưa hàng của Lăng về Hà Nội trong tháng 9 năm 1973 và đề nghị bạn chở hàng của Lăng bằng những chuyến tàu biển riêng. Đồng chí Đỗ Mười còn đề nghị bạn tăng thêm chuyên gia thi công cho công trình. Sự chỉ đạo kiên quyết, sâu sát của đồng chí Trưởng ban phụ trách xây dựng Lăng như một sự khơi nguồn để dòng thác công việc tiếp tục xuôi chảy.

Mùa mưa lũ chưa chấm dứt.

Ban phụ trách xây dựng Lăng đã quyết định thi công xen kẽ, đào hố móng cùng lúc với tiến trình đóng cọc bản thép. Một quyết định hết sức táo bạo. Những cơn mưa bão đột ngột có thể san bằng công sức của hàng ngàn con người, hố móng sẽ biến thành hố nước. Song, không có cách nào khác, thời gian hoàn thành công trình đang là tiếng gọi thôi thúc. Sau mười ngàn mét khối đất cần đào và di chuyển đi nơi khác đâu phải là một khối lượng nhỏ. Nếu dùng lực lượng thi công phải có 300 người đào trong 8 tháng. Ban phụ trách giao công ty thi công cơ giới Bộ Xây dựng đảm nhiệm việc này. Lực lượng quân đội và một số lực lượng khác là nhiệm vụ hỗ trợ bằng lao động thủ công.

Ngày 2 tháng 9 năm 1973, lễ khởi công xây dựng Lăng Bác đã diễn ra tại hiện trường. Ngay đêm hôm trước một cơn mưa tầm tã kéo dài như đe doạ. Sáng hôm đó mưa tạm ngớt. Mọi người hướng về phía các đồng chí Trường Chinh, Nguyễn Lương Bằng, Võ Nguyên Giáp, Đỗ Mười – những người chủ trì buổi lễ. Mưa dừng hẳn, bầu trời Quảng trường bỗng chốc được nâng lên cao vọi. Những tia nắng sớm tinh khiết vừa ánh lên đã đọng lại trên những gương mặt mọi người hớn hở. Một rừng cờ. Cờ bay trong nắng, cờ tô thắm những cặp mắt nồng nàn chờ đợi. Một đoàn người gồm 20 chiếc xe “bò tót” cắm cờ đỏ đuôi nheo đã xếp hàng ngay ngắn cạnh khu đất đào hố móng. Đúng 8 giờ chiếc máy xúc E.652 được lệnh ngoạm gầu đất đầu tiên. Người công nhân lái xe nổi tiếng về năng suất và an toàn lao động được vinh dự đón nhân gầu đất đầu tiên. Đất từ gầu xúc nhả ra đầy ắp thùng xe. Chiếc xe rùng mình chuyển động. Lần lượt các chiếc khác vào thay thế. Đoàn xe chở đầy đất nối nhau chạy về phía Giảng Võ rẽ xuống một con đường nhỏ. Tới đây đất được đổ xuống một vùng ao hồ, đầm lầy thuộc khu vực Láng Trung. Ban phụ trách xây dựng Lăng đã quyết định dành toàn bộ 60.000 mét khối đất ở đây cho một công trình đầy ý nghĩa: tôn nền cho “bệnh viện Nhi Việt Nam – Thuỵ Điển” sau này.

Buổi trưa, một cơn bão tràn tới. Gió gầm rít. Mưa giăng kín trời. Những máy xúc vẫn làm việc. Những chiếc xe trở đất vẫn chạy. Mặt đất vóng vánh nước, đường vận chuyển trơn. Cuộc vật lộn với dông bão để đảm bảo tiến độ thi công của cán bộ, chiến sĩ công trường đã thắng. Những ngày tiếp theo, họ không những làm một ca mà làm hai ca và thêm cả ngày chủ nhật. Góp sức làm nên ngôi nhà dành cho giấc ngủ yên lành của Bác, hình như không một ai tính toán sức lực, thời gian mình đổ ra.

Ban phụ trách xây dựng Lăng chủ trương vận động các cơ quan, xí nghiệp, trường học, các đơn vị lực lượng vũ trang tại Hà Nội tham gia lao động tự nguyện cho các ngày nghỉ, cùng công trường đẩy nhanh tiến độ thi công. Hầu như mọi tầng lớp nhân dân đang chờ đợi điều này. Nhiều đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước và quân đội, mặc dầu bộn bề công việc vẫn tham gia lao động. Thầy và trò các trường đại học, trung học chuyên nghiệp và phổ thông trung học… nô nức tham gia lao động xã hội chủ nghĩa. Cán bộ, chiến sĩ các cơ quan Bộ Quốc phòng và các quân chủng, binh chủng, cán bộ và công nhân các bộ, các ngành và các nhà máy xí nghiệp thay phiên nhau đến tham gia lao động trên công trường.

Mặt bằng công trường có hạn, không thể tiếp thu số lượng người quá lớn trong cùng một lúc. Nhiều cơ quan tổ chức cho cán bộ, công nhân viên của mình tham gia lao động trong cả giờ hành chính.

Ngày 29 tháng 10 năm 1973, Thủ tướng Phạm Văn Đồng tới thăm công trường và xúc tảng đất cuối cùng kết thúc giai đoạn đào hố móng. So với định mức, công trường đã thực hiện vượt chỉ tiêu thời gian 16 ngày.

5. Những ngày này, khắp nơi trên mọi miền đất nước cũng đang hướng về Quảng trường Ba Đình. Ai cũng muốn Lăng Bác được hoàn thành sớm hơn. Các đơn vị, các ngành, các địa phương đều mong được đóng góp sức người sức của vào công trình. tại nhà máy xi măng Hải Phòng, các cán bộ chuyên môn tập trung sức lực và trí tuệ nghiên cứu loại xi măng mác cao, nhà máy chưa sản xuất bao giờ, nhưng nghĩ đến thành phẩm của nhà máy được sử dụng vào công trình Lăng Bác ai cũng phấn khởi. Các đồng chí Lê Thanh Nghị, Đỗ Mười trực tiếp xuống nhà máy giao nhiệm vụ và động viên cán bộ, công nhân viên khắc phục khó khăn làm bằng được. Nhà máy vừa trải qua hai cuộc chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ. Ngót hai vạn tấn bom của giặc đã trút xuống nơi đây. Việc hàn gắn những đổ vỡ do bom đạn gây ra đang mới bắt đầu. Nhưng nghĩ đến Bác, mọi người đều nêu quyết tâm sản xuất bằng được loại xi măng tốt nhất để xây dựng Lăng của Người. Lò nung, máy nghiền được phục hồi. Quy trình sản xuất được nghiên cứu thấu đáo. Việc tuyển chọn các phôi liệu có chất lượng cao được bàn luận sôi động.

Nguyên liệu đầu tiên phải tuyển chọn là đá. Đá Tràng Kênh nổi tiếng là tốt. Nhưng nhận được yêu cầu của nhà máy và biết được công việc của mình làm, anh chị em mỏ đá Tràng Kênh đã tới tận vùng Áng Vàng, Áng Thi tìm chọn công phu loại đá nhà máy cần dùng. Những thuyền đá được chuyển về nhà máy xi măng mang cả tấm lòng của những người thợ giàu truyền thống kiên cường cách mạng và đời đời nhớ ơn Bác.

Thứ nguyên liệu làm chất phụ gia để sản xuất xi măng là đất vùng Cổ Pháp (Thuỷ Nguyên) – một loại đất có chất lượng “lý tưởng”. Nhân dân địa phương thường dùng loại đất này xây tường nhà bền chắc nổi tiếng. Loại đất này cũng được tuyển chọn về làm xi măng để xây Lăng Bác.

Từ khâu tuyển chọn nguyên liệu tốt tới lúc sản xuất ra loại xi măng đạt yêu cầu là cả một dây chuyền công nghệ phức tạp được hình thành bởi trí tuệ và những bàn tay khéo léo của tập thể cán bộ, công nhân Nhà máy xi măng – một nhà máy mang truyền thống anh hùng của đất Cảng. Mẻ đầu tiên 50 tấn xi măng được đưa vào thí nghiệm và kiểm tra ngặt nghèo. Kết quả tốt đẹp vượt quá sự mong ước. Loại xi măng không những đạt mác cao, lại đáp ứng được cả các tiêu chuẩn khác về thời gian độ toả nhiệt và đông cứng… Sau mẻ đầu tiên, hàng loạt mẻ khác ra đời. Chị em phụ nữ nhà máy tranh thủ các ngày chủ nhật – ngày “Đền ơn Bác Hồ” – để sản xuất bao bì. Bao bì do chi em sản xuất in dòng chữ “Đời đời nhớ ơn Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại”.

Hàng chục nghìn tấn xi măng đặc biệt đựng trong những bao bì như thế đã được chuyển tới công trường. Với thành quả lao động xuất sắc trên, Nhà máy xi măng hải Phòng chẳng những đã nhanh chóng phục hồi sản xuất mà còn vươn tới đỉnh cao mới, tiến bộ mới về kỹ thuật, về khả năng sản xuất loại xi măng chất lượng cao, tạo cho nhà máy một đà đi lên vững chắc, thực hiện lòng mong muốn của Bác Hồ: “Thắng giặc Mỹ, ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay”.

Đá dăm dùng cho công trình cũng cần tới hàng vạn mét khối. Đá dăm Xuân Hoà thường được coi là có chất lượng cao, thích ứng với các kết cấu bê tông vĩnh cửu. Các nhà kỹ thuật đã tới đây nghiên cứu kỹ lưỡng, khi xảy ra tỉ lệ hạt dẹt vẫn còn cao, chỉ dùng được một phần nhỏ. Các nhà kỹ thuật tìm tới Thác Bà, đá ở đây có nhiều ưu thế hơn. Ban lãnh đạo quyết định chọn mỏ đá Hoàng Thi ở khu vực Thác Bà làm nơi khai thác. Nhân dân các dân tộc Yên Bái náo nức tin vui khi được Nhà nước giao nhiệm vụ cung cấp đá cho công trình Lăng Bác. Bộ Giao thông vận tải nhận chuyển đá bằng mọi phương tiện từ mỏ về công trường. Bộ Công an bảo vệ an toàn. Viện Thí nghệm vật liệu tổ chức bộ phận nghiệm thu chất lượng ngay tại nơi khai thác. Công trường Hoàng Thi sống dậy với một sức mạnh chưa từng thấy. Ngoài các đội sản xuất của công trường, còn hàng trăm nam nữ thanh niên các dân tộc Kinh, Dao, Nùng, Cao Lan.. góp sức. Tiếng máy khoan, tiếng mìn, tiếng búa đập đá, những điệu hát dân tộc đậm đà, hồn nhiên cộng với những sắc phục phong phú, đa dạng, công trường trở thành ngày hội của những người lao động tự nguyện. Chưa đầy một tháng, hàng vạn mét khối đá Thác Bà được bốc xếp lên các đoàn ôtô, các toa tàu hoả hoặc theo các đoàn ca nô xuôi dòng sông Lô, sông Hồng về Ba Đình.

6. Đất nước ta có nhiều suối, nhiều sông, nguồn cát cung cấp cho các công trường xây dựng cũng rất dồi dào. Tuy nhiên, thứ cát nào dùng cho công trình vĩnh cửu này cũng được lựa chọn khắt khe. Thời Pháp thuộc, trong một công trình nghiên cứu còn ghi rõ “Nguồn cát vàng sông Lô là tốt số 1”. Chúng ta cũng đã dùng nguồn cát vàng này cho nhiều công trình xây dựng ở miền Bắc. Nhưng các chuyên gia xây dựng vẫn chưa hài lòng vì trong cát còn chứa một tỷ lệ nhỏ mùn tạp. Qua các cuộc tìm kiếm, đã phát hiện cát vàng Kim Bôi (Hoà Bình). Loại cát này từ sỏi vỡ vụn ra, rắn và sạch hầu như không có tạp chất, màu vàng óng. Cát vàng Kim Bôi được tuyển chọn về xây Lăng Bác. Toàn bộ khâu khai thác do nhân dân địa phương đảm nhiệm. Đồng bào các dân tộc vùng Kim Bôi, Hoà Bình thời trước sống trong đói khổ, bị đè nén, áp bức nhiều bề. cách mạng Tháng Tám thành công, đời sống của đồng bào dần dần được nâng cao. Công ơn Đảng và Bác Hồ mang lại cho họ như rừng cây, mạch suối. Được đóng góp vào công trình Lăng Bác, họ không còn niềm vui nào hơn. Hàng ngàn mái đầu xanh xen lẫn những mái đầu điểm bạc, từ nhiều vùng khác nhau của Hoà Bình đã đổ về Kim Bôi. Cát từ các lòng suối được moi xúc lên thuyền chở ra bãi trung chuyển. Cát được đổ thành đống như những quả đồi vàng rực, óng ánh. Những đoàn xe vận tải nhộn nhịp ngày đêm chở cát về Hà Nội. Tấm lòng nhân dân các dân tộc Hoà Bình đối với Bác kính yêu gửi qua từng hạt cát vô hạn. Ngoài cát Kim Bôi, cát ở Thanh Xuyên (Bắc Thái) cũng được khai thác dùng vào việc san lấp hố móng và cải tạo Quảng trường.

Những tờ lịch cuối cùng của tháng 10 năm 1973 sắp qua – tín hiệu của mùa mưa bão vùng hà Nội đã chấm dứt. Bức tường bằng cọc bản thép đã hoàn thành. Hố móng đã mở rộng. Thiên nhiên, lòng đất, lòng người đang tạo thành sức mạnh tổng hợp để công trường chuyển sang một giai đoạn đổ bê tông cốt thép tạo thành khung của Lăng – một giai đoạn hết sức quan trọng.

Ngày 27 tháng 10 năm 1973, công trường chính thức đổ mẻ bê tông cốt thép đầu tiên ở nền lót. Thời hạn quy định phải đổ xong bê tông phần ngầm của công trình trước mùa mưa lũ năm 1974.

Công việc tiến hành chưa được bao lâu thì hàng loạt trắc trở ập đến, khiến nhiều người nghĩ đến khả năng không hoàn thành kế hoạch theo thời hạn quy định…

Mặc dù cán bộ và các đồng chí chuyên gia ngày đêm bám hiện trường lao động quên mình, nhưng kế hoạch đổ bê tông vẫn chưa đạt. Tiến độ ngày càng bị đẩy lùi. Nguy cơ không hoàn thành kế hoạch trước mùa mưa ngày càng rõ nét. Những khó khăn về thiếu nguyên vật liệu, những trục trặc trong khâu kỹ thuật, các giải pháp thi công… Công tác lãnh đạo, chỉ huy ở một công trường lớn, tập hợp nhiều lực lượng khác nhau đã bộc lộ nhiều mặt yếu kém. Những vướng mắc xảy ra trong điều kiện vừa thiết kế vừa thi công khiến cho nhiều lúc công việc phải tạm dừng lại hàng tuần lễ để chờ cán bộ ta bàn bạc với bạn. Chẳng hạn, việc đổ bê tông mới tiến hành vừa tròn hai tuần lễ thì cơ quan bảo vệ kinh tế phát hiện trong các loại đá đang dùng có chất phóng xạ quá quy chuẩn cho phép. Đây là một phát hiện cực kỳ hệ trọng, cần có ngay kết luận chính xác để lãnh đạo có chủ trương kịp thời. Đồng chí Trần Đại Nghĩa, chủ nhiệm Ủy ban khoa học và kỹ thuật Nhà nước đề nghị cần đem mẫu đất sang Liên Xô nhờ các phương tiện hiện đại của bạn xét nghiệm, kết luận. Đồng chí Nguyễn Trọng Quyền được giao phụ trách công việc này, mang theo các mẫu đá và bản kết quả xét nghiệm ở trong nước sang Liên Xô để bạn xét nghiệm. Cùng đi còn có hai đồng chí Kiểm, San, chuyên gia thí nghiệm vật liệu của Bộ Xây dựng. Đồng chí Đỗ Mười cũng điện cho các đồng chí Võ Thúc Đồng, Nguyễn Tu, yêu cầu sứ quán phối hợp giải quyết việc này thật nhanh chóng để đỡ ảnh hưởng tốc độ thi công.

Những lúc gặp khó khăn, lại sáng ngời lên sự giúp đỡ vô giá của các bạn Liên Xô. Các bạn Liên Xô coi những trắc trở trong quá trình xây dựng Lăng Bác như mọi trắc trở trong những việc trọng đại của chính mình, nên đã tìm mọi biện pháp nhanh chóng nhất để giúp đỡ giải quyết. Ngày 19 tháng 11 năm 1973 mẫu đá của ta được đem thí nghiệm tại Viện nghiên cứu khoáng sản toàn Liên bang . Kết quả cho thấy đá của ta có những thông số kỹ thuật đảm bảo cho phép sử dụng ở các công trình xây dựng quan trọng. Mặc dù vậy, từ lúc phát hiện vấn đề tới khi có kết luận chính thức, công trường phải chờ mất hai tuần.

(Còn nữa)

bqllang.gov.vn

Chương IV: Công tác chuẩn bị

1. Sau ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, việc xây dựng Lăng đã trở thành một vấn đề bức xúc. Đồng bào và chiến sỹ cả nước đều mong muốn có một nơi an nghỉ cuối cùng của Bác thể hiện được phần nào công lao và sự nghiệp vĩ đại của Người, để thế hệ hôm nay và các thế hệ mai sau có điều kiện tới viếng Bác và nguyện đi tiếp theo con đường mà Đảng và Bác đã vạch ra. Bầu bạn khắp nơi mỗi khi tới Việt Nam cũng có dịp vào Lăng chiêm ngưỡng Bác – Người chiến sỹ lỗi lạc của phong trào giải phóng dân tộc, của phong trào cộng sản va công nhân thế giới.

Ngay sau ngày tổ chức chu đáo và hết sức trọng thể lễ tang Bác, “Ban phụ trách quy hoạch A” gồm các đồng chí: Nguyễn Lương Bằng, Trần Quốc Hoàn, Phùng Thế Tài… đã nghiên cứu quy hoạch chung về việc giữ gìn lâu dài thi hài Hồ Chủ tịch và xây dựng Lăng của Người.

Trong phiên họp sáng ngày 29 tháng 11 năm 1969, Bộ Chính trị Trung ương Đảng đã bàn và quyết định:

I. Với tấm lòng kính yêu vô hạn và đời đời nhớ ơn Chủ tịch Hồ Chí Minh, chúng ta phải thực hiện đến mức tốt nhất nhiệm vụ giữ gìn lâu dài thi hài Hồ Chủ tịch và xây dựng Lăng của Người. Cố gắng làm nhanh, làm tốt và sớm xây dựng xong Lăng để đồng bào ta có thể viếng và chiêm ngưỡng Chủ tịch Hồ Chí Minh trong năm 1971.

II. Mọi công tác có liên quan đến thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh phải thể hiện được sự trong sáng và đức tính giản dị, gần gũi quần chúng của Người.

Vì vậy, gối và đệm của Người nên là màu trắng, quần áo bằng vải ka ki và theo kiểu mà Người vẫn mặc khi Người còn sống; nên phủ một chăn mỏng từ bụng đến hết hai bàn chân, có thể dùng chăn vải hoặc chăn len màu mỡ gà hoặc màu cà phê sữa nhạt, hai tay đặt như cũ ở trên chăn. Ngoài ra trong quan tài kính không để một thứ gì khác nữa. Đôi dép đặt trong một hòm kính nhỏ khác.

III. Cần thấu suốt, nắm vững và đáp ứng những yêu cầu sau đây trong công tác thiết kế Lăng:

1. Bảo đảm giữ gìn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh nguyên vẹn và lâu dài, chống được các biến động có hại của khí hậu, thời tiết, có kế hoạch giữ gìn an toàn, phòng chiến tranh, địch phá, v.v.

2. Thể hiện được tính cách hiện đại mà vẫn giữ màu sắc dân tộc, trang nghiêm nhưng giản dị.

3. Bảo đảm được sự thuận tiện cho nhân dân, cán bộ và khách nước ngoài đến viếng đông và liên tục, bảo đảm sự kiên cố, bền vững của công trình.

4. Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt ở khu Ba Đình lịch sử.

IV. Xúc tiến ký Hiệp nghị với Liên Xô về việc Liên Xô giúp ta giữ gìn lâu dài thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh và xây dựng Lăng của Người.

Bộ Chính trị còn quyết định:

Ban phụ trách quy hoạch A có trách nhiệm tiếp tục theo dõi, chăm lo chung các công việc đã được phân công.

Quân uỷ Trung ương tiếp tục phụ trách các công tác về bảo vệ lâu dài thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Bộ Kiến trúc có trách nhiệm chính trong việc xây dựng Lăng, cần chuẩn bị để làm tốt với các chuyên gia bạn; bảo đảm tốt, làm nhanh công tác thiết kế, khẩn trương bắt tay vào công việc để Bộ Chính trị có thể duyệt sớm phương án thiết kế, mô hình Lăng và kế hoạch thi công.

Từ ngày 9 đến 23 tháng 1 năm 1970, Chính phủ Liên Xô đã cử một đoàn cán bộ sang Việt Nam bàn bạc về thiết kế Lăng Bác. Đoàn gồm 7 đồng chí do đồng chí Ka-du-kốp, đại diện uỷ ban liên lạc kinh tế với nước ngoài thuộc Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô làm trưởng đoàn. Thành viên là đại diện của Viện nghiên cứu thiết kế cục tổ chức xây dựng Mát-xcơ-va, Viện kỹ thuật vệ sinh, Viện kỹ thuật chế tạo máy lạnh, v.v.

Đoàn cán bộ Việt Nam làm việc với bạn gồm 12 đồng chí thuộc Bộ Kiến trúc và Bộ Quốc phòng. Bốn đồng chí được quân đội cử tham gia đoàn là các đồng chí:

– Thượng tá Trần Bá Đặng, phó tư lệnh Binh chủng Công binh.

– Trung tá Lương Soạn, trưởng phòng công trình Bộ tư lệnh Công binh.

– Đại uý Nguyễn Trọng Quyền, trưởng ban thiết kế thuộc phòng công trình.

– Trung tá Nguyễn Gia Quyền, Bác sỹ quân y, phụ trách công tác giữ gìn thi hài Bác

Đoàn ta đã thông báo cho bạn quyết định của Bộ Chính trị Đảng ta về xây dựng Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Quảng trường Ba Đình Hà Nội. Những yêu cầu đối với công trình này được thể hiện trong bản dự thảo “nhiệm vụ thiết kế” do phía Việt Nam chuẩn bị.

Các chuyên gia Liên Xô thông báo quyết định của Chính phủ Liên Xô giúp đỡ về kỹ thuật trong việc thiết kế, xây dựng và trang bị cho Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh sẽ được ký kết tại Mát-xcơ-va như đã thoả thuận giữa hai nước.

Trong quá trình hội đàm, các chuyên gia Liên Xô đã tìm hiểu, nghiên cứu tỉ mỉ những bản phác hoạ và các mô hình Lăng, từng vấn đề trong bản dự thảo “nhiệm vụ thiết kế” do phía Việt Nam chuẩn bị. Những kinh nghiệm thực tế phong phú qua những lần nhân dân Liên Xô xây dựng và tôn tạo Lăng Lê-nin, được các đồng chí chuyên gia Liên Xô chân tình trao đổi với các cán bộ ta nhiều điều hết sức bổ ích để bổ sung và hoàn chỉnh bản dự thảo “nhiệm vụ thiết kế” Lăng Bác.

Chỉ trong một tuần lễ ngắn ngủi, các chuyên gia Liên Xô và Việt Nam đã soạn thảo xong bản “Dự thảo nhiệm vụ thiết kế Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh “. Ngày 19 tháng 10 năm 1970, bản dự thảo “nhiệm vụ thiết kế” này đã được thông qua tại phiên họp Bộ Chính trị, đánh dấu một cột mốc lịch sử đầu tiên của thời kỳ chuẩn bị thiết kế Lăng.

Nội dung bản “nhiệm vụ thiết kế” đã đáp ứng các yêu cầu của Bộ Chính trị: Lăng – Quảng trường Ba Đình – Khu lưu niệm của Bác trong Phủ Chủ tịch và khu vực tiếp giáp là một tổng thể kiến trúc lịch sử thống nhất mà Lăng Bác là tiêu biểu. Phác thảo kiến trúc Lăng đã thể hiện tính chất dân tộc, hiện đại, trang nghiêm và giản dị.

Sự bề thế, trang nghiêm và vĩnh cửu của công trình sẽ phần nào thoả mãn được ý nguyện của nhân dân và bè bạn đối với công lao và sự nghiệp của Bác.
Tuy vậy, với mong muốn Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh phải là công trình hoàn mỹ, thể hiện lòng tôn kính Bác và tình cảm keo sơn giữa hai dân tộc Việt Nam – Liên Xô, trong quá trình hội đàm, hai bên cũng thống nhất với nhau rằng: Các cơ quan thiết kế có liên quan của Liên Xô trong quá trình thiết kế có thể bổ sung vào “nhiệm vụ thiết kế” một số thay đổi cần thiết, sau đó sẽ thông báo và thống nhất ý kiến với phía Việt Nam. Những số liệu gốc cần cho việc thiết kế… phía Việt Nam sẽ khẩn trương thu thập và gửi sang Mat-xcơ-va sau hai tuần lễ kể từ khi bạn rời Hà Nội. Việt Nam sẽ cử một số kiến trúc sư, kỹ sư của một số ngành kỹ thuật chủ yếu sang Liên Xô tham gia thiết kế kỹ thuật.

Hai bên nhất trí tiến hành xây dựng Lăng bằng lực lượng cán bộ kỹ thuật và công nhân Việt Nam, có sự giúp đỡ của chuyên gia Liên Xô về kỹ thuật xây, lắp và hiệu chỉnh mà phía Việt Nam không đủ khả năng đảm nhiệm.

Phía Việt Nam nhận giải phóng và tạo mặt bằng thi công, năng lượng điện nước, máy móc thi công, phương tiện vận chuyển, các vật liệu mà trong nước có.

Lần gặp và làm việc đầu tiên này giữa hai đoàn đã gây ấn tượng đẹp đẽ trong tình cảm chung giữa hai Đảng và nhân dân hai nước đối với Bác Hồ kính yêu. Kết quả bước đầu này tạo điều kiện thuận lợi cho những lần làm việc tiếp theo.

Trước khi đoàn cán bộ Liên Xô lên đường về nước, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã gặp và nói chuyện với đoàn. Thủ tướng ân cần hỏi thăm sức khoẻ đồng chí đoàn trưởng và các thành viên trong đoàn. Người đứng đầu Chính phủ ta, một lần nữa nhấn mạnh ý nghĩa trọng đại của việc giữ gìn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh và xây dựng Lăng của Người, cảm ơn Đảng, Nhà nước và nhân dân Liên Xô sẵn sàng giúp đỡ nhân dân ta thực hiện ý nguyện đó và hoan nghênh kết quả làm việc của bạn trong những ngày vừa qua.

Ngày 23 tháng 1 năm 1970, biên bản làm việc giữa hai đoàn được ký kết.

Theo chỉ thị của đồng chí Đỗ Mười, Bộ Kiến trúc chịu trách nhiệm tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện thiết kế về mô hình Lăng, giải pháp mặt bằng của công trình, tìm kiếm và xác định các loại vật liệu xây dựng có trong nước phục vụ cho xây dựng va chuẩn bị tổ chức khai thác cho kịp tiến độ thi công. Phía quân đội có nhiệm vụ tham gia vào thiết kế về kiến trúc, đặc biệt là đề xuất các yêu cầu kỹ thuật bảo đảm giữ gìn thi hài tuyệt đối an toàn trong mọi tình huống.

Bằng sự nỗ lực phi thường của tập thể kiến trúc sư, kỹ sư và cán bộ kỹ thuật và sự chỉ đạo sát sao của lãnh đạo các cấp, chỉ hơn một tháng sau, ta đã hoàn thành phương án “thiết kế sơ bộ” của Lăng. Phương án này đã được Bộ Chính trị thông qua.

Từ ngày 19 tháng 3 đến ngày 6 tháng 5 năm 1970, một đoàn cán bộ gồm ba kiến trúc sư của ta được cử sang Liên Xô tiếp tục làm việc với bạn. Đoàn được phép mang theo phương án thiết kế đã được Bộ Chính trị duyệt sơ bộ.

Khi đoàn tới Mát-xcơ-va, bạn cho biết đã chuẩn bị được năm phương án về bố trí cụm tổng thể của Lăng. Các phương án này đều gần giống với phương án của ta mang sang. Khối lượng công việc đồ sộ mà bạn đã làm không chỉ nói lên thái độ làm việc nghiêm túc, tri thức khoa học kỹ thuật tiên tiến, mà còn biểu lộ tình cảm rất đặc biệt của nhân dân Liên Xô đối với Bác Hồ kính yêu.

Dựa trên những phương án đã có của hai đoàn, một phương án chung có tăng cường các giải pháp kỹ thuật phù hợp môi trường khí hậu nhiệt đới của Việt Nam đã được hình thành. Theo phương án này, phòng đặt hệ thống điều hoà trung tâm tăng từ 400 mét vuông lên 750 mét vuông. Các máy móc chủ yếu đặt trong Lăng đều có dự trữ 100% trở lên, để dù bất kỳ tình huống nào máy móc trong công trình vẫn hoạt động 24/24 giờ trong ngày.

Bản “thiết kế sơ bộ” công trình “Lăng Bác” đặt phiên hiệu là công trình 75808. Bạn sẽ in ấn tài liệu này để Trung ương Đảng và Chính phủ ta phê duyệt.

Từ ngày 15 tháng 5 đến 28 tháng 5 năm 1970, cuộc trình bày và bảo vệ phương án “thiết kế sơ bộ” của các tác giả diễn ra tại Hà Nội. Đoàn Liên Xô do đồng chí Xa Mô-din, đại diện Ban liên lạc kinh tế đối ngoại Liên Xô tại Việt Nam dẫn đầu: Đoàn còn có các đồng chí I-xa-cô-vích kiến trúc sư trưởng đồ án và Bai-cô kỹ sư trưởng đồ án…

Đồng chí Bùi Quang Tạo, Uỷ viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Kiến trúc phụ trách việc xem xét và đánh giá bản đồ án để báo cáo lên Bộ Chính trị và Hội đồng Chính phủ.

Tham gia hội đàm về phía quân đội có các đồng chí:

– Phùng Thế Tài, Phó Tổng tham mưu trưởng.

– Kinh Chi, đại diện Tổng cục Chính trị.

– Trần Bá Đặng, Bộ tư lệnh Công binh và một số đồng chí cán bộ giúp việc khác.

Biên bản làm việc của hai đoàn ghi rõ: Bản “thiết kế sơ bộ” đã được thể hiện với trình độ chuyên môn cao, có chất lượng phù hợp với bản “nhiệm vụ thiết kế” đã được duyệt ngày 19 tháng 1 năm 1970. Đặc biệt, phía Việt Nam ủng hộ phương án mặt đứng số 4, coi đây là phương án tốt nhất.

Sự đánh giá trên là một phần thưởng to lớn đối với tập thể tác giả Liên Xô và Việt Nam sau nhiều ngày đêm lao động cần cù, thông minh và nghiêm túc. Mọi người hồi hộp chờ đợi sự phê duyệt của Bộ Chính trị Trung ương Đảng ta.

Cũng vào thời gian này, tin Bộ Chính trị Trung ương Đảng quyết định xây dựng Lăng Bác, đã lan truyền nhanh đến mọi tầng lớp nhân dân trên mọi miền đất nước. Người Việt Nam nào chẳng mong sớm có một ngày được chiêm ngưỡng Bác, được đặt chân tới nơi an nghỉ của Người. Rất nhiều thư từ hậu phương lớn miền Bắc, từ tiền tuyến lớn miền Nam và cả từ nhiều Việt kiều ở nước ngoài cũng gửi tới Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Chính phủ kiến nghị về thiết kế Lăng, bày tỏ nguyện vọng được đóng góp phần nhỏ bé của mình để đền đáp lại công ơn trời biển của Bác.

Thể theo nguyện vọng của nhân dân, Bộ Chính trị Trung ương Đảng quyết định lùi việc duyệt bản “thiết kế sơ bộ” từ 4 đến 5 tháng, để tổ chức một đợt sáng tác các mẫu thiết kế Lăng và trưng bày các mẫu sáng tác đó, lấy ý kiến tham gia của nhân dân. Phương án mặt đứng số 4 mà Bộ Chính trị đã thông qua được đem trưng bày như nhiều phương án khác để quần chúng lựa chọn.

Cuộc vận động sáng tác mô hình thiết kế Lăng Bác nhanh chóng được sự hưởng ứng rộng rãi của mọi tầng lớp nhân dân trong cả nước và đông đảo Việt kiều, lưu học sinh Việt Nam và cán bộ Việt Nam công tác ở nước ngoài. Chỉ tính thời gian từ cuối tháng 5 năm 1970 tới cuối tháng 8 năm 1970, Ban tổ chức đã nhận được hơn 200 phương án thiết kế khác nhau của 16 đơn vị, ngành và nhiều cá nhân gửi tới. Ban tổ chức đã lập Hội đồng sơ tuyển và chọn được 24 phương án có nhiều ưu điểm nhất để đem trưng bày lấy ý kiến nhân dân.

Để nhân dân, cán bộ, bộ đội giảm bớt khó khăn trong việc tới xem trưng bày các mô hình và góp được nhiều ý kiến, Ban tổ chức cùng một lúc đã tổ chức trưng bày tại năm địa điểm của miền Bắc: Hà Nội, Hải Phòng, Thái Nguyên, Sơn La và Nghệ An.

Tại Hà Nội, phòng trưng bày đặt tại Nhà thông tin Tràng Tiền mở cửa đón đồng bào vào đúng ngày 2 tháng 9 năm 1970, kỷ niệm lần thứ 25 Ngày Bác Hồ đọc Tuyên ngôn độc lập, và bế mạc ngày 30 tháng 10 năm 1970. Sau hai tháng liên tục mở cửa nhưng những ngày cuối cùng vẫn đông nghịt khách tới xem.
Đến phút chót, số người tới xem lên tới 462.499 lượt và có 22.518 người ghi ý kiến tham gia. Những người tới xem triển lãm tuy khác nhau về nghề nghiệp, trình độ, lứa tuổi, song đều giống nhau ở chỗ hết sức trân trọng, chăm chú nghe thuyết minh của từng phương án. Người nào cũng mong có thể đóng góp một ý nào đó để Lăng Bác đẹp hơn, tốt hơn.

Tại Nghệ An, quê Bác, phòng trưng bày mở cửa từ mồng 3 tháng 9 năm 1970 đến ngày 30 tháng 10 năm 1970, đón 23.766 lượt người tới xem. Có 1526 người tham gia ý kiến. Làng Sen những ngày này nhộn nhịp khác thường. Những dòng người bộ hành từ khắp nơi đổ về. Có những cụ già mái tóc bạc phơ, thời trai trẻ từng là đội viên “Xích vệ đỏ” cũng chống gậy đi cả buổi đường tìm đến phòng trưng bày. Có những đơn vị bộ đội trước lúc hành quân ra tiền tuyến lớn, coi việc được thăm quan mô hình Lăng Bác là một phần thưởng để vượt “cổng trời”, xuyên dọc Trường Sơn đi thực hiện lời Bác dặn “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho Nguỵ nhào”.

Tại thị xã Thái Nguyên, từ ngày 1 tháng 10 đến 5 tháng 11 năm 1970 đã đón 66.084 lượt đồng bào các dân tộc khu tự trị Việt Bắc tới thăm phòng trưng bày mô hình Lăng Bác và có 2.864 ý kiến tham gia.

Phòng trưng bày ở Sơn La mở cửa từ 1 tháng 10 đến 1 tháng 11 năm 1970 đã có 26.623 lượt đồng bào các dân tộc Tây Bắc tới thăm và có 1069 người đã đóng góp ý kiến. Đồng bào Tây Bắc biểu lộ niềm xúc động mộc mạc, chân thành. Nhiều người bước và phòng triển lãm ôm mặt khóc rất to. Đồng bào nói gọn mấy câu: Xây Lăng cho thật đẹp, thật to, thật nhanh lên để những người Thái, người Mèo… thoả lòng mong ước…

Cuộc triển lãm tại thành phố Hải Phòng mở cửa muộn nhất (ngày 2 tháng 10 năm 1970) và cũng đóng cửa sau cùng (ngày 8 tháng 11 năm 1970). Trong 32 ngày mở cửa đã có 164.565 lượt đồng bào, cán bộ và chiến sĩ thành phố Cảng và vùng duyên hải tới thăm. Có 6035 ý kiến tham gia.

Cuộc trưng bày và tuyển chọn mô hình Lăng Bác đã thu được kết quả rất tốt đẹp. Có 745.487 lượt người tới thăm và 34.022 người tham gia ý kiến. Trong đó có 5.477 ý kiến của cán bộ, chiến sĩ quân đội nhân dân. Điều đó cũng nói lên một phần tình cảm đặc biệt của cán bộ chiến sĩ quân đội ta đối với Bác Hồ muôn vàn tôn kính – Người Cha thân yêu của các lực lượng vũ trang nhân dân ta.

Trong đợt trưng bày để tuyển chọn mẫu thiết kế Lăng Bác, quân đội ta chỉ tham gia hai mẫu thiết kế. Đây là hai trong số năm phương án có số phiếu cao nhất trong các cuộc trưng bày: phương án số 1 của Viện thiết kế dân dụng thuộc Bộ Kiến trúc (phương án đã được lãnh đạo sơ duyệt); phương án số 10 của Viện thiết kế quy hoạch thành thị nông thôn thuộc Bộ Kiến trúc; phương án số 13 do một số cán bộ thuộc Bộ Giao thông vận tải, Bộ Cơ khí luyện kim và Trường Đại học Xây dựng “đồng tác giải”; và hai phương án 15 và 16 của quân đội.

Mỗi dân tộc có cách tưởng niệm các danh nhân, các tướng soái của mình, bằng các công trình tưởng niệm kiến trúc mang đặc thù riêng, phản ánh vai trò, vị trí xã hội của nhân vật lịch sử đối với nhân dân và thời đại. Ngót 5.000 năm đã trôi qua, loài người vẫn chưa hết ngạc nhiên về những Kim tự tháp Ai Cập – mộ chí của các đời vua dòng họ Pha-ra-ông. Kim tự tháp Kê-ốp được tạo nên bởi hai triệu phiến đá, mỗi phiến đá nặng trên hai tấn. Tháp cao tới 148 mét. Qua nhiều niên đại, ngôi mộ này vẫn là công trình cao nhất thế giới. Chỉ tới năm 1889, tháp Ép-phen của Pháp mới phá được kỷ lục này.

Đầu thế kỷ XX, ở La Mã đã khánh thành đài kỷ niệm hoàng đế đầu tiên của nước Ý thống nhất, được xây dựng sau 25 năm. Kích thước to lớn, có hàng cột hiên khổng lồ gồm 60 cột và một cầu thang rộng dần lên. Sau đó vài năm ở Oa-sinh-tơn cũng khánh thành đài kỷ niệm Lin-côn được xây dựng dưới hình thức đền thờ cổ Hy Lạp, bao quanh bằng 36 cột lớn.

Lăng Lê-nin đã thu hút được sự chú ý của những người thiết kế. Bộ phận chính của Lăng là một khối vuông tượng trưng cho sự vĩnh cửu. Trên đỉnh Lăng là một kim tự tháp ba cấp. Hình thức chung vẫn là một kim tự tháp dật cấp. Đỉnh được bố trí dưới hình thức nắp quan tài đặt trên những cột gỗ màu đen. Lối bố cục kết thúc khối chính thể hiện hàm ý tư tưởng đời đời tưởng niệm.

Phương án số 1 mà những nét đặc trưng đã được chọn để xây dựng Lăng Bác hiện nay, khối chính của Lăng đặt trên bệ tam cấp rất thân thuộc với phong cách Việt Nam. Thân Lăng gợi hình dáng một ngôi nhà 5 gian giản dị. Bậc tam cấp một lần nữa nhắc lại ở mái Lăng. Hình vát ở mái Lăng gợi lên sự gần gũi những đường nét mài đình làng hay ở đền thờ các danh nhân đất nước.

Ở phương án số 10, Lăng Bác là một quần thể kiến trúc, cổng đồng thời dùng làm lễ đài cho các ngày lễ lớn. Khách đi viếng Bác sẽ vào cổng qua khu sân vườn, hồ nước, cây cảnh… rồi mới tới nơi Bác an nghỉ. Phương án này – theo lập luận của tác giả – sẽ làm cho Lăng thêm tôn nghiêm hơn, hợp với phong tục tập quán Việt Nam. Nhìn chung các đường nét kiến trúc toát lên chất Á Đông, nhưng đã tước bỏ nhiều trang trí rườm rà khi khai thác vốn cổ dân tộc.
Phương án số 13 lấy chủ đề từ câu ca dao: “Tháp Mười đẹp nhất bông sen” và Bác sinh ra từ Làng Sen xứ Nghệ.

Lăng Bác như một khối bông sen cách điệu ở giữa một hồ sen. Số người không đồng ý phương án này cho rằng lấy bông sen làm hình tượng cuộc đời Bác chưa hẳn đúng. Tạo hình bông sen có tính Phật giáo. Hoa sen cách điệu, trừu tượng quá, nhiều người không nhận ra.

Phương án số 15 của tập thể cán bộ thiết kế thuộc Bộ tư lệnh Công binh: quần thể kiến trúc Lăng gồm khối chính của Lăng, cổng, vườn cây. Khối chính của Lăng, nơi an nghỉ mang dáng dấp một ngôi nhà ba gian có tam cấp. Đặc biệt các đồng chí công binh thiết kế hai đoạn đường dốc cho lối vào thăm Bác và lối ra để các đồng chí thương binh có thể ngồi xe đẩy lên thăm Bác.

Phương án số 16 của tập thể cán bộ thiết kế thuộc Cục Kiến thiết cơ bản Tổng cục Hậu cần là một phương án độc đáo: Tại khu vực Ba Đình, đắp một quả núi (khoảng 1 triệu mét khối đất) xây Lăng Bác trên quả núi này. Trên đỉnh Lăng có thiết kế giống như một lầu thơ. Xung quanh Lăng là hồ nước và cây cối. Rất nhiều ý kiến đồng tình vì cho rằng mộ tổ tiên của chúng ta (đền Vua Hùng) cũng xây theo lối này. Hàng năm nhân dân ta sẽ tới đây trồng cây nhớ ơn Bác. Từ rất xa, mọi người đã có thể nhìn thấy Lăng Bác. Lầu thơ gợi khung cảnh Bác đang sống và làm việc. Những ý kiến không đồng tình cho rằng: Lầu thơ trông giống như “Khuê văn các”, những đường nét cổ kính ở đây không phù hợp với tính hiện đại của cấu trúc phía dưới. Vả chăng Bác Hồ khi còn sống, Người làm thơ trong khung cảnh giản dị, thấm đậm thiên nhiên, trong những phút nghỉ ngơi hiếm hoi giữa bộn bề công việc.

“Trăng vào cửa sổ đòi thơ
Việc quân đang bận xin chờ hôm sau”

Mặt khác việc đắp một quả núi giữa lòng Thủ đô rất khó thực hiện, đường vào viếng Bác quá cao, gây khó khăn cho các cụ già, các cháu nhỏ và những người tàn tật.

2. Ngoài những ý kiến đóng góp cụ thể vào các phương án đã từng trưng bày còn có 6.627 ý kiến đóng góp chung. Một số người chưa bằng lòng với tất cả các phương án đã trưng bày. Họ cho rằng cần có thời gian nghiên cứu thêm, cần tiếp tục cuộc thi sáng tác về mô hình Lăng Bác. Về vị trí Lăng có nhiều ý kiến khác nhau. Có người đề nghị Lăng nên nằm trong vườn Phủ Chủ tịch gần nhà sàn, có người muốn Lăng đặt trước Phủ Chủ tịch gần trường trung cao quân đội trước đây. Có ý kiến muốn Lăng xây gần Tam Đảo, gần Đền Hùng hoặc ở quê hương Bác. Không ít ý kiến đề nghị khối chính của Lăng nên tách khỏi lễ đài cho tăng phần tôn nghiêm. Lăng nên quay về hướng Nam, phù hợp với phong tục làm nhà của nhân dân ta và cũng phù hợp với tấm lòng của Bác luôn hướng về đồng bào miền Nam – Thành đồng Tổ quốc.

Thư của đồng bào, chiến sĩ các lực lượng vũ trang và kiều bào ở nước ngoài – những người không có may mắn được xem trưng bày các mô hình Lăng – đã gửi tới Ban tổ chức triển lãm rất nhiều và phong phú:

Đồng chí Nguyễn Trọng Hiệp, bộ đội hòm thư 47-170-OR đề nghị xây “Núi Bác Hồ”, tác giả viết:

“Cuộc đời của Bác gắn liền với lịch sử dân tộc và lịch sử đấu tranh của những người bị áp bức trên toàn thế giới. Đề nghị làm “Núi Bác Hồ” là một công trình độc đáo của dân tộc mà cũng là công trình độc đáo của thế giới”.

Phác thảo của đề tài này là: Dùng bộc phá đã được tính toán để đục một quả núi thành một pho tượng Bác Hồ, theo mẫu thiết kế có đường nét đơn giản nhưng thể hiện được phong cách của Bác. Đây sẽ là một công trình điêu khắc độc đáo và sẽ biến nơi đây thành danh lam thắng cảnh ở nước ta, ở đây sẽ kết hợp nhiều công trình nghệ thuật khác có ý nghĩa chính trị, lịch sử đấu tranh của Đảng, của dân tộc và phong trào cộng sản quốc tế.

Ông Kim Cúc, cán bộ hưu trí tại xóm I thị trấn Lào Cai, mặc dù đang lâm bệnh hiểm nghèo cũng gửi ý nguyện của mình qua những dòng thư cảm động. “Bác luôn nhớ miền Nam, Lăng Bác nên hướng về Nam. Bác đi bốn biển năm châu tìm đường cứu dân, cứu nước và góp phần giải phóng loài người khỏi áp bức, nô lệ. Vì vậy chỗ Bác nằm nên kiến trúc hình quả cầu lát gạch hoa sao cho màu gạch nổi lên tấm bản đồ thế giới. Cửa Lăng hãy trồng các loại hoa quả, nhưng đừng quên trồng giống hoa “bất tử” giống như sự nghiệp của Bác còn mãi mãi”.

Anh Đinh Lệnh, 40 tuổi, xã viên hợp tác xã thủ công rạng Đông, thị trần Quảng Yên, sau khi được nghe bà con đi xem triển lãm mô hình Lăng tại Hải Phòng về kể lại, anh đã suy nghĩ rất nhiều và ngày 10 tháng 11 năm 1970, anh đã viết thư lên Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Hội đồng Chính phủ. Thư anh viết: “Lấy gì để đền đáp công ơn cao sâu đối với Bác Hồ, với Đảng để trọn nghĩa nhỏ của người làm dân?”. Sau một tháng suy nghĩ. Anh đã phác thảo được một số bản vẽ mô hình nhà cửa, tuyển lựa các giống cây hợp với thân thế của Bác. Anh muốn được chuyển phương án này lên Trung ương Đảng và Chính phủ xem xét. Anh nói: “Nếu không đạt, tôi sẽ để ở nhà và thờ. Bác Hồ sẽ mãi mãi trong tâm hồn gia đình chúng tôi”.

Ông Trần Nhất Thống, cán bộ Tổng cục Thuỷ sản, ngày 20 tháng 10 năm 1970 đã gửi phương án Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh lên văn phòng đồng chí Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Theo ông, các phương án trong triển lãm cần được thể hiện sâu sắc hơn nữa tính dân tộc và trang nghiêm, đó là hai yêu cầu chủ yếu đối với Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tác giả đề nghị bổ sung vào phương châm xây dựng Lăng Bác: có ý nghĩa lịch sử.

Tác giả phân tích cuộc đời hoạt động cách mạng của Bác Hồ và đề nghị nên phỏng theo hình ảnh hang Pác Bó thật để xây dựng Lăng, ông nhắc đến bốn câu thơ đầy ý nghĩa của Bác:

“Non xa xa, nước xa xa
Chẳng phải thênh thang mới gọi là
Đây suối Lê-nin, kia núi Mác
Hai tay xây dựng một sơn hà”

Và nhấn mạnh cần xây dựng thu gọn phong cảnh này vào Lăng để làm cho ý nghĩa Lăng thêm phong phú và tăng vẻ trang nghiêm hùng vĩ.

Trong phương án của ông có nhóm tượng đài mang ý nghĩa Bác Hồ luôn gần gũi, lãnh đạo mọi tầng lớp nhân dân “Đoàn kết – chiến đấu – sản xuất – học tập” có tác dụng động viên mọi thế hệ con người Việt Nam tiếp tục phấn đấu cho sự nghiệp cách mạng mà Bác đã vạch ra.

Bà Phùng thị Cúc, một Việt kiều tại Pa-ri đã gửi thư, ảnh mô hình Lăng Bác để Ban tổ chức xem xét. Theo mô hình này, trùm lên trên hết là một thanh gươm không lưỡi. Bên trái là một em bé ôm lấy quan tài, bên phải là một em bé khác nũng nịu cụng đầu vào. Mô hình Lăng toát lên ý nghĩa: Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu chuộng hoà bình và thương yêu trẻ thơ.

Anh Đặng Đậu, sinh viên khoa kiến trúc tại Xô-phi-a (Bun-ga-ri) viết thư về nước đã vẽ mô tả tỉ mỉ Lăng Đi-mi-tơ-rốp để ở nhà tham khảo.

Các bạn quốc tế cũng hết sức quan tâm đến cuộc triển lãm các mô hình. Đồng chí giám đốc cơ quan đại diện Thông tấn xã Nô-vốt-ni (Liên Xô ) tại Hà Nội viết thư đề nghị được gặp đồng chí lãnh đạo triển lãm để thu lượm tình hình…

Cuộc triển lãm mô hình Lăng Bác đã thành công tốt đẹp. Chủ trương vận động quần chúng tham gia thiết kế và trưng bày để lấy ý kiến đóng góp của nhân dân là hết sức đúng đắn và sáng suốt. Qua những ý kiến, kiến nghị của nhân dân càng thể hiện trí tuệ của quần chúng nhân dân thật vô cùng to lớn, đa dạng và phong phú. Số đông ý kiến tán thành chọn phương án thiết kế số 1. Có 1.326 ý kiến đề nghị chọn những nét tinh hoa của phương án khác để bổ sung và sửa đổi phương án này. Bộ Chính trị đã chỉ thị cho các nhà thiết kế nghiêm túc nghiên cứu, tiếp thu các ý kiến trên để hoàn thiện bản thiết kế sơ bộ. Tuy nhiên, thời gian lấy ý kiến nhân dân chưa được nhiều so với một công trình có tầm vóc lịch sử, nên chưa thoả mãn lòng mong mỏi của tất cả mọi người. Nhiều đề xuất, nhiều phương án đang hình thành cần có thêm thời gian đầu tư. Nhưng mong muốn công trình Lăng hoàn thành sớm cũng là đòi hỏi vô cùng lớn của quần chúng. Mọi việc không thể kéo dài hơn được nữa.

Ngày 14 tháng 8 năm 1970, Hội đồng Chính phủ họp và ra Nghị quyết thành lập ban phụ trách xây dựng Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh và cử đồng chí Phó thủ tướng Đỗ Mười trực tiếp phụ trách để chăm lo mọi công việc cần thết.

Chỉ sau 10 ngày kết thúc đợt triển lãm mô hình Lăng, Chính phủ ta lại cử đoàn cán bộ đi Liên Xô mang bản “thiết kế sơ bộ” đã được tổng hợp các ý kiến của nhân dân sang làm việc với bạn. Đoàn gồm 4 người do đồng chí Nguyễn Ngọc Chân, Viện trưởng Viện thiết kế dân dụng Bộ Kiến trúc làm trưởng đoàn, trong đó có đồng chí đại uý Nguyễn Trọng Quyền là cán bộ thiết kế của quân đội, một trong những tác giả của bản “thiết kế sơ bộ”.

Sau ba tuần trao đổi sôi nổi và khẩn trương giữa ta với bạn, phương án “thiết kế sơ bộ” của ta đã được bạn đồng ý. Tuy vậy, bằng kinh nghiệm và giác quan nghề nghiệp tinh tế, bạn đã đề xuất thêm nhiều ý kiến như: nên nghiên cứu để mái Lăng nhẹ và thanh thoát hơn, tỷ lệ các phần ở khối chính của Lăng cân đối hơn. Nên tách hai lễ đài phụ khỏi lễ đài chính để tăng thêm vẻ tôn nghiêm của Lăng. Tại Mát-xcơ-va đoàn đã nhận được điện từ trong nước thông báo: Bộ Chính trị Trung ương Đảng đã đồng ý những đề xuất trên của bạn.

Quân đội đề nghị cần có thêm nguồn điện thứ ba cho Lăng. Cần tăng cường công tác bảo vệ bằng các biện pháp kỹ thuật. Cầu thang ở hậu sảnh lên phòng làm thuốc cần đặt ở vị trí kín đáo hơn. Đoàn ta đã báo cáo và được ở nhà đồng ý để bạn đưa vào nhiệm vụ thiết kế “buồng đặc biệt”. Buồng đặc biệt này khi có tình huống chiến tranh vẫn giữ được thi hài tại chỗ, chống được các loại bom và chống được độ rung khi bom nổ trên mặt đất. Đoàn ta đề nghị bạn cung cấp những thiết bị đã được nhiệt đới hoá và cùng chủng loại để dễ thay phụ tùng và thay thế cho nhau. Ta cũng yêu cầu bạn bảo đảm cho người viếng nhìn thấy rõ thi hài, kính quan tài phải chịu được xung lực cơ học lớn, đề phòng cả tình huống bất trắc có thể xảy ra thì thi hài vẫn tuyệt đối an toàn.

Tất cả những yêu cầu và bổ sung của đoàn ta đều được bạn nhất trí. Kết quả làm việc nói trên đã được báo cáo lên hai Chính phủ Việt Nam – Liên Xô. Đây là điều kiện chín muồi để hai nước ký kết một hiệp định có tính chất pháp lý cao nhất nhằm đẩy nhanh tiến độ chuẩn bị và xây dựng Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Ngày 9 tháng 2 năm 1971, tại Mát-xcơ-va “Hiệp định giữa Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà và Chính phủ Liên bang Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Xô-viết về việc Liên Xô giúp đỡ kỹ thuật cho Việt Nam trong việc giữ gìn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh và xây dựng Lăng của Người” đã được đại diện hai Chính phủ là Phó thủ tướng Lê Thanh Nghị và Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô Nô-vi-cốp ký kết.

Hiệp định ghi rõ:

“Thông qua các tổ chức hữu quan Liên Xô, Chính phủ Liên bang Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Xô viết giúp đỡ không hoàn lại về mặt kỹ thuật cho Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà trong việc giữ gìn lâu dài thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh và xây dựng Lăng của Người ở Hà Nội với khối lượng và thời hạn ghi trong phụ lục kèm theo Hiệp định này”.

“Qua các tổ chức hữu quan Việt Nam, Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà bảo đảm việc thi công xây dựng Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh với sự giúp đỡ kỹ thuật của các chuyên gia Liên Xô…”

Từ đó đến khi có được chính thức bản thiết kế sơ bộ và bản thiết kế kỹ thuật là cả một quá trình lao động công phu, bền bỉ, đầy trách nhiệm của hai đoàn Việt Nam và Liên Xô. Mỗi lần đoàn ta sang Liên Xô làm những việc tiếp theo đều gặp đoàn bạn đang say mê làm việc và đều được trông thấy những thành quả bất ngờ và hết sức cảm động. Mỗi văn bản, mỗi công việc dù to nhỏ đều được hai đoàn thảo luận tỉ mỉ thấu đáo. Đảng, Chính phủ và nhân dân Liên Xô đã dành cho công việc này những trí tuệ tài năng tinh tuý của mình, đã cử các cán bộ đầu ngành, những chuyên gia đầy tài năng, như đồng chí I-xa-cô-vích Ga-ron- một kiến trúc sư nổi tiếng đã từng nhận được giải thưởng quốc gia – phụ trách kiến trúc sư trưởng của đồ án. Tổng công ty xây dựng thuộc Xô viết Mát-xcơ-va phụ trách thiết kế tổ chức thi công phần xây dựng và sẽ cử chuyên gia xây lắp sang giúp đỡ ta. Một viện chuyên ngành có uy tín đảm nhận phần thiết kế hệ thống chữa cháy. Bộ đội công binh Liên Xô đảm nhiệm công trình bảo vệ đặc biệt. Ngành du hành vũ trụ thiết kế và chế tạo thiết bị quan tài, v.v.

Với tấm lòng tôn kính và biết ơn Chủ tịch Hồ Chí Minh , Đảng, Chính phủ và nhân dân ta đã tuyển chọn các cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên ưu tú vào công việc xây dựng Lăng.

Ngày 3 tháng 11 năm 1971, Thủ tướng Phạm Văn Đồng ký quyết định chính thức thành lập Ban phụ trách xây dựng Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, gồm:

– Đồng chí Đỗ Mười, Phó Thủ tướng: Trưởng ban.

– Đồng chí Bùi Quang tạo, Bộ trưởng Kiến trúc: phó trưởng ban.

– Đồng chí Phùng Thế Tài, Phó Tổng Tham mưu trưởng: uỷ viên.

Cùng ngày, Phó Thủ tướng Đỗ Mười đã ký quyết định thành lập Ban chỉ huy công trình xây dựng Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh (lấy phiên hiệu là Công trường 75808) do kiến trúc sư Vương Quốc Mỹ, Thứ trưởng Bộ Kiến Trúc làm chỉ huy trưởng. Theo quyết định này, đồng chí thượng tá Trần Bá Đặng, tư lệnh Công binh được cử làm phó chỉ huy thứ nhất công trường và đồng chí trung tá Lương Soạn, phó tham mưu trưởng Binh chủng Công binh được cử làm phó chỉ huy công trường.

Từ mồng 3 tháng 12 năm 1971 đến 31 tháng 12 năm 1971, tại Hà Nội đã tiến hành đợt xét duyệt chính thức bản thiết kế kỹ thuật của Lăng. Đoàn Liên Xô mang bản thiết kế kỹ thuật sang làm việc lần này do đồng chí Vô-dơ-chi-nhin, đại diện uỷ quyền của Tổng cục Kỹ thuật và Uỷ ban liên lạc kinh tế đối ngoại của Liên Xô dẫn đầu. Thành viên có đầy đủ các tác giả của bản thiết kế. Đoàn cán bộ Việt Nam gồm 14 đồng chí do đồng chí Nguyễn Ngọc Chân làm trưởng đoàn và các đồng chí Lương Soạn (phó đoàn), Nguyễn Tư Sô, Nguyễn Trọng Quyền, Bùi Danh Chiêu, Nguyễn Trung Thành, Trần Quốc Dân là những cán bộ quân đội tham gia. Nhiệm vụ của đoàn là xem xét bản thiết kế kỹ thuật do bạn trình bày, góp ý kiến bổ sung trước khi đưa trình Bộ Chính trị.

Hai bên xác nhận bản thiết kế kỹ thuật đã dưa trên cơ sở các bản nhiệm vụ thiết kế và thiết kế sơ bộ mà Đảng và Chính phủ Việt Nam đã phê duyệt trước đây. Hai bên cũng thống nhất bổ sung sửa đổi một số điểm cụ thể cho thật thích hợp.

Liên Xô sẽ cung cấp các bản vẽ thi công cho công trình trong vòng 12 tháng, cung cấp các thiết bị, vật tư, vật liệu trong vòng 27 tháng kể từ ngày Đảng, Chính phủ Việt Nam duyệt bản thiết kế kỹ thuật này.

Phía Việt nam khẳng định công tác chuẩn bị thi công sẽ xong trước thánh 8 năm 1972 và sẽ khởi công vào tháng 9 năm 1972.

Ngày 31 tháng 12 năm 1971 được Bộ Chính trị Trung ương Đảng đồng ý, Thường vụ Hội đồng Chính phủ đã ký quyết định phê chuẩn bản “thiết kế kỹ thuật” nói trên.

Như vậy, sau hai năm chuẩn bị, trí tuệ của lãnh đạo, tinh thần lao động nghiêm túc và hăng say của tập thể các nhà khoa học – kỹ thuật Việt Nam-Liên Xô cộng với sự đóng góp ý kiến sâu sắc của đông đảo quần chúng, một văn bản kỹ thuật cơ bản của Lăng Bác đã được cấp lãnh đạo cao nhất của Đảng và Nhà nước ta xác nhận có hiệu lực. Nó mang tính định hướng cho mọi công việc tiếp theo.

Ban phụ trách xây dựng Lăng cũng đã họp khẳng định quyết tâm khánh thành Lăng vào ngày 2 tháng 9 năm 1973. Bộ Quốc phòng được giao nhiệm vụ là bên A của công trình (bên chủ quản công trình sau khi xây dựng xong) và phụ trách lắp ráp toàn bộ thiết bị bên trong công trình. Đây là sự tín nhiệm rất cao, đồng thời cũng là nhiệm vụ rất nặng nề của Đảng và Nhà nước trao cho quân đội.

Bộ Quốc phòng giao cho Bộ tư lệnh Công binh làm nòng cốt trong tổ chức lực lượng thi công, phối hợp với các cơ quan Bộ để tuyển chọn cán bộ, chiến sĩ, công nhân kỹ thuật ưu tú ở các quân chủng, binh chủng trong toàn quân…

Được sự đồng ý của Bộ Tổng tham mưu, Bộ tư lệnh Công binh quyết định thành lập ngay một bộ khung cỡ trung đoàn cho đơn vị thi công lắp ráp, lấy tên trung đoàn 9B. Những cán bộ đầu tiên của đơn vị xuất thân từ trung đoàn 259 – một trung đoàn công binh kiến trúc tin cậy của binh chủng – đã từng xây dựng các công trình tuyệt mật của Trung ương Đảng, Chính phủ và quân đội trong chiến tranh. Các đồng chí Nguyễn Văn Tý, trung đoàn trưởng; Văn Đình Khánh, chính uỷ; Ngô Văn Hiển, chủ nhiệm chính trị; Nguyễn Trọng Quyền tham mưu trưởng và các đồng chí Nguyễn Đức Nghị, Ma Văn Lộc, Nguyễn Trung Thành, Bùi Danh Chiêu, Trần Quốc Dân… là những cán bộ đầu tiên của trung đoàn 259B.

Việc trước hết và nóng bỏng nhất là phối hợp với các cơ quan đơn vị phối hợp tuyển chọn ngay một số cán bộ (đặc biệt là cán bộ kỹ thuật) ở các quân binh chủng để bổ sung cho đơn vị. Công tác tuyển chọn được đặt ra hết sức nghiêm ngặt. Người được tuyển chọn phải có lai lịch chính trị rõ ràng, trong sạch, có phẩm chất, năng lực đảm đương được nhiệm vụ hết sức mới mẻ, nặng nề và thiêng liêng này.

Lúc đầu những người trong Ban tổ chức phải đi gặp trực tiếp người dự kiến tuyển chọn. Cách làm này thận trọng nhưng mất nhiều thời gian. Từ tháng 12 năm 1971 đến tháng 4 năm 1972 mới chọn thêm được 8 cán bộ thuộc Cục Quân giới và Quân chủng Phòng Không Không quân. Ngoài ra còn tuyển chọn một số hạ sĩ quan, chiến sĩ làm công tác phục vụ ở cơ quan.

Ngày 28 tháng 2 năm 1972, trung đoàn 259B – đơn vị lắp ráp các thiết bị máy móc của Lăng – chính thức ra đời, còn có tên là Đoàn Ba Đình vì được thành lập để làm nhiệm vụ thiêng liêng tại mảnh đất Ba Đình lịch sử.

Những cán bộ được tuyển chọn về đây đã sớm ý thức đầy đủ trách nhiệm và vinh dự của mình. Có nhiều đồng chí trước khi về đơn vị mới chỉ được biết là đi làm nhiệm vụ đặc biệt. Tổng số cán bộ của đơn vị lúc này chỉ có 20 đồng chí. Người ít, nhưng công việc lại rất nhiều và mới mẻ. Nghiên cứu các bản thiết kế kỹ thuật do Liên Xô gửi sang, thống kê khối lượng công việc, bàn các giải pháp thi công, dự trù trang thiết bị dụng cụ thi công, dự kiến nhân lực, tổ chức lực lượng và tu sửa doanh trại… Những cán bộ, chiến sĩ đầu tiên này đã làm việc với niềm say mê, với không khí hồ hởi, phấn khởi chuẩn bị cho mình và các đồng chí về sau những cơ sở, điều kiện cần thiết để hoàn thành nhiệm vụ sắp tới.

Ngày 5 tháng 2 năm 1972, Thủ tướng Chính phủ cũng ra quyết định chính thức phân công nhiệm vụ cho cán bộ, các ngành, các địa phương tham gia xây dựng công trình 75808, trong đó hai lực lượng nòng cốt là Bộ Kiến trúc và Bộ Quốc phòng.

Các lực lượng được phân công đã nhanh chóng có mặt tại Quảng trường để trù liệu mọi công việc theo chức năng của mình. Quảng trường Ba Đình náo nhiệt khác thường. Từ anh công nhân bưu điện, chị nhân viên công ty công viên đến kỹ sư mặc áo lính, hồ hởi làm quen với nhau, hoà vào nhau rất thân tình, cởi mở và sẵn sàng hỗ trợ, tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho nhau hoàn thành nhiệm vụ.

Ở trung đoàn 259B, cả những lúc ăn, lúc nghỉ vẫn không ngớt những lời bàn bạc công việc. Đêm đêm, những mái đầu chụm lại tính toán, lo âu… Những tin tức về các trận thắng giòn giã từ miền Nam dội về, như những đợt sóng dâng trào làm nức lòng cán bộ và chiến sĩ, thôi thúc họ cố gắng tranh thủ thời gian hơn nữa để kịp ngày đồng bào miền Nam ra thăm Bác.

Nhưng giữa lúc đó thì một sự kiện đột xuất đã xảy ra khiến họ sững sờ, căm giận. Mặc dầu bị thất bại thảm hại ở chiến trường, bị cả nhân loại tiến bộ lên án mạnh mẽ, nội bộ nước Mỹ mâu thuẫn và chia rẽ sâu sắc, song đế quốc Mỹ vẫn muốn tìm lối ra trong “con đường hầm” ở Việt Nam bằng sức mạnh bom đạn. Ngày 16 tháng 4 năm 1972, Ních-xơn ra lệnh ném bom trở lại miền Bắc, đánh phá dã man Hải Phòng và Hà Nội, tiếp đó chúng phong toả cảng Hải Phòng và các cửa biển khác của miền Bắc.

Sau khi xem xét mọi mặt, Bộ Chính trị quyết định tạm dừng xây dựng Lăng theo tiến độ. Chính phủ ta cũng thông báo cho Chính phủ Liên Xô quyết định này, và như vậy mọi công việc đang tiến hành cho công trình cũng đều dừng lại. Đất nước ta lại đương đầu với những thử thách mới: chiến tranh lan rộng ra cả nước. Nhân dân miền Bắc dồn sức đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân của Mỹ, tăng cường chi viện sức người sức của cho chiến trường. Quân và dân miền Nam liên tục mở những chiến dịch lớn giáng trả những đòn đích đáng vào cuộc chiến tranh leo thang của chúng.

Cuộc chiến đấu cực kỳ anh dũng của quân và dân hai miền Nam-Bắc nhằm thực hiện lời kêu gọi thiêng liêng của Bác ngày nào “Không có gì quý hơn độc lập tự do… Hà Nội, Hải Phòng có thể bị tàn phá … nhưng nhân dân ta quyết không sợ. Đến ngày thắng lợi nhân dân ta sẽ xây dựng đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”.

Cán bộ, chiến sĩ đơn vị xây dựng Lăng Bác những ngày này chôn rộn không yên. Làm gì đây, trong khi cả dân tộc đang nước sôi lửa bỏng? Chờ đợi đến bao giờ? Có ý kiến đề nghị nên giải tán bộ phận này. Có người đề nghị ra mặt trận, có người ngỏ lời xin về đơn vị cũ… Trước tình hình đó, Quân uỷ Trung ương vẫn quyết định duy trì lực lượng nòng cốt này, tiếp tục chuẩn bị khi thời cơ đến là lúc có lực lượng làm ngay. Đây là sự chỉ đạo, định hướng rất sáng suốt. Thực tiễn diễn ra khoảng 8 tháng sau đó đã chứng minh tính đúng đắn của quyết định này. Sau khi Hiệp nghị Pa-ri được ký kết, nếu không có bộ phận “lót ổ” này chắc chắn không thể tiến hành thuận lợi việc tiếp tục xây dựng Lăng.

Công việc sau khi có quyết định đình hoãn việc xây Lăng cũng không kém phần khẩn trương phức tạp. Đơn vị triển khai đợt sinh hoạt chính trị ngắn gọn, xác định nhiệm vụ và ổn định tư tưởng cho mọi cán bộ, chiến sĩ. Tiếp đó là những ngày khẩn trương đào hầm hố, tập dượt phòng cháy, chữa cháy để bảo vệ an toàn doanh trại. Và tiếp tục nghiên cứu bản thiết kế kỹ thuật, đàm luận các phương án thi công ngay trên miệng hầm. Tiếng còi báo động của thành phố xen kẽ với tiếng máy bay gầm rú của địch, tiếng quân và dân Hà Nội đã thôi thúc quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ của đơn vị. Trong đợt 12 ngày đêm “Điện Biên Phủ trên không” của Hà Nội, chiến sự xảy ra hết sức ác liệt. Để bảo vệ tuyết đối an toàn lực lượng, cấp trên đã chỉ thị cho đơn vị sơ tán. Song ở nơi sơ tán anh em cán bộ, chiến sĩ vẫn tiếp tục hăng say làm việc.

Có thể nói, cuộc đánh phá miền Bắc lần thứ 2 của đế quốc Mỹ có làm gián đoạn tiến độ xây dựng Lăng, nhưng không hề làm gián đoạn mọi công tác chuẩn bị của cán bộ, chiến sĩ Đoàn Ba Đình. Khẩu hiệu hành động của Đoàn lúc này là: “Hãy tìm ra những thuận lợi từ những khó khăn” chuẩn bị thật tốt cũng có nghĩa là tạo điều kiện rút ngắn thời gian thi công.

Ngày 25 tháng 10 năm 1972, đồng chí Lê Quang Đạo, thay mặt Quân uỷ Trung ương và Tổng cục Chính trị gặp gỡ cán bộ phụ trách xây dựng Lăng. Sau khi nhắc lại nhiệm vụ của quân đội ta được phân công trong xây dựng Lăng Bác, đồng chí căn dặn thêm: Quân đội phải cùng với Bộ Kiến trúc đề xuất các vấn đề trong thiết kế, làm cho thiết kế phù hợp với tình hình, đặc điểm thi công, sử dụng và bảo quản của ta. Kết hợp với nhiệm vụ thi công mà đào tạo đội ngũ cán bộ, công nhân kỹ thuật giỏi, sau này phục vụ lâu dài trong quân đội. Đồng chí Lê Quang Đạo nhấn mạnh: “Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh là công trình đặc biệt, nên tổ chức cũng đặc biệt. Cán bộ, công nhân kỹ thuật tham gia làm Lăng phải có chất lượng chính trị cao, trình độ kỹ thuật giỏi, có sức khoẻ, có trình độ văn hoá để tiếp thu khoa học nhanh, phục vụ được lâu dài”. Sự động viên của đồng chí Lê Quang Đạo làm cho mọi người phấn khởi, thấy rõ hơn trách nhiệm rất nặng nề nhưng cũng rất vinh quang của mình. Quyết tâm của anh em càng được củng cố để vượt qua những khó khăn, trở ngại trước mắt.

Trong đợt đánh phá đầu tiên hồi tháng 4 năm 1972 vào Hà Nội, không quân Mỹ đã điên cuồng đánh phá bừa bãi không phân biệt các mục tiêu quân sự hay dân sự. Một quả tên lửa của địch đã bắn vào khu Phủ Chủ tịch, gây ra một số thiệt hại. Điều này đã làm cho các đồng chí lãnh đạo suy nghĩ tới việc phải bảo vệ ngôi nhà sàn của Bác. Ngày 18 tháng 4 năm 1972 các đồng chí Hoàng Văn Thái, Kinh Chi, Trần Bá Đặng, giao cho trung đoàn 259B nhiệm vụ: Thực hiện các biện pháp bảo vệ an toàn ngôi nhà sàn của Bác. Ngày 20 tháng 4 năm 1972, đơn vị bắt đầu thi công, anh em đã làm việc này với tất cả tấm lòng tôn kính Bác, sâu sắc và đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.

Những ngày máy bay B52 Mỹ rải bom vào Hà Nội hồi cuối 1972, tình hình giao thông ở Thủ đô cực kỳ căng thẳng. Nhiều đoạn đường vào Thủ đô bị bom cày xới không đi lại được. Có những hố còn rải rác bom nổ chậm của địch. Cán bộ, chiến sĩ công binh thông thạo rà phá bom mìn của trung đoàn 259B được điều động tham gia chiến dịch giải toả giao thông, sẵn sàng cứu sập, khai thông đường, rà phá bom nổ chậm. Sự lao động cần cù, thông minh và dũng cảm của anh em đã gây được lòng mến mộ của nhân dân Thủ đô và nhất là các cán bộ công nhân viên đường sắt.

Cán bộ, chiến sĩ được điều về trung đoàn 259B tham gia xây dựng Lăng Bác trong thời gian qua là thời gian có nhiều biến động, trắc trở. Nhưng cũng chính qua đó, bản lĩnh của mọi người được thử thách tôi luyện. Trong mọi lúc, mọi nơi, họ đều tỏ ra vững vàng, đáng tin cậy, xứng đáng là lực lượng “khung”, là “chỗ dựa” cho việc chuẩn bị và thi công Lăng Bác sau này. Một sức mạnh đã hình thành trong họ để đón lấy thời cơ thuận lợi nhất định sẽ đến với họ, đến với toàn dân, toàn quân trong cả nước. Đó là lúc kẻ thù của chúng ta đã đem ra thi thố hết những thủ đoạn xảo quyệt và tàn bạo nhất mà vẫn không tìm ra lối thoát, buộc phải cầm bút ký vào Hiệp định Pa-ri.

(còn nữa)

bqllang.gov.vn

Chương III: Những nơi Bác yên nghỉ

1. Quyết định di chuyển thi hài Bác từ 75A lên K84 là một quyết định chính xác của Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương. Nhưng di chuyển bằng cách nào, bằng phương tiện gì là điều Ban chỉ đạo còn phải cân nhắc. Ở Liên Xô và Bun-ga-ri, thi hài Lê-nin và Đi-mi-tơ-rốp thường xuyên nằm ở trạng thái tĩnh tại, nên bạn cũng không có kinh nghiệm trong lĩnh vực này. Hơn nữa, các yêu cầu trong công tác di chuyển được các chuyên gia Liên Xô đặt ra hết sức nghiêm ngặt. Ngoài lĩnh vực y-sinh-hoá, trong quá trình hành quân còn phải bảo đảm nhiệt độ, độ ẩm theo quy định. Thiếu hai yếu tố này sẽ ảnh hưởng rất lớn đến việc giữ gìn thi hài. Ngoài ra, khi di chuyển phải tuyệt đối chống rung xóc. Trong khi đó, con đường di chuyển lại gập ghềnh, đầy ổ gà, nhiều đoạn đường, nhiều cây cầu bị hư hại nặng cần phải được sửa chữa.

Sau nhiều cuộc họp, Ban chỉ đạo đã thận trọng cân nhắc cả ba phương án hành quân: Đường không, đường thuỷ và đường bộ. Đường không có ưu điểm nhanh, an toàn, K84 lại sẵn có sân bay trực thăng nhưng không thể chống rung xóc vì độ rung của máy bay trực thăng rất lớn. Đường thuỷ có thể chống được rung xóc nhưng thời gian lại kéo dài quá, ảnh hưởng đến quy trình làm thuốc. Cuối cùng Ban chỉ đạo quyết định chọn phương án đường bộ. Đường bộ có nhiều khó khăn, nhưng những khó khăn ấy có thể khắc phục được.

Sau khi đã xác định được phương án hành quân bằng đường bộ, Ban chỉ đạo tập trung vào việc bàn cách khắc phục những hạn chế của phương án này. Thứ nhất, về bảo đảm nhiệt độ, độ ẩm, Ban chỉ đạo quyết định dùng nước đá thay cho máy điều hoà nhiệt độ. Trước đây, khi đón Bác từ Phủ Chủ tịch về 75A và đưa Bác từ 75A ra Hội trường Ba Đình, tổ y tế đặc biệt cũng đã dùng nước đá và đã bảo đảm tốt nhiệt độ, độ ẩm. Dĩ nhiên hồi đó đường đi gần hơn nên vấn đề nhiệt độ, độ ẩm đặt ra không gay gắt như lần di chuyển này. Thứ hai là làm thế nào để chống rung xóc. Muốn chống rung xóc phải khắc phục hai yếu tố xe và đường. Sau những tính toán, cân nhắc, Ban chỉ đạo quyết định chọn xe Zin 157. Loại xe này lớn và khoẻ, có 3 cầu, độ xóc ít hơn các loại xe khác. Con đường, Ban chỉ đạo nhận định không thể dùng công nhân sửa chữa ồ ạt, như vậy dễ bị lộ bí mật. Nhưng không sửa chữa thì dù xe tốt đến đau cũng không tránh được hiện tượng rung xóc. Không còn cách nào khác ngoài việc cho người đi khảo sát rồi giao cho lữ đoàn 144 chuẩn bị phương án sửa chữa những đoạn đường và những cây cầu xấu nhất ngay trong đêm hành quân. Khi đoàn xe đặc biệt đi qua lập tức phải xóa dấu vết để cầu và đường trở lại về tình trạng vốn có của nó…

Sau cuộc họp của Ban chỉ đạo, cán bộ, chiến sĩ và công nhân xưởng 49, Bộ tư lệnh Công binh được giao nhiệm vụ nghiên cứu, cải tạo lại chiếc xe Zin 157 theo yêu cầu của các chuyên gia Liên Xô và tổ y tế đặc biệt. Với tinh thần làm việc khẩn trương, chỉ sau ba tuần chiếc xe Zin bình thường đã biến đổi hình dạng và khoác lên mình một màu áo mới xanh thẫm. Bên trong thiết kế hết sức gọn ghẽ, hợp lý. Các bộ phận máy, bệ, gầm, đặc biệt là bộ nhíp giảm xóc đã được cải tiến lại. Các cán bộ kỹ thuật còn tính toán cả lượng hơi bơm ở các bánh xe, sao cho xe vẫn có thể chạy nhanh nhưng lại giảm độ rung xóc ở mức thấp nhất.

Cùng với xưởng 49 Công binh, các cán bộ, chiến sĩ Bộ tư lệnh Thông tin cũng được giao nhiệm vụ làm hai chiếc hòm lớn, một chiếc dùng để bảo quản thi hài Bác khi hành quân và một chiếc khác dùng để chứa bể thuỷ tinh.

Sau nhiều đợt ném bom của máy bay Mỹ, con đường lên K84 ngày ấy bị hư hại nặng. Do tính chất đặc biệt của cuộc di chuyển và do yêu cầu đặt ra rất khắt khe đối với người lái xe nên Ban chỉ đạo đã quyết định phải tích cực tập luyện để tránh những sai sót, dù rất nhỏ có thể xảy ra khi bước vào cuộc di chuyển chính thức.

Để đảm bảo bí mật, hầu hết những cuộc tập luyện đều diễn ra vào ban đêm. Không biết bao nhiêu lần, chiếc Zin 157 đã lặng lẽ rời 75A khi thành phố vừa lên đèn để lao vào màn đêm đang trùm phủ lên những cánh đồng, làng mạc ở ngoại ô thành phố. Người lái xe vừa chạy xe, vừa quan sát, ghi nhận những đoạn đường và những chỗ khó đi. Nhiều đêm các đồng chí trong Ban chỉ đạo đã thay nhau nằm trên thùng xe theo dõi, giám sát độ rung xóc của xe cũng như phát hiện kịp thời những đoạn đường cần phải sửa chữa.

Cứ như vậy, gần ba tháng trời ròng rã, chiếc Zin 157 đã lăn bánh đi, về một cách kiên nhẫn sáu, bảy tiếng đồng hồ trên một con đường quen thuộc. Ban đêm tập luyện, ban ngày rút kinh nghiệm. Những địa danh, những lối rẽ, những đoạn đường dốc… đã in sâu vào trí nhớ không chỉ của người lái xe mà cả của các đồng chí trong Ban chỉ đạo. Cùng với các chiến sĩ lái xe, các lực lượng làm nhiệm vụ bảo vệ cho cuộc di chuyển cũng bước vào những buổi luyện tập công phu. Thường vào các buổi chiều, lữ đoàn 144 được cải trang rải quân dọc hai bên đường, để ban đêm khi chiếc xe Zin 157 xuất phát lên đường, họ đã có thể thông báo cho nhau biết xe đang ở vị trí nào, sắp tới vị trí nào. Những người ở nhà cũng vất vả trong luyện tập. Từng động tác nhỏ nhất như khiêng linh cữu lên xe, xuống xe, khiêng bể thuỷ tinh, cách chuyển các bình hoá chất… đều phải tập đi tập lại căng thẳng. Tất cả đều phải hết sức thuần thục, tỉ mỉ. Chỉ một sơ suất, một va chạm khẽ đều có thể dẫn tới một hậu quả không lường trước được. Có lẽ việc luyện tập khó khăn nhất là khiêng chiếc bể thuỷ tinh lớn. Chiếc bể vừa to vừa trơn. Sau một vài buổi tập luyện các chiến sĩ đã nghĩ ra một cách: may băng tải luồn dưới đáy bể rồi quàng qua cổ người khiêng ở hai bên thành bể. Nếu lỡ tuột tay thì băng tải vẫn giữ được chiếc bể.

Ngày 20 tháng 12 năm 1969, cuộc họp giữa Ban chỉ đạo và Bộ phận gìn giữ thi hài Bác kéo dài quá nửa đêm. Ngay từ đầu hội nghị đã xác định quyết tâm dù khó khăn đến đâu cũng phải lãnh đạo, động viên các bộ phận thực hiện tốt nghị quyết của Quân uỷ, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong đợt di chuyển sắp tới, đạt các yêu cầu: nhanh, gọn, đúng thời gian, bảo đảm bí mật và an toàn tuyệt đối.

Hội nghị cùng một lúc phải bàn triển khai tất cả các mặt công tác cụ thể: sắp xếp lại tổ chức, ai đi, ai ở, lên phương án hành quân, tổ chức nghi binh và triển khai công tác chính trị trong hành quân cũng như khi đến địa điểm mới. Tất cả mọi việc đã được rà xét, cân nhắc kỹ lương như chuẩn bị cho một trận đánh quan trọng. Khi đồng chí Kinh Chi đứng lên kết luận hội nghị thì kim đồng hồ đã chỉ đúng 2 giờ sáng.

Ngày hôm sau, 21 tháng 12, quyết tâm của hội nghị được phổ biến xuống từng bộ phận. Một cuộc chuẩn bị rất khẩn trương. Ai cũng hiểu kết quả của ba tháng trời rèn luyện vất vả sắp được thể hiện một cách cụ thể. Không khí bỗng lắng xuống, trang nghiêm khi mọi người bất chợt nghĩ đến Bác. Nỗi đau của những ngày lễ tang đột ngột trở lại. Lòng mọi người đều nhói lên khi nhận thấy sau khi qua đời, Bác vẫn không được yên nghỉ trọn vẹn. Chiến tranh vẫn chưa có dấu hiệu kết thúc và không biết Bác sẽ còn vất vả, gian khổ đến bao giờ?

2. Buổi sáng ngày 22 tháng 12, một bộ phận của tổ y tế đặc biệt được lệnh cùng với hai chuyên gia Liên Xô mang bể thuỷ tinh lên K84 trước để chuẩn bị. Các đơn vị của lữ đoàn 144 bí mật rải quân dọc hai bên đường. Cứ 5 ki-lô-mét lại có một trạm trang bị máy thông tin liên lạc. Trước đó, các chiến sĩ cảnh vệ cũng đã liên hệ với công an địa phương, nắm tình hình ở các xóm trên trục đường hành quân. Tất cả đều được dự tính trước để bảo đảm tuyệt đối an toàn.

Đúng 23 giờ ngày 23 tháng 12, đoàn xe đặc biệt được lệnh xuất phát. Các đồng chí trong Bộ Chính trị, Quân uỷ Trung ương và Trung ương Cục miền Nam đã có mặt đông đủ ở 75A để tiễn Bác. Đêm đó trời lạnh. Gió mùa đông bắc tràn về thổi giật từng cơn trên các lùm cây dọc hai bên đường. Phía sau đoàn xe, Hà Nội với những ánh đèn vàng lùi xa dần, cho đến lúc chỉ còn là một quầng sáng mờ đục trên bầu trời thành phố. Đoàn xe lặng lẽ vượt qua một thị trấn, bò xuống cây cầu rồi vượt lên bờ đê. Đoàn xe đi vào một thị xã, lúc đó đã chìm trong giấc ngủ. Mặt đường chỉ còn lác đác một vài bóng người cắm cúi đạp xe và thỉnh thoảng một đoàn xe quân sự chạy ngược chiều, đèn pha quét sáng rực thành từng vòm sáng trên những lùm cây xà cừ ướt đẫm.

Dầu sao, chặng đường vừa trải qua vẫn là một chặng đường đơn giản vì phần lớn mặt đường được rải nhựa. Nhưng đoạn đường tiếp theo cho đến đích là một thử thách không nhỏ đối với họ. Khi đoàn xe vừa ra khỏi rặng cây xà cừ của thị xã, đường nham nhở, đầy “ổ gà”, “ổ trâu” lần lượt hiện ra trước mặt. Các chiến sĩ cảnh vệ đang tay cuốc, tay xẻng san lấp khẩn trương để bảo đảm xe qua. Sau khi đoàn xe đi qua họ lại xoá hết mọi dấu vết của cuộc di chuyển đặc biệt.

Ngoài chiếc Zin 157 chở thi hài của Bác còn có bốn chiếc xe khác. Xe đi đầu là chiếc Gát 69A, xe bảo ôn bảo vệ phía trước, xe bảo ôn bảo vệ phía sau, cuối cùng là xe của các đồng chí trong Ban chỉ đạo. Theo yêu cầu của các chuyên gia Liên Xô, để đề phòng những diễn biến bất trắc xảy ra dọc đường, tổ y tế phải chuẩn bị một cơ số thuốc dự bị đi cùng xe thi hài để khi cần có thể dừng lại làm thuốc bổ sung.

Đêm mùa đông, càng về khuya trời càng se lạnh. Gió bỗng nhiên tắt lặng và những vì sao hiện ra mờ nhạt sau những tảng mây xám ngắt. Con đường trườn qua những sườn đồi, bò xuống những thung lũng, băng qua các cây cầu vừa được sửa chữa gấp gáp. Không gian hoàn toàn yên tĩnh. Chỉ còn nghe tiếng máy nổ, tiếng bánh xe nghiến trên đường đầy sỏi đá sàn sạt. Mỗi lần qua một đoạn đường xấu, một ý nghĩ, một câu hỏi cùng một lúc vụt đến với mọi người: liệu Bác có làm sao không?

Bác sĩ Nguyễn Gia Quyền được phân công ngồi cùng xe chở thi hài Bác. Trời bên ngoài giá lạnh, trong xe càng lạnh hơn bởi những khối nước đá xếp đầy trong xe và xung quanh linh cữu Bác thay cho máy điều hoà nhiệt độ. Đồng chí I-go, chuyên gia Liên Xô cùng tình nguyện lên xe thi hài, ngồi cùng với bác sĩ Quyền và đồng chí Kinh Chi ngồi bên buồng lái. Thỉnh thoảng đồng chí Kinh Chi lại hỏi: “Thế nào, vẫn yên ổn cả chứ?”, đồng chí Nguyễn Gia Quyền đặt cặp kính trên nắp linh cữu để kiểm tra độ rung xóc của xe. Mỗi lần đồng chí Kinh Chi hỏi, nhìn cặp kính vẫn nằm yên ở vị trí cũ, đồng chí Nguyễn Gia Quyền lần nào cũng trả lời ngắn gọn: “Báo cáo, không có chuyện gì xảy ra cả”.

Trời vừa hửng sáng thì chiếc xe cuối cùng trong đội hình hành quân của đoàn cũng mất hút trong cánh rừng của khu căn cứ. Đoàn xe đi vào con đường ngang qua một hồ nước lớn bàng bạc sương mù để lên đồi. Hai bên đường, lau, sậy mọc đầy, quệt hai bên thành xe lạt sạt. Lúc đoàn xe tắt máy dừng lại đã thấy rất đông người đứng đón Bác trước ngôi nhà kính. Trong cùng một lúc, cả người mới đến và người ra đón đều đổ xô đến chiếc xe Zin chở thi hài Bác. Cánh cửa sau xe vừa mở, đồng chí I-go và đồng chí Nguyễn Gia Quyền bước xuống, khuôn mặt hai người tái nhợt nhưng không giấu được xúc động. Đồng chí Phùng Thế Tài bước đến nắm lấy bàn tay to, lạnh giá của bác sĩ I-go và hỏi: “Đồng chí ngồi trong đó lạnh, nhưng yên ổn phải không?”. “Tốt, tốt”, đồng chí I-go trả lời. Mọi người cùng thở phào. Họ hiểu: như vậy có nghĩa là không có gì xảy ra đối với thi hài Bác.

Buổi sáng ngày 24 tháng 12, đến với khu căn cứ thật yên tĩnh nhưng cũng thật sôi động. Cuộc di chuyển hoàn toàn thắng lợi. Mọi người khẩn trương đưa thi hài Bác vào nhà kính, nhanh chóng làm mọi công việc chuyên môn kỹ thuật. Các bộ phận khác thì củng cố nơi ăn, ở mới. Ai cũng ngơ ngác trước vẻ đẹp kỳ lạ của khu rừng. Trước đây khi các chiến sĩ công binh phải chặt bỏ một số cây thông để xây nhà ở và đào công sự, Bác chỉ cho phép chặt những cây không thể để lại được, cây nào còn có thể giữ được thì phải giữ lại bằng mọi cách. Bởi thế, ngay giữa tiền sảnh của ngôi nhà lớn trước đây là nơi họp của Bộ Chính trị, mọi người còn thấy một cây thông lớn chui vượt qua trước hiên ngạo nghễ toả bóng xuống khu rừng. Điều này chứng tỏ Bác không chỉ yêu mà còn tôn trọng vẻ đẹp vốn có của thiên nhiên đến mức nào.

Có lẽ cũng cần phải nói thêm về tình hình dân cư ở xung quanh địa bàn đóng quân của đơn vị. Trước năm 1945, ở khu vực này có một cơ sở nhỏ của Quốc dân Đảng. Trong chống Pháp trở thành vùng địch kìm kẹp có đồn bốt của lính Pháp. Cơ sở Đảng trong vùng yếu, đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn thiếu thốn. Trước khi di chuyển thi hài Bác lên, Cục Bảo vệ đã làm việc kỹ với các tổ chức Đảng, chính quyền ở địa phương. Do phải giữ bí mật nên cả tỉnh uỷ, huyện uỷ và nhân dân trong vùng không ai biết rằng quê hương của họ đang được nhận một vinh dự lớn: thay mặt cho cả nước gìn giữ thi hài Bác.
Những ngày đầu ở K84 đã trôi qua trong những khó khăn, thiếu thốn tưởng như rất vô lý. Mọi người không ai được ra ngoài nên nguồn thực phẩm chủ yếu là ra rừng với thức ăn khô, và từng bộ phận phải tự lo liệu lấy. Hầu hết các bộ phận: y tế, bảo vệ, công binh, thông tin, cục đối ngoại… anh em cán bộ, chiến sĩ từ nhiều đơn vị về, đơn vị cũ đã cắt quân số, nhưng đơn vị mới thì chưa được thành lập chính thức, do đó việc bảo đảm cung cấp lương thực, thực phẩm… gặp rất nhiều khó khăn. Ngay cả trong các ngày Tết Nguyên đán năm đó, đã sát tết rồi nhưng cán bộ chiến sĩ ở đây vẫn chỉ có cơm độn ngô với canh rau rừng. Trước tình hình đó, tuy thời gian đã muộn nhưng đơn vị đã cố gắng cử người về các cơ quan cũ liên hệ xin được đảm bảo một phần tiêu chuẩn hương vị ngày Tết cho anh em. Riêng với các đồng chí chuyên gia, những chiến sĩ quốc tế đã vượt hàng vạn dặm đến vùng rừng hẻo lánh này để đóng góp một phần chủ yếu vào việc giữ gìn thi hài Bác, đã được Cục Đối ngoại và đơn vị chăm sóc hết sức chu đáo.

Sau Tết Nguyên đán, các bộ phận tích cực triển khai công tác tăng gia sản xuất để cải thiện bữa ăn cho bộ đội, nhiều vạt đất ven hồ nước dưới chân đồi đã được phát quang để trồng rau, trồng sắn. Những đàn gà đầu tiên đã xuất hiện. Cuộc sống dần dần thay đổi.

Ngày 16 tháng 2 năm 1970, Bộ Tổng tham mưu công bố quyết định thành lập Đoàn 69, trực thuộc Bộ Tổng tham mưu do trung tá Nguyên Văn Hanh làm chính uỷ. Hôm ấy là một ngày đẹp trời. Những tia nắng mùa xuân chợt hửng lên ửng vàng trên các tán rừng. Dưới kia, dòng sông vẫn cuồn cuộn chảy. Từ đỉnh đồi nhìn xuống dòng sông sóng bạc như một lưỡi kiếm sắc. Tất cả cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị, những con người đã từ lâu gắn bó trong một nhiệm vụ thiêng liêng ngồi yên lặng lắng nghe đồng chí Nguyễn Văn Hanh đọc quyết định thành lập Đoàn. Kết thúc buổi lễ, mọi người đứng dậy, sát vai nhau với lời hô: “Trung thành vô hạn, vượt mọi khó khăn, quyết tâm gìn giữ tốt nhất thi hài Bác”.

Ít lâu sau, theo quyết định của Quân uỷ Trung ương, Đảng uỷ Đoàn 69 cũng thành lập. Các đồng chí Nguyễn Văn Hanh, Nguyễn Gia Quyền, Nguyễn Văn Mộc, Vũ Văn Quán, Đinh Viết Phụng được chỉ định vào Đảng uỷ.

Chính uỷ Nguyễn Văn Hanh trong những ngày đầy khó khăn ấy đã đóng góp một phần quan trọng trong nhiệm vụ xây dựng và củng cố đơn vị. Ban ngày anh xắn quần tham gia lao động với anh em, đêm về lại chong đèn suy nghĩ tìm ra những biện pháp tốt nhất để thực hiện nghị quyết của Đảng uỷ: “Phải tự lực tự cường, không ỷ lại chờ trên, phát huy hết thế mạnh tại chỗ, tích cực tăng gia sản xuất, cải thiện đời sống cho bộ đội, từng bước xây dựng đơn vị trưởng thành về mọi mặt”.

Vừa làm nghiệp vụ vừa lao động sản xuất tự túc một phần lương thực, thực phẩm dần dần trở thành một nếp sinh hoạt của cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị. Nhiều người dân trong vùng ngày ấy, mỗi khi đi qua đường thấy những chiến sĩ không mang quân hàm, quân hiệu, cặm cụi cày cuốc đã lầm tưởng nơi đây là một khu cải tạo những quân nhân bỏ ngũ. Vì thế, trong những lần tiếp xúc, các chiến sĩ đã phải im lặng, làm ngơ trước những lời trêu chọc bóng gió, đôi khi rất nặng nề của các cô gái. Điều này phần nào đã xác nhận sự thành công của công tác giữ gìn bí mật.

Ngay sau khi được thành lập, Đảng uỷ Đoàn đã đề ra nghị quyết về công tác đảm bảo đời sống cho cán bộ, chiến sĩ. Nơi ăn, chỗ ở được củng cố. Những vạt đất trồng rau, trồng sắn, trồng lúa được mở rộng, không còn manh mún, nhỏ lẻ như trước. Ban chỉ huy Đoàn còn tổ chức chăn nuôi bò, lợn. Ngoài chỉ tiêu rau xanh chia cho từng bộ phận, mỗi cán bộ, chiến sỹ trong Đoàn còn lần lượt thay nhau đi chăm sóc đàn bò. Các cán bộ chỉ huy Đoàn cũng dành mỗi tháng một ngày đi chăm sóc đàn bò với các chiến sĩ.

Ngày 23 tháng 5 năm 1970, một phái đoàn chuyên gia của Viện thi hài Lê-nin sang Hà Nội. Một Hội đồng khám nghiệm thi hài Bác gồm các chuyên gia Liên Xô và Việt Nam đã được thành lập. Sau khi tổ chức khám nghiệm ở K84, hội đồng đã kết luận: Qua tám tháng đầu bảo vệ, giữ gìn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh ở một nước khí hậu nhiệt đới, mặc dù phải di chuyển xa nhưng hình dáng bên ngoài và các bộ phận trên cơ thể Người vẫn được bảo tồn đầy đủ, phù hợp với hình thể lúc Người còn sống.

Hội đồng còn khẳng định, thi hài của Bác có đầy đủ điều kiện để giữ gìn lâu dài. Đây là một phần thưởng hết sức quý giá đối với những cán bộ trong tổ y tế và tất cả cán bộ chiến sĩ trong đơn vị. Họ đã giành được thắng lợi trong chặng đường đầu tiên, chặng đường này sẽ là một tiền đề quan trọng cho tất cả thế hệ mai sau, khi họ được giao nhiệm vụ giữ gìn thi hài Bác.

Ngày 22 tháng 8, đồng chí Vũ Văn Cần, uỷ viên Ban chỉ đạo từ Hà Nội lên chỉ thị cho Ban chỉ huy Đoàn chuẩn bị đón đoàn đại biểu của Trung ương và Quân uỷ lên viếng Bác. Nhận được lệnh các đồng chí chuyên gia và tổ y tế khẩn trương làm việc: làm thuốc, chỉnh hình, cải tạo đèn ở phòng viếng… công việc kéo dài tới 5 giờ chiều. Mọi người hiểu rằng, chỉ một thay đổi nhỏ trên khuôn mặt quen thuộc của Bác cũng sẽ làm cho chúng ta đau lòng. Vì thế, các đồng chí chuyên gia và các cán bộ y tế đã chú ý tới từng chi tiết nhỏ nhất trên cơ thể của Bác.

Sáng ngày hôm sau, 23 tháng 8, tại buồng thi hài ở khu căn cứ đã diễn ra một lễ viếng giản dị và trang nghiêm. Các đồng chí Trung ương và Quân uỷ do đồng chí Lê Duẩn dẫn đầu bồi hồi đứng trước linh cữu Bác. Mới đó mà đã một năm trời Bác đi xa. Một năm với biết bao nhiêu nỗi đau, nỗi nhớ! Giờ đây, đứng trước thi hài Bác, những người học trò, những người đồng chí trung thành của Bác đều bàng hoàng, không tin rằng Bác đã đi mãi mãi, đều ngỡ ngàng tưởng như Người còn đang trong giấc ngủ.

Sau lễ viếng, đồng chí Lê Duẩn đã gặp mặt thăm hỏi các đồng chí chuyên gia và Ban chỉ huy Đoàn, Đồng chí nhận xét: Thi hài của Bác giữ gìn rất tốt như thi hài Lê-nin ở Mát-xcơ-va. Xế trưa đoàn mới rời K84 trở về Hà Nội.

3. Cuối năm 1970, cuộc sống của những người chiến sĩ Đoàn 69 – “Đội cận vệ đỏ của Bác” – như anh em thường gọi, dần dần đi vào ổn định. Khu rừng không chỉ có những cây thông, cây lim cổ thụ mà còn có những nương sắn, nương ngô, những ruộng lúa nước đang được thu hoạch. Những buổi chiều, sau một ngày làm việc căng thẳng trong phòng làm thuộc hoặc ngoài nương rẫy, cán bộ, chiến sĩ của Đoàn lại sôi nổi hoạt động thể thao quanh sân bóng, và khi buổi tối đến, từng bộ phận lại tổ chức sinh hoạt, đọc báo, hoặc diễn đàn thanh niên hay biểu diễn văn nghệ… Nghị quyết của Đảng uỷ Đoàn đã được cụ thể hoá trong từng việc làm, từng ý nghĩ của mỗi người. Ai cũng nghĩ rằng đơn vị sẽ ở đây, sẽ giữ gìn thi hài Bác tại khu đồi thơ mộng này cho đến ngày Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước thắng lợi hoàn toàn. Những phương án chuẩn bị cho một cuộc sống lâu dài ở khu căn cứ đã được Ban chỉ huy Đoàn chuẩn bị và dự tính kỹ lưỡng. Nhưng một biến cố bất chợt đang xảy ra đã làm đảo lộn tất cả mọi sinh hoạt đang đi vào ổn định của Đoàn.

Đêm 20 rạng ngày 21 tháng 11, tiếng máy bay trực thăng đột ngột vang lên trên bầu trời khu căn cứ. Từ trong nhà, mọi người cùng bật dậy, lao ra ngoài. Thấp thoáng sau những tán lá rừng, có nhiều chiếc trực thăng bật đèn hiệu nối nhau bay qua. Nhiều người tưởng không quân mình diễn tập. Nhưng chỉ một lát sau, khi nghe tiếng máy bay phản lực gầm rú, thì mọi người đều hiểu, có một chuyện gì đó không bình thường đã xảy ra.

Ngày 24, Ban chỉ huy Đoàn đã nhận được điện khẩn của đồng chí Phùng Thế Tài: “Trước đây các anh đổ nước vào thì bây giờ chuẩn bị múc nước ra”. Mặc dù nội dung bức điện chỉ ngắn gọn như vậy, nhưng Ban chỉ huy Đoàn đã hiểu: có lệnh chuẩn bị di chuyển thi hài Bác!

Ngày hôm sau, các đồng chí Phùng Thế Tài và Kinh Chi trực tiếp lên đơn vị phổ biến quyết định di chuyển thi hài Bác về Hà Nội. Lúc ấy mọi người mới được biết, cái hiện tượng “Diễn tập của không quân” thực chất là đêm phiêu lưu của lực lượng biệt kích Mỹ, hòng giải thoát những tên giặt lái đã bị bắt, ở một trại tù binh. Nhưng bọn biệt kích đã vồ hụt, sau một lúc sục sạo không thấy gì, trại tù binh trống rỗng, bọn chúng bỏ chuồn thẳng.

Sau biến cố trên, Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương nhận định, khu đồi K84 tuy là một vị trí hẻo lánh, nhưng có nhiều đồi trọc, rất thuận cho việc đổ bộ đường không của Mỹ. Hơn nữa, không quân Mỹ lại có khả năng trinh sát điện tử rất hiện đại, kết hợp với gián điệp nội địa, rất có thể chúng phát hiện ra khu vực này. Mặc dù xác định được rằng một cuộc tập kích đổ bộ đường không như đã xảy ra ở Sơn Tây nếu diễn ra ở khu đồi K84, địch vẫn không thể cướp nổi thi hài Bác, nhưng sự đụng độ rất dễ gây ảnh hưởng lớn đến việc giữ gìn thi hài. Bởi vậy, Bộ Chính trị quyết định di chuyển Bác về lại Hà Nội. Ở Hà Nội, dù liều lĩnh đến mấy, không quân Mỹ cũng không thể tiến hành nổi một cuộc đổ bộ chớp nhoáng như đã diễn ra đêm 20 tháng 11.
Nhận lệnh di chuyển gấp, Đảng uỷ và Ban chỉ huy Đoàn họp và triển khai nhiệm vụ đến từng bộ phận, phân công người về, người ở. Bộ phận ở lại bảo quản cơ sở vật chất của khu căn cứ được giao cho đồng chí Vũ Văn Quán phụ trách.

Đêm mồng 3 tháng 12, cán bộ, chiến sĩ của lữ đoàn 144 được lệnh rải quân bảo vệ tuyến đường hành quân. Trước đó hai ngày, các chuyên gia Liên Xô và một số cán bộ trong tổ y tế đặc biệt cũng lên đường trở về 75A chuẩn bị đón Bác.

22 giờ đêm, đoàn xe đặc biệt lại lặng lẽ rời căn cứ. Đêm đó trời quang đãng, gió chạy lang thang trên những khu đồi trống trải. Ở những đoạn đường nhiều ổ gà và những cây cầu hỏng lại thấy thấp thoáng bóng các chiến sĩ cảnh vệ với cuốc xẻng, quang, sọt. Khi đoàn xe chạy qua, họ im lặng đưa mắt nhìn theo như để đưa tiễn Bác rồi lại vội vã xoá sạch dấu vết của cuộc di chuyển. Do đã rút được kinh nghiệm sau lầu di chuyển trước nên đợt di chuyển này mọi việc đã diễn ra hết sức nhanh gọn.

3 giờ sáng ngày 4 tháng 12, đoàn xe về tới Hà Nội. Thành phố đang chìm sâu trong giấc ngủ, những ngọn gió buốt như kìm châm vào các khớp xương nhức nhối, mấy chiếc là khô cuộn mình ngủ yên trên hè phố bị ngọn gió thức dạy, chốc chốc lại trở mình xào xạc. Khi chiếc xe Zin vừa dừng lại trước công trình 75A, các chuyên gia Liên Xô lên kiểm tra ngay hai miếng gạc đắp hai bàn tay Bác. Hai miếng gạc vẫn nằm nguyên ở vị trí cũ. Mọi người thở phào. Như vậy có nghĩa là trong quá trình hành quân, thi hài Bác đã được bảo vệ an toàn tuyệt đối.

Từ địa bàn rừng núi chuyển về thành phố, các chiến sĩ Đoàn 69 cũng như ban chỉ huy Đoàn đều rất yên tâm trong nhiệm vụ của mình. Ở Thủ đô đời sống sinh hoạt thuận lợi hơn. Công tác phục vụ bạn cũng đỡ vất vả, thiếu thốn. Nhưng cũng như ở K84 mọi người vẫn phải hết sức giữ bí mật. Ngay cả các đồng chí trong Ban chỉ đạo hay chuyên gia, mỗi khi vào làm thuốc cho Bác đều phải ngồi trong xe bịt kín, thư từ của mọi người gửi về nhà đều phải để ngỏ. Sự đi lại hết sức hạn chế… Tuy vậy, không một người nào cảm thấy bức bối, khó chịu. Mọi người chấp hành các quy định nghiêm ngặt ấy một cách nghiêm túc, hoàn toàn tự nguyện, bởi họ hiểu rằng, sự hy sinh của họ là để phục vụ cho một nhiệm vụ cao cả. Họ không cảm thấy thiếu thốn bởi Bác luôn luôn ở bên cạnh họ, ở trong trái tim và tình cảm của họ.

Ở Thủ đô, mùa xuân rồi mùa hè năm 1971 trôi qua một cách bình lặng. Những chiến sĩ của Đoàn 69 theo Bác về Hà Nội tiếp tục một cuộc sống âm thầm và căng thẳng bên thi hài Bác. Những người ở lại căn cứ tiếp tục tăng gia sản xuất, bảo hành máy móc, gây dựng cơ sở thành một hậu cứ vững chắc để khi cần lại sẵn sàng đón Bác lên.

Cuộc sống cứ như vậy lặng lẽ trôi qua. Những người dân Thủ đô không ai biết rằng Bác đang ở rất gần họ. Bác vẫn đang được bảo vệ, giữ gìn như khi Người còn sống, và đến một ngày nào đó, họ sẽ lại được đến viếng Bác như những ngày đầu tháng 9 năm 1969, những ngày không thể nào quên trong cuộc đời của mỗi một người dân trong thành phố.

Cho tới mùa thu năm ấy, lại một biến cố khác xảy ra, không kém phần dữ dội đã làm đảo lộn tất cả mọi sinh hoạt, nếp sống của những chiến sĩ làm nhiệm vụ bảo vệ thi hài Bác.

Thời gian này, Ních-xơn đã phải xuống thang, tuyên bố ngừng ném bom hoàn toàn miền Bắc. Nhưng âm mưu phá hoại miền Bắc bằng không quân, hải quân thì vẫn không hề thay đổi. Đó là việc dùng hoá chất tác động vào thiên nhiên gây ra lũ lụt, hòng dập tắt sự chi viện của hậu phương đối với tiền tuyến lớn.
Trong mùa thu năm ấy, Mỹ đã sử dụng 277 lần chiếc máy bay với 8.312 đơn vị hoá chất được thả xuống vùng trời Hà Nội và các vùng rừng núi thuộc lưu vực sông Hồng và sông Đà, tạo ra những đám mây lạnh xúc tác trong không khí, gây ra những trận mưa lớn, dữ dội. Theo số liệu của Mỹ thì mực nước của năm 1971 đã lên tới 16 phân Anh. Trong đó 7 phân Anh do chiến dịch “mở mắt” của Mỹ gây ra, còn lại 9 phân Anh do lượng mưa vốn có của thiên nhiên.

Bọn cầm quyền Nhà trắng tính rằng, với lượng mưa lớn như vậy, nước sông Hồng, sông Đà sẽ dâng lên tàn phá đề điều, nhấn chìm các làng mạc, thành phố, các trục đường giao thông quan trọng, buộc Chính phủ ta phải giảm bớt các cuộc tiến công trên chiến trường và nhân nhượng chúng trong các cuộc hội đàm đang dồn chúng vào ngõ cụt tại Pa-ri.

Chưa bao giờ, kể từ 50 năm lại đây, bầu trời miền Bắc gặp những trận mưa lớn, dai dẳng đến thế. Ngày 18 tháng 8, đê sông Đuống bị vỡ ở cuống Thôn, gây ra nạn lụt lớn ở các địa phương thuộc hai tỉnh Hà Bắc và Hải ưng. Cả một vùng dân cư đông đúc, nông nghiệp trù phú bị nhấn chìm trong nước lũ, mực nước sông Hồng vẫn tiếp tục dâng cao tới mức kỷ lục: 14,10 mét tại Hà Nội. Trong những ngày ấy, dòng sông trở nên rộng mênh mông, đục ngầu, xô chảy cuồn cuộn, cuốn trôi nhiều thuyền mảng, tre gỗ băng qua gầm cầu Long Biên, đổ về phía hạ lưu. Thủ đô Hà Nội bị đe doạ. Nhiều đường phố bị ngập, nước tràn vào các nhà dân, các công sở, Uỷ ban chống lụt, bão trung ương đã phải tính đến chuyện chuẩn bị di tản dân ta khỏi thành phố.

Trước tình hình đó, ban chỉ huy và đảng uỷ Đoàn 69 họp phiên khẩn cấp, quyết định đề nghị Quân uỷ cho di chuyển thi hài bác về lại căn cứu, bởi nếu xảy ra lũ lụt ở Hà Nội, thi hài Bác sẽ không có đủ điều kiện để bảo vệ. Trong khi chờ quyết định của trên, ban chỉ huy Đoàn phải chuẩn bị cả hai phương án: di chuyển và chống lụt tại chỗ. Những ngày này, đồng chí Kinh Chi thường xuyên có mặt ở 75A. Nhiều cán bộ được cử đi trinh sát tìm kiếm các điểm cao trong thành phố để đưa Bác lên nếu đê sông Hồng bị vỡ. Một số khác thì chuẩn bị cho phương án di chuyển Bác lên các ngôi nhà cao tầng ở bệnh viện trong tình huống cấp bách nhất. Chiếc máy điện thoại đặt trong phòng làm việc của Ban chỉ huy Đoàn réo liên tục, dồn dập thông báo mực nước của sông Hồng, lượng mưa đo được trong ngày và khả năng thời tiết trong những ngày sắp tới…

Ngày 16 tháng 8, bầu trời vẫn nặng như chì, mưa vẫn sầm sập giội xuống không dứt. Nước sông Hồng vẫn tiếp tục dâng lên. Không khí phòng chống lũ lụt sôi động khắp thành phố. Suốt ngày đêm, các cán bộ, chiến sĩ Đoàn 69 bồn chồn, họ liên tục cử người chạy ra bờ đê sông hồng xem tình hình mực nước, khuôn mặt người nào cũng bợt bạc, phờ phạc vì ngấm nước. Không ai lo cho mình mà chỉ lo cho Bác. Không biết những gì sẽ xảy ra và thi hài Bác sẽ ra sao nếu như nước sông Hồng lên cao, bất ngờ phá vỡ đê tràn vào thành phố?
4. Trưa ngày 18 tháng 8, trời vẫn mưa như trút, đứng trên bờ đê nhìn xuống, dòng sông Hồng trở nên hung dữ. Tất cả nhà cửa, đường sá ở bãi sông đều bị nhấn chìm trong nước. Trên mặt đê san sát các lều bạt, giường tủ. Những đứa trẻ tóc ướt sũng, bó gối ngồi co ro trước cửa lều.

Đúng 1 giờ chiều, đồng chí Phùng Thế Tài trực tiếp đến phổ biến quyết định của Quân uỷ di chuyển thi hài Bác trở lại căn cứ. Một cuộc họp khẩn cấp lập túc được triệu tập. Sau đó ai về việc nấy, hối hả chuẩn bị suốt đêm 18. Vì là lần di chuyển thứ ba nên mọi việc diễn ra hết sức thuận lợi. Nhưng vì khối lượng công việc nhiều nên đúng vào lúc hai tấn nước đá được xếp lên xe Zin 157 thì trời cũng vừa hửng sáng.

8 giờ ngày 19, đồng chí Kinh Chi xuống phổ biến mệnh lệnh hành quân rồi cùng với một số cán bộ, chiến sĩ của Đoàn đi K84 trước. Thời gian này, đồng chí chính uỷ Nguyễn Văn Hanh đi Liên Xô nên đồng chí Kinh Chi phải thường xuyên có mặt tại Đoàn, trực tiếp chỉ đạo từ những công việc cụ thể nhất. 11 giờ trưa hôm ấy, đoàn xe được lệnh rời khỏi công trình 75A. Cuộc di chuyển lần này diễn ra vào ban ngày lên tất cả các xe đều cắm cờ hoả tốc và đều có giấy phép đi vào tất cả mọi con đường cấm. Khác với những cuộc di chuyển trước, vì nhiều đoạn đường bị ngập nên trong đội hình hành quân có thêm chiếc xe Páp, một loại xe đặc chủng của Công binh vừa có thể chạy trên bộ vừa có thể chạy dưới nước, trong mọi địa hình và thời tiết phức tạp. Lần này, đồng chí Nguyễn Gia Quyền cũng lại được phân công ngồi trên xe chở thi hài Bác. Các đồng chí Trần Quốc Hoàn, Phùng Thế Tài cùng hành quân đưa tiễn Bác.

Đoàn xe chạy trong mưa lạnh. Những con đường trong thành phố đều ngập nước. Suốt dọc hai bên đường hành quân, những cánh đồng lúa vừa bén rễ cũng bị nhấn chìm trong nước. Khắp nơi không khí chống lụt diễn ra khẩn cấp. Tiếng máy bơm tiếng gầu tát nước vang lên trong tiếng sấm và tiếng mưa ào ào không dứt.

Khó khăn nhất vẫn là đoạn đường cuối của cuộc di chuyển. Đường trơn nhầy nhụa, lầy lội, đoàn xe phải chạy với tốc độ rất chậm. Ngồi trong xe chở thi hài Bác, đồng chí Nguyễn Gia Quyền nhiễm lạnh, giọng nói qua ống nghe máy điện thoại lập bập, rời rạc. Thấy vậy, đồng chí Phùng Thế Tài quyết định cho đoàn xe dừng lại nghỉ một lúc để mọi người lấy sức.

5 giờ chiều, đoàn xe về tới địa phận khu căn cứ. Lúc này trời đã ngớt mưa nhưng đoạn đường rẽ vào căn cứ ngập nước, xe Zin không thể vượt qua được, bác sĩ Nguyễn Văn Châu, người được cử lên trước cùng một số cán bộ khác làm vệ sinh công nghiệp chuẩn bị đón Bác không lúc nào vắng mặt ở đoạn đường ngập lụt này. Cứ bốn mươi phút, bác sĩ Châu lại báo về Hà Nội. Nhưng cho đến lúc đoàn xe chở thi hài Bác đã đỗ ở quãng đường bên kia, nước sông vẫn tiếp tục tràn vào làm cho khu đồi như một hòn đảo.

Biết rằng không thể dừng xe chờ nước rút, Ban chỉ huy Đoàn quyết định chuyển thi hài Bác từ xe Zin sang xe hồng thập tự rồi chuyển toàn bộ xe hồng thập tự lên xe Páp. Chỉ có cách ấy mới có thể vượt qua được đoạn đường này. Theo kế hoạch đã được dự tính từ trước, hai thanh ray nhỏ được bắc thành cầu cho xe hồng thập tự bò lên xe Páp. Trong cùng một lúc chiếc xe Páp theo hai thanh sắt lên thùng xe. Công việc diễn ra rất căng thẳng vì trong xe hồng thập tự là thi hài Bác. Chỉ do một sơ suốt nhỏ, hậu quả xảy ra sẽ không sao lường hết được. Lái chiếc xe hồng thập tự hôm đó là đồng chí Nguyễn Văn Sướng. Trời lạnh mà trên trán đồng chí Sướng lấm tấm mồ hôi. Phải cho đến khi chiếc xe hồng thập tự nằm gọn trên thùng xe Páp mọi người mới thở phào, nhẹ nhõm. Chiếc Páp dừng lại một lát như để lấy sức rồi từ từ bò xuống ngầm. Xung quanh xe, nước ào ào chảy. Chiếc xe như một con tàu nhỏ vượt sông. Tất cả mọi người vượt sông. Tất cả mọi người khẩn trương lên xe Páp để vào khu căn cứ.

Khi chiếc xe Páp dừng lại, tắt máy trước cửa ngôi nhà kính, hai thanh sắt lại được bắc song song ở phía sau thùng xe. Lại những phút giây căng thẳng mới, đưa xe lên đã khó, đưa xe xuống lại càng khó khăn hơn. Chiếc xe hồng thập tự nổ máy. Hai bánh sau của xe rồi hai bánh trước bám vào hai thanh ray từ từ lùi xuống. Cả bốn bánh xe đã nằm gọn trên hai thanh sắt ở một độ dốc 30 độ. Bên dưới là khoang trống. Xung quanh bỗng im phắc, mọi người như nín thở. Không ai còn nghe thấy tiếng gió chạy rào rào giữ nước trong rừng thông. Không gian chỉ còn tiếng xe rú nhè nhẹ, bốn bánh xe từ từ lăn trên hai thanh sắt. Và khi chiếc hồng thập tự đỗ thăng bằng đủ bốn bánh trên mặt đất mọi người ồn lên. Vì quá căng thẳng và xúc động, đồng chí Sướng xỉu thiếp đi trên vòng tay lái.

Sau tám tháng trời xa cánh, trở lại K84 lần này mọi người không khỏi ngỡ ngàng trước sự thay đổi của khu căn cứ. Mặc dù chỉ còn một bộ phận nhỏ ở lại nhưng cơ sở vật chất được phát triển khá phong phú. Ngay buổi tối hôm ấy, để mừng thắng lợi của cuộc di chuyển, Ban chỉ huy Đoàn đã cho anh em một bữa liên hoan bằng những vật phẩm của các chiến sĩ làm ra.

Ngày hôm sau, để đề phòng địch đổ bộ đường không, Đoàn đã tổ chức cho anh em nguỵ trang cắm cọc bố phòng ở những khoảng trống. Ba khẩu đội pháo 14 ly 5 của E20 F361 Bộ tư lệnh Phòng không – Không quân cũng được điều về bổ sung cho Đoàn, bố trí trên ba ngọn đồi xung quanh căn cứ, tạo thành một thế chân kiềng vững chãi. Ngoài ra, những ngày tiếp theo Bộ Tổng tham mưu còn điều tiếp một đại đội bộ binh của lữ đoàn 144 đứng ở vòng ngoài, sẵn sàng tiêu diệt bọn biệt kích một khi chúng liều lĩnh đổ bộ xuống căn cứ.

Vẫn chưa thật yên tâm, đồng chí Phùng Thế Tài còn chỉ thị cho xây ba lô cốt xung quanh nhà kính. Nhưng Ban chỉ huy Đoàn đề nghị Bộ điều cho ba chiếc xe tăng thay cho việc xây lô cốt. Ba xe tăng cũng là ba chiếc lô cốt nhưng có khả năng cơ động cao. Ý kiến của Đoàn được Bộ Tổng tham mưu chấp thuận, và ba chiếc T34 có trang bị pháo ĐKZ84 của Trường sĩ quan Thiết giáp đã được điều về đứng trong đội hình chiến đấu của Đoàn.

Do các đơn vị phối thuộc nhiều như vậy, quân số của Đoàn tăng vọt lên, việc bảo đảm lương thực, thực phẩm gặp rất nhiều khó khăn. Phần lớn cán bộ, chiến sỹ các đơn vị mới đến phải nằm võng. Địa bàn đứng chân rộng, bếp ăn lại tập trung nên việc đi lại, ăn uống cũng rất vất vả, có những bộ phận phải đi xa hàng cây số lấy cơm về.

Trước tình hình đó, có hai nhiệm vụ mà Đảng uỷ và Ban chỉ huy Đoàn chú trọng triển khai cùng một lúc: Bảo đảm giữ gìn thi hài Bác ở mức độ tốt nhất, đi đôi với việc khắc phục chỗ ăn, chỗ ở cho từng bộ phận, nhất là các bộ phận mới đến.

Nhờ có tính năng động của các cán bộ và chiến sĩ trong Đoàn, chỉ sau một thời gian ngắn, tất cả các ngôi nhà dột nát đã được sửa chữa, nhiều ngôi nhà mới đã được xây dựng. Tuy chưa thật khang trang nhưng cũng đủ để các bộ phận sinh hoạt và làm việc.

Giải quyết xong chỗ ăn, chỗ ở, Ban chỉ huy Đoàn lại gặp khó khăn khác, đó là tư tưởng chán nản, không thông suốt với nhiệm vụ của một số đơn vị mới đến, đặc biệt là ở đơn vị pháo cao xạ. Số anh em ở bộ phận này phần lớn nhập ngũ từ những năm 1962, 1963, đã từng trải qua nhiều thử thách, lập được nhiều chiến công nhưng quân hàm vẫn chỉ là binh nhì, binh nhất. Quyền lợi chính trị cũng không được giải quyết thoả đáng…

Sự chán nản nảy sinh cũng còn bởi một lẽ, anh em không hề biết mình về đây để làm gì. Đang lao vào cuộc chiến đấu sôi nổi, bỗng dưng bị thu về một góc rừng, lại quá nhàn rỗi, không được tiếp xúc với dân. Anh em có mặc cảm như đang phải chịu một hình thức kỷ luật.

Ban chỉ huy Đoàn hiểu rằng, nếu được nói rõ cho anh em chiến sĩ cao xạ hiểu, họ đang lãnh nhận một nhiệm vụ quan trọng là bảo vệ thi hài Bác thì dù khó khăn đến đâu, thiệt thòi đến đâu, chắc chắn sẽ không một ai kêu ca, phàn nàn. Nhưng những gì thuộc về nguyên tắc thì phải tuyệt đối tôn trọng. Hơn nữa công tác bảo mật luôn luôn được Đoàn đặt lên hàng đầu, coi đó là yếu tố quan trọng nhất để hoàn thành nhiệm vụ. Trước tình hình đó, một mặt, Ban chỉ huy Đoàn tích cực động viên anh em, mặt khác đề nghị với Bộ Tổng tham mưu giải quyết tất cả các mặt tồn đọng của chính sách, và đơn vị đã đi sâu vào tâm tư, tình cảm của anh em giải quyết từng việc cụ thể, chỉ một thời gian ngắn, đơn vị pháo cao xạ đã trở thành một đơn vị mạnh của Đoàn.

Cùng chia sẻ gian khổ với cán bộ, chiến sĩ trong Đoàn là các chuyên gia Liên Xô. Công việc chủ yếu của các đồng chí chuyên gia là làm thuốc cho Bác. Bạn được ưu tiên ở một khu nhà riêng biệt, sát cạnh ngôi nhà kính dể thi hài Bác. Thường xuyên giao dịch với bạn chỉ có các đồng chí trong Ban chỉ huy Đoàn và bộ phận đối ngoại. Biết những người đồng chí phải xa gia đình quê hương sang sống giữa vùng rừng núi heo hút này vì một nghĩa vụ cao cả, Ban chỉ huy Đoàn cũng như bộ phận đối ngoại đã cố gắng làm tất cả những gì có thể làm được để làm dịu bớt những thiếu thốn vật chất và tình cảm mà những người đồng chí, những người bạn đang phải chịu đựng. Một lần biết đồng chí Đê-bốp, trưởng đoàn chuyên gia rất thích nuôi chim, Đoàn đã cử nguời về Hà Nội mua một chiếc lồng và một con vẹt thật đẹp. Đồng chí Đê-bốp rất thích. Hầu như rảnh lúc nào đồng chí Đê-bốp cũng ngồi trước lồng chim. Những lúc đó đôi mắt ông nheo lại, miệng huýt sáo khe khẽ. Có một đêm, do làm thuốc cho Bác quá khuya, khi Đê-bốp đi nghỉ thì đã 12 giờ đêm. Sáng ra bác sĩ Nguyễn Gia Quyền có việc lên phòng của Đê-bốp, bỗng phát hiện ra con vẹt đã cắn đứt nân lồng bay đi mất. Biết Đê-bốp còn ngủ cho tới 10 giờ trưa, đồng chí Quyền một mặt cho người chuẩn bị về Hà Nội mua lại một con vẹt khác, một mặt cho anh em chia nhau vào rừng tìm. Tìm một con chim giữa rừng quả không khác gì “tìm kim đáy bể”. Nhưng thật kỳ lạ, chỉ 15 phút sau, các chiến sĩ cảnh vệ đã tìm thấy con vẹt đã khéo léo bắt được nó đem về trong khi đồng chí Đê-bốp còn đang ngủ. Câu chuyện nhỏ này chứng tỏ tấm lòng của những cán bộ, chiến sĩ trong Đoàn đối với các đồng chí chuyên gia chu đáo và tế nhị biết chừng nào…

Như để đáp lại tấm lòng ấy, các đồng chí chuyên gia Liên Xô cũng làm việc hết sức mình, đáp ứng mọi yêu cầu của những người bạn đồng nghiệp Việt Nam. Vừa làm việc, vừa truyền lại những kinh nghiệm, những bài học mà bạn được phép truyền đạt. Sau giờ làm việc mỗi ngày, bạn cũng có mặt ở sân bóng chuyền, bóng bàn hoặc đi dạo mát dưới những rặng thông thoáng đãng vàng rực trong ánh hoàng hôn đang lặn xuống sau những dãy núi cao hùng vĩ…

Thời gian lại lặng lẽ trôi qua trên khu đồi thơ mộng và yên tĩnh. Con sông sau mùa lũ lụt dữ dội hiếm thấy trong lịch sử lại thu mình chảy hiền hòa, êm đềm giữa hai bờ lau sậy xanh biếc. Rồi Tết đến, một cái Tết thật yên ả. Mọi người đón xuân bên những cành đào, những đồng bánh chưng xanh. Đó là một mùa xuân đầy đủ, ít xáo động nhất của những người lính Đoàn 69 kể từ khi được thành lập. Đó cũng là mùa xuân thứ ba, đất nước ta, dân tộc ta vắng Bác.

5. Mùa hè năm 1972, một mùa hè đỏ lửa và đẫm máu trên chiến trường miền Nam. Sau những trận đánh dữ dội ở Quảng Trị, chiến trường Khu 5, Tây Nguyên, Bình Long… Thế và lực giữa ta và địch đã thay đổi. Quân giải phóng đã làm chủ hoàn toàn nhiều thị xã, thị trấn. Nhiều con đường chiến lược quan trọng đã bị cắt đứt. Học thuyết “thay màu da xác chết” của Ních-xơn đã bị giáng trả một đòn nặng nề, cơ hồ không thể nào có thể đứng vững được nữa.

Thế và lực trên chiến trường thay đổi dẫn đến sự thay đổi thế và lực trên bàn Hội nghị ở Pa-ri. Khả năng ký kết một hiệp định ngừng bắn đã xuất hiện. Nhưng giống như một con thú dữ đã bị thương nặng, Ních-xơn điên cuồng đe doạ ném bom trở lại miền Bắc. Còn Nguyễn Văn Thiệu, tổng thống nguỵ quyền Sài Gòn thì gào thét đòi tái chiếm vùng giải phóng. Suốt trong mùa thu và mùa đông năm ấy, những trận đánh dai dẳng, giành giật từng tấc đất đã diễn ra trên hầu khắp các chiến trường trọng điểm.

Song song với việc đẩy mạnh các hoạt động quân sự ở miền Nam, Ních-xơn liều lĩnh dùng máy bay B-52 đánh phá trở lại miền Bắc, dùng thuỷ lôi phong toả mặt biển, hy vọng có thể giành được ưu thế trước khi một hiệp định ngừng bắn được ký kết.

Tất cả những diễn biến quân sự ấy đều đã được Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương dự tính và chuẩn bị đối phó. Ngay từ những ngày giữa tháng 5, khi tin chiến thắng dồn dập bay về Hà Nội, Bộ Chính trị đã có kế hoạch đưa nhân dân và các cơ quan trong nội thành, nội thị và một số khu công nghiệp lớn tiếp tục sơ tán về nông thôn và các khu căn cứ rừng núi.

Vào những tháng ngày sôi động ấy, một bầu không khí lo âu bao trùm lên khu căn cứ của Đoàn. Mỗi khi có tiếng máy bay bay qua bầu trời của khu căn cứ và nghe tiếng bom rền rĩ từ Thủ đô và các vùng xung quanh dội về, lòng mọi người lại thấp thỏm, bồn chồn.

Đề phòng máy bay Mỹ có thể ném bom phá huỷ khu căn cứ, Ban chỉ huy Đoàn quyết định chuyển thi hài Bác từ nhà kính xuống hầm ngầm. Việc chuyển thi hài Bác xuống hầm ngầm không khó khăn lắm vì đã có đường ray, nhưng chuyển chiếc bể thuỷ tinh xuống theo thì không phải là một công việc đơn giản.
Sau những trăn trở, tìm tòi, các chiến sĩ cảnh vệ đã tìm ra được phương pháp khắc phục rất đơn giản: dùng một chiếc giát giường đơn đặt lên bể. Đáy bể kê một tấm gỗ có đệm mút, lấy dây cột thật chặt rồi nghiêm bể đưa xuống hầm. Với phương pháp này, chỉ 20 phút sau chiếc bể đã được đưa xuống buồng trung tâm an toàn. Trong công việc âm thầm của các chiến sĩ, những cố gắng dù rất nhỏ cũng có thể được coi như một chiến công vì nó đòi hỏi không chỉ có sức lực, trí thông minh mà còn đòi hỏi cả lòng dũng cảm, dám chịu trách nhiệm trước một nhiệm vụ không được phép sai lầm, cũng như không có thời cơ để sửa chữa sai sót.

Nhưng đưa Bác xuống hầm ngầm trong tình hình máy bay Mỹ ngày càng đánh phá dữ dội miền Bắc chỉ là một biện pháp tạm thời, bởi K84 mặc dù ở xa Hà Nội nhưng lại nằm trong phạm vi đường bay của máy bay giặc Mỹ. Đề phòng khả năng bị đánh trả quyết liệt, máy bay Mỹ sẽ quăng bom bừa bãi dọc đường bay để tháo chạy, Bộ Chính trị và Quân uỷ lại quyết định di chuyển thi hài Bác đến một vị trí an toàn hơn, trước ngày 15 tháng 7 năm 1972.

Song di chuyển Bác đi đâu, về hướng nào là một câu hỏi lớn đối với Ban chỉ huy Đoàn 69. Cuối tháng 6 một đoàn cán bộ do đồng chí Kinh Chi phụ trách đã tiến hành một chuyến đi khảo sát địa hình hết sức vất vả. Đoàn dùng ca nô chạy xuôi ngược ở hai bên bờ sông và hết đi xe lại đi bộ, vượt rừng, trèo núi… đoàn đã xem xét, kiểm tra hàng loạt công trình đã xây dựng sẵn. Sau khi cân nhắc, đối chiếu cái hay, cái dở, cái thuận, cái nghịch của từng công trình, cuối cùng Ban chỉ đạo quyết định chọn K2, một hang đá lớn nằm bên bờ tả ngạn dòng sông, cách K84 15 ki-lô-mét về phía bắc. Công trình này đã được cải tạo xây dựng từ năm 1966, dùng làm nơi sơ tán các cơ quan của Bộ Quốc phòng khi cần thiết.

Từ ngoài đường nhìn vào, cả khu vực hang đá K2 là một thung lũng lớn nằm khuất sâu giữa những lùm cây xanh, mọc rậm rịt từ chân tới đỉnh núi. Cách hang không xa là nhà dân, và những thửa ruộng trồng đậu, trồng sắn. Người dân ở khu vực này chất phác, cần cù. Hang đá lớn, có sức kháng lực cao, nằm gần đường nên rất thuận tiện cho việc di chuyển. Tuy vậy, công trình cũng có một số nhược điểm: độ ẩm trong hang lớn, luôn luôn có nước ngầm làm cho vỏ hầm cũ bị rò rỉ, mặt khác do hang nằm gần đường, gần dân nên rất khó giữ được bí mật.

Sau khi nghe đoàn khảo sát trở về báo cáo, Ban chỉ đạo quyết định cải tạo lại K2 làm nơi giữ gìn thi hài Bác. Nhiệm vụ này được giao cho Bộ tư lệnh Công binh với một thời hạn hết sức ngắn. Với 20 ngày đêm vừa khảo sát thiết kế và cải tạo. Tuỳ khối lượng công việc bề bộn, nhưng bù lại, đơn vị thi công sẽ được chi viện, đáp ứng mọi yêu cầu về vật tư kỹ thuật.

Ngày 15 tháng 6 năm 1972, đoàn cán bộ của Bộ tư lệnh Công binh do đồng chí Bùi Danh Chiêu phụ trách lên đường đi tiền trạm và ba ngày sau, đại đội 2, tiểu đoàn 3, trung đoàn 259, lực lượng trực tiếp thi công đã có mặt ở K2. Thời gian này thời tiết miền núi mưa nắng thất thường. Sau mỗi cơn mưa, khí núi bốc lên ngùn ngụt. Muỗi và vắt rừng sinh sản nhiều vô kể.

Cũng giống như thời gian thi công cải tạo công trình K84 ở K2 các chiến sĩ tiểu đoàn 3 hăng say lao động ngày đêm. Ở K84 có “hội đèn” thì ở K2 có “hội đuốc”. Ban đêm, đèm đuốc thắp lên sáng rực trong vòm hang. Tiếng choòng phá đá vang lên trong tiếng mưa rơi ồ ạt. Sau 20 ngày đêm, các chiến sĩ công binh đã hoàn thành một khối lượng công việc khổng lồ. Đục phá 70 mét khối đất đá, đào xây một giếng 25 mét khối đất. Xây trát cải tạo 5 buồng và 3 bể chứa nước trong hang, lắp đặt toàn bộ thiết bị trạm điện, trạm bơm, cung cấp điện, nước, bảo đảm đúng tiêu chuẩn kỹ thuật cho công trình. Riêng buồng trung tâm, sau khi đo thông gió và nhiệt độ. Cùng với việc thi công công trình, việc đi nhận thiết bị, vật tư cũng diễn ra hết sức phức tạp. Các đồng chí đi lấy máy ở kho Đông Anh bị máy bay Mỹ ném bom ở khu vực kho, xe đi lấy máy bị hư hại nặng. Ngày hôm sau đi tiếp nhận, lại bị máy bay Mỹ ném bom trên đường về.

Đó là những ngày đêm căng thẳng. Rất ít khi trên bầu trời vắng tiếng máy bay Mỹ. Những loạt bom vang rền dội vào tâm tư các cán bộ, chiến sĩ một nỗi lo lắng đến thắt ruột.

Trong khi các chiến sĩ công binh bắt tay vào cải tạo K2, thì các chiến sĩ lữ đoàn 144 cũng bắt tay vào sửa chữa đường và luyện tập.

Sau vụ lụt năm 1971, Quân uỷ Trung ương giao nhiệm vụ cho Cục Quản lý xe Tổng cục Hậu cần cải tạo xe Páp để chở thi hài Bác mỗi khi cần phải di chuyển. Yêu cầu cải tạo xe được đặt ra rất cao. Xe phải được sử dụng hết dung tích trên xe, bảo đảm phải có một giường nằm, một chỗ ngồi cho người chỉ huy, hai dãy tủ đựng thuốc đủ chứa các bình hoá chất. Ngoài ra, xe còn được lắp đặt một số thiết bị máy móc như máy điều hoà nhiệt độ, máy thông giá, máy điện thoại… Đặc biệt xe phải bảo đảm khả năng việt dã, lội nước cao, có thể di chuyển trong mọi địa hình, thời tiết và phải bảo đảm tuyệt đối an toàn không thể xảy ra bất kỳ sự cố nào trong quá trình sử dụng.

Sau một năm trời nghiên cứu và làm việc, các cán bộ công nhân viên quốc phòng Cục Quản lý xe đã cho ra đời một chiếc Páp thoả mãn tất cả mọi yêu cầu nói trên và bàn giao cho Đoàn 69. Sau này, khi được biết chiếc Páp mà đơn vị mình cải tạo được dùng để chở thi hài Bác trong những năm chiến tranh ác liệt, các chiến sĩ Cục Quản lý xe Tổng cục Hậu cần hết sức cảm động. Họ không ngờ chính họ đã được nhận niềm vinh dự đặc biệt ấy.

Để giữ bí mật với kẻ địch mặt đất cũng như trên không, các cuộc hành quân tập luyện đều diễn ra vào ban đêm. Nhiều đêm, đồng chí Kinh Chi trực tiếp ngồi trong xe Páp với một gói lớn bột màu, chỗ nào đường xấu, xóc nhiều, đồng chí lại rắc bột xuống đường để các chiến sĩ lữ 144 biết mà sửa chữa. Sau mỗi đêm như vậy, sáng ra quần áo, mặt mày đồng chí Kinh Chi đầy bột màu. Mệt mỏi nhưng rất vui vì mỗi lần đi kiểm tra, số bột màu rắc xuống cứ ít dần và con đường đã trở nên mềm mại dưới vành bánh xe lăn đằm và êm của chiếc xe Páp.

Khác với những lần hành quân di chuyển trước đây, lần di chuyển này phải vượt sông. Vì thế, bến sông phải cải tạo lại theo yêu cầu.

Những đêm luyện tập vượt sông cũng diễn ra hết sức căng thẳng và vất vả. Một lần, khi chiếc xe Páp vừa bò lên bến sông bờ tả ngạn thì chốt tời bị gãy. Phải dùng tời kéo kết hợp vì nước sông chảy xiết, xe không thể cập vào bến được. Chốt tời gẫy đẩy chiếc Páp vào một trạng thái “chết”. Đầu xe thì ở trên bờ, nửa sau xe thì bị chìm ở dưới nước, tiến thoái lưỡng nan. Giữa lúc đó, được một người dân ở gần bến sông đã dẫn đến một đơn vị công binh đang diễn tập gần đấy mượn xe ủi đến kéo giúp. Có xe kéo nhưng lại không có tời. Thế là lại phải chạy đến một trạm lâm nghiệp mượn tời. Tất bật, vất vả nhưng không thể chậm trễ vì trời sắp sáng, tuyến đường di chuyển dễ bị lộ, và chiếc Páp có thể trở thành mục tiêu cho máy bay địch đến đánh phá…

Sau sự cố kể trên, đồng chí Ngạch, lữ trưởng lữ đoàn 144 đã cho đào gấp một vũng lớn bên bờ tả ngạn, gọi là âu thuyền để cho xe Páp dễ dàng lên xuống.
Một lần khác, sau khi diễn tập về bến K84, chiếc xe Páp đang bò lên một cách dễ dàng thì tụt xuống mất hút dưới mặt nước ngầu bọt vì độ dốc cao và trơn. Giữa lúc mọi người còn đang hốt hoảng thì chiếc Páp lại từ từ nổi lên như một chiến hạm ngầm và lại tiếp tục bám vào bến. Rất may, đó chỉ là một cuộc hành quân tập luyện.

Qua những vất vả trong việc sửa chữa đường sá, và những cuộc tập luyện, nhưng hầu như không ai nghĩ đến mình mà chỉ canh cánh một nỗi lo: làm sao có thể đưa Bác đi thật an toàn. Bởi thế, chừng nào chưa đưa được Bác đi K2 thì còn phải luyện tập cho thật thuộc đường, thuộc bến.

Trung tuần tháng 7, khi việc cải tạo K2 được mang mật danh là H21 đang ở vào giai đoạn cuối thì những đêm luyện tập cũng được lệnh tạm dừng và bước vào công tác chuẩn bị di chuyển. Đêm mồng 9 tháng 7, thi hài Bác được chuyển vào quan tài kính và đến 21 giờ ngày 11 tháng 7, đoàn xe chở thi hài Bác được lệnh rời khỏi K84. Đoàn xe chậm chạp bò qua những triền đồi, những làng mạc nằm rải rác, hẻo lánh ở hai bên đường. Bầu trời chi chít những chòm sao. Màn đêm hơi bàng bạc. Con đường hiện ra đỏ sẫm trước đầu xe. Bên dưới, dòng sông hiện ra mờ nhạt như một dải lụa mềm mại. Khi đoàn xe đến bến, đã thấy ba chiếc xe lội nước K61 chờ sẵn. Mặc dù đã tập luyện nhiều, nhưng chiếc xe Páp từ từ bò xuống bến sông, tim mọi người thót lại và lo lắng. Đêm đó nước sông chảy xiết. Những đám bọt sôi ào ạt ở đầu và hai bên thành xe. Ánh đèn pha quét trên mặt sông từng vạt sáng lấp lánh. Đoàn xe lặng lẽ rời bến, xuôi theo dòng sông đang cuồn cuộn chảy. Chưa đầy nửa giờ, đoàn xe đã lần lượt cấp bến bên bờ tả ngạn. Do được tập luyện tốt nên cuộc vượt sông diễn ra hoàn toàn thuận lợi. 0 giờ 15 phút ngày 12 tháng 7, đoàn xe vào tới K2. Cả khu rừng bạt ngàn trong một khoảnh khắc như đã yên lặng mở rộng lòng ra đón Bác.

6. Đưa Bác về K2, những hoạt động của Đoàn trở nên phân tán. Đoàn buộc phải chia làm ba bộ phận, một ở lại Hà Nội làm nhiệm vụ duy trì nghiên cứu khoa học và bảo quản công trình 75A, một bộ phận ở K84, còn phần lớn lực lượng di chuyển lên K2.

Để giữ nền nếp, chế độ sinh hoạt. Ban chỉ huy Đoàn quyết định thành lập bộ phận K84 do đồng chí Lê Quang Châm phụ trách. Đảng uỷ Đoàn cũng ra quyết nghị thành lập chi bộ K84 do đồng chí Châm làm bí thư chi bộ.

Ở K2, đời sống và sinh hoạt của các chiến sĩ Đoàn 69 có nhiều khó khăn. Hầu hết các bộ phận đều bắt đầu từ con số không. Vừa làm nhiệm vụ chuyên môn, vừa phải bắt tay ngay vào việc xây dựng lán trại, nên chỉ một thời gian ngắn, các bộ phận đều đã có đủ chỗ ăn, ở và sinh hoạt.

Để khắc phục sự khan hiếm thực phẩm, một mặt Ban chỉ huy Đoàn cử cán bộ vào liên hệ với địa phương xin đất trồng rau, mặt khác duy trì sự tiếp tế sẵn có ở K84. Những đàn gà, đàn lợn ở K84 dần dần cũng được nhân đàn và san xẻ sang K2.

Một điều đáng kể là ở K2 có rất nhiều rắn. Rắn đầy trong rừng, trong hang đá, nhiều khi nằm ngủ hoặc ngồi họp, rắn bò qua dưới chân người. Tuy vậy, chỉ ít lâu sau, rắn cũng đã trở thành một nguồn thực phẩm đáng kẻ, mặc dù không phải ai cũng có thể săn bẫy được rắn.

Công việc giữ gìn thi hài Bác ở K2 phức tạp và vất vả hơn nhiều, nhất là với tổ y tế đặc biệt, vì ở đây không có nơi hấp sấy quần áo nên sau mỗi lần làm thuốc, anh em phải cử người gánh gồng quần áo đi bộ qua rừng, qua sông về K84 giặt giũ, hấp sấy. Cứ như vậy mỗi tuần hai lần trong suốt 7 tháng trời ròng rã.

Các chiến sĩ làm nhiệm vụ đối ngoại cũng vất vả không kém. Do ở K2 thiếu tiện nghi, dễ lộ, nên không thể để chuyên gia ở đay mà phải bố trí ở Hà Nội. Mỗi tuần hai lần làm thuốc, Đoàn phải đưa xe về Hà Nội đón bạn. Việc đưa đón bạn đi về từ K2 đến Hà Nội phải tiến hành trong ban đêm rất khó khăn, vất vả. Các đồng chí chuyên gia cũng hết lòng phục vụ họ là những người bạn tận tuỵ, thuỷ chung.

Tháng 12 năm 1972, máy bay Mỹ tăng cường đánh phá Hà Nội, việc đưa đón chuyên gia gặp nhiều trở ngại, Ban chỉ huy Đoàn đã đề nghị với bạn ở lại K84 vì dù sau ở K84 cũng an toàn hơn ở Hà Nội.

Đầu năm 1973, sau những xáo động lớn, cuộc sống của cán bộ, chiến sĩ ở Đoàn 69 ở K2 dần dần đi vào ổn định. Những vườn rau, nương sắn trong thung lũng đã lên xanh. Sự vất vả đã trở nên quen thuộc đối với mọi người lính. Giữa lúc đó, lúc mà mọi người xác định giữ gìn thi hài Bác lâu dài ở K2 thì Hiệp định Pa-ri, một hiệp định mà nhân dân ta đổ không biết bao nhiêu xương máu để giành lấy từng dòng, từng chữ, đã được ký kết. Ních-xơn buộc phải tuyến bố triệt thoái toàn bộ quân Mỹ khỉ miền Nam Việt Nam.

Một nửa nguyện vọng của Bác “đánh cho Mỹ cút, đánh cho nguỵ nhào” đã được thực hiện. Sự kiện này làm nức lòng đồng bào và chiến sĩ cả nước. Cũng như ở tất cả các vùng rừng nói khác, tin Hiệp định Pa-ri được ký kết bay về K2 rất nhanh. Hoà bình, hai tiếng ấy trở nên hết sức thiêng liêng. Khi mọi người trong cùng một lúc đều nghĩ rằng, Bác sẽ không còn phải vất vả nữa, sẽ không còn những chiếc máy bay B.52, F.4, F.5 quần lượn nữa, Bác sẽ không còn phải nằm trong hang đá, điều đã trở thành nỗi đau âm thầm của mỗi cán bộ, chiến sĩ trong suốt một năm vừa qua.

Bằng sự nhạy cảm của một người lĩnh, các đồng chí chỉ huy Đoàn nhận thức ngay rằng, đơn vị ở lại đang đứng trước một đợt di chuyển mới, bởi ở K2 điều kiện làm việc quá khó khăn, việc đưa đón chuyên gia cũng đầy những bất lợi, nhưng di chuyển về đâu, K84 hay 75A thì không một ai có thể lường tính trước được.

Bấy giờ đang vào những ngày cuối tháng Chạp âm lịch, tiết trời ấm dần lên và mùa xuân, mùa xuân hoà bình đầu tiên đã thấp thoáng trở về…

Ngày 27 tháng 1 năm 1973, chính uỷ Nguyễn Văn Hanh được lệnh về Hà Nội nhận nhiệm vụ chuẩn bị cho đơn vị tổ chức đón Bác về lại K84. Đã là những ngày giáp tết rồi. Trong lúc cán bộ, công nhân ở các cơ quan, xí nghiệp được về quê ăn tết với gia đình thì các chiến sĩ Đoàn 69 vẫn lặng lẽ chuẩn bị cho một cuộc di chuyển mới. Phương án di chuyển vẫn bằng phương tiện cũ và đi đường cũ.

Sau bảy, tám tháng trời không sử dụng, bến cũ phù sa đã lấp đầy. Do đó các chiến sĩ lữ đoàn 144 lại được lệnh làm gấp một bến mới và nghiên cứu cải tạo đường lên ở chân đồi. Thời gian gấp, các chiến sĩ lữ đoàn 144 bắt tay ngay vào công việc, không kể ngày đêm. Sau ba ngày, bến mới đã được làm xong, để xe có thể bò xuống an toàn và một con đường đất đỏ dưới chan đồi K84. Bằng con đường này, thi hài Bác sẽ luôn luôn được giữ ở trạng thái ổn định, thăng bằng bởi độ dốc đã được giảm đi tới mức thấp nhất.

Chiều 30 tết, tất cả các hệ thống bến bãi, đường sá đã được chuẩn bị hoàn tất nhưng vẫn chưa có lệnh di chuyển. Trong khi đó, đồng chí trưởng đoàn lại có lệnh về Hà Nội đón trưởng đoàn chuyên gia Đê-bốp mới từ Mát-xcơ-va sang. Mọi người đều có ý nghĩ: nếu có di chuyển thì hài Bác về K84 thì cũng phải tới sang giêng hoặc sau tết ít nhất một tuần lễ. Chính bởi tính toán như vậy mà nhiều bộ phận đã linh động cho các cán bộ, chiến sĩ quê ở gần tranh thủ về nhà ăn tết.

Đêm hôm ấy, trong dãy lán lợp lá cọ dưới chân núi, mọi người quây quần quanh cào đào đón giao thừa và chờ nghe thư chúc tết của Bác Tôn. Đồng chí chính uỷ Nguyễn Văn Hanh thay mặt Đảng uỷ và Ban chỉ huy Đoàn công bố quyết định khen thưởng cho các tập thể và cá nhân đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong năm, đồng thời phổ biến quyết định và giao nhiệm vụ cho từng bộ phận. Sáng mồng một tết, phá cửa hang, chuẩn bị đón Bác về lại K84.

Lúc ấy, mọi người trong đoàn mới ngớ ra, sửng sốt vì quân số còn lại kể cả Ban chỉ huy Đoàn và các chiến sĩ nuôi quân chỉ vẻn vẹn còn 25 người. 25 người với một khối lượng công việc đồ sộ. Tuy vậy, sáng mồng một, buổi sáng đầu tiên của năm mới, 25 cán bộ, chiến sĩ đã lao vào công việc đầy sôi nổi và hào hứng, 12 giờ trưa cửa hang đã được phá mở rộng để xe Páp có thể vào đón Bác.

Ngày mồng 4 tết, tức là ngày 8 tháng 2 năm 1973, sau khi các chuyên gia Liên Xô và Ban chỉ đạo xem xét, kiểm tra lại việc quản lý thi hài, lệnh di chuyển chính thức được công bố. 21 giờ đoàn xe rời hang đá ra bến sông. Hình như cho đến lúc ấy, những người dân trong vùng mới biết niềm vinh dự mà quê hương mình thời gian qua đã được giao phó. Họ đã lặng lẽ đổ ra hai bên đường. Những ánh mắt, những bàn tay giơ lên vẫy chào tạm biệt, những nụ cười ngập ngừng đã nói lên tất cả tấm lòng của họ đối với Bác, với các chiến sĩ Đoàn 69.

Đoàn xe nhẹ nhàng rời bến sông, xuôi dòng chảy chếch sang bờ bên kia nơi có ánh đèn sáng làm tín hiệu. Dòng sông vào mùa xuân chảy êm đềm trong vắt. Hai bên bờ sông sương mù phủ mỏng trông như một tấm khăn voan khổng lồ mờ ảo. Chiếc Páp vừa cập bến K84, tất cả cán bộ, chiến sĩ đã có mặt dưới bến sông để đón Bác. Họ im lặng khiêng linh cữu Người ra khỏi xe, thận trọng nhích từng bước trên con đường đã được dọn mở, sửa sang lại. Những “chiến sĩ cận vệ” khiêng linh cữu Bác trên vai, thành kính và trang nghiêm. Đêm ấy trời sáng đầy sao. Những tán lá rừng, những cánh hoa rừng rơi đầy ở hai bên lối đi thỉnh thoảng lại thả một vài cánh hoá mềm nhẹ lên linh cữu Người. Rừng ngào ngạt hương xuân. Đây là lần đầu tiên kể từ bốn năm lại đây, các chiến sĩ Đoàn 69 được khiêng linh cữu Bác trên vai, đi trên một đoạn đường dài, trong một thời gian dài đến như vậy.

Khi mọi người từ ngôi nhà kính, nơi đặt thi hì Bác trở ra thì gà nhà, gà rừng đã bắt đầu cất tiếng gáy. Công việc di chuyển kết thúc, đấy cũng là lần di chuyển thứ năm thi hài Bác. Sau này, khi nước nhà hoàn toàn thống nhất, trong một lần nói chuyện với đồng bào tỉnh Long An, đồng chí Vũ Kỳ đã kể lại những chuyến đi đầy gian khổ, qua sông, qua núi, ở rừng, ở hang của Bác sau khi Người qua đời, nhiều người nghe chuyện đã không cầm được nước mắt.

Còn khi ấy, vào buổi sáng ngày mồng 5 tết Quý Sửu, các cán bộ, chiến sĩ Đoàn 69, sau khi hoàn thành nhiệm vụ trong lần di chuyển thứ năm đã nghĩ ngay tới lần di chuyển thứ sáu và chắc chắn sẽ là lần di chuyển cuối cùng: Đón Bác về lại Thủ đô, về lại ngôi nhà vĩnh hằng của Người mà giờ đây đang được các nhà kiến trúc thông qua lần cuối cùng bản đồ án thiết kế và các lực lượng thi công đang triển khai để chuẩn bị khởi công xây dựng.

(còn nữa)

bqllang.gov.vn