Tag Archive | Lãnh tụ vĩ đại

Cựu phóng viên chiến tranh TASS viết về 3 lần gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh

Bác Hồ tiếp lãnh đạo Đoàn TNCS Lênin tại Việt Nam (tháng 12/1964).

“Chúng tôi đã nghe những hồi tưởng của Bác Hồ, chăm chú nhìn khuôn mặt bộc trực của Người. Xuyên qua cặp mắt kính lão, đôi mắt tinh anh, cho dù đã có phần mệt mỏi, của Người đang nhìn chúng tôi. Người ngồi đó đầu đội mũ lưỡi trai, cổ quàng khăn ấm (trời hôm ấy rất lạnh)”.

Sergei Afonin là cựu phóng viên chiến tranh của Thông tấn xã Liên Xô (TASS) tại Việt Nam. Ông đã công bố cuốn sách “Những năm tháng nóng bỏng” nói về những trải nghiệm của mình cùng với nhân dân Việt Nam trong những năm chiến tranh chống Mỹ.

Hiện nay cựu phóng viên chiến tranh của TASS đang sống cùng với vợ và đứa con trai út trong một căn hộ nhỏ ở ngoại ô phía Nam Moskva. Trong căn hộ của họ không có những đồ vật đắt tiền, nhưng nó lại rất giàu những vật kỷ niệm được đưa từ Việt Nam về: Hội họa sơn mài, những bức tranh đại chúng từ làng Đông Hồ, những hộp khảm xà cừ, những búp bê, những tấm bưu thiếp… Vợ ông, Ludmila Afonina không nói bằng tiếng Việt, nhưng cũng yêu Việt Nam với tình yêu nồng nhiệt như chồng bà. Những năm tháng tuổi trẻ hạnh phúc của họ đã diễn ra ở Hà Nội. Dưới đây là lời kể của ông về ba lần được gặp Bác Hồ.

***

Tôi vô cùng may mắn và hạnh phúc đã ba lần được gặp và được nói chuyện với Chủ tịch Hồ Chí Minh. Kỷ niệm về niềm hạnh phúc này tôi sẽ giữ mãi cho đến trọn đời.

Cuộc gặp gỡ đầu tiên

Đó là vào năm 1961, tôi đến thực tập tại Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội. Tôi là sinh viên làm luận văn tốt nghiệp và là người phiên dịch ngoài biên chế trong Đại sứ quán Liên Xô và cơ quan đại diện thương mại. Thỉnh thoảng Chủ tịch Hồ Chí Minh đi trên chiếc xe hơi “Chiến thắng” đến cơ quan đại diện thương mại của Liên Xô để xem những bộ phim Xôviết mới trong phòng chiếu phim đầy đủ tiện nghi. Vì Bác Hồ thông thạo tiếng Nga nên ở đó không cần phiên dịch.

Vào một trong những buổi chiều như thế, khi ở cửa ra của phòng chiếu phim, Bác Hồ đã trông thấy tôi, trong chốc lát Người dừng lại và hỏi tôi bằng tiếng Nga:

– Cháu nói được tiếng Việt không?

Quả thật, tôi đã đứng ngây người ra, chính vì đấy là lần đầu tiên tôi được trông thấy con người huyền thoại ấy gần đến như thế. Tôi vô cùng hồi hộp và xúc động, và sau giây lát im lặng, tôi đã trả lời:

– Dạ, cháu nói không được nhiều lắm ạ…

– Vậy cháu có thích ở đây không?

– Cháu rất thích, cháu yêu Việt Nam.

Hồ Chủ tịch mỉm cười và khi chia tay, Người đã nói bằng tiếng Việt:

– Này cháu, cháu cần phải học thật tốt tiếng Việt đấy nhé. Chúc cháu nhiều thành công…

Cuộc gặp gỡ thứ hai

Vào tháng 12/1964, trong thành phần của Đoàn đại biểu thanh niên Xôviết, tôi đã đến thăm Việt Nam. Dẫn đầu đoàn đại biểu là Bí thư Ban chấp hành Trung ương Đoàn thanh niên Cộng sản Lênin Iuri Torxuev, tôi là chuyên viên Ban quốc tế của Ban chấp hành Trung ương Đoàn. Trước ngày cuối cùng của cuộc đi thăm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiếp chúng tôi. Người đã nồng nhiệt ôm hôn các vị khách, mời khách uống trà. Chủ tịch Hồ Chí Minh rất khỏe mạnh và tràn đầy nghị lực. Người hơi gầy, đôi mắt hiền từ tinh anh, chòm râu bạc, giọng nói dịu dàng, bộ quần áo giản dị, đôi dép xăng-đan…

Chủ tịch hỏi chúng tôi đã có những ấn tượng gì về cuộc đi thăm. Tôi đã dịch những lời phát biểu trả lời của đồng chí Trưởng đoàn đại biểu ra tiếng Việt, đương nhiên tôi nhớ đến lời khuyên của Hồ Chủ tịch đã dành cho tôi ba năm trước trong lần gặp đầu tiên. Sau đó Bác Hồ đã kể cho chúng tôi nghe về những năm tháng Người đã sống ở Liên Xô. Người đã hết sức khâm phục nghị lực và chí hướng vươn tới mục tiêu, mà nhờ đó nhân dân Xôviết đã dốc lòng xây dựng một xã hội mới trong những năm hai mươi và ba mươi. Về tình hình ở Việt Nam, nơi những tên xâm lược Mỹ đã gây chiến tranh ở miền Nam và bắt đầu ném bom miền Bắc, Chủ tịch đã nói ngắn gọn: “Một khi chúng đã xâm phạm đến đất nước chúng tôi, nhân dân chúng tôi nhất định sẽ đánh đuổi được kẻ thù“. Trong đó Người nhấn mạnh đến vai trò quan trọng của tình đoàn kết quốc tế với sự nghiệp chính nghĩa của Việt Nam. Trong thời kỳ đó, trong phong trào Cộng sản quốc tế đã có những sự bất đồng nghiêm trọng, và Hồ Chí Minh đã không đề cập đến chủ đề ấy. Đơn giản Người chỉ nhấn mạnh niềm tin của mình vào quê hương của Cách mạng tháng Mười.

Cuộc gặp gỡ thứ ba

Vào tháng 2/1969, Đoàn đại biểu thanh niên Xô-viết do đồng chí Bí Thư thứ nhất Ủy ban Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Lênin Evghenie Chiajenikov dẫn đầu đã sang thăm nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa. Khi đó, với cương vị là phóng viên thường trú của Thông tấn xã Liên Xô (TASS) và của Báo “Sự thật Đoàn Thanh niên Cômxômôn”, và đã làm việc ở Hà Nội được mấy năm, tôi được đưa vào thành phần của đoàn đại biểu này.

Chúng tôi đã đi thăm những khu vực khác nhau của miền Bắc Việt Nam, đã gặp gỡ với thanh niên trong các nhà máy, ở các vùng nông thôn, trong các trường học, trên các trận địa trực chiến và chúng tôi đã cảm nhận được hoàn toàn ý chí hướng tới chiến thắng không gì lay chuyển được của nhân dân Việt Nam, bất chấp những tội ác khủng khiếp nhất của giới quân phiệt Mỹ. Nhân dân Việt Nam anh hùng tuân theo lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Không có gì quý hơn độc lập và tự do“, đã giáng trả bọn xâm lược những đòn chí mạng và đã làm tất cả vì giải phóng miền Nam và thống nhất Tổ quốc.

Ngày đáng nhớ 25/2/1969 ấy sẽ không bao giờ quên được. Đoàn đại biểu của chúng tôi đã có vinh dự gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh và Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Cuộc trò chuyện thân tình đã diễn ra trong ngôi nhà nhỏ một tầng, được xây dựng trong những năm chiến tranh trong khuôn viên Phủ Chủ tịch. Chủ và khách trao nhau những vòng tay ôm, những nụ hôn bè bạn, những cái bắt tay nồng ấm. Khi mọi người đã ngồi vào bàn, Bác Hồ lấy ra chiếc bót thuốc lá và mời hút thuốc lá. Tôi không biết vì sao nữa – chúng tôi đã từ chối, và rồi sau đó mới hiểu ra rằng, đương nhiên là như vậy, cần phải đón nhận từ tay Người những điếu thuốc lá này như là món quà tinh thần. Bác Hồ đã không châm thuốc hút và bắt đầu cuộc trò chuyện:

– Chúng tôi rất rất vui mừng chào đón các bạn đã đến Việt Nam. Chắc các bạn đã thấy rõ là người dân chúng tôi có một tình yêu chân thành và nồng ấm như thế nào đối với nhân dân Xô-viết. Khi có đất nước các bạn cùng với chúng tôi, chúng tôi tin tưởng vào tương lai hạnh phúc của mình. Hồ Chí Minh đã nói rất mặn nồng về Liên Xô, Người đã nhớ lại những sự kiện khác nhau trong cuộc sống ở Moskva.

– Hồi ấy, là thời kỳ khó khăn của những năm hai mươi và ba mươi, cũng giống như bây giờ ở đất nước chúng tôi – Người nhấn mạnh.

– Nhưng hồi ấy, Thủ tướng Phạm Văn Đồng nói thêm, các bạn chỉ có một mình, còn bây giờ nhân dân chúng tôi không đơn độc…

– Sau đó những người Xô-viết đã sống tốt hơn – Hồ Chủ tịch nói tiếp – Có một lần tôi đã hỏi một cô gái (Hồ Chí Minh nói bằng tiếng

Nga: Hỏi cô Phifa), tại sao cô ấy mặc chiếc áo choàng lụa sáng tươi, tô điểm đôi mắt và đi giày cao gót. Cô ấy đã tự hào trả lời ngay: “Chính vì tôi chịu khó làm việc và đây là do tôi làm ra”. Sau đó ở Moskva đã xuất hiện tàu điện ngầm, có thêm nhiều xe hơi…
Chúng tôi đã nghe những hồi tưởng của Bác Hồ, chăm chú nhìn khuôn mặt bộc trực của Người. Xuyên qua cặp mắt kính lão, đôi mắt tinh anh, cho dù đã có phần mệt mỏi, của Người đang nhìn chúng tôi. Người ngồi đó đầu đội mũ lưỡi trai, cổ quàng khăn ấm (trời hôm ấy rất lạnh).

Nữ du kích trẻ Nguyễn Thị Kim Lai đã áp giải viên phi công Mỹ William Robinson

Hồ Chí Minh châm thuốc hút rồi bắt đầu kể về việc năm 1925 Người đã làm việc ở Quốc tế Cộng sản như thế nào, đã thành lập Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội và mấy năm sau thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam…

Vâng, tầm vóc của con người Hồ Chí Minh, tôi thiết nghĩ, hãy còn chưa được thấy rõ đến tận cùng. Phía sau Người là một cuộc đời đầy những thử thách cam go của Nhà cách mạng, của Người yêu nước và của Người chiến sĩ quốc tế vĩ đại. Người đã bị những tên thực dân Pháp kết án tử hình, đã trải qua suốt hàng chục nhà tù ở Hongkong và Trung Quốc. Từ năm 1941 Người còn tiên đoán rằng Liên Xô sẽ đánh tan nước Đức phát xít vào năm 1945, và rằng cũng vào năm đó Việt Nam sẽ giành được độc lập. Điều tiên đoán đó đã xảy ra đúng như thế. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dẫn dắt cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam trong các cuộc chiến tranh Vệ quốc chống lại những tên thực dân Pháp và những tên xâm lược Mỹ. Hồ Chí Minh đã cho chúng tôi xem một số bức ảnh ghi lại những cuộc gặp gỡ của Người với thanh niên miền Bắc Việt Nam, và với các chiến sĩ lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam.

– Thanh niên chúng tôi – Người nhấn mạnh, thật anh hùng, đó là lực lượng xung kích của chúng tôi.

Trên một trong những bức ảnh là hình một cô gái Việt Nam mảnh dẻ đang áp giải tên phi công Mỹ to béo.

– Rất nhiều người đến đất nước chúng tôi và họ rất ngạc nhiên, tại sao một đất nước nhỏ và kém phát triển như thế, lại đương đầu thành công cuộc xâm lược của Hoa Kỳ, Hồ Chí Minh nói – Nhưng khi đưa bức ảnh này ra, mọi chuyện đã trở nên rõ ràng. (Về sau chúng tôi được biết rằng bức ảnh nổi tiếng này do phóng viên Phan Thoan chụp ngày 20/9/1965 tại tỉnh Hà Tĩnh. Nữ du kích trẻ Nguyễn Thị Kim Lai đã áp giải viên phi công Mỹ William Robinson).

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kết thúc buổi gặp mặt bằng những lời biết ơn Lênin và Cách mạng tháng Mười:

– Tất cả những thắng lợi của chúng tôi đều gắn liền với tên tuổi của Lênin, tất cả chúng tôi đều biết ơn quê hương của Cách mạng tháng Mười.

(Theo Nhat-Nam.ru)
Phương Thúy (st)

bqllang.gov.vn

Học và hành theo tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hoá cầm quyền

Hồ Chủ tịch thăm nông dân xã Hùng Sơn, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên đang thu hoạch vụ lúa đầu tiên sau cải cách ruộng đất (1954)

Nói văn hóa cầm quyền là nói tới cái đẹp, cái giá trị của Đảng cầm quyền, của Chính phủ và cá nhân nhà lãnh đạo, quản lý. Văn hóa cầm quyền là nguồn lực nội sinh vô tận, to lớn của Đảng và hệ thống chính trị, chìa khóa sự phát triển của Đảng, Nhà nước, thấm sâu và tạo dấu ấn khai sáng trong quá trình phát triển của Đảng, Nhà nước.

Hồ Chí Minh nói “Đảng ta là đạo đức, là văn minh”. Trong Di chúc, Người lại viết: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng”… Đó là tư tưởng, tinh thần Hồ Chí Minh về văn hóa cầm quyền. Văn hóa cầm quyền bàn tới ở đây là nói tới văn hóa lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam khi Đảng đã trở thành Đảng cầm quyền. Đương nhiên, khi nói tới đảng cầm quyền thì không thể không nói tới chính quyền nhà nước mà trực tiếp là Chính phủ, cơ quan hành pháp với ý nghĩa “kéo dài” sự lãnh đạo của Đảng. Theo tinh thần của Lê-nin, khi Đảng trở thành Đảng cầm quyền thì văn hóa của đảng phải tương đối khác so với khi Đảng chưa cầm quyền. Văn hóa cầm quyền là biến lý luận thành thực tiễn, thông qua tổ chức, xây dựng, thể hiện mối quan hệ giữa Đảng với các thành tố trong hệ thống chính trị; đạo đức của đảng cầm quyền; văn hóa ứng xử của Đảng, Chính phủ với nhân dân và văn hóa dùng người.

1. Văn hóa cầm quyền – nguồn lực nội sinh vô tận, chìa khóa sự phát triển của Đảng

Nói văn hóa cầm quyền là nói tới cái đẹp, cái giá trị của Đảng cầm quyền, của Chính phủ và cá nhân nhà lãnh đạo, quản lý. Văn hóa cầm quyền là nguồn lực nội sinh vô tận, to lớn của Đảng và hệ thống chính trị, chìa khóa sự phát triển của Đảng, nhà nước, thấm sâu và tạo dấu ấn khai sáng trong quá trình phát triển của Đảng, nhà nước. Hồ Chí Minh nói “Văn hóa không thể đứng ngoài mà đứng trong kinh tế và chính trị”, điều đó có nghĩa là tổ chức chính trị, hoạt động chính trị, đảng chính trị và cá nhân nhà chính trị phải thấm nhuần văn hóa. Năng lực chính trị thực chất và cốt tủy là năng lực văn hóa.

Văn hóa cầm quyền thuộc dòng văn hóa chính trị. Trong những năm gần đây, dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh, trong khi khẳng định sự phát triển của xã hội dựa trên thế của “kiềng ba chân”: Gắn kết giữa nhiệm vụ phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt và phát triển văn hóa – nền tảng tinh thần của xã hội”, Đảng ta “đặc biệt coi trọng nâng cao văn hóa lãnh đạo, quản lý”(1), “Nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền”(2). Nâng cao năng lực cầm quyền của Đảng, năng lực quản lý của nhà nước thực chất sâu xa và cốt tủy là nâng cao văn hóa cầm quyền của Đảng và văn hóa quản lý của nhà nước; đồng thời nâng cao văn hóa lãnh đạo, quản lý của từng cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu.

Trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta kiên trì mục tiêu vì dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.

Muốn thực hiện được mục tiêu đó, trước hết Đảng phải đề ra được một cương lĩnh cách mạng xuất phát từ thực tiễn Việt Nam, đáp ứng được nguyện vọng của nhân dân, phù hợp với xu thế vận động của thời đại. Điểm chung của thực tiễn Việt Nam từ xưa đến nay là văn hóa, lịch sử, con người Việt Nam. Đó là một thực tiễn hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước với sự đắp bồi nhiều giá trị tinh thần truyền thống Việt Nam. Những giá trị đó là nguồn lực vô tận để nhân dân Việt Nam thực hiện khát vọng ngàn đời của mình là độc lập dân tộc và sống đời hạnh phúc. Việt Nam ngày nay đang trong quá trình hội nhập vào thế giới toàn cầu hóa với bao điều mới mẻ của cách mạng khoa học và công nghệ, kinh tế tri thức, kinh tế thị trường, biến đổi môi trường… Việt Nam phải phát triển bền vững trong quỹ đạo và xu thế của thế giới là hòa bình, hợp tác, dân chủ và đa dạng văn hóa. Xuất phát từ thực tiễn Việt Nam, sải bước cùng thời đại là một tiêu chí của văn hóa cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Thước đo văn hóa cầm quyền của Đảng là lòng dân. Đảng cầm quyền nhưng dân là chủ. Đảng cầm quyền để dân làm chủ. Đảng cầm quyền nhưng dân là gốc. Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân; trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân. Bài học quý giá Hồ Chí Minh để lại cho Đảng ta ngày nay là: “Dân chúng đồng lòng, việc gì cũng làm được. Dân chúng không ủng hộ, việc gì làm cũng không nên”(3).

Trong đường lối lãnh đạo và cương lĩnh của Đảng, tức là về mặt lý thuyết, Đảng đã khẳng định rõ ràng, dứt khoát tất cả mọi hoạt động của Đảng là vì hạnh phúc của nhân dân. Nhưng cái khó nhất, cũng là văn hóa cao nhất của Đảng cầm quyền lại không phải nằm ở lý luận mà phải nằm ở thực tiễn. Hành động để đem lại hiệu quả thật sự cho dân chúng từ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội đến “tương, cà, mắm, muối” và lấy hiệu quả đó làm thước đo mới là điều khó nhất của một đảng cầm quyền. Bác thường dạy: “Nói thì dễ, làm thì khó”. Cái khó trong khi làm không phải là khó khăn, vất vả, mệt nhọc mà cái chính là không vượt qua được chính mình để thực hiện quan điểm quần chúng. Ví dụ: “Miệng thì nói dân chủ nhưng làm việc thì họ theo lối “quan” chủ. Miệng thì nói “phụng sự quần chúng”, nhưng họ làm trái ngược với lợi ích của quần chúng”(4). “Làm theo lối “quan” chủ” tức là lãnh đạo thiếu văn hóa, lãnh đạo bằng quyền lực, “làm việc theo cách quan liêu. Cái gì cũng dùng mệnh lệnh. Ép dân chúng làm”(5). Làm như vậy thì dân oán. Mà “dân oán, dù tạm thời may có chút thành công, nhưng về mặt chính trị, là thất bại”(6) (người trích nhấn mạnh). Chính trị thất bại tức là không được lòng dân. Mà cái nguy hiểm nhất là mất lòng dân. Bởi vì, mất tiền và của cải thì còn làm lại được, còn đã mất lòng tin, đặc biệt là mất lòng tin của dân là mất tất cả. Nâng cao văn hóa cầm quyền là Đảng phải có sự lựa chọn sáng suốt, có tầm nhìn, trí tuệ và bản lĩnh văn hóa giữa việc lấy cái căn bản quy tụ của lòng dân và lợi ích lâu dài thay vì lợi ích và thành tích trước mắt mang mầm bệnh. Văn hóa cầm quyền là phải “sao cho được lòng dân”(7).

2. Đảng phải tôn trọng chính quyền, hoạt động trong khuôn khổ của Hiến pháp và pháp luật

Nói đến Đảng cầm quyền là phải nói tới quản lý của nhà nước. Trong văn hóa cầm quyền thì văn hóa lãnh đạo và văn hóa quản lý thâm nhập vào nhau. Giá trị, uy tín, quyền uy tạo sức mạnh của đảng cầm quyền không chỉ trong khuôn phép của Đảng mà được cân, đong, đo, đếm bằng văn hóa quản lý. Nói cách khác, văn hóa quản lý là một thước đo của văn hóa lãnh đạo của đảng cầm quyền, trong đó “Chính phủ là công bộc của dân” như Hồ Chí Minh dạy là tiêu chí hàng đầu.

Trên cơ sở nhận thức nhà nước là vấn đề cơ bản của mọi cuộc cách mạng, văn hóa của đảng cầm quyền là Đảng phải tôn trọng chính quyền, tôn trọng nhà nước. Đảng cầm quyền nhưng không thể và không được đứng trên nhà nước, đứng trên và đứng ngoài pháp luật. Xã hội xã hội chủ nghĩa mà chúng ta xây dựng là một xã hội có nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo. Đây là một nhận thức rất quan trọng trong cấu trúc quyền lực của hệ thống chính trị đương đại. Với nhà nước đó thì Quốc hội là cơ quan có quyền lực cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia sẽ đưa ra nhân dân phúc quyết. Nhân dân có quyền bãi miễn các đại biểu Quốc hội nếu những đại biểu ấy tỏ ra không xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân. “Nếu Chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi Chính phủ”(8). “Bãi miễn các đại biểu” là tinh thần của “văn hóa từ chức” theo cách nói ngày nay. Nghĩa là, các vị đại diện khi được dân bầu – tức là dân ủy thác quyền lực – thì phải làm hết trách nhiệm “như một người lính vâng lệnh quốc dân ra trước mặt trận”; khi dân không còn tín nhiệm nữa thì phải vui vẻ từ chức theo lời dạy của Bác Hồ “khi nào đồng bào cho tôi lui thì tôi rất vui lòng lui”. Đảng cầm quyền, mọi tổ chức và cá nhân đều bình đẳng trước pháp luật và tuân thủ hiến pháp và pháp luật mà không có một ngoại lệ nào. Tất cả họ phải hành xử theo đúng hiến pháp và pháp luật.

Khi Đảng trở thành đảng cầm quyền, việc giải quyết mối quan hệ giữa Đảng với nhà nước là giá trị văn hóa hàng đầu, vì Đảng phải hoàn thành sứ mệnh “hai vai”. Là người lãnh đạo nhà nước, Đảng phải xứng danh lãnh đạo với một chiều sâu trí tuệ, một bề dày đạo đức, sự vững chắc về bản lĩnh chính trị và phương thức lãnh đạo trọng dân, tin dân, gần dân, hiểu dân, học dân, hỏi dân, theo đúng đường lối quần chúng. Là một thành tố của hệ thống chính trị, Đảng phải hành xử phù hợp với hiến pháp và luật pháp, không được lạm quyền, coi khinh dư luận.

3. Đảng, Chính phủ phải luôn luôn tự phê bình và hoan nghênh nhân dân phê bình mình

Đảng luôn luôn tự phê bình, hoan nghênh nhân dân và đảng viên phê bình mình. Đảng phải nâng cao dân trí, bồi dưỡng ý thức làm chủ, nâng cao tính tích cực công dân, tự do ngôn luận, khuyến khích nhân dân tham gia vào các công việc của nhà nước, khắc phục mọi thứ dân chủ hình thức.

Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Làm sao cho nhân dân biết hưởng quyền dân chủ, biết dùng quyền dân chủ của mình, dám nói, dám làm”(9). Phải khiến cho cán bộ cả gan nói, cả gan đề ra ý kiến. Nếu cán bộ không nói năng, không đề ý kiến, không phê bình, thậm chí lại tâng bốc mình, thế là một hiện tượng rất xấu. Thế là mất hết dân chủ trong Đảng. Thế là nội bộ của Đảng âm u, cán bộ trở nên những cái máy, trong lòng uất ức, không dám nói ra, do uất ức mà hóa ra oán ghét, chán nản. “Nếu đào tạo một mớ cán bộ nhát gan, dễ bảo “đập đi, hò đứng”, không dám phụ trách. Như thế là một việc thất bại cho Đảng”(10).

Văn hóa truyền thống, phía sau cái mạnh trọng tình, bộc lộ cái hạn chế duy tình, thiếu văn hóa tranh luận, mà thực chất là giấu giếm khuyết điểm và thích khen, không thích chê, trở thành bệnh thành tích. “Nếu ai nói chúng ta không dân chủ, thì chúng ta khó chịu. Nhưng nếu chúng ta tự xét cho kỹ, thì thật có như thế”(11). Nâng cao văn hóa của đảng cầm quyền là thể hiện một đảng văn minh như cách nói của Bác Hồ. Ngược lại, “một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sữa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính”.

Trên nền tư duy “Chính phủ là công bộc, đầy tớ của dân”, Hồ Chí Minh chỉ ra rằng “khi dân dùng đày tớ làm việc cho mình, thì phải giúp đỡ Chính phủ. Nếu chính phủ sai thì phải phê bình, phê bình nhưng không phải là chửi… Xin đồng bào hãy phê bình, giúp đỡ giám sát công việc Chính phủ”(12).

Khuyết điểm, sai lầm là xấu, là phản văn hóa, nhưng nếu nhận ra khuyết điểm, sai lầm và tìm mọi cách khắc phục, sửa chữa sai lầm, khuyết điểm thì đó là một hành vi mang giá trị văn hóa. Nhân dân chính là người mang lại giá trị văn hóa lãnh đạo, văn hóa quản lý cho Đảng và Chính phủ. Nhận thức rõ điều đó, Hồ Chí Minh thường xuyên nhắc nhở “Chính phủ mong đồng bào giúp đỡ, đôn đốc, kiểm soát và phê bình để làm tròn nhiệm vụ của mình là người đầy tớ tận tụy của nhân dân”.

Tư duy Hồ Chí Minh là Đảng và Chính phủ phải luôn luôn tạo điều kiện để nhân dân phê bình mình. Bởi vì, dân chúng thông minh, sáng tạo “biết giải quyết nhiều vấn đề một cách giản đơn, mau chóng, đầy đủ, mà những người tài giỏi, những đoàn thể to lớn, nghĩ mãi không ra”.
“Dám nói” theo quan điểm Hồ Chí Minh là một giá trị văn hóa đỉnh cao. Chỉ có một đảng cách mạng chân chính, đạo đức, văn minh thì mới đủ trí tuệ, bản lĩnh tạo điều kiện cho dân dám nói. Và chỉ khi nào dân chúng và cán bộ đảng viên dám nói, dám phê bình, kiểm soát hoạt động của Đảng và Chính phủ thì Đảng và Chính phủ mới làm việc tốt hơn và cán bộ, viên chức các cơ quan chính phủ mới thật sự là công bộc của dân. Vì vậy, “cần phải có biện pháp khác, biện pháp nghiêm ngặt hơn, để trừng trị loại cán bộ tha hóa, biến chất. Phải gây nên một đạo đức để ngăn ngừa, gây nên một phong trào quần chúng gớm ghét, bao vây lũ giặc ấy. Biện pháp ấy là gây nên một cuộc vận động trong công nông chống tiêu cực, làm cho những kẻ “chạy” không sống còn được”(13).

4. Văn hóa cầm quyền – văn hóa dùng người

Văn hóa của đảng cầm quyền, văn hóa lãnh đạo đạo, quản lý có một nội dung căn cốt là văn hóa dùng người. Con người sáng tạo ra văn hóa và cũng là sản phẩm của văn hóa. Cán bộ là gốc của mọi công việc. Mọi việc thành hay bại đều liên quan tới cán bộ tốt hay kém.

Một trong những phương thức lãnh đạo của đảng cầm quyền là thông qua cán bộ và công tác cán bộ. Hiện nay chúng ta đang phải đối mặt với nhiều thách thức trong công tác cán bộ, đó là nạn chạy chức, chạy quyền, chạy tội, chạy dự án, chạy bằng cấp, chạy tuổi, chạy huân huy chương… Lại có một dạng thách thức khác, đó là năng lực, bản lĩnh, đạo đức, phương pháp công tác của cán bộ không tương xứng với vị trí, chức vụ quản lý, lãnh đạo. Một thực tế đáng buồn đang diễn ra ở những mức độ khác nhau ở tất cả các loại cán bộ, các ngành, các cấp, các địa phương là có một loại cán bộ không chịu rèn đức, luyện tài mà chỉ rèn “công nghệ” xu nịnh, luồn cúi, a dua, “đi nhẹ, nói khẽ, hay cười và chạy…”, “thấy xôi nói xôi ngọt, thấy thịt nói thịt bùi”, theo gió bẻ buồm, không có khí khái. Còn một bộ phận thuộc loại cán bộ được Đảng, nhà nước giao cho trọng trách làm công tác cán bộ lại thích người chạy và kẻ khéo nịnh hót mình, ghét người chính trực. Nhưng nguy hiểm nhất là những cái đó đang dần dần có xu hướng trở thành “giá trị” trong cơ cấu quyền lực của hệ thống chính trị, của xã hội và được một bộ phận xã hội đồng tình, chưa bị sức mạnh văn hóa, đạo đức của xã hội, của nhân dân đánh bại. Những ai chỉ chăm chú rèn đức, luyện tài, phát biểu trung thực thẳng thắn, vì sự thật thà đoàn kết và phát triển của đơn vị mà lại thiếu những “tố chất chạy”, lại thường bị coi là những người “xa lạ”, không thức thời. Nói tóm lại, một nguy cơ lớn là sự đảo lộn giá trị. Một đơn vị mà đa số cán bộ thuộc loại kém và trung bình, mang tư tưởng “dĩ hòa vi quý, chín bỏ làm mười”, còn thiểu số là tích cực, trung thực, thẳng thắn, thật sự tu dưỡng hồng, chuyên thì nguyên tắc “thiểu số phục tùng đa số” sẽ không mang lại kết quả tích cực như mong muốn.

Trước tình trạng đó, một đảng độc quyền lãnh đạo, nếu không có trí tuệ, tầm nhìn và bản lĩnh văn hóa trong việc dùng người thì nhất định thất bại. Đảng phải tìm thấy giá trị trong các mối quan hệ giữa người già và người trẻ; người trong Đảng và người ngoài Đảng; người có bằng cấp và không có bằng cấp, doanh nhân và trí thức, nhà lãnh đạo, quản lý và nhà khoa học… Trí tuệ văn hóa thể hiện bản lĩnh văn hóa của đảng cầm quyền là phải thấy thanh niên là người chủ tương lai của đất nước, thế hệ mới chắc chắn sẽ vượt thế hệ cũ (và có như thế thì đất nước và dân tộc mới có phúc). Có nhiều người không có bằng cấp nhưng có tài, có đức, cần phát hiện, trọng dụng và có chế độ đãi ngộ xứng đáng. Không phải đã lãnh đạo, quản lý là giỏi. Một người lãnh đạo, quản lý mất đi có người thay thế được ngay, còn một nhà khoa học, thật sự khoa học (đầu ngành hay chuyên ngành) mất đi, rất khó tìm người thay thế (thậm chí không có được người thay thế). Trong Đảng cũng có những người kém, người xấu. Hồ Chí Minh dạy: “Đảng ta không phải trên trời sa xuống. Nó ở trong xã hội mà ra. Vì vậy, tuy nói chung, thì đảng viên phần nhiều là những phần tử tốt, nhưng vẫn có một số chưa bỏ hết những thói xấu tự tư tự lợi, kiêu ngạo, xa hoa… Trong Đảng ta chưa hoàn toàn tránh khỏi một vài kẻ vu vơ, những việc không chính đáng”(14). Vì vậy, văn hóa của đảng cầm quyền là đủ khả năng phân định có chất lượng khoa học và cách mạng một cách rõ ràng thật – giả, vàng – thau, tốt – xấu, đúng – sai… Đảng không chọn được những người có đức, có tài, quyết tâm, suốt đời, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân thì đó là thất bại cho Đảng, cũng là thất bại cho cách mạng.

5. Phải thật sự thấm nhuần văn hóa đạo đức

Trong điều kiện cầm quyền, cùng với việc Đảng xây dựng đường lối khoa học, đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng. Nếu học và hành theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh không tốt thì đó là nguy cơ lớn của Đảng. Cuộc vận động xây dựng Đảng về đạo đức trong những năm qua chưa đạt yêu cầu đặt ra. “Có những tổ chức đảng tê liệt, mất sức chiến đấu… Bệnh cơ hội, chủ nghĩa cá nhân trong một bộ phận cán bộ, đảng viên có chiều hướng gia tăng; vẫn còn tình trạng “chạy chức”, “chạy quyền”, “chạy tội”, “chạy bằng cấp”. Thoái hóa biến chất về chính trị, tư tưởng, về đạo đức, lối sống; tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, sách nhiễu dân trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên diễn ra nghiêm trọng, kéo dài chưa được ngăn chặn, đẩy lùi…, làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng. Đó là một nguy cơ lớn liên quan đến sự sống còn của Đảng, của chế độ(15). Như vậy là rất rõ ràng. Nếu Đảng cầm quyền thiếu văn hóa đạo đức thì Đảng sẽ mất lòng tin của dân, sẽ cô độc. Mà “cô độc thì nhất định thất bại”(16).

…Mấu chốt là ở chỗ, “Đảng có vững cách mạng mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thì thuyền mới chạy” như Hồ Chí Minh đã dạy. Văn hóa chính trị mà cốt lõi là văn hóa cầm quyền sẽ thật sự đem lại cho Đảng những tố chất trong sạch, vững mạnh. “Đảng vững” theo tư tưởng Hồ Chí Minh là Đảng đạo đức, văn minh. Tăng cường xây dựng văn hóa cầm quyền, văn hóa lãnh đạo – quản lý là xây dựng năng lực, trí tuệ, đạo đức, bản lĩnh, phương pháp, phong cách của Đảng, Chính phủ, của đảng viên, cán bộ, nhất là người đứng đầu.

Người Trung Quốc quan niệm cầm quyền là sự nghiệp, ý nghĩa của sự nghiệp là cống hiến. Cầm quyền là khoa học, giá trị của khoa học là ở cầu sự chân thực. Cầm quyền là nghệ thuật, sức sống của nghệ thuật là ở sáng tạo. Cầm quyền là thách thức, mấu chốt của ứng đối là ở bản thân. Nếu nói rằng, địa vị cầm quyền của Đảng không phải sinh ra đã có thì chúng ta cũng có thể nói rằng, địa vị cầm quyền của Đảng luôn đi cùng với sự cống hiến và hy sinh. Nếu nói rằng, địa vị cầm quyền của Đảng không phải có rồi sẽ tồn tại mãi mãi, thì cũng có thể khẳng định rằng, chỉ cần Đảng một lòng vì công thì Đảng có thể đứng vững lâu dài; chỉ cần Đảng một lòng vì dân thì Đảng có thể cầm quyền tốt đẹp; chỉ cần Đảng kiên trì tôn chỉ và tính chất của mình, không ngừng tăng cường xây dựng mình, thì Đảng có thể vĩnh viễn đứng ở vị trí chiến thắng (17)./.

(1), (15) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb CTQG, H, 2006, tr.213, 263-264.
(2) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Sđd, tr.279.
(3), (5), (6), (8), (10), (11), (12), (14), (16) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H, 1995, t.5, tr.293, 293,293, 61, 281, 243, 60-61, 238.
(4), (13) Sđd, t.6, tr.292, 501
(7) Sđd, t.4, tr.47.
(9)Sđd, t.12, tr.223.
(17) Xem Tôn Chí Cương: Suy nghĩ về tăng cường xây dựng năng lực cầm quyền của Đảng, trong Những vấn đề chính trị- xã hội, Học viện CTQG Hồ Chí Minh, số 13, 2006, tr.1-13.

Theo tuyengiao.vn
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Nét văn hoá độc đáo trong cách học và cách viết của Hồ Chủ tịch

Xét cho cùng, lịch sử loài người cũng như lịch sử mỗi dân tộc không có gì khác hơn là quá trình con người tự nhận thức để làm chủ bản thân, nhận thức về xã hội để làm chủ xã hội, nhận thức về thiên nhiên để làm chủ thiên nhiên. Nói đến vấn đề nhận thức là nói đến văn hoá, nói đến sự phát triển của trí tuệ và năng lực, tư duy, nói đến quá trình sáng tạo và sự phát triển không ngừng của khoa học, kỹ thuật, của văn minh công nghiệp.

Khái niệm văn hoá và văn minh có mối quan hệ khăng khít với nhau nhưng vẫn là hai vấn đề có nội hàm khác nhau. Khái niệm văn minh rộng hơn, bao quát hơn khái niệm văn hoá; văn minh là kết quả của quá trình phát triển còn văn hoá gắn với phát triển, là động lực của phát triển. Nói về văn hoá, Hồ Chí Minh đã định nghĩa rằng: “Văn hoá là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”. Cụ thể hơn “xã hội thế nào, thì văn hoá thế ấy”. Người chỉ rõ: “Thực dân Pháp đã phá hoại tất cả các phong tục tập quán và nền văn minh của dân tộc bị xâm chiếm…Muốn biến một dân tộc thành nô lệ thì phải làm cho dân tộc đó càng ít văn hoá chừng nào càng tốt chừng ấy, phải ban cho dân tộc đó một nền văn hoá theo chiều nằm chứ không phải theo chiều đứng, như lời của viên toàn quyền Merlin đã từng nói.”

Đấu tranh bằng mọi hình thức và bằng mọi con đường để mang lại nền độc lập, tự do và ánh sáng văn hoá cho nhân dân, trước hết là tư tưởng giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người được xem là lý tưởng cao nhất của mục tiêu văn hoá trong con người vĩ đại Hồ Chí Minh. Cho nên, không phải ngẫu nhiên, từ những năm 1920 đến khi thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiến hành nhiều hoạt động văn hoá, lúc thì viết báo, khi thì viết sách, lúc viết truyện ký, viết kịch, làm thơ, vẽ ký hoạ vừa công khai, vừa bí mật hoặc bán công khai để tuyên truyền cho lý tưởng cách mạng, đồng thời tổ chức tập hợp quần chúng cách mạng, giáo dục cán bộ, đảng viên tạo nên lực lượng cách mạng hùng hậu cho sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Đồng thời, cũng từ đó hình thành nền văn hoá Mácxít trong con người Hồ Chí Minh.

Hồ Chí Minh không chỉ là lãnh tụ thiên tài của cách mạng Việt Nam mà còn là nhà thơ, nhà văn, nhà báo, nhà ngôn ngữ học, người thầy vĩ đại …

Lúc thiếu thời, cậu bé Thành rất thích 2 câu thơ:

Mỗi bữa không quên ghi sử sách
Lập thân hèn nhất ấy văn chương.

Năm 1905, sau khoảng 10 năm học chữ Hán, Nguyễn Tất Thành chuyển sang học tiếng Pháp, nhưng chỉ mới kịp học đến lớp cao đẳng tiểu học. Năm 1907, từ trường Đông Ba, Nguyễn Tất Thành được chuyển sang trường Quốc học Huế và được nhận vào lớp trung đẳng, hay còn gọi là lớp nhì của bậc tiểu học. Tiếng Pháp là ngôn ngữ chính dạy trong trường. Nguyễn Tất Thành miệt mài học tập, tập viết, tập dịch, tập phát âm tiếng Pháp, mà vẫn không quên trau dồi chữ Hán, trong đầu luôn có suy nghĩ: “muốn đánh Pháp thì phải hiểu Pháp, muốn hiểu Pháp thì phải học chữ Pháp”.

Học xong lớp nhất niên khoá 107-108, Nguyễn Tất Thành đã đạt điểm xuất sắc đã vượt qua năm thứ nhất vào thẳng năm thứ hai trường Quốc học. Năm 1911 Thầy Thành dạy chữ Pháp và chữ quốc ngữ cho lớp ba và lớp tư tại trường Dục Thanh ở Phan Thiết.

Bản Yêu sách của Nguyễn Ái Quốc được ông Phan văn Trường dịch ra tiếng Pháp nhưng ông không viết tất cả những điều mà Nguyễn Ái Quốc muốn nói, đến đây Nguyễn Ái Quốc đã nhận ra nhược điểm của mình là chưa viết được tiếng Pháp. Nguyễn Ái Quốc quyết định đến gặp chủ nhiệm báo Dân chúng là Giăng Lông-ghê – cháu ngoại của Các-Mác đồng thời là Nghị sỹ Quốc hội. Ông ta khuyến khích Nguyễn Ái Quốc học nghề làm báo và bày cách học viết báo cho Nguyễn Ái Quốc.

Ông Nguyễn nói thật mình còn kém tiếng Pháp, Người chủ bút nói: “Điều đó không ngại, có thế nào anh viết thế ấy. Tôi sẽ chữa bài của anh trước khi đưa in. Anh không cần viết dài; năm sáu dòng cũng được”. Ông Nguyễn bắt đầu viết rất khó khăn. Tin tức về Việt nam, ông Nguyễn không thiếu, cái ông thiếu nhất là văn Pháp. Ông Nguyễn viết làm hai bản, gửi cho toà báo một bản, giữ lại một bản. Ông hết sức vui sướng khi thấy bài viết đầu tiên của mình được đăng lên báo. Ông đọc lại bài báo đã in, so sánh và sửa chữa những chỗ viết sai. Ông kiên nhẫn làm theo cách ấy. Khi thấy đã viết bớt sai, ông chủ bút bảo ông Nguyễn: “ Bây giờ anh viết dài hơn một tí, viết độ bảy tám dòng”. Ông Nguyễn viết bảy, tám dòng.

Dần dần, ông Nguyễn có thể viết cả một cột báo và có khi dài hơn. Lúc bấy giờ, người chủ bút trở thành bạn thân của ông Nguyễn, khẽ bảo: “Bây giờ anh viết ngắn lại, viết từng này hoặc từng này dòng. Không viết dài hơn”.
Ông Nguyễn thấy rằng, phải rút ngắn cũng không như trước kia phải kéo dài, nhưng hết sức cố gắng. Và ông thành công. Ông bắt đầu vào làng báo từ đó.

Ngày mồng 2 tháng 8 năm 1919 là một ngày đáng nghi nhớ. Bởi lẽ hôm đó, báo Nhân đạo đăng bài viết đầu tiên của nhà báo Nguyễn Ái Quốc có nhan đề Vấn đề Bản xứ.Tiếp theo là các bài “Đông Dương và Triều Tiên” hay “Thư gửi Ông U-tơ-rây”.

Với kinh nghiệm như vậy, sau này Bác được học ở trường Lê-nin, trường Đảng cao cấp cho các lãnh tụ nước ngoài và học ở Viện Nghiên cứu các vấn đề dân tộc và thuộc địa. Bác có thể đọc báo Đảng bằng tiếng Trung Quốc, tiếng Anh, tiếng Pháp, dịch các bài hay để bồi dưỡng tinh thần quốc tế cho nhóm học sinh Việt Nam. Bác còn chú ý dạy cho anh em cách viết: qua việc duyệt các bài báo hoặc những tài liệu do anh em dịch ra tiếng Việt, Bác luôn luôn chú ý làm cho anh em viết một cách giản đơn, dễ hiểu, không dùng nhiều danh từ và nếu dùng thì dùng cho đúng. Nếu Bác thấy lủng củng, khó hiểu tức thì Bác gạch đi, bảo viết lại hay dịch lại.

Năm 1927-1928 Bác ở Xiêm và lấy tên là Thầu Chín. Bác đặt chương trình hàng ngày của mình: Buổi sáng lao động mấy giờ, học tiếng Xiêm mấy chục chữ, dịch mấy trang sách; buổi tối, huấn luyện chính trị hoặc nói chuyện với mọi người. Thầu Chín tham gia gánh gạch xây dựng nhà trường. Vì chưa quen gánh nặng nên buổi đầu, ông đặt chương trình gánh mỗi đầu mười viên, sau tăng dần lên 15 viên và mỗi sáng gánh hai chục gánh. Cứ mỗi lần gánh đến chỗ xếp gạch, ông lại lấy phấn đánh dấu, theo thứ tự nét chữ “chính” là ông nghỉ; ông cũng không bao giờ gánh hơn mà cũng không gánh kém. Thầu Chín cũng cổ động mọi người học chữ Xiêm; số người cùng học được mười người. Khi đặt chương trình, Thầu Chín đề ra cách học: trong thời gian đầu mỗi ngày học mười chữ, về sau tăng dần lên. Mọi người chê ít, đòi học nhiều hơn. Thầu Chín chủ trương học mười chữ thôi. Mọi người cho rằng nhất định mình học được. Chưa đầy ba tháng, Thầu Chín đã xem được báo chữ Xiêm.

Thầu Chín đã xem sách và dịch sách như thế nào? Trước khi định đọc hay dịch một cuốn sách, ông đếm số chương và số trang, rồi đặt chương trình mỗi ngày dịch hay đọc mấy tờ. Ông không bao giờ chịu sai chương trình (hồi ấy Thầu Chín dịch cuốn Nhân loại tiến hoá sử và cuốn cộng sản A,B,C). Nếu gặp việc đột xuất, như có kiều bào đến nói chuyện thì Ông cũng kiếm thời gian khác bù vào cho đúng kế hoặch. Chính vì sự kiên trì mà sau này về Pắc Bó Người đã dịch thành công cuốn lịch sử Đảng bằng tiếng Nga.

Ngày 5/6/1911 Nguyễn Tất Thành rời Cảng Nhà Rồng sang phương Tây trên một chiếc tàu viễn dương Pháp thì ngày 8/2/1941, Nguyễn Ái Quốc bước qua biên giới Việt- Trung, khép 30 năm bôn ba đi tìm con đường đúng đắn cho cách mạng Việt Nam, lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi đến bến bờ vinh quang.

10 năm học chữ Hán với cha và các nhà nho yêu nước đã trang bị cho Nguyễn Tất Thành một vốn chữ Hán không nhỏ để sau này Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có thể sáng tác 133 bài thơ chữ Hán trong ngục tù của bọn Tưởng. Nhà thơ Cu-ba Phê lích Pi ta Rôđơrighết đã mượn câu của W.Uýtman để nói về Nhật Ký trong tù: “Ai mở cuốn sách này sẽ gặp một con người” và ông nói thêm: “Một con người, nhưng đây là một con người đã qua một sự chắt lọc trong sáng nhất, đã được nâng lên làm cho nó có tầm vóc lớn”.

Mở đầu tập Ngục trung nhật ký Người viết: “Ngâm thơ ta vốn không ham…” đúng với suy nghĩ của cậu Thành thời trẻ “Lập thân tối hạ thị văn chương”, nhưng trên con đường 30 năm bôn ba hoạt động cách mạng, Người nhận ra rằng văn chương là một lợi khí sắc bén và đã nắm lấy nó, trau dồi để sử dụng thành thục nhằm phục vụ cách mạng. Từ vở kịch con Rồng Tre, truyện Vi Hành, Bản án Chế độ Thực dân Pháp, các bài báo bằng tiếng Pháp, Chính Cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt của Đảng cho đến Bản Tuyên ngôn Độc lập, các bài thơ Chúc tết và Di chúc bất hủ đều thống nhất một quan điểm: viết văn, viết thơ là một hành động cách mạng. Trước khi viết, Người cân nhắc xem: “viết cho ai – đối tượng; viết để làm gì – mục đích; viết cái gì – nội dung; viết như thế nào? – thể loại.

Trên con đường hoạt động cách mạng, Bác đã đi rất nhiều nước, viết rất nhiều tác phẩm, học và nói được rất nhiều thứ tiếng tất cả cũng chỉ nhằm một mục đích cuối cùng là phục vụ cách mạng, làm cho nước nhà được độc lập, tự do, nhân dân ai cũng có cơm ăn áo mặc, được học hành…Bác viết cả chính luận, chính trị, kịch, thơ ca hò vè, nhưng ít khi trích dẫn. Ngôn ngữ sử dụng mộc mạc, giản dị, dễ hiểu mà có sức cổ vũ lan toả, lôi cuốn, động viên lớn, mang đậm phong cách Hồ Chí Minh. Chẳng hạn nói về Đảng, Bác nhấn mạnh: Đảng không phải là một tổ chức để làm quan, phát tài… Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình. Còn đối với quần chúng nhân dân để nói về sự đoàn kết Bác viết Bài ca sợi chỉ, bài thơ Hòn đá, động viên nhân dân vào hợp tác xã nông nghiệp, Lê nin dùng hình ảnh: “Người nông dân như củ khoai tây…” còn Bác lại viết: “Bà con hãy vào hợp tác xã đi, nó có rất nhiều lợi ích giống như hai người đi tắm kỳ lưng cho nhau”.

Tại Hội nghị văn hoá toàn quốc lần thứ nhất họp tại Hà Nội tháng 11 năm 1946, Hồ Chí Minh đã đọc diễn văn khai mạc nêu bật nhiệm vụ của nền văn hoá mới và vai trò động lực của văn hoá đối với cách mạng. Người nói: “Văn hoá phải làm thế nào cho quốc dân có tinh thần vì nước quên mình, vì lợi ích chung mà quên lợi ích riêng. Với xã hội, văn hoá phải làm thế nào cho mỗi người dân Việt Nam từ già đến trẻ, cả đàn ông và đàn bà ai cũng hiểu cái nhiệm vụ của mình và biết hưởng hạnh phúc của mình nên được hưởng.

Đặc biệt khi nói với giới văn nghệ sĩ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã bày tỏ quan điểm của mình một cách rõ ràng về mối quan hệ giữa văn hoá và chính trị, văn hoá với kinh tế…Người nói: “Văn hoá và nghệ thuật cũng như nhiều hoạt động khác, không thể đứng ngoài mà phải đứng trong kinh tế và chính trị”. Từ đó quan điểm đó, Người đề ra khẩu hiệu: “Kháng chiến hoá văn hoá, văn hoá hoá kháng chiến. Văn hoá cũng là một mặt trận, người nghệ sỹ cũng đồng thời là người chiến sĩ trên mặt trận đó”.

Ngày nay, văn hoá trở thành động lực và mục tiêu của sự phát triển không phải là chân lý độc quyền ở nước ta, cho riêng xã hội ta. Đó là những vấn đề chung mang tính toàn cầu, cho nên không phải ngẫu nhiên UNESCO lại đứng ra phát động Thập kỷ thế giới văn hoá giữa lúc thế giới đang bùng nổ thông tin, bùng nổ văn hoá và sự phát triển mạnh mẽ khoa học kỹ thuật và công nghệ, hứa hẹn một giai đoạn phát triển mới, một nền văn minh mới của xã hội loài người.

Thiết nghĩ, Đảng ta đã phát động và đang triển khai thực hiện Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” thì những “nét văn hoá độc đáo trongcách học, cách viết” của Bác đáng để mỗi người chúng ta suy nghĩ, vận dụng thực hiện trong cuộc sống hàng ngày, góp phần xây dựng đất nước Việt Nam ngày càng giàu mạnh, ấm no, hạnh phúc. Phương pháp học và cách viết của Bác sẽ mãi mãi vẫn còn nguyên giá trị cho các thế hệ mai sau.

Bùi Công Uẩn

Người mẹ Làng Sen

Bà Hoàng Thị Loan (1868 - 1901), thân mẫu Chủ tịch Hồ Chí Minh

Tôi tin rằng đã là người Việt Nam, ai cũng có mong muốn được một lần về thăm quê Bác Hồ – nơi vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc đã từng sống ngày còn ấu thơ. Về Làng Sen, thăm nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sinh ra, lớn lên và lên núi Động Tranh, đến mộ bà Hoàng Thị Loan để thắp nén nhang tưởng nhớ bày tỏ tấm lòng thành kính biết ơn đối với thân mẫu của Bác – người mẹ anh hùng đã sinh ra Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trở thành một địa chỉ thiêng liêng trong lòng mỗi người dân Việt Nam.

Hoàng Thị Loan (1901) là con gái của cụ Hoàng Xuân Đường. Bà sinh ra trong một gia đình nho học truyền thống lâu đời, nếp sống hàng ngày của các thành viên trong gia đình mang nhiều phẩm chất văn hóa cao đẹp của quê hương Nam Đàn xứ sở Hồng Lam.

Khi bước vào độ tuổi trăng tròn đẹp nhất của người con gái, Bà Hoàng Thị Loan được mọi người biết đến là một cô gái nết na, thuỳ mị, luôn vui vẻ, hoà nhã, dung nhan tươi đẹp, duyên dáng, ngày thì chăm việc đồng áng, tối về nhà lại miệt mài canh cửi. Con người Bà đã hội tụ đủ bốn đức tính của người phụ nữ truyền thống: công, dung, ngôn, hạnh.

Vào thời kỳ này, người phụ nữ vẫn còn bị ràng buộc nặng nề bởi các lễ giáo phong kiến, đặc biệt là trong hôn nhân. Việc kết hôn phải môn đăng hộ đối: “trao tơ phải lứa, gieo cầu đáng nơi”. Được sự động viên, ủng hộ của gia đình, Bà Hoàng Thị Loan đã mạnh dạn vượt lên những quan niệm cổ hủ của xã hội để đem lòng yêu thương và kết duyên cùng cậu Nguyễn Sinh Sắc, người mồ côi cả cha lẫn mẹ và được gia đình mình đưa về nuôi cho ăn học trong nhà đã mấy năm nay. Ngày cưới của Nguyễn Sinh Sắc và Hoàng Thị Loan được tổ chức vào mùa sen nở năm Quý Mùi (1883).

Ông bà Hoàng Xuân Đường dựng ngôi nhà lá ba gian đầu góc vườn phía tây nhà mình cho đôi vợ chồng mới cưới có chỗ ở riêng. Từ đó, cậu học trò Nguyễn Sinh Sắc được học tập trong tình yêu và sự giúp đỡ hết lòng của người vợ trẻ. Tình yêu, sự đảm đang, tháo vát việc nhà và sự hy sinh thầm lặng cho gia đình của Bà Hoàng Thị Loan là nguồn động viên lớn lao, là cơ sở vững chắc trên con đường cử nghiệp của ông. Những tháng ngày vất vả, gian nan trên con đường cử nghiệp của ông Nguyễn Sinh Sắc đều có dấu ấn của người vợ hiền thảo, đảm đang. Bà đã sát cánh bên ông, kiên trì động viên chồng dùi mài kinh sử để đi tới thành công trong cuộc đời thi cử của mình.

Ngôi nhà tranh ba gian ghi đậm dấu ấn những tháng ngày vất vả nhưng đầm ấm, hạnh phúc của gia đình bà. Ngày ngày, “Chồng miệt mài kinh sử, thiếp canh cửi đưa thoi”. Để chồng yên tâm học hành, bà Loan không quản ngại khó khăn, vất vả, một nắng hai sương lao động ngoài đồng ruộng, đến bữa về lo cơm nước cho chồng, cho con, tối đến ngồi trên khung cửi, vừa dệt vải, vừa đưa võng ru con ngủ, nhiều đêm thức tới khuya để động viên chồng ôn luyện văn chương, đỡ phần hiu quạnh. Bà không những chỉ tạo ra cơ sở vật chất đơn thuần, mà bà còn là người nối chí, tiếp thêm sức mạnh tinh thần cho chồng.

Khung cửi dệt vải của bà Hoàng Thị Loan trong ngôi nhà của Bác ở làng Hoàng Trù

Năm 1895, ông Sắc đủ tiêu chuẩn vào làm giám sinh trong Quốc Tử Giám để tu luyện văn chương, chờ kỳ thi Hội tới. Với mong muốn chồng tiếp tục học hành, đậu đạt cao hơn, bà đã gửi con gái đầu lòng mới 11 tuổi ở lại với mẹ già, rồi đưa hai con trai là Nguyễn Sinh Khiêm (7 tuổi) và Nguyễn Sinh Cung (5 tuổi), gồng gánh theo chồng vào Huế để nuôi chồng, nuôi con, tạo điều kiện vật chất và tình cảm để chồng yên tâm học tập ở trường Quốc Tử Giám. Tình yêu, trách nhiệm với gia đình đã giúp Bà vượt qua những khó khăn bỡ ngỡ khi lần đầu tiên đặt chân lên nơi đất khách quê người, tiếp thêm sức mạnh cho Bà làm tròn vai trò của người vợ, người mẹ.

Hình ảnh người vợ chân đi dép mo cau, vai quẩy đôi gánh, một bên là con nhỏ, một bên là cả gia tài mang theo, vượt qua bao suối, bao đèo giữa những cơn mưa rào, giữa những ngày nắng gắt trên đường vào kinh đô Huế không bao giờ phai mờ trong tâm trí của ông Nguyễn Sinh Sắc. Nếu ảnh hưởng của ông Nguyễn Sinh Sắc đối với các con là nền bác học với một nhân cách yêu nước thương nòi mang đậm tính nhân văn, thì ảnh hưởng từ người mẹ là nền văn hóa dân gian mang đậm truyền thống dân tộc và những phẩm chất của tầng lớp lao động bình dân in đậm trong tình mẫu tử. Bà đã nêu một tấm gương trong sáng về nhân cách đạo đức cho con cái học tập. Ở đâu Bà cũng thể hiện một lối sống vui vẻ, vô tư, có nghĩa, có tình được mọi người hết sức yêu mến và quý trọng. Với tấm lòng nhân hậu và mẫn cảm của người mẹ, bà đã vun trồng, uốn nắn, dạy dỗ con cái bài học đầu tiên về cách sống, về đạo lý làm người. Vì vậy, ngay từ thuở ấu thơ, các con của Bà đã biết nói những điều hay, làm những việc tốt, biết kính trọng người trên, biết sống chan hòa với bạn bè, giàu lòng vị tha, nhân ái, biết nhường nhịn mọi người. Là một người có biết ít nhiều chữ thánh hiền, bà Hoàng Thị Loan đã dành rất nhiều tâm sức để truyền thụ cho con những hiểu biết ban đầu về thế giới tự nhiên và xã hội. Tất cả những câu hỏi ngây thơ, ngộ nghĩnh của con đều được bà tìm cách trả lởi rõ ràng, cặn kẽ, dễ hiểu. Là một người mẹ cần cù, chăm chỉ, bà đã dạy cho con biết yêu lao động, biết làm những công việc phù hợp với sức lực và lứa tuổi của mình một cách mê say, chịu khó và sáng tạo, tự lập trong cuộc sống. Nhờ vậy, đến năm 1901, sau khi bà mất, Nguyễn Sinh Cung từ Huế trở về Hoàng Trù, mặc dù tuổi nhỏ, đã đỡ đần nhiều việc cho bà ngoại.

Những lời ru, tiếng hát ngọt ngào, chan chứa tình cảm và giá trị nhân văn sâu sắc của mẹ đã góp phần tạo nên tâm hồn rộng mở, tấm lòng nhân ái mênh mông của Bác Hồ. Bà Hoàng Thị Loan đã truyền lại vốn hiểu biết văn học dân gian phong phú của mình cho con qua lời ru ấm cúng, mượt mà nên tuổi thơ của các con đã hấp thụ được những tấm gương nghĩa liệt yêu nước, thương nòi, lời ca tiếng hát đã nhen nhóm vào lòng con tình yêu quê hương, đất nước sâu nặng phần nào hình thành ý chí quyết tâm làm nghiệp lớn vì nước vì dân trong tâm hồn cậu bé Cung. Để rồi khi lớn lên, cậu quyết tâm bôn ba khắp năm châu bốn bể, ra đi tìm đường cứu nước chỉ với một trí tuệ lớn,một tâm hồn trong sáng, cháy bỏng tình yêu quê hương, đất nước và hai bàn tay trắng:

“Ru con, con ngủ đi nào,
Cù lao dưỡng dục biết bao cho cùng.
Làm trai quyết chí anh hùng,
Ra tay xây dựng vẫy vùng nước non”.

Tiếng ru à ơi của mẹ đã đưa cậu bé Cung vào giấc ngủ say nồng bằng những lời chói ngời đạo lý:

“Con ơi, mẹ dặn câu này,
Chăm lo đèn sách cho tày áo cơm.
Làm người đói sạch rách thơm,
Công danh phủi nhẹ, nước non phải đền”.

Trong sinh hoạt hàng ngày, Bà sống rất giản dị, tiết kiệm, sẵn sàng giúp đỡ mọi người. Bà tập cho con làm những điều tốt và thực tế đã trở thành nếp sống quen thuộc hàng ngày của các con. Nếp sống giản dị thanh tao đó của Bà đã được phản ánh rõ ràng trong cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Khi cậu bé Nguyễn Sinh Cung mới 10 tuổi, bà Loan bị ốm phải nằm trên giường bệnh vì lao động quá sức, đời sống lại ngặt nghèo, thiếu thốn, sức khỏe suy giảm sau khi sinh người con trai út. Bà qua đời vào ngày 10 tháng 2 năm 1901 (tức ngày 22 tháng Chạp năm Canh Tý) khi tuổi đời chỉ mới 33 mùa xuân. Một đời tần tảo vất vả nuôi chồng, nuôi con nhưng khi bà từ giã cõi đời ra đi thì chồng và hai con lớn của Bà đều ở xa không hay biết. 33 năm tuy ngắn ngủi nhưng bà đã sống một cuộc đời đầy ý nghĩa và hạnh phúc bên gia đình, đóng góp quan trọng vào những thành công của chồng, của con.

Thi hài của Bà được mai táng ở núi Tam Tầng bên dòng sông Hương tại Huế. Năm 1922, hài cốt của Bà được cô Thanh – con gái của bà đưa về mai táng tại vườn nhà mình ở Làng Sen – Kim Liên. Năm 1942, cậu cả Nguyễn Sinh Khiêm cải táng thi hài của Bà tại ngọn núi Động Tranh Thấp trong dãy Đại Huệ. Năm 1984, để bày tỏ tấm lòng biết ơn sâu sắc đối với người đã có công sinh thành và dưỡng dục Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng bộ và nhân dân tỉnh Nghệ Tĩnh (cũ) và lực lượng vũ trang Quân khu 4 thay mặt cho đồng bào và chiến sỹ cả nước đã xây dựng khu mộ của Bà đàng hoàng, khang trang và đẹp đẽ trên núi Động Tranh, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.

Từ chân núi Động Tranh, lối lên phần mộ Bà nằm ở bên trái phần mộ có 269 bậc (con số 69 là năm Bác Hồ mất – 1969), lối xuống bên phải phần mộ có 242 bậc (con số 42 là năm cậu Khiêm; đưa hài cốt mẹ về đây – 1942). Trước phần mộ xuống sân bia 33 bậc, con số 33 là tuổi đời của Bà. Phía trên mộ là dàn hoa cách điệu hình khung cửi – công cụ lao động đã gắn bó với suốt cả cuộc đời Bà. Hai cụm cây hoa Giấy che mát phần mộ Bà được lấy giống từ Huế – nơi bà mất và khu lăng mộ của ông Nguyễn Sinh Sắc ở Đồng Tháp. Trên nền sân thượng hình bán nguyệt trước mộ, có dựng tấm bia lớn tạc tiểu sử và công lao của Bà Hoàng Thị Loan bằng đá đen.

Từ ngày khánh thành (16/5/1985) đến nay đã có hàng triệu lượt người về đây thành kính thắp nén hương thơm tỏ lòng chân thành, ngưỡng mộ và biết ơn Bà Hoàng Thị Loan, người mẹ của một vĩ nhân, mẹ của Chủ tịch Hồ Chí Minh – người anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa Việt Nam, vị lãnh tụ vĩ đại của đất nước ta.

Tình thương và nỗi nhớ sâu đậm về mẹ kính yêu vẫn luôn thường trực trong trái tim Hồ Chủ tịch. Khi đang bôn ba ở nước ngoài, giữa đêm khuya nghe tiếng một bà mẹ Việt kiều ru con, Người lại thổn thức không ngủ được vì nhớ những làn điệu dân ca, những lời ru gần gũi, thân quen thuở nhỏ của mẹ:

“Xa nhà chốc mấy mươi niên
Đêm qua nghe tiếng mẹ hiền ru con”.

Cụ Nguyễn Sinh Vinh – người đã gắn bó, giữ gìn mái nhà tranh của Bác Hồ ở quê nội của Người kể lại sự kiện phục dựng ngôi nhà Bác: “Lúc phục dựng ngôi nhà, chúng tôi làm bàn thờ Bà Hoàng Thị Loan bằng gỗ sơn son thiếp vàng và có làm thêm cổng vào nhà cho thêm khang trang”. Lần thứ nhất Bác về thăm quê vào ngày 16/6/1957, bước vào nhà thấy bàn thờ mẹ mình, Bác xúc động nói: “Xưa nhà Bác nghèo, bàn thờ chỉ làm bằng tre, trên trải chiếu mộc, đơn giản thôi”. Sau này, mọi người đã phục dựng lại đúng như hiện trạng nhà cũ ban đầu. Sau hàng chục năm xa quê, ngày trở lại, Người vẫn không quên lối đi nhỏ vào nhà ngày xưa, không quên chiếc rương gỗ nhỏ – của hồi môn ít ỏi của mẹ, khung cửi của mẹ, chiếc phản gỗ và mấy pho sách của cha…

“Quê hương nghĩa trọng tình cao
Năm mươi năm ấy biết bao nhiêu tình”.

Một lần trên đường đi thăm hợp tác xã trồng cây giỏi ở huyện Quảng Oai (Hà Tây), nhìn thấy đoàn các em bé gái cổ quàng khăn đỏ, em mặc áo hoa xen em mặc áo trắng, tay cắp sách vừa ở trong trường ra, líu ríu như chim sổ lồng, Bác ngậm ngùi: “Lúc này Bác rất nhớ mẹ của Bác. Mẹ Bác rất thông minh, lại là con gái ông đồ nho. Thế mà mẹ Bác lại không được đến lớp, đến trường đâu các chú ạ. Cũng như phụ nữ ngày xưa, từ nhỏ mẹ Bác đã phải lo việc nhà.”

Từ khi chào đời, Bác đã được nhận nguồn sống từ dòng sữa mẹ, trong lời ru, câu ca, điệu hò và chập chững những bước đi đầu tiên được mẹ ân cần dìu dắt. Lớn lên lại chứng kiến nỗi vất vả, tảo tần lao động để lo toan nguồn sống gia đình do tay mẹ vun đắp. Do đó, Bác Hồ đã ảnh hưởng từ người mẹ nền văn hoá dân gian mang đậm bản sắc dân tộc. Bác thấu hiểu những khó khăn, vất vả của mẹ, của người phụ nữ trong xã hội lúc bấy giờ. Chính vì vậy, trong hành trình tìm đường cứu nước, Bác Hồ là người đề xướng và tiến hành cuộc cách mạng về giải phóng phụ nữ, đưa thân phận người phụ nữ Việt Nam từ cảnh lầm than, khổ cực, bị khinh miệt và đối xử thậm tệ trở thành người công dân có đầy đủ quyền lợi, nghĩa vụ, vai trò xã hội ngang hàng với nam giới. Người quan niệm rằng: “Phụ nữ chiếm một nửa tổng số dân, để xây đựng chủ nghĩa xã hội thì phải thật sự giải phóng phụ nữ và tôn trọng quyền lợi của phụ nữ”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh gặp Đoàn đại biểu phụ nữ các dân tộc tỉnh Hà Giang về Hà Nội ngày 25/11/1965

Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã từng nói về Bà Hoàng Thị Loan với những tình cảm chân thành, sâu sắc: “Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với Cụ – người đã có công sinh thành và nuôi dưỡng Chủ tịch Hồ Chí Minh, người đã mang lại vinh quang cho đất nước Việt Nam, người mà mọi người Việt Nam từ thế hệ này đến thế hệ khác sẽ mãi mãi ghi ơn !

Không biết các bạn đã từng nghe bài hát “Người mẹ Làng Sen” chưa, còn với tôi, tôi đã nghe bài hát này không biết bao nhiêu lần. Mỗi khi giai điệu của bài hát được ngân lên, trái tim tôi lại thổn thức và bồi hồi xúc động. Xin được bày tỏ sự kính trọng và tấm lòng biết ơn sâu sắc đối với Bà Hoàng Thị Loan – người phụ nữ Việt Nam tiêu biểu nhất, người mẹ vĩ đại đã sinh ra cho đời của những người con anh hùng, sinh ra cho đất nước ta Người anh hùng giải phóng dân tộc Hồ Chí Minh.

Mẹ làng sen, mẹ làng sen, Người mẹ Việt Nam đã cho đời người con quang vinh…
Mẹ làng sen, mẹ làng sen, Người mẹ Việt Nam đã cho đời người anh hùng Hồ Chí ………Minh.

Thu Hiền

bqllang.gov.vn

Nguồn lực con người – từ tư tưởng Hồ Chí Minh đến quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam

(TCTG) – Trong sự nghiệp cách mạng từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta đã nhiều lần khẳng định: Con người là vốn quý nhất, chăm lo cho hạnh phúc của con người là mục tiêu phấn đấu cao nhất của chế độ ta. Trên thực tế, Đảng ta đã luôn luôn cố gắng thực hiện mục tiêu đó. Sự nghiệp chăm lo cho hạnh phúc con người tuy chưa có nhiều thành công như mong muốn, song phần nào đã đáp ứng nguyện vọng của nhân dân.

Trong bối cảnh cuộc cách mạng khoa học – công nghệ phát triển như vũ bão, toàn cầu hoá trở thành xu thế tất yếu, kinh tế tri thức trở thành một đặc trưng của nền kinh tế thế giới thì vai trò động lực, vị trí trung tâm của con người trong quá trình phát triển đã thực sự được khẳng định. Con người và phát huy nhân tố con người thu hút sự quan tâm, chú ý, được thảo luận rộng rãi trên các diễn đàn trong nước và quốc tế. Trong tiến trình phát triển, cả lý luận và thực tiễn đều chứng minh: nhân tố con người đóng vai trò quyết định xu hướng vận động của thế giới đương đại. Luôn theo sát sự biến động của thời cuộc, đánh giá đúng đắn vị trí, vai trò của nhân tố con người, Nghị quyết Đại hội XI của Đảng chỉ rõ: “Phát triển, nâng cao chất lượng nguồn lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong những yếu tố quyết định sự phát triển nhanh và bền vững đất nước”(1); nâng cao dân trí, bồi dưỡng và phát huy nguồn lực to lớn của con người Việt Nam là nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam. “Con người là trung tâm của chiến lược phát triển, đồng thời là chủ thể phát triển”(2). Con người thực sự là nguồn lực của mọi nguồn lực, tài nguyên của mọi tài nguyên, là nguồn lực nội sinh quan trọng nhất quyết định thành công của sự nghiệp xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta.

Xây dựng và chăm lo cho con người ở nước ta trong những năm qua đã giành được những thắng lợi to lớn bước đầu, góp phần quan trọng thực hiện mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu ấy, sự tác động của cơ chế thị trường đang bộc lộ nhiều bất cập có liên quan đến phát huy nhân tố con người, ảnh hưởng đến sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước. Làm thế nào xây dựng nguồn lực con người trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay là vấn đề lý luận và thực tiễn quan trọng đòi hỏi phải được nghiên cứu một cách cơ bản, có hệ thống, nhằm tìm kiếm những giải pháp kịp thời, phù hợp với yêu cầu của cuộc sống.

Kế thừa tinh hoa tư tưởng văn hoá dân tộc và nhân loại, tiếp thu, vận dụng, phát triển một cách sáng tạo học thuyết Mác – Lê-nin, Hồ Chí Minh đã nâng tư tưởng về con người lên một tầm cao mới, hình thành nên chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh. Tuy không có một tác phẩm nào bàn riêng về con người, nhưng tư tưởng về con người lại được hiểu thật đa dạng, phong phú, trở thành một tư tưởng xuyên suốt trong toàn bộ hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh. Vấn đề con người luôn luôn được nhắc đến như một mục tiêu thiêng liêng, cao cả nhất của sự nghiệp cách mạng mà Người theo đuổi. Nó trở thành mục tiêu, lý tưởng, được toả sáng trong từng suy nghĩ, cử chỉ, hành động của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Từ hệ thống tư tưởng của Người, chúng ta thấy toát lên nội dung quan niệm về con người như sau:

Trong quan niệm của Hồ Chí Minh, con người là tổng hòa của các quan hệ xã hội từ hẹp đến rộng. Người từng khẳng định: “Chữ Người, nghĩa hẹp là gia đình, anh em, họ hàng, bầu bạn. Nghĩa rộng là đồng bào cả nước. Rộng nữa là cả loài người”(3). Hồ Chí Minh không bao giờ xem xét con người một cách trừu tượng mà luôn xuất phát từ hoàn cảnh con người hiện thực cụ thể trong các quan hệ xã hội với nhiều bình diện, nhiều chiều khác nhau. Đặc biệt ở Hồ Chí Minh, bên cạnh những khái niệm phổ quát như giai cấp công nhân, giai cấp vô sản, nhân dân lao động, chúng ta đã thấy xuất hiện thêm các khái niệm mới: “Người nô lệ mất nước”, “Người cùng khổ”. Theo nhận xét của nhiều nhà nghiên cứu, đấy là những khái niệm xuất hiện đầy ấn tượng và là một cách tiếp cận riêng của Hồ Chí Minh trong quan niệm về con người. Có thể khẳng định: cách tiếp cận cơ bản nhất của Hồ Chí Minh vẫn là đặt con người trong mối quan hệ với cộng đồng dân tộc. Bởi vì, hơn bất cứ ai, Hồ Chí Minh luôn luôn ở trong lòng nhân dân, mang cùng một truyền thống anh hùng, gắn bó với con người, với nhân dân từ trong khối óc, khát vọng và con tim, trọn vẹn suốt cuộc đời.

Con người là một chỉnh thể thống nhất giữa yếu tố sinh học và yếu tố xã hội. Vì vậy, Hồ Chí Minh luôn quan niệm con người, trong cấu trúc nhân cách, là một hệ thống bao gồm tổng hoà nhiều yếu tố hợp thành như: Thể xác và tâm hồn, thể lực và trí tuệ, cái sinh vật và cái xã hội… Con người ai cũng có chỗ hay chỗ dở, ai cũng có tính tốt tính xấu, có thiện có ác. Vấn đề là làm sao cho phần xấu mất dần đi, phần tốt nảy nở như hoa mùa xuân; con người ta sinh ra, ai cũng lớn lên, già đi rồi chết; người ta ai cũng muốn sung sướng, mạnh khoẻ… Cách quan niệm như thế cho phép Hồ Chí Minh đạt tới cái nhìn toàn diện về con người; là cơ sở để Người hiểu, cảm thông, lo lắng cho con người. Đây là tư tưởng chủ đạo, bao trùm và xuyên suốt, vừa có ý nghĩa như tiền đề xuất phát đồng thời lại là mục đích trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh. Nhân tố con người là vốn quý nhất, là động lực vĩ đại, nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam; dân là vốn quý nhất, có dân là có tất cả, nên phải bắt đầu từ nhân tố con người, vì con người, cho con người và trở về với con người.

1. Con người – nhân tố quý nhất, động lực quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam

Nhân tố con người là vốn quý nhất, quyết định thắng lợi được Hồ Chí Minh đề cập ở ba cấp độ là: Nhân dân nói chung; công nhân, nông dân, trí thức, bộ đội, cán bộ; mỗi một con người cụ thể – tức là nhân dân lao động (trừ bọn Việt gian, phản động). Hồ Chí Minh nói: “Nhân nghĩa là nhân dân. Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân”; “cán bộ là gốc của công việc”; “muôn việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hoặc kém”; “chúng ta phải biết quý trọng con người, nhất là công nhân, vì công nhân là vốn quý nhất của xã hội”…

Tư tưởng “Dân vi bản”, “Dân vi quý” đã được bàn nhiều trong lịch sử mà tiêu biểu nhất là trong Nho giáo. Nhưng đến Hồ Chí Minh, tư tưởng “Dân vi bản”, “Dân vi quý” đã thể hiện một sắc thái mới, với tư thế mới. Nói đến “Dân” trong tư tưởng Hồ Chí Minh là nói đến toàn thể nhân dân, nói đến dân chủ. Điều này được thể hiện rõ nét trong tác phẩm “Dân vận” (15-10-1949), Người viết:

“Nước ta là nước dân chủ.
Bao nhiêu lợi ích đều vì dân.
Bao nhiêu quyền hạn đều của dân.

Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân. Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân. Chính quyền từ xã tới chính phủ trung ương do dân cử ra. Đoàn thể từ trung ương đến xã do dân tổ chức nên.

Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”(4).

Như vậy, Hồ Chí Minh luôn luôn đặt nhân dân vào địa vị cao nhất, địa vị làm chủ trong những vấn đề quan trọng nhất của cách mạng và xã hội: Lợi ích, quyền hạn, công việc, trách nhiệm, chính quyền, đoàn thể (tức là Đảng), quyền hành và lực lượng đều nhằm vào mục tiêu: vì dân, của dân, do dân, ở nơi dân. Nó xác định vai trò dân chủ: dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra. Dân vừa là chủ nhưng dân vừa thực hiện công việc làm chủ, vừa là chủ thể, vừa là khách thể, vừa là lực lượng, động lực vừa là mục tiêu của cách mạng Việt Nam. Theo Hồ Chí Minh, đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất nước nhà, xây dựng đời sống mới, tiến lên xã hội chủ nghĩa đều phải bắt đầu từ vốn con người, từ việc phát huy nhân tố con người. Nếu khinh dân, xem khinh việc sử dụng và phát huy nhân tố con người sẽ là một sai lầm rất to, rất có hại, có quan hệ mật thiết đến thành hay bại của sự nghiệp cách mạng.

Vai trò con người chính là vai trò của quần chúng nhân dân, người sáng tạo chân chính ra lịch sử chứ không phải “vài ba cá nhân anh hùng nào”, thể hiện qua các hoạt động thực tiễn cơ bản nhất: Lao động sản xuất, đấu tranh chính trị – xã hội và sáng tạo các giá trị văn hóa – tinh thần.
Hồ Chí Minh nói: “Vì chúng ta quên một lẽ rất đơn giản dễ hiểu: tức là vô luận việc gì, đều do người làm ra, từ nhỏ đến to, từ gần đến xa, đều thế cả”. “Tất cả của cải vật chất trong xã hội đều do công nhân và nông dân làm ra. Nhờ sức lao động của công nhân và nông dân, xã hội mới sống còn phát triển”; quần chúng còn là người sáng tác nữa (các giá trị văn hóa – tinh thần). Hồ Chí Minh giải thích cơ sở khoa học cho vai trò đó xuất phát từ chỗ: “Lực lượng dân chúng nhiều vô cùng… dân chúng biết giải quyết nhiều vấn đề một cách đơn giản, mau chóng, đầy đủ, mà những người tài giỏi, những đoàn thể to lớn, nghĩ mãi không ra”(5).

Như vậy, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, con người đóng vai trò là động lực to lớn, quyết định đối với mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Tư tưởng “dân là vốn quý nhất, có dân là có tất cả” cho thấy trong tư tưởng Hồ Chí Minh, nhân tố con người là nguồn lực quan trọng nhất, nguồn lực của mọi nguồn lực. Vai trò ấy được Người kế thừa từ tư tưởng: “Chở thuyền cũng là dân, lật thuyền cũng là dân” để rồi khái quát ở tầm chân ly:á “Dễ mười lần không dân cũng chịu; khó trăm lần dân liệu cũng xong”(6).

Trong quá trình giải quyết mối quan hệ biện chứng giữa động lực và mục tiêu, Hồ Chí Minh chú ý đến mức độ mục tiêu đạt được trong điều kiện, cụ thể của từng giai đoạn cách mạng. Mà mục tiêu tổng quát là: giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người. Mục tiêu đó biểu hiện thành các mục tiêu cụ thể:

Giai đoạn trước khi giành được chính quyền thì mục tiêu cao nhất là độc lập dân tộc. Người nói: “Trong lúc này quyền lợi dân tộc giải phóng cao hơn hết thảy”. Sau khi giành được chính quyền, thì mục tiêu: Ăn, mặc, ở, học hành lại được ưu tiên hơn. Ngày 10-1-1946, tại cuộc họp của Ủy ban Nghiên cứu kế hoạch kiến quốc, Hồ Chí Minh yêu cầu chúng ta phải thực hiện ngay: “Làm cho dân có ăn. Làm cho dân có mặc. Làm cho dân có chỗ ở. Làm cho dân có học hành”.

Sau năm 1954, miền Bắc đi vào khôi phục nền kinh tế, hoàn thành cải cách ruộng đất, tiến hành tốt việc sửa sai, từng bước phát triển kinh tế tập thể. Giai đoạn này, Hồ Chí Minh nhấn mạnh vào việc phải “nâng cao dần mức sống của nhân dân… đồng thời giảm nhẹ sự đóng góp của nông dân”. Bước sang năm 1958, kết thúc thời kỳ khôi phục kinh tế, mở đầu thời kỳ cải tạo xã hội chủ nghĩa (1958-1960), Hồ Chí Minh nói nhiều về chủ nghĩa xã hội những mục tiêu cơ bản nhằm giải phóng con người. Trong bối cảnh tập trung mọi nhân tài, vật lực cho phát triển kinh tế và tiến hành đấu tranh vũ trang giải phóng miền Nam, Hồ Chí Minh vẫn luôn quan tâm đến con người. Tại Hội nghị của Bộ Chính trị, ngày 30-7-1962, Hồ Chí Minh đặt vấn đề: Ta phải tính cách nào, nếu cần có thể giảm bớt một phần xây dựng, để giải quyết vấn đề ăn và mặc của quần chúng được tốt hơn nữa, đừng để cho tình hình đời sống căng thẳng quá. Vấn đề con người là hết sức quan trọng. Nhà máy cũng cần có thêm, có sớm, nhưng cần hơn là con người, là sự phấn khởi của quần chúng. Làm tất cả là do con người… Làm cho quần chúng hiểu chủ nghĩa xã hội đúng hơn.
Vào thời điểm đó, cách đặt vấn đề như vậy cho thấy chiều sâu mục tiêu con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Khi cuộc kháng chiến chống Mỹ bước vào giai đoạn quyết liệt, thì mục tiêu “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” lại ở bậc cao của thang giá trị dân tộc. Mục tiêu con người gắn chặt với chủ quyền dân tộc. Tại kỳ họp Quốc hội khóa III, ngày 10-4-1965, Hồ Chí Minh kêu gọi: Lúc này, chống Mỹ, cứu nước là nhiệm vụ thiêng liêng nhất của mọi người Việt Nam yêu nước. Ngay trong thời điểm lịch sử vô cùng khó khăn đó, phát biểu tại phiên bế mạc Hội nghị lần thứ 12, khóa III Ban Chấp hành TW Đảng, tháng 12-1965, Hồ Chí Minh lưu ý: “Chúng ta phải hết sức chăm lo đến đời sống của nhân dân, nhất là đời sống của các cháu, của các gia đình thương binh, liệt sỹ, đời sống của nhân dân ở các vùng bị bắn phá nhiều… những gia đình thu nhập thấp, đông con”.

Nếu tờ báo Người cùng khổ, số 1, nêu mục tiêu là giải phóng con người thì sau này bản Di chúc của Người cũng nêu công việc đầu tiên là đối với con người. Điều đó cho thấy cái “bất biến” trong tư tưởng Hồ Chí Minh là tất cả vì con người để ứng với cái “vạn biến” của lịch sử đặt ra. Hồ Chí Minh nói: “Tất cả những người lao động trên thế giới đều có một mục đích chung là thoát khỏi áp bức, bóc lột, được sống sung sướng tự do, tức là thực hiện chế độ cộng sản. Nhưng để đi đến mục đích ấy, mỗi nước phải tùy theo điều kiện thiết thực của mình mà tiến dần”.

Mục tiêu giải phóng con người về mặt chính trị-xã hội cũng được Hồ Chí Minh chú ý, nhấn mạnh. Giá trị và chiều sâu tư tưởng Hồ Chí Minh chính là ở chỗ đã nhìn nhận và đánh giá vai trò của văn hóa-đạo đức-truyền thống trong tiến trình thực hiện mục tiêu phát triển con người.
Xét ở một khía cạnh nào đó, văn hóa-đạo đức-truyền thống là những yếu tố cấu thành đời sống tinh thần, tâm linh con người. Con người không chỉ tồn tại bằng đời sống vật chất, mà còn tồn tại cả trong đời sống tinh thần. Con người không chỉ chịu sự chi phối của các quy luật vật chất khách quan, mà còn chịu sự chi phối của các quy luật tình cảm, các chương trình kế thừa về văn hóa – đạo đức – truyền thống. Giải phóng con người về mặt chính trị-xã hội là điều kiện tiên quyết, nhưng mới chỉ là điều kiện cần, chưa phải là điều kiện đủ. Con người tồn tại hài hòa trong môi trường đã được nhân tạo hóa dưới dạng: đạo đức, pháp luật, khoa học, nghệ thuật, tôn giáo… gọi chung là văn hóa-đạo đức-truyền thống. Bản chất của nó được thể hiện trong các giá trị vật chất, tinh thần, tập trung nhất ở nhân cách và lối sống con người.

Lý tưởng mà suốt đời Hồ Chí Minh theo đuổi là mưu cầu độc lập cho dân tộc, người dân ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành. Một xã hội mới theo Hồ Chí Minh quan niệm là một xã hội trong đó con người được tự do, bình đẳng, hạnh phúc. Con người có sự phát triển toàn diện về đức, trí, thể, mỹ, có những quan hệ với tự nhiên, xã hội… trong sự biểu hiện cao nhất về văn hóa-đạo đức-truyền thống. Do đó, Hồ Chí Minh quan niệm chủ nghĩa xã hội là một xã hội lý tưởng, không chỉ ở thể chế chính trị dân chủ, cơ cấu kinh tế, kỹ thuật hiện đại, mà còn là một cơ cấu có giá trị văn hóa-đạo đức nhân bản. Sự phát triển kinh tế nếu không chú ý đến văn hóa-đạo đức thì không đạt tới sự phát triển bền vững. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, việc nhấn mạnh:

Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội trước hết phải có những con người xã hội chủ nghĩa, muốn có những con người xã hội chủ nghĩa phải có tư tưởng xã hội chủ nghĩa, tức là con người có thể được phát triển sớm hơn so với sự phát triển kinh tế-xã hội. Xây dựng con người không chỉ bồi dưỡng về chính trị, văn hóa, chuyên môn kỹ thuật mà đặc biệt là đạo đức. Sự tiến bộ xã hội, sự tiến bộ của con người có thể dựa vào tiêu chí tiến bộ về văn hóa-đạo đức, coi như trình độ người trong phát triển. Ưu tiên văn hóa-đạo đức trong phát triển xã hội “là sự phát triển rút ngắn”, nhằm đạt tới mục tiêu con người, trong đó “phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người”. Con đường phát triển rút ngắn, theo Hồ Chí Minh, không chỉ là “cơ cấu lại” hệ thống các chuẩn mực văn hóa-đạo đức khách quan, mà ở chỗ, nó hướng vào sự tự nhận thức, tự đánh giá, tự hoàn thiện về lối sống, nhân cách của mỗi người. Hồ Chí Minh nhấn mạnh sự tu dưỡng đạo đức cá nhân, cải tạo cái cá nhân để từ đó cải tạo xã hội đồng thời với quá trình cải tạo xã hội để tạo điều kiện cho cải tạo cá nhân.

Như vậy, trong tư tưởng Hồ Chí Minh luôn có sự nhất quán coi con người vừa là động lực, vừa là mục tiêu của cách mạng Việt Nam theo tinh thần cách mạng và khoa học. Vấn đề con người gắn liền với cách mạng giải phóng dân tộc và cách mạng xã hội chủ nghĩa; mục tiêu giải phóng con người gắn liền với giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội. Hồ Chí Minh kết luận “phải đem hết sức dân, tài dân, của dân làm lợi cho dân”; phải “dựa vào: lực lượng của dân, tinh thần của dân, để gây hạnh phúc cho dân” và “Chủ nghĩa xã hội là nhằm nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân và do nhân dân tự xây dựng lấy”.

2. Con người là trung tâm của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Trong công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay, phát huy nhân tố con người, phát triển nguồn nhân lực chính là đầu tư cho con người thông qua các hoạt động giáo dục, đào tạo, dạy nghề, chăm sóc sức khoẻ, tạo việc làm, an sinh xã hội… Đầu tư cho con người chính là nhằm phát triển thể lực, tri thức, khả năng nhận thức và tiếp thu kiến thức, tay nghề; tính năng động và sức sáng tạo của con người; phát huy bản sắc nền văn hoá, truyền thống lịch sử dân tộc để hun đúc thành bản lĩnh, ý chí của con người trong lao động. Đó chính là nguồn nội lực, là yếu tố nội sinh, nếu được phát huy và sử dụng có hiệu quả sẽ là động lực, nguồn sức mạnh để phục vụ cho chính con người và xã hội.

Với tinh thần “phát huy nhân tố con người”, “làm cho sản xuất bung ra”, “giải phóng mọi năng lực sản xuất” trong nhân dân… được khởi xướng từ Đại hội VI của Đảng (12-1986), đất nước đã từng bước thoát khỏi khủng hoảng kinh tế-xã hội. Nước ta từ thiếu đói đã tiến đến hoàn thành mục tiêu “ăn no, mặc ấm” và vươn tới những mục tiêu cao hơn.

Lại một lần nữa, thực tế cho chúng ta thấy, khi nào chúng ta biết tôn trọng, yêu thương, tin tưởng, dựa vào nhân dân, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước phù hợp với lòng người, quan tâm tới quyền lợi của nhân dân, tạo ra động lực cho người lao động… thì lúc đó chúng ta phát huy được nhân tố con người, khai thác và huy động được năng lực, khả năng của mỗi cá nhân và toàn dân tộc vào tiến trình cách mạng.

Bên cạnh những mặt tích cực thì mặt trái của cơ chế thị trường đã làm cho không ít cá nhân, tập thể, doanh nghiệp bị chìm đắm vào những lợi ích cá nhân, vì đồng tiền, vì lợi ích mà đi ngược lại quyền lợi của nhân dân, của quốc gia dân tộc.

Trong sự hỗn độn giữa thiện và ác, giữa đúng và sai, giữa tích cực và hạn chế, ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh như mặt trời soi sáng cho con đường chúng ta đi. Tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung và tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển nguồn lực con người nói riêng vẫn nguyên giá trị. Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển con người, coi con người vừa là động lực, vừa là mục tiêu của sự nghiệp cách mạng, những lời dạy về phát huy sức mạnh của phẩm chất và năng lực, những chỉ dẫn về cách dùng người, sử dụng cán bộ, những giải pháp để phát huy được nhân tố con người thực sự xứng tầm “là cái cẩm nang thần kỳ”, “bàn chỉ nam” cho sự nghiệp cách mạng nước ta hiện nay.

Mục tiêu xây dựng nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất-kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng, an ninh giữ vững, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Đó trước hết là cuộc cách mạng của con người, vì con người và do con người. Bởi, khi chúng ta nói về những ưu việt của chủ nghĩa xã hội thì những ưu việt đó không do ai đưa đến. Đó phải là kết quả những nỗ lực vượt bậc và bền bỉ của toàn dân ta với những con người phát triển cả về trí lực, cả về khả năng lao động và tính tích cực chính trị-xã hội và đạo đức, tình cảm trong sáng.

Trong sự nghiệp cách mạng từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta đã nhiều lần khẳng định: Con người là vốn quý nhất, chăm lo cho hạnh phúc của con người là mục tiêu phấn đấu cao nhất của chế độ ta. Trên thực tế, Đảng ta đã luôn luôn cố gắng thực hiện mục tiêu đó. Sự nghiệp chăm lo cho hạnh phúc con người tuy chưa có nhiều thành công như mong muốn, song phần nào đã đáp ứng nguyện vọng của nhân dân. Phương châm của Chủ tịch Hồ Chí Minh là: “Việc gì có lợi cho dân, ta phải hết sức làm; việc gì có hại cho dân, ta phải hết sức tránh” đã được Đảng ta đặt lên vị trí hàng đầu và coi đó là nhiệm vụ trung tâm. Lời dạy của Bác – “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người” và “muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa” – đã trở thành tư tưởng xuyên suốt toàn bộ sự nghiệp cách mạng của Đảng ta với tư cách là Đảng cầm quyền.

Trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa ngày nay, Đảng ta tiếp tục khẳng định: lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững; nâng cao dân trí, bồi dưỡng và phát huy nguồn lực to lớn của con người Việt Nam là nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Trong Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 2011-2015, Đảng ta xác định mục tiêu: tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững; nâng cao rõ rệt hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế; con người là trung tâm của chiến lược phát triển, đồng thời là chủ thể phát triển; tạo chuyển biến mạnh về giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, phát huy nhân tố con người. Và trong Báo cáo Chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI (1-2011), Đảng ta đặt mục tiêu: Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý giỏi; đội ngũ cán bộ khoa học, công nghệ, văn hóa đầu đàn, đội ngũ doanh nhân và lao động lành nghề”(7)./.

PGS, TS. PHẠM NGỌC ANH
Theo tuyengiao.vn
Thu Hiền (st)

————–

(1), (2), (7) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. CTQG, H, 2011, tr.41, 76, 216-217.
(3), (4), (5), (6) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. CTQG, H, 1995, t.5, tr.644, 698, 295, 293.

bqllang.gov.vn

Hồ Chủ tịch qua lời kể của nữ văn công xứ Nghệ

Hồ Chủ tịch phát kẹo cho đoàn văn công Nghệ An cuối năm 1961 sau khi xem biểu diễn. Ảnh tư liệu của bà Nguyễn Thị Lệ Vinh: Tường Vi

“Đúng 7h tối, có tiếng còi ôtô, “Bác đến”, một thành viên kêu lạc cả giọng. Cả đoàn như nín thở sau cánh gà nhìn dồn vào cửa hội trường. Thật bất ngờ”, bà cụ Vinh, nữ văn công Nghệ An năm xưa nhớ lại.

Trong hai lần Hồ Chủ tịch về thăm quê (năm 1957 và 1961), có một người phụ nữ đã hát dân ca Nghệ Tĩnh cho Người nghe. Sau đó cô được ra tận Phủ Chủ tịch để cất lên những lời ca ngọt ngào xứ Nghệ. Gần 48 năm qua kể từ lần cuối được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh, bà Nguyễn Thị Lệ Vinh nguyên là cán bộ nhà văn hóa Trung tâm thành phố Huế, ngày nay vẫn nhớ như in những kỷ niệm về Bác.

Bà Vinh quê ở Thanh Hóa, trước kia làm trong đoàn văn công Nghệ An, cho biết, trong những ngày tháng công tác đã qua, bà rất vinh dự được gặp Hồ Chủ tịch 3 lần, mà 2 lần lại đúng vào lúc Người về thăm quê ở Nghệ An. Bà xúc động: “Đó là những giờ phút hạnh phúc nhất của đời tôi, để lại trong tâm hồn tôi những ấn tượng không thể phai nhòa đối với vị cha già dân tộc.”

Người phụ nữ 79 tuổi nhớ lại, cuối hè năm 1957, tin Hồ Chủ tịch về thăm quê lần đầu tiên sau bao nhiêu năm bôn ba tìm đường cứu nước đã tạo nên niềm vui to lớn trong lòng nhân dân xứ Nghệ. Mọi người tập trung tại sân vận động thành Vinh để chào đón và nghe cụ Hồ nói chuyện. Giữa cái nắng gay gắt của mùa hè, cả biển người im phăng phắc, tất cả đang hướng về phía Người, lắng nghe lời dạy: “Cán bộ phải chí công vô tư, phải đặt lợi ích của nhân dân, của tập thể lên trên lợi ích cá nhân, phải đoàn kết, gương mẫu…” .“Đang nói, Người bỗng xin phép cởi áo ngoài cho mát. Tất cả mọi người đều rộ lên cưòi thoải mái. Thật tự nhiên cởi mở, thân mật như cha nói với con”, bà cụ trầm ngâm nhớ lại.

Ngày hôm sau, Hồ Chủ tịch về thăm quê ở Kim Liên. Khi trở về thành Vinh, Người đi xe mui trần, nhân dân lại được dịp chiêm ngưỡng vị lãnh tụ cách mạng. “May mắn làm sao, lúc đó tôi đang bế cháu nhỏ đứng gần xe Người. Cụ mặc quần áo kaki giản dị, mái tóc trắng bạc, nước da hồng hào, đứng thẳng dậy giơ tay chào đồng bào, mắt sáng long lanh và hiền từ. Mọi người nhìn Người hoan hô không ngớt.”, bà Vinh kể lại.

Cuối năm 1961, Hồ Chủ tịch lại về thăm quê lần thứ hai. Hôm ấy, đoàn văn công Nghệ An đang luyện tập thì nhận được chỉ thị của tỉnh ủy: Văn công sẽ biểu diễn phục vụ vị lãnh đạo và Người muốn nghe dân ca Nghệ Tĩnh. Cả đoàn đều reo mừng, sung sướng. Lúc bấy giờ đoàn văn công Nghệ An chỉ chủ yếu hát chèo, hát mới, diễn kịch nói chứ không có tiết mục dân ca. Diễn viên hầu hết đều là lớp trẻ mới lên nên chưa ai biết hát dân ca. Bà Vinh nói: “Ơn lãnh tụ đối với mỗi người như trời biển, vậy mà chúng tôi những người làm công tác văn nghệ lại không đáp ứng được một nhu cầu nhỏ của Người. Thật là một điều thiếu sót.”

Dòng suy tư ấy đưa bà Vinh về lại những năm tháng chống Pháp phải sơ tán lên Nam Đàn, cạnh bờ sông Lam. Nơi đó, man mác những chuyến đò dọc ngang mang đầy tiếng hát âm vang của hàng chục cô gái kéo sợi và tiếng hát đò đưa, ví dặm, ví phường vải, ru con ấy… Vậy là cô gái văn công khi ấy đánh bạo xung phong hát dân ca Nghệ cho Hồ Chí Minh nghe.

Bà kể lại: “Tôi thử hát nhẩm cho đoàn nghe, một đồng chí lớn tuổi trong đoàn bảo tôi hát đúng và nghe cũng được. Tôi sung sướng quá”. Trong lúc đó Ty văn hóa cũng mời được một “cây” hát dân ca. “Một chị ở Nam Hồng, Nam Đàn được mời về. Nhưng được biết cái vinh dự lớn quá, sợ mình không tự chủ được nên chị nhận giúp tôi luyện giọng”, bà Vinh kể tiếp.

Đến ngày diễn, lúc đó đã 4h chiều, bà Vinh đang bận rộn với một bài thơ lục bát khá dài. Tâm trạng bà lúc này rất khó tả: “Tôi hồi hộp lắm, học và tập đến quên ăn, quên ngủ, nhưng vẩn chưa dám tin ở mình”. 6h30 tối xe đưa đoàn văn công đến hội trường công an vũ trang tỉnh để chuẩn bị hóa, phục trang.

Đúng 7h tối, có tiếng còi ôtô. “Bác đến”, một thành viên trong đoàn kêu lạc cả giọng. Cả đoàn như nín thở sau cánh gà nhìn dồn vào cửa hội trường. Thật bất ngờ. Phút chốc cụ Hồ đã đến ngay bên cạnh cả đoàn văn công, nhẹ nhàng như một ông tiên có phép. Thì ra Người đã vào từ cửa sau. Cả đoàn văn công đứng sững như tượng. Rất thoải mái Hồ Chí Minh giơ tay chào, thăm hỏi sức khỏe từng người và dặn hóa trang cho đẹp, diễn cho tốt… Hành động của Người làm những lo lắng, hồi hộp của cả đoàn lắng xuống.

Cụ Hồ chụp ảnh với đoàn văn công Nghệ An tại Phủ Chủ tịch năm 1962. Ảnh tư liệu của bà Nguyễn Thị Lệ Vinh:Tường Vi

Trong toàn bộ buổi diễn có thể nói tiết mục dân ca được xem là then chốt, được xếp vào giữa chương trình để có thời gian chuẩn bị. “Bước ra sân khấu, tôi cố lấy lại bình tĩnh, tự chủ hơn, tôi nhìn Bác, lại nhìn khán giả, tự nhiên cảm thấy một luồng động viên to lớn. Tôi bắt đầu hát, dường như tôi đã “mê” đi trong sự nhập vai, đồng thời cần phải “tỉnh” trong ý thức trách nhiệm nghệ thuật. Cái phần “tỉnh” của tôi đang đưa mắt nhận ra Người đang nhìn tôi chăm chú, còn phần “mê” đưa tôi sống cùng tâm tình của cô gái đưa tiễn người yêu”, người nữ văn công năm xưa nói và bắt đầu hát nhè nhẹ lời ca năm nào: “Ra về răng được mà về, bức thư chưa gửi lời thề chưa trao…”.

Tiết mục hát ví phường vải của cô làm Hồ Chí Minh xúc động. Người rút khăn tay chấm nước mắt khi nghe tiếng hát khơi gợi thời xa xưa của mình, sau đó nói với ông Nguyễn Sĩ Quế, Thường vụ tỉnh ủy Nghệ An bấy giờ: “Nên khen cháu gái hát dân ca, vì ngày xưa người ta chỉ hát ví ở sân nhà, ngoài đồng, trên sông. Nay cháu đã mạnh dạn đưa lên sân khấu mà lại hát có tình có ý, nghe hay, có sáng tạo”.

“Sau này Ty văn hóa Nghệ An đã gửi thư khen ngợi tôi có cố gắng hát dân ca phục vụ Người về thăm quê hương”, Bà Vinh với giọng tự hào kể lại. Hôm ấy, sau khi buổi diễn kết thúc, cả đoàn văn công sung sướng ra sân khấu chào Hồ Chủ tịch. Người nhanh nhẹn bước lên sát sân khấu, giơ cao một chiếc lẵng mây, tươi cười: “Các cháu diễn tốt Bác thưởng kẹo, có thích ăn kẹo không?” cả đoàn đồng thanh: “Thưa Bác có ạ”. Người nhìn khắp lượt xem chưa phát kẹo cho ai. Nhà thơ Xuân Tiến, cán bộ Ty văn hóa đưa hai tay ra thưa: “Cháu xin Bác”. Đầy vẻ hóm hỉnh, vị cha già dân tộc thu lại lẵng kẹo và nói: “Chú có phải diễn viên đâu mà cho chú”. Mọi người bật cười vui vẻ.

Người nữ văn công năm xưa Nguyễn Thị Lệ Vinh với những bức ảnh chụp với Bác Hồ. Ảnh: Tường Vi

Chưa đầy một năm sau, mùa hè 1962, đoàn văn công Nghệ An ra Hà Nội tập huấn để dự hội toàn miền Bắc. Tại đây bà Vinh lại có cơ hội gặp được Hồ Chí Minh lần nữa. Lúc ấy toàn miền Bắc đang có phong trào tiết kiệm gạo ủng hộ miền Nam, mỗi bữa chỉ có 2 lạng gạo, thêm phần luyện tập căng thẳng, thời tiết thì nắng nóng. Vậy mà khi biết đoàn được biểu diễn phục vụ Hồ Chủ tịch với vở chèo “Cô gái sông Lam” thì tất cả mọi người như được uống thuốc tiên vậy. Không ai kêu ca, không thiết nhọc nhằn, mệt mỏi gì nữa. Tất cả đều hăng say luyện tập trông chờ ngày gặp Người. Khoảng 5 ngày sau, xe đoàn văn công Nghệ An đến Phủ Chủ tịch. Đây là lần đầu mọi người đến đây, mọi thứ đều hết sức mới lạ. Khi các văn công vào hóa trang, lại một lần nữa vị lãnh tụ làm mọi người bất ngờ. “Người đến sớm hơn thường lệ, vào thăm chúng tôi trước giờ diễn, vui vẻ hỏi quê quán từng người. Không khí căng thẳng ban đầu đã bị hóa giải bởi những lời hỏi han, những câu đùa thân mật của cụ”, bà Vinh kể.

Người nữ văn công nhớ: Với anh Nghĩa, quê ở Nghi Lộc, Người nhại lại bằng tiếng địa phương: “Nghi Lộc à? Con méo! Con méo!” (con mèo). Đến anh Thái Quang Ngoạn, trưởng đoàn quê ở Thừa Thiên – Huế, Người giả bộ lắc đầu: “Rứa là không phải Nghệ An bầy choa”. Mọi người cười rộ lên. Bà Vinh nói: “Cụ quay sang hỏi tôi. Tôi trả lời: “ Cháu ở Vinh ạ”. Người nhìn tôi gật đầu, nhớ ra cô gái hát dân ca ngày nào. Lúc đó tôi đang bế cháu nhỏ, Cụ âu yếm hỏi đùa: “Cháu này cũng đi biểu diễn à?”. Rồi Người dặn dò chúng tôi diễn cho hay, Cụ sẽ ngồi xem đến hết”.

Sau buổi diễn, Người thưởng một huy hiệu Hồ Chí Minh cho ông Nguyễn Trung Phong, Trưởng phòng văn nghệ Ty Văn hóa là tác giả kịch bản. Cả đoàn lặng đi vì xúc động. Người chụp chung với đoàn văn công một bức ảnh làm kỷ niệm.

Sau đó Hồ Chủ tịch dặn các cán bộ phụ trách mời ăn bánh uống nước. Các đồng chí phụ trách chân tình trò chuyện: “Các cậu là sướng nhất. Trước tới nay, nhiều đoàn vào phục vụ, nhưng vì tuổi cao ít khi Bác xem quá một tiếng, thế mà hôm nay Người xem hơn 2 tiếng đồng hồ”. Chỉ từng ấy thôi đã khiến bao trái tim trong đoàn thổn thức, nhiều dòng nước mắt sung sướng và biết ơn dâng trào.

“Người đã giúp cho chúng tôi nhận thức đúng hơn về giá trị quan trọng của dân ca nói riêng và giá trị lớn lao của văn nghệ nói chung”, bà Vinh đúc kết./.

Theo vnexpress
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

Tháng năm mãi mãi bên Người

Năm 1975, sau chiến thắng 30-4, công trình xây dựng Lăng Bác Hồ đã hoàn thành thực sự là một sự kiện lớn làm nức lòng quân dân cả nước. Giờ đây, chúng ta đã biết công việc bảo vệ thi hài Bác trong những năm chiến tranh khốc liệt từ ngày Bác mất đến ngày đón Bác về Lăng. Trong 6 năm (1969-1975) đằng đẵng lo âu ấy, thi hài Bác đã 5 lần phải di chuyển để tránh địch hoạ, thiên tai. Mỗi lần di chuyển thi hài Bác trọn vẹn an toàn là một chiến công lớn của những cán bộ, chiến sĩ Đoàn 69 – Đơn vị tiền thân của Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Họ đã được Đảng và nhân dân tin yêu giao cho gìn giữ tài sản tinh thần vô giá của dân tộc. Nhưng đây là công việc đặc biệt, tuyệt mật. Vì thế trong muôn nỗi lo toan của quân và dân ta ngày ấy có một nỗi lo canh cánh mà không ai dám hỏi, dám nói ra rằng: Bác đang ở đâu, thi hài của Người liệu có được bảo vệ chu toàn cho đến ngày đất nước toàn thắng?.

Năm 1972, Sư đoàn 308 chúng tôi đang chiến đấu tại Quảng Trị. Đến cuối năm đế quốc Mỹ vẫn trì hoãn ký hiệp định Pa-ri nhằm leo thang chiến tranh bằng không quân ra miền Bắc. Tin Mỹ dùng máy bay B52 ném bom xuống Thủ đô Hà Nội làm cho chúng tôi hết sức lo lắng, bồn chồn. Sau buổi nắm tình hình tư tưởng bộ đội của sư đoàn hôm ấy, chúng tôi đã ghi nhận nhiều tâm tư của cán bộ, chiến sĩ ở các đơn vị, trong đó rất nhiều người băn khoăn về việc bảo vệ thi hài Bác trong trận quyết chiến cuối cùng này. Tháng 5 năm 1975 vào Sài Gòn vừa được giải phóng, tôi đến Đại học xá Minh Mạng gặp gỡ nói chuyện với các em sinh viên, nhiều em sinh viên băn khoăn hỏi tôi: “ Thi hài Bác Hồ có được giữ gìn tốt không anh? Bao giờ thì công trình Lăng Bác khánh thành?”. Tôi ngạc nhiên hỏi lại: “Việc này các em mới biết hay đã biết từ trước ngày giải phóng Sài Gòn?”.

Một nữ sinh viên nhanh nhẹn trả lời: “Bọn em biết từ lâu rồi. Chúng em thường xuyên nghe trộm đài Hà Nội. Chúng em mong đến ngày Lăng Bác hoàn thành để được ra Hà Nội gặp Bác”. Tôi càng hiểu thêm tình cảm sâu nặng của thanh niên, học sinh miền Nam đối với Bác Hồ kính yêu.

Cuối cùng thì ngày cả nước mong đợi cũng đã đến. Ngày 29 tháng 8 năm 1975, công trình Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh khánh thành, Thủ đô Hà Nội ngàn năm văn hiến có thêm một công trình văn hoá lớn nằm liền kề biểu tượng của Việt Nam, của Thăng Long, Đông Đô, Hà Nội: Chùa Một Cột độc đáo được xây dựng từ thời Lý vào lúc đạo Phật hưng thịnh nhất. Trước cửa Lăng Bác Hồ xuất hiện một cảnh tượng chưa bao giờ người dân Việt Nam được chứng kiến trên đất nước ta- Những kíp tiêu binh lễ phục trang nghiêm, đẹp cả trong tư thế đứng nghiêm và trong từng bước đi, nhịp quay khi đổi gác. Hai chiến sĩ Nông Văn Thành và Nguyễn Văn Ri được vinh dự đứng tiêu binh trước Lăng Bác trong ngày khánh thành. Họ đứng nghiêm, mắt nhìn thẳng, tay nắm chắc thân súng, không một cử động nhỏ. Trước mắt các anh là những dòng người bước đi nhẹ nhàng như một dòng chảy bất tận vào Lăng.

Đã nhiều lần tôi được vào Lăng viếng Bác hoặc có việc đi qua khu vực Lăng Bác. Dù được gặp Bác hay chỉ đi ngang qua Lăng cứ bắt gặp thảm cỏ Ba Đình xanh mát mắt, trong tim tôi lại nhớ đến bài thơ phổ nhạc của Viễn Phương:

“Ngày ngày mặt trời đi qua trên Lăng
Thấy một mặt trời trong Lăng rất đỏ
Từng dòng người đi trong thương nhớ
Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân”.

Đã có hàng trăm tác phẩm thi ca viết về Người, bài ca nào cũng bắt nguồn từ xúc cảm sâu xa của các nghệ sĩ đã may mắn được gặp Bác hoặc chưa có dịp để có được niềm hạnh phúc lớn ấy. Nhưng đến nơi yên nghỉ của Người, như một phản xạ tự nhiên, tôi cứ nhớ ngay những câu thơ trên, vì hình tượng thơ của Viễn Phương luôn diễn ra hàng ngày trước mắt tôi: những dòng người với sắc áo muôn màu chuyển động, uốn quanh, như một tràng hoa, như một đoá hoa đang bừng nở. Từ ngày đầu tiên đến hôm nay vẫn thế.

Ngay sau ngày Bác Hồ qua đời, mặc dù trong lúc đất nước còn đắm chìm trong mịt mù khói lửa chiến tranh, nhưng việc xây dựng Lăng Bác đã trở thành nguyện vọng thiết tha của toàn dân, toàn quân ta. Đồng bào và chiến sĩ cả nước đều mong muốn có một nơi an nghỉ cuối cùng của Bác để thể hiện phần nào công lao và sự nghiệp vĩ đại của Người, để thế hệ hôm nay và các thế hệ mai sau có điều kiện tới viếng Bác và nguyện đi tiếp con đường mà Đảng và Bác Hồ đã chọn. Tổ quốc ta lúc đó còn bị chia cắt làm hai miền. Miền Nam đi trước về sau, lúc sinh thời Người nhớ thương da diết. Trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Người, có một ước ao lớn nhất chưa thực hiện được là trở lại Sài Gòn, gặp lại miền Nam yêu dấu. Miền Nam luôn luôn ở trong trái tim của Bác và Bác cũng luôn có trong trái tim mỗi người dân miền Nam. Năm 1966, khi tiếp một nhà báo Cuba, Bác đã đặt một bàn tay lên ngực mình nói rằng: “Nhân dân miền Nam, mỗi nhà, mỗi người có một nỗi đau riêng, đem cộng lại tất cả những nỗi đau đó lại là nỗi đau của tôi”. Trong thời kỳ chống Mỹ, cứu nước, Bác nhiều lần đề nghị Bộ Chính trị bố trí cho Bác vào thăm hỏi, động viên quân dân ta ngay tại chiến trường miền Nam. Nhưng nhận thấy sức khoẻ của Bác không đảm bảo, nên Bộ Chính trị đã tìm mọi cách trì hoãn chuyến đi ấy. Vào mùa xuân năm 1968, đồng chí Lê Đức Thọ trước khi vào miền Nam công tác đã đến chào Bác. Bác lại tha thiết đề nghị Bộ Chính trị được đi thăm miền Nam. Đồng chí Lê Đức Thọ lại phải khéo léo từ chối nói rằng: Bác chỉ có thể đi đường hàng không qua Phnôm Pênh. Như vậy phải làm hộ chiếu và người ta dễ dàng nhận ra Bác vì Bác có râu. Bác bảo: “Thì cạo râu đi”. Đồng chí Lê Đức Thọ thưa: “Bác cạo râu đi thì đồng bào miền Nam không còn nhận ra Bác nữa”. Nghe vậy, Bác ngồi yên rất buồn. Lúc chia tay, Bác đã ôm lấy đồng chí Lê Đức Thọ và Người không kìm được nước mắt. Hành trình tìm đường cứu nước của Bác Hồ bắt đầu từ ngày 5 tháng 6 năm 1911 trên con tàu buôn mang tên “Đô Đốc La-tut-sơ Tơ-rê-vi-lơ” rời bến Nhà Rồng. Người đã đi khắp các châu lục Á, Âu, Phi, Mỹ La tinh làm nên sự nghiệp lớn “chấn động địa cầu” – là người khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hoá thế giới. Có ai ngờ lần tạm xa ấy cũng là lần Bác vĩnh biệt Sài Gòn, vĩnh biệt miền Nam yêu thương.

Quyết định của Bộ Chính trị giữ gìn nguyên vẹn và lâu dài thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh và xây Lăng lúc đó thực sự là nguồn cổ vũ lớn đối với đồng bào miền Nam, đối với quân dân cả nước, biến đau thương thành sức mạnh, quyết “đánh cho Mỹ cút, đánh cho nguỵ nhào”, giành toàn thắng để sớm được về Lăng gặp Bác. Những gì diễn ra bên Lăng Bác Hồ trong những năm qua đã chứng minh quyết định giữ gìn nguyên vẹn lâu dài thi hài Bác và xây dựng Lăng là đúng ý Đảng, hợp lòng dân, phù hợp với truyền thống đạo lý nhân nghĩa, uống nước nhớ nguồn của dân tộc Việt Nam. Tính đến hết tháng 12 năm 2006 đã có 32.750.170 lượt người vào Lăng viếng Bác, trong đó khách nước ngoài có 3.573.309 người thuộc 132 nước và 68 tổ chức quốc tế. Công cuộc đổi mới đất nước đạt được những thành tựu quan trọng, điều kiện đi lại của nhân dân thuận tiện, giao lưu quốc tế phát triển đã làm cho lượng khách trong nước và nước ngoài đến Lăng thăm viếng Bác mấy năm gần đây tăng lên không ngừng. Vào những ngày này, trung bình có từ 50 đến 70 đoàn khách quốc tế cùng hàng ngàn đồng bào ta, đủ các lứa tuổi từ khắp mọi miền đất nước ngày ngày lặng lẽ, thành kính xếp hàng dài vào Lăng viếng Bác. Thủ đô Hà Nội có cả ngàn năm lịch sử, nhiều danh lam thắng cảnh. Nhưng không có danh thắng nào lại có được sức hấp dẫn như khu vực Lăng Bác. Nhiều cụ già ở các miền quê xa chưa một lần đặt chân đến Thủ đô đã nói với con cháu: “Ước gì ra Hà Nội để được vào Lăng viếng Bác”. Với khách nước ngoài thì nhiều người chung một ý kiến: Chưa đến Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh thì coi như chưa đến Hà Nội. Ngay cả những ngày Lăng không mở cửa trong tuần theo thường lệ (thứ hai và thứ sáu) bà con ta, các cháu thiếu nhi, du khách nước ngoài cũng vẫn đi lại tấp nập trên những con đường trong khu vực Lăng Bác để hít thở không khí trong lành, ngắm cảnh quan, ghi hình chụp ảnh lưu niệm.

Những cuốn sổ vàng mà Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh lưu giữ xếp thành một chồng cao ngất đã lưu lại những cảm nghĩ chân thành sâu lắng của đồng bào, đồng chí, của nhân dân các dân tộc ở khắp mọi miền đất nước, của bè bạn trên khắp các lục địa với đủ các ngôn ngữ gốc Sla-vơ, La tinh, tượng hình, Phạn…

Đoàn đại biểu quận 1, thành phố Hồ Chí Minh viết: “Vô cùng xúc động được vào Lăng viếng Bác, Bác mãi mãi sống trong trái tim đồng bào Nam Bộ, lời ấy đời đời giữ mãi trong lòng của nhân dân thành phố Hồ Chí Minh … Nhớ thương Bác vô cùng. Nguyện học tập và sống theo gương Bác”.

Đoàn đại biểu Ê-ti-ô-pi-a viết: “Đến thăm Lăng Bác Hồ, chúng tôi có một ấn tượng sâu sắc: Bác Hồ không chỉ là nhà cách mạng vĩ đại của nhân dân Việt Nam, mà Người còn là niềm hy vọng của các dân tộc châu Phi cũng như những dân tộc khác đang đấu tranh quét sạch chủ nghĩa đế quốc ra khỏi Tổ quốc mình…”.

Đoàn đại biểu phụ nữ Mỹ viết: “Chúng tôi yêu mến đất nước Việt Nam vì ở Việt Nam có Chủ tịch Hồ Chí Minh, cuộc đời của Người là một biểu tượng hoà bình đầy đủ nhất… Chúng tôi coi lãnh tụ Hồ Chí Minh như lãnh tụ của nhân dân tiến bộ Mỹ”.

Bà A-sa-la-li, Chủ tịch Liên đoàn phụ nữ Ấn Độ viết: “Tôi xin nghiêng mình tưởng nhớ Chủ tịch Hồ Chí Minh, một người châu Á vĩ đại, một con người thật sự vĩ đại, người tiên phong của tất cả các dân tộc bị áp bức. Lời nói bất hủ của Người về tự do là món quà quý giá nhất mà loài người phải giữ lấy…”.

Những dòng cảm tưởng của hàng triệu người đã đến Lăng viếng Bác tập hợp lại có thể in thành nhiều pho sách. Nhưng đấy mới chỉ là một phần nhỏ bé so với tình cảm bao la nồng thắm đối với Bác bất kể thời gian và những biến động của lịch sử.

Có lần, tôi được gặp đoàn các Bà mẹ Anh hùng từ vùng đất Mũi Cà Mau vào Lăng viếng Bác. Các mẹ đều đã ở tuổi trên dưới 70, lại đi bằng ô tô. Tuổi trung niên như tôi, nghĩ đến một chuyến đi xuyên Việt bằng ô tô đã thấy ngại, thế mà các mẹ lại không thích ngồi máy bay. Tôi hỏi nguyên do, thì một mẹ giải thích: “Đi ô tô để tham quan đất nước, để việc hành hương về thăm Bác có thêm nhiều ý nghĩa”.

Người cao tuổi nhất trong đoàn là mẹ Nguyễn Thị Thanh, đã 73 tuổi. Cả ba người con trai của mẹ đều đã hy sinh trong cuộc chiến đấu giành độc lập, tự do cho Tổ quốc. Những mất mát quá lớn lao đã làm cho mẹ già hơn nhiều so với tuổi tác. Mẹ cao gầy, gương mặt hốc hác, tóc sương, da mồi. Mới chỉ thoáng nghe câu hỏi của tôi: “Cảm xúc của mẹ như thế nào khi vào Lăng viếng Bác”, ánh mắt già nua của mẹ bỗng mờ đi, nước mắt từ từ lăn trên đôi gò má nhăn nheo đen sạm. Một lát sau mẹ mới thốt lên được mấy lời: “Buồn lắm, cảm động lắm… ước chi những ngày này Bác còn sống để chứng kiến cảnh nước nhà thống nhất, để Bác vào thăm bà con miền Nam, bà con đất Mũi”. Mẹ Thanh chỉ nói được có vậy. Những câu hỏi tiếp theo của tôi chỉ được mẹ trả lời bằng hai hàng nước mắt của một người mẹ đã khô héo vì khổ đau, tưởng như không bao giờ còn có thể khóc được nữa. Nhìn mẹ Thanh khóc, sống mũi tôi bỗng thấy cay cay dẫu trước đó tôi đã được nghe các anh, chị trong Ban Đón tiếp kể lại nhiều mẩu chuyện về tình cảm của đồng bào miền Nam với Bác.

Đúng như đàn con hiếu thảo khi cha mất đã không có mặt chịu tang, các đoàn miền Nam ra thăm Bác những ngày đầu Lăng Bác mới mở cửa đón khách có nhiều chuyện thật cảm động. Mới bước vào phòng tiếp đón nhiều người đã khóc sụt sùi. Đến khi vào Lăng mong được một lần trông thấy Bác thì mắt nhoè lệ, xúc động cứ dâng trào không thể kìm nén cho đến tận lúc rời Lăng. Thế là từ miền Nam xa xôi ra Hà Nội gặp Bác, đứng bên Bác mà không nhìn rõ được gương mặt cha già.

Chị cán bộ Sở Lao động- Thương binh và Xã hội tỉnh Cà Mau, có nhiệm vụ dẫn đoàn các mẹ đi viếng Bác tâm sự với tôi: Nhận nhiệm vụ này em vừa vui vừa lo. Vui vì đây là lần đầu tiên em được ra Thủ đô, được vào Lăng viếng Bác. Lo vì các mẹ tuổi đã cao, đường đất lại xa xôi thế có chuyện gì xảy ra ở giữa đường nơi đèo cao, đồng vắng thì thật rầy to. Nhưng may quá trừ một sự cố ở thành phố Hồ Chí Minh, còn lại càng đến gần Hà Nội, các mẹ lại càng khoẻ ra. Chính em có lúc cũng rất mệt lại được các mẹ xúm vào động viên: “Cố ăn cho nhiều để khi ra đến Hà Nội khoẻ mạnh, má con chúng mình vô Lăng viếng Bác ngay”. Trong lúc nói chuyện với tôi ánh mắt chị trưởng đoàn long lanh vui và còn ẩn chứa một điều kỳ lạ gì đó mà chị chưa hiểu hết đã làm cho các mẹ anh hùng của Cà Mau đến được Hà Nội bình an, mạnh khoẻ.

Những người dân từ khắp mọi miền đến đây mỗi người đều có hoàn cảnh riêng, trăm người trăm số phận, mỗi người có cách thể hiện riêng nhưng có một nét chung là tất cả đều mang trong lòng tình cảm đối với Bác rất sâu xa, thánh thiện mà dân dã. Xin dẫn ra một vài thí dụ: Bà Nguyễn Thị Lan ở thành phố Hải Phòng từ nhiều năm nay năm nào bà cũng đến viếng Bác ba lần vào dịp: Tết âm lịch, ngày sinh Bác 19-5, ngày Quốc khánh cũng là ngày Bác mất 2-9. Bà đã trở thành người thân của tập thể cán bộ, chiến sĩ làm nhiệm vụ bảo vệ, đón tiếp đồng bào trong nước và khách quốc tế vào Lăng viếng Bác. Con cháu, dòng họ của bà Lan cũng thường xuyên vào viếng Bác. Có lần đoàn con, cháu, họ hàng của bà Lan vào viếng Bác đông tới 50 người, ngồi chật cả một phòng khách lớn. Bà Lan là người có tính cách khác lạ. Có lần bà nói: “Tôi không có thì giờ để đến các chùa chiền. Đi chùa là để lễ thánh cầu phúc. Bác Hồ anh minh là bậc thánh từ lúc còn sống, không chỉ dân ta, mà khắp bàn dân thiên hạ đều biết, nên tôi thấy chỉ đến viếng, đến lễ Bác là đủ phúc đức cho con cháu rồi. Đấy là ý nghĩ của riêng tôi. Tôi nghĩ thế nào cứ nói ra đúng như thế”.

Cụ Đỗ Viết Ân ở Thái Bình cũng là một lữ khách để lại cho cán bộ, chiến sĩ bảo vệ Lăng nhiều ấn tượng đặc biệt. Không chỉ ở khu vực Lăng, ở nhà khách 37 Hùng Vương, mà ở chùa Quán Sứ, nhiều người cũng biết cụ, giúp đỡ, phục vụ cụ rất tận tình. Cụ Ân đã hơn trăm tuổi nên được Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Thái Bình dành cho chế độ ưu đãi đặc biệt. Cụ Ân có thẻ đi tàu xe không mất tiền. Lên Hà Nội viếng Bác khi thì cụ vào ăn nghỉ tại nhà khách 37 Hùng Vương (tất nhiên cũng không mất tiền), lúc thì ra “ăn mày” cửa phật ở chùa Quán Sứ. Dù nghỉ ngơi ở chỗ nào từ năm 1990 trở về trước cứ sáng ngày 3 tháng 9 là cụ có mặt ở Ban Đón tiếp để vào Lăng viếng Bác. Đã thành lệ từ chiều mồng 2, mấy anh chị em trong Ban Đón tiếp đã nhắc nhở nhau: “Nhớ sáng ngày mai đón cụ Ân vào Lăng viếng Bác”.

Cùng với năm tháng, những dòng người ngày nối ngày lặng lẽ vào Lăng viếng Bác để soi vào tấm gương trong sáng của Bác, để nâng cao lòng tin, xoá những ưu tư, xác nhận những chân giá trị cuộc sống trước bão tố cuộc đời, để yêu cái Người đã từng yêu, để được bồi đắp thêm sinh lực đi tiếp con đường Người đã đi suốt cả cuộc đời. Cùng với hoạt động lớn đó, Lăng Bác còn là nơi diễn ra nhiều sinh hoạt chính trị phong phú. Nhiều đơn vị tân binh trước ngày lên đường, lễ kết nạp đoàn viên, đảng viên, nhiều đoàn đại biểu của nhiều cơ quan, xí nghiệp, những tài năng trẻ dâng lên Bác kính yêu những thành tích trong lao động, học tập, công tác đã sôi nổi diễn ra thường xuyên bên Lăng Người. Ngọn lửa thiêng từ nơi đây được chuyển đi thắp sáng tinh thần thượng võ ở các đại hội thể thao toàn quốc, ở các địa phương. Nhiều đôi trai gái khi làm lễ thành hôn cũng đến trước Lăng bày tỏ lòng tưởng nhớ và biết ơn Người. Trong những đôi trai gái đến đây dâng hoa lên Người trong ngày lễ thành hôn, có một chú rể mà cán bộ, chiến sĩ bảo vệ Lăng hay nhắc đến đó là Thượng uý Phạm Minh Thanh thuộc Đoàn M25 Bộ đội Hải quân. Anh Thanh là một người lính thường xuyên gắn bó với những hòn đảo xa xôi nhất của Tổ quốc. Từ Trường Sa, Thanh được nghỉ ít ngày để tổ chức lễ cưới. Ngày giờ tiến hành hôn lễ đã được đôi bên gia đình hai họ quyết định. Nhưng vào ngày đó, Lăng Bác lại không mở cửa đón khách theo quy định thường lệ. Cô dâu, chú rể và cả hai gia đình coi dâng hoa tưởng niệm Bác là một việc làm có ý nghĩa lớn và hệ trọng phải thực hiện bằng được và ngày cưới của họ đã lùi lại rất tự nguyện.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là lãnh tụ vĩ đại của nhân dân Việt Nam, là người bạn lớn của nhân dân thế giới. Hoà cùng hàng ngàn, hàng vạn người dân Việt Nam ngày ngày vào Lăng viếng Bác luôn có những đoàn khách nước ngoài đến Việt Nam, đến với Bác từ khắp các quốc gia. Các đồng chí trong Ban Đón tiếp tại Lăng là người thường xuyên tiếp xúc với khách quốc tế, đã kể cho tôi nghe nhiều mẩu chuyện thể hiện tấm lòng của bè bạn bốn phương từ các nguyên thủ quốc gia đến những khách du lịch dành cho Bác Hồ kính yêu của chúng ta.

Cách đây mấy năm, có một đoàn rất đông cựu chiến binh Pháp vào Lăng viếng Bác. Hôm ấy là ngày lễ, nên đồng bào ta và khách nước ngoài đến viếng Bác lên đến hơn 30 ngàn người. Dưới nắng hè gay gắt phải chờ đợi hàng tiếng đồng hồ, một vài người trong đoàn tỏ vẻ bực bội khó chịu. Nhưng trong đoàn cựu chiến binh Pháp nhiều người lại biểu lộ thái độ rất trầm tĩnh kiên nhẫn. Nghe cán bộ ta giải thích, xin lỗi vì sự chậm trễ, có vị cựu chiến binh vội vàng xua tay nói:

– Các ông không có lỗi, không có lỗi. Đứng đây chờ đợi phải chịu nắng nóng, cái nắng Việt Nam đáng sợ thật, nhưng tôi lại có thêm được một thu hoạch bằng trực giác của mình. Nhìn dòng người Việt Nam vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh, tôi mới thật hiểu sự ngưỡng mộ của dân tộc ông đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh cao tới mức nào.

Tổng thống Cộng hoà Áo Thô-mát Kle-xtin vào Lăng viếng Bác, nhìn thấy nhân dân ta đủ các lứa tuổi trẻ già, gái trai đến viếng lãnh tụ vĩ đại của mình, ông rất xúc động. Tổng thống đã đề nghị đồng chí phụ trách Lăng được ra bắt tay những người dân Việt Nam tình cờ gặp gỡ bên Lăng Bác. Dòng lưu bút nào có thể ghi lại được tình cảm của vị nguyên thủ quốc gia này với Chủ tịch Hồ Chí Minh chính xác và đầy đủ hơn thế.

Những người khách từ hơn một trăm quốc gia đến viếng Bác không phải do sự hiếu kỳ hay cử chỉ xã giao. Những người khách phương xa đến đây trước đó đều ít nhiều đã biết đến Bác, đã hiểu tiểu sử và sự nghiệp của Người. Sự hiểu biết về Người có mức độ khác nhau, nhưng tất cả những người đã qua đây đều biểu lộ sự kính trọng sâu sắc đối với Bác bằng thái độ, cử chỉ, lời nói và những dòng cảm tưởng với nhiều cách diễn đạt khác nhau. Có lời nói, ý tứ của những người nước ngoài quốc tịch khác nhau, thời điểm vào Lăng viếng Bác của họ cách nhau đến 2 năm nhưng lại giống nhau. Đó là trường hợp một nhà báo Đức và một cán bộ phụ nữ của Ba Lan. Hai vị khách này không dùng từ viếng mà dùng từ thăm. Họ lập luận: viếng là đến với những người đã chết, thăm là đến với người còn sống, Chủ tịch Hồ Chí Minh là bậc vĩ nhân đáng xếp vào hàng bất tử của nhân loại. Đồng chí hướng dẫn viên của ta nói thêm: Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc sinh thời, ngày làm việc của Người rất căng thẳng. Khi tuổi đã cao, sức khoẻ giảm sút, giữa hai cuộc tiếp khách Người thường để nguyên quần áo nằm nghỉ mươi phút. Tư thế của Người, trang phục của Người hiện ở trong Lăng là phỏng theo những giây lát nghỉ ngơi của Người. Đối với chúng tôi, Người sống mãi, Người đang nằm nghỉ chốc lát. Nghe vậy, vị khách Đức và vị khách Ba Lan ở hai thời điểm khác nhau đều bật lên một câu nói giống nhau: “Các ông rất thông minh, rất xứng đáng là con cháu Chủ tịch Hồ Chí Minh”. Để có được lời khen ngợi của nhân dân và bầu bạn quốc tế, kể từ khi Bác đi xa, từ ngày Lăng Bác mở cửa đón khách, cán bộ, chiến sĩ bảo vệ Lăng, những người có hạnh phúc lớn suốt tháng năm luôn được gần gũi bên Người đã coi nhiệm vụ giữ gìn thi hài Bác, bảo vệ Lăng, đón tiếp đồng bào đến viếng Bác là một nhiệm vụ vinh quang mà Đảng, Nhà nước và nhân dân tin cậy giao cho. Họ đã đem hết sức mình với tinh thần tự nguyện cao nhất, tổ chức thực hiện nghiêm cách chuẩn xác, công phu tỉ mỉ công việc giữ gìn thi hài Bác. Coi đó là tài sản tinh thần dân tộc vô giá của hôm nay và của muôn đời con cháu.

Bút ký của Đại tá Nguyễn Việt Sơn – Báo Quân đội nhân dân

bqllang.gov.vn

Một lần giao lưu trực tuyến

Chiếc xe con đưa chúng tôi đến toà soạn Báo điện tử VOVNews. Hà Nội sau cơn mưa đầu mùa hè không khí mát dịu. Đường phố rực rỡ cờ, băng rôn, khẩu hiệu về chiến thắng Điện Biên Phủ và hình ảnh Bác đang cùng đoàn quân ra mặt trận. Theo cách nói của người nước ngoài: Việt Nam – Hồ Chí Minh – Điện Biên Phủ như là mối liên hệ kỳ diệu, một sự đồng nghĩa. Với chúng ta, Đảng và Bác Hồ là linh hồn của mọi thắng lợi. Vậy nên, hôm nay đi trong “âm vang Điện Biên 50 năm trang sử hào hùng”, lòng chúng tôi bồi hồi nhớ Bác. Chỉ còn ít hôm nữa là đến kỷ niệm Ngày sinh lần thứ 114 của Bác và Người cũng đã đi xa gần 35 năm rồi.

Xe từ từ dừng lại ở cổng Đài tiếng nói Việt Nam, số 45 Bà Triệu. Đã hẹn trước, chị Nguyễn Thị Hoa – Trưởng phòng nội dung, người đã đến làm việc với Bộ Tư lệnh về tổ chức buổi giao lưu này đón chúng tôi vào phòng họp của toà soạn.

Đồng chí Đinh Thế Lộc, Tổng Biên tập giới thiệu đôi nét về tờ báo: “Báo điện tử VOVNews là tờ báo điện tử chính thức của Đài tiếng nói Việt Nam, duy nhất có các chương trình phát thanh hàng ngày. Đây là một tờ báo điện tử có uy tín, mang tính định hướng rõ nét và luôn đem đến cho bạn đọc những thông tin nóng, tính thời sự cao mang tính trí tuệ, được bạn đọc đánh giá cao. Truy cập vào website của VOVNews (http://www.vov.org.vn) mỗi sáng để đọc, nghe… đã trở thành nhu cầu không thể thiếu của nhiều độc giả trong và ngoài nước, nhất là trong thời đại công nghệ thông tin hiện nay.

Chúng tôi trao đổi thống nhất với nhau về nguyên tắc và nội dung chủ yếu của buổi giao lưu. Với mong muốn mang đến cho độc giả, thính giả trong và ngoài nước những hiểu biết bổ ích, chúng tôi sẽ nói về công trình Lăng Bác, về tình cảm biết ơn sâu nặng của nhân dân ta và lòng ngưỡng mộ của bè bạn quốc tế đối với Bác.

14 giờ, buổi giao lưu trực tuyến bắt đầu. Trên màn hình máy vi tính hiện rõ dòng chữ: “Chúng tôi xin giới thiệu, 14 giờ ngày hôm nay 15 – 5 – 2004, VOVNews thực hiện Chương trình giao lưu trực tuyến với Thiếu tướng Nguyễn Quang Tấn, Trưởng ban Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Cùng đi có Đại tá Trần Vũ Trang, Phó Chủ nhiệm Chính trị Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. VOVNews mời quý vị và các bạn theo dõi, cùng gửi thư, gọi điện thoại đến Toà soạn để đặt các câu hỏi giao lưu”.

Tôi nhìn rất nhanh toàn bộ căn phòng để hình dung “công nghệ sản xuất” của một tờ báo điện tử. Một căn phòng rộng rãi, toạ lạc trên tầng 6 của toà nhà lớn. Từ đây có thể nhìn thấy Hà Nội san sát những ngôi nhà cao tầng, những đường cây xanh rợp mát. Trong phòng đặt nhiều thiết bị thu, phát hiện đại. Nhiều biên tập viên, hầu hết còn trẻ, đi lại trao đổi hoặc chăm chú làm việc bên màn hình vi tính. Cùng lúc các biên tập viên và chúng tôi phải theo dõi và trả lời lần lượt từng câu hỏi hiện trên 3 màn hình vi tính.

Ngay sau khi Thiếu tướng Nguyễn Quang Tấn thay mặt cho cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên, những người trực tiếp được vinh dự làm việc tại Lăng Bác gửi lời chào tới độc giả là một câu hỏi “khó” của các độc giả: Vọng Hà, Thi, Lý Châu Hòa gửi từ nước Đức về:

– Xin cho biết, trong quá trình bảo vệ thi hài Bác thì khâu nào là khâu khó nhất?.

Chúng tôi “nhập đề” ngay:

– Nhiệm vụ bảo vệ tuyệt đối an toàn và giữ gìn lâu dài thi hài Bác là nhiệm vụ vô cùng khó khăn, chưa có tiền lệ ở Việt Nam. Ngay cả trên thế giới chỉ có Liên Xô là nước duy nhất có công nghệ giữ được lâu dài thi hài để mọi người có thể thăm viếng. Đặc biệt là ở Việt Nam, với khí hậu nhiệt đới nóng, ẩm thì công việc này lại càng khó khăn hơn gấp bội, nhất là khi điều kiện kĩ thuật của chúng ta còn lạc hậu. Được sự quan tâm chỉ đạo của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương, sự giúp đỡ của Đảng và Nhà nước Liên Xô trước đây, mà trực tiếp là các nhà khoa học, cộng với sự nỗ lực vươn lên của cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên được tham gia thực hiện nhiệm vụ này, nên những khó khăn tưởng chừng không vượt qua nổi ấy đã dần được khắc phục. Thi hài Bác năm nay đã bước sang năm thứ 35, vẫn được giữ gìn một cách tốt nhất. Những nét đặc trưng của Người lúc sinh thời vẫn được giữ gìn nguyên vẹn. Công trình Lăng ngày càng khang trang, sạch đẹp; hàng ngày đón hàng vạn lượt người vào Lăng viếng Bác.

Văn Mĩ Huệ 2@yahoo.com có một câu hỏi rất dài: “Giữ gìn thi hài Bác Hồ, đó là một công việc rất nặng nề nhưng cũng là một niềm hạnh phúc vô cùng lớn lao. Trong thời gian chiến tranh, điều kiện vật chất rất thiếu thốn, đặc biệt là phương tiện kĩ thuật, nhưng các chú đã làm được một điều kì diệu là giữ gìn rất tốt thi hài của Bác Hồ. Cháu cũng có dịp được đi thăm khu Đá Chông, nơi đã thực hiện việc giữ gìn thi hài của Bác trong thời gian đầu tiên, cháu đã được xem chiếc xe chuyên dụng trong lần di chuyển đó và được biết là cuộc di chuyển thi hài của Bác giữa Sơn Tây và Hà Nội đã diễn ra rất khó khăn. Vậy cháu muốn biết rõ hơn về cuộc di chuyển đó được không ạ?”.

Anh Tấn đã kể lại 6 năm chiến tranh gian khổ, thiếu thốn vật chất kĩ thuật, đến mức chúng ta phải dùng những cột nước đá thay cho máy điều hòa để đảm bảo nhiệt độ trong xe di chuyển thi hài Bác. Để giữ bí mật trên đường hành quân, chỉ huy đơn vị đã phải cử những bộ phận đi trước chở vật liệu san lấp những hố ở trên đường do bom đạn của Mỹ gây ra, đảm bảo cho xe chở thi hài Bác không bị rung, xóc. Sau đó, để xóa đi dấu vết, các chiến sĩ lại phải bốc đất cát chở đi, trả lại hiện trạng lúc trước của con đường.

Cuộc trò chuyện nhiều ý nghĩa, rất lắng đọng tình cảm, nhưng có lúc khá căng thẳng, bởi giao lưu trực tuyến trên báo điện tử là một hình thức rất mới lạ đối với chúng tôi.

Lúc này, màn hình hiện lên câu hỏi của một độc giả tên là Hương, không ghi địa chỉ nơi gửi, độc giả muốn biết: “Thi hài Bác đặt trong Lăng cần bao nhiêu kinh phí để duy trì hàng năm”. Anh Tấn xoay người về phía tôi phân vân: “Chúng ta có nên trả lời hay không?”. Các biên tập viên gợi ý: nếu có những câu hỏi không tiện trả lời thì các đồng chí có thể từ chối.

Thực ra, việc này đã có nhiều người muốn biết, có thể là do họ muốn tìm hiểu về công trình, hoặc vì một mục đích khác. Trong quá trình công tác, tiếp xúc với tài liệu tham khảo phục vụ công tác tư tưởng tôi đã được đọc và nhận thấy một số người có những quan niệm, hiểu biết lệch lạc; có cả những luận điệu phản động mang dụng ý rất độc hại, chống lại việc chúng ta xây dựng Lăng Bác.

Tôi nhớ có lần vào khoảng năm 2002, một nhà báo Mỹ tên là W. xin gặp trưởng Ban quản lý Lăng để phỏng vấn. Trong khi phỏng vấn, đã mấy lần W. đều nhắc lại câu hỏi về tổ chức của đơn vị và chi phí cho việc bảo vệ giữ gìn Lăng. Trưởng ban Ban Quản lý Lăng đã nói với người phiên dịch: “Đồng chí hãy dịch cho ông ta được biết, công trình Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh được xây dựng là do ý nguyện thiết tha, lòng biết ơn vô hạn của dân tộc chúng tôi đối với vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc mình. Công trình đã được Đảng và nhân dân Liên Xô giúp đỡ chí nghĩa, chí tình, bằng nguồn viện trợ không hoàn lại và được đồng bào cả nước chúng tôi đóng góp. Nhiều vật liệu quý còn được đưa từ miền Nam lúc đó đang chiến đấu chống Mỹ xâm lược để xây dựng Lăng và hiện nay Lăng Bác vẫn tiếp tục nhận được sự đóng góp của các địa phương trong cả nước. Giá trị vật chất ư? Không thể tính toán được. Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh là tài sản vô giá”.

Sau ít giây, tôi đề nghị anh Tấn nên trả lời cho độc giả như hôm anh đã trả lời nhà báo Mỹ W. Câu trả lời của anh Tấn đã toát nên những nội dung rất chặt chẽ. Cuối cùng anh khẳng định: “Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh là một công trình lòng dân ý Đảng nên ngay từ khi xây dựng Lăng cũng như trong suốt quá trình bảo quản, tôn tạo sau này, Lăng Bác luôn luôn nhận được sự đóng góp, giúp đỡ của mọi miền đất nước và cả tổ chức quốc tế. Chúng tôi cần có những kinh phí để dành cho việc bảo quản, giữ gìn thi hài, đảm bảo điều kiện phục vụ nhân dân vào Lăng viếng Bác an toàn, văn minh và tôn tạo cảnh quan khu vực Lăng”.

Một câu hỏi khác của Nguyễn Thanh Hà, cũng không ghi địa chỉ:

– Hiện nay có bao nhiêu người tham gia làm việc tại Ban quản lý Lăng Hồ Chủ tịch?

Anh Tấn trả lời một cách đúng mức:

– Có thể nói, Lăng có nhiều bộ phận, mỗi bộ phận có chức năng, nhiệm vụ khác nhau. Theo sự chỉ đạo của cấp trên, Ban Quản lý Lăng phải cố gắng tính toán sao cho có một tổ chức hợp lý nhất, để tiết kiệm được nhân lực cũng như các chi phí khác cho công trình.

Từ Seattle, Wasihington (Hoa Kỳ), Trần Anh Tuấn hỏi:

– Thưa Thiếu tướng, trong suốt những năm làm nhiệm vụ giữ gìn thi hài Bác, ông đã gặp những sự cố gì? Sự cố nào là đáng nhớ nhất?

Tôi ngạc nhiên khi thấy anh Tấn vốn là một cán bộ kĩ thuật mà trình bày những điều về “sự cố” chính trị rất xác đáng. Anh nói:

– Trong suốt những năm làm nhiệm vụ giữ gìn thi hài Bác, nếu nói ở góc độ kĩ thuật thì có rất nhiều sự cố, như hỏng hóc máy móc, thiết bị, mất nguồn điện…, nhưng một sự cố mang tính chính trị đã xảy ra vào cuối năm 1991. Lúc đó, tình hình chính trị ở Liên Xô có sự thay đổi, đã ảnh hưởng trực tiếp đến sự giúp đỡ của các chuyên gia Liên Xô đối với Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nhưng với một tình cảm cách mạng của các nhà khoa học Liên Xô cũ và các nhà khoa học Nga hiện nay, cùng với sự cố gắng vượt bậc của các nhà khoa học Việt Nam, “sự cố” này đã nhanh chóng được khắc phục và không làm ảnh hưởng đến việc giữ gìn lâu dài thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Cuộc giao lưu mỗi lúc một cuốn hút hơn. Tôi thật sự tự hào vì mình là một người trong đội ngũ cán bộ đã vinh dự được thực hiện nhiệm vụ thiêng liêng tại Lăng Bác Hồ. Niềm hạnh phúc ấy trào dâng trong lòng khi thấy biết bao nhiêu con người ở khắp mọi miền đất nước, những đồng bào ở xa Tổ quốc đã hướng về Lăng Bác với một tấm lòng thành kính và biết ơn Người. Họ cũng rất quan tâm đến những người chiến sỹ cận vệ bên Lăng Bác. Các câu hỏi liên tiếp được đặt ra như: Điều kiện khí hậu của Việt Nam gây khó khăn gì cho việc giữ gìn thi hài Bác?; Mỗi năm chúng ta tiến hành mấy lần việc bảo quản giữ gìn thi hài Bác?; Việc này có khó khăn nhiều không?; Hàng năm có bao nhiêu người vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh?; Cháu ở miền Nam, hè này cháu sẽ ra Hà Nội. Cháu muốn được vào Lăng viếng Bác Hồ. Vậy cháu xin hỏi, cháu phải đến vào ngày nào và làm những thủ tục gì để xin được vào viếng Bác?; Ngoài chuyên gia Liên Xô có thêm nước nào cùng giúp Việt Nam giữ gìn thi hài Bác không? v.v…

Đặc biệt, câu hỏi của cháu Hồng Hạnh ở Thanh Xuân, Hà Nội: “Việt Nam nhận được rất nhiều sự giúp đỡ của các chuyên gia Liên Xô trong việc giữ gìn thi hài Bác trong những năm chiến tranh. Vậy từ khi chuyển thi hài Bác vào Lăng, nước bạn Liên Xô có còn tiếp tục giúp ta trong công việc này nữa không? Trong số những chuyên gia tham gia giúp đỡ Việt Nam bảo vệ thi hài Bác, hiện nay có ai còn sống không? Các chú có định tổ chức gặp mặt những người này vào dịp kỷ niệm 115 năm ngày sinh của Bác hay vào dịp nào đó không ạ?”.

Anh Tấn đã xúc động trả lời:

– Trong số những chuyên gia tham gia giúp đỡ Việt Nam giữ gìn thi hài Bác từ những ngày đầu, hiện nay rất nhiều người còn sống, như Viện sĩ Iu.M. Lô-pu-khin, Giáo sư Iu.A. Rô-ma-cốp, năm nay đều đã trên 80 tuổi. Đối với những người có công giúp đỡ chúng ta, chúng ta luôn biết ơn, kính trọng. Các chuyên gia giúp chúng ta giữ gìn thi hài Bác đã được Đảng và Nhà nước ta phong tặng danh hiệu cao quý Anh hùng Lao động và tặng thưởng nhiều Huân chương Lao động, Huân chương Hữu nghị. Những ngày lễ lớn, chúng ta đều tổ chức những buổi gặp gỡ để tỏ lòng biết ơn và cảm ơn sự giúp đỡ của Bạn. Nhân dịp 30 năm giữ gìn thi hài Bác, được phép của Thủ tướng Chính phủ, Ban quản lý Lăng đã phối hợp với Đại sứ quán nước ta ở Liên bang Nga, mời các chuyên gia về y tế, chuyên gia kĩ thuật có công giúp ta xây dựng Lăng và giữ gìn thi hài Bác về họp mặt tại Mát-xcơ-va. Cuộc gặp ấy để lại ấn tượng hết sức tốt đẹp. Anh hùng vũ trụ Liên Xô Ghec-man Ti-tốp trong buổi gặp mặt đó có những lời phát biểu hết sức tốt đẹp về đất nước Việt Nam, con người Việt Nam.

Chúng tôi còn xúc động hơn nữa khi biết rằng có rất nhiều thanh niên mong muốn được trở thành người chiến sỹ đứng canh cho giấc ngủ của Người. Cháu Đoàn Thái Duyên ở Hà Nội hỏi: “Cháu cũng muốn làm một người lính bên Lăng Bác Hồ, vậy cháu phải làm thế nào để đạt nguyện vọng này?”.

Sự quan tâm, chia sẻ, niềm ao ước… vẫn mỗi lúc một nhiều gửi về toà soạn, khiến buổi giao lưu trực tuyến kéo dài hơn so với thời gian dự kiến. Trước tình hình đó, đồng chí Tổng biên tập toà soạn, người trực tiếp theo dõi và chỉ đạo chương trình giao lưu này đã đồng ý điều chỉnh thời gian.

Buổi giao lưu kết thúc, chúng tôi ra về trong niềm vui, niềm tự hào, xúc động đan xen. Qua buổi giao lưu trực tuyến, tôi cảm nhận thấy tình cảm thiết tha của đồng bào cả nước và bạn bè quốc tế đối với việc giữ gìn lâu dài thi hài Bác Hồ, thấy công việc mình đang thực hiện là một nhiệm vụ đặc biệt cao quý. Các thế hệ cán bộ, chiến sỹ chúng tôi sẽ thay nhau đứng vào vị trí danh dự mà Tổ quốc trao cho, để mãi mãi giữ yên giấc ngủ ngàn thu của Người.

Đại tá Trần Vũ Trang
Nguyên Phó Chủ nhiệm Chính trị – Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh

bqllang.gov.vn

Những giây phút thiêng liêng bên Người

Ngày ngày, hàng ngàn, hàng vạn đồng bào ở khắp mọi miền đất nước và khách quốc tế về Lăng viếng Bác. Năm này qua năm khác, thế hệ này đến thế hệ khác, dòng người ấy cứ nối tiếp nhau dài vô tận như tấm lòng của người dân đất Việt đối với Bác kính yêu.

Trong cuộc đời mỗi người dân Việt Nam ai cũng khát khao mong ước được một lần về Lăng viếng Bác để bày tỏ lòng biết ơn vô hạn và thương nhớ Bác khôn nguôi.

Là một cán bộ có vinh dự tự hào được phục vụ tại Lăng Bác từ những ngày đầu, tôi vẫn còn in đậm những hình ảnh hết sức xúc động về tình cảm của các đoàn nguyên thủ quốc gia; các đoàn đại biểu trong và ngoài nước và các tầng lớp nhân dân khắp mọi miền của Tổ quốc đến với Bác Hồ muôn vàn kính yêu của chúng ta. Đó là những kỷ niệm sâu sắc nhất trong quãng thời gian hơn 30 năm phục vụ tại Lăng Bác.

Có lẽ vì tôi là người miền Nam nên thường được phân công đón tiếp các đoàn miền Nam ra viếng Bác. Cảm động nhất là lần đón tiếp một đoàn bà mẹ Việt Nam Anh hùng từ miền Nam ra Lăng viếng Bác. Tôi và các đồng chí trong Ban Đón tiếp đón các mẹ ở phòng khách sang trọng nhất. Trong đoàn, nhiều mẹ đã ngoài 70, 80 tuổi, bước đi chậm chạp, khó khăn. Sự chịu đựng hy sinh, mất mát đã in hằn trên khuôn mặt khắc khổ của các mẹ, chỉ có đôi mắt là còn tinh tường. Chúng tôi đã đón tiếp phục vụ các mẹ một cách tận tình chu đáo nhất chỉ mong đền đáp một phần nào sự hy sinh mất mát lớn lao của các mẹ cho nền độc lập tự do của đất nước. Tôi rất thấu hiểu nỗi đau tột cùng của các mẹ, bởi vì tôi cũng có mẹ và 3 em là liệt sĩ. Tôi đã dành trọn buổi sáng để giới thiệu với các mẹ về công tác giữ gìn thi hài Bác, xây dựng Lăng và tình cảm của Bác Hồ đối với đồng bào miền Nam. Cảm động nhất là khi các mẹ xem phim tư liệu về những giờ phút cuối đời của Bác. Bước ra khỏi phòng chiếu phim, mẹ nào cũng nước mắt rưng rưng. Một mẹ vừa lấy vạt áo dài lau nước mắt, vừa nghẹn ngào nói với tôi: “Đêm qua mẹ không ngủ được cứ trông trời mau sáng để được đến Lăng viếng Bác. Nhìn thấy hình ảnh Bác mà thương nhớ Bác quá chừng!”.

Tôi biết các mẹ rất xúc động nên trước khi vào Lăng viếng Bác tôi đã động viên các mẹ: Vào viếng Bác, các mẹ phải nén xúc động đừng khóc để nhìn Bác cho kỹ hơn, về nhà còn kể lại cho con cháu nghe nhé”.

Trên đường vào Lăng tôi còn giới thiệu cho các mẹ về Lăng và những sản vật quý giá của đồng bào miền Nam gửi ra xây dựng Lăng Bác. Tôi nhìn thấy các mẹ tươi tỉnh nên đã yên tâm, nhưng ngờ đâu khi vào phòng Bác nghỉ, vừa nhìn thấy Bác, một vài mẹ sụt sùi khóc thế rồi cả đoàn khóc theo. Khi ra khỏi Lăng tôi hỏi các mẹ: “Các mẹ có nhìn thấy Bác rõ không?”.
Mẹ nào cũng nói nhìn Bác không rõ. Giây phút mong mỏi, đợi chờ cả một đời của các mẹ đã không thực hiện được. Chắc chắn các mẹ ra về sẽ không thể yên lòng.

Nghĩ vậy, tôi nói với anh em phục vụ: “Để các mẹ tĩnh tâm tôi sẽ dẫn các mẹ vào viếng Bác lần nữa vì các mẹ ở xa, tuổi cao sức yếu, lần đầu tiên cũng có thể là lần cuối cùng các mẹ ra Hà Nội và vào Lăng viếng Bác”.

Tôi lại động viên các mẹ một lần nữa: “Con sẽ dẫn các mẹ vào viếng Bác, đây là lần cuối cùng nên các mẹ không được khóc để nhìn thấy Bác cho rõ hơn”.

Sau một hồi lâu, các mẹ bình tĩnh và tự dặn nhau không được khóc. Tôi dẫn các mẹ đi vòng phía sau Lăng để nhập vào dòng người đi viếng. Lần này các mẹ đi chậm hơn nên có thể nhìn kỹ được phong cảnh bên ngoài và trong Lăng. Các mẹ bước vào phòng Bác nằm, với những bước đi chầm chậm, chăm chú nhìn Bác, miệng nói khẽ những lời cầu nguyện. Ra khỏi Lăng mẹ nào cũng vui vẻ, trong lòng tôi cũng trào lên niềm vui khó tả, vì đã giúp các mẹ thực hiện trọn vẹn niềm ao ước bấy lâu.

Khi ra về các mẹ cầm tay tôi bịn rịn mãi như không muốn rời. Có một mẹ bật khóc và nói với tôi trong nước mắt: “Được gặp Bác rồi, có chết mẹ cũng yên lòng” – Mình mẹ nói nhưng tôi hiểu rằng đó cũng là tâm trạng chung của các mẹ trong đoàn khiến tôi cũng không sao cầm được nước mắt.

*

*       *

Tháng 9 năm 1989, Đoàn cán bộ tử tù miền Nam ra thăm miền Bắc và vào Lăng viếng Bác. Đoàn có 36 anh chị em do anh Lê Quang Vịnh làm Trưởng đoàn. Ngày hôm ấy Lăng đóng cửa để chuẩn bị làm công tác tu bổ định kỳ hàng năm. Được cấp trên đồng ý, Đoàn vào thăm Bác buổi chiều. Đây cũng là cơ hội để các anh các chị có dịp đến gần Bác, ở lâu bên Bác và nhìn Bác rõ hơn. Đồng chí Tư lệnh Nguyễn Văn Tưởng và các cán bộ chủ trì của cơ quan Bộ Tư lệnh trực tiếp đón Đoàn.

Trong chiến tranh, các anh, các chị là những thanh niên đã tham gia các phong trào hoạt động cách mạng ở miền Nam, trải qua nhiều nhà tù của Mỹ, Ngụy, chịu biết bao nhiêu cực hình tra tấn dã man, chết đi, sống lại nhiều lần. Nhiều đồng chí đã bị địch kết án tử hình (chưa thi hành án) thì miền Nam giải phóng, Tổ quốc đón các anh về. Mặc dù bị địch tra tấn bằng các ngón đòn “hiện đại” nhưng các anh chị vẫn cắn răng chịu đựng, giữ vững khí tiết cách mạng sáng ngời. Các anh các chị là những con người gang thép trước quân thù.

Đồng chí Tư lệnh dẫn Đoàn đi thăm Lăng và khu vực xung quanh; không khí thật thân tình, cởi mở. Mười bốn năm sau ngày giải phóng miền Nam, các anh các chị mới có dịp về Lăng viếng Bác, trên khuôn mặt người nào cũng biểu lộ niềm sung sướng rạng ngời cho dù còn in đậm những nét khắc khổ đớn đau của một thời vào sinh ra tử. Được đón các anh các chị từ cõi chết trở về, đồng chí Tư lệnh và anh em chúng tôi đã dành cho Đoàn những tình cảm hết sức thân mật như những người thân trong gia đình, đáp ứng nguyện vọng thiết tha, cháy bỏng mà các anh chị đã ấp ủ bao nhiêu năm trời là được nhìn thấy Bác. Cũng như đồng bào miền Nam, các anh các chị có nhiều thiệt thòi, chưa được đón Bác vào thăm, nhưng trong trái tim các anh, các chị luôn có hình bóng Bác. Trong những lúc bị địch tra tấn dã man, cầm tù trong các chuồng cọp, các anh các chị luôn thầm nhắc đến Bác để giữ vững khí tiết người cách mạng, quyết đấu tranh thắng lợi để chờ ngày gặp Bác.

Ngày mong đợi đã đến. Hôm nay các anh các chị quây quần bên Bác. Nh­ư sợ Bác thức giấc nên các anh chị im lặng, rón rén đi quanh nơi Bác nằm rồi lần lượt đứng lên bục gỗ cao để nhìn Bác được rõ hơn. Các anh chị chăm chú nhìn kỹ từ chòm râu, mái tóc của Bác trong ánh mắt rơm rớm lệ. Ai cũng muốn ở bên Bác lâu hơn cho thỏa lòng mong ước bấy lâu và cũng là dịp hiếm có được đứng gần bên Bác.

*

*       *

Khi tiễn đoàn các Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, Đoàn cán bộ tử tù miền Nam ra về, tôi thấy lòng mình thảnh thơi vui mừng vì đã góp một phần nhỏ bé để các mẹ, các anh, các chị thỏa mãn nguyện vọng và ước mơ của đời mình. Song, có những đoàn đã để lại trong lòng tôi nỗi day dứt còn mãi đến bây giờ. Đó là vào dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Bác và khánh thành Bảo tàng Hồ Chí Minh đã có hàng vạn đồng bào trong nước và khách quốc tế vào Lăng viếng Bác. Trong dòng người hôm đó có đoàn thương binh Hà Nội. Hầu hết các anh chị là thương binh hỏng mắt, trong đó có nhiều cặp vợ chồng mù cả hai mắt phải nhờ con và đồng đội dắt đi. Tôi và đồng chí Trương Điện Biên – Trưởng ban Đón tiếp đón đoàn và các đồng chí tiêu binh đã đưa xe lăn giúp các anh các chị vào Lăng viếng Bác. Nhưng vì đoàn đông, xe lăn không đủ nên một số anh chị phải đi bộ. Nhìn các anh chị dìu nhau bước chậm rãi vào Lăng lòng chúng tôi vô cùng xúc động. Đến gần Lăng các đồng chí tiêu binh đã nhẹ nhàng nâng các anh chị qua những bậc tam cấp, bậc cầu thang để vào phòng thăm Bác. Các anh các chị đã hiến dâng xương máu và đôi mắt quý giá nhất của đời mình cho độc lập tự do của Tổ quốc, cho hạnh phúc của nhân dân. Các anh các chị chưa được gặp Bác lần nào, ước ao mãi hôm nay mới được gặp. Đến nơi Bác nằm, đồng chí tiêu binh ra hiệu cho đoàn đứng lại rồi nói nhỏ: “Bác Hồ đang ở trước mặt các anh các chị đấy!”

Cả đoàn ngước nhìn lên, nhưng nào có ai thấy được Bác đâu. Mọi người đứng lặng im để cho những giọt nước mắt chạy dài trên má. Nhìn cảnh này, mọi người trong phòng ai cũng xót thương, sụt sùi khóc theo họ.

Khi đoàn ra về, anh em chúng tôi mãi day dứt với suy nghĩ: Mọi người vào Lăng viếng Bác để được nhìn thấy Bác. Còn các đồng chí thương binh mù cả hai mắt thì thấy Bác làm sao? Tuy không nhìn thấy Bác, nhưng Bác luôn luôn ở trong trái tim các anh các chị. Các anh, các chị đã đến với Bác bằng cả tấm lòng và trái tim!

*

*       *

Lăng Bác đã trở thành nơi hội tụ tấm lòng và niềm tin không chỉ của nhân dân Việt Nam mà còn của cả bạn bè quốc tế. Từ ngày mở cửa cho đến nay đã có hàng trăm đoàn nguyên thủ quốc gia và hàng triệu người khắp năm châu bốn biển đủ mọi màu da vào Lăng viếng Bác. Trong số những đoàn mà tôi được đón và hướng dẫn vào Lăng viếng Bác, có một đoàn để lại trong tôi ấn tượng vô cùng sâu sắc. Tôi còn nhớ như in vào tháng 12 năm 1995 đoàn đại biểu Đảng và Nhà nước Cu-ba do Chủ tịch Phi-đen Ca-xtơ-rô dẫn đầu vào Lăng viếng Bác. Trời mùa đông, Quảng trường Ba Đình lộng gió nhưng chúng tôi những người vinh dự được đón đoàn trong Lăng cảm thấy ấm áp hẳn lên. Mỗi người dân Việt Nam đều rất hiểu về nhân dân Cu-ba anh hùng, về Chủ tịch Phi-đen nổi tiếng trên thế gới. Nhân dân Việt Nam và nhân dân Cu-ba đã gắn bó với nhau trong đấu tranh cách mạng và xây dựng cuộc sống mới. Trong những năm gian khổ, ác liệt của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, nhân dân ta đã được Chủ tịch Phi-đen Ca-xtơ-rô đến thăm và vào tận chiến trường. Đồng chí đã nói một câu nổi tiếng: “Vì Việt Nam, nhân dân Cu-ba sẵn sàng hiến cả máu của mình”.

Trong buổi đón tiếp hôm nay, mặc dù chúng tôi biết chính xác giờ Đoàn đến nhưng ai cũng mong chờ hồi hộp. Khi đoàn xe dừng lại, Chủ tịch Phi-đen Ca-xtơ-rô trong bộ quân phục và chiếc mũ lưỡi trai màu xanh ôliu bước ra khỏi xe. Tôi bước lại gần và đứng nghiêm chào, Chủ tịch chào đáp lại theo nghi thức nhà binh. Tôi vô cùng bất ngờ khi Chủ tịch bắt tay tôi, một cử chỉ thân tình hiếm thấy ở một nguyên thủ quốc gia. Sau đó, tôi hướng dẫn đoàn vào Lăng viếng Bác theo nghi lễ trọng thể dành cho các nguyên thủ. Chủ tịch bước đi nhanh nhẹn ung dung thư thái. Đến trước thềm Lăng, Đoàn dừng lại và Chủ tịch Phi-đen Ca-xtơ-rô bước đến vòng hoa sửa lại băng viếng cho ngay ngắn, một việc làm thể hiện lòng tôn kính đối với Bác. Chủ tịch Phi-đen Ca-xtơ-rô lặng lẽ bước vào phòng Bác nằm. Đến trước Bác, Chủ tịch giơ tay chào rồi bỏ mũ xuống đứng lặng im. Chưa có nguyên thủ quốc gia nào đứng lâu bên Bác đến thế. Dường như Chủ tịch Phi-đen Ca-xtơ-rô không muốn rời Bác. Tôi chủ động mời Chủ tịch ra về. Nhìn nét mặt, tôi thấy đồng chí rất xúc động, không nhanh nhẹn như lúc vào Lăng, mà chậm rãi bước ra khỏi phòng viếng.

Trong giây phút thiêng liêng đó, Chủ tịch Phi-đen Ca-xtơ-rô dành hết tình cảm cho Bác và nhân dân Việt Nam.

Một sự trùng hợp ngẫu nhiên hiếm có là khi tôi viết những dòng hồi ức này vào đúng ngày sinh lần thứ 80 của Chủ tịch Phi-đen Ca-xtơ-rô và Chủ tịch vừa phải trải qua một ca phẫu thuật lớn, làm chấn động tình cảm của nhân dân Cu-ba, Việt Nam và bạn bè trên thế giới.

Viết lại những kỷ niệm này, tôi xin tặng cho các đồng chí làm công tác đón tiếp cũng như toàn thể cán bộ, công nhân viên, chiến sĩ ngày đêm bảo vệ giữ gìn an toàn tuyệt đối thi hài Bác để cho các thế hệ hôm nay và mai sau mãi mãi được đến thăm viếng Người; bày tỏ được nguyện vọng và tình cảm sâu xa nhất của đời mình đối với Bác Hồ muôn vàn kính yêu.

Đại tá Phạm Tuấn
Nguyên Phó Tư lệnh, Tham mưu trưởng – Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh

bqllang.gov.vn

Kỷ niệm về một chuyến đi công tác

Cuối tháng 5 năm 2003, Đoàn cán bộ của Ban Quản lý Lăng lên đường sang Liên bang Nga làm việc với Trung tâm Nghiên cứu y sinh Mát-xcơ-va. Đoàn từ trong nước sang gồm 5 người: Thiếu tướng Nguyễn Quang Tấn – Trưởng ban Ban Quản lý Lăng kiêm Tư lệnh Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng; Đại tá Lại Văn Hoà – Viện trưởng Viện 69; Thượng tá Trần Văn Tuấn – Phó Chủ nhiệm Hậu Cần; Phó giáo sư, Tiến sĩ Phạm Duy Khuê – Phó Vụ trưởng Vụ Văn xã, Văn phòng Chính phủ và tôi – Chánh Văn phòng. Khi đó, tại Mát-xcơ-va, có 3 cán bộ của đơn vị đang học tập là bác sĩ Lê Công Bằng, bác sĩ Nguyễn Thị Hồng Minh và Trưởng ban Đối ngoại Phạm Văn Quang. Như vậy, đoàn cán bộ của chúng ta gồm 8 người.

Chương trình làm việc với Bạn được xác định 3 nội dung chính là: Đánh giá kết quả hai bên hợp tác năm 2002 – 2003; bàn chương trình hợp tác năm 2004, trong đó trọng tâm là việc chuẩn bị kỷ niệm 35 năm giữ gìn tuyệt đối an toàn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh (1969 – 2004) và tổ chức nghiệm thu đề tài Hợp đồng số 9 và Hợp đồng số 10.

Cũng như các lần trước, khi đoàn của chúng ta vừa xuống máy bay, đại diện lãnh đạo của Trung tâm Nghiên cứu y sinh Mát-xcơ-va và cán bộ của Phòng Chính trị Đại sứ quán Việt Nam tại Liên bang Nga đã có mặt tại sân bay, đón tiếp đoàn rất trọng thị.

Buổi chiều của ngày đầu tiên đoàn đến Mát-xcơ-va, tại Nhà khách của Sứ quán Việt Nam, cán bộ và sinh viên của Bộ Tư lệnh gửi đi học từ nguồn tài trợ kinh phí của Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam cũng có mặt đông đủ để chào đón đoàn. Trong căn phòng nhỏ của nhà khách, từ Tư lệnh đến từng người sinh viên ai nấy đều bồi hồi xúc động. Bằng giọng nói nhỏ nhẹ, tình cảm, Thiếu tướng Nguyễn Quang Tấn đã thông báo tình hình đơn vị cho cán bộ và sinh viên đang học tập tại Mát-xcơ-va. Tư lệnh căn dặn, động viên anh chị em tích cực học tập nắm vững kiến thức, hoàn thành khoá học xuất sắc để trở về đơn vị công tác. Nhìn một lượt anh chị em ngồi xung quanh, Tư lệnh nói: “Chưa bao giờ đơn vị ta có số cán bộ học tập tại Mát-xcơ-va đông như hiện nay, đây là vốn quý của đơn vị được Đảng, Nhà nước, Quân đội quan tâm, chúng ta phải biết giữ gìn, phát huy và trân trọng sự quan tâm đó”. Mọi người đều hứa sẽ quyết tâm thực hiện tốt lời căn dặn của Tư lệnh.

Sáng hôm sau, đúng giờ, hai chiếc xe của Trung tâm đã tới đón đoàn đi làm việc. Xe vừa dừng bánh, hai Chủ nhiệm khoa Hình thái và Sinh hoá của Bạn đã chờ sẵn và đón đoàn vào phòng khách. Viện sĩ V.A. Bư-cốp, Giám đốc Trung tâm; bốn phó giám đốc trung tâm cùng các chủ nhiệm khoa, thư ký hội đồng khoa học đã có mặt đông đủ chào đón đoàn. Những cái bắt tay, ôm hôn thắm thiết, như những người anh em lâu ngày mới gặp lại nhau đã tạo không khí đầm ấm, cởi mở, tôn trọng và hiểu biết lẫn nhau. Trước khi vào làm việc, Trưởng đoàn, Thiếu tướng Nguyễn Quang Tấn đã giới thiệu từng thành viên trong đoàn. Khi giới thiệu đến đồng chí Phạm Duy Khuê, Phó Vụ trưởng Vụ Văn xã, Văn phòng Chính phủ, cùng tham gia đoàn; Giám đốc Trung tâm V.A. Bư-cốp đã không giấu được sự vui mừng phấn khởi, đứng dậy bắt tay đồng chí Phạm Duy Khuê. Đây cũng là một điều hết sức đặc biệt của chuyến công tác, lần đầu tiên đoàn cán bộ lãnh đạo của Ban Quản lý Lăng sang làm việc với Bạn có một cán bộ của Văn phòng Chính phủ. Chính sự kiện này đã tạo cho Bạn niềm tin về sự hợp tác lâu dài giữa ta và Bạn trong giai đoạn mới.

Kết thúc ngày làm việc thứ nhất, mọi thành viên trong đoàn đều phấn khởi, vì tất cả chương trình, nội dung làm việc hai bên đưa ra đều có sự thống nhất cao. Ngoài ra, Bạn còn chủ động nêu ra một số vấn đề có tính nguyên tắc để ta nghiên cứu chuẩn bị cho chương trình hợp tác dài hạn trong những năm tới.

Khi xe đưa đoàn về đến nhà khách của Sứ quán, nghỉ ngơi chút ít, Tư lệnh đã hội ý, trao đổi với anh chị em trong đoàn những nội dung Bạn đưa ra trong buổi làm việc sáng nay. Tuy cùng dự làm việc với Bạn, nhưng khi nghe Tư lệnh tổng hợp lại những nội dung Bạn trao đổi và quyết tâm của Thường vụ, Bộ Tư lệnh mà Tư lệnh lĩnh hội trước khi lên đường sang Mát-xcơ-va, anh chị em trong đoàn mới hiểu một cách cụ thể, tường tận về nội dung của buổi làm việc với Bạn. Tư lệnh nói : “Chuyến công tác này của chúng ta, cố gắng thuyết phục Bạn đồng ý phối hợp với ta pha chế dung dịch đặc biệt tại Việt Nam”. Ngồi bên Tư lệnh, chúng tôi hiểu được suy nghĩ của ông. Bởi đây cũng là sự chỉ đạo của Thường vụ và Bộ tư lệnh trước khi đoàn sang Liên bang Nga và cũng là niềm ước mong của các thế hệ cán bộ trong đơn vị kể từ khi được Đảng, Nhà nước, Quân đội giao cho nhiệm vụ chính trị đặc biệt là giữ gìn lâu dài và bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chúng tôi cũng hiểu rằng: Dung dịch đặc biệt để giữ gìn thi hài cũng như máu của cơ thể con người, làm được việc này quả là một thành công lớn trên con đường vươn lên làm chủ nhiệm vụ chính trị của đơn vị. Đang nhìn xa xăm ra cửa sổ, bỗng giọng Tư lệnh sôi nổi hẳn lên, ông nói: “Kết quả phân tích dung dịch giữa ta và Bạn trong khuôn khổ Hợp đồng số 10 sẽ là cơ sở khoa học cho việc ta yêu cầu Bạn cùng hợp tác pha chế dung dịch đặc biệt tại Việt Nam”. Nói xong, ông quay sang đồng chí Phạm Duy Khuê, cán bộ Văn phòng Chính phủ vừa như báo cáo, vừa như giải thích để cơ quan cấp trên hiểu thêm nhiệm vụ của đơn vị. Anh chị em trong đoàn chúng tôi, với tâm trạng vừa mừng, vừa lo mong sao ngày mai đến nhanh hơn để chúng ta sớm trao đổi với Bạn về ý định cùng pha chế dung dịch đặc biệt tại Việt Nam.

Sáng hôm sau, như thường lệ, anh chị em trong đoàn ăn sáng và chuẩn bị lên đường đi làm việc. Sau khi mọi người ăn sáng xong, Tư lệnh gọi anh Lại Văn Hoà và anh Phạm Văn Quang sang phòng để gặp riêng. Chừng khoảng 20 phút sau, Tư lệnh và hai anh đã trao đổi xong nội dung công việc. Trước mặt mọi người, Tư lệnh giao nhiệm vụ cho chị Nguyễn Thị Hồng Minh và anh Lê Công Bằng kiểm tra lại lần cuối kết quả phân tích dung dịch và so sánh với kết quả của Bạn xem có chỗ nào cần phải thống nhất trước khi nghiệm thu không? Tiếp đến, Tư lệnh nói với mọi người là đêm qua, ông suy nghĩ rất nhiều về nội dung làm việc ngày hôm nay với Bạn, sáng nay trao đổi với anh Hoà và anh Quang, hai anh cũng đều có tâm trạng như vậy. Quả thật, nếu ta đặt vấn đề không khéo thì chưa chắc Bạn đã đồng ý với đề nghị của ta; lúc đó sẽ rất khó khăn. Ngược lại, không cẩn thận Bạn đánh giá ta là vong ơn, bội nghĩa, Bạn đang khó khăn ta lại không mua dung dịch của Bạn…. Xuất phát từ những điều đó, Ông quyết định, hôm nay làm việc chưa đưa nội dung đề nghị với Bạn phối hợp cùng với ta pha chế dung dịch đặc biệt tại Việt Nam. Giao cho anh Hoà và anh Quang tiếp tục thăm dò Bạn xem ý kiến của Bạn về vấn đề pha chế dung dịch tại Việt Nam như thế nào? Ngồi cạnh tôi, đồng chí Phạm Duy Khuê thốt lên: “thật tuyệt vời, rất nhân văn”. Mọi người cười ồ lên và đứng dậy lên đường đi làm việc với Bạn.

Hai ngày làm việc tiếp theo trôi nhanh, nhiệm vụ Tư lệnh giao cho nhóm anh Hoà, anh Quang; chị Minh, anh Bằng đều đã có kết quả, mọi người lần lượt đến báo cáo công việc cụ thể với Tư lệnh.

Bước sang ngày thứ năm của đợt công tác, Tư lệnh chính thức đặt vấn đề với Bạn về sự phối hợp hai bên pha chế dung dịch đặc biệt tại Việt Nam và lần đầu tiên sẽ được tiến hành vào mùa xuân năm 2004. Khi nghe được yêu cầu chính thức của chúng ta, dường như lãnh đạo của Bạn cũng hơi bất ngờ, nên chưa ai trả lời ngay. Trong khi chờ Bạn có câu trả lời, Tư lệnh đã chủ động nói thêm: “Pha chế dung dịch tại Việt Nam nhưng chúng tôi vẫn ký hợp đồng với các đồng chí. Chỉ có khác là các đồng chí sẽ bàn giao dung dịch cho chúng tôi tại Việt Nam”.

Ý kiến của Tư lệnh đã trùng với suy nghĩ của Viện sĩ V.A. Bư-cốp, Giám đốc Trung tâm, nên chỉ chờ chúng ta nêu vấn đề này ra trúng ý chỉ đạo của ông, ông liền nói: “Về nguyên tắc, chúng tôi đồng ý sẽ phối hợp với các đồng chí pha chế dung dịch tại Việt Nam, nhưng cần phải chờ kết quả nghiệm thu Hợp đồng số 10 xem các số liệu của hai bên có thống nhất với nhau không”. Nét mặt Tư lệnh rạng rỡ hẳn lên, chúng ta không ngờ Bạn lại trả lời nhanh như vậy. Kết quả phân tích dung dịch, tuy chưa nghiệm thu nhưng qua đối chiếu giữa ta và Bạn hầu như không có sai số. Đó là điều kiện chắc chắn Bạn sẽ ký hợp đồng chính thức bàn giao tỉ lệ hoá chất pha chế dung dịch cho chúng ta. Buổi làm việc diễn ra nhanh chóng và đạt kết quả như mong muốn.

Ngày hôm sau, diễn ra buổi nghiệm thu đề tài Hợp đồng số 9 và số 10. Do công tác chuẩn bị chu đáo của ta và Bạn nên buổi nghiệm thu tiến hành đúng dự kiến và đạt kết quả tốt đẹp. Lãnh đạo Trung tâm đã đánh giá cao kết quả hợp tác nghiên cứu giữa chuyên gia Nga và các bác sĩ Việt Nam. Từ kết quả này, Bạn khẳng định có đủ điều kiện để bàn giao thành phần hoá chất và phối hợp cùng với ta pha chế dung dịch tại Việt Nam từ mùa xuân năm 2004.

Chia tay Bạn, trở về nhà khách, mọi thành viên trong Đoàn ai nấy đều phấn khởi. Thế là bắt đầu từ năm tới chúng ta sẽ có dung dịch được pha chế tại Việt Nam. Bao nỗi nhọc nhằn, vất vả của các đoàn đi công tác để mang dung dịch về nước theo đường hàng không sẽ không còn nữa. Đây là một mốc son đánh dấu sự trưởng thành, lớn mạnh của đội ngũ cán bộ, bác sĩ của chúng ta và cũng là thành công của sự lãnh đạo, chỉ đạo của Thường vụ và Thủ trưởng Bộ Tư lệnh qua các thời kỳ. Mỗi lần nghĩ đến sự kiện này, trong tôi lại trở về với những mốc thời gian có tính chất quyết định đối với nhiệm vụ chính trị của đơn vị. Đó là khi chúng ta quyết tâm đầu tư xây dựng T77 làm cơ sở nghiên cứu khoa học phục vụ cho việc giữ gìn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh; năm 1992, ta đã chủ động làm thuốc trong dịp tu bổ định kỳ khi Bạn chưa sang kịp; năm 1995, ta tiếp nhận bàn giao nhiệm vụ làm thuốc thường xuyên thi hài Bác và năm 2003, trước khi kỷ niệm 35 năm giữ gìn tuyệt đối an toàn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bạn chính thức bàn giao thành phần cơ bản của dung dịch đặc biệt cho chúng ta. Những ký ức theo dòng thời gian luôn hiện hữu trong tâm trí tôi. Đúng “quá khứ, hiện tại, tương lai là một dòng chảy liên tục”. Thành công của ngày hôm nay là kết quả của biết bao con người đã cống hiến vì sự nghiệp giữ gìn lâu dài và bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh….

Thế rồi, thời khắc mong đợi đã đến, đúng 14 giờ, theo giờ Mát-xcơ-va ngày 4 tháng 6 năm 2003, ngày cuối cùng của đợt công tác, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu y sinh Mát-xcơ-va và Trưởng ban Ban quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chính thức ký Biên bản bàn giao tỉ lệ hoá chất dung dịch và nhất trí phối hợp với cán bộ, bác sĩ của ta pha chế dung dịch đặc biệt tại Việt Nam vào quý I năm 2004. Vậy là chuyến công tác của Đoàn cán bộ lãnh đạo Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Liên bang Nga đã thành công tốt đẹp.

Thấm thoắt đã ba năm trôi qua, Viện 69 và các chuyên gia Nga đã ba lần pha chế thành công dung dịch đặc biệt tại Việt Nam. Kết quả đó càng khẳng định sự đúng đắn, sáng suốt của lãnh đạo, chỉ huy đơn vị và tình cảm hữu nghị, truyền thống trước sau như một của các chuyên gia Nga đối với Việt Nam.

Đại tá Đặng Nam Điền
Phó Chính uỷ, kiêm Chủ nhiệm Chính trị – Bộ Tư lệnh Bảo vệ lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh

bqllang.gov.vn

Nắm vững thời cơ, vững vàng đi lên trong khó khăn

Hoàn thành chương trình nghiên cứu sinh tại Tiệp Khắc, ngày 12 tháng 01 năm 1990, tôi về nước và mang theo cả suy tư sau khi tận mắt chứng kiến sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa tại hàng loạt các nước: Ba Lan, Đức, Hung-ga-ri, Tiệp Khắc và muộn hơn nữa là Ru-ma-ni. Tôi luôn hy vọng: Liên Xô – thành trì của cách mạng vô sản sẽ là điểm tựa vững chắc để dần dần khôi phục chủ nghĩa xã hội tại các nước Đông Âu. Nhưng điều hy vọng đó không còn. Năm 1991, nước Cộng hoà Liên bang Xô Viết sụp đổ – Một chế độ xã hội chủ nghĩa đã bị tan rã ở ngay chính quê hương của Lê-nin, quê hương của Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại.

Sự việc này đã ảnh hưởng rất sâu sắc tới quan hệ Việt – Nga, ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động tại Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, đặc biệt là quan hệ giữa Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh và Viện Lăng Lê-nin trong việc giữ gìn lâu dài thi hài Bác Hồ.

Ngay từ năm 1969, Bạn luôn cử ba chuyên gia y tế giỏi sang Việt Nam trực tiếp làm nhiệm vụ giữ gìn thi hài Bác. Trong những năm tháng chiến tranh chống Mỹ cứu nước, dù sơ tán đi bất cứ nơi đâu, Bạn luôn có mặt đồng cam cộng khổ với ta để trực tiếp thực hiện nhiệm vụ thiêng liêng này. Năm 1975, nhờ sự giúp đỡ chí tình, chí nghĩa của Đảng, Nhà nước và nhân dân Liên Xô, Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được khánh thành tại Quảng trường Ba Đình lịch sử. Nhiệm vụ y tế giữ gìn lâu dài thi hài Bác được thuận lợi hơn, đồng thời phát huy được ý nghĩa chính trị, văn hoá của công trình Lăng.

Nhưng từ đầu năm 1992 trách nhiệm của Bạn trong việc giữ gìn thi hài Bác có sự đổi thay. Nhóm chuyên gia y tế của Bạn thường trực ở Việt Nam giảm từ ba người xuống còn hai người. Tiếp theo, ngày 4 tháng 3 năm 1992, đồng chí P.I. Phô-men-cô, chuyên gia y tế xin về nước trước thời hạn, chỉ còn lại đồng chí Iu.N. Cô-nô-nư-khin. Đây là điều bất thường, vì trong quá trình thực hiện nhiệm vụ giúp ta giữ gìn thi hài Bác từ trước tới nay, Bạn có nguyên tắc làm việc tập thể, chưa bao giờ Bạn làm việc với ta chỉ có một người. Sau đó nhiều lần Bạn không tới trực tiếp kiểm tra trạng thái thi hài Bác khi kết thúc các buổi lễ viếng. Từ ngày 14 tháng 3 năm 1992, Bạn không tới trực tiếp mà chỉ trao đổi qua điện thoại rằng: “Bây giờ không làm việc với Việt Nam nữa, các anh phải tự làm lấy…”.

Trước tình hình đó, ta càng nhận thức sâu sắc hơn quan điểm độc lập, tự chủ, phải phấn đấu vươn lên mạnh mẽ hơn nữa để làm chủ công nghệ, lấp vào chỗ trống khi gián đoạn sự giúp đỡ của chuyên gia y tế Liên bang Nga. Tuy đây là ngành khoa học bao gồm nhiều lĩnh vực khác nhau, nhưng ai cũng nhận thức được vai trò quan trọng của dung dịch giữ gìn lâu dài thi hài Bác mà các bạn Liên Xô vẫn giữ tại Lăng Bác coi như bí mật quốc gia của Bạn, mà ta phải tôn trọng. Vì vậy ta muốn thúc đẩy Bạn chuyển giao dung dịch đó cho ta tự quản lý. Bằng những phương pháp ngoại giao khéo léo với Tổng cục Kỹ thuật thuộc Bộ kinh tế Đối ngoại của Cộng hoà Liên bang Nga, ngày 17 tháng 3 năm 1992, hai chuyên gia của Tổng cục Kỹ thuật thuộc Bộ Kinh tế Đối ngoại Liên bang Nga đã cùng với đồng chí Thiếu tướng Nguyễn Văn Tưởng trực tiếp kiểm tra dung dịch tại công trình Lăng Bác. Sau lần kiểm tra đó, đồng chí X.A. Cra-xơ-nốp, Chủ nhiệm Tổng cục Kỹ thuật, Bộ Kinh tế Đối ngoại Cộng hoà Liên bang Nga đã có chỉ thị bàn giao dung dịch này cho Việt Nam.

Đứng trước cơ hội thuận lợi, ngày 19 tháng 3 năm 1992, tại đơn vị diễn ra cuộc họp quan trọng do Trung tướng Trần Hanh, Phó Tổng Tham mưu trưởng chủ trì. Thành phần tham dự có: Thiếu tướng Nguyễn Văn Tưởng – Tư lệnh; các đồng chí trong Thường vụ Đảng uỷ: Đại tá Đỗ Văn Khoan – Bí thư Đảng ủy, Nguyễn Quang Tấn – Phó Bí thư Đảng uỷ, Dương Đức Thạc – Uỷ viên Thường vụ; Viện 69 có: Đại tá Đỗ Văn Dai – Viện trưởng, Thượng tá Nguyễn Văn Châu – Bí thư Đảng uỷ, Phó Viện trưởng, Thiếu tá Vũ Văn Bình – Phó Viện trưởng. Hội nghị bàn về việc tiếp quản dung dịch giữ gìn thi hài Bác từ các Bạn Nga. Trong cuộc họp đã có nhiều ý kiến trao đổi khác nhau. Đa số mọi người nhất trí và mong muốn được nhận bàn giao của Bạn. Tuy nhiên có ý kiến cho rằng: Khi ta tiếp nhận số dung dịch này, các Bạn ở Viện Lăng Lê-nin có thể sẽ phật ý, như vậy sẽ ảnh hưởng tới việc giữ gìn toàn vẹn thi hài Bác. Dù ý kiến có khác nhau, nhưng mọi người đều cùng chung một quan điểm, mục tiêu là phải độc lập tự chủ trong việc giữ gìn thi hài Bác.

Trong quá trình thảo luận, tôi nhớ đồng chí Trần Hanh nói rất chân thành: “… Nếu như tôi là Tư lệnh, có trong tay hơn 500 lít dung dịch để giữ gìn thi hài Bác, thì vẫn thích hơn chứ”. Câu nói dân dã đó như lời thống nhất chung của hội nghị.

Vào 9 giờ sáng ngày 20 tháng 3 năm 1992, việc bàn giao dung dịch đã được diễn ra theo đúng chỉ thị của đồng chí X.A. Cra-xơ-nốp. Tại Hội nghị bàn giao, phía Cộng hoà Liên bang Nga gồm có: Đồng chí V.Đ. Ô-ni-xen-cô, quyền đại diện toàn quyền Tổng cục Kỹ thuật, Bộ Kinh tế đối ngoại; đồng chí X.V. Chu-rơ-kin, Kỹ sư trưởng, Tổng cục Kỹ thuật, Bộ Kinh tế Đối ngoại và có sự chứng kiến của đồng chí Iu.N. Cô-nô-nư-khin, chuyên gia y tế thường trực tại Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Phía Việt Nam có các đồng chí: Thiếu tướng Nguyễn Văn Tưởng – Trưởng ban Ban Quản lý Lăng, kiêm Tư lệnh Bộ Tư lệnh Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh; Đại tá Đỗ Văn Dai – Viện trưởng Viện 69; Thượng tá Nguyễn Văn Châu – Bí thư Đảng uỷ, Phó Viện trưởng Viện 69 và Thiếu tá Vũ Văn Bình – Phó Viện trưởng Viện 69.

Việc bàn giao dung dịch cho phía Việt Nam là một sự kiện quan trọng trong quá trình giữ gìn thi hài Bác. Đây không phải là thay chủ thể quản lý dung dịch, mà thực chất là khẳng định rõ trách nhiệm trong việc thực hiện nhiệm vụ y tế giữ gìn thi hài Bác của Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng nói chung và các chuyên gia y tế Việt Nam nói riêng; đồng thời tạo thêm cơ sở vật chất vững chắc để ta vươn lên làm chủ công nghệ này.

Ngay trong ngày 20 tháng 3 năm 1992, đồng chí Trưởng Ban Quản lý Lăng kiêm Tư lệnh, Thiếu tướng Nguyễn Văn Tưởng đã gửi thư cảm ơn và thông báo cho đồng chí X.X. Đê-bốp, Viện trưởng Viện Lăng Lê-nin. Trong thư nêu rõ: “Trước tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc về sự giúp đỡ quý báu của đồng chí đối với công tác giữ gìn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh trong những năm qua.

Nhân đây, tôi cũng xin thông báo để đồng chí biết, ngày 20 tháng 3 năm 1992, theo quyết định của đồng chí X.A. Cra-xơ-nốp, Chủ nhiệm Tổng cục Kỹ thuật, đồng chí V.Đ. Ô-ni-xen-cô, đại diện toàn quyền Tổng cục Kỹ thuật ở Việt Nam đã bàn giao toàn bộ dung dịch hiện có ở công trình cho các bác sĩ Việt Nam. Trong khi chờ chuyên gia của các đồng chí sang thay, các bác sĩ Việt Nam tự làm thuốc theo quy trình từ trước tới nay và sử dụng, bảo quản dung dịch theo chế độ quy định.

Trong tình hình hiện nay mặc dù có nhiều thay đổi, song chúng tôi mong muốn hợp tác chặt chẽ với các đồng chí hơn nữa trong việc giữ gìn lâu dài thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh trên cơ sở hai bên đều có lợi. Mối quan hệ hợp tác này có thể là qua Tổng cục Kỹ thuật hoặc trực tiếp với Viện Lăng Lê- nin về những vấn đề hai bên cùng quan tâm.

Trước mắt, đề nghị đồng chí cử gấp đồng chí V.L. Kô-zen-sep và I.V Mát-vây-chúc sang Việt Nam và chuẩn bị cử 2 chuyên gia sang giúp công tác tu bổ định kỳ năm, thời gian là 45 ngày, kể từ ngày 3 tháng 9 năm 1992 và chuẩn bị các vật tư, hoá chất cần thiết cho công tác này. Riêng đối với đồng chí, chúng tôi mời đồng chí sang Việt Nam không chỉ giúp chúng tôi làm cố vấn mà là khách quý. Về thời gian, tuỳ đồng chí sắp xếp sao cho tiện, nhưng tốt nhất là cuối tháng 9 năm 1992″.

Ngay sau khi nhận bàn giao dung dịch, ngày 23 tháng 3 năm 1992, Ban Quản lý Lăng đã có báo cáo số 38/BQLL gửi Thủ tướng nêu rõ: Ta nhận số dung dịch của Liên Xô viện trợ không hoàn lại theo kế hoạch 1986 – 1990 mà Bạn vẫn coi là tài sản của Bạn… Tuy nhận bàn giao, nhưng ta vẫn tiếp tục hợp tác với Viện Lăng Lê-nin, trước khi nhận bàn giao đã bàn kỹ trong nội bộ và báo cáo đồng chí Trần Hanh và đồng chí Nguyễn Nam Khánh.

Theo đề nghị của đồng chí Tư lệnh, ngày 30 tháng 3 năm 1992, hai chuyên gia y tế là V.L. Kô-zen-sep và I.V. Mát-vây-chúc sang Việt Nam giúp ta nhiệm vụ giữ gìn thi hài Bác thường xuyên. Nhưng tới ngày 03 tháng 4 năm 1992, đồng chí Tổ trưởng V.L. Kô-zen-sep đề nghị ta lại tiếp tục xi dung dịch như trước đây. Đồng chí Đỗ Văn Dai đã giải thích với Bạn về tính pháp lý của việc bàn giao dung dịch giữa Bộ Kinh tế Đối ngoại của Liên bang Nga và Ban Quản lý Lăng. Các Bạn đã thông cảm và tiếp tục giúp ta làm nhiệm vụ.

Những tưởng khó khăn về chuyên gia đã qua, nhưng sự việc đã diễn ra không như chúng ta mong đợi. Nhiệm vụ làm thuốc lớn tháng 9 năm 1992, nhóm chuyên gia chủ chốt do Viện phó Iu.A. Rô-ma-cốp dẫn đầu không sang kịp, cũng không mang được dung dịch từ Mát-xcơ-va sang Việt Nam để phục vụ nhiệm vụ tu bổ định kỳ. Trước tình hình đó đồng chí V.L. Kô-zen-sep đề nghị với ta sẽ hoãn làm thuốc lớn để chờ đồng chí Iu.A. Rô-ma-cốp sang. Đồng chí Đỗ Văn Dai, Viện trưởng Viện 69 đã hội ý Thủ trưởng Viện để báo cáo Bộ Tư lệnh quyết tâm làm thuốc lớn thi hài Bác theo đúng kế hoạch đã phê duyệt. Ý kiến đó đã được Thủ trưởng Bộ Tư lệnh đồng ý. Và thực tế đã chứng minh quyết tâm đó là hoàn toàn đúng đắn, đồng thời cũng khẳng định bước trưởng thành mới của cán bộ y tế Việt Nam.

Sau đó, hai đợt tiếp theo chuyên gia y tế Liên bang Nga cũng không sang được theo kế hoạch vào các thời điểm từ ngày 14 tháng 4 tới ngày 26 tháng 5 năm 1993 và từ ngày 23 tháng 11 năm 1993 tới ngày 22 tháng 4 năm 1994.

Sau những lần gián đoạn đó, chuyên gia thường xuyên không sang được để trực tiếp giúp chúng ta, các nhóm chuyên gia mới sang, sau khi kiểm tra đều có nhận xét chung: “Trạng thái thi hài Bác rất ổn định, công tác y tế được các chuyên gia Việt Nam thực hiện xuất sắc”. Có thể nói các Bạn Nga cũng rất ngạc nhiên về sự trưởng thành nhanh chóng của các chuyên gia y tế Việt Nam.

Như vậy, việc Bạn chuyển giao dung dịch cho chúng ta tự quản lý là một cơ hội lớn, tạo điều kiện thuận lợi cho chúng ta mạnh dạn, vững vàng đi lên trong những lúc khó khăn, thử thách.

Để có sự thành công trên, trước hết phải nói tới sự chỉ đạo sáng suốt của lãnh đạo các cấp. Ngay từ năm 1969 khi các Bạn Liên Xô đồng ý giúp chúng ta giữ gìn lâu dài thi hài Bác tại Hà Nội, các đồng chí lãnh đạo cao cấp nhất của Đảng, Nhà nước ta đã căn dặn các đồng chí cán bộ thực hiện nhiệm vụ này rằng: Hiện nay các Bạn đã đồng ý giúp chúng ta, nhưng Bạn giúp ta ngày nào hay ngày ấy, phải nhớ rằng Bác Hồ là của chúng ta, cho nên ta phải tự nghiên cứu để làm chủ nhiệm vụ này. Lời căn dặn mộc mạc, giản dị, nhưng đó là chiến lược chỉ đạo rất sáng suốt và đúng đắn xuyên suốt qua mọi thời kỳ.

Sự chỉ đạo và nắm bắt thời cơ của Bộ Tư lệnh luôn nhất quán và chính xác. Điều đó đã tạo được niềm tin vững chắc cho các cán bộ y tế của Viện 69 vững vàng thực hiện nhiệm vụ chuyên môn của mình, dù ban đầu chỉ là một tổ quân y 3 người. Cán bộ khoa học Viện 69 đã mạnh dạn nghiên cứu với một niềm say mê cháy bỏng dù không có tài liệu, thiếu thốn mọi phương tiện, trang bị kỹ thuật, đời sống hàng ngày còn rất nhiều khó khăn. Đặc biệt họ phải làm việc “trong thầm lặng”, điều mà các thế hệ trước đây của Bộ Tư lệnh vẫn thường nói về công tác y tế đặc biệt này. Ngoài ra, cùng với sự phối hợp chặt chẽ, có hiệu quả của các cơ quan, các đơn vị trong Bộ Tư lệnh, tạo thành sức mạnh tổng hợp, hỗ trợ lẫn nhau vượt qua mọi khó khăn thử thách, còn có sự phối hợp hiệu quả với các cơ sở khoa học và các nhà khoa học trong các thời kỳ công tác khác nhau. Những đơn vị tiêu biểu như Viện Quân y 108, Học viện Quân y, Viện Kiểm nghiệm Cục Quân y… Trong đó có các cá nhân, những người đóng góp lớn cho sự nghiệp giữ gìn thi hài Bác như: Phó tiến sĩ Đặng Hanh Khôi, Viện trưởng Viện Kiểm nghiệm – Cục Quân y; Giáo sư, Tiến sĩ Khoa học Nguyễn Hưng Phúc – Phó giám đốc Học viện Quân y; đồng chí Lê Đình Lý – Chính ủy Viện Quân y 108…

Chúng ta thử hình dung nếu mình không chủ động sáng tạo ngay từ năm 1969, cứ ỷ lại vào sự giúp đỡ của Bạn thì từ năm 1991 chúng ta sẽ xoay xở ra sao khi chuyên gia gián đoạn, vận chuyển dung dịch thì khó khăn. Liệu thi hài Bác có được giữ gìn tuyệt đối an toàn như ngày hôm nay? Tôi nghĩ rằng chiến công này đã góp phần đáng kể tạo dựng nên truyền thống của Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân trong thời kỳ đổi mới là: Trung hiếu vẹn toàn, đoàn kết hợp đồng, tự lực tự cường, chủ động sáng tạo.

Đại tá,TS. Vũ Văn Bình
Phó Tư lệnh – Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh

bqllang.gov.vn

Một quyết nghị của ý chí độc lập tự chủ

Tháng 12 năm 1980, sau khi kết thúc lớp học bổ túc văn hoá của Bộ Quốc phòng, tôi được điều về Đoàn 969 – đơn vị Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, tôi rất cảm động và suy nghĩ: đây là một vinh dự quá lớn và cũng là một trách nhiệm hết sức nặng nề mà chính tôi cũng chưa bao giờ dám nghĩ đến.

Về đơn vị, tôi nhận nhiệm vụ Trưởng ban Tuyên huấn – Phòng Chính trị, được sống, làm việc và công tác trong một tập thể đoàn kết gắn bó, được các anh lớn tuổi, đi trước, có bề dày kinh nghiệm giúp đỡ, được các cơ quan, đơn vị và cán bộ, đảng viên hết lòng ủng hộ, nên tôi đều hoàn thành các nhiệm vụ, lần lượt được bổ nhiệm các cương vị: Phó chủ nhiệm, Chủ nhiệm Chính trị, Phó Tư lệnh Chính trị. Được Đảng bộ tín nhiệm bầu vào Đảng ủy, Thường vụ, được phân công đảm nhiệm Phó bí thư, Bí thư Đảng ủy Đoàn 969.

Ở cương vị Bí thư Đảng ủy hơn ba nhiệm kỳ, tôi đã tham mưu, đề xuất nhiều nội dung Nghị quyết quan trọng cho Thường vụ, Đảng ủy Đoàn 969. Nhưng để lại trong tôi ấn tượng sâu sắc nhất là Nghị quyết 150 của Thường vụ về lãnh đạo nhiệm vụ giữ gìn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đây là một Nghị quyết có ý nghĩa định hướng lớn, bám sát thực tế, thể hiện tinh thần độc lập, tự chủ, ý chí tự lực tự cường trong sự nghiệp giữ gìn lâu dài và bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh của Đảng bộ và đơn vị.

Tính đến năm 1986, sau gần 20 năm làm việc với Bạn, đội ngũ cán bộ y tế và kỹ thuật của ta đã từng bước trưởng thành, có khả năng làm thành thạo kỹ thuật thường xuyên, bằng các phương pháp thông thường đã theo dõi được diễn biến trên thi hài; vận hành được các trang thiết bị kỹ thuật mà ta có và kinh nghiệm đảm bảo môi trường tinh khiết; có thể xử lý được những trường hợp phức tạp do hoàn cảnh chiến tranh hoặc bão lụt, bất trắc xảy ra.

Tuy vậy, còn nhiều vấn đề gặp khó khăn trở ngại. Chúng ta đã làm việc với Bạn gần 20 năm, nhưng Bạn giữ bí mật tuyệt đối về hoá chất, về kỹ thuật bảo quản, kết quả những lần xét nghiệm Bạn không hề thông báo cho ta biết.

Hơn nữa, trong công tác nghiên cứu khoa học, chúng ta thiếu thiết bị, hoá chất, thiếu cán bộ chuyên sâu và đồng bộ, thiếu luận cứ khoa học để có thể giải thích được các hiện tượng và khả năng loại trừ các nhân tố gây ảnh hưởng đến thi hài.

Thời điểm đó, việc triển khai thực hiện Nghị quyết 07, rồi đến Nghị quyết 27 của Bộ Chính trị gặp nhiều khó khăn. Đội ngũ cán bộ của đơn vị có sự thay đổi. Đồng chí Nguyễn Hồng Quang – Phó Tư lệnh Chính trị – từng là cán bộ tham gia hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, trải qua nhiều cương vị và có bề dày kinh nghiệm xây dựng đơn vị nghỉ hưu. Một thời gian ngắn sau đó, đồng chí Lương Soạn là cán bộ tiền khởi nghĩa, dày dạn trong hai cuộc chiến tranh, từng tham gia xây dựng Lăng Bác từ những ngày đầu đã từ trần. Đối với công việc, anh luôn là một cán bộ tận tuỵ, có tinh thần trách nhiệm cao. Đối với đồng đội, anh luôn gần gũi chân thành. Đối với gia đình, anh là một người chồng, người cha hết mực thương yêu vợ con. Cuộc sống thời bao cấp gặp rất nhiều khó khăn chật vật, nhưng anh không bao giờ lợi dụng chức quyền để thu vén cá nhân. Anh ra đi để lại trong Đảng bộ và đơn vị một khoảng trống, để lại trong cán bộ, công nhân viên, chiến sĩ niềm tiếc thương vô hạn.

Ngay sau đó, Thường vụ và Bộ Tư lệnh được kiện toàn. Đồng chí Nguyễn Văn Tưởng giữ chức Tư lệnh – Phó Bí thư Đảng ủy; tôi giữ chức Phó Tư lệnh Chính trị – Bí thư Đảng ủy; đồng chí Dương Đức Thạc giữ chức Chủ nhiệm Chính trị – Uỷ viên Thường vụ. Thường vụ đã bàn ngay chuyên đề về nhiệm vụ y tế. Trong đó, tập trung tham mưu, đề xuất, báo cáo Thường vụ Đảng ủy Quân sự Trung ương ra Nghị quyết chuyên đề về nhiệm vụ y tế giữ gìn thi hài Bác, làm cơ sở, làm chỗ dựa vững chắc cho đơn vị. Đồng chí Tư lệnh trực tiếp chuẩn bị văn bản để báo cáo với Thường vụ Đảng ủy Quân sự Trung ương về nhiệm vụ này.

Tại cuộc họp Thường vụ Đảng ủy Quân sự Trung ương, tôi và đồng chí Tưởng được mời dự, trực tiếp nghe những ý kiến phát biểu sâu sắc của các đồng chí Lê Đức Anh, Phó bí thư Đảng uỷ Quân sự Trung ương – Bộ trưởng Bộ Quốc phòng; đồng chí Nguyễn Quyết – Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị; đồng chí Đoàn Khuê – Tổng Tham mưu trưởng. Các đồng chí tiếp tục khẳng định sự nghiệp giữ gìn thi hài Bác là nhiệm vụ trọng đại, mang ý nghĩa quốc gia và quốc tế, thể hiện tình cảm, niềm tin của đồng bào, chiến sĩ cả nước và cả của bạn bè quốc tế đối với Bác Hồ, với dân tộc Việt Nam và chế độ xã hội chủ nghĩa. Thường vụ Đảng ủy Quân sự Trung ương và Bộ Quốc phòng đặt niềm tin và tiếp tục giao trọng trách lớn cho Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Ngày 25 tháng 02 năm 1988, Nghị quyết số 50 của Thường vụ Đảng ủy Quân sự Trung ương về thực hiện nhiệm vụ giữ gìn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh chính thức ban hành. Đảng ủy Đoàn 969 đã tổ chức ngay Hội nghị bất thường vào ngày 17 tháng 3 năm 1988 để quán triệt và thể hiện quyết tâm hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị đặc biệt.

Từ chủ trương, định hướng của Thường vụ Đảng ủy Quân sự Trung ương, đặt ra cho Thường vụ Đảng ủy Đoàn 969 phải nhanh chóng chuẩn bị chu đáo, kỹ càng, xây dựng nghị quyết chặt chẽ, có tính khả thi cao để lãnh đạo nhiệm vụ giữ gìn thi hài Bác.

Ngày 15 tháng 11 năm 1988, Thường vụ Đảng uỷ Đoàn 969 tổ chức hội nghị. Thường vụ đã mời các đồng chí Nguyễn Văn Tham, Phó tư lệnh – Tham mưu trưởng; Nguyễn Quang Tấn, Chủ nhiệm Kỹ thuật và một số cán bộ chủ trì của Viện 69 đến dự để nghe đồng chí Nguyễn Gia Quyền, Phó tư lệnh báo cáo chuyên đề về nhiệm vụ giữ gìn thi hài Bác.

Đây là Hội nghị bàn về những vấn đề trọng đại, mang tính quốc gia, quốc tế; những vấn đề thể hiện sự thiêng liêng của dân tộc trong sự nghiệp giữ gìn tuyệt đối an toàn thi hài Bác, giữ gìn sự đoàn kết đặc biệt giữa ta và chuyên gia Liên Xô, mong muốn tiếp tục tranh thủ được sự giúp đỡ cao nhất của Bạn, nên tất cả các đồng chí tham dự hội nghị đều phát biểu một cách sôi nổi, thận trọng và nghiêm túc.

Đồng chí Nguyễn Quang Tấn khẳng định: “Vấn đề khoa học giữ gìn thi hài là một nền khoa học có tính chất độc quyền của Liên Xô, dù Bạn không phổ biến cho ta, nhưng sau gần 20 năm trực tiếp làm việc với Bạn, ta phải tự tổng kết lại, cái gì ta đã hiểu được, đã làm được, cái gì chưa hiểu được, chưa làm được… từ đó mà bàn để định hướng cho các năm tiếp sau”.

Đồng chí Nguyễn Văn Châu tâm đắc: “Nếu Bạn bàn giao, ta có khả năng làm được và phải dứt khoát phấn đấu thực hiện, không để kéo dài đến các thế hệ kế tiếp nữa. Muốn vậy phải tập trung làm tốt công tác nghiên cứu khoa học với tư cách là một Viện nghiên cứu. Phải làm tốt đào tạo cán bộ đầu ngành, cán bộ chuyên sâu, phải báo cáo với trên xin đảm bảo trang thiết bị đồng bộ”.

Băn khoăn của các nhà khoa học cũng là nỗi trăn trở của Thường vụ. Tôi và đồng chí Tư lệnh tiếp tục nhiều lần trao đổi, bàn bạc, tích cực chuẩn bị kỹ mọi yếu tố, đánh giá đúng tình hình công tác y tế, nghiên cứu khoa học, mạnh dạn đề xuất những chủ trương, biện pháp phù hợp.

Ngày 9 tháng 3 năm 1989, Thường vụ Đảng ủy Đoàn 969 họp phiên cuối, sau khi phân tích kỹ về thực trạng, hội nghị đã nhất trí đánh giá: So với yêu cầu nhiệm vụ giữ gìn lâu dài thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh thì kết quả đạt được chỉ là bước đầu, nhưng là một thành tựu có ý nghĩa cực kỳ quan trọng vừa có tính khoa học, vừa có tính thực tiễn sâu sắc. Bên cạnh sự lãnh đạo, chỉ đạo của trên, sự giúp đỡ của Bạn, ta đã chủ động xây dựng được những cơ sở ban đầu của Viện nghiên cứu bảo quản thi hài ở một nước nhiệt đới nhằm nghiên cứu ảnh hưởng của các nhân tố y, sinh, hoá, lý …các kỹ thuật ướp và bảo quản thi hài trong điều kiện riêng biệt ở Việt Nam. Ta đã đào tạo được một đội ngũ cán bộ thành thạo các thao tác kỹ thuật …. Có khả năng vận hành các thiết bị mà ta có.

Trên cơ sở đánh giá đó, Thường vụ đã xác định chủ trương, giải pháp: Công tác y tế giữ gìn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh là công tác trọng tâm của toàn Bộ Tư lệnh. Viện 69 là đơn vị chuyên trách có trách nhiệm trực tiếp đảm nhiệm công tác và cùng với Bạn làm thuốc thi hài, đảm nhiệm công tác nghiên cứu khoa học đồng thời có chức năng làm tham mưu giúp Đảng uỷ mà trực tiếp là Thường vụ và Tư lệnh lãnh đạo, chỉ đạo công tác y tế giữ gìn lâu dài thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh.

….. Cần phải tiếp tục tranh thủ sự giúp đỡ toàn diện của Liên Xô, phối hợp với chuyên gia thực hiện nhiệm vụ bảo quản thi hài…. phải tích cực nghiên cứu học hỏi hiểu biết đầy đủ nội dung quy trình kỹ thuật, điều kiện vật chất tiến tới có khả năng tự bảo quản thi hài khi có tình huống gián đoạn do chiến tranh hoặc lũ lụt xảy ra….

Sau 3 năm chuẩn bị công phu, thực sự dân chủ, phát huy trí tuệ của toàn Đảng bộ, mà trung tâm là Thường vụ, tập thể Đảng uỷ Viện 69 và đội ngũ cán bộ chủ trì làm công tác y tế, khoa học kỹ thuật, được Nghị quyết 50 của Thường vụ Đảng ủy Quân sự Trung ương định hướng soi đường, nên Nghị quyết 150 có sức sống, định hướng cho Đảng bộ và đơn vị phát huy ý chí độc lập, tự cường vươn lên làm chủ vững chắc sự nghiệp giữ gìn thi hài Hồ Chủ tịch.

Ngày 16 tháng 3 năm 1989, Nghị quyết số 150 của Thường vụ về lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ y tế giữ gìn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh được ban hành, phổ biến, quán triệt đến cán bộ chủ trì các cấp, được toàn Đảng bộ và đơn vị triển khai thực hiện với những nội dung công việc cụ thể.

Chủ trương về đầu tư, xây dựng nâng cấp Viện 69 để hoàn thành nhiệm vụ chính trị đặc biệt đã được Bộ Tư lệnh triển khai tại Quyết định số 324/QĐ/BVL, ngày 17 tháng 5 năm 1990. Biểu biên chế mới của Viện 69 xác định gồm Thủ trưởng và các bộ phận phù hợp với nhiệm vụ: Quản lý toàn bộ công tác y tế bảo quản lâu dài thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh; xây dựng chiến lược nghiên cứu lâu dài, xác định kế hoạch nghiên cứu từng giai đoạn; quản lý công tác nghiên cứu khoa học, tổ chức nghiên cứu các đề tài khoa học với quy mô từ cơ sở tới cấp Nhà nước theo hướng đã định.

Đồng thời Viện còn quan tâm đào tạo đội ngũ cán bộ có trình độ khoa học, có kinh nghiệm và đầu tư trang thiết bị hiện đại. Viện 69 đã tích cực đào tạo cán bộ, nghiên cứu hoàn thành nhiều đề tài khoa học. Hàng chục cán bộ, nhân viên được cử sang Nga học tập, nhiều cán bộ đã phấn đấu trở thành tiến sĩ, thạc sĩ, chuyên khoa cấp 2. Chính lực lượng này đã trực tiếp quyết định vào việc hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ giữ gìn lâu dài và bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Bác.

Nhìn lại những năm qua – một thời gian rất ngắn ngủi trong sự nghiệp giữ gìn lâu dài và bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhưng có nhiều biến động phức tạp, càng thấy ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với đơn vị. Được sự lãnh đạo và chỉ đạo của trên, Đảng bộ và đơn vị đã có những chủ trương định hướng đúng và có quyết tâm cao để vượt qua những khó khăn thử thách của giai đoạn chuyển tiếp, mở ra một bước ngoặt mới trên con đường độc lập tự chủ, tự lực tự cường, chủ động sáng tạo, làm chủ nhiệm vụ giữ gìn lâu dài thi hài Bác để các thế hệ hôm nay và mai sau mãi mãi được đến thăm viếng Người.

Đại tá Đỗ Văn Khoan
Nguyên Bí thư Đảng uỷ, Phó Tư lệnh Chính trị – Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh

bqllang.gov.vn