Tag Archive | Lãnh tụ vĩ đại

Chuyện về những bữa cơm của Bác Hồ

Phong cách sinh hoạt giản dị, thanh cao, ghét thói xa hoa, lãng phí của Chủ tịch Hồ Chí Minh được nhân dân Việt nam và nhân dân thế giới ngưỡng mộ. Một tác giả nước ngoài đã viết rằng: Cuộc sống giản dị của Chủ tịch Hồ Chí Minh và sự gần gũi với nhân dân là đặc trưng cho tình yêu đối với đất nước của một Con Người đã trở thành huyền thoại ngay trong cả cuộc sống đời thường của mình. Một trong những yếu tố góp phần làm nên huyền thoại ấy bắt đầu từ điều vô cùng bình thường nhất, đó là những bữa ăn của vị Chủ tịch nước.

Ngày mới giành chính quyền năm 1945, Bác làm việc tại Bắc Bộ Phủ trong căn phòng nhỏ trên gác hai. Bác được cấp mỗi tháng 200đ cho việc ăn uống. Tới giờ ăn, Bác đến ăn tại bếp tập thể cùng anh em. Bữa ăn của Bác đạm bạc, thường chỉ có một miếng cá nhỏ, một bát canh, vài quả cà, mấy cọng dưa, dăm lát ớt và miệng bát cơm. Ngày 10 – 4 – 1946, giữa lúc đất nước bộn bề công việc, Bác về thăm Ninh Bình để dàn xếp vấn đề đối nội, đặc biệt là tôn giáo,. Khoảng 8h, khi xe Bác đến thị xã, nhân dân ùa đến, vẫy cờ, hô khẩu hiệu đón Bác. Anh em trong Uỷ ban khẩn khoản mời Bác ở lại nghỉ cho đỡ mệt và ăn tối, nhưng Bác nói: “Hàng ngàn đồng bào chờ Bác ngoài kia, Bác không thể nghỉ ở đây để ăn cơm vì 9h tối Bác đã có việc ở Chủ tịch phủ. Bây giờ các chú giúp Bác: một chú ra tập hợp đồng bào vào một ngã tư rộng gần đây để Bác ra nói chuyện với đồng bào mươi phút; một chú ra cửa hàng bánh mua cho Bác một cặp bánh giò. Còn các chú đi với Bác thì tranh thủ ăn cơm trước. Nói chuyện xong, Bác về Hà Nội ngay cho kịp hẹn. Trong xe, Bác sẽ ăn bánh vừa đỡ tốn kém, vừa tiết kiệm thời gian cho Bác”. Sau đó Bác ra nói chuyện với đồng bào. Khá muộn, Bác vẫy tay chào đồng bào rồi lên xe về Hà Nội. Xe đi được một quãng, Bác mới bắt đầu dùng bữa ăn tối của mình.

Kháng chiến bùng nổ, Bác cùng các cơ quan Trung ương và Chính phủ trở lại Việt Bắc. Những năm đầu, đời sống kháng chiến vô cùng kham khổ, Bác vẫn ăn chung với anh em, bát ăn chỉ là ống bương cưa ra, thức ăn chủ yếu là măng, rau, cao cấp nhất là thịt chim, sóc săn bắn hoặc đánh bẫy được đem kho mặn với muối để Bác ăn dần, thi thoảng tìm được con gà bồi dưỡng riêng cho Bác thì Người nói lộc bất khả tận hưởng, rồi đem chia đều cho mọi người. Món ăn chủ lực của Bác và anh em vẫn là món thịt Việt Minh gồm: 1kg thịt + 1kg muối + 1 nửa kg ớt xào lên cho vào ống, đi đến đâu dùng cũng tiện. Khi tăng gia, chăn nuôi được nhiều, anh em xin ý kiến, Bác đồng ý cho bỏ món thịt Việt Minh. Có lần, đoàn công tác của Bác đi qua huyện Yên Sơn theo kế hoạch ghé vào một cơ sở để ăn trưa. Nhưng khi đến nơi, thì nghe có tiếng máy bay địch nên Bác bảo anh em đưa cơm ra bãi cỏ ở bìa rừng ngồi ăn thuận tiện hơn. Hai đồng chí bảo vệ vào xóm bưng cơm lại mượn thêm chiếc chiếu của gia đình đồng bào ra ngồi. Lúc đặt mâm cơm xuống, Bác thấy có con gà luộc, đĩa cá và hai bát canh. Thấy thế, Bác không vui: “Các chú không nên mượn chiếu của bà con làm phiền đến dân”, ngừng một lát, Bác nói tiếp: “Trong khi nhân dân đang thắt lưng buộc bụng kháng chiến, mình ăn cơm thế này là ăn cơm “quan” đấy”. Nói rồi, Bác vừa chia đôi tất cả các món ăn trên mâm. Bác bảo anh em đem một phần đã chia đưa vào biếu các gia đình nghèo trong xóm. Phần còn lại Bác lại chia làm đôi: Chỉ ăn một nửa, còn một nửa gói dành cho bữa sau. Một lần khác đi công tác, mấy Bác cháu được bố trí ăn cơm ở nhà một cơ sở. Dạo đó thiếu thốn nên nồi cơm phải độn nhiều sắn, khoai. Vì thương Bác nên gia đình đã nấu thêm nồi cơm gạo trắng và sắp một mâm riêng. Khi vào bữa, Bác bưng bát cơm trắng, gắp thêm máy miếng thức ăn ngon để mời cụ cố đang ngồi bên bếp lửa gian trong, Bác nói rành rọt: “Cơm này là để dành cho người già nhất ăn”, rồi Bác lấy bát xới cho mình một bát cơm độn và cùng ăn với cả nhà. Trong rừng chiến khu đôi khi vẫn thiếu rau nhưng có nhiều mít, thế là Bác bày cách cho chị cấp dưỡng làm món nhút ăn cho đỡ xót ruột. Bác còn chú ý cả hình thức trình bày để bữa ăn tuy đơn giản nhưng ngon miệng. Một lần đi công tác, Bác cháu dừng bên bờ suối nấu ăn, Bác bảo anh em nấu cơm để Người làm trứng rán. Bác làm rất thành thạo, khi trứng rán xong cơm chưa chín, Người lấy que sắt nung trên than hồng rồi đặt lên khoanh trứng tạo thành hình quả trám rất đẹp, thấy anh em trâm trồ, Bác nói: “Khi có điều kiện làm cho ngon hơn, đẹp hơn thì ta cứ làm chứ các chú!”. Cũng có dịp đặc biệt như cuối năm 1953, quân và dân miền Nam thắng trận U Minh, Đồng Tháp Mười, Tây Nguyên, Bác quyết định mở tiệc khao quân với các món: Thịt gà luộc (được chặt làm 20 miếng đều nhau vừa đủ số người trong cơ quan ), canh cải xanh, rau muống xào tỏi, xôi nếp, cơm tẻ đều là sản phẩm cơ quan tăng gia. Bữa tiệc xong, Bác bỗng nói, giọng trầm xuống: “Hôm nay Bác cháu mình ngồi ở chiến khu Việt Bắc ăn xôi với thịt gà mừng chiến thắng, thì quân và dân miền Nam đã 9 năm rồi, kể từ ngày 23 – 9 – 1945 không lúc nào ngơi tay súng chiến đấu với quân thù để bảo vệ nên độc lập Tổ quốc, biết bao chiến sĩ và đồng bào đã hy sinh anh dũng…”. Mọi người cùng lặng đi khi thấy hai giọt nước mắt Bác lăn trên đôi má gầy sạm…

Cuộc kháng chiến chống Pháp thắng lợi. Bác trở về thủ đô Hà Nội ở tạm trong ngôi nhà của người thợ điện, gọi là nhà 54. Bữa ăn hàng ngày của Người vẫn không cầu kỳ, không cao lượng mỹ vị. 7h, bữa điểm tâm của Bác thường là xôi ruốc, thịt hoặc bánh cuốn, bánh mỳ. Đến khoảng 9h. Bác uống một cốc cà phê. 11h, Bác ăn cơm trưa, trên mâm cơm của Người thường có bát canh nước trong, một món xào hoặc thịt luộc, cá quả hoặc cá bống kho gừng và không thiếu hương vị miền quê cà kho tương hoặc dầm đường ớt… bữa nào Bác cũng ăn đúng hai bát. Mỗi khi xong bữa, Người lại tự tay xếp bát đĩa gọn ghẽ để bớt phân công việc cho các đồng chí phục vụ. Khoảng 14h, Bác uống một cốc sữa. 17h30, Bác dùng cơm tối. 21h, Bác uống một cốc cà phê sữa cho tỉnh táo khi làm việc khuya. Có lần, đồng chí phục vụ đưa lên đĩa cá anh vũ – một loại cá quý thường chỉ có ở ngã ba sông Bạch Hạc (Việt Trì). Bác bảo: “Cá ngon quá, thế mà chú Tô (Thủ tướng Phạm Văn Đồng) lại đi vắng ! Thôi, các chú để đến chiều đồng chí Tô về cùng thưởng thức”. Thấy Bác khen, anh em gửi tiếp cá đến, nhưng thấy món cá hôm trước lại xuất hiện, Bác không hài lòng: “Bác có phải là vua đâu và phải cung với tiến?” rồi kiên quyết bắt mang đi, không ăn nữa. Năm 1957, Bác thăm một số nước Đông Âu. Sau buổi tiệc do Đại sứ quán Việt nam tổ chức tiết kiệm và trang trọng, các món ăn không thừa, không thiếu, Người nói: “Ăn uống lãng phí, Bác xót xa lắm, vì đây là tiền bạc của nhà nước , của nhân dân. Bà con ta ở trong nước làm đổ mồ hôi, sôi nước mắt, mới có miếng mà ăn. Vì vậy để lãng phí, xa hoa là có tội với nhân dân”. Có lần ở Liên Xô, bạn chiêu đãi toàn những đặc sản, nhưng Bác lại chỉ nhớ món cá bống kho lá gừng. Không để bạn phật ý, đồng chí thư ký phi trổ tài tháo vát bằng cách giới tiệu với bạn một món cổ truyền Việt nam để nồi cá bống được có mặt trong bữa ăn.

Từ tháng 5 – 1958, Bác chuyển sang ở nhà sàn, nhưng hàng ngày, đúng giờ quy định, Người trở về dùng bữa tại nhà ăn phía bên kia bờ ao, cơm nước xong, Người lại đi bộ trở về nhà sàn, dù thời tiết mưa to, gió lớn cũng vẫn vậy. Các đồng chí phục vụ nhìn Bác xắn quần lội qua quãng đường ngập nước mà thương Bác vô cùng. Một hôm, sắp hết giờ làm việc buổi sáng, trời đổ mưa to. Thấy cơ hội thuận tiện, đồng chí giúp việc xin phép được mang cơm sang nhà sàn, Bác dừng tay làm việc, trầm ngâm nhìn trời mưa, hỏi đồng chí phục vụ “Thế mang cơm cho Bác cần mấy chú?”, “Dạ, thưa Bác, một đồng chí bên cơm, một đồng chí bê thức ăn và hai đồng chí đi kèm che mưa”, “Thế chú muốn một mình Bác vất vả hay muốn để nhiều người vất và vì một mình Bác?”. Hết giờ làm việc, mưa vẫn tầm tã, Bác xắn cao quân, tay cầm ô, tay chống gậy, lần từng bước qua con đường vòng ao cá nước chảy xiết sang nhà ăn. Những lần đi công tác các địa phương, Bác đều nhắc anh em mang cơm đi theo, khi thì cơm nắm, khi thì bánh mỳ với thức ăn nguội, chỉ có món canh cho vào phích để đến bữa Bác dùng cho nóng. Trên đường đi, cứ đến bữa là Bác chọn nơi vắng, mát, sạch cho dừng xe, Bác cháu bày cơm ra ăn đơn giản, không phiền ai cả. Một lần về thăm Thái Bình, Tỉnh uỷ và Uỷ ban nhân dân cố nài Bác ở lại ăn cơm, Người nói: “Đi thăm tỉnh lụt còn ăn uống nỗi gì?”, nhưng vì thương cán bộ đã chót bày mâm, Bác lấy gói cơm nắm và thức ăn mặn rồi bảo đồng chí cảnh vệ: “Chú mời đồng chí Bí thư và Chủ tịch đến ăn cơm với Bác. Còn chú và chú bác sĩ sang mâm kia ăn với cán bộ tỉnh”. Khi phải công tác ở địa phương nào lâu, Bác dặn cán bộ tỉnh chỉ làm cơm cho mấy người và ăn những món nào, dù cán bộ tỉnh bày cỗ ra Bác vẫn chỉ gắp vào bát của anh em và bát của mình mỗi người một miếng gọi là nếm thử, rồi xếp ngay ngắn đĩa thức ăn ấy, để ra ngoài mâm, Bác vói với anh em: “Người ta dọn ra một bữa sang. Bác cháu mình có khi chẳng ăn và chẳng ăn hết. Nhưng đi rồi để lại cái tiếng: đấy Bác Hồ đến thăm cũng làm cơm thế này, thế nọ, cũng điều động người làm mất thời gian. Thế là tự mình, Bác lại bao che cho cái chuyện xôi thịt…”. Hai lần Bác về thăm quê, tỉnh nhà đều làm cơm chiêu đãi Bác. Năm 1957, Bác mời mọi người cùng ngồi chung mâm có đĩa cà muối quê hương. Năm 1961, Bác cũng ngồi vào bàn ăn nhưng lại chiêu đãi mọi người món cơm đã chuẩn bị sẵn, mang từ Hà Nội vào: đó là những gói cơm nắm độn bắp, gạo trắng và ngô nhỏ mịn gói lại vuông vức. Bữa cơm ấy thật ngon, nhiều ý nghĩa và cảm động. Năm 1965, cuộc chiến tranh phá hoại của Mỹ đang ác liệt, nhân dân ta bắt đầu phải ăn cơm độn sắn, ngô, Bác dặn anh em: “Các chú thổi cơm độn cho Bác. Nhân dân, cán bộ ta ăn độn bao nhiều phân trăm, độn cho Bác từng ấy”. Khi đó Bác đã bước vào tuổi 75, nhìn Bác ăn độn mà anh em xót quá, mới thưa lai có quy định các cụ già trên 70 tuổi không phải ăn cơm độn, nhưng Bác bảo: “Bác cũng nhiều tuổi, nhưng Bác còn khoẻ. Thế thì Bác theo cán bộ. Cán bộ thế nào thì Bác thế ấy. Cứ thổi tiếp đi cho Bác ăn”. Anh em xay ngô thật nhỏ, độn gọi là, nhưng Bác biết, người nhắc: “50% cơ mà!”.

Thủ tướng Phạm Văn Đồng là người được vinh dự dùng cơm với Bác nhiều lần nhất, Thủ tướng kể lại rằng bữa ăn nào Bác cũng ăn tiết kiệm, vừa đủ không bỏ món thừa, không vương vãi một hột cơm. Bác rất thích ăn những món dân dã như vó bò, cà dầm tương, mắm, canh cua với rau chuối thái ghém hoặc dọc mùng. Những hôm mời khách ăn cơm, bao giờ Bác cũng báo trước cho đồng chí cấp dưỡng biết để chuẩn bị và số tiền đãi khách đó được trừ vào tiền lương của Bác, không bao giờ người dùng vào tiền công quỹ. Bác thường mời cơm thân mặt một số đồng chí trong Bộ Chính trị, đôi khi cả gia đình một số đồng chí trong Trung ương, cán bộ, các anh hùng dũng sĩ miền Nam ra báo cáo công tác hoặc chữa bệnh. Những lần tiếp khách như vậy bao giờ Người cũng nhắc các đồng chí phục vụ nấu những món ăn phù hợp khẩu vị của khách để anh em ngon miệng. Chiều ngày 1 – 8 – 1969, vị khách cuối cùng được Bác mời cơm là đồng chí Nguyễn Văn Linh, Phó Bí thư Trung ương cục miền nam ra báo cáo tình hình với Người.

Phong cách sinh hoạt đời thường của Bác Hồ là biểu hiện của tình thương yêu con người, là đạo đức cần – kiệm – liêm – chính, tạo nên nét thanh cao và sự vĩ đại của một nhà hiền triết, một bậc thánh nhân thế kỷ XX, bởi vậy: “ Cuộc đời của Hồ Chủ tịch trong như ánh sáng. Đó là tấm gương tuyệt vời về chí khí cách mạng kiên cường, tinh thần độc lập tự chủ, lòng nhân đạo và yêu mến nhân dân thắm thiết. Tư tưởng và đạo đức và đạo đức cao cả của Người mãi mãi soi sáng và nâng cao tâm hồn chúng ta”.

Đỗ Hoàng Linh

bqllang.gov.vn

Tình yêu Bác Hồ giành cho những khúc dân ca

Đã có nhiều công trình nghiên cưú, nhiều bài báo, lời ca, câu truyện… ngợi ca vẻ đẹp con nguời Hồ Chí Minh – đó là vẻ đẹp của sự hoàn mỹ nhưng không xa lạ, vĩ đại mà gần gũi thân thương, toả sáng mà ấm áp hiền hoà. Bản thân Người, cuộc đời của Người là nguồn đề tài bất tận cho tất thảy những ai khao khát mong muốn cái đẹp “gieo mầm cho sự sống”. Cuộc vận động “ Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” đã khiến cho mỗi chúng ta biết dừng lại trong nhịp sống hối hả của cơ chế thị trường để tự soi mình vào tấm gương đạo đức Bác Hồ, tự gột rửa mình, làm cho mình sống tốt đẹp hơn lên, có ích cho gia đình và xã hội hơn. Và trước muôn vàn câu truyện kể về Người, trái tim tôi lại trào lên xúc cảm trước những phút giây cuối cùng trong cuộc đời Bác – đó là câu truyện về tình yêu của Người dành cho những khúc hát dân ca.

Vào buổi sáng ngày 2/9/1969, đây là buổi sáng cuối cùng trong cuộc đời 79 mùa xuân của Bác. Bởi sau 9 giờ sáng hôm ấy Người thực sự bước vào “ cuộc trường chinh nhẹ cánh bay”, để lại cho nhân dân Việt Nam và nhân dân thế giới một niềm đau thương, mất mát không thể nào diễn tả nổi bằng mọi ngôn từ.

Không gian của câu truyện cũng chỉ thu nhỏ trong căn nhà A67. Căn phòng này cách ngôi nhà sàn của Bác chỉ vài chục bước chân. Trước đó, theo lời đề nghị của bác sỹ, để tiện cho việc theo dõi, chăm sóc sức khoẻ của Người, ngày 18/8/1969, các đồng chí trong Bộ Chính trị và những đồng chí trực tiếp chăm sóc Bác đã chuyển Bác xuống ở căn phòng này.

Sau gần 20 ngày chống cọi với bệnh tật, Bác đã yếu lắm. Nhưng hễ tỉnh lại là ngay lập tức, Người hỏi thăm tình hình chiến đấu ở miền Nam, tình hình lũ lụt ở miền Bắc. Người còn dặn các đồng chí trong Bộ Chính trị phải làm sao tổ chức ngày lễ Quốc khánh thật long trọng để nhân dân vui, phải bắn pháo hoa cho nhân dân phấn khởi. Trong những giây phút cuối cùng, đứng giữa ranh giới mong manh của sự sống và cái chết, đối diện với quy luật nghiệt ngã của sự tồn vong Bác vẫn luôn nghĩ cho đồng bào, cho đất nước mà “ nâng niu tất cả chỉ quên mình”. Nằm trên giường bệnh, sáng 2/9, lúc này Người đã rất mệt, mong muốn cuối cùng của Người là được gặp và thăm đồng bào miền Nam không thực hiện được, hơi thở của người mỗi lúc một yếu dần. Các đồng chí trong Bộ Chính trị và các bác sỹ không ai nỡ rời xa Người dù chỉ là một phút. Lần đầu tiên tỉnh lại sau cơn đau, Người nhìn xung quanh rồi hỏi:

– Trong các chú có ai biết hò Huế không?

Mọi người lúng túng nhìn nhau, quả là một tình huống không ai chuẩn bị trước. Thường ngày, Người vẫn thường nói “ miền Nam luôn ở trong trái tim tôi”, thêm vào đó Huế vốn là mảnh đất gắn bó cùng Người suốt một thời gian dài tuổi thơ. Giờ đây, trong những phút cuối cùng, có lẽ Người mong muốn mang hình ảnh miền Nam yêu thương, hình ảnh núi Ngự, sông Hương với những kỷ niệm buồn đau theo mình vào cõi vĩnh hằng bất tử. Nỗi niềm ấy của người dường như ai cũng thấu hiểu, nhưng tìm nghệ sỹ hò Huế lúc này thật khó.

Lần thứ hai tỉnh lại, Người lại hỏi. Lúc này giọng người đã yếu hơn nhiều:

-Trong các chú, ai có thể hát cho Bác nghe một làn điệu ví dặm Nghệ Tĩnh được không?

Thêm một lần nữa sự im lặng và bối rối bao trùm căn phòng. Câu ví dặm câu hát dân ca xứ Nghệ đã bao bọc và nuôi dưỡng tâm hồn Người từ thủa lọt lòng. Ngươì lớn lên và đi ra thế giới từ chiếc nôi văn hoá quê hương mặn mòi tình nghĩa ấy. Trước giây phút sắp biệt ly Người khao khát được nghe, được sống trong hơi ấm quê hương.

Lần thứ ba tỉnh lại, Người ngỏ ý muốn nghe một khúc dân ca quan họ Bắc Ninh, lần này thật may mắn khi cô y tá bé nhỏ Ngô Thị Oanh tiến lại gần Bác: “Thưa Bác, cháu xin hát cho Bác nghe ạ”. Với chất giọng trong trẻo của người con gái Vĩnh Phúc, chị cất lời hát “ Ngươì ở đừng về”.. Căn phòng nhỏ chìm trong tiếng hát. tiếng hát hay tiếng lòng! Không ai phân biệt được. Chỉ biết rằng lời quan họ sâu lắng, tha thiết quá. “ Người ơi, người ở đừng về. Mà người ơi, người ở đừng về” đã nói hộ lòng người. Cô y tá càng hát càng ngẹn ngào, những người xung quanh không ai cầm được nước mắt. 9 giờ 47 phút ngày 2/9/1969 trái tim vĩ đại của Bác Hồ đã ngừng đập, để lại muôm vàn tình thưong yêu cho đồng bào cả nước. Sinh ra và lớn lên từ trong câu hát dân ca, từ điệu ví dặm ầu ơ ngọt ngào đằm thắm của mẹ, cuối cùng Ngươì thanh thản nhẹ nhàng bước vào cuộc trường sinh bằng âm hưởng tiếng hát dân ca.

Sau này, trong một bài báo tôi còn đựơc biết chị Ngô Thị Oanh, cô y tá viện quân y 108, người hát khúc hát dân ca “ Ngươì ở đừng về” vào những giây phút cuối cùng của cuộc đời Bác kể lại: Sau khi chị hát xong, Bác Hồ nhìn chị, chị cảm giác như Bác đang mỉm cười. Người còn bảo lấy bông hoa hồng bạch trên bàn mang tặng chị. Cử chỉ nhỏ mà ý nghĩa thật to lớn. Cho đến phút cuối đời, quên cả nỗi đau đang vò xé, Người vẫn giành trọn niềm yêu thương, sự quan tâm đặc biệt cho mỗi người, đặc biệt là phụ nữ. Và bông hoa hồng nhỏ bé ấy chị đã ép khô để luôn giữ và xem nó là vật kỷ niệm thiêng liêng theo chị suốt cả cuộc đời:

Giấu mình đi Người chẳng làm phiền ai cả
Dép một đôi, áo quần vài bộ
Chỉ có trái tim bao la là tất cả gia tài

Câu truyện giản dị mà sâu sắc như biết bao câu truyện kể về Người. Từ những tình tiết của câu truyện ta nhận thấy ở Người một tình yêu lớn bao la và đặc biệt. Ngưòi không chỉ yêu cuộc sống, yêu con người, không những chẳng làm đau một chiếc lá trên cành, thích sống hoà đồng với thiên nhiên, cỏ cây hoa lá mà Người còn yêu biết mấy những khúc hát dân ca. Người thèm nghe một câu hò Huế, một làn điệu ví dặm hay một khúc quan họ đâu phải chỉ là nghe hát mà chính là để mang cả hình ảnh quê hương xứ sở, hình ảnh miền Nam yêu thương vào cuộc trường sinh. Cả cuộc đời người sống cho nhân dân, cho dân tộc, không gợn chút riêng tư, hành trang mà Người mang theo về thế giới người hiền chỉ là ước nguyện bình dị : Mang theo âm hưởng câu hát dân ca vào cõi bất tử. Người đã để lại cho chúng ta bài học sâu sắc, thấm thía rằng muốn yêu Tổ quốc mình, càng yêu tha thiết những câu hát dân ca. Bởi khúc dân ca là linh hồn, là nơi nắng đọng tình yêu, tinh hoa, bản sắc văn hoá dân tộc. Nó là nguồn sữa tinh thần bồi đắp và nuôi dưỡng tâm hồn con người. Trước lúc đi xa Người muốn thế hệ sau hãy yêu những câu hát dân ca, hãy trân trọng và giữ gìn nền văn hoá của dân tộc.

NSUT Phạm Quỳnh Hoa

bqllang.gov.vn

Điều quan trọng nhất là làm theo gương Bác

Bác Hồ là tấm gương sáng tuyệt vời, ai cũng cố gắng học tập và tự hào được làm theo Bác. Lần này, bước vào Cuộc vận động, mỗi người đều thấy mình tiến bộ thêm một bước: Chăm đọc và làm theo sách báo của Ðảng, quan tâm hơn đến những vấn đề chung của đất nước, quê hương; gắng sức làm việc tốt để góp phần nhỏ bé của mình vào công tác xây dựng Ðảng, chính quyền, đoàn thể từ địa phương lên; sống với nhau thêm tình nghĩa chân thành, học tập nhau phát huy mặt mạnh và giúp nhau khắc phục yếu kém.

Nghiêm túc học tập tấm gương Bác là điều không dễ và làm theo Bác lại càng khó hơn. Nhưng nếu có tấm lòng trong sáng và quyết tâm bền vững, ai cũng đều có thể học và làm theo Bác được. Có người cho rằng mình bận công việc tối ngày, khó có thời gian và điều kiện làm những việc như Bác là không đúng. Dù bận việc nước, việc dân, Bác vẫn có thời gian chăm lo đến những việc nhỏ nhất, chan hòa tình thương đến mọi người, không sót một ai!

Mọi người đều có thể học và làm theo Bác từ những việc hằng ngày mà ai cũng thấy ở mọi lúc mọi nơi, rất đỗi bình thường giản dị và chính sự bình thường giản dị ấy càng tôn thêm tầm vĩ đại của Bác. Bác thường xuống cơ sở, đến với dân không báo trước, không bố trí nơi đón rước linh đình mà Bác đến thẳng nơi ăn ở, trong bếp núc, nơi làm việc, chỗ vệ sinh của công nhân, nông dân, bộ đội, thanh niên xung phong, nhà trẻ… xem tận nơi, quan tâm thiết thực đến đời sống mỗi người.

Các buổi lễ lớn, Bác thường xuất hiện từ phía sau vào hội trường rồi những ai đang đón rước ở bên ngoài, ở phía trước tự giải tán vào theo Bác. Bác thường không chỉ nghe báo cáo viết sẵn, trình bày một chiều mà Bác đã bằng nhiều cách quan sát thực tiễn, hiểu rõ những nét cơ bản nhất, chân thật nhất của tình hình rồi mới đọc và nghe báo cáo. Nên không thể có báo cáo sai sự thật, “làm láo báo cáo hay”, sa vào “bệnh thành tích” để chủ quan tự sai lầm.

Ai cũng thấy Bác tiết kiệm từng thứ nhỏ nhất trong nếp sống và làm việc hằng ngày. Không chỉ vì nghèo mới tiết kiệm mà tiết kiệm là đức tính thuộc về bản chất, truyền thống của dân tộc ta. Nhất là tiết kiệm thời giờ của mình và của mọi người, vì “của cải nếu hết còn có thể làm thêm, khi thời giờ đã qua rồi không bao giờ kéo nó trở lại được!”. Bác không bao giờ để những cuộc họp vô bổ kéo dài phí thời giờ của nhiều người.

Ai cũng tự xác định cho mình suốt đời học tập và làm theo gương Bác để không ngừng tiến bộ, thiết thực làm mọi việc ích nước lợi dân, tránh được những sai lầm dù nhỏ.

Báo Nhân dân

bqllang.gov.vn

Những chuyện cảm động về Bác Hồ qua lời kể của thành viên nhóm tình báo Con Nai (Mỹ)

Henry Prunier năm nay đã 86 tuổi, là một trong bảy thành viên của nhóm tình báo Con Nai (Deer Team) thuộc OSS. Theo lời kêu gọi của Bác Hồ, nhóm Con Nai nhảy dù xuống Tân Trào tháng 7 năm 1945 để giúp đỡ trong việc huấn luyện các chiến sĩ Việt Minh đánh Nhật.

Chúng tôi đến thăm hai ông bà Henry Albert Prunier và Maria Prunier vào một buổi sáng mưa lạnh ở vùng New England. Ông Henry Prunier rất vui khi biết chúng tôi có ý định tìm hiểu, tham vấn ông để làm một cuốn sách liên quan đến thời kì đó.

Theo ông, lịch sử sẽ dần trôi vào quên lãng nếu không có những người nhắc lại giai đoạn đặc biệt này của quan hệ giữa hai nước – Một giai đoạn rất ngắn khi Việt Nam và Hoa Kỳ đã từng là bạn.

Những thành viên của The Office of Strategic Services (OSS), đã giúp đỡ Việt Minh sử dụng vũ khí và cũng chính những thành viên ấy đã hết sức nhiệt tình chuyển giúp thư của Bác Hồ đến chính phủ Mỹ, đề nghị Tổng thống Truman công nhận độc lập của Việt Nam.

Chỉ tiếc rằng lịch sử đã đi theo hướng hai nước trở thành đối thủ trong cuộc chiến 20 năm.

Có lẽ ông là một trong rất ít người còn sống và đã cùng ông Allison K. Thomas (trưởng nhóm Con Nai), trở lại Hà Nội năm 1995 gặp gỡ các chiến sĩ Việt Minh mà ông đã có dịp sống và làm việc. Cuộc gặp mặt sau 50 năm được tổ chức theo sáng kiến của Hội Hữu nghị Việt – Mỹ và do Quỹ Ford tài trợ.

Khi đến Tân Trào, ông mới 24 tuổi, làm thông dịch viên cho nhóm. Chỉ có chưa đầy một tháng được tiếp xúc với Bác Hồ, đại tướng Võ Nguyên Giáp và các chiến sĩ Việt Minh, nhưng đã để lại trong ông những kí ức và kỷ niệm khó quên mà ông mang theo bên mình trong hành trình hơn nửa thế kỷ.

Ông nhớ rõ từng chi tiết khi nhảy dù xuống Tân Trào. Nhóm Con Nai ở cách Tân Trào 3 km, trước đó đây là nơi dành cho các lớp bồi dưỡng chính trị, nay thành thao trường huấn luyện của Việt Minh.

Nhóm Con Nai mỗi người mỗi việc, trong đó có bác sĩ đã từng chữa bệnh cho Bác Hồ khi Người bị ốm. Vũ khí, thuốc men, thực phẩm của họ đều được tiếp tế bằng máy bay trực thăng. Tuy nhiên, cả nhóm vẫn dùng thực phẩm của địa phương như cơm, ngô, măng rừng, rau và thịt gà. Ông nhớ nhất là bữa ăn rất thiếu rau, còn thịt gà là món ông nhớ nhất vì nó… không ngon một chút nào.

Tiếp đó là những ngày hành quân về Hà Nội cùng tướng Đàm Quang Trung, qua Thái Nguyên còn phải đánh nhau với tàn quân Nhật. Các ông về đến Hà Nội vào ngày 9/ 9/1945.

Ông được gặp lại Bác Hồ, bây giờ là Chủ tịch nước Việt Nam độc lập, với cảm giác ngỡ ngàng vì trước đó một tháng ông chỉ biết đó là “Mr. Hồ”. Con người giản dị đó giờ đây đã trở thành người đứng đầu một đất nước thoát khỏi ách thuộc địa.

Ông ở Hà Nội một thời gian ngắn, rồi sang Côn Minh và về Mỹ tháng 1/1946.Ông học đại học, rồi làm việc ở công ty gia đình J.S, Prunier and Sons.

Năm 1997, ông tham dự cuộc gặp mặt những thành viên OSS và các chiến sĩ Việt Minh tại New York. Hiện ông đang sống tại thành phố Webster nằm phía đông của bang Massachusetts, Hoa Kỳ.

Bước vào nhà, vật đầu tiên ông chỉ cho chúng tôi là bức tranh thêu trên lụa khổ 1,5 m x 0,6 m, về một nhân vật trong lịch sử Trung Quốc, được lồng trong khung kính, treo trang trọng trong phòng khách.

Đó là món quà của Bác Hồ tặng ông từ năm 1945, và ông đã giữ cho đến tận bây giờ. Mặc dù đã 62 năm đã trôi qua, nhưng bức tranh không hề phai màu, được bảo quản gần như mới…

Ông đưa chúng tôi vào nơi trước đây là Văn phòng giao dịch của công ty J.S. Prunier and Sons. Bây giờ, đây là nơi ông lưu giữ những cuốn sách về Bác Hồ, về Việt Nam, về đội Con Nai, OSS trong những ngày ở Đông Dương.

Những cuốn sách của các tác giả là thành viên của đội OSS như Charlse Fenn, Archimedes Patti, và các nhà nghiên cứu về Việt Nam sau này như William Duiker, Dixee R. Bartholomew-Feis. Ông gìn giữ cẩn thận từng băng ghi âm các cuộc phỏng vấn của các cơ quan truyền thông trong những năm 1960, cả những băng cối, sử dụng rộng rãi vào thời kỳ đó.

Ông cho chúng tôi xem những băng ghi hình về Bác Hồ của nhiều đài truyền hình, các hãng thông tấn khác nhau như Đài BBC, kênh truyền hình “Lịch sử” của Mỹ (History Channel) và các cuộc phỏng vấn ông khi làm phim về Bác.

Từng tập hồ sơ, nhật ký của đội OSS ông còn giữ từ năm 1945, rồi ông đem những bức hình của các chiến sĩ Việt Minh năm xưa so sánh với những bức ảnh ông chụp với họ khi gặp lại nhau năm 1995 ở Hà Nội và năm 1997 tại New York.

Đặc biệt nhất là những bức ảnh đen trắng ông được chụp chung với Bác Hồ, đại tướng Võ Nguyên Giáp và các chiến sĩ Việt Minh. Những bức ảnh gốc đã hơn 60 năm tuổi, chúng có mặt trên các tạp chí nổi tiếng như Life Magazine của Hoa Kỳ (1978), Paris Match của Pháp (1968) và trong nhiều phim tài liệu về lịch sử ngắn ngủi trong quan hệ Việt-Mỹ.

Ông tháo trên tường một khung kính nhỏ hơn khổ giấy A4 một chút, đó là chứng chỉ do Đại học Berkeley cấp ngày 2/9/1944, công nhận ông đã học qua khóa tiếng Việt trong 9 tháng (chứng chỉ ghi là tiếng Annam).

Hóa ra có trường đại học Mỹ đã dạy tiếng Việt từ thời kỳ đó. Ông trân trọng cho chúng tôi xem từng bài viết về Bác Hồ, được cắt ra từ báo hoặc tạp chí. Đã nhiều năm trôi qua, nhiều chỗ đã hoen ố, nhưng dường như chúng vẫn mang hơi thở của thời kỳ ra đời. Và với chúng tôi, những người tìm hiểu về lịch sử thì đó là kho tài liệu vô giá.

Đề tài ông thích nhất có lẽ là nói về Bác Hồ. Ông có thể ngồi hàng giờ nói chuyện về những kỷ niệm không bao giờ quên trong thời gian hơn ba tuần được tiếp xúc với Bác.

Mặc dù là phiên dịch tiếng Việt, nhưng ông bảo Bác Hồ nói tiếng Pháp và tiếng Anh rất thạo, đương nhiên là hơn hẳn tiếng Việt của ông nên Bác thường trao đổi trực tiếp bằng tiếng Anh, khiến ông gần như… thất nghiệp.

Biết ông là người Massachusetts, Bác nhắc lại kỷ niệm về những ngày Bác sống và làm việc ở Boston và New York. Ông nhắc đi nhắc lại ấn tượng về Bác Hồ: Một con người rất đời, giản dị nhưng có chí khí mãnh liệt, một con người rất Việt, nhưng mang trong mình mọi tính cách của thành viên thuộc cộng đồng thế giới.

Ông mỉm cười khi nói đến hình ảnh ông nhớ nhất về Bác Hồ là Bác mặc áo cánh và quần sooc khi ở Tân Trào và cả khi về Hà Nội, trên cương vị Chủ tịch nước, Bác vẫn ăn mặc giản dị như thế khi tiếp đón các thành viên OSS tại Phủ Chủ tịch. Bác chiêu đãi, tặng quà và cám ơn các thành viên trong nhóm. Bác không hề tỏ ra mình là nhân vật quan trọng, khi mà trên thực tế lúc đó Bác là người vô cùng quan trọng.

Ông buồn rầu kể: “Hồ Chí Minh đã nhờ chúng tôi viết thư về Mỹ đề nghị Tổng thống Truman công nhận quyền độc lập của Việt Nam. Chúng tôi là những người lính chứ không phải các chính trị gia, nên mặc dù đã làm hết sức mình, nhưng không giúp được gì nhiều. Chỉ tiếc là những bức thư đó sau này nằm trong kho lưu trữ quốc gia. Thời điểm ấy, nước Mỹ chỉ tập trung vào châu Âu, bỏ qua khu vực Đông Nam Á.

Tổng thống Truman đã để Charlse de Gaulle quyết định vấn đề Đông Dương. Phải chăng đây cũng là một phần nguyên nhân của cuộc chiến kéo dài 30 năm? Hồ Chí Minh mời chúng tôi trở lại Việt Nam bất cứ lúc nào, thế mà phải 50 năm sau tôi mới có dịp trở lại”.

Năm 1968, khi tổng thống Johnson leo thang chiến tranh, ném bom miền Bắc, tại Mỹ phong trào chống chiến tranh trong mọi tầng lớp nhân dân, sinh viên, thanh niên đã phân đất nước thành hai cực.

Nước Mỹ tìm hiểu về cuộc chiến, một tờ báo địa phương của thành phố Worcester, tiểu bang Massachusetts nơi ông sinh sống đã đăng bài về Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ của phía bên kia qua lời kể của Henry Prunier.

Bài báo ông cho chúng tôi xem không khác những điều ông trân trọng kể về Bác hôm nay. Trong cuộc phỏng vấn do đài phát thanh thành phố thực hiện, Henry Prunier đã khẳng định: “Chúng ta không bao giờ giành chiến thắng tại Việt Nam bởi vì chúng ta chiến đấu không có mục đích. Trong khi đó, người Việt chiến đấu vì mục đích, vì niềm khao khát độc lập tự do”.

Chúng tôi hỏi ông vì sao chỉ với thời gian rất ngắn ở Việt Nam mà ông đã có kết luận như vậy? Ông trả lời: “Đơn giản lắm, người Việt có chung niềm khao khát độc lập như chúng tôi đã có ở thế kỉ 18. Khi đó chúng tôi phải giành độc lập bằng mọi giá do chính sách thuế má nặng nề của nước Anh áp đặt lên chúng tôi, vì có mục đích chúng tôi mới chiến thắng trong cách mạng Mỹ”.

Ngay sau khi ông phát biểu trên đài phát thanh, con gái ông còn đang đi học đã bị một số bạn bè và cả thầy cô quy kết là “con của cộng sản”. Ông bảo họ muốn nói gì cũng mặc, với ông, cái gì ông cho là đúng thì ông làm. Và điều ông nói đã thành sự thật. Năm năm sau, những người lính Mỹ cuối cùng đã rút khỏi Việt Nam và năm 1975, đất nước ta đã hoàn toàn thống nhất. Với người viết bài này, đây là một cuộc gặp mặt thật cảm động và khó quên. Người đang làm cuốn sách liên quan đến thời kỳ lịch sử này là ông David Thomas, một cựu binh đã tham chiến tại Playku năm 1968, người đã trân trọng quý mến Bác Hồ và vẽ trên 50 bức tranh về Bác.

Henry Prunier, cựu binh của thế chiến II, người đã tham gia giúp Việt Minh kháng chiến chống Nhật. Còn David Thomas, cựu binh của Chiến tranh Việt Nam, người đã tham chiến chống lại quân đội nhân dân Việt Nam.

Hơn 30 năm sau, tại nước Mỹ, hai thế hệ cựu binh đều gật đầu đồng tình với ý kiến của ông Prunier: “Đúng, chúng ta (người Mỹ) đã thất bại bởi vì chúng ta chiến đấu không có mục đích”.

Theo: Minh Phương
(Bài viết đăng trên Tạp chí Sự kiện nhân chứng)

bqllang.gov.vn

Người lập “bảo tàng” Bác Hồ ngay trong nhà mình

Một cụ ông, vì yêu quý Bác Hồ, đã thể hiện tình yêu của mình bằng cách bỏ ra nhiều năm đi sưu tầm tranh ảnh, tài liệu về Bác Hồ. Sau hơn 20 năm miệt mài sưu tầm, ông đã có trong tay hàng trăm bút tích cùng rất nhiều tranh ảnh Bác Hồ. Thậm chí, ông còn bỏ ra hơn trăm mét đất ngay giữa lòng thành phố để lập một bảo tàng về Bác Hồ. Cụ ông ấy có tên là Nguyễn Đình Sơn, một cựu sĩ quan thương binh, hiện đang sống ở Phường Tân Thành, thành phố Thanh Hoá.

Với dáng người nhỏ bé, có lẽ không mấy người nghĩ ông cụ đã có một thời gian dài phục vụ trong ngành công an. Theo lời kể của ông Sơn thì năm 17 tuổi, ông đã chính thức được “biên chế” trong quân đội. Đến năm 1953, ông được cử vào An toàn khu (ATK), làm nhiệm vụ “phòng gian bảo mật”, nhằm đảm bảo an toàn từ vòng ngoài cho Hồ Chủ tịch và Trung ương làm việc. Thời gian làm một người lính cận vệ, ông Sơn đã được gặp và trò chuyện với Bác Hồ đôi lần.

Ông Sơn kể, một lần ông đang tập võ cùng ông Vũ Kỳ (lúc ấy là thư ký của Bác Hồ và cũng là chỉ huy trực tiếp của ông Sơn), Bác Hồ trông thấy, đã đến tập luyện cùng. Những lần được gặp gỡ và tiếp xúc ít ỏi với Bác Hồ trong những hoàn cảnh rất bình dị khác nữa, càng làm cho lòng kính yêu Bác của ông được nhân lên. Sau này, trong 5 lần được nhận huy hiệu Bác Hồ, ông Sơn đã hai lần vinh dự được chính Người trao tặng.

Năm 1963, khi vừa học xong lớp thí điểm đại học đầu tiên của ngành công an thì vợ ông qua đời. Sau đó, ông Sơn đã xin chuyển về quê và làm việc ở Ty công an Thanh Hóa. Năm 1982, ông nghỉ hưu với cấp bậc thượng uý và chứng nhận thương binh hạng 3/4. Tính đến khi nghỉ hưu, ông đã có 28 năm phục vụ trong ngành công an và nhiều năm làm công tác bảo vệ Bác Hồ. Ngay sau khi nghỉ hưu, ông Sơn bắt tay vào việc đi sưu tầm tranh ảnh, bút tích của Bác. Ông bảo, từ lâu, ông đã mong muốn làm được một việc thật có ý nghĩa, thể hiện lòng kính yêucủa mình với Bác Hồ.

Nhưng, chỉ đến khi ông có trong tay hai bức ảnh Bác, do chính tay ông chụp được thì ông mới mơ hồ biết về những việc ông phải làm sau này. Đó là năm 1954, khi ông theo đoàn Trung ương về tiếp quản Thủ đô. Lần đó, ông đã mượn được người bạn chiếc máy ảnh và đã chụp “trộm” được hai kiểu ảnh có hình Bác Hồ. Đề tài nghiên cứu về Bác Hồ liên quan đến Thanh Hóa của ông sau này. Để việc sưu tầm tiến hành được thuận lợi, ông Sơn đã thành lập ra hẳn một Ban nghiên cứu, do ông đứng ra làm chủ nhiệm. Gọi là Ban nghiên cứu cho oai, chứ việc đi sưu tầm tài liệu, tranh ảnh và bút tích của Bác những lần về Thanh Hóa, cũng chỉ có mình ông đảm nhiệm.Sau hơn hai mươi năm sưu tầm, nghiên cứu, đến nay Ban Đề tài TLLS 2253 NV, do ông Sơn làm chủ nhiệm đã có hàng trăm bức ảnh về Bác và hàng chục bút tích (tất cả đều là bản gốc) Bác viết khi về Thanh Hóa công tác. Ngoài ra, ông còn có một lượng tài liệu khổng lồ mà ông sưu tầm được qua rất nhiều sách báo và các tạp chí.

Việc đi sưu tầm thường xuyên trong nhiều năm đã khiến lượng tài liệu trong nhà ông Sơn mỗi ngày một nhiều. Trong ngôi nhà cấp bốn cũ kỹ, tranh ảnh, tài liệu liên quan đến Bác Hồ được treo kín trên các bức tường. Ngay cả chiếc tủ sắt lớn làm bằng xác máy bay Mỹ, đặt ở gian giữa cũng đã chứa đầy tài liệu từ nhiều năm rồi. Để tránh mối mọt, mưa dột và ẩm mốc xâm hại đến các tài liệu quý, ông Sơn đã cho ép plastic hầu hết những tài liệu mà qua nhiều năm ông đã sưu tầm được. Chỉ cho khách xem tủ tài liệu, ông Sơn bảo: “Tất cả những tài liệu đều có một lai lịch cả đấy. Nhiều tài liệu, trước khi đem về đây, nó đã có cả một thời gian lưu lạc thăng trầm”.

Rồi ông lại kể, có tài liệu ông sưu tầm được khá tình cờ. Chẳng hạn, có lần nghe tin ông Kháng (một trong những người bảo vệ Bác) đang lưu giữ một bản bút tích của Người trong một chuyến vào Thanh Hóa làm việc, ông đã tìm đến và được ông Kháng chấp nhận mà không đòi hỏi gì. Song, cũng có những tài liệu ông Sơn phải năm lần bảy lượt đến thuyết phục gia chủ mới được họ chấp thuận cho đem về. Nhiều tài liệu đem được về rồi, ông lại phải mang ra tận Viện bảo tàng Hồ Chí Minh để nhờ xác minh lại xem bút tích đó có đúng là bút tích của Bác hay không.

Hễ nghe thấy ở đâu có tranh ảnh, bút tích, hay những thông tin về Bác Hồ có liên quan đến Thanh Hóa quê ông, thì đường xa đến mấy, ông Sơn cũng thu xếp công việc lẫn tiền bạc để lên đường.

Năm 2004, cô con gái của ông đi lao động bên Nga, có gửi chút tiền dưỡng già, ông Sơn đã dùng cả số tiền ấy để xây cất một ngôi nhà tử tế. Sau đó, ông đã chuyển dần những tài liệu từ gian nhà cấp bốn lên trưng bày tại ngôi nhà mới. Ông bảo: “Mình già rồi, sống thế nào cũng được. Nhưng những tài liệu mình đã dày công sưu tầm và nghiên cứu này thì không thể để mối mọt hoặc ẩm mốc làm hỏng được”!

Trong ngôi nhà mới xây, ông Sơn cho dựng một tấm bia đá có khắc dòng chữ rất to, rất ấn tượng ngay tại phòng khách: “Đời đời nhớ công ơn Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại và các anh hùng liệt sĩ”. Ông bảo, nhờ Hồ Chủ tịch và công ơn các anh hùng liệt sĩ mà đất nước thoát khỏi ách nô lệ, nhân dân được hưởng cuộc sống ấm no, hạnh phúc ngày nay. Ông muốn sau này, ngôi nhà của ông, nếu không trở thành một bảo tàng nhỏ về Bác Hồ, thì ít nhất, nó cũng trở thành một ngôi nhà truyền thống, có thể giáo dục lý tưởng và lòng yêu nước cho lớp trẻ trong vùng.

Sự thực thì từ lâu, ngôi nhà của ông Sơn đã trở thành một địa chỉ văn hóa được nhiều người tìm đến. Những lúc có khách, ông Sơn nhanh nhẹn và hoạt bát lạ thường. Ông giới thiệu với khách ý nghĩa và lai lịch của từng bức ảnh, lai lịch của từng trang tài liệu. Nếu vị khách nào muốn biết Bác Hồ đã bao nhiêu lần về Thanh Hóa, về trong thời gian nào, ở đâu, làm gì, ông có thể nói làu làu một cách chính xác đến khó tin.

Năm nay, ông Sơn đã bước sang tuổi 79. Ông bảo, bây giờ ông cũng chẳng đi lại được nhiều nữa. Vì vậy, lúc nào ông cũng đau đáu lo đề tài ông đã dày công nghiên cứu sau này sẽ không có người kế tục. Còn về ngôi nhà, ông vẫn thích gọi nó với cái tên Nhà bảo tàng hơn là cái tên Nhà trưng bày, dù để trở thành một nhà bảo tàng theo đúng nghĩa, thì ngôi nhà của ông còn cần thêm rất nhiều thứ nữa.

Rồi ông lại bảo, đến một lúc nào đó, ông sẽ hiến toàn bộ ngôi nhà cùng những tài liệu quý báu ông đã sưu tầm được cho Nhà nước. Bởi ông cho rằng, chỉ có Nhà nước quản lý thì những tài liệu và hiện vật trong ngôi nhà mới phát huy được hết những giá trị tinh thần của nó.

Trọng Tuyến
(Đăng trên Vietimes)

bqllang.gov.vn

“Càng già chí khí càng dai…”

Bác Tôn Đức Thắng sinh năm 1888, hơn Bác Hồ 2 tuổi. Tình cảm giữa Bác Hồ và Bác Tôn cũng hình thành từ rất sớm, khi hai người chưa hề gặp nhau: Bác Tôn Đức Thắng từng ngưỡng mộ Nguyễn Ái Quốc từ năm 1919 khi Người còn hoạt động trên đất Pháp, đã đưa ra “Bản yêu sách của nhân dân An Nam” 8 điểm đòi quyền độc lập cho Việt Nam làm chấn động Hội nghị Véc-xây… Nhưng mãi đến cuộc Tổng tuyển cử ngày 6-1-1946, khi Bác Tôn được bầu là đại biểu Quốc hội và ra Hà Nội làm việc, lần đầu tiên Bác Tôn và Bác Hồ mới gặp mặt nhau.

Tại phiên họp vào ngày 8-11-1946 của kỳ họp thứ hai Quốc hội khóa một, khi Chủ tịch Chính phủ liên hiệp (lâm thời) Hồ Chí Minh phát biểu từ chức, trao quyền để Quốc hội chọn người đứng ra lập Chính phủ mới-Chính phủ “tập họp nhân tài, đoàn kết kháng chiến”-thì đại biểu Quốc hội Nam Bộ Tôn Đức Thắng đã đứng lên dõng dạc phát biểu ý kiến: “Tôi xin giới thiệu Cụ Hồ Chí Minh, tức nhà yêu nước Nguyễn Ái Quốc là người xứng đáng hơn ai hết, đứng ra thành lập Chính phủ mới”. Ý kiến của Bác Tôn đã làm cho nhóm đại biểu các đảng phái phản động chưng hửng, thất vọng vì họ đã chuẩn bị sẵn một “danh sách tân chính phủ”…

Sau ngày Toàn quốc kháng chiến 19-12, Bác Tôn cùng hai con gái là Hạnh, Nghiêm đều đã tham gia cách mạng được theo cha lên chiến khu Việt Bắc công tác. Trong kháng chiến chống Pháp, Bác Tôn là quyền Bộ trưởng Nội vụ, Trưởng ban vận động thi đua ái quốc Trung ương, Trưởng ban Thường trực Quốc hội… Giữa chiến khu Việt Bắc những ngày kháng chiến, Bác Hồ thường mời Bác Tôn đến gặp để đàm đạo công việc, trao đổi ý kiến về những công việc cụ thể nhằm đẩy mạnh phong trào Thi đua ái quốc, đẩy mạnh kháng chiến.

Bác Tôn cũng là người có phong cách rất cần kiệm trong đời sống, giản dị trong sinh hoạt. Hai Bác xưng hô với nhau rất thân mật bằng đại từ “cụ” và thân tình như một đôi bạn tri kỷ luôn “tâm đầu ý hợp”. Sau ngày kháng chiến thành công, trở về sống ở Thủ đô, Bác Hồ vẫn chỉ ở và làm việc tại căn phòng của người thợ điện cạnh tòa nhà Phủ Chủ tịch. Ngày vợ chồng hai người con gái là chị Hạnh-anh Phúc và chị Nghiêm-anh Trúc theo cha (Bác Tôn) về Hà Nội, thì bà Giàu từ miền Nam tập kết ra, lúc này gia đình mới sum họp. Ở nhà 35 Trần Phú, vợ chồng chị Hạnh, chị Nghiêm cũng chỉ có một phòng rộng không quá 20m2, hai chị em nhất định nhường cho ông thư ký riêng của cha căn phòng rộng hơn, vì “gia đình ông đông người hơn”. Ở Hà Nội, Bác Hồ thường sang thăm gia đình Bác Tôn. Thấy Bác Tôn làm việc, nghỉ ngơi trên tầng 2, hằng ngày thường phải lên xuống cầu thang không thuận tiện và tốn sức tuổi già, Bác Hồ nhắc Văn phòng: “Phải sắp xếp và đưa cụ xuống tầng dưới để ít phải đi lại, xuống hầm (hầm trú ẩn tránh bom đạn khi máy bay Mỹ đánh phá) cũng nhanh hơn…”. Những thời gian có thể, thường vào chiều thứ bảy trong tháng, Bác Hồ lại cho mời Bác Tôn sang nhà sàn cùng ăn cơm và đàm đạo với nhau. Mỗi lần như vậy, khi đến giờ, Bác Hồ ra tận gốc cây sát bờ ao thả cá đứng đợi “đón bạn”. Khi Bác Tôn đến, Bác Hồ lên tiếng: “Chào cụ!”. Bác Tôn cũng liền chắp hai bàn tay đáp lại: “Chào cụ !” đáp lễ…

Vào dịp kỷ niệm 70 năm ngày sinh của Bác Tôn (20-8-1958), Quốc hội quyết định tặng Bác Tôn Đức Thắng Huân chương Sao Vàng. Tại buổi lễ, trước khi gắn huân chương lên ngực áo Bác Tôn, Bác Hồ rất vui và rất xúc động phát biểu: “Đồng chí Tôn Đức Thắng là một gương mẫu đạo đức cách mạng: Suốt đời cần, kiệm, liêm, chính; suốt đời hết lòng hết sức phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân… Thay mặt nhân dân và Chính phủ, tôi trân trọng trao tặng đồng chí Tôn Đức Thắng Huân chương Sao Vàng, là huân chương cao quý nhất của nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa, mà đồng chí Tôn Đức Thắng là người đầu tiên và rất xứng đáng được tặng…”.

Hai năm sau, ở tuổi 72, kỳ họp Quốc hội tháng 7-1960 đã tín nhiệm bầu Bác Tôn làm Phó chủ tịch nước. Bác Tôn không chịu nhận có thêm thư ký riêng với lý do “công việc không nhiều”, sử dụng thêm một cán bộ là lãng phí. Nhưng Bác Hồ không tán thành, vì Bác Tôn tuổi đã cao. Bác Hồ bàn với Văn phòng sắp xếp công việc để có người giúp việc Bác Tôn, nên năm 1962 mới có người giúp việc-thư ký cho Bác Tôn, đó là ông Lê Hữu Lập… Cho đến năm Mậu Thân 1968, Bác Tôn Đức Thắng tròn 80 tuổi giữa thời kỳ cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đang rất quyết liệt. Bác Hồ lúc đến chúc thọ người bạn già tri kỷ Tôn Đức Thắng, đã tặng bạn hai câu thơ:

Càng già chí khí càng dai
Chống Mỹ, cứu nước ít ai hơn già”.

Tuấn Hải
(Tạp chí Sự kiện nhân chứng)

bqllang.gov.vn

Người lập bàn thờ Bác trong Khu Di tích Phủ Chủ tịch

“Với tất cả tấm lòng thành kính, năm 2001, tức ba năm trước khi về hưu, tôi “xin” Bác một phòng ngay gần nhà sàn, nơi Bác ngồi ký các sắc lệnh xưa kia, làm nơi thờ cúng Người”. Anh cảnh vệ năm xưa nay đã ngoại lục tuần, Trần Viết Hoàn, kể.

Trong số những cảnh vệ trẻ khi xưa của Bác Hồ, có lẽ ông Trần Viết Hoàn là người gắn bó lâu năm nhất với Bác. Tự nhận có “diễm phúc” được ở bên Người trong 3 năm cuối ở nhà sàn và 16 năm ở cương vị Giám đốc Khu di tích Phủ Chủ tịch, ông Hoàn được mọi người gọi với cái tên “Ông từ giữ đền”. Dáng cao dong dỏng, tóc bạc trắng, ông Trần Viết Hoàn gây ấn tượng ở đôi mắt sáng và nụ cười rạng rỡ. “Từ khi về hưu năm 2004 đến nay, cứ ngày mồng 1 hàng tháng, tôi lại tới thắp hương cho Cụ ở căn phòng mà tôi đã “xin” Bác. Năm nào cơ quan cũng làm giỗ cho Bác vào ngày 21 tháng 7 âm lịch”. Bao năm ở bên Bác, canh cho Bác từng bữa ăn, giấc ngủ, nay “ông từ” Hoàn vẫn nhớ nguyên cảm giác lạnh lẽo khi bước vào nhà sàn sau khi Bác mất.”Tại nhà nơi Bác mất, anh em đặt lư hương để thắp hương cho Bác bên cạnh cửa sổ. Đến năm 2001, tôi “xin” Bác cho một phòng mà Bác vẫn ngồi ký các sắc lệnh để mọi người về có chỗ tưởng nhớ người ông, người cha của mình”.Trong căn phòng nhỏ nằm ngay gần nhà sàn, ông Hoàn cho đặt tượng Bác, bên trên có tấm hoành phi ghi 4 chữ “Cần, kiệm, liêm, chính”. Hai bên tượng là câu đối: Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công.

Khi được hỏi “Ông cầu khấn gì mỗi lần thắp hương cho Bác?”, ông Hoàn cười: “Tôi chỉ khấn đúng như thế này: Cầu mong Bác trong giấc ngủ bình an ban phước ban lộc cho mọi người được mạnh khỏe, tiến bộ. Chứ tuyệt nhiên tôi không xin cho mình điều gì cả”. Thế nhưng ngẫm ra, ông thấy mình được Bác ban phát rất nhiều “lộc”: một gia đình hạnh phúc, con cái phương trưởng. Lạ một điều, cả nhà ông đều quây quần bên Bác. Vợ ông trước khi về hưu làm kế toán ở Bảo tàng Hồ Chí Minh. Con trai ông hiện là trưởng phòng bảo vệ Khu Di tích, con gái làm ở phòng thuyết minh. Nhớ lại cách đây 44 năm, chàng sinh viên ngoại ngữ Trần Viết Hoàn, khi đó mới tròn 20, được chuyển sang trường Công an Trung ương (C500) rồi được phân công về Cục Cảnh vệ, Bộ Công an. “Năm 1963, khi còn học ở trường Ngoại ngữ, tôi được đứng ở cổng Nhà khách Chính phủ vẫy chào Chủ tịch Trung Hoa Lưu Thiếu Kỳ. Đó cũng là lần đầu tiên, tôi được nhìn thấy Cụ Hồ trong lễ đón. Người cứ lâng lâng vì vui và tự hào”, ông Hoàn nhớ lại.Năm 1966, Trần Viết Hoàn được điều về đội 1 trực tiếp bảo vệ Bác Hồ, tổ bảo vệ nhà sàn. “Đó là cả một diễm phúc. Người Việt Nam ta, từ cụ già đến em nhỏ, ai mà chẳng muốn gặp Bác dù chỉ một lần. Đằng này, tôi lại được nhìn thấy Bác hàng ngày”.Một buổi trưa, chàng cảnh vệ Hoàn đi gánh nước tưới rau, đúng lúc Bác đi bách bộ theo thói quen mươi – mười lăm phút trước bữa ăn. “Thấy Bác, tôi giật mình lùi lại. Bác mới bảo: Này chú, việc chú, chú cứ làm, việc Bác, Bác đi. Ông kể, có anh gặp Bác trên đường khi đang đi xe đạp bèn xuống xe. Bác liền nói: “Bác có phải đền Bạch Mã đâu mà các chú xuống xe”. “Bác thường xuống thăm anh em nhà bếp và cảnh vệ, xem anh em ăn uống thế nào. Đi công tác về, bao giờ Bác cũng có quà, lần thì điếu thuốc, lần thì cái kẹo, quả táo”. Theo lời ông Hoàn, những dịp đặc biệt, Bác Hồ cho anh em bảo vệ bắt cá từ ao mà thường ngày Bác vẫn chăm sóc để biếu các cụ già, cháu nhỏ, các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước và để anh em cải thiện bữa ăn.”Năm 1968, chúng tôi bắt được một con cá trắm cỏ rất to. Bác bảo: Các chú thử cân xem con cá nặng bao nhiêu. Anh em nhà bếp lấy bàn cân ra nhưng không sao cân nổi, vì đầu, đuôi con cá cứ chạm xuống đất. Bác nói: Một chú bê con cá và đứng lên cân, rồi trừ trọng lượng của chú ấy đi. Mọi người làm theo lời Bác thì biết được con cá nặng tới 24 kg. Lúc đó, Bác nói: “Bắt con cá này lên để đề phòng cá lớn nuốt cá bé”.

Sau này, khi giữ chức Giám đốc Khu di tích, ông Trần Viết Hoàn kể câu chuyện trên cho nhiều đoàn khách, trong đó có các nguyên thủ quốc gia, nhiều vị nghe mà lặng người. Kỷ niệm về Bác, ông Hoàn có thể kể hàng giờ. Mỗi câu chuyện là một bài học. Về một nhân cách lớn. “Ngần ấy năm sống ở gần Bác, tôi không hề thấy Bác cáu giận. Thư ký của Bác, ông Vũ Kỳ kể với chúng tôi: Có lần, ông tự nhận với Bác là còn cáu gắt với anh em. Bác bảo: Chú ở với Bác lâu, Bác cũng ở với chú lâu, Bác chưa bao giờ thấy chú cáu gắt với Bác cả. Thế cáu gắt với anh em có phải vì chú cậy mình là cấp trên không?”.Ông nhớ hồi chiến tranh phá hoại, Bác Hồ dứt khoát không đi sơ tán, “Bác bỏ dân làm sao được”. Bộ Chính trị bèn bàn việc xây cho Bác một căn hầm bằng bê tông để tránh bom bi, mảnh đạn. Nhưng Bác vẫn nói: “Trước khi lo cho Bác, các chú hãy lo cho dân đi đã”.Tháng 5/1967, đúng dịp sinh nhật mình, Bác lại “đi vắng” như mọi năm, tránh phiền mọi người đến chúc mừng. “Bác sang Trung Quốc trong thời gian 2 tháng để chữa bệnh luôn. Ở nhà, Bộ Chính trị quyết định làm nhanh cho Bác căn nhà bê tông, tường dày đến 60 phân, do bên công binh thiết kế, thi công”. Ông Hoàn nhớ như in, ngày 20/7, Bác về. Bộ Chính trị chuẩn bị đón Bác ở ngôi nhà mà trước khi đi chưa có. “Hôm đó, Bác chỉ hỏi: Đây là sáng kiến của chú nào?”. Đồng chí Phạm Hùng thay mặt Bộ Chính trị đứng lên báo cáo: “Thưa Bác, đây là nguyện vọng của quần chúng nhân dân. Bác nói: “Bộ Chính trị làm thì Bộ Chính trị ở đi, Bác có nhà sàn rồi!”.”Thế nhưng, với tinh thần tôn trọng tập thể và giữ kỷ luật của Đảng, Bác quyết định nơi đây sẽ là nơi họp hàng tuần của Bộ Chính trị. Căn nhà kiên cố mà Bộ Chính trị làm cho Bác đã trở thành trụ sở của Bộ Chính trị như thế đó”.Người cảnh vệ năm nào kể: Nhiều đêm, Bác xuống hầm để ở, tránh bom, vì thế trong nhà có một chiếc giường. Từ ngày 12/8/1969, tuy mệt nhưng Bác vẫn lên, xuống nhà đó. Đến ngày 17/8, Bác yếu đi nhiều, bác sỹ đề nghị Bác ở lại. Bác chấp hành ý kiến. “Không ngờ, căn nhà đó lại là nơi chứng kiến những ngày cuối cùng của Bác, chứng kiến quy luật của cuộc đời”.Ở bên Bác đến 3 năm, hình ảnh in đậm nhất trong trí nhớ của ông Trần Viết Hoàn là hình ảnh vị lãnh tụ ngồi làm việc, mặc quần cộc, áo cộc rất thoải mái, bên chiếc đèn bàn có chao làm bằng giấy hồng. “Gương mặt Bác hồng lên, gió thổi nhẹ làm chòm râu đung đưa. Những lúc ấy, Bác giống hệt một ông tiên”.Ông Trần Viết Hoàn nhận quyết định làm Giám đốc Khu Di tích Phủ Chủ tịch vào 8h sáng ngày 8/8/1988. Suốt trong 16 năm đất nước bắt đầu hội nhập thế giới, “Ông từ giữ đền” đã có hơn 60 lần tiếp các nguyên thủ quốc gia, những người lần đầu tiên đến thăm Việt Nam.”Đoàn nào có ông Hoàn xuất hiện, tiếp đón, thuyết minh thì không khí trang trọng lên rất nhiều”, các cán bộ của ông nói. Ông nhớ mãi chuyến du lịch sang Nga cùng vợ tháng 11/2002. Dù chỉ đi một tuần lễ nhưng vợ chồng ông được Bộ Văn hóa Nga tiếp đón thân tình, theo yêu cầu của đích thân Tổng thống Putin.”Ấy là nhờ một năm trước đó, sau khi thăm xong khu Di tích, Tổng thống Putin dừng lại nói với tôi: Tôi xin hỏi ông, ông có được gặp Cụ Hồ bao giờ không? Tôi trả lời: Cám ơn Tổng thống, tôi là một trong những người trực tiếp bảo vệ Bác Hồ. Ông Putin bèn nói: Tôi rất kính trọng Bác Hồ. Tôi sẽ mời ông và cả phu nhân sang thăm Nga. Ngay 4 giờ chiều nay, tôi bay về nước, mời ông đi ngay với tôi”.Trước lời mời bất ngờ của Tổng thống Nga, ông Hoàn phải tìm cách thoái thác: “Tôi còn công việc bề bộn, thu xếp chưa xong. Xin khất ngài vào dịp khác”. Nghe vậy, Tổng thống Putin yêu cầu vị đại sứ đi cùng làm việc với Bộ Văn hóa Nga thu xếp một chuyến thăm Nga cho ông Hoàn và vợ. Trước đó, vào năm 1998, sau khi được ông Hoàn tiếp đón, Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng Ban Tổ chức TW Đảng CS Trung Quốc Tăng Khánh Hồng cũng quyết định mời ông Hoàn sang thăm Trung Quốc và giao cho Nhà tưởng niệm Mao Trạch Đông tiếp đón ông. Sau chuyến đi của ông Hoàn, Khu Di tích Phủ Chủ tịch và Nhà tưởng niệm đã kết nghĩa với nhau và duy trì những chuyến thăm hỏi, học tập lẫn nhau đến tận bây giờ. Còn rất nhiều kỷ niệm nữa giữa ông Hoàn với các vị lãnh đạo cấp cao trên thế giới, từ chuyện tặng Huy hiệu Bác Hồ cho Chủ tịch Cuba Fidel Castro, chuyện “đuổi theo” Tổng thống Pháp Mitterrand khi ông bất ngờ vào thăm ao cá Bác Hồ… Vị cựu Giám đốc Khu Di tích Phủ Chủ tịch chẳng khác nào một pho từ điển sống. “Có ai được những diễm phúc ấy. Tôi cho rằng đó là “lộc” của Cụ Hồ. Hưởng lộc, hưởng phước mà Cụ ban cho thì phải sống và làm việc cho xứng đáng”, ông Hoàn vẫn tự răn mình.Người lính bảo vệ Bác năm xưa tự hào trong suốt cuộc đời luôn giữ được mình, rèn mình không để vi phạm điều gì về đạo đức, nhân cách, không mảy may thu vén mưu lợi riêng. Nay đã ngoại lục tuần, ông Trần Viết Hoàn đang chuẩn bị tập hợp các bài viết, các bài nói chuyện của mình thành một cuốn sách. “Nhớ Bác Hồ, những điều bình dị” – người cảnh vệ năm xưa của Hồ Chủ tịch dự định đặt tên cho cuốn sách mà mình ấp ủ lâu nay.

Theo Báo Vietnam net

bqllang.gov.vn

“Nói đi đôi với làm, lý luận gắn với thực tiễn” – tư duy, phong cách, tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh

Nếu nói nhiều, làm ít, hoặc nói mà không làm, hơn nữa nói một đằng làm một nẻo thì giá trị đạo đức đó bị xem thường, thiếu niềm tin. Suốt cuộc đời mình, Hồ Chí Minh đã giáo dục cho mọi người và chính bản thân Người đã thực hiện điều này một cách nghiêm túc và đẩy đủ nhất.

Trong giáo dục rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên Người nói: Nếu cán bộ, đảng viên tư tưởng và hành động không nhất trí thì khác nào “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược”, như vậy thì không thể lãnh đạo quần chúng, không thể làm được cách mạng; đối với cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội, Người dạy “quân lệnh như sơn” nghĩa là lệnh cấp trên đã ra thì vô luận thế nào cũng phải thi hành; trong gia đình lời nói, việc làm mẫu mực của cha mẹ có ảnh hưởng giáo dục rất quan trọng đối với các con, của anh chị đối với các em; trong nhà trường là tấm gương của thầy, cô giáo đối với học sinh; trong tổ chức, tập thể đó là tấm gương của những người phụ trách, lãnh đạo cấp trên đối với cấp dưới; trong xã hội đó là tấm gương của người này đối với người khác, v.v… Sinh thời, Người thường phê phán những cán bộ, đảng viên nói một đàng, nhưng làm một nẻo, nói không đi đôi với làm, nói nhiều làm ít, thậm chí nói suông mà không làm. Người nêu kinh nghiệm trong sử dụng cán bộ: “những người hay khoe khoang công việc, hay a dua, tìm việc nhỏ mà làm, tránh việc lớn, trước mặt thì theo mệnh lệnh, sau lưng thì trái mệnh lệnh, hay công kích, ghen tị với người khác, tự tâng bốc mình, … những người như thế, tuy họ làm được việc, cũng không phải là cán bộ tốt”. Theo Người, lời nói đi đôi với việc làm, học đi đôi với hành là phẩm chất của người cán bộ, đảng viên. Nó thể hiện lòng trung thực, ngay thẳng, thật thà trong công việc. Người cho rằng, một cán bộ, đảng viên tốt, khi được giao việc thì phải làm đến nơi đến chốn, tìm mọi cách khắc phục khó khăn để hoàn thành nhiệm vụ; tuyệt đối không được “đánh trống bỏ dùi”, nếu thấy công việc quá sức mình thì phải thỉnh thị báo cáo kịp thời để cấp trên phân công cho người khác. Người rất quý trọng những cán bộ, đảng viên có tinh thần thái độ làm việc tận tâm tận lực, ngay thẳng, nói đi liền với làm, nói ít làm nhiều, cầu thị, không khoe khoang, dấu dốt, không che dấu khuyết điểm, không chọn việc dễ, tránh việc khó, bất kỳ trong hoàn cảnh nào, lòng dạ không thay đổi. Những cán bộ như thế theo Người dù trong công tác họ có kém một chút nhưng cũng là cán bộ tốt cần được khuyến khích sử dụng.

Học tập tư tưởng tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh, hơn 20 năm đổi mới, với quan điểm lãnh đạo và đường lối đúng đắn, sáng tạo, quyết tâm thực hiện bằng được mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, Đảng và Nhà nước đã tạo được bước đột phá về phát triển kinh tế – xã hội, đất nước đang trên đường thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu. Kinh tế, chính trị, văn hóa – xã hội, an ninh – quốc phòng đạt được những thành tựu to lớn. Đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện và ngày một nâng cao. Sau khi gia nhập WTO nước ta sẽ có nhiều cơ hội phát triển phồn thịnh; điều đáng ghi nhận là: những năm qua học tập phong cách “nói đi đôi với làm” của Chủ tịch Hồ Chí Minh các cấp lãnh đạo từ Trung ương đến địa phương đã thực sự quan tâm đề cao, nhiều tổ chức cơ sở đảng ở cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp… giữa chủ trương đề ra và biện pháp tổ chức thực hiện có sự thống nhất, quyết tâm cao, phát huy được sáng kiến, quy tụ được lòng tin của cán bộ, đảng viên và quần chúng trong tổ chức thực hiện, góp phần đưa Nghị quyết của Đảng dần đi vào cuộc sống. Đã xuất hiện thêm nhiều giá trị đạo đức mới trong đội ngũ cán bộ, đảng viên như sự năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, quyết tâm vượt khó, quyết chí làm giàu, đoàn kết giúp nhau cùng phát triển, xây dựng nếp sống trong sạch lành mạnh…

Tuy nhiên, trong điều kiện hiện nay, bên cạnh những ưu điểm, thì một trong những khuyết điểm, yếu kém mà Đảng ta mạnh dạn chỉ ra là: “Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, khả năng nhận thức, vận dụng, cụ thể hóa và tổ chức thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và cấp ủy cấp trên của nhiều tổ chức cơ sở đảng còn yếu, chưa đủ sức phát hiện, giải quyết những vấn đề phức tạp xảy ra ở cơ sở; có tổ chức cơ sở đảng bị mất sức chiến đấu… cá biệt có tổ chức cơ sở đảng mờ nhạt, có nơi chỉ tồn tại trên danh nghĩa; một số cấp ủy, cán bộ đảng viên còn làm theo, ủng hộ cho những việc làm sai trái, vi phạm pháp luật của người đứng đầu cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp…”. Một thực trạng đáng buồn hiện nay là: một bộ phận cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất về chính trị, tư tưởng, về đạo đức, lối sống; giữa “lời nói không đi đôi với việc làm” gia trưởng, quan liêu, xa dân, lợi dụng chức quyền tham ô, tham nhũng, làm giàu bất chính. Tệ hại hơn còn có những cán bộ, đảng viên có cương vị lãnh đạo hẳn hoi miệng luôn nói lời cao đạo, giáo huấn, mị dân nhưng tư tưởng và việc làm thì cầu danh, trục lợi, chuyên quyền, độc đoán, đứng trên tập thể, trên quần chúng, đầu óc mang nặng tư lợi cá nhân, việc gì có lợi cho mình tìm đủ mọi cách để chiếm đoạt, việc gì không có lợi thì thờ ơ, lãnh đạm; lợi dụng dân chủ để kéo bè, kết cánh, mưu toan đấu đá, thanh lọc lẫn nhau làm rối loạn kỷ cương… đã đem lại không ít những vấn đề làm cho toàn xã hội và chúng tap hải băn khoăn lo lắng.

Hiện nay, toàn Đảng đang quán triệt và tổ chức thực hiện các Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6, khóa X của Đảng gắn với việc “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, thiết nghĩ rằng, đối với mỗi tổ chức Đảng khi nghị quyết việc gì phải được bàn bạc thống nhất trong tập thể, cân nhắc thận trọng. Khi đã ra Nghị quyết rồi thì phải kiên quyết thi hành, đảng viên trong chi bộ phải nghiêm túc thực hiện, nếu cố tình làm sai nghị quyết, quy chế, quy định của Đảng phải chịu kỷ luật; mỗi cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức ở bất cứ điều kiện hoàn cảnh nào cũng cần phải tích cực lao động, học tập, công tác với tinh thần sáng tạo, có năng xuất, chất lượng, hiệu quả cao; biết quý trọng công sức lao động và tài sản của tập thể, của nhân dân, không xa hoa, lãng phí, không phô trương hình thức; kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân, lối sống thực dụng, chạy theo danh vọng, địa vị, tiền tài; lạm dụng chức quyền để chiếm đoạt của công, thu vén cho cá nhân, gia đình. Ở bất cứ cương vị lãnh đạo nào khi làm việc gì trước hết phải vì tập thể, vì nhân dân, phải đề cao trách nhiệm không tham lam, vụ lợi, khắc phục thói vô cảm, lãnh đạm, thờ ơ trước khó khăn, bức xúc của nhân dân, hướng mọi suy nghĩ và hành động của mình vào việc lo cho dân, giúp dỡ dân, học hỏi dân, thấu hiểu tâm tư nguyện vọng của nhân dân, đồng thời cũng phải biết làm cho dân hiểu, dân tin, rèn luyện tác phong quần chúng trong sinh hoạt; sống có trước có sau, trong sạch, giản dị, khiêm tốn, chính trực, vượt qua những cám dỗ, ham muốn tầm thường về vật chất cũng như danh vị, chức, quyền… có như vậy cán bộ, đảng viên chúng ta mới thật sự là “công bộc của dân”, xứng đáng với sự tin cậy yêu mến của nhân dân.

Nguyễn Quang Tuyến
Bộ đội Biên phòng Quảng Ninh

bqllang.gov.vn

Vai trò và ý nghĩa lịch sử của tác phẩm “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”

Nhân dịp kỷ niệm 79 năm thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3/2/1930-3/2/2009), cũng là ngày kỷ niệm 40 năm Chủ tịch Hồ Chí Minh viết tác phẩm: “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” (3/2/1969-3/2/2009), việc phát động học tập nghiên cứu tác phẩm đó để rút ra những bài học cần thiết trong tình hình hiện nay là một hành động dũng cảm, có tính cách mạng. Khẳng định như vậy là trên cơ sở nhận thức đúng đắn về giá trị lý luận và thực tiễn của tác phẩm, để từ đó đi thẳng vào vấn đề, vạch ra những phương sách và biện pháp thích hợp nhằm giải quyết những tồn tại, vướng mắc, cản trở trên con đường đi lên của cách mạng lúc này đây được đặt ra một cách cấp thiết.

Nói về tác phẩm: “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”, có một đặc tính chung với các tác phẩm khác của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đó là được viết rất ngắn gọn, súc tích. Chỉ với chưa đầy 700 từ (684 từ) Chủ tịch Hồ Chí Minh đi ngay vào vấn đề, nêu rõ mục đích cụ thể của việc viết tác phẩm. Ngay tên tác phẩm đã cho thấy căn bệnh trầm kha, gốc của mọi tệ hại, đó là “chủ nghĩa cá nhân” và khẳng định phương thuốc cơ bản, lợi hại nhất để diệt trừ căn bệnh là “nâng cao đạo đức cách mạng”.

Mở đầu bài viết là những dòng tổng kết ngắn gọn về truyền thống yêu nước cách mạng của nhân dân ta, mà tiêu biểu là đảng viên cán bộ dưới sự lãnh đạo của Đảng. “Đảng ta lãnh đạo rất sáng suốt, để đưa dân tộc ta tiến lên không ngừng từ thắng lợi này đến thắng lợi khác… Đảng ta đã đào tạo một thế hệ thanh niên cách mạng, gái cũng như trai, rất hăng hái, dũng cảm trong mọi công tác…”. “Đó là những bông hoa tươi thắm của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, nhân dân ta và Đảng ta rất tự hào vì có những người con xứng đáng như thế”. Chuyển sang phần 2, bài viết đã đi vào nhận định, đánh giá tình hình, nêu rõ bên cạnh mặt tốt còn một số ít cán bộ, đảng viên mà đạo đức, phẩm chất còn thấp kém vì mang nặng “chủ nghĩa cá nhân”, việc gì cũng nghĩ đến lợi ích riêng của mình trước hết. Họ không lo “ mình vì mọi người” mà chỉ muốn “mọi người vì mình… Tóm lại do cá nhân chủ nghĩa mà phạm nhiều sai lầm”. Cuối cùng khẳng định phía Đảng phải làm những gì, mỗi cán bộ, đảng viên phải xác định tư tưởng và hành động ra sao để nâng cao đạo đức cách mạng, nâng cao trình độ hiểu biết để làm tốt mọi nhiệm vụ cách mạng, góp sức nhiều hơn nữa cho sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước toàn thắng và xây dựng chủ nghĩa xã hội thành công.

Để nhận thức đầy đủ giá trị lý luận và thực tiễn của tác phẩm “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” điểm đầu tiên cần làm rõ là tại sao Chủ tịch Hồ Chí Minh lại viết tác phẩm và cho công bố tác phẩm này vào năm 1969. Đối chiếu với lịch sử nước ta, năm 1969 mở đầu cho một thời kỳ đấu tranh đầy gay go, gian khổ, đòi hỏi một tinh thần đấu tranh quyết liệt đầy hy sinh gian khổ – một sự hy sinh cao cả, không bờ bến. Trong cuộc đấu tranh “cuối cùng” này mọi tư tưởng riêng tư, quyền lợi ích kỷ của cá nhân đều phải lùi bước.

Sau cuộc Tổng tấn công và nổi dậy năm 1968, mở đầu bằng cuộc tập kích chiến lược Tết Mậu Thân, một đòn bất ngờ góp phần quyết định chiều hướng của cuộc chiến tranh ở Việt Nam, làm phá sản chiến lược “chiến tranh cục bộ” của Mỹ, làm chấn động dư luận nước Mỹ và thế giới. Tổng thống Mỹ là Nichxơn đã đưa ra chiến lược quân sự “Ngăn đe thực tế”, một chiến lược toàn cầu mới nhằm khôi phục lại sức mạnh của Mỹ, cố giữ vai trò “sen đầm quốc tế”, vai trò lãnh đạo “thế giới tự do”. “Học thuyết Nicxơn” được thực hiện thí điểm ở Việt Nam, đó là chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh” với âm mưu cơ bản là dùng người Việt đánh người Việt với bom đạn, đô la Mỹ, do người Mỹ chỉ huy và vì lợi ích của Mỹ. Với chiến lược “Việt Nam hoá”, Mỹ rút quân khỏi Việt Nam với mục đích tránh những tồn thất lớn hơn đối với quân viễn chinh Mỹ, nhưng vẫn cố tình bám giữ miền Nam Việt Nam.

Trong bối cảnh đó, với âm mưu độc ác của đế quốc Mỹ như vậy, tất nhiên cuộc chiến đấu của dân tộc ta cho Độc lập, thống nhất càng trở nên quyết liệt, gian khổ hơn. Ngay từ trong những năm đầu (1960-1970) của “Việt Nam hoá chiến tranh”, Mỹ đã gây cho ta không ít khó khăn: cơ sở của ta ở nông thôn bị tổn thất, căn cứ cách mạng bị phá hoại, phong trào quần chúng bị giảm sút. Để vượt qua nhưng khó khăn to lớn do đế quốc Mỹ và tay sai gây ra, quân dân ta trên cả hai miền Nam – Bắc nghe theo lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh nhân kỷ niệm 15 năm ký Hiệp định Giơnevơ về Đông Dương (21-7-1954), đã (và phải) nêu cao hơn nữa chủ nghĩa anh hùng cách mạng, không sợ hy sinh, gian khổ, quyết kiên trì đẩy mạnh cuộc kháng chiến, quyết chiến quyết thắng, đánh cho quân Mỹ phải rút hết sạch, đánh cho ngụy quân và ngụy quyền phải sụp đổ hết, giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, tiến tới hoà bình thống nhất nước nhà.

Đáp lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, miền Nam tiếp tục giành thêm nhiều thắng lợi trong cuộc chiến đấu chống “Việt Nam hoá chiến tranh” trên tất cả các mặt trận quân sự, chính trị, ngoại giao và đã thu được những thắng lợi to lớn, đáng phấn khởi, tự hào. Ngay năm 1969 đã được mở đầu bằng những cuộc phản công chiến lược của quân dân ta, liên tiếp đánh bại 3 cuộc hành quân lớn của Mỹ – ngụy. Bước sang năm 1970 đến năm 1971, quân dân ta trên đà thắng lợi đã phối hợp với quân đội giải phóng Lào và Cămpuchia đánh bại cuộc hành quân của 10 vạn quân Mỹ và quân đội Sài Gòn.

Bài học lịch sử cao quý đó vẫn không ngừng phát huy giá trị và gần như là một quy luật, là cứ mỗi khi cuộc chiến đấu của nhân dân ta sắp bước vào một giai đoạn ác liệt, đạt tới đỉnh điểm thì bài học lịch sử đó vẫn giữ nguyên giá trị ban đầu của nó. Liên hệ đến tình hình hiện tại, rõ ràng là cách mạng Việt Nam đã có nhiều thuận lợi so với các thời kỳ trước. Từ sau đại thắng mùa Xuân (năm 1975), miền Nam đã hoàn toàn giải phóng, lãnh thổ Tổ quốc đã giành lại trọn ven, đất nước bước đầu đi lên chủ nghĩa xã hội, Việt Nam bắt đầu thực hiện đổi mới, rồi bước vào thời kỳ hội nhập. Đó là các điều kiện tốt tạo đà cho Việt Nam phát triển. Tuy nhiên, không phải chỉ có các thuận lợi đưa tới các thành tựu và tiến bộ, mà vẫn có những khó khăn to lớn, những mặt yếu kém và hạn chế nặng nề. Các yếu kém và hạn chế nặng nề đó có nhiều loại, khách quan có, chủ quan có, nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh trong tác phẩm “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” vẫn chỉ đề cập tới loại mang tính chủ quan, là “chủ nghĩa cá nhân” mà Người đánh giá nguy hiểm nhất, là nguyên nhân của mọi sai lầm, sa ngã. Và theo Người để chữa trị tận gốc căn bệnh nguy hiểm đó, chỉ có những phương thuốc hiệu nghiệm – một thần dược – đó là nâng cao đạo đức cách mạng. Thực ra phương thuốc này đã được dùng trong các giai đoạn cách mạng trước. Trước đây, cứ mỗi khi cách mạng có một yêu cầu mới, đòi hỏi một nhận thức đúng đắn và đầy đủ về nhiệm vụ, về ứng xử và hành động thì đều có tổ chức học tập nâng cao nhận thức và trách nhiệm cho cán bộ và đảng viên. Các lớp chỉnh huấn cho cán bộ, chỉnh huấn cho bộ đội được tổ chức trước kia chính là để nhằm mục đích nâng cao nhận thức, đi tới hành động đúng đắn.

Liên hệ tới hiện nay, rõ ràng là yêu cầu của cách mạng đối với mỗi cán bộ, mỗi đảng viên là rất cao. Cách mạng đòi hỏi ở mỗi cán bộ, mỗi đảng viên phải có lòng trung thành tuyệt đối, phải toàn tâm toàn ý phục vụ cách mạng. Thế mà đối chiếu với thực tế xã hội, thực tế cơ quan, tình hình đội ngũ cán bộ và đảng viên vẫn còn nhiều hiện tượng rất đáng lo ngại. Đó là tệ nạn quan liêu, tham nhũng và tình trạng suy thoái về phẩm chất đạo đức của một bộ phận cán bộ, đảng viên làm cho bộ máy Đảng và Nhà nước suy yếu, lòng tin của nhân dân đối với Đảng, đối với chế độ bị sói mòn, các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước bị thi hành sai lệch, dẫn tới chệch hướng xã hội chủ nghĩa là mảnh đất thuận lợi cho “diễn biến hoà bình”.

Tất cả các hiện tượng trên là nguy cơ lớn đối với sự nghiệp cách mạng. Phân tích mổ sẻ các tệ nạn trên, đi tới tận cùng thì vẫn là “chủ nghĩa cá nhân” được trá hình dưới muôn hình vạn trạng. Cần phải có một tinh thần sắc bén cách mạng, một ý chí cảnh giác thường trực và cao độ – các tính năng này chỉ có khi được đặt trên nền tảng một chủ nghĩa yêu nước chân chính, mới có thể phanh phui, vạch trần.

Nâng cao đạo đức cách mạng, đó là mục tiêu phấn đấu và lý tưởng hướng tới của người cán bộ, người đảng viên. Có sự bồi dưỡng tự nguyện đạo đức cách mạng với sự hỗ trợ của tổ chức, của đoàn thể thì người cán bộ, người đảng viên mới chiến thắng được “chủ nghĩa cá nhân” nguy hại, để có thể vững tiến trên con đường cách mạng gập ghềnh quanh co, lắm thác nhiều ghềnh, nhưng cũng đầy hoa thơm quả ngọt.

Đó là những lời dạy dỗ ân cần và tâm huyết của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta trên bước đường đi lên của cách mạng.

GS. Đinh Xuân Lâm
Trường ĐH KH XH & NV

bqllang.gov.vn

“Nâng cao đạo đức cách mạng” – Vấn đề cơ bản, nhất quán trong Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh

Là người mở đường xây nền độc lập, đem lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho toàn dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng việc giáo dục, rèn luyện, nâng cao đạo đức cách mạng cho mọi người Việt Nam yêu nước, đặc biệt là đội ngũ cán bộ đảng viên của Đảng. Người luôn coi đó là nền tảng gốc rễ của mỗi con người và của toàn xã hội, là cội nguồn thắng lợi của mọi sự nghiệp cách mạng, bảo đảm cho sự phát triển vững bền của quốc gia, dân tộc…

Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn chỉ rõ rằng: “Làm cách mạng để cải tạo xã hội cũ thành xã hội mới là một sự nghiệp rất vẻ vang, nhưng nó cũng là một nhiệm vụ rất nặng nề, một cuộc đấu tranh rất phức tạp, lâu dài, gian khổ. Sức có mạnh mới gánh được nặng và đi được xa. Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang”; “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân. Vì muốn giải phóng cho dân tộc, giải phóng cho loài người là một công việc to tát, mà tự mình không có đạo đức, không có căn bản, tự mình đã hủ hóa, xấu xa thì còn làm nổi việc gì?”; đạo đức cách mạng không phải là những thứ sẵn có ngay từ khi con người mới sinh ra, cũng “không phải trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hằng ngày mà phát triển và củng cố cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”

Vì tầm quan trọng đặc biệt của vấn đề này, ngay từ những ngày đầu chuẩn bị cho sự ra đời của Đảng, bài học đầu tiên Người dạy trong các lớp huấn luyện, đào tạo đội ngũ cán bộ cho phong trào cách mạng Việt Nam ở Quảng Châu, Trung Quốc, những năm 1925 – 1927, là bài học về Tư cách một người cách mệnh. Trong bài học ấy, Người nêu 23 điều về tư cách của một người cách mệnh chân chính, tập trung vào ba mối quan hệ chính, đó là: đối với mình, đối với người và đối với việc. Từ đó, 23 điều về Tư cách một người cách mệnh đã đặt nền tảng cơ sở cho việc giáo dục, rèn luyện đạo đức cho đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng trong suốt quá trình phát triển của cách mạng Việt Nam.

Cách mạng Tháng Tám thành công, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, Đảng ta trở thành Đảng cầm quyền. Làm thế nào để cho đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng hoàn thành tốt nhiệm vụ là những “công bộc” của dân, là điều Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm. Một ngày sau khi nước nhà giành được độc lập, trong phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ, ngày 3-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu sáu nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, trong đó nhiệm vụ thứ tư cần phải giải quyết ngay lúc bấy giờ là thực hiện cần, kiệm, liêm, chính. Người giải thích rõ: “Chế độ thực dân đã đầu độc dân ta với rượu và thuốc phiện. Nó đã dùng mọi thủ đoạn hòng hủ hoá dân tộc chúng ta bằng những thói xấu, lười biếng, gian giảo, tham ô và những thói xấu khác. Chúng ta có nhiệm vụ cấp bách là phải giáo dục lại nhân dân chúng ta. Chúng ta phải làm cho dân tộc chúng ta trở nên một dân tộc dũng cảm, yêu nước, yêu lao động, một dân tộc xứng đáng với nước Việt Nam độc lập”. Để làm được những điều đó, Người đề nghị “mở một chiến dịch giáo dục lại tinh thần nhân dân bằng cách thực hiện: CẦN, KIỆM, LIÊM, CHÍNH”.

Cũng ngay trong những ngày đầu lập nước này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm đã sớm nhận thấy những biểu hiện thoái hóa, biến chất trong một số đảng viên, cán bộ trong bộ máy chính quyền cách mạng. Trong Thư gửi các đồng chí tỉnh nhà (ngày 17-9-1945), sau khi khẳng định những to thắng lợi to lớn của cách mạng nước ta, Người nói rõ những khó khăn của việc xây dựng chế độ mới và những khuyết điểm của cán bộ địa phương như: lạm dụng hình phạt; kỷ luật không nghiêm; ức hiếp dân, xoáy tiền dân, lấy của dân; lên mặt quan cách mạng, độc hành, độc đoán, “dĩ công dinh tư” (lấy của chung làm của riêng); dùng pháp luật để báo thù tư… Những khuyết điểm đó, nhỏ thì làm cho dân chúng hoang mang, oán đến Chính phủ và Đoàn thể, lớn thì làm cho nền đoàn kết lay động. Vì vậy:

“Chúng ta phải lập tức sửa đổi ngay,
Chúng ta không sợ có khuyết điểm,
Chúng ta chỉ sợ không có quyết tâm sửa đổi…”.

Một tháng sau, trong Thư gửi Ủy ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng (ngày 17-10-1945), Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Ngày nay, chúng ta đã xây dựng nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Nhưng nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”. Cùng với việc nêu rõ trách nhiệm của của chính quyền các cấp đều là công bộc của dân, việc gì lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì hại cho dân phải hết sức tránh…, Người đã nghiêm khắc phê phán “những lầm lỗi rất nặng nề” trong một số cán bộ, đó là các căn bệnh như trái phép, cậy thế, hủ hóa, tư túng, chia rẽ, kiêu ngạo… và tỏ thái độ nghiêm khắc: “Chúng ta không sợ sai lầm, nhưng đã nhận biết sai lầm thì phải ra sức sửa chữa… Ai đã phạm những lầm lỗi trên này, thì phải hết sức sửa chữa; nếu không tự sửa chữa thì Chính phủ sẽ không khoan dung”.

Với tinh thần cách mạng ấy, dù trong kháng chiến gian khổ hay trong hòa bình xây dựng đất nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đặt lên hàng đầu việc giáo dục, nâng cao đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng. Những lời dạy tâm huyết của Người về vấn đề này được đề cập trong hầu hết các tác phẩm, bài viết, trong các bài nói chuyện, các cuộc gặp gỡ, trong các lớp chỉnh huấn, bồi dưỡng cán bộ, đảng viên mới… Đặc biệt là, trong bộ ba tác phẩm: “Sửa đổi lối làm việc”, “Đạo đức cách mạng” và “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã bàn rất sâu về việc học tập và rèn luyện đạo đức cách mạng, nêu lên những giải pháp phòng chống chủ nghĩa cá nhân và phân tích sâu sắc vai trò gương mẫu của người cán bộ đảng viên. Những tác phẩm chuyên khảo ấy đã trở thành những cuốn sách gối đầu giường, những lời tâm sự, chỉ bảo của Người về đạo đức, trở thành mục tiêu, phương hướng phấn đấu, để mỗi cán bộ, đảng viên rèn luyện, sửa chữa những sai lầm, thiếu sót, khắc phục mọi tồn tại dù nhỏ, để không ngừng nâng cao đạo đức cách mạng, xứng đáng với lòng tin cậy và yêu mến của nhân dân…

Xuân này, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta kỷ niệm 40 Xuân ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh viết tác phẩm “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”. Một bài viết, một tác phẩm, vừa là những lời tâm sự, vừa là những lời căn dặn tâm huyết, thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Người đối với Đảng, đối với tương lai của dân tộc và cuộc sống ấm no, hạnh phúc của nhân dân.

Đây là bài viết cuối cùng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng. Một bài viết đăng báo chưa đầy 700 chữ, nhưng những luận điểm Người đề cập mang tính tổng kết thực tiễn sâu sắc, có ý nghĩa như một tác phẩm, một văn kiện quan trọng về xây dựng Đảng nói riêng, về giáo dục, rèn luyện, nâng cao đạo đức cách mạng nói chung – điều mà Người luôn quan tâm, trăn trở trong suốt quá trình xây dựng Đảng và lãnh đạo cách mạng Việt Nam.

Với lời lẽ, văn phong quen thuộc, mở đầu bài báo, chuyển lời khen ngợi của nhân dân đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên gương mẫu của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết một cách giản dị nhưng đầy ý nghĩa: “Nhân dân ta thường nói: đảng viên đi trước, làng nước theo sau. Đó là một lời khen chân thành đối với đảng viên và cán bộ chúng ta”.

Tiếp đó, Người tỏ lời khen ngợi cán bộ, đảng viên ta trong suốt 39 năm đã tuyệt đối trung thành với Đảng và khẳng định: “Trong lịch sử đấu tranh của Đảng và trong mọi hoạt động hằng ngày, nhất là trên mặt trận chiến đấu và sản xuất, rất nhiều cán bộ, đảng viên ta tỏ ra anh dũng, gương mẫu, gian khổ đi trước, hưởng thụ đi sau và đã làm nên những thành tích rất vẻ vang… Đó là những bông hoa tươi thắm của chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhân dân ta và Đảng ta rất tự hào có những người con xứng đáng như thế”.

Cùng với việc nêu bật những ưu điểm của đại đa số cán bộ đảng viên của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng không giấu giếm việc “còn có một số ít cán bộ, đảng viên mà đạo đức, phẩm chất còn thấp kém. Họ mang nặng chủ nghĩa cá nhân, việc gì cũng nghĩ đến lợi ích của riêng mình trước hết. Họ không lo “mình vì mọi người” mà chỉ muốn “mọi người vì mình”. Và Người đã thẳng thắn vạch ra cho mọi người thấy những bất cập, những nguy hại hết sức lớn do chủ nghĩa cá nhân gây ra: “Do cá nhân chủ nghĩa mà ngại gian khổ, khó khăn, sa vào tham ô, hủ hoá, lãng phí, xa hoa. Họ tham danh trục lợi, thích địa vị quyền hành. Họ tự cao tự đại, coi thường tập thể, xem khinh quần chúng, độc đoán, chuyên quyền. Họ xa rời quần chúng, xa rời thực tế, mắc bệnh quan liêu mệnh lệnh. Họ không có tinh thần cố gắng vươn lên, không chịu học tập để tiến bộ.

Cũng do cá nhân chủ nghĩa mà mất đoàn kết, thiếu tính tổ chức, tính kỷ luật, kém tinh thần trách nhiệm, không chấp hành đúng đường lối, chính sách của Đảng và của Nhà nước, làm hại đến lợi ích của cách mạng, của nhân dân.

Tóm lại, do cá nhân chủ nghĩa mà phạm nhiều sai lầm”.

Đây không phải lần đầu tiên Chủ tịch Hồ Chí Minh nói đến chủ nghĩa cá nhân. Đã rất nhiều lần Người nói với chúng ta về sự nguy hại của chủ nghĩa cá nhân: “Chủ nghĩa cá nhân là như một thứ vi trùng rất độc, do nó mà sinh ra các thứ bệnh rất nguy hiểm” như: tham lam, lười biếng, kiêu ngạo, hiếu danh, thiếu kỷ luật, óc hẹp hòi, óc địa phương, óc lãnh tụ và những bệnh khác như “hữu danh vô thực”, kéo bè kéo cánh, bệnh cận thị không trông xa thấy rộng, bệnh “cá nhân”…; “Chủ nghĩa cá nhân là việc gì cũng chỉ lo cho lợi ích của riêng mình, không quan tâm đến lợi ích chung của tập thể. “Miễn là mình béo, mặc thiên hạ gầy”. Nó là mẹ đẻ ra tất cả mọi tính hư nết xấu… Nó là kẻ thù hung ác của đạo đức cách mạng”, “Chủ nghĩa cá nhân là kẻ thù nguy hiểm mà mỗi người chúng ta phải luôn luôn tỉnh táo đề phòng và kiên quyết tiêu diệt”…

Để “đề phòng và kiên quyết tiêu diệt” chủ nghĩa cá nhân, làm cho tất cả cán bộ, đảng viên xứng đáng là những chiến sĩ cách mạng gương mẫu của Đảng, của nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Đảng ta phải ra sức tăng cường giáo dục toàn Đảng về lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, về đường lối, chính sách của Đảng, về nhiệm vụ và đạo đức của người đảng viên. Phải thực hành phê bình và tự phê bình nghiêm chỉnh trong Đảng. Phải hoan nghênh và khuyến khích quần chúng thật thà phê bình cán bộ, đảng viên. Chế độ sinh hoạt của chi bộ phải nghiêm túc. Kỷ luật của Đảng phải nghiêm minh. Công tác kiểm tra của Đảng phải chặt chẽ.

Mỗi cán bộ, đảng viên phải đặt lợi ích của cách mạng, của Đảng, của nhân dân lên trên hết, trước hết. Phải kiên quyết quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng, bồi dưỡng tư tưởng tập thể, tinh thần đoàn kết, tính tổ chức và tính kỷ luật. Phải đi sâu đi sát thực tế, gần gũi quần chúng, thật sự tôn trọng và phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân. Phải cố gắng học tập, rèn luyện, nâng cao trình độ hiểu biết để làm tốt mọi nhiệm vụ”… Người coi đó là một cách thiết thực để kỷ niệm ngày thành lập Đảng và cũng là một việc làm cần thiết để giúp tất cả cán bộ, đảng viên đều tiến bộ, góp sức nhiều hơn nữa cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc.

Tác phẩm“Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” vốn chỉ là một bài viết đăng trên báo Nhân Dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh nhân dịp kỷ niệm 39 năm ngày thành lập Đảng (3-2-1969), nhưng theo lời kể của đồng chí Vũ Kỳ (nguyên là thư ký riêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh), Người đã chuẩn bị công phu và tích hợp nhiều ý kiến đóng góp. Khi chuẩn bị bài viết này, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói rõ với những người giúp việc về mục đích, nội dung và nhấn mạnh yêu cầu: “Ngắn gọn, tập trung vào chủ đề “Quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng”. Và đó cũng là tên của bài báo”.

Sau khi sửa lại bài viết, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho “đánh máy thành nhiều bản và gửi đến từng đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị đề nghị tham gia ý kiến”. Việc làm nhỏ nhưng cẩn trọng và có ý nghĩa sâu sắc này là thói quen làm việc hằng ngày của Người, thường xuyên trao đổi, tranh thủ ý kiến của mỗi cá nhân và tập thể Bộ Chính trị trong mọi công việc, nhằm tạo nên một không khí làm việc cởi mở, đoàn kết, chân thành… Nhưng lần này, theo đồng chí Vũ Kỳ: “Đây hẳn cũng không phải là việc ngẫu nhiên. Dưới hình thức tham gia một bài viết nhân dịp kỷ niệm thành lập Đảng, mỗi đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị sẽ có trong tay một tài liệu mà ngay câu đầu tiên là: “Quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng”. Thiện ý của Bác thật sâu sắc, tế nhị (!)

Không chỉ vậy, trước khi gửi đăng báo, Người còn trao đổi, tham khảo ý kiến của những người giúp việc. Khi những người giúp việc đề nghị cho đảo tên gọi của bài báo từ “Quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng” thành “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”, với lý do “cán bộ đảng viên ta nói chung là tốt, ưu điểm là cơ bản”, Người đã lắng nghe, im lặng suy nghĩ một lúc rồi nêu ý kiến: “Ý kiến của các chú Bác thấy cũng có lý. Nhưng Bác vẫn còn phân vân điều này: Gia đình các chú tiết kiệm mua sắm được bộ bàn ghế, giường tủ mới. Vậy trước khi kê vào phòng, các chú có quét dọn nhà cửa sạch sẽ hay cứ để rác rưởi bẩn thỉu mà khiêng bàn ghế giường tủ vào…”. Mặc dù hỏi vậy nhưng tôn trọng ý kiến đóng góp của những người giúp việc, Người đồng ý cho đảo tên gọi của bài báo và đề nghị “ở trong bài thì dứt khoát phải giữ nguyên ý của Bác: “Quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng”…

Thật kỳ diệu, ngay sau đó, bài báo đã trở thành tài liệu học tập, rèn luyện, nâng cao đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng cũng như của mỗi người Việt Nam yêu nước suốt bốn thập kỷ qua. 40 năm sau ngày bài báo ra đời, đọc lại và suy ngẫm, thấy như Người đang nói với chính chúng ta hôm nay.

Thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, bốn mươi năm qua, trong những năm vừa kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, vừa xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa trước đây cũng như trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay, đã có nhiều tấm gương tiêu biểu về học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh: “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”. Họ là những con người luôn luôn gương mẫu, vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, đi đầu trong chiến đấu, trong lao động sản xuất, và học tập, sống kham khổ, thiếu thốn, gom nhặt “từng hòn than, mẩu sắt, cân ngô”… để cùng góp sức xây dựng cơ đồ Việt Nam. Họ xứng đáng là những người con yêu của Tổ quốc. Tuy nhiên, bên cạnh đó còn có một số không ít cán bộ, đảng viên, đặc biệt là những cán bộ có chức, có quyền vẫn chưa thấm nhuần và làm theo những lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, không chịu tu dưỡng, rèn luyện để nâng cao đạo đức cách mạng mà còn tự cho mình là “quan cách mạng” và trở thành “môn đồ” của chủ nghĩa cá nhân. Mỗi việc làm của họ đều mang nặng “chủ nghĩa cá nhân”, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến lòng tin của các tầng lớp nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng… và đang trở thành một nguy cơ đối với sự phát triển vững bền của Đảng và dân tộc. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng đã đánh giá công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng chưa đạt yêu cầu và nêu rõ: “Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, bệnh cơ hội, chủ nghĩa cá nhân và tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí trong một bộ phận cán bộ, công chức diễn ra nghiêm trọng”… Nguyên nhân của tình trạng nêu trên là do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, trong đó chủ yếu là: Tư duy của Đảng trên một số lĩnh vực chậm đổi mới, chưa nhận thức đầy đủ về những tác động phức tạp và nhiều mặt của cơ chế thị trường, kinh tế nhiều thành phần trong hội nhập để phát triển; Sự chỉ đạo tổ chức thực hiện chưa tốt, đặc biệt là chưa chú ý đúng mức đến vấn đề giáo dục, rèn luyện phẩm chất chính trị, đạo đức đối với cán bộ, đảng viên; Một bộ phận cán bộ, đảng viên, kể cả một số cán bộ chủ chốt, mang nặng chủ nghĩa cá nhân, không chịu tu dưỡng, rèn luyện về đạo đức, lối sống, vừa yếu kém về phẩm chất và năng lực, vừa thiếu tính tiên phong, gương mẫu, vừa không đủ trình độ hoàn thành nhiệm vụ… Trước tình hình đó, Đại hội chủ trương dành nhiều công sức để tạo được sự chuyển biến rõ rệt về xây dựng Đảng nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ đảng viên của Đảng và các tổ chức cơ sở Đảng, xây dựng Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức, và coi đây là nhiệm vụ then chốt, có ý nghĩa sống còn đối với Đảng và sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta…

Để thực hiện mục tiêu nêu trên, cùng với nhiều giải pháp đồng bộ, Đại hội yêu cầu: “lấy đạo đức làm gốc, đồng thời bồi dưỡng về kiến thức, trí tuệ, năng lực để làm tròn nhiệm vụ người lãnh đạo, người đi tiên phong trong các lĩnh vực công tác được giao”.

Với tinh thần ấy, tiếp theo Chỉ thị số 23-CT/TƯ của Ban Bí thư Trung ương Đảng, ngày 27-3-2003, về việc “Đẩy mạnh nghiên cứu, tuyên truyền, giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn mới”, trong đó xác định “việc tổ chức học tập tư tưởng Hồ Chí Minh là một nhiệm vụ mấu chốt của công tác tư tưởng của Đảng, cần được toàn Đảng thực hiện chặt chẽ, có chất lượng, hiệu quả”, ngày 27-11-2006, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra Chỉ thị 06-CT/TƯ về tổ chức cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, nhằm “Làm cho toàn Ðảng, toàn dân nhận thức sâu sắc về những nội dung cơ bản và giá trị to lớn của tư tưởng đạo đức và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về ý thức tu dưỡng, rèn luyện và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh sâu rộng trong toàn xã hội, đặc biệt trong cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, đoàn viên, thanh niên, học sinh… nâng cao đạo đức cách mạng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và các tệ nạn xã hội, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Ðại hội X của Ðảng”.

Hơn hai năm qua, cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” đã trở thành phong trào quần chúng rộng lớn, thu hút sự tham gia sôi nổi của đông đảo cán bộ đảng viên và các tầng lớp nhân dân trong từng việc làm cụ thể. Để cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” thiết thực và hiệu quả, góp phần đẩy mạnh hơn nữa công tác xây dựng Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh, theo chúng tôi, cần tổ chức thực hiện triệt để, từ Trung ương đến cơ sở, những giải pháp “Nâng cao đạo đức cách mạng mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ trong tác phẩm “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” và trong lời căn dặn trước lúc đi xa của Người để “Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư”, “giữ gìn Đảng ta thật trong sạch… xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”.

Những lời dạy và mỗi việc làm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân, về thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư…là lối sống, là đạo đức, là văn hóa và sự mẫu mực của Người trong việc thực hành đạo đức cách mạng mãi mãi là tấm gương sáng ngời để cán bộ, đảng viên và nhân dân ta học tập, noi theo. Với tinh thần đổi mới để phát triển, thực hành tốt những lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về vấn đề này chính là một việc làm thiết thực, thể hiện lòng biết ơn của các thế hệ hôm nay và mai sau đối với Người, đồng thời góp phần làm tăng lòng tin của nhân dân với Đảng, với sự nghiệp cách mạng của dân tộc và góp phần thiết thực vào sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước hiện nay nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh – những điều Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn hằng mong muốn và căn dặn khi còn sống./.

TS. Chu Đức Tính
Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh

bqllang.gov.vn

Lần đầu gặp Bác

Đại úy Hồ Thị Thu sinh ra trong một gia đình giàu truyền thống cách mạng, mẹ là cơ sở nuôi giấu nhiều cán bộ huyện và tỉnh Quảng Đà (cũ). Năm 12 tuổi chị đã làm liên lạc du kích xã Xuyên Phú, huyện Duy Xuyên, sau đó trở thành chiến sĩ Quân giải phóng.

Những năm 1965-1966, quê chị ở thôn 3, Dãn Cường, có một đại đội Mỹ đóng chốt. Có lần Mỹ đốt hết nhà, giết 72 người dân vô tội. Căm thù giặc, có đêm chị bí mật vào đồn vác được 5 khẩu AR15 giao cho du kích. Chị còn lợi dụng sơ hở của địch cùng bạn gái bỏ cát vào nòng 13 khẩu súng trước khi báo cho du kích và bộ đội địa phương tập kích thắng lớn. Đầu tháng 12-1967, ở Nỗng Bà Trình, chị phục kích lính Mỹ đi càn, diệt gần hết cả tốp. Nhưng cũng tại trận này chị bị sức ép nặng, bị mảnh đạn vào đầu được tỉnh đội Quảng Nam cho ra Bắc an dưỡng đầu năm 1968.

Tôi tìm đến số nhà 36 đường Nguyễn Tri Phương, phường Chính Giản, thành phố Đà Nẵng để nghe chị kể về kỷ niệm những lần được gặp Bác Hồ. Đã lớn tuổi rồi nhưng chị vẫn giữ được nét đẹp của thời con gái. Chị nhớ lại:

Một buổi chiều tháng 5, chú Phượng ở Ban thống nhất Trung ương thông báo: “Chiều nay các cháu không đi đâu xa, không ăn cơm tối, ở nhà sẵn sàng…”. Tôi và các bạn nhỏ Võ Phổ, Hồ Ngọc Biên (Quảng Nam), Nguyễn Văn Hòa, Ngô Bê (Thừa Thiên), Đoàn Văn Luyện, Ngô Văn Nết (Quảng Ngãi) và Hồ Văn Mên (Thủ Dầu Một) rất hồi hộp. Mới 3 giờ chiều chúng tôi đã rủ nhau tắm rửa, ăn mặc tươm tất, đội mũ tai bèo lên xe cùng chú Phượng.

Chú Phượng phổ biến nhanh gọn: “Hôm nay Bác Hồ muốn gặp các cháu thiếu nhi dũng sĩ miền Nam”. Chỉ cần nghe đến Bác, là cả bọn mừng rơn, hét lên sung sướng. Đang miên man suy nghĩ thì trước mặt đã thấy ngôi nhà sàn của Bác ẩn dưới hàng cây cổ thụ, đẹp như một bức tranh. Cổng mở, chúng tôi thấy Bác Hồ, Bác Tôn ngồi chờ nơi ghế đá. Cả đoàn không ai bảo ai cùng reo lên: “Bác! Bác!…”, rồi chạy vào ôm hôn hai Bác thật lâu. Cùng tiếp khách hôm ấy có Thủ tướng Phạm Văn Đồng, nhà thơ Tố Hữu và chú Vũ Kỳ. Chú Tố Hữu giới thiệu tên, thành tích từng cháu với Bác. Bác xoa đầu, ôm hôn từng cháu, riêng tôi là con gái được Bác cho ngồi gần cùng Ngô Văn Nết người nhỏ tuổi nhất. Bác hỏi: “Cháu là Thu phải không?” – “Dạ, cháu là Hồ Thị Thu, quê ở Quảng Nam” – “Cháu học lớp mấy rồi?”. Tôi ngập ngừng nói thật: “Thưa Bác nhà cháu nghèo, đông con, cha mất sớm, cháu chưa được đi học”. Tôi ngước nhìn lên thấy Bác rơm rớm nước mắt. Kéo tôi vào lòng, sửa vành mũ tai bèo, Bác nói: “Rồi cháu sẽ được đi học”. Bác mời chúng tôi ăn chiều. Bác ăn rất ít và luôn gắp thức ăn cho từng người trong đoàn. Bác bảo tôi kể chuyện lấy súng Mỹ, dùng mìn tự tạo đánh thắng Mỹ cho Bác nghe, rồi bất chợt Bác hỏi: “Thế còn chuyện cháu phá 13 khẩu súng của Mỹ?”. Tôi không ngờ Bác biết cả chuyện này và tôi kể lại cho Bác nghe. Bác hỏi tiếp: “Đồng bào miền Nam sống chiến đấu thế nào?”. Tôi thưa với Bác: “Bà con quê cháu không sợ hy sinh gian khổ, chỉ sợ một điều”… Bác hỏi dồn: “Điều gì cháu cứ nói”. Tôi mạnh dạn: “Thưa Bác, bà con sợ sau này nước nhà thống nhất không được nhìn thấy Bác”. Bác khóc thực sự, làm cả đoàn xúc động, khóc theo…

Kể đến đây, trên gương mặt chị Thu nước mắt đã giàn giụa. Chị đưa tôi xem hai huy hiệu “Dũng sĩ diệt Mỹ”, nhiều ảnh chụp với Bác Hồ và các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước. Thiếu tá Nguyễn Ngọc Anh, chồng chị, cũng là chiến sĩ Quân giải phóng, đưa tôi xem hai cuốn sách “Người tốt, việc tốt” của Bác Hồ tặng chị và cuốn “Bác Hồ với miền Nam, miền Nam với Bác Hồ” đã bạc màu. Anh nói: “Đây là kỷ vật, tài sản quý nhất của vợ chồng mình”.

Gần bốn thập kỷ đã qua, chị Thu chỉ day dứt một điều: Dịp ấy, tháng 5-1969 đang điều trị “Phục hồi trí nhớ” ở Viện 108, Bác Hồ có điện thăm hỏi bệnh tật của chị. Thế mà lúc ấy chị không nhớ được gì để trả lời cho Bác yên tâm. Bốn tháng sau, Bác đã ra đi… Sau này được các bác sĩ kể lại chị cứ ân hận và khóc mãi.

Đỗ Như Thuần
(Tạp chí Sự kiện nhân chứng)

bqllang.gov.vn

Nâng niu tất cả chỉ quên mình

Sự gần gũi và rất đời thường trong con người của Bác tạo thành trường phái ngoại giao Hồ Chí Minh. Không từ trên trời rơi xuống, hào quang Hồ Chí Minh phát khởi từ nền móng đạo đức của Người.

Cặp kính lão dày cộp thường trực trên gương mặt phúc hậu, nguyên Chủ tịch Công đoàn Giáo dục Liên khu IV từ năm 1951, nguyên Phó “quan đốc học” Nghệ An rồi Nghệ Tĩnh với dáng vẻ ung dung, thâm uyên dí dỏm của một đồ Nghệ nói với tôi:

– Hưởng à, thầy vừa thể hiện xong bài đầu và bài cuối tập thơ Ngục trung nhật ký của Bác bằng chữ Nho, sẽ dành tặng cho con một bản.

Trong niềm xúc động của người ngoài độ bát tuần, cụ Lữ kể cho tôi nghe chuyện sau ngày giải phóng Điện Biên được Bác Hồ mời dự tiệc chiêu đãi tại Phủ Chủ tịch.

Trước đó, Trung ương Đảng, Chính phủ, Bác Hồ đã rời “thủ đô gió ngàn” trở về Thủ đô Hà Nội, đến ngày 1-1-1955 mới làm lễ ra mắt. Bấy giờ anh Cao Thế Lữ là thành viên Đoàn chiến sĩ thi đua công nghiệp Liên khu IV.

Đoàn gồm có 5 người: Hoàng Hanh, Anh hùng Lao động nông nghiệp; Nguyễn Văn Hòa, Kỹ sư nông nghiệp, Giám đốc nghiên cứu cây trồng Bắc Trung Bộ; anh Cao Viết Bảo ngành quân giới; chị Nguyễn Thị Nhàn công nhân ngành dệt, Cao Thế Lữ, Chủ tịch Công đoàn ngành Giáo dục Liên khu IV. Đoàn còn có mẹ của Anh hùng liệt sĩ Phan Đình Giót. Bà cụ lưng đã còng, vận áo màu trắng, váy thô bố nhuộm nâu ngâm bùn, điển hình của phụ nữ thôn quê xứ Nghệ nghèo khó lam lũ. Đã quá lâu nên cụ Lữ không còn nhớ tên bà.

Đoàn được đón tiếp tại trụ sở của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam phía trước ga Hàng Cỏ (hồi đó chưa có khách sạn). Tình cờ người ta bố trí anh Lữ nghỉ chung một phòng với Bác sĩ Đặng Văn Ngữ, Chiến sĩ thi đua ngành công nghiệp Việt Bắc. Hai anh em nằm trên hai chiếc giường một gỗ tạp. Sau 9 năm kháng Pháp, đúng dịp Tết dương lịch đầu tiên lại được về Thủ đô Hà Nội chuẩn bị gặp Bác Hồ, mọi người rất vui. Chẳng thấy ai nói về thành tích của ngành, của bản thân mình, tất cả nóng lòng chờ giây phút được gặp Người.

Khoảng 4 giờ sáng ngày 1-1-1955, tất cả các đoàn đều được báo thức sớm, chừng 5 giờ đã có mặt trên khán đài vườn hoa Ba Đình. Mờ sáng, sương mai còn đọng trên bục xi măng, Bác sĩ Đặng Văn Ngữ và anh Lữ phải dùng báo cũ lót làm chỗ ngồi, nhìn xuống đã thấy hàng vạn người tập trung thành hàng chăm chú hướng lên khán đài. Lát sau Bác Hồ và các đồng chí lãnh đạo Đảng, Chính phủ, Quân đội… tiến ra lễ đài. Anh Lữ không nhớ lúc ấy là mấy giờ nữa, chỉ biết lâng lâng vui sướng khi thấy Người hồng hào khỏe mạnh, phong thái nhanh nhẹn ung dung. Bác đọc diễn văn rất ngắn, đại thể nêu ý nghĩa của việc Đảng, Chính phủ trở về Thủ đô Hà Nội. Bác vừa dứt lời cả biển người dậy tiếng vỗ tay. Ngay sau đó xuất hiện hai chiếc xe mui trần, bánh xe quét sơn trắng từ từ lăn qua lễ đài. Đại tướng Võ Nguyên Giáp tổng chỉ huy cuộc duyệt binh. Anh Lữ tranh thủ trời đã sáng ngắm nhìn tấm thiếp mời dự tiệc của Bác Hồ, do Ban tổ chức đưa đến trước 5 giờ sáng. Thiếp in trên giấy dày tráng nhũ: Kính gửi đồng chí Cao Thế Lữ-Chiến sĩ thi đua công nghiệp Liên khu IV, bên dưới có chữ ký của Bác Hồ. Nội dung là đến dự tiệc tại Phủ Chủ tịch vào lúc 14 giờ chiều ngày 1-1-1955.

Trước 14 giờ, anh Lữ đến cổng Phủ Chủ tịch đã thấy ô tô đậu thành hàng ngoài sân. Bác sĩ Đặng Văn Ngữ bảo, tòa nhà này nguyên là Phủ toàn quyền Đông Dương, Bác Hồ đã từ chối không ở. Bên trong khách đã đến rất đông, tất cả đang nóng lòng chờ Bác. Giữa căn phòng rộng ấy, bàn tiệc được bố trí theo hình chữ T. Một dãy bàn dài không có ghế chạy giữa căn phòng. Dãy bàn phía trong làm thành nét ngang của chữ T đặt 3 chiếc ghế. Lần đầu trong đời anh Lữ được dự tiệc đứng, được vào Phủ Chủ tịch. Bỗng Bác xuất hiện. Bác ngồi ghế giữa, một bên là Đại sứ Trung Quốc, một bên là Đại sứ Liên Xô. Bác nói đại ý, hôm nay ngày vui mừng chiến thắng Điện Biên, mừng Trung ương Đảng, Chính phủ trở về Hà Nội, Bác mời mọi người có mặt cùng nâng cốc. Trong khi tay nâng cốc, mắt mọi người đều chăm chăm hướng về phía Bác. Bác Hồ đứng đó, nói cười, vẫy tay với mọi người. Bác là nhân vật huyền thoại, tạo nên sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc.

Tiệc đứng nên ai muốn đứng chỗ nào thì đứng, ai muốn ăn thì tự lấy. Gọi là tiệc song bày biện chỉ 3 món, mỗi người một cái đùi gà, một miếng chả rán bọc bột và một món nữa anh Lữ không biết là món gì. Anh Lữ lấy thức ăn bỏ vào đĩa đặt vào tay mẹ của Anh hùng liệt sĩ Phan Đình Giót. Cả đời, bà cũng như anh, chưa bao giờ được ăn tiệc đứng nên cứ lóng nga lóng ngóng. Bỗng nghe Bác nói:

– Bây giờ văn nghệ, chú nào xung phong?

Lát sau thấy ông Lê Văn Hiến giơ tay. Bác bảo:

– Chú Hiến!

Ông Hiến cất mấy câu hò Huế, nhưng vì hò không hay nên vừa hò vừa cười, Bác bảo:

– Chú Hiến làm gì đấy?

Nói rồi Bác cầm quả hồng trên bàn tiến đến chỗ ông Hiến:

– Chú Hiến hò không hay nhưng Bác vẫn tặng quả hồng!

Cả hội trường vỗ tay ào ào trước tình cảm gần gũi chan hòa của Bác. Hình ảnh ấy mãi giúp anh Lữ mở rộng tầm quảng bá xã giao suốt chặng đường công tác sau này.

Từ giây phút ấy anh Lữ không chú ý văn nghệ nữa mà tập trung nghĩ ra cớ để được lại gần Bác hơn. Anh Lữ nói nhỏ vào tai mẹ Anh hùng liệt sĩ Phan Đình Giót:

– Bây giờ con đưa mẹ lên gặp Bác Hồ!

– Ừ, mẹ đang rất muốn đến gần để được nhìn rõ Bác, nhưng đông người ra ri, đi mần răng được?

– Con đi trước, mẹ cầm lấy tay. Con đi đến đâu mẹ cứ theo đến đó!

Thế là anh Lữ cầm tay mẹ vừa đi vừa rẽ đám đông:

– Đề nghị các đồng chí nhường lối cho mẹ của đồng chí Phan Đình Giót lên gặp Bác Hồ!

Khi anh đưa mẹ lên tới nơi thì thấy Bác đang nói chuyện với Đại sứ Trung Quốc. Chờ một lát anh Lữ lên tiếng:

– Dạ thưa Bác!

Bác liền ngoảnh lại. Người đặt một tay lên vai anh, tay kia đặt lên vai mẹ của Anh hùng Phan Đình Giót. Lúc ấy anh Lữ cảm thấy như đang bay trên mây:

– Thưa Bác, đây là mẹ của Anh hùng Phan Đình Giót.

Bác trìu mến hỏi:

– Bà dạo này có khỏe không? Bà đi đường từ trong Nghệ ra có mệt không?

Nghe bà cụ trả lời, Người quay sang nói với anh Lữ:

– Bác rất bận không có thời gian săn sóc bà, các chú bố trí nơi ăn chốn nghỉ cho chu đáo, phải có trách nhiệm săn sóc bà từ khi đi cho đến khi về. Chú làm công tác gì?

– Dạ, cháu làm giáo dục ạ!

Bác nói tiếp:

– Phải dạy cho tốt !

Về sau anh em trong đoàn Chiến sĩ thi đua công nghiệp Liên khu IV trầm trồ: “Ông Lữ khôn thật, nghĩ ra cách để được suất “ăn theo” bà mẹ Anh hùng”.

Đêm ấy trở về phòng nghỉ với tâm trạng lâng lâng phút giây được gần Bác, anh Lữ hỏi Bác sĩ Đặng Văn Ngữ:

– Cảm giác của anh thế nào khi được gặp Bác?

Bác sĩ Đặng Văn Ngữ cười:

– Ai mà nói hết được cảm giác khi được gặp Cụ Hồ!

Tết dương lịch đặc biệt ấy đến nay đã xa hơn nửa thế kỷ, vậy mà ngỡ như chuyện mới hôm qua. Hình ảnh Bác với ánh mắt nụ cười, với phong thái ung dung tự tại, rất gần gũi, rất đời thường mãi hóa thạch trong tim cụ già ngoài tuổi bát tuần. Tiễn tôi ra cổng, “đồ Nghệ” Cao Thế Lữ – Chủ nhiệm Câu lạc bộ Hán-Nôm tỉnh Nghệ An tiếp tục mạch suy tưởng: Chính sự quan tâm, yêu thương mọi người đến độ “Nâng niu tất cả, chỉ quên mình” của Bác đã tạo thành trường phái ngoại giao Hồ Chí Minh. Không từ trên trời rơi xuống, hào quang Hồ Chí Minh phát khởi từ đạo đức của Người.

GIAO HƯỞNG
(Tạp chí Nhân chứng sự kiện)

bqllang.gov.vn