Tag Archive | Lãnh tụ vĩ đại

Chủ tịch Hồ Chí Minh và võ thuật (phần 2)

Bác Hồ đánh bóng chuyền ở Việt Bắc. Ảnh: Internet

(DVT.vn) – Tập quyền giúp Bác ngủ ngon nhưng ban đầu các cơ bị đau như dần! Ngay trong những ngày đầu sau cách mạng, Bác đã tập võ mỗi ngày hai lần.

Chúng tôi tìm một phòng, mở cửa sổ, bật đèn và bắt đầu tập. Bác học các động tác rất nhanh và biểu diễn hoàn hảo. Tôi hướng dẫn Bác một mạch hết 52 động tác. Sau đó tôi đề nghị Bác đi ngủ vì sợ Bác mệt.

Sáng hôm sau, tôi dậy sớm để tập dùng tay đánh vào một gốc cây cổ thụ. Trên đường ra sân, tôi thấy Bác đang biểu diễn rất thuần thục các động tác mà tôi đã hướng dẫn Bác đêm trước. Người Bác đẫm mồ hôi. Thấy tôi, Bác đùa: “Gớm, quyền của chú làm Bác đêm qua ngủ một giấc thật đã cả mắt. Nhưng các cơ bắp thì đau như dần! Cơ thì đau nhưng hai đầu gối của Bác bị bệnh khớp mọi hôm đau thế, giờ lại giảm. Từ nay, chú nhớ tối và sáng, hai bác cháu phải tập quyền thường xuyên. Bác sẽ tập quyền thật thạo để rồi chú còn dạy cho Bác vài miếng võ nữa chứ!”.

Bác Hồ rèn luyện sức khỏe hàng ngày

Sau đó, dù làm việc ở đâu, tại Bắc Bộ phủ hay những nơi bí mật khác ở Hà Nội, hai bác cháu vẫn luôn tập luyện hai lần một ngày. Một hôm, khi tôi xuống tấn tập đánh thẳng ra phía trước bằng cả hai tay, Thấy tôi đổ nhiều mồ hôi và cơ đùi căng ra, Bác nói:

– Chú có thể đánh như thế trong bao lâu?

– Tôi nói với Bác rằng tôi thường xuyên tập bài này, nên tôi có thể đánh hàng giờ liền.

Bác mỉm cười, nói:

– Ước gì Bác còn ở tuổi chú, tập môn này có khi bệnh đau khớp gối của Bác cũng phải thua.

Trong giờ giải trí ở phía dưới nhà sàn.

Sau đó, chúng tôi tới đền Ngọc Sơn cùng dự lễ hái lộc cầu may. Đêm đó, Bác ngủ lại tại số 8 phố Thủy Tạ (nay là phố Lê Thái Tổ), chứ không về Bắc Bộ phủ. Mặc dù đi ngủ muộn, sáng hôm sau, Bác vẫn dậy đúng 5 giờ và gọi:

– Chú Kháng! Dậy đi, Bác cháu mình khai xuân bài quyền cho ấm!

– Chúng tôi thực hiện các động tác hai lần. Sau đó Bác tập điều hòa hơi thở trong khi tôi xuống tấn, tập đấm.

Bác hỏi tôi:

– Chú xuống tấn, Bác xô chú thật mạnh, liệu có đổ không?
– Tôi nói với Bác rằng xô ngã tôi hơi khó. Bác xô mạnh tôi ba lần từ phía sau và từ hai bên sườn, nhưng tôi đều không ngã.

Bác khen tôi và nói:

– Chú nhớ phải tập cho tất cả anh em trong tổ, nhưng nhớ tập thường xuyên. Văn ôn võ luyện thì mới tốt. Cả tổ của chú đều khỏe, đều giỏi võ, thì còn gì bằng./.

Theo Hoàng Hữu Kháng (dvt.vn)
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh và võ thuật (phần 1)

Bác Hồ tập võ. (Ảnh: Internet).

(DVT.vn) – Trường, Kỳ, Kháng, Chiến, Nhất, Định, Thắng, Lợi là tên tám cán bộ giúp việc Bác Hồ. Ông Hoàng Hữu Kháng nằm trong số đó. Sau đây là lời kể của ông.

Khoảng cuối tháng Tám năm 1945, tôi được lệnh rời căn cứ kháng chiến Việt Bắc về Hà Nội để nhận nhiệm vụ mới. Tôi vô cùng phấn khởi khi biết mình sẽ trở thành một chiến sỹ cảnh vệ của Bác Hồ.

Trước khi tôi lên đường, anh Nguyễn Lương Bằng, người sau này trở thành Phó Chủ tịch nước Việt Nam, gặp tôi và nói, đại ý: Cậu rất giỏi võ. Mình được biết, tay không vũ khí, thế mà cậu vẫn có thể cứu đồng chí Bí thư Huyện ủy Tiền Hải thoát khỏi mật thám Pháp ở tỉnh Thái Bình. Bọn chúa ngục ở Nhà tù Sơn La đều biết mình cậu hạ gục năm tên lính có vũ khí và giải thoát cho sáu đồng chí bị giam giữ.

Bây giờ Bác đã về Hà Nội. Tình hình ở đó tuy yên ắng, nhưng rất nhiều hoạt động chống Chính phủ vẫn đang âm ỷ phát triển. Thực dân Pháp đang cố tình khiêu khích ta có hành động quân sự. Bác đã chỉ thị cho lực lượng vũ trang của ta hết sức kiềm chế. Nếu chỉ một phát súng từ phía ta bắn ra là có thể khiến thực dân Pháp tấn công ngay. Bác phải đi lại nhiều trong thành phố và cần phải bảo đảm an toàn cho Bác. Bởi thế Ban Chấp hành Trung ương Đảng điều cậu làm cảnh vệ cho Bác.

Bác Hồ ở chiến khu Việt Bắc.

Sau đó, anh Nguyễn Lương Bằng trao cho tôi một khẩu súng lục còn mới và mấy chục viên đạn. Tôi rất phấn khởi với khẩu súng mới và những viên đạn đồng sáng loáng. Thế nhưng anh Nguyễn Lương Bằng lại nói thêm: “Mình hy vọng cậu sẽ hoàn thành nhiệm vụ mà không phải dùng đến khẩu súng này.”

Tôi đã được gặp Bác khi còn ở Việt Bắc. Bác sống rất giản dị. Ở Hà Nội, Người vẫn duy trì nếp sống giản dị này. Người làm việc suốt ngày đêm. Tôi phụ trách một tổ cảnh vệ sáu người, trong đó có anh Vũ Kỳ, Thư ký của Bác

Đối với chúng tôi thì chuyện đánh nhau đương nhiên là một phần công việc. Mỗi chiến sỹ cảnh vệ được giao một khẩu súng lục, nhưng vì đều đã sử dụng vũ khí rất thành thạo, nên chúng tôi chú trọng học võ và học cách phát hiện những hành động khả nghi quanh Bác khi Người đi đây đi đó.

Hàng ngày (có lúc vào ban đêm), sau khi chúng tôi giao cho một thành viên trong tổ làm công việc bảo vệ Bác, số còn lại tìm một căn phòng trống trong Bắc Bộ Phủ, đóng cửa lại tập võ. Chúng tôi luôn khởi động bằng những động tác võ theo quy định. Sau đó, chúng tôi tập đứng tấn, phòng thủ và tấn công các vị trí, rồi những động tác cơ bản như đấm, đỡ gạt và đá.

Bác Hồ rèn luyện thân thể hàng ngày

Một hôm, Bác đến thăm trong khi tôi đang dạy bài quyền có tên “bát bộ”. Tôi nói với Bác rằng bài quyền bao hàm tất cả những động tác và tư thế cơ bản trong võ thuật. Lúc đó gần đến bữa tối nên tôi nghĩ rằng Bác chỉ xem thôi. Nhưng Người lại cởi áo, tháo dép, rồi đứng vào hàng và cùng tập với nhóm. Tôi hết sức ngạc nhiên không nói được gì khi thấy Bác bảo: “Chú Kháng huấn luyện cả cho Bác nữa, nhưng nhớ là Bác chỉ tập ngoài giờ thôi đấy nhé.” Chúng tôi tập thêm một vài động tác với Bác, rồi nghỉ ăn tối.

Khoảng ba, bốn ngày sau, khi tôi đang canh gác ngôi nhà Bác ở thì Người đến chỗ tôi và bảo:

– Tối nay chú gác à?

– Vâng, thưa Bác. Tôi đáp.

Bác gấp tờ báo đang đọc dở và bảo:

– Thế thì Bác và chú đi tập võ. Chú khóa cửa phòng Bác lại thế là xong.

Theo Hoàng Hữu Kháng (dvt.vn)
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

“Giá trị của tự do, của độc lập”

Ngày 17-10-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi chống đói. 55 năm sau, 150 vị đứng đầu Nhà nước, Chính phủ và các quan chức của Liên Hợp quốc đã ra tuyên bố thiên niên kỷ và quyết định lấy ngày 17-10 hằng năm, ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi chống đói làm “Ngày thế giới chống đói nghèo”.

Cách mạng Tháng Tám thành công, Chính phủ lâm thời do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu được thành lập. Việc đầu tiên, Bác lo chống đói. Ngày 17-10-1945, Người ra lời kêu gọi toàn dân cùng Chính phủ tập trung chống giặc đói. Người nói: giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm là ba thứ giặc đều phải chống, nhưng người đặt giặc đói lên hàng đầu vì lý do: “Ngày nay chúng ta đã xây dựng nên nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, nhưng nước ta được độc lập mà dân không được hưởng tự do, hạnh phúc thì độc lập đó chẳng có ý nghĩa gì”.

Phát biểu tại phiên họp đầu tiên của Uỷ ban nghiên cứu kiến quốc ngày 10-1-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh một lần nữa lại nhấn mạnh bổn phận Nhà nước đối với việc chăm lo cuộc sống của dân: “Chúng ta giành được tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét thì tự do, độc lập cũng không làm gì. Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ, chúng ta phải thực hiện ngay: Làm cho dân có ăn; Làm cho dân có mặc; Làm cho dân có chỗ ở; Làm cho dân được học hành”.

Tư tưởng và tình cảm của Bác đã thổi bùng lên truyền thống quý báu ngàn đời của dân tộc ta, thương yêu đùm bọc, giúp đỡ lẫn nhau “thương người như thể thương thân”, “lá lành đùm lá rách”… Truyền thống đó đã trở thành đạo lý làm người, phẩm chất của nền văn hoá nhân văn, nếp sống cao đẹp của mỗi người Việt Nam yêu nước, thương nòi.

Hơn 60 năm tuân theo lời kêu gọi của Bác Hồ, dưới sự lãnh đạo của Đảng, phong trào “Xoá đói giảm nghèo” đã trở thành mục tiêu phấn đấu của Đảng, Nhà nước và toàn thể nhân dân. Một sự nghiệp cao cả, mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc. Trong chương trình “Xoá đói giảm nghèo”, Đảng, Nhà nước ta đã đề ra nhiều chủ trương, ban hành nhiều chính sách, chỉ đạo các bộ, ngành lập ra các chương trình dự án xoá đói, giảm nghèo cho các vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn, chương trình dạy nghề, giải quyết việc làm, nhằm tạo mọi điều kiện và môi trường thuận lợi khuyến khích mọi người, mọi thành phần kinh tế phát huy cao độ nguồn lực và tài năng sáng tạo, ra sức phát triển sản xuất, kinh doanh, làm giàu hợp pháp, giảm nhanh các hộ nghèo, phấn đấu vươn lên: dân giàu, nước mạnh.

Cùng với việc động viên phát triển sản xuất, Đảng và Nhà nước khuyến khích toàn dân, các tổ chức xã hội, các đoàn thể mở các cuộc vận động, các chương trình dự án, xoá đói giảm nghèo. Nông dân có phong trào thi đua “Sản xuất, kinh doanh giỏi”, Mặt trận Tổ quốc Việt nam có “Ngày vì người nghèo” hoạt động “Nối vòng tay lớn” gây quỹ xoá nhà dột nát. Phong trào đã mở rộng cả Trung ương và cơ sở, tất cả các bộ, ngành và của toàn dân. Đảng và Nhà nước khuyến khích toàn dân thực hiện tốt các chính sách đền ơn đáp nghĩa đối với những người có công với nước, tham gia các hoạt động công ích, hoạt động từ thiện, gắn tăng trưởng kinh tế với chính sách xã hội.

Cuộc vận động “Vì người nghèo” do Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt nam phát động đã thu hút toàn bộ hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở, với hàng triệu cán bộ, đảng viên, nhân dân tham gia, đem lại kết quả to lớn cả về vật chất lẫn tinh thần và đạo lý. Hàng vạn ngôi nhà tình thương đã mọc lên. Nhiều tỉnh đã xoá xong nhà dột nát. Cùng với sự hỗ trợ của Nhà nước, sự phấn đấu vươn lên của các hộ nghèo, xã nghèo, sự giúp đỡ của cộng đồng quốc tế, chúng ta đã vượt trước thời hạn mục tiêu thiên niên kỷ của Liên hợp quốc đề ra giảm một nửa tỉ lệ đói nghèo và phổ cập tiểu học, được hội nghị thượng đỉnh tháng 9-2005 của Liên hợp quốc đánh giá cao.

Một tờ báo nước ngoài đã viết: “Sau hai thập niên cải cách kinh tế, Việt Nam đang trên con đường hoàn thành ước muốn độc lập và thịnh vượng của Chủ tịch Hồ Chí Minh”.

Trần Công Huyền

bqllang.gov.vn

Người đảng viên xứng đáng với danh hiệu Bộ đội cụ Hồ

(ĐCSVN) – Trung thực, thẳng thắn và khiêm nhường, đó là những đức tính vốn có trong anh. Sinh ra và lớn lên ở thị xã biên giới nghèo, trong một gia đình công chức bình thường nhưng rất hiếu học. Cả 5 anh, chị em đều là cán bộ, công chức nhà nước. Gia đình anh dư điều kiện để thành lập một chi bộ đảng. Đó là Nguyễn Văn Minh, ủy viên Ban Thường vụ Thị ủy, Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Thị xã Hà Giang.

Ấn tượng sâu sắc nhất trong tôi về anh, đó là đợt cùng anh đi tham gia cùng đoàn Đại biểu ứng cử viên Quốc hội khóa XII tiếp xúc, gặp gỡ cử tri tháng 4 năm 2007. Với chất giọng ấm ấp, truyền cảm, anh là người trực tiếp làm công tác tổ chức cho các buổi tiếp xúc, gặp gỡ cử tri, thông qua phong cách và phương pháp điều hành hội nghị, mọi người đều tấm tắc khen. Và cũng trong đợt thi đua chào mừng cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XII vừa qua, anh vinh dự được nhận Bằng khen của Chủ tịch UBND tỉnh.

Năm 1974, anh xung phong lên đường tòng quân ra tiền tuyến theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc trong đơn vị pháo binh Lữ đoàn 145, Quân khu I. Đơn vị anh đã trực tiếp tiến công vào dinh lũy tổng thống ngụy – Sài Gòn, cùng cả nước giải phóng miền Nam thân yêu, đó là niềm vinh dự đã thôi thúc anh mãi mãi gìn giữ và phát huy phẩm chất cao đẹp – Bộ đội cụ Hồ. Anh được Bộ Quốc phòng tặng Băng khen và Huân chương chiến sỹ vẻ vang hạng 3.

Tròn mười năm quân ngũ, anh chuyển ngành năm 1984 với quân hàm trung úy, trợ lý tham mưu Trung đoàn 4, Sư đoàn 396, Quân khu Thủ đô. Mặc dù đóng quân ngay trên mảnh đất trung tâm kinh tế – chính trị – xã hội của cả nước, song anh vẫn khát khao và mong mỏi được về xây dựng quê hương nơi mảnh đất địa đầu cực Bắc.

Suốt 9 năm trên cương vị cán bộ rồi trưởng phòng tổ chức Lao động thương binh xã hội thị xã, anh luôn trăn trở và quyết tâm thực hiện tốt các chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước, giải quyết và thực hiện có hiệu quả đối với công tác thương binh, liệt sỹ, người có công… được đông đảo nhân dân ủng hộ và yêu mến. Để không ngừng phấn đấu vươn lên và không tụt hậu về tri thức so với bạn bè, anh đã theo học và tốt nghiệp Đại học Luật tại chức tại tỉnh và Cao cấp chính trị. Với uy tín và năng lực của mình, anh được cử tri thị xã Hà Giang bầu làm đại biểu Hội đồng nhân dân tròn hai khóa. Từ năm 2000 đến nay, anh đều tham gia Ban chấp hành rồi ủy viên Ban Thường vụ Thị ủy.

Anh tâm sự: “Mình cũng là người lính chiến trường, may mắn hơn bao người khác là được trở về lành lặn, đó là hạnh phúc không có gì so sánh nổi. Mình phải có trách nhiệm quan tâm, tạo điều kiện, hướng dẫn các đối tượng chính sách hoàn tất thủ tục để khỏi thiệt thòi…”. Nhiều trường hợp mất hết giấy tờ, anh đã giúp đỡ, hướng dẫn một cách tận tình, chu đáo họ xin các xác nhận theo đúng quy định của pháp luật. Anh vinh dự được nhận kỷ niệm chương vì sự nghiệp Tổ chức Nhà nước của Bộ Nội vụ trao tặng.

Từ tháng 10 năm 2003 đến nay, anh được bổ nhiệm giữ cương vị Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc thị xã. Đến tháng 1 năm 2005, anh còn đảm nhiệm thêm cương vị Trưởng ban Ban Dân vận Thị ủy. Mặc dù công việc bận rộn, song, anh luôn biết sắp xếp một cách khoa học và biết phát huy trí tuệ của tập thể nên mọi nhiệm vụ đều suôn sẻ và hoàn thành nhiệm vụ được giao. Nhiều năm liền là chiến sỹ thi đua cấp cơ sở, cấp tỉnh; năm 2006 vừa qua, anh vinh dự được nhận Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ.

Trong cuộc sống gia đình, anh thực sự là tấm gương sáng cho các con noi theo, hai cháu khỏe mạnh, đều là con ngoan, trò giỏi, cháu ngoan Bác Hồ. Gia đình anh hằng năm đều được tổ dân phố bình bầu là gia đình văn hóa.

Anh là người cán bộ mẫn cán, hết lòng vì nhiệm vụ, anh thật sự xứng đáng là người lãnh đạo cơ quan tập hợp khối đoàn kết nhân dân các dân tộc thị xã Hà Giang trong sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội, giữ vững ổn định chính trị nơi biên cương của Tổ quốc.

Hải Hà

bqllang.gov.vn

Bác nhắc nhở “nội vụ” của bộ đội

Ngày 3-2-1963, nhân dịp Tết Nguyên đán, Bác Hồ đến thăm Đại đội 129, Trung đoàn 260 Bộ đội Phòng không, đóng quân tại Tiên Hội, Đông Anh, Hà Nội.

Mọi người đang lúi húi xây dựng vườn hoa thì Bác đến. Anh em vây xung quanh Bác. Người nhìn các chiến sĩ và âu yếm hỏi:

– Tết mỗi chú được bao nhiêu bánh chưng ?

– Thưa bác, được hai chiếc ạ ! – Mọi người trả lời.

Bác nhìn quanh rồi chỉ vào những cây phi lao mới trồng cạnh vườn hoa nhỏ:

– Cây này có cho quả không ?

– Thưa Bác, không ạ !

– Thế trồng nhãn có cho quả không ?

– Thưa Bác, có ạ !

– Thế thì trồng nhãn tốt hơn ! – Bác vừa cười vừa phân tích – Phi lao nên trồng ngoài hàng rào. Còn xà cừ trồng ngoài cổng doanh trại. Trồng cây nào các chú phải chăm sóc cho được cây ấy.

Sau đó, Bác đi xem nơi ăn, chốn ở của đơn vị. Khen nhà bếp sạch, nhưng Người phê bình nhà ngủ chưa gọn và nhắc nhở:

– Dù là chủ nhật, dù là ngày Tết, thì “nội vụ” cũng phải gọn gàng.

Mọi người cùng “vâng ạ !”, nhận lỗi và nhìn nhau, nguyện sẽ thực hiện nghiêm túc trật tự nội vụ như Bác vừa nhắc nhở.

Không chỉ với bộ đội, mà đến bất cứ đâu, Bác đều quan tâm đến cuộc sống thường nhật của mọi người. Bác gần gũi, thân tình như người thân trong nhà, như đồng đội trong cùng đơn vị, như đồng nghiệp trong cùng cơ quan.

Nguyễn Thanh

bqllang.gov.vn

Huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng

Ngày 4-10-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận định về thực trạng nhân sự hành chính của chính quyền Nhà nước lúc đó như sau: “Về cán bộ hành chính ta phải thú nhận là thiếu rất nhiều, người đi tiền tuyến, người chiến đấu thì có, người ngồi bàn giấy làm việc thì rất hiếm”. Người cho rằng: “Vô luận việc gì đều do người làm ra”. Từ quan niệm này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đi tới kết luận: “Có cán bộ tốt việc gì cũng xong. Muôn việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hoặc kém. Đó là một chân lý. Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”.

Hiện nay, thực trạng nhân sự hành chính vẫn còn nhiều bất cập. Tại phiên thảo luận về tình hình kinh tế – xã hội của Quốc hội khóa XII vừa qua, nhiều đại biểu Quốc hội đã tỏ ra bức xúc với những vướng mắc trong việc bổ nhiệm, đề bạt hay thuyên chuyển cán bộ. Một đại biểu cho biết: “Thực tế để bổ nhiệm được một cán bộ vào vị trí lãnh đạo phải qua nhiều bước, nhiều cấp xem xét, nhưng con voi vẫn lọt qua lỗ kim, cũng chính vì thế nên việc thuyên chuyển kỷ luật, cách chức một cán bộ công chức vô cùng khó khăn, phức tạp, mặc dù sai phạm và trì trệ của họ đã quá rõ ràng. Có nhiều trường hợp cấp trên đã chỉ đạo bằng văn bản, nhất là trong lĩnh vực giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân nhưng cấp dưới không thực hiện để công dân phải khiếu kiện vượt cấp, thử hỏi tại sao trên nói dưới không nghe, nhưng vẫn không bị xử lý?”.

Cũng tại phiên thảo luận, một số đại biểu cùng chung ý kiến cho rằng, một bộ máy hành chính mạnh là khi người đứng đầu có đủ mọi quyền hành để xử lý kỷ luật cấp dưới của mình. Như vậy thì người làm được việc sẽ nhanh chóng được cất nhắc đề bạt và những người sai phạm mới kịp thời bị thay thế. Quốc hội cần xem xét bổ sung sửa đổi các luật có liên quan đến bộ máy Nhà nước. Trong đó thể chế hoá thẩm quyền, trách nhiệm cá nhân người đứng đầu các cấp được quyền giới thiệu, cất nhắc, bổ nhiệm và xử lý cán bộ dưới quyền kèm theo đó là một hệ thống giám sát chặt chẽ có hiệu quả của Quốc hội và Hội đồng nhân dân.

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói rằng, muốn dùng cán bộ đúng, người cán bộ lãnh đạo cần có “5 phải”: “Phải có độ lượng vĩ đại thì mới có thể đối với cán bộ một cách chí công vô tư, không có thành kiến, khiến cho cán bộ không bị bỏ rơi; Phải có tinh thần rộng rãi mới có thể gần gũi với người mình không ưa; Phải có tính chịu khó dạy bảo mới có thể nâng đỡ những đồng chí còn kém, giúp họ tiến bộ; Phải sáng suốt mới khỏi bị bọn vu vơ bao vây mà cách xa cán bộ tốt; Phải có thái độ vui vẻ thân mật, các đồng chí mới vui lòng gần gũi mình”.

Bác từng dạy, muốn có cán bộ tốt thì phải có chế độ đãi ngộ, quan tâm xứng đáng. Thế nhưng, hiện nay lại có không ít ý kiến bức xúc trước những bất cập về chế độ, chính sách đối với cán bộ cơ sở, về kinh phí, phương tiện và điều kiện làm việc. Tại phiên thảo luật về tình hình kinh tế-xã hội của Quốc hội ngày 29-10, một đại biểu đã nói: “Hiện không ít cán bộ không chuyên trách ở cơ sở giữ nhiều vị trí quan trọng nhưng chỉ được hưởng chế độ phụ cấp ở mức rất thấp, không đủ nuôi sống bản thân. Chế độ chính sách như vậy không động viên khuyến khích được cán bộ công tác ở cơ sở. Anh chị em tâm tư, thắc mắc, gây khó khăn cho việc điều hành bố trí cán bộ, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng hiệu quả hoàn thành công việc, nhiệm vụ ở cơ sở”.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, muốn cán bộ tốt thì cơ quan phải quản lý “phải nuôi dạy cán bộ như người làm vườn vun trồng những cây cối quý báu”. Đồng thời, phải thường xuyên huấn luyện cán bộ để nâng cao trình độ giác ngộ, phương pháp tư tưởng, phẩm chất đạo đức và năng lực làm việc cho cán bộ, làm cho cán bộ ngành nào thành thục về chuyên môn của ngành ấy; làm sao cho bất cứ cán bộ nào cũng đều phải “vững về chính trị, giỏi về chuyên môn”. Chủ tịch Hồ Chí Minh coi “cán bộ là gốc của mọi việc. Vì vậy, huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng”.

Linh An

bqllang.gov.vn

Bác Hồ trong ký ức của giới văn nghệ sĩ

Thông thường, người ta biết đến nhà văn hoá Hồ Chí Minh, một quan điểm văn hoá mác – xít chân chính, một bản sắc văn hoá Việt Nam đầy tính sáng tạo trong mối liên hệ với thực tiễn lịch sử, ở sáng tác thơ văn của Người. Nhưng những gì có mối liên hệ với văn hoá trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của Người đã làm chúng ta phải ngạc nhiên và thán phục bởi cái bình diện vừa rộng lớn vừa sâu sắc của nó.

Bên cạnh những sáng tác thơ văn, chính luận, Người đã từng vẽ tranh, chụp ảnh, viết kịch, phê bình phim… Đối với âm nhạc – một loại hình nghệ thuật đặc thù tưởng như rất trừu tượng, chúng ta cũng tìm thấy những nét riêng có liên quan tới hoạt động cách mạng và quan điểm văn hoá của Người.

Trong các tiểu sử, hồi ký, truyện ký, chuyên luận về Chủ tịch Hồ Chí Minh chúng ta thấy sự hiện diện của âm nhạc như một nguồn nuôi dưỡng tinh thần và tình cảm dân tộc, một thành tố tạo nên diện mạo nhà văn hoá, một vũ khí và phương tiện đấu tranh cách mạng, một đối tượng được cảm thụ và đánh giá trên quan điểm thẩm mỹ.

Âm nhạc dân tộc đã đi vào tâm hồn và tình cảm của Bác ngay từ thời thơ ấu. Dù sau này phải rời quê theo cha vào kinh đô Huế từ thời niên thiếu, đi dạy học ở Phan Thiết, làm nghề khuân vác ở bến cảng nhà Rồng, rồi xuất dương tìm đường cứu nước suốt gần nửa thế kỷ đến khi trở thành lãnh tụ của dân tộc Bác vẫn nhớ đinh ninh những làn điệu, những câu hát dân gian ở quê nhà. Chính vì vậy, sau này khi gặp gỡ các nghệ sĩ đến thăm và biểu diễn Bác thường nói: “Lúc còn nhỏ Bác nghe nhiều cụ ở Nghệ An hát ví phường vải và các điệu dân ca Nghệ Tĩnh rất hay“. Có một lần đoàn văn công quân khu IV đến thăm và biểu diễn cho Bác xem, một diễn viên hát điệu ví đò đưa với câu mở đầu “Ai biết nước sông Lam răng là trong là đục...” Bác cười và nói: “Ở Nghệ An người ta gọi là nác chứ không phải là nước”. Một diễn viên khác hát điệu hò khoan, nhưng sau mỗi câu lại không có người hát xen kẽ. Bác liền bảo: “Các cháu không hò khoan theo à?”. (Sách Bác Hồ với văn nghệ sĩ).

Ta thấy rõ Bác không chỉ nhớ từng chi tiết lời ca, nhớ các làn điệu mà cả  kết cấu của những làn điệu dân ca quen thuộc. Xin lưu ý rằng câu chuyện trên diễn ra vào năm 1969, năm Bác 79 tuổi, mùa xuân cuối cùng trong cuộc đời của Bác, trước khi Bác đi xa.

Nhà cách mạng lão thành Lê Văn Hiến kể: “… Ở chiến khu trong các hội nghị, các cuộc họp của Hội đồng Chính phủ, Bác Hồ thường thích nghe tôi hát tuồng…. Có lần trong một hội nghị rất đông, tôi hát lời của “Công chúaTrại 3” tự đấu tranh với bản thân để theo chồng (là Địch Thanh)… Hát đến đó tôi ngừng lại cho như thế là đủ. Bỗng Bác bảo tôi tiếp thêm:

“Hữu tình mà hoá vô tình
Bơ vơ thê thiếp, lênh đênh nỗi chàng

Sao Bác có thể nhớ lời của nhân vật rành đến thế? Bác động viên tôi hát tiếp. Thấy hào hứng của Bác đối với nghệ thuật tuồng truyền sang mọi người. Nhiều lần cả những khi tiếp khách quý, tôi thấy Bác thường cho mời các đoàn tuồng, chèo đến biểu diễn.

Vốn cổ truyền quý báu của dân tộc, dù ở miền nào, địa phương nào đều được Bác trân trọng và cảm thụ với niềm xúc động sâu sắc. Bác tìm thấy ở di sản văn hoá tinh thần ấy một ngọn nguồn, một nền tảng để xây dựng văn hoá mới của đất nước, bên cạnh việc hấp thụ tinh hoa của loài người.

Nhưng quan điểm của Người trong công cuộc bảo tồn và phát huy vốn nghệ thuật dân tộc là phải biết gạn đục khơi trong, “tránh phục cổ một cách máy móc” (Thư gửi Hội nghị cán bộ văn hoá ngày 28/2/1957). Như vậy, việc giữ gìn và bảo tồn vốn âm nhạc cổ truyền phải gắn với việc phát huy, phát triển. Phát triển nhưng không làm sai lạc, mất đi cái tinh tuý cái bản sắc của nó : “Chớ có gieo vừng ra ngô”.

Sự cảm thụ tinh tế, sâu sắc của Bác đối với âm nhạc dân tộc, quan điểm của Bác trong việc giữ gìn, phát huy những tinh hoa âm nhạc dân tộc, không tách rời sự chăm sóc ân cần của người đối với văn nghệ sĩ, trong đó có những nghệ sĩ hoạt động ở lĩnh vực âm nhạc cổ truyền dân tộc. Có biết bao câu chuyện cảm động về mối quan hệ này.

Nghệ sĩ tuồng Nguyễn Nho Tuý đã không ngờ cái nghề diễn tuồng trước đây bị xem là “xướng ca vô loài” lại được Bác Hồ và các đồng chí Trung ương ngồi xem trân trọng đến thế…. “Bác còn bước lên sân khấu bắt tay anh chị em tôi, lại ân cần dặn dò: “Nghệ thuật của ông cha ta hay lắm, tốt lắm! Cố mà giữ gìn“.

Qua các đoạn hồi ký của nghệ sĩ Thương Huyền chúng ta được biết chị là một trong những nhà hoạt động nghệ thuật may mắn và vinh dự được sự chăm sóc và chỉ bảo ân cần của Bác ngay từ những ngày đầu thành lập chính quyền cách mạng “Ngay từ lúc còn là một cô gái 20 tuổi, hát trong những cuộc hội họp của quần chúng sau những ngày Cách mạng Tháng Tám, tôi đã được gặp Bác. Nghe tôi hát, Bác động viên: “Cháu hát tốt lắm, nhưng phải cố gắng, tập thêm nhiều bài mới để phục vụ chiến sĩ, đồng bào và phải chú ý thuộc nhiều dân ca” Thời kỳ tôi ở đoàn ca múa trung ương. Có lần Bác đến thăm chúng tôi biểu diễn vở chèo “Chị Tấm anh Điền”. Diễn xong, Bác cho gọi cô Tấm (do tôi đóng) đến thưởng cho một đĩa kẹo rồi nói: “Hôm nay cháu hát khá hơn các lần trước nhưng vẫn phải cố gắng nhiều hơn”.

Bác Hồ thăm hỏi các văn nghệ sĩ tại Đại hội Văn nghệ toàn quốc lần thứ III. Ảnh: cand.com

Đối với nghệ sĩ, Bác không chỉ động viên khen ngợi, nhắc nhở phải phấn đấu tiến bộ không ngừng trong nghề nghiệp, mà con có những nhận xét chi tiết về chuyên môn để giúp nghệ sĩ khắc phục những nhược điểm nhằm đem lại hiệu quả  nghệ thuật cao hơn, phục vụ công chúng tốt hơn, Thương Huyền giữ mãi một kỷ niệm đáng ghi nhớ: “Tết năm đó, chúng tôi ăn Tết với trung ương ở ATK (an toàn khu). Riêng tôi thỉnh thoảng được Bác dặn: “Cháu hát hay, nhưng luôn nhớ là phải cố gắng hát thật rõ lời và chậm thôi để người ta hiểu được hết nội dung ý nghĩa của bài hát“. Một lần khác, vào những năm chống Mỹ, chị được mời đến Phủ Chủ tịch để xem phim. Trước khi chiếu phim Bác hỏi những người cùng xem trong cơ quan có thích nghe Thương Huyền hát không, mọi người đồng thanh hưởng ứng. Bác liền nói: “Cô Huyền hát đi, hát ru con Nam bộ, hát quan họ Bắc Ninh tuỳ ý, nhưng nhớ là hát phải thong thả và rõ lời”.

Sự quan tâm chăm sóc của Bác đối với đội ngũ nghệ sĩ, hơn thế nữa, đối với từng người cụ thể, không chỉ là mối quan hệ giữa một lãnh tụ đối với nghệ sĩ mà trước hết là tình thương của người cha, người bác  đối với con cháu. Đó là cái cốt lõi nhân bản đậm bản sắc dân tộc trong đạo đức của Người.

Đối với người nghệ sĩ Bác còn dành sự quan tâm đến đời sống thường ngày và quan hệ xã hội gia đình của họ. Nghệ sĩ  Ái Liên, người đã hoạt động trong ngành nghệ thuật cải lương từ trước cách mạng, đã kể lại những mẩu chuyện cảm động trong lần chị và gia đình được đến thăm và biểu diễn cho Bác nghe. Có lần Bác hỏi: “Cô được mấy cháu rồi? Cháu nhỏ, cô đi biểu diễn vất vả lắm không?” Gặp chị lần khác Bác lại hỏi: “Các cháu khỏe cả chứCô đi biểu diễn thế có khi nào mời bà cụ giúp việc đi xem không?”.

Bác khuyên các nghệ sĩ phải trau dồi, học hỏi vốn âm nhạc dân tộc không chỉ là làn điệu bài bản, các hình thức, phong cách… mà ở cả trong các nghệ nhân, ở những lớp người đi trước. Họ cũng là vốn quý của nghệ thuật dân tộc.

Nghệ sĩ sáo Đinh Thìn  kể lại:  Có một lần sau khi thổi sáo cho Bác nghe, nghe xong Bác gật gù và hỏi anh thổi sáo đã lâu chưa và học ai. Đinh Thìn thưa với Bác về cụ Ly, một nghệ nhân giỏi sáo dạy anh, nay đã gần 70 tuổi. Bác hỏi thân thế và hoạt động của người nghệ nhân và nói:

Thế là tốt, cháu đã gặp thầy rồi đó”.

Bác rất yêu thích âm nhạc dân tộc và quen thuộc nhiều làn điệu dân ca. Chưa có nguồn tự liệu nào cho biết thời trẻ Bác đã tập chơi loại nhạc cụ gì. Vậy mà những năm cuối đời, một lần sau khi nghe nghệ sĩ biểu diễn tiết mục sáo trúc, Bác hỏi:

– Chiếc sáo này cháu tự làm lấy hay mua?
– Dạ thưa Bác cháu tự làm.
– Tự làm như thế là giỏi… trong kháng chiến chiến chống Pháp, Bác thấy các chú bộ đội làm sáo nhanh lắm. Đi hành quân, đi tập đều mang theo thổi rất vui.

Nói rồi Bác cầm ống sáo hỏi cách thổi, bấm ngón, lấy hơi và nghệ sĩ đã kể lại cái phút lạ lùng ấy: “Bác để sáo lên miệng thổi. Không khí trong phòng bấy giờ như ngưng đọng lại, mọi người nín thở chờ đợi tiếng sáo của Bác, Bác lấy hơi, nhẹ thổi, hơi chạy vào trong ống sáo, thoát ra các ngón tay của Bác gợi thành một làn điệu dân ca. Bác thổi vừa dứt thì tiếng vỗ tay trong phòng rộn lên, vừa ngạc nhiên vừa sung sướng”.

Câu chuyện trên đây tưởng như một huyền thoại, nhưng có lẽ không phải huyền thoại. Bởi lẽ hồn nhạc dân tộc từ lâu đã thấm sâu vào trái tim và tình cảm của Người – Một cuộc đời vĩ đại mà 79 mùa xuân xuất hiện trên hành tinh này đã để lại muôn vàn tình thân yêu cho toàn dân toàn Đảng và bạn bầu quốc tế.

vietnamnet.vn

Bác là tấm gương sáng về tiết kiệm

Chúng ta đang tích cực và nghiêm túc thực hiện Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, với tấm gương đạo đức sáng ngời của Chủ tịch Hồ Chí Minh về cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư. Ở Bác, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí không chỉ thể hiện trong lời nói mà còn trong mọi việc làm hằng ngày.

Người ta biết đến Bác với những câu chuyện Bác đi dép cao su, mặc áo ka ki bạc màu, ăn cơm đạm bạc rau muống chấm tương… Nhưng ít ai biết, cả đời Bác chắt chiu từng mẩu giấy trắng. Cho đến những ngày cuối cùng, sửa lại những dòng chữ cuối cùng trong Di chúc của mình, Bác vẫn dùng mặt giấy còn lại của tờ bản tin…

Chuyện kể rằng, thực hiện ý kiến nhắc nhở của Bác, Thông tấn xã Việt Nam (TTXVN) hằng ngày gửi bản tin để Bác đọc, đều in hai mặt giấy. In rônêô, nên bản tin hay bị nhòe, Bác vẫn cố gắng đọc. Sang năm 1969, thấy Bác không được khỏe, TTXVN gửi bản tin in một mặt. Xem xong, những tư liệu, tin tức cần thiết, Bác giữ lại, còn thì gửi cho Văn phòng để gấp thành “phong bì tiết kiệm”…

Gần bốn tháng trước khi qua đời, ngày 10-5-1969, Bác viết lại toàn bộ phần mở đầu bản Di chúc, gồm một trang viết tay, vào mặt sau tờ tin Tham khảo đặc biệt ra ngày 3-5-1969. Bác viết những dòng chữ lịch sử và vô cùng thiêng liêng ấy bằng mực xanh và chữ sửa sau đó bằng mực đỏ. Những chữ mực đỏ, nét run run, không cứng cáp như Bác thường viết. Có lẽ Bác sửa lần cuối Di chúc, khi thấy trong người không còn khỏe…

Nhìn những dòng chữ ấy trên mặt giấy tiết kiệm, mọi người đều xúc động và càng kính trọng Bác bao nhiêu lại càng thương Bác bấy nhiêu.

Thanh Hương

bqllang.gov.vn

Tiết kiệm chút nào là có lợi cho dân chút ấy !…

Vào năm 1955, Bác Hồ đến thăm công trường xây dựng cầu Phủ Lạng Thương. Đầu tiên, Bác đến thăm khu nhà ở, khu vệ sinh, giếng nước ăn và nhà bếp tập thể của công nhân.

Sắp đến giờ ăn trưa, Bác mở lồng bàn, xem suất cơm và các món ăn, rồi Bác khoát tay gọi anh chị em công nhân lại gần và nói: “Bác hỏi câu này, các cháu phải trả lời trung thực – mọi người còn đang bất ngờ, Bác hỏi luôn – Hằng ngày các cháu có được ăn nhiều cơm, đủ món ăn như hôm nay không? Hay biết tin Bác đến, các chú chỉ huy công trường “làm cỗ” để Bác vui lòng ?”.

Thực tế, thợ cầu đường là những người vất vả, cực nhọc nhất, nên chỉ huy công trường thường xuyên chăm lo miếng ăn, giấc ngủ cho anh em, không có chuyện bày đặt để làm vui lòng Bác. Nhưng sau câu hỏi sâu sát của Bác, mọi người đều thấm thía về sự trung thực, về sự chăm lo lẫn nhau trong điều kiện có nhiều khó khăn. Nếu có sự bày đặt, chắc chắn uy tín của cán bộ chỉ huy công trường sẽ bị giảm sút. Nguy hại hơn, sự đoàn kết, nhất trí của tập thể cũng giảm sút theo và tất nhiên sẽ ảnh hưởng đến tiến độ, chất lượng công trình.

Cũng nhân một bữa ăn, Bác lại nhắc đến việc tiết kiệm. Đó là dịp Đại hội Đảng lần thứ III, Bác thường xuyên ăn cơm cùng các đại biểu. Một bữa trưa, Bác ăn cơm với đoàn đại biểu ngành Đường sắt. Mấy anh chị cứ chống đũa không chịu ăn để được ngắm Bác. Thấy vậy, Bác đến bên và hỏi vui: “Các cô, các chú mệt quá hay ốm mà bỏ cơm thế này? – Rồi Bác nói luôn – ăn ngon miệng, ăn hết thì báo nhà bếp nấu thêm. Nhưng ăn không hết cũng phải báo cho nhà bếp để giảm khẩu phần đi. Mỗi đĩa xào, mỗi bát canh đều là tiền của đóng góp của nhân dân lao động. Tiết kiệm, thu vén được chút nào là có lợi cho dân chút ấy !”.

Mọi lúc, mọi nơi, trong mọi lời nói, mọi cử chỉ của Bác Hồ đều thấm đẫm tình yêu thương và bài học về đạo đức. Hãy lắng nghe, hãy làm theo Người, bởi tư tưởng, đạo đức của Người vẫn là sự tốt đẹp, trong sáng nhất.

Vũ Trần

bqllang.gov.vn

Ðức của Bác lớn lắm, sáng lắm

Ðối với dân tộc ta, nhân dân ta, công đức và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh là vô cùng to lớn. Ðã có rất nhiều bài văn, bài báo, bài thơ, bài hát, bài ca dao, vở kịch, tấm ảnh và cả những bài luận văn có tầm cỡ ngợi ca đức tính tốt đẹp, công lao vĩ đại của Người. Có thể tóm tắt những lời ngợi ca ấy bằng bốn chữ “Ðức lớn, tâm đầy”.

“Chỉ có ít nhân vật lịch sử trở thành huyền thoại ngay khi còn sống. Hồ Chí Minh là một trong số đó. Người được ghi nhớ không phải chỉ là người giải phóng cho Tổ quốc và nhân dân bị đô hộ, mà còn là nhà hiền triết hiện đại đã mang lại một viễn cảnh và hy vọng mới cho những người đang đấu tranh không khoan nhượng để loại bỏ bất công, bất bình đẳng khỏi trái đất này”. (Tiến sĩ M.Amét, Giám đốc UNESCO khu vực châu Á – Thái Bình Dương).

Khi nói về chữ Ðức ở Bác rất nên ghi lại những lời chân thành của cố Phó Thủ tướng Phan Kế Toại. Cụ Phan gần Bác suốt cả chín năm kháng chiến nơi chiến khu Việt Bắc, cho nên cụ rất hiểu Bác. Cụ nói: “Gần Ông Cụ thì lòng dạ mình được sáng thêm, ý thức phục vụ nhân dân càng đầy thêm. Hồ Chí Minh như một trái núi nam châm, Bác có sức hút mãnh liệt lại có sức tỏa sáng rộng lớn”.

Cố Tổng Thư ký Ðảng Xã hội Việt Nam, nhà khoa học Nguyễn Xiển cảm nhận được tấm lòng, đức độ của Bác qua những ánh mắt nhân hậu của Bác. Ông đã có một câu nói xuất phát từ trái tim của một nhà trí thức đã đi theo Bác Hồ từ những ngày đầu tiên: “Lá cờ đỏ sao vàng với cặp mắt Bác Hồ, đó là mùa xuân của dân tộc và cũng là mùa xuân của đời tôi”.

Những ngày nước ta mới giành được chính quyền, nạn đói chưa dứt, lại lăm le giặc ngoại xâm, bao nhiêu là gánh nặng của quốc gia đặt lên đôi vai gầy của Bác. Nhiều đêm Bác thức với ngọn đèn chong. Ðồng chí Hoàng Hữu Kháng, một trong tám đồng chí bảo vệ Bác nhớ lại những năm tháng gian truân ấy: “Tính Bác rất dễ xúc động. Có một đêm Bác ngủ trên một căn gác của một ngôi nhà. Bốn giờ sáng, Bác thức giấc. Ngoài trời gió vun vút đập vào cửa kính. Ở trong phòng còn thấy lạnh, thế mà có tiếng trẻ em rao hàng cuối đường phố vọng lên. Bác mở cửa sổ ngó nhìn cho tới khi chú bé rao hàng đi khuất, Bác mới từ từ khép cửa lại”.

Báo “Sống” số 1 ra ngày 6-1-1946 tại thủ đô Hà Nội viết về cái rét cuối năm 1945 và tấm lòng của Bác. Năm 1945 ấy, dân ta đã đói lại rét, mà cách mạng vừa mới thành công, việc nước còn ngổn ngang trăm mối. Chính phủ do Bác đứng đầu đang gắng sức giải quyết từng việc lớn. Trời rét lạnh lại có mưa phùn, nhìn trời nhìn đất, Bác nói: “Rét thế này, đêm qua có bao đồng bào đói rách chết bên đường”.

Một đời lo việc nước, việc dân, Bác sống gương mẫu, nêu một lối sống “nhân văn cộng sản” cho mọi người trông vào và có thể noi theo. “Chúng tôi hiểu và nhận ra rằng: chính cái giản dị ấy, cái khả năng hòa mình vào nhân dân ấy là cơ sở cho sự thành công của ông. Ðịa vị càng cao, ông càng giản dị, trong sạch hơn. Hình như ông luôn luôn giữ được giá trị vĩnh viễn của người Việt Nam”. (Nhà báo David Sten, Australia).

Ca dao dân gian có câu: “Ðếm sao cho hết vì sao; Kể sao cho hết công lao Cụ Hồ”. Bác là người không chỉ đấu tranh cho nền độc lập, tự do của dân tộc ta mà còn là người góp phần soi ánh sáng cho các dân tộc mạnh bước trên con đường tranh đấu của mình. R.Chandra, nhà văn hóa nổi tiếng Ấn Ðộ, một chiến sĩ hòa bình được thế giới yêu mến, viết: “Bất cứ nơi nào chiến đấu cho độc lập, tự do, ở đó có Hồ Chí Minh và ngọn cờ Hồ Chí Minh bay cao. Bất cứ ở đâu chiến đấu cho hòa bình và công lý, ở đó có Hồ Chí Minh và ngọn cờ Hồ Chí Minh bay cao. Bất cứ đâu nhân dân chiến đấu cho một thế giới mới, chống lại đói nghèo, ở đó có Hồ Chí Minh và ngọn cờ Hồ Chí Minh bay cao”.

Theo Báo Nhân dân

bqllang.gov.vn

Chu đáo từ việc nhỏ nhất

Bất kể ai vinh dự được sống, làm việc gần Bác đều có thể kể về hàng trăm việc làm, cử chỉ chăm lo chu đáo từ việc nhỏ nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với mọi người.

Cuối năm 1950, Bác đi dự Lễ tổng kết chiến dịch Biên giới. Khi về, Người không quên gửi quà cho hai nữ nhân viên văn phòng. Đó là mấy chiếc kẹo sôcôla, quà chiến lợi phẩm sau chiến dịch Biên giới, chiêu đãi tại hội nghị.

Ở chiến khu, gần nơi Bác ở có các cháu là con của các đồng chí lãnh đạo, như con các anh Trần Duy Hưng, Trường Chinh… Lâu lâu, vào chủ nhật, Bác cho đón các cháu vào chỗ Bác chơi, chiều lại về với bố mẹ. Một hôm, vợ đồng chí Trường Chinh đến thăm Bác, có dắt theo con nhỏ. Hai bác cháu chơi với nhau rất vui. Bác hỏi: “ở đây với Bác nhé!”. Cháu bé vui vẻ nhận lời ngay. Nhưng đến khi mẹ về, cháu quên ngay lời hẹn ở lại, vội chào Bác và chạy theo mẹ. Bác tiễn cháu, nước mắt rưng rưng: “Cái nghiệp mình thế, không có gia đình!…”. Bà Trường Chinh lặng người, thương Bác vô cùng!. Hơn ai hết, bà biết Bác luôn quan tâm chăm lo cho gia đình mọi người và thường nhắc nhở bố trí cho các gia đình cán bộ ở gần cơ quan.

Theo lời kể của nhiều người, buổi tối hôm diễn ra Đại hội liên hoan Chiến sĩ thi đua toàn quốc lần đầu tiên, tại Việt Bắc hồi tháng 5 năm 1952, có chiếu phim. Bác ngồi xem ở hàng cuối, cạnh nhà thơ Tú Mỡ. Phe phẩy quạt giấy, Tú Mỡ cố ý quạt nghiêng sang phía Bác. Một lúc sau, Bác bảo Tú Mỡ đưa quạt và Người cũng phe phẩy, cố ý để Tú Mỡ cùng được hưởng mát. Chiếu bóng xong, mọi người lục tục đứng dậy ra về, Bác vội đứng lên, giơ tay ra hiệu trật tự và nói to: “Hãy khoan đã, để cho các cháu bé ra trước, kẻo lộn xộn, các cháu sẽ lạc đấy!”. Bác lo toan hàng vạn việc lớn lao, nhưng vẫn không quên những việc nhỏ, đời thường mà nhiều người không hề nghĩ tới…

Thanh Hương

Bữa tiệc tân gia nhà sàn Bác Hồ

Chuyện làm nhà cho Bác Hồ ở đã được báo cáo trước với Bác, kể cả phần dự trù kinh phí. Sợ việc làm nhà ồn ào, bụi bặm ảnh hưởng tới sức khỏe của Bác nên anh em đợi đúng dịp Bác đi công tác mới khởi công. Ai nấy đều thấy vinh dự, tự hào được làm nhà cho Bác Hồ nên đều cố gắng hết sức mình, sao cho nhà Bác đẹp, chắc chắn và xong trước ngày Bác đi công tác về. Một đợt thi đua tự giác, không cần phát động…

Quả nhiên, trước hôm Bác về, mọi việc đều đã đâu vào đấy. Nhìn ngôi nhà sàn hai gian thoáng đãng, tầng dưới bốn phía đều để trống, tầng trên chia làm hai phòng, một phòng để Bác làm việc, một phòng để Bác nghỉ, xung quanh là hành lang rộng có mành che, mọi người vừa mừng, vừa hồi hộp. Không biết ngôi nhà có hợp ý Bác không ? Ai cũng mong được nghe ý kiến trực tiếp của Bác.

Như đoán được ý nghĩ của mọi người, Bác tổ chức một bữa “tiệc ngọt”, liên hoan ngay ở tầng dưới ngôi nhà sàn. Anh em nói vui, gọi đó là “bữa tiệc tân gia” mừng nhà mới của Bác. Kiến trúc sư Nguyễn Văn Ninh (người có vinh dự được giao nhiệm vụ thiết kế và thi công nhà sàn Bác Hồ) kể rằng, không khí buổi liên hoan vừa thiêng liêng, vừa đầm ấm lạ thường. Bác như người cha hiền từ với đàn con xúm xít chung quanh, vui mừng khi trong nhà làm được một việc lớn. Bác giục mọi người ăn kẹo, uống nước. Nói về việc làm nhà sàn, Bác khen:

– Các chú làm như thế là nhanh, tốt, bảo đảm thời gian, nhưng còn một khuyết điểm. Các chú có biết khuyết điểm gì không ?

Mọi người nhìn nhau lo lắng. Kiến trúc sư Nguyễn Văn Ninh vội đáp lời:

– Thưa Bác, so với ý Bác dặn thì có tốn kém hơn đôi chút ạ!

– Chú nói đúng ! – Bác cười, chòm râu rung nhè nhẹ.

– Thưa Bác, làm nhà để Bác ở, chúng cháu ai cũng cố gắng làm tốt, làm đẹp trong từng phần việc của mình. Mỗi người dù rất tiết kiệm, nhưng vẫn phải thêm thắt tý chút. Chúng cháu còn muốn Bác ở nhà đẹp hơn, tốt hơn – Anh Ninh lại đỡ lời.

– Nước ta còn chưa giàu – Bác Hồ nói tiếp – dân ta còn khổ, chưa đủ nhà ở. Bác ở thế này là quá tốt rồi, các chú không phải lo cho Bác.

Hôm tân gia và cũng là ngày Bác dọn về ở nhà sàn đúng ngày 18-5-1958, một ngày trước sinh nhật của Người. Nhà sàn trở thành món quà sinh nhật lớn thật có ý nghĩa.

Thanh Hương

bqllang.gov.vn