Tag Archive | Hồ Chí Minh

Phát triển khoa học – công nghệ Việt Nam theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Từ sau cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ Nhất diễn ra ở Châu Âu và Bắc Mĩ giai đoạn cuối thế kỷ 18 đầu thế kỷ 19 mà xuất phát điểm là ở nước Anh, nhân loại đã bắt đầu nhận thức được sức mạnh thực sự của khoa học, kĩ thuật. Có thể nói, cách mạng công nghiệp là một trong những nguyên nhân cơ bản hình thành lên chủ nghĩa tư bản và các đế quốc hùng mạnh thời bấy giờ. Chính nhờ tàu bè, súng ống mà năm 1858 người Pháp đã nổ phát súng đầu tiên lên bán đảo Sơn Trà (Đà Nẵng), mở đầu cho mấy chục năm Pháp thuộc, làm cho nhân dân ta lâm vào cảnh lầm than. Những thành tựu khoa học, kĩ thuật nổi bật của phương Tây thời kì đó là động lực thôi thúc các chí sĩ yêu nước của dân tộc ta như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng…và sau này là Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh làm ra các cuộc vượt biển lớn, đi tìm con đường giải phóng, giành lại độc lập, tự do cho dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Khoa học và công nghệ giai đoạn mới hiện nay bắt đầu phát triển mạnh từ những năm 40 thế kỷ trước và đặc trưng rõ nét nhất từ khi vệ tinh nhân tạo đầu tiên chinh phục không gian vũ trụ, tiếp đó là con người bay vào vũ trụ, đặt chân lên mặt trăng, các công trình nghiên cứu vũ trụ khác; sự ra đời của các ngành công nghệ mới như công nghệ thông tin, viễn thông, công nghệ năng lượng tái tạo…Đến cuối thế kỷ XX, có thể khẳng định rằng nền sản xuất xã hội đang biến đổi sâu sắc, mạnh mẽ tạo nên sự phát triển nhảy vọt, một bước chuyển lịch sử sang một kỉ nguyên hoàn toàn mới – kỉ nguyên tri thức. Tri thức đã thực sự trở thành lực lượng sản xuất cơ bản của xã hội loài người và khoa học – công nghệ chính là yếu tố tạo ra tri thức đó. Khoa học – công nghệ là một trong những thế mạnh chủ yếu giúp cho các nước phát triển duy trì được vị thế của mình, đồng thời cũng trở thành động lực, cơ hội, là đòn bẩy giúp các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam tiến lên. Sự trỗi dậy của những “con rồng, con hổ” Châu Á như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore là những ví dụ xác thực nhất cho luận điểm đó.

Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 01/11/2012 Hội nghị lần thứ 6 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về phát triển khoa học và công nghệ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tếđã nhận định: Trong quá trình thực hiện công cuộc đổi mới, mặc dù điều kiện đất nước còn nhiều khó khăn, nhưng nhờ có sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, sự nỗ lực, tâm huyết của đội ngũ các nhà khoa học, sự cố gắng của các doanh nghiệp và nhân dân, khoa học và công nghệ nước ta đã đạt nhiều thành tựu quan trọng, đóng góp thiết thực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc….Tuy nhiên, hoạt động khoa học và công nghệ nhìn chung còn trầm lắng, chưa thực sự trở thành động lực phát triển kinh tế – xã hội. Việc huy động nguồn lực của xã hội vào hoạt động khoa học và công nghệ chưa được chú trọng; đầu tư cho khoa học và công nghệ còn thấp, hiệu quả sử dụng chưa cao. Việc đào tạo, trọng dụng, đãi ngộ cán bộ khoa học và công nghệ còn nhiều bất cập. Cơ chế quản lý hoạt động khoa học và công nghệ chậm được đổi mới. Công tác quy hoạch, kế hoạch phát triển khoa học công nghệ chưa gắn với yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội; cơ chế tài chính còn chưa hợp lý. Thị trường khoa học và công nghệ phát triển chậm, chưa gắn kết chặt chẽ kết quả nghiên cứu, ứng dụng và đào tạo với nhu cầu sản xuất, kinh doanh và quản lý. Hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ còn thiếu định hướng chiến lược, hiệu quả thấp….Từ những đánh giá trên, một lần nữa chúng ta cùng nhìn lại, ngẫm lại và học hỏi từ những lời căn dặn của Hồ Chủ tịch về phát triển khoa học và kỹ thuật.

8.1. phat trien KHCN theo quan diem cua CTHCM 1Bác Hồ với phong cách làm việc khoa học, tiến bộ. Ảnh internet

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ I của Hội phổ biến Khoa học, kĩ thuật Việt Nam năm 1963, Bác đã nói: “Chúng ta đều biết rằng trình độ khoa học, kỹ thuật của ta hiện nay còn thấp kém. Lề lối sản xuất chưa cải tiến được nhiều. Cách thức làm việc còn nặng nhọc. Năng suất lao động còn thấp kém. Phong tục tập quán lạc hậu còn nhiều. Nhiệm vụ của khoa học là ra sức cải biến những cái đó”1. Như vậy, một mặt Bác chỉ rõ yếu kém của trình độ khoa học, kỹ thuật nước nhà, một mặt chỉ ra nhiệm vụ quan trọng của khoa học. Nhiệm vụ đó chính là:“Khoa học phải từ sản xuất mà ra và phải trở lại phục vụ sản xuất, phục vụ quần chúng, nhằm nâng cao năng suất lao động và không ngừng cải thiện đời sống của nhân dân…”. Điều đó có nghĩa, khoa học phải hướng tới người lao động, giúp họ thay đổi, cải tiến lề lối sản xuất, công việc bớt nặng nhọc mà năng suất lao động đạt được cao hơn. Quan điểm đó của Chủ tịch Hồ Chí Minh đến nay và mai sau vẫn còn nguyên giá trị, là bài học lớn cho các nhà hoạch định chính sách đối với sự phát triển của khoa học – công nghệ hiện nay ở nước ta.

Trong thời gian qua, một vấn đề nổi bật đã được đặt ra, đó là chất lượng của hoạt động nghiên cứu khoa học, là tính ứng dụng vào thực tiễn đời sống xã hội của các đề tài nghiên cứu khoa học còn rất hạn chế. Ở nước ta, có hàng trăm trường đại học, số lượng các nhà khoa học rất đông đảo, hàng chục nghìn cán bộ nghiên cứu, hàng chục nghìn giáo sư, tiến sĩ, thạc sĩ….được đào tạo bài bản, công phu, có cơ sở và thiết bị để nghiên cứu, có ngân sách của Nhà nuớc bảo đảm thực hiện….Nhưng những phát minh, sáng chế có hiệu quả ứng dụng thực tiễn caocho bà con nông dân như máy gặt lúa, máy tách hạt, máy thái hành, tỏi, máy thu hoạch hoa quả, máy cắt tỉa cành…lại do chính những người nông dân tự mày mò, học hỏi, nghiên cứu sáng tạo ra, trong khi đó rất nhiều đề tài, dự án khoa học hàng trăm triệu đồng, thậm chí hàng tỉ đồng do các nhà nghiên cứu khoa học thực hiện thì lại “đắp chiếu” và không có ứng dụng trong thực tế, cũng không có nhiều đóng góp vào tri thức khoa học cơ bản. Nói như Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội Nguyễn Hạnh Phúc: “Các nhà khoa học lo về tiền còn vất vả hơn nghiên cứu, dẫn đến hiệu quả hạn chế, làm xong ứng dụng thực tế thì ít mà lưu kho thì nhiều, trong khi chính người nông dân lại tự sáng tạo ra nhiều máy móc phục vụ sản xuất hiệu quả”, hay như gần đây nhiều báo chí đưa tin, giật tít “Nông dân Việt Nam “đánh bại” các nhà khoa học thế nào?”…Đó là điều mà các nhà khoa học, cũng như các nhà quản lí khoa học – công nghệ cần phải thực sự thẳng thắn nhìn nhận và có biện pháp, định hướng phát triển chiến lược hiệu quả, nghiêm túc.

Bàn sâu hơn về vấn đề này, Bác căn dặn những người làm khoa học: “Các đồng chí phải đi xuống tận các xí nghiệp, các hợp tác xã, hỏi han công nhân, nông dân yêu cầu gì, họ làm ăn và sinh sống như thế nào và phổ biến những điều cần thiết giúp đỡ họ cải tiến kĩ thuật, phát triển sản xuất, cải thiện đời sống. Các đồng chí phải là những chiến sĩ trên mặt trận tư tưởng, văn hóa và khoa học, kĩ thuật; phải góp tài góp sức để cải biến bộ mặt xã hội của nước ta, làm cho nhân dân ta sản xuất và công tác theo khoa học và đời sống của nhân dân ta văn minh, tức là khoa học, lành mạnh và vui tươi. Đó là nhiệm vụ rất nặng nề mà cũng rất vẻ vang”2 . Bằng những câu từ giản dị dễ hiểu đó, Bác đã chỉ ra đường hướng cơ bản cho sự phát triển khoa học – công nghệ, đó là phải có sự kết hợp chặt chẽ giữa khoa học với lao động sản xuất và đời sống xã hội. Đồng thời Bác cũng đã chỉ ra trách nhiệm lớn lao của các nhà khoa học trong việc “cải biến bộ mặt xã hội”, định hình bộ mặt văn hóa của đất nước và sứ mệnh làm cho đời sống của nhân dân “khoa học, lành mạnh và vui tươi”. Các nhà khoa học, thông qua hoạt động nghiên cứu, giảng dạy và phổ biến kiến thức, phải có trách nhiệm giúp người dân sinh hoạt và làm việc khoa học, hợp lý hơn, loại bỏ những thói quen sống và làm việc lạc hậu, trì trệ. Có thể nói, tư tưởng đúng đắn đó của Người càng cần phải được áp dụng mạnh mẽ hơn trong bối cảnh hiện nay, khi sự liên kết giữa các cơ sở nghiên cứu, người làm khoa học với người dân, các doanh nghiệp và rộng hơn là đời sống thực tiễn xã hội chưa thực sự sâu sắc và chặt chẽ; sự xa rời thực tế, ít có tính mới, tính sáng tạo trong hoạt động nghiên cứu khoa học là những trăn trở cần phải có những đường lối, chính sách lãnh đạo, biện pháp thực hiện quyết liệt của Đảng và Nhà nước.

Nghiên cứu khoa học luôn có tính kế thừa. Nhận thức sâu sắc điều đó, Người đã căn dặn các nhà khoa học nói chung phải có “nhiệm vụ dạy bảo các cháu thiếu niên về khoa học, kĩ thuật, làm cho các cháu ngay từ thuở nhỏ đã biết yêu khoa học, để mai sau các cháu trở thành những người có thói quen sinh hoạt và làm việc theo khoa học” 3. . Đây là một tư tưởng hết sức tiến bộ của Chủ tịch Hồ Chí Minh về cách giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ, về vai trò của các em đối với sự phát triển của khoa học – công nghệ nói riêng và của đất nước nói chung. Bác đã nhấn mạnh một triết lý giáo dục rất khoa học đó là phải tạo cho trẻ em tình yêu khoa học, ham hiểu biết, khám phá ngay từ thuở nhỏ; không phải dạy cho học sinh thật nhiều chữ nghĩa, mà là khơi dậy ở các em niềm yêu thích, tự học hỏi và sáng tạo. Khi các em đã có tình yêu với tri thức thì các em sẽ tự giác học tập và từ đó hiệu quả giáo dục cũng sẽ được nâng cao. Bác cũng nhận định rằng, khi các em đã biết yêu khoa học từ nhỏ thì lớn lên sẽ trở thành người có thói quen sinh hoạt và làm việc theo khoa học. Điều đó thực sự rất quan trọng và có ích cho sự phát triển kinh tế – xã hội trong công cuộc thực hiện CNH-HĐH đất nước và hội nhập toàn cầu.

8.2. phat trien KHCN theo quan diem cua CTHCM 2Chủ tịch Hồ Chí Minh và GS.VS Trần Đại Nghĩa. Ảnh internet

Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong việc phát triển khoa học, kĩ thuật nước nhà không chỉ thể hiện qua những bài nói, bài viết, mà còn qua chính cách Bác trọng dụng nhân tài nói chung và đối với các nhà khoa học nói riêng. Trong cuộc đời làm cách mạng của mình, Bác đã thu hút được rất nhiều trí thức, nhà khoa học về phục vụ nhân dân, phục vụ đất nước; giao cho họ những công việc hợp sở trường, tạo điều kiện thuận lợi để họ phát huy tối đa năng lực, hiểu biết của mình góp phần vào công cuộc giải phóng dân tộc, xây dựng và phát triển đất nước. Xuất phát từ lòng yêu nước, niềm tin, niềm cảm phục đối với lãnh tụ Hồ Chí Minh, biết bao nhân sĩ, trí thức và các nhà khoa học tên tuổi như: Hồ Đắc Di, Nguyễn Văn Tố, Tạ Quang Bửu, Tôn Thất Tùng, Trần Đại Nghĩa, Phạm Ngọc Thạch, Đặng Văn Ngữ… đã tự nguyện từ bỏ cuộc sống êm ấm, giàu có ở Hà Nội, Sài Gòn, Tokyo hay Paris để tham gia cách mạng, sẵn sàng chịu nhiều hi sinh, gian khổ, lập nên những kỳ tích về khoa học, kĩ thuật trong kháng chiến và phát triển đất nước. Trong ký ức của mình, ông Vũ Kỳ rất ấn tượng về bức thư kêu gọi những người tài giỏi ra giúp đỡ Chính phủ của Bác năm 1945 và việc Bác cho đăng tin trên báo chí: Sẵn sàng dành thì giờ tiếp 15 phút với bất kỳ ai để nghe kiến nghị, góp ý phê bình về các vấn đề quốc kế, dân sinh… Như vậy, với tư tưởng tiến bộ và phong cách làm việc khoa học của mình, Bác luôn tôn trọng ý kiến đóng góp của các trí thức, các nhà khoa học đối với mỗi quyết sách lớn của đất nước. Bác không chỉ lắng nghe những ý kiến hợp tình, hợp lý, đúng đắn mà còn trân trọng lắng nghe cả những ý kiến phản biện, trái chiều, miễn sao các ý kiến đó có mục đích chung là giải phóng dân tộc, phát triển đất nước. Tinh thần cầu thị đó của Bác với các trí thức, các nhà khoa học chính là bài học lớn đối với các nhà lãnh đạo, các nhà quản lý đất nước ta trong thời kì hiện nay, khi tình trạng “chảy máu chất xám” đang diễn ra ngày càng phổ biến và nhức nhối, rất nhiều nhà khoa học ưu tú của đất nước đang cống hiến tri thức của mình cho các nước tiên tiến vì trong nước không có được điều kiện tốt nhất để phát huy, phát triển tài năng…. Đó cũng là một trong những nguyên nhân khiến cho nền khoa học – công nghệ nước ta chưa bắt kịp các nước phát triển trên thế giới.

Gần đây trên báo chí cũng đã có nhiều bài viết, nhiều chuyên đề thảo luận về các vấn đề như làm thế nào để đưa nền khoa học Việt Nam đi lên, làm thế nào để thu hút các nhà khoa học giỏi về nước. Có thể nói, trong lĩnh vực khoa học – công nghệ, yếu tố con người là quan trọng nhất, được đặt lên hàng đầu. Chủ tịch Hồ Chí Minh rất chú ý đến việc đào tạo, phát triển nguồn nhân lực cho lĩnh vực khoa học – công nghệ, Bác đặt biệt coi trọng xây dựng “con người mới” vì đây là động lực quyết định hướng đi lên của xã hội Việt Nam tương lai. Con người mới vừa là nhân vừa là quả của quá trình đấu tranh xây dựng xã hội mới. Bác nói: “Đã là người chủ thì phải biết tự mình lo toan gánh vác, không ỷ lại, không ngồi chờ”. Điều đó nghĩa là, con người mới phải có tri thức văn hóa và khoa học, có trình độ chuyên môn nghiệp vụ dựa trên những phẩm chất đạo đức được tu dưỡng, rèn luyện hàng ngày. Do đó, muốn khoa học – công nghệ nước ta ngày càng phát triển thì vấn đề ưu tiên trước nhất là phải thu hút được người tài, người giỏi và đặc biệt là thu hút được các nhà khoa học đã có kinh nghiệm làm việc trong môi trường quốc tế. Để làm được điều đó phải tạo điều kiện cho họ được làm việc, giao những trọng trách xứng đáng dựa trên tài năng, tạo ra cho họ môi trường tự do học thuật, không bị gò bó bởi các yếu tố chính trị. Các nhà lãnh đạo cũng như cán bộ các cấp cần thực sự cầu thị, tôn trọng lắng nghe ý kiến đóng góp của họ trong những vấn đề liên quan tới phát triển khoa học, kĩ thuật, phát triển đất nước. Tiếp đến là cần tập trung đầu tư về cơ sở vật chất, trang thiết bị, máy móc đạt tiêu chuẩn quốc tế để các nhà khoa học có được điều kiện tốt nhất để làm việc, nghiên cứu. Và yếu tố cũng rất quan trọng và được quan tâm đó là mức lương chi trả cho các nhà khoa học ít nhất cũng phải bảo đảm được cuộc sống cơ bản của họ và gia đình, để họ không phải gánh thêm nỗi lo “cơm áo gạo tiền”….

Từ hơn nửa thế kỷ trước, Người đã khẳng định “Nhiệm vụ của khoa học, kĩ thuật là cực kì quan trọng, cho nên mọi ngành, mọi người đều phải tham gia công tác khoa học, kĩ thuật, để nâng cao năng suất lao động, sản xuất ra nhiều của cải vật chất, để xây dựng chủ nghĩa xã hội thắng lợi” 4 . Điều đó có nghĩa, nhiệm vụ phát triển khoa học, kĩ thuật là nhiệm vụ chung của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, là điều kiện quan trọng để xây dựng và phát triển đất nước. Các nhà khoa học có vai trò tạo ra tri thức và phổ biến tri thức cho nhân dân và nhân dân cũng cần tích cực học hỏi, sống, làm việc một cách khoa học để đưa đất nước đi lên, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. Thấm nhuần những lời dạy sâu sắc đó của Người, trong những năm qua Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chính sách, định hướng phát triển chiến lược, quan trọng cho nền khoa học – công nghệ nước nhà, đặc biệt Quyết định số 418/QĐ-TTg ngày 11 tháng 4 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ giai đoạn 2011 – 2020; ngày 01/11/2012, thay mặt Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ký ban hành Nghị quyết Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI (Nghị quyết số 20-NQ/TW) về phát triển khoa học và công nghệ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế; việc sửa đổi Luật Khoa học và Công nghệ; Chính phủ ban hành Nghị định số108/2012/NĐ-CP ngày 25/12/2012 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 19 tháng 02 năm 2013 và thay thế cho Nghị định số 62/2008/NĐ-CP ngày 12/5/2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam.…sẽ tạo ra cơ sở pháp lý quan trọng để nền khoa học – công nghệ Việt Nam phát triển đi lên, trở thành động lực quan trọng cho sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước./.

1, 2, 3, 4: Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, XB lần 3, tập 14, trang 96.

Huyền Trang
bqllang.gov.vn

Vận dụng tư tưởng, tấm gương Đạo đức Hồ Chí Minh

Tự học và học suốt đời là một luận điểm quan trọng trong tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục và chính Người là tấm gương sáng ngời về tinh thần suốt đời bền bỉ và khiêm tốn học hỏi. Người căn dặn: “Phải nâng cao và hướng dẫn việc tự học, phải học ở trường, học ở sách vở, học lẫn nhau và học hỏi ở nhân dân”, “Học hỏi là một việc phải tiếp tục suốt đời.

TT-HCM về đạo đứcHọc tập phải gắn liền lý luận với công tác thực tế. Không ai có thể tự cho mình đã biết đủ rồi, biết hết rồi. Thế giới ngày ngày đổi mới, nhân dân ta ngày càng tiến bộ, cho nên chúng ta phải tiếp tục học và hành để tiến bộ kịp nhân dân”

Truyền thống gia đình, quê hương đã hun đúc nên tinh thần hiếu học của người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành. Trong những năm tháng ra đi tìm đường cứu nước, Người chứng kiến và thấu hiểu được cảnh lầm than, thất học của nhân dân các dân tộc thuộc địa. Năm 1919, thay mặt những người Việt Nam yêu nước sống ở Pháp, Nguyễn Ái Quốc gửi đến Hội nghị Versailles bản yêu sách gồm tám điểm, trong đó điểm thứ sáu là: “Tự do học tập và mở các trường kỹ thuật và chuyên nghiệp cho người bản xứ ở khắp các tỉnh”. Chính quá trình tự nghiên cứu, học tập và khảo sát mà Nguyễn Ái Quốc đã tìm ra con đường cứu nước cho dân tộc: Đó là sự kết hợp và giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

Cách mạng Tháng Tám thành công, Bác coi việc diệt giặc dốt quan trọng và cấp bách như diệt giặc đói, giặc ngoại xâm: “Giặc đói, giặc dốt là bạn đồng hành của giặc ngoại xâm” vì “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”. Bác động viên khích lệ đồng bào: “Đi học là yêu nước”. Tại phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ do Hồ Chí Minh chủ trì đã nêu xóa nạn mù chữ và nâng cao trình độ văn hóa cho nhân dân lao động là một trong những nhiệm vụ cấp bách. Ngày 8/9/1945, Hồ Chủ tịch ký Sắc lệnh thành lập cơ quan Bình dân học vụ và kêu gọi toàn dân tham gia xóa nạn mù chữ. Mỗi người biết chữ đều phải tham gia dạy cho người mù chữ: “Vợ chưa biết thì chồng bảo, em chưa biết thì anh bảo, cha mẹ không biết thì con bảo…”. Trong bài “Chống nạn thất học”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết “ Mọi người Việt Nam phải hiểu biết quyền lợi của mình, phải có kiến thức mới để có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà và trước hết phải biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ”.

Năm 1946, trong “ham muốn tột bậc” của vị lãnh tụ muôn vàn kính yêu của chúng ta, bên cạnh ham muốn “nước nhà được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc”, là ham muốn “ai cũng được học hành”. Cũng nhờ sự ham muốn đó mà Bác Hồ không ngừng học tập, rèn luyện trong mọi hoàn cảnh để có một  kiến thức uyên bác,  tài năng lỗi lạc, trở thành “Danh nhân văn hoá thế giới, anh hùng giải phóng dân tộc”, vững tay chèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam vượt muôn trùng sóng gió để tới bến bờ vinh quang.

Với sự nghiệp trồng người, Bác căn dặn “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây. Vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”. Bác khẳng định: “Non sông Việt Nam có trở nên vẻ vang hay không, dân tộc Việt Nam có được vẻ vang sánh vai các cường quốc năm châu hay không chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các cháu”.

Theo Bác, trong cách học thì “lấy tự học làm cốt”, phải coi trọng trách nhiệm tự học của mỗi người, tự học thêm để làm chủ được tri thức. Những điều được học, được nghiên cứu tại trường chỉ có thể ví như một “hạt nhân bé nhỏ” mà người học “sẽ tiếp tục săn sóc, vun xới, làm cho mọc thành cây và dần dần nở hoa, kết quả”. Mục đích của việc học là để làm cán bộ phục vụ cho Tổ quốc “phải có kiến thức mới để có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà, “Học để phụng sự đoàn thể, giai cấp và nhân dân, Tổ quốc và nhân loại”. Người cảnh báo trước cho cán bộ thấy là “không học thì không theo kịp, công việc nó sẽ gạt mình lại phía sau”. Để thực hiện được mục đích giáo dục thì nội dung giáo dục phải có sự kết hợp chặt chẽ giữa lý luận với thực tiễn. Bác nhấn mạnh: “Thực tiễn không có lý luận hướng dẫn là thực tiễn mù quáng. Lý luận mà không có liên hệ với thực tiễn là lý luận suông”. Bác nêu ra nguyên lý giáo dục “Học đi đôi với hành”, “kết hợp lý luận với thực hành, ra sức học tập lý luận và khoa học tiên tiến của các nước bạn kết hợp với thực tiễn nước nhà…”.

Học tập suốt đời là khâu then chốt để cải cách giáo dục và là nội dung cốt lõi của xã hội học tập. Tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh bắt gặp xu thế của thời đại khi mô hình xã hội học tập là một trong những đặc điểm và yêu cầu tất yếu của mỗi quốc gia trong nền kinh tế tri thức và hội nhập toàn cầu. UNESCO nhận định: chính việc học tập suốt đời sẽ thúc đẩy tạo ra sự bình đẳng cho mọi người, làm cho mọi người đều có cơ hội học tập trong mọi điều kiện khác nhau vì mục đích của việc học tập là “học để biết, học để làm, học để chung sống, học để tự khảng định mình”. Học vấn ở trong nhà trường trang bị không thể thâu tóm được mọi tri thức mong muốn và không thể giải quyết được tất cả mọi vấn đề của thực tiễn. Cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật đã mang lại cho nhân loại một lượng tri thức và thông tin theo hàm số mũ, sự đổi mới công nghệ làm cho kiến thức và tay nghề trước đây mà người học tiếp thu được trong giáo dục ban đầu trở nên lỗi thời, tụt hậu đòi hỏi phải liên tục được đào tạo và tự đào tạo để có khả năng thich ứng với những thực tiễn mới đòi hỏi

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong thời đại mới, Đảng ta đề ra khái niệm giáo dục suốt đời, Văn kiện Đại hội IX của Đảng xác định  mục tiêu  xây dựng “Cả nước trở thành một xã hội học tập nhằm“Tạo điều kiện cho mọi người ở mọi lứa tuổi được học tập thường xuyên, suốt đời”, Văn kiện Đại hội X nêu rõ thêm “Chuyển dần mô hình giáo dục hiện nay sang mô hình giáo dục mở – mô hình xã hội học tập với hệ thống giáo dục suốt đời, đào tạo liên tục, liên thông giữa các bậc học, ngành học; xây dựng và phát triển hệ thống học tập cho mọi người với những hình thức học tập, thực hành linh hoạt, bảo đảm sự công bằng xã hội trong giáo dục”. Điều này phù hợp với hoàn cảnh thực tế của đất nước, giải quyết được mâu thuẫn giữa nhu cầu học tập ngày càng cao của nhân dân với điều kiện cơ sở vật chất còn  hạn chế.

Từ các Nghị quyết của Đảng, Bộ Chính trị đã có Chỉ thị 50 – CT/TW ngày 24/8/1999 và Chỉ thị 11/CT/TW ngày 13/4/2007 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập, xác định: “Xây dựng xã hội học tập là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, là mục tiêu cơ bản trong chiến lược chấn hưng và phát triển giáo dục của nước ta” và Chỉ thị 02/2008/CT-TTg ngày 08/01/2008 của Thủ tướng Chính phủ thể chế hoá về mặt nhà nước, nhằm đưa chủ trương lớn của Đảng vào cuộc sống.

Để xây dựng một xã hội học tập, chúng ta phải tiến hành đổi mới giáo dục cả về mục tiêu, nội dung, phương pháp giảng dạy lẫn  cách kiểm tra, đánh giá. Việc đề cao phương thức học tập suốt đời đi đôi với đề cao năng lực tự học của mỗi người mà chủ yếu là học cách học, đưa người học từ vị trí thụ động trở thành người chủ động, sáng tạo trong quá trình lĩnh hội kiến thức. Các hình thức giáo dục phải đa dạng và linh hoạt với những phương pháp khoa học, phương tiện hiện đại nhằm biến cả nước trở thành một trường học lớn, tạo điều kiện cho mọi người, ở mọi lứa tuổi, mọi ngành nghề, mọi trình độ đều được học tập, cập nhật kiến thức, công nghệ để tự nâng cao năng lực trí tuệ và khả năng thực hành, đáp ứng tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Người, chúng ta phải học thường xuyên, học suốt đời, góp phần xây dựng cả nước trở thành một xã hội học tập.

Theo http://toaan.gov.vn/
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

Bác Hồ góp ý dự thảo Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1960

(Ghi theo lời kể của đồng chí Phan Hữu Chi, nguyên Vụ trưởng Vụ Pháp chế VKSNDTC, trong dịp thảo luận Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, năm 1989).

Trong không khí đón chào Năm mới 2013, nhân dịp ngành Kiểm sát nhân dân đã và đang tích cực, khẩn trương triển khai các hoạt động tổng kết, thi hành, nghiên cứu, xây dựng, sửa đổi các văn bản pháp luật có liên quan đến tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân như: Bộ luật Tố tụng Hình sự (sửa đổi), Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân (sửa đổi), tôi xin kể lại một câu chuyện mà tôi được nghe, cũng là một kỷ niệm của ngành Kiểm sát với Bác Hồ khi Đảng đoàn Viện công tố Trung ương báo cáo với Bác về Dự thảo Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1960.

Trong không khí đón chào Năm mới 2013, nhân dịp ngành Kiểm sát nhân dân đã và đang tích cực, khẩn trương triển khai các hoạt động tổng kết, thi hành, nghiên cứu, xây dựng, sửa đổi các văn bản pháp luật có liên quan đến tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân như: Bộ luật Tố tụng Hình sự (sửa đổi), Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân (sửa đổi), tôi xin kể lại một câu chuyện mà tôi được nghe, cũng là một kỷ niệm của ngành Kiểm sát với Bác Hồ khi Đảng đoàn Viện công tố Trung ương báo cáo với Bác về Dự thảo Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1960.

36
Bác Hồ – vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc

Lời căn dặn của Bác khi Viện công tố Trung ương báo cáo Dự thảo Luật Tổ chức Viện kiểm sát năm 1960

Tháng 12 năm 1959, Đảng đoàn Viện công tố Trung ương có trình Ban Bí thư Trung ương Đảng Dự thảo Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, sau đó Quốc hội giao cho Hội đồng Chính phủ chuẩn bị. Theo chỉ thị của Ban Bí thư, Đảng đoàn Viện công tố cử đồng chí Nguyễn Văn Ngọc, Ủy viên Đảng đoàn, Phó Viện trưởng Viện công tố Trung ương và đồng chí Phan Hữu Chi, chuyên viên cao cấp, người chắp bút soạn thảo Dự luật để báo cáo với Bác.

Như chúng ta đã biết, lúc đó Viện kiểm sát nhân dân là một trong những cơ quan mới của nhà nước ta. Bác hỏi kỹ về cơ sở pháp lý cho việc thành lập cơ quan Viện kiểm sát nhân dân. Đồng chí Phan Hữu Chi đã báo cáo những nguyên tắc cơ bản về tổ chức bộ máy nhà nước là tập trung dân chủ, tất cả quyền lực thuộc về nhân dân, trong đó Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất. Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan nhà nước độc lập, chịu trách nhiệm trước Quốc hội, tổ chức và hoạt động, thực hiện chức năng nhiệm vụ theo Hiến pháp và Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân. Khi soạn thảo Luật Tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân Liên-xô có một số ý kiến cho rằng Viện kiểm sát nhân dân nên song trùng trực thuộc Xô-viết địa phương và Xô-viết tối cao Liên bang. Nhưng trong tác phẩm “Bàn về chế độ song trùng trực thuộc và pháp chế”,V.I.Lê Nin đã phân tích rằng tổ chức Viện kiểm sát theo nguyên tắc song trùng trực thuộc như các cơ quan nhà nước khác là một sai lầm. Viện kiểm sát, theo Lê Nin là cơ quan kiểm sát việc tuân thủ pháp luật của các cơ quan nhà nước, viên chức nhà nước và mọi công dân. Nó bảo đảm cho “bất cứ quyết định nào của bất cứ một cơ quan hành chính địa phương nào cũng không đi ngược pháp luật”. Cho nên “Viện kiểm sát địa phương chỉ trực thuộc vào Trung ương”.

Theo Bản dự thảo này, “Viện kiểm sát nhân Tối cao kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan thuộc Hội đồng Chính phủ, cơ quan nhà nước địa phương, các nhân viên cơ quan nhà nước và công dân”… Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát việc tuân theo pháp luật làm cho pháp luật được chấp hành một cách nghiêm chỉnh và thống nhất, pháp chế dân chủ nhân dân được giữ vững.”

Để thực hiện chức năng, nhiệm vụ, tại Điều 3 của Dự thảo quy định “Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân địa phương các cấp thi hành nhiệm vụ trên bằng cách: Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong các nghị quyết, quyết định, thông tư, chỉ thị của các cơ quan thuộc Hội đồng Chính phủ và cơ quan nhà nước ở địa phương, kiểm sát việc tuân thủ pháp luật của nhân viên cơ quan nhà nước, và của công dân. Các cơ quan nhà nước khi ban hành văn bản phải gửi sang Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp để kiểm sát”.

Nghe xong, Bác nói đại ý: Các chú đưa vào luật buộc các cơ quan nhà nước khi ban hành văn bản phải gửi sang Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp để kiểm sát là không được, muốn phát hiện văn bản có vi phạm phải qua công tác thực tế, ngành kiểm sát của các chú có bao nhiêu người có trình độ và năng lực cao? Chính phủ phải chi bao nhiêu tiền để làm kho lưu trữ. Nếu các chú lưu trữ mà không phát hiện được sai phạm của văn bản thì các chú chịu trách nhiệm gì với Đảng, với Bác?

Sau đó, Bác căn dặn rằng: Nhiệm vụ, chức năng của các chú rất nặng nề, Đảng và Bác tin tưởng các chú. Các chú phải hết sức cố gắng làm tốt nhiệm vụ chức năng được giao. Phải thật:“Công minh, chính trực, khách quan, thận trọng và khiêm tốn”.

Thiết nghĩ, câu chuyện tôi vừa kể về những lời căn dặn của Bác với ngành Kiểm sát nhân dân khi xây dựng Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1960 sẽ có một ý nghĩa sâu sắc khi chúng ta đang nghiên cứu xây dựng Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 (sửa đổi).

Tăng Thảnh /Nguyên Vụ phó Vụ 1, 2 A – VKSNDTC
Theo vksdaklak.gov.vn
Phương Thúy (st).

bqllang.gov.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh sống mãi trong trái tim nhân loại

Việt Nam - Hồ Chí MinhLịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam đã sinh ra nhiều anh hùng giải phóng dân tộc, nhiều người được vinh danh…

Người người nối tiếp nhau, viết lên trang sử vẻ vang cho dân tộc, trong đó Chủ tịch Hồ Chí Minh là vị anh hùng vĩ đại nhất, trang sử Người để lại là trang sử vẻ vang nhất.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là anh hùng dân tộc vĩ đại, bởi vì, Người là người Việt Nam đầu tiên đã tìm ra con đường giải phóng cho dân tộc Việt Nam, con đường cách mạng vô sản. Người sinh ra và lớn lên trong một giai đoạn lịch sử đầy biến động của đất nước – giai đoạn cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, bao cuộc khởi nghĩa đấu tranh anh dũng, bất khuất giành độc lập và thống nhất Tổ quốc đều lần lượt thất bại. Phong trào cứu nước của nhân dân Việt Nam đứng trước một cuộc khủng hoảng sâu sắc về đường lối. Nhà yêu nước tiền bối Phan Bội Châu đã sớm nhận rõ tư tưởng vĩ đại của người lãnh tụ mới của phong trào cách mạng Việt Nam Nguyễn Ái Quốc, đặt niềm tin vào Nguyễn Ái Quốc. Cụ từng nói với nhiều người khi đến thăm cụ ở Bến Ngự rằng: “… đời hoạt động cách mạng của tôi rốt cuộc là một thất bại lớn. Đó là bởi tuy tôi có lòng mà thực bất tài. Nhưng dân tộc ta thế nào rồi cũng độc lập. Nhất định phải thế. Hiện nay đã có người khác lớn hơn lớp chúng tôi nhiều, đứng ra đảm đương công việc để làm tròn cái việc mà chúng tôi không làm xong. Ông có nghe tiếng ông Nguyễn Ái Quốc không? Ông ấy còn thì nước ta nhất định sẽ độc lập. Vì ông ấy giỏi.”

Đúng như đánh giá của Phan Bội Châu, chính lúc đó, bằng sự mẫn cảm chính trị và qua tìm hiểu thực tiễn cách mạng thế giới, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vượt qua hạn chế của các bậc tiền bối, Người là người đầu tiên đến với chủ nghĩa Mác – Lênin, đỉnh cao của văn hóa nhân loại, tìm ra con đường cứu nước cho cách mạng Việt Nam – cách mạng vô sản, đó là sự kết hợp chủ nghĩa yêu nước nồng nàn với chủ nghĩa quốc tế chân chính, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Từ đó, Người mở ra bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử cách mạng Việt Nam, đồng thời cũng mở ra con đường giải phóng cho tất cả các dân tộc bị áp bức trên thế giới. Không chỉ kế thừa, vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác – Lênin vào phong trào cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn góp phần phát triển học thuyết của V.I Lênin về cách mạng thuộc địa, làm sáng tỏ mối quan hệ khăng khít giữa cách mạng vô sản ở chính quốc và cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa; đưa ra luận điểm về tính chủ động của cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa và khẳng định sự nghiệp đấu tranh giải phóng của nhân dân thuộc địa chỉ có thể thực hiện được bằng nỗ lực của bản thân các nước thuộc địa. Hơn thế nữa, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định từ rất sớm: cách mạng thuộc địa không những không phụ thuộc vào cách mạng vô sản ở chính quốc mà có thể tiến hành trước, và thắng lợi của nó sẽ “giúp đỡ những người anh em mình ở phương Tây trong nhiệm vụ giải phóng hoàn toàn”.

Đối với cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh là người sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam, đưa Đảng lên vị trí đảng cầm quyền. Từ ngày Đảng ra đời, Người luôn chăm lo từng bước trưởng thành của Đảng, rèn luyện Đảng thành đội tiên phong vững vàng, sáng suốt của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam. Đảng Cộng sản Việt Nam là nhân tố chủ yếu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sáng lập Mặt trận Dân tộc thống nhất. Đó là khối đại đoàn kết dân tộc vững chắc, tạo ra sức mạnh vô địch vượt qua mọi thử thách khó khăn, chiến thắng mọi kẻ thù: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết/ Thành công, thành công, đại thành công”. Đây chính là tư tưởng chiến lược xuyên suốt quá trình cách mạng Việt Nam. Mặt trận là nhân tố quan trọng bảo đảm cho mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam và góp phần vào sự nghiệp cách mạng thế giới.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người sáng lập và rèn luyện Quân đội nhân dân Việt Nam thành một đội quân cách mạng “trung với nước, hiếu với dân, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”.

Những nhân tố quyết định trên đảm bảo vững chắc cho thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Mở đầu là thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà – Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á, khẳng định vị trí của Việt Nam trên bản đồ thế giới, đưa dân tộc Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập dân tộc và tự do, sánh vai cùng các dân tộc đấu tranh không mệt mỏi cho một xã hội công bằng, tiến bộ, văn minh.

Tiếp đó, những thắng lợi vĩ đại, vang dội khắp năm châu của cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX, đã đưa Chủ tịch Hồ Chí Minh trở thành lãnh tụ thiên tài của giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam, là người anh hùng kiệt xuất trong lịch sử dân tộc. Công lao to lớn và sự nghiệp vĩ đại của Người gắn liền với lịch sử quang vinh của Đảng Cộng sản Việt Nam, với những trang hào hùng nhất trong cuộc đấu tranh chống ngoại xâm của nhân dân Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh – Người anh hùng dân tộc vĩ đại, đã đi vào lịch sử và sống mãi với muôn đời sau.

Vượt lên trên tất cả các bậc tiền bối, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là “biểu tượng kiệt xuất về quyết tâm của cả một dân tộc, đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam, góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội”, mà Người còn có “sự đóng góp quan trọng và nhiều mặt trong các lĩnh vực văn hóa, giáo dục và nghệ thuật”. Người là “kết tinh của truyền thống văn hóa hàng ngàn năm của nhân dân Việt Nam và những tư tưởng của Người là hiện thân của những khát vọng của các dân tộc trong việc khẳng định bản sắc dân tộc của mình và tiêu biểu cho việc thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc”, Người đã được ghi danh vào danh sách “các nhân vật trí thức lỗi lạc và các danh nhân văn hoá trên phạm vi quốc tế góp phần thực hiện các mục tiêu của UNESCO và đóng góp vào sự hiểu biết trên thê giới” như Nghị quyết 24C/18.65, phiên họp Đại Hội đồng UNESCO, khoá họp lần thứ 24, tại Pari đã tôn vinh Chủ tịch Hồ Chí Minh và khuyến nghị các nước thành viên cùng tham gia kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Người.

Thật khó mà tách rời Hồ Chí Minh – anh hùng giải phóng dân tộc với Hồ Chí Minh – nhà văn hóa kiệt xuất. Bởi vì, lãnh đạo toàn dân đánh đuổi giặc ngoại xâm, với vinh dự lớn là một nước nhỏ đã đánh thắng hai đế quốc to là thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, giải phóng nhân dân khỏi thân phận nô lệ, khỏi cái đói, cái rét, giành lại cho nhân dân Việt Nam những quyền sống của con người, một cuộc sống có văn hóa, đó không chỉ là một sự nghiệp chính trị phi thường của Chủ tịch Hồ Chí Minh, mà là cuộc đấu tranh không mệt mỏi của Người cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, chính là sự nghiệp văn hóa cao cả nhất.

Chủ tịch Hồ Chí Minh, là nhà văn hóa kiệt xuất, kiến trúc sư của nền văn hóa mới Việt Nam, Người sớm nhận thấy vai trò và sức mạnh của văn hoá, đưa văn hoá vào chiến lược phát triển của đất nước. Để xây dựng một nền văn hoá mới, ngay từ khi nước nhà mới giành được độc lập (1945), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ trương một trong những công việc phải thực hiện cấp tốc là phát triển văn hóa, xoá mù chữ, nâng cao dân trí, phát triển giáo dục. Người nói: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”. Do vậy, phải chống giặc dốt đi đôi với chống giặc đói và chống giặc ngoại xâm, trước hết phải là xóa nạn mù chữ, để tất cả mọi người Việt Nam đều phải biết đọc, biết viết “Mọi người Việt Nam đều phải hiểu biết quyền hạn của mình, phải có kiến thức mới để tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà”. Chủ tịch Hồ Chí Minh còn phát động phong trào xây dựng đời sống mới, để xây dựng một nền đạo đức mới, con người mới; chống những thói quen xấu và hủ tục lạc hậu; phát triển những thuần phong, mỹ tục mới trong nhân dân. Nền văn hoá mới mà Người chủ trương xây dựng là một nền văn hoá luôn hướng con người tới chân, thiện, mỹ, tới hoà bình và hữu nghị giữa các dân tộc, tới tình hữu ái giữa người với người.

Trên hành trình vạn dặm đi tìm chân lý, đến nhiều nước, tiếp xúc với nhiều nền văn hóa, Người đã học tập và làm giàu trí tuệ của mình bằng vốn văn hoá phương Đông và phương Tây. Người đã từng hấp thụ văn hoá nhân đạo và dân chủ của phương Tây, đặc biệt là tinh thần tự do, bình đẳng, bác ái của truyền thống văn hoá Pháp. Người trân trọng mọi giá trị văn hoá nhân loại, tôn trọng và chấp nhận những giá trị khác biệt với sự lựa chọn của mình. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm đề ra chủ trương kế thừa truyền thống tốt đẹp của văn hoá dân tộc phải đi đôi với việc học tập và tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hoá của nhân loại: “Tây phương hay Đông phương có cái gì tốt, ta học lấy để tạo ra một nền văn hoá Việt Nam. Nghĩa là lấy kinh nghiệm tốt của văn hoá xưa và văn hoá nay, trau dồi cho văn hoá Việt Nam thật có tinh thần thuần tuý Việt Nam để hợp với tinh thần dân chủ ”.

Là linh hồn của công cuộc kháng chiến, kiến quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đồng thời xúc tiến công cuộc xây dựng nền văn hóa mới nước nhà với các tiêu chí: Dân tộc, khoa học và đại chúng. Người đã sáng tạo ra một thời đại mới, một nền văn hoá mới trong lịch sử dân tộc Việt Nam, đồng thời cũng là những giá trị đóng góp vào sự phát triển văn hoá của thế giới. Đi trước thời gian, nhiều chủ trương văn hoá được Người để ra rất sớm – từ giữa những năm 40 và 50 của thế kỷ XX, như: Xoá mù chữ, trồng cây, trồng người, phủ xanh đồi trọc, cải tạo môi trường sinh thái, v.v.., đến thế kỷ XXI này đã trở thành những vấn đề nóng, cấp bách, mang tính toàn cầu, mà nhân loại bắt buộc phải quan tâm, giải quyết.

Những tư tưởng lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về văn hoá đang là kim chỉ nam cho chúng ta trong việc xây dựng một nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc đồng thời không ngừng mở rộng sự giao lưu văn hoá với thế giới.

Một trong những điều kiện giúp Chủ tịch Hồ Chí Minh hoạt động cách mạng, hoạt động văn hóa, tiếp thu tri thức nhân loại, là Người biết nhiều ngôn ngữ khác nhau, sử dụng một cách thành thạo trong viết văn, viết báo, làm thơ, viết kịch. Trải qua mấy chục năm học tập và rèn luyện, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng bước vươn lên tầm cao của trí tuệ thời đại để từ đó mà vận dụng và phát triển, sáng tạo và đổi mới, đóng góp vào kho tàng văn hoá thế giới những giá trị đặc sắc, in đậm dấu ấn Việt Nam – Hồ Chí Minh.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhà thơ, nhà văn lớn. Thơ của Người phần lớn viết bằng tiếng Việt, có nhiều bài viết bằng chữ Hán, không chỉ là những những vần thơ tuyên truyền, đuổi giặc, mà thơ của Người còn thể hiện khát vọng tự do, công lý, cơm áo, hoà bình, cổ vũ cho cái đẹp và mối quan hệ nhân văn giữa người với người, đậm chất chữ tình, với nghệ thuật uyên bác. Đó là những nội dung chủ yếu làm nên thơ Hồ Chí Minh, với những giá trị nhân văn cao quý, toả sáng từ một tâm hồn lớn, một nhân cách lớn. Đồng thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn là nhà văn lớn, là người mở đầu và đặt nền móng cho nền văn xuôi cách mạng Việt Nam. Người viết nhiều thể loại: truyện ngắn, ký, kịch, tiểu phẩm, văn chính luận,… Ở lĩnh vực nào cũng có những thành công nổi trội. Văn chính luận của Người giàu tri thức văn hoá, giàu tính luận chiến, lập luận chặt chẽ, lý luận sắc sảo.

Chủ tịch Hồ Chí Minh còn là nhà báo vĩ đại, người thầy của báo chí cách mạng Việt Nam. Người rất khiêm tốn, không nhận mình là nhà báo, chỉ nhận mình là “người có duyên nợ với báo chí”. Chính Người đã sáng lập và là linh hồn của nhiều tờ báo cách mạng: Le Paria (1922); Thanh niên (1925); Việt Nam Độc lập (1941)… Với trên 60 bút danh khác nhau, Người đã viết hàng nghìn bài báo, góp phần thức tỉnh các dân tộc bị áp bức, truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin, lên án chủ nghĩa thực dân, chỉ đạo phong trào cách mạng ở thuộc địa, hướng tới CNXH, giáo dục về CNXH, xây dựng kinh tế, bồi dưỡng con người mới… “Suốt đời, Hồ Chí Minh là người cầm bút, chiến đấu trên mặt trận văn hóa, báo chí, với một văn phong đa dạng nhiều sắc thái mà điểm nổi bật là tính quần chúng, cách suy nghĩ và diễn đạt dân gian, dễ hiểu, đi sâu vang vọng trong lòng người, gợi mở những tư tưởng lớn lao, thúc đẩy những việc làm tốt đẹp, bằng những lời lẽ bình dị giàu hình tượng, nói lên được điều lớn, bằng chữ nhỏ”.

“Văn hóa là sợi dây có khả năng nối liền nhân dân các nước và các dân tộc. Những tinh hoa văn hóa của một dân tộc đều là tài sản chung của nhân loại và ngược lại, những đỉnh cao văn hóa loài người là những của báu không dành cho riêng ai. Sự hiểu biết lẫn nhau, sự học tập và tôn trọng nhau xưa nay đều thể hiện sâu sắc qua văn hóa, nơi tập trung những biểu hiện rực rỡ nhất của tâm huyết và sức sáng tạo của con người”. Chủ tịch Hồ Chí Minh bằng sự nghiệp hoạt động cách mạng, hoạt động văn hóa của mình, đã là người Việt Nam đầu tiên bắc nhịp cầu hữu nghị giữa nhân dân Việt Nam với các dân tộc trên thế giới.

Đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhà văn hóa và nhà cách mạng thống nhất hữu cơ làm một, tri thức văn hóa chỉ nhằm mục đích phục vụ cho hoạt động cách mạng. Không những vậy, chính yếu tố văn hóa trong con người Chủ tịch Hồ Chí Minh đã làm cho Người có một sức thu hút mạnh mẽ, một khả năng cảm hóa đặc biệt đối với người xung quanh, ngay cả đối với những người nước ngoài, dù cho từ đâu tới và thuộc hệ tư tưởng nào. Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhà văn hóa lớn còn bởi vì chính bản thân Người, cuộc sống của Người, là hiện thân của nền văn hóa mới Việt Nam, là mẫu mực của con người mới Việt Nam và là đề tài không bao giờ cũ, là nguồn cảm hứng vô tận cho các nhạc sĩ, họa sĩ, nhà thơ, nhà văn, nhà báo… tạo ra những tuyệt tác, bởi vì, “ngay giữa cuộc đời mình”, Người đã đi vào truyền thuyết, “Cuộc sống của Người là một bài thơ đầy nét anh hùng ca”.

Là một vĩ nhân đã để lại dấu ấn đặc biệt trong thế kỷ XX, từ khi xuất hiện trên vũ đài chính trị (1919), đến khi từ biệt thế giới này (1969), sau đó 10 năm, 20 năm… sự kính trọng, ngưỡng mộ, đánh giá cao của nhân loại đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh không hề thay đổi. Một vài nhận thức của chúng tôi trên đây chỉ là đôi nét phác thảo về Chủ tịch Hồ Chí Minh-Lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam, người Anh hùng giải phóng dân tộc, Nhà văn hóa kiệt xuất mà nhân loại đã ghi nhận. Cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh là tài sản vô giá của dân tộc Việt Nam, đã và đang được các nhà nghiên cứu tiếp tục khai thác, nhằm phát hiện, tôn vinh những giá trị văn hóa, tư tưởng trong cuộc đời Người cho công cuộc bảo vệ và xây dựng cuộc sống mới hôm nay. “Dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta đã sinh ra Hồ Chủ tịch, người anh hùng dân tộc vĩ đại, và chính Người đã làm rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta và non sông đất nước ta”, Người sẽ sống mãi và đồng hành cùng dân tộc trên con đường “xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”.

Theo TS. Chu Đức Tính, Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh

http://www.yenbai.gov.vn

“Báu vật” trong tờ báo mang tên “Quốc hội”

Trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời ngày 3/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề nghị “Chính phủ tổ chức càng sớm càng hay cuộc Tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu. Tất cả công dân trai gái 18 tuổi trở lên đều có quyền bầu cử, ứng cử, không phân biệt giàu nghèo, tôn giáo, dòng giống”.

Tiếp đó, Sắc lệnh về ngày Tổng tuyển cử bầu Quốc hội ra đời. Cuộc Tổng tuyển cử lần đầu tiên diễn ra ở Việt Nam và cả khu vực Đông Nam Á đã khiến cả thế giới ngỡ ngàng…

bau vatCử tri nhận phiếu bầu tại một khu vực bỏ phiếu trong ngày Tổng tuyển cử

Ký ức của cụ già 80 tuổi

Cụ Nguyễn Đức Kầm ở xã Cát Văn (Thanh Chương, Nghệ An) năm nay đã 80 tuổi kể:

“Tôi nhớ Sắc lệnh ghi rõ những quy định về vận động ứng cử, tổ chức bầu cử. Ví dụ như Sắc lệnh quy định người ứng cử được tự do vận động nhưng cuộc vận động không được trái với nền dân chủ cộng hòa và phương hại đến nền độc lập.

Trong cuộc hội họp để vận động tuyển cử (diễn thuyết giới thiệu người ứng cử) chỉ phải khai cho các Ủy ban nhân dân địa phương biết trước 24 giờ… Hồi đó, tôi còn đọc được một bài trên Báo Quốc hội ra ngày 17/12/1946 với nhan đề Trước ngày Tổng tuyển cử làm gì?

Bài báo đã hướng dẫn ngắn gọn nhưng đầy đủ những việc mà người cử tri cần làm trước ngày bầu cử”.

Cụ Kầm cẩn thận lật đáy hòm lấy ra một tờ báo khổ to, in trên giấy nâu cũ kỹ. Tờ báo mang tên Quốc hội và dưới măng-séc ghi “Nhật báo chỉ ra trong ngày Tổng tuyển cử”. Giá bán 5 hào. Tờ báo có hai trang nhưng đã phản ánh rất phong phú, sinh động những diễn biến và không khí trước ngày Tổng tuyển cử.

Cụ Kầm nhớ lại: “Ngày ấy, tôi muốn biết rõ các ứng cử viên, chương trình tranh cử và những phát biểu của họ trước ngày Tổng tuyển cử thì mua tờ báo Quốc hội này đọc, nghe loa phát thanh…

Cách tuyên truyền đi vào lòng người nên đến bây giờ tôi vẫn không thể nào quên”. Cụ vuốt lại tờ báo cho phẳng rồi cẩn thận cất vào đáy hòm.

Những ngày này, PGS Lê Mậu Hãn – giảng dạy môn Khoa học chính trị ở Đại học Quốc gia Hà Nội, người nghiên cứu sâu về Tổng tuyển cử năm 1946 và đã biên soạn hai tập sách về lịch sử Quốc hội đang muốn tìm về cái không khí náo nức của những ngày đầu năm 1946.

Ông lần giở cho chúng tôi xem từng trang báo Quốc hội và thuyết minh như thể mình là chủ bút: “ Đây là báo Quốc hội số 1, thay lời phi lộ, báo nói rõ mục đích của mình: “1. Định rõ giá trị cuộc Tổng Tuyển cử đối với ngoài nước và trong nước. 2 Giải thích thể lệ Tổng tuyển cử cho công dân Việt Nam hiểu quyền hạn và bổn phận của mình trong khi bầu cử .3. Giúp các bạn ứng cử một cơ quan vận động chung, để giới thiệu thành tích, khả năng và chương trình của mình”.

Có thể nói thời điểm này, nếu đọc lại các số báo Quốc hội có thể hình dung được bức tranh toàn cảnh lẫn cận cảnh ngày Tổng tuyển cử. Báo đã phỏng vấn rất nhiều ứng cử viên mà tên tuổi đã đi vào lịch sử . Đặc biệt báo đã hai lần đăng phỏng vấn Chủ tịch Hồ Chí Minh về Tổng tuyển cử. Đó thực sự là “báu vật” của Báo Quốc hội”.

Đó là số đặc biệt ra ngày 6/1/1945 – Ngày Tổng tuyển cử. Mặc dù bận trăm công ngàn việc nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn dành thời gian tiếp phóng viên Báo Quốc hội.

Bài báo với nhan đề Hồ Chủ tịch nói về phụ nữ, được đăng trang trọng trên trang nhất. Đã hơn 60 năm trôi qua nhưng bài trả lời phỏng vấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn còn rất ý nghĩa đối với kỳ bầu bầu cử Quốc hội khóa XII sẽ diễn ra vào ngày 20/5/2007.

PV: Xin Cụ cho biết về chính trị, phụ nữ nước nhà đã có gì khả quan chưa? Hồ Chủ tịch mỉm cười: Ấy, tôi cũng đang định hỏi chị về chỗ đó.

PV: Bẩm Cụ theo như chỗ cháu thấy thì phụ nữ nước nhà tiến bộ chậm lắm, hầu hết còn rụt rè, nhút nhát vì không có nhiều cuộc họp chung để trao đổi ý kiến, tuy cũng có một vài đoàn thể song phạm vi không rộng lắm, phần nhiều chỉ những tổ chức riêng, hội họp riêng cho một số đoàn viên thôi.

Hồ Chủ tịch gật đầu: Cái đó là lỗi ở các đoàn thể không biết mở rộng phạm vi nhưng cũng là lỗi ở các chị đã không biết tin đến…

PV: Bẩm Cụ, rất đúng, phụ nữ xứ nhà còn thờ ơ lắm với quyền lợi của mình, ngay như việc đi bầu cử, có nhiều chị không được sốt sắng, kêu bận con không đi được hay không biết gì mà bầu…

Hồ Chủ tịch hỏi: Thế chị có khuyến khích các chị ấy không? Chị nói gì với các chị ấy?

PV: Bẩm Cụ, cháu có nói với các chị ấy rằng cần phải đi bầu cử, có đi bầu cử mới chọn được người xứng đáng làm đại biểu bênh vực quyền lợi cho mình, nhất là cuộc Tổng tuyển cử tới đây lại quan hệ đến nền độc lập của quốc gia.

Hồ Chủ tịch ôn tồn nói: Chị nói thế chưa đủ, phải nói cho phổ thông chứ đừng nói cao xa quá.

Thí dụ như một người đàn bà xưa nay chỉ ở trong nhà bế con, nghe chị nói, người ta chỉ biết rằng đi bầu chọn người đại biểu để bênh vực quyền lợi, nhưng người ta có hiểu quyền lợi gì? Ở đâu?

Phải nói đến cái điều gì thiết thực cho người ta thấy ngay được cái lợi, thí dụ ít nữa sẽ có nhiều nhà nuôi dạy trẻ, nếu chị bận hay muốn làm thêm công việc gì khác, có thể đem con đến gửi, cũng được chăm sóc cẩn thận như ở nhà…”.

Cũng trong số báo Quốc hội đặc biệt ra ngày 6/1/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trả lời phỏng vấn về một số vấn đề quan trọng của Tổng Tuyển cử.

Trả lời câu hỏi: Phương pháp tuyên truyền Quốc hội và vận động Tổng Tuyển cử, nước nhà đã theo kịp nước người chưa, Hồ Chủ tịch cho rằng: Nước nhà cố nhiên chưa theo kịp nước người, vì lần đầu tiên chưa có kinh nghiệm; vả chăng những phương tiện tuyên truyền của nước ngoài khá hơn, ví dụ họ có sẵn tàu bay, sẵn rạp chiếu bóng, sẵn giấy.v.v.. là những thứ hiện ta thiếu cả. Nhưng lần đầu mình làm được như thế này cũng đã khá lắm rồi.

Ông Chủ bút Báo Quốc hội nhắc lại nỗi sung sướng của một bà cụ 92 tuổi ở Phúc Yên hôm đi bỏ phiếu. Hồ Chủ tịch bảo đó cũng là một chứng cớ chứng tỏ mình không kém người chút nào, chỉ tại mình chưa hề được bầu cử.

Trước khi các phóng viên ra về, Hồ Chủ tịch ân cần nói thêm một câu và dặn phải nhắc lại cho đồng bào: “Ở Pháp đã có mấy chục lần tuyển cử rồi nhưng mãi năm ngoái, phụ nữ Pháp mới được hưởng quyền bỏ phiếu. Xem như thế, thì có cái ta chậm hơn nước ngoài, nhưng có cái ta đi quá họ”.

Hồi ấy, PGS Lê Mậu Hãn còn là một thiếu niên chưa được quyền đi bầu cử, nhưng cái không khí náo nức ở cái làng nhỏ ở tỉnh Quảng Trị trước ngày Tổng tuyển cử vẫn in đậm trong tâm trí ông đến bây giờ.

Làng rợp bóng cờ đỏ sao vàng, khẩu hiệu, biểu ngữ. Nhiều người mang biểu ngữ lên xe trâu đi khắp làng kêu gọi người dân đi bầu cử. Một số người còn sáng tác cả thơ ca hò vè để vận động cho các ứng cử viên.

Có bà cụ 85 tuổi vẫn thắp đèn học chữ quốc ngữ để đến ngày bầu cử có thể tự tay viết tên ứng cử viên mình chọn, khỏi phải nhờ đến con cháu. Không khí ngày hội ấy tràn ngập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa non trẻ.

Tại tỉnh miền núi xa xôi Bắc Kạn, gần như tất cả các nhà dân đều dán những khẩu hiệu: “Công dân Việt Nam phải đi bầu cử”. Tối hôm 19/12/1945, Ban Tuyên truyền thành Bắc Kạn đã diễn vở Thày bói xin đi bỏ phiếu để cổ động cho dân chúng biết thế nào là người có quyền bầu cử.

Tại thị xã Sơn Tây, tối 18/12/1945, một số người ứng cử vào Quốc hội đã ra mắt và công chúng và diễn thuyết. Nhiều địa phương treo giải cho làng nào có người đi bầu đông nhất. Có nơi còn mở cuộc thi dự đoán ai sẽ trúng cử…

Trên cái nền đó, những người ứng cử vào Quốc hội cũng tích cực vận động, đi diễn thuyết, gặp gỡ cử tri, trả lời báo chí… Các chương trình hành động, lời hứa đối với người dân của một số ứng viên nổi tiếng như Vũ Đình Hoè, Xuân Diệu, Trịnh Văn Bô… được đăng tải trên các số Báo Quốc hội và tạo nên một không khí dân chủ đầy chất nghị trường chưa từng có trong lịch sử hàng nghìn năm nước Việt.

Phùng Nguyên
Việt Báo (Theo
Báo Tiền Phong)
Kim Yến
(st)

bqllang.gov.vn

Đạo đức Hồ Chí Minh

TT-HCM về đạo đứcHồ Chí Minh đã suốt đời tận tụy hy sinh cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, cho tự do, hạnh phúc của nhân dân, cho lý tưởng cộng sản chủ nghĩa – Người luôn tự cho mình là một “người lính vâng mệnh lệnh quốc dân ra Mặt trận”, là “người đầy tớ trung thành của nhân dân”.

Ngay từ năm 1946, khi trả lời các nhà báo, Người đã nói: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân tộc được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành” – và Người đã khẳng định với đồng bào cả nước: “Bất kỳ bao giờ, bất kỳ ở đâu, tôi cũng chỉ đeo đuổi một mục đích là làm cho ích quốc, lợi dân” và “tôi chỉ có một cách báo đáp là kiên quyết cùng đồng bào chịu cực, chịu khổ, quyết cùng đồng bào kháng chiến cho đến thắng lợi hoàn toàn, quyết cùng đồng bào tranh lại độc lập, thống nhất thực sự cho Tổ quốc, quyết cùng đồng bào ra sức làm thế nào cho con cháu chúng ta bây giờ và muôn đời về sau sung sướng và tự do”.

Nhân dân Việt Nam vô cùng kính phục và yêu mến Hồ Chí Minh vì suốt cả đời mình, Người đã đấu tranh không mệt mỏi để thực hiện những điều Người đã nói trên.

Từ ngày hòa bình được lập lại, Người không chỉ kêu gọi nhân dân không ngừng phấn đấu để “xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh”, mà còn khẳng định lý tưởng và nhiệm vụ của XHCN: “muốn tiến lên CNXH thì phải cải tạo xã hội cũ thành xã hội mới, một xã hội không có chế độ người bóc lột người.

Một xã hội bình đẳng, nghĩa là ai cũng phải lao động và có quyền lao động. Ai làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít, không làm không hưởng.

Một xã hội giàu có, mà muốn giàu có thì mỗi cá nhân, mỗi gia đình cho đến cả nước phải tăng gia sản xuất thực hành tiết kiệm…”

Theo Người “Lao động là một nghĩa vụ thiêng liêng của mọi người công dân đối với Tổ quốc. Ai cũng phải tùy khả năng mình mà tự nguyện, tự giác tham gia lao động góp phần xây dựng nước nhà”.

Để xây dựng CNXH ở miền Bắc và đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà. Hồ Chí Minh đã kêu gọi cán bộ, đảng viên phải: “Cần kiệm, liêm chính, chí công vô tư, hết lòng, hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ CNXH”. Và Người đã giải thích rất đầy đủ, súc tích về cần, kiệm, liêm, chính: “Trước hết là cần, tức là tăng năng suất trong công tác, bất kỳ công tác gì.

Kiệm tức là không lãng phí thời giờ của cải của mình và của dân.

Liêm tức là không tham ô và luôn tôn trọng giữ gìn của công và của nhân dân.

Chính tức là việc phải làm dù nhỏ cũng làm, việc trái dù nhỏ cũng tránh.

Bốn điều đó đi liền với nhau”.

Về chí công, vô tư thì Người nói: “Đem lòng chí công vô tư mà đối với người, đối với việc. Ham làm những việc ích quốc, lợi dân. Không ham địa vị và công danh phú quý” và “khi làm bất cứ việc gì cũng đừng nghĩ đến mình trước mà phải nghĩ đến đồng bào, đến toàn dân đã… Có khó nhọc thì mình nên đi trước, khi hưởng thụ thì mình nên đi sau”. Chí công vô tư chính là biểu hiện sâu sắc ý thức tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh. Hồ Chí Minh rất ghét chủ nghĩa cá nhân và thói tự kiêu, tự mãn, tự lợi. Theo Người “chủ nghĩa cá nhân chỉ thấy lợi ích riêng của mình, không thấy lợi chung của tập thể. Về vật chất thì chỉ muốn hưởng thụ, công việc làm thì không dám xung phong”.

Những đức tính lớn Hồ Chí Minh để lại mà chúng ta phải cố gắng học tập là cần cù, khiêm tốn, giản dị, mẫu mực về mọi mặt, sáng suốt trong công việc, gần gũi quần chúng và tin tưởng ở quần chúng. Luôn quan tâm đến lợi ích và đời sống của nhân dân; đoàn kết đồng chí, thương yêu cán bộ; thắng không kiêu bại không nản, lúc thuận lợi cũng như khi khó khăn luôn bình tĩnh nhìn thẳng vào sự thật, nhìn thẳng tương lai với một niềm tin tưởng sắt đá không gì lay chuyển được.

Đạo đức Hồ Chí Minh là sự kết tinh trong sáng tư tưởng khoa học của chủ nghĩa Mác – Lênin, đạo đức cộng sản chủ nghĩa và phong thái của các bậc hiền triết phương Đông. Cuộc đời và sự nghiệp của Người là tấm gương vĩ đại của sự trung thành tuyệt đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc và lý tưởng cộng sản chủ nghĩa. Trước tình trạng tham nhũng và những tệ nạn tiêu cực xã hội lan rộng hiện nay, chúng ta càng thấy rõ ý nghĩa sâu xa, tầm quan trọng của những lời dạy và tấm gương về đạo đức cách mạng của Hồ Chí Minh.

Theo www.yenbai.gov.vn
Tâm Trang (st)
bqllang.gov.vn

Người lãnh đạo cần nắm vấn đề như thế nào?

Chuyện kể về NgườiTháng 8 năm 1960, tôi (Song Tùng) về nước và được giao nhiệm vụ Vụ trưởng Vụ Tổng hợp Ban Đối ngoại Trung ương Đảng, đầu năm 1963 làm Phó Ban Đối ngoại Trung ương Đảng. Mỗi lần đại biểu các Đảng bạn sang trao đổi kinh nghiệm với Đảng ta thường được Bác mời vào gặp. Mỗi lần như thế, tôi có nhiệm vụ vào gặp Bác trước khi khách đến độ 30 phút để báo cáo tình hình Đảng nước đó, kết quả và cảm tưởng của vị đại biểu về những ngày gặp các vị lãnh đạo Đảng ta. Mỗi năm, thường có hàng chục đoàn sang trao đổi kinh nghiệm với Đảng ta. Do trách nhiệm được giao, suốt tám năm (1961-1969) tôi được vào báo cáo nhiều lần với Bác. Các đồng chí giúp việc Bác thường cho tôi vào trước 30 phút, chờ có thể gặp trước giờ quy định hoặc đúng giờ quy định. Nếu báo cáo xong, còn thì giờ thì Bác thường hỏi chuyện về công tác, về tình hình trong nước và dư luận nhân dân về một sự kiện gì đó mới xảy ra. Mỗi lần như vậy tôi học tập được rất nhiều. Trong câu chuyện nhỏ này, tôi chỉ viết một số vấn đề cảm thấy bổ ích cho bạn đọc. Trước hết, Bác dạy “người lãnh đạo cần phải nắm vấn đề như thế nào?”.

Đầu năm 1963, lần đầu tôi vào báo cáo, chuẩn bị để Bác gặp một vị đại biểu Đảng bạn đến chào. Bác nhìn tập tài liệu dày 30 trang tôi cầm trong tay. Bác hỏi: Chú định gặp Bác bao nhiêu phút? Thưa Bác, 15 phút. 15 phút, chú không đọc xong tập báo cáo thì Bác còn thì giờ đâu để trao đổi? Chú gấp tài liệu lại, báo cáo trong một phút Bác nghe. Cũng may, tôi tự tay viết báo cáo nên chỉ phát biểu không đến một phút. Bác gật đầu: Chú nói ngắn như thế là được, nhiều chú giao cho cán bộ viết hộ rồi vào đọc như “thầy đọc”.

Theo 120 Chuyện kể về Chủ tịch Hồ Chí Minh
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

Bài học về sự tiết kiệm

43Ảnh Tư liệu

Trước kia, Thông tấn xã Việt Nam hàng ngày đều đưa bản tin lên cho Bác xem. Khi in một mặt, Bác phê bình là lãng phí giấy. Sau đấy Thông tấn xã in hai mặt bằng rônêô, nhoè nhoẹt khó đọc hơn nhưng Bác vẫn đọc. Sang năm 1969, sức khoẻ Bác yếu và mắt giảm thị lực, Thông tấn xã lại gửi bản tin in một mặt để Bác đọc cho tiện. Khi xem xong, những tin cần thiết Bác giữ lại, còn Người chuyển bản tin cho Văn phòng Phủ Chủ tịch cắt làm phong bì tiết kiệm hoặc dùng làm giấy viết. Ngày 10-5-1969, Bác đã viết lại toàn bộ đoạn mở đầu Bản Di chúc lịch sử bằng mực xanh vào mặt sau tờ tin Tham khảo đặc biệt ra ngày 3-5-1969. Từ giữa năm 1969, sức khoẻ Bác yếu đi nhiều nên Bộ Chính trị đề nghị: Khi bàn những việc quan trọng của Đảng, Nhà nước thì Bác mới chủ trì, còn những việc khác thì cứ bàn rồi báo cáo lại sau, Bác cũng đồng ý như vậy. Tháng 7, Bộ Chính trị họp ra Nghị quyết về việc tổ chức 4 ngày lễ lớn của năm: Ngày thành lập Đảng, ngày Quốc khánh, Ngày sinh Lênin và Ngày sinh của Bác. Sau khi Báo Nhân Dân đăng tin Nghị quyết này, Bác đọc xong liền cho mời mọi người đến để góp ý kiến: “Bác chỉ đồng ý 3/4 nghị quyết. Bác không đồng ý đưa ngày 19-5 là Ngày kỷ niệm lớn trong năm sau. Hiện nay, các cháu thanh thiếu niên đã sắp bước vào năm học mới, giấy mực, tiền bạc dùng để tuyên truyền về Ngày sinh nhật của Bác thì các chú nên dành để in sách giáo khoa và mua dụng cụ học tập cho các cháu, khỏi lãng phí”.

Theo Những câu chuyện kể về Bác Hồ
Kim Yến (st)
bqllang.gov.vn

Đoàn đại biểu Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ, Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh và đặt hoa tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ

Nhân kỷ niệm 83 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (03/02/1930 – 03/02/2013) và Tết Nguyên đán Quý Tỵ, sáng ngày 06/2/2013, Đoàn đại biểu Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Chủ tịch nước, Quốc hội, Chính phủ, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã đến đặt vòng hoa và vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc Việt Nam, người sáng lập ra Đảng Cộng sản Việt Nam do Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng và Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng dẫn đầu.

Lanh dao dang vieng 3.2.1Đoàn đại biểu vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Đoàn đại biểu gồm: Nguyên Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh; nguyên Chủ tịch nước Trần Đức Lương; nguyên Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An; nguyên Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Phạm Thế Duyệt và các Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch Quốc hội, Phó Thủ tướng Chính phủ; lãnh đạo một số Bộ, ngành, đoàn thể Trung ương và các đồng chí lão thành cách mạng cùng dự lễ viếng. Các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam bày tỏ lòng thành kính trước anh linh Chủ tịch Hồ Chí Minh, tưởng nhớ công lao vĩ đại của Người đối với sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng và dân tộc ta. Vòng hoa của Đoàn mang dòng chữ “Đời đời nhớ ơn Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại”.

Lanh dao dang vieng 3.2.2Đoàn đại biểu đặt vòng hoa tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ

Sau khi vào Lăng viếng Bác, các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã đến dâng hương, tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ tại Đài Tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ, tưởng nhớ những người con ưu tú của dân tộc đã không tiếc máu xương, dũng cảm chiến đấu, hy sinh vì sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, vì nền độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân. Vòng hoa của Đoàn mang dòng chữ “Đời đời nhớ ơn các Anh hùng liệt sỹ.”

Cũng trong sáng ngày 06/2/2013, Đoàn đại biểu Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng, Đảng ủy Công an Trung ương và Bộ Công an, Bộ Ngoại giao, Thành ủy, Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội đã đến đặt vòng hoa và vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh; đặt vòng hoa tại Đài tưởng niệm các Anh hùng Liệt sỹ. Cùng ngày, đông đảo đồng bào, chiến sỹ cả nước và khách quốc tế đã vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh./.

Lan Hương
bqllang.gov.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Nhà nước pháp quyền kiểu mới

Tư tưởng Hồ Chí MinhTư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân là một hệ thống các quan điểm lý luận về bản chất, chức năng, cơ chế hoạt động, tổ chức bộ máy, xây dựng đội ngũ cán bộ công chức nhà nước; trong đó, quan niệm về nhà nước pháp quyền là một tư tưởng nhất quán, thể hiện tầm nhìn vượt thời đại và có giá trị lâu bền. Hồ Chí Minh luôn khẳng định: Pháp luật của ta là pháp luật dân chủ, phải nghiêm minh và phát huy hiệu lực thực tế. Nhà nước ta cũng sử dụng pháp luật để quản lý xã hội. Song pháp luật của ta đã có sự thay đổi về chất, mang bản chất của giai cấp công nhân, là một loại hình pháp luật kiểu mới, pháp luật thật sự dân chủ, vì nó bảo vệ quyền tự do, dân chủ rộng rãi cho nhân dân lao động.

Với Hồ Chí Minh, pháp luật không phải là để trừng trị con người mà là công cụ bảo vệ, thực hiện lợi ích của con người. Tư tưởng pháp quyền của Người không chỉ dừng lại ở các quyền con người được ghi trong các văn bản pháp luật mà còn thấm đượm một tấm lòng thương yêu nhân dân, chăm lo cho ấm no, hạnh phúc của nhân dân, thấm đượm lòng nhân ái, nghĩa đồng bào theo đạo lý truyền thống ngàn năm của dân tộc Việt Nam. Vì thế, pháp quyền Hồ Chí Minh là pháp quyền đặc biệt, pháp quyền nhân nghĩa – một thứ nhân nghĩa có nội hàm triết lý, mang đậm tính dân tộc và dân chủ sâu sắc. Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh, tiếp thu các giá trị tư tưởng hiện đại của loài người, trước nhu cầu thực tiễn phát triển đất nước, Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trương lãnh đạo xây dựng nhà nước pháp quyền ở nước ta.

Là người sáng lập Nhà nước dân chủ mới Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng là người có công lớn nhất trong sự nghiệp lập hiến và lập pháp. Ở cương vị Chủ tịch nước, Người đã hai lần đứng đầu Ủy ban soạn thảo Hiến pháp 1946 và Hiến pháp 1959. Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân đã được ghi trang trọng trong Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đó là tư tưởng về “tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo”; tư tưởng về “nhân dân có quyền phúc quyết về Hiến pháp và những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia”; tư tưởng về “Chính phủ là công bộc của dân”. Nhà nước của nhân dân thì “bao nhiêu quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”. Tất cả các cơ quan Nhà nước đều phải dựa vào nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự kiểm soát của nhân dân.

Ngay sau ngày giành được chính quyền về tay nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã chủ trương xây dựng Hiến pháp, biểu hiện đầu tiên của một Nhà nước pháp quyền. Hiến pháp năm 1946 là Hiến pháp dân chủ đầu tiên của nước Việt Nam mới, phù hợp với giai đoạn cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân của nước ta, là một mốc son quan trọng đánh dấu quá trình bắt đầu xây dựng một nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân. Theo Hồ Chí Minh: “Dân là chủ, Chính phủ là đầy tớ”. Đây là một trong những vấn đề hết sức căn bản trong xây dựng nhà nước kiểu mới, Nhà nước pháp quyền của dân, do nhân dân làm chủ, mà Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất do nhân dân trực tiếp bầu ra. Người viết: “Những khi dân dùng đầy tớ để bảo vệ cho mình thì phải giúp đỡ, nếu Chính phủ sai thì phải phê bình, phê bình không có nghĩa là chửi”. Đối với cán bộ, đảng viên, nhân viên nhà nước, Người gọi đó là “công bộc” của dân.

Nhà nước phải thể hiện ý chí quyền lực của dân, mưu cầu hạnh phúc cho dân, phấn đấu đem lại lợi ích cho dân, thoả mãn những nhu cầu hợp lý của các tầng lớp nhân dân trong xã hội. Đó là một Nhà nước dân chủ và tiến bộ. Những lợi ích và nhu cầu đó lại phải được thực hiện một cách công bằng, dân chủ, văn minh, chính đáng, bảo đảm sự kết hợp hài hòa giữa phát triển các cá nhân với mục tiêu phát triển xã hội. Đồng thời, lại phải chăm lo giải quyết những vấn đề bức xúc hàng ngày của dân tộc, của đất nước.

Trải qua các thời kỳ cách mạng, dưới sự lãnh đạo của Ðảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước ta đã không ngừng lớn mạnh, góp phần quan trọng vào sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc, bảo vệ và xây dựng đất nước theo con đường XHCN. Qua hơn 25 năm thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, việc xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCH đã được đẩy mạnh; tổ chức bộ máy ngày càng hoàn thiện hơn; phương thức hoạt động của Nhà nước được đổi mới, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp CNH, HÐH đất nước. Tuy nhiên, việc xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN trong những năm qua còn một số hạn chế, chưa theo kịp yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội và quản lý đất nước.

Hiện nay, toàn Ðảng, toàn dân và toàn quân ta đang nỗ lực triển khai thực hiện thắng lợi Nghị quyết Ðại hội lần thứ XI của Ðảng, các Nghị quyết của QH khóa XIII, đặc biệt là Nghị quyết T.Ư 4 (khóa XI): Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Ðảng hiện nay, Kết luận Hội nghị T.Ư 5 (khóa XI) về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành T.Ư Ðảng khóa X về tăng cường sự lãnh đạo của Ðảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí; về Tổng kết việc thi hành Hiến pháp năm 1992 và một số nội dung cần sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992. Ðây là nhiệm vụ hết sức quan trọng đặt ra những yêu cầu mới trong việc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN, của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011) đã chỉ rõ: Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, do Ðảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; quyền lực Nhà nước là thống nhất; có sự phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền: lập pháp, hành pháp và tư pháp. Theo đó, Nhà nước mà chúng ta đang xây dựng phải là một Nhà nước đủ khả năng quản lý kinh tế, quản lý xã hội bằng pháp luật, chăm lo, phục vụ nhân dân, gắn bó mật thiết với nhân dân, bảo đảm quyền, lợi ích chính đáng của mọi người dân; tôn trọng, lắng nghe ý kiến của nhân dân và chịu sự giám sát của nhân dân. Một nhà nước với thể chế dân chủ, minh bạch; bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; đội ngũ cán bộ, công chức trong sạch, vững mạnh và tinh thông nghiệp vụ.

Ðể đáp ứng những yêu cầu này, một trong những nhiệm vụ quan trọng cấp thiết hiện nay là chúng ta cần sớm hoàn thiện bộ máy Nhà nước và hệ thống pháp luật để tổ chức quản lý xã hội bằng pháp luật, tăng cường pháp chế XHCN, trong đó có việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992 theo tinh thần Hội nghị T.Ư 5 (khóa XI) vừa qua. Trên cơ sở Hiến pháp, Nhà nước cần xây dựng cơ chế kiểm soát, ngăn ngừa tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, vô trách nhiệm, lạm quyền, xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền dân chủ của công dân để giữ nghiêm kỷ cương, phép nước. Tiếp tục đẩy mạnh cải cách nền hành chính Nhà nước và cải cách tư pháp theo tinh thần Nghị quyết 49 của Bộ Chính trị. Ðồng thời, kiên quyết trừng trị mọi hành vi xâm phạm lợi ích quốc gia và của công dân.

Đại hội XI của Đảng xác định, Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, thể hiện và thực hiện ý chí, quyền lực của nhân dân. Việc tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước ta hiện nay là một trong những vấn đề lớn được Đảng hết sức quan tâm và xác định, Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, thể hiện và thực hiện ý chí, quyền lực của nhân dân, trên cơ sở liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo.Nhà nước định ra luật pháp và tổ chức, quản lý xã hội bằng pháp luật; giữ nghiêm kỷ cương xã hội, nghiêm trị mọi hành động xâm phạm pháp luật, vi phạm  lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân. Nhà nước gắn bó chặt chẽ với nhân dân, thực hiện đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân, tôn trọng, lắng nghe ý kiến của nhân dân và chịu sự giám sát của nhân dân. Nhà nước có cơ chế và biện pháp kiểm soát, ngăn ngừa và trừng trị tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, vô trách nhiệm, lộng quyền, xâm phạm quyền làm chủ của công dân, nhằm bảo đảm, phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước theo nguyên tắc tập trung dân chủ, có sự phân công, phân cấp, đồng thời bảo đảm sự chỉ đạo thống nhất của Trung ương. Quyền lực nhà nước là thống nhất; có sự phân công phối hợp giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp; có cơ chế kiểm tra, giám sát trong việc thực hiện ba quyền đó, bảo đảm những hoạt động của các cơ quan nhà nước thật sự của dân, do dân, vì dân; thật sự mọi quyền lực đều thuộc về nhân dân như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định.

Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước ta hiện nay diễn ra trong bối cảnh mới của tình hình quốc tế và xu thế toàn cầu hóa đang đặt ra những nhiệm vụ hết sức nặng nề đòi hỏi Nhà nước ta cần có sự đổi mới mạnh mẽ, sâu sắc và toàn diện hơn trên tất cả các lĩnh vực, trước hết là đẩy mạnh cải cách, hoàn thiện tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước, nâng cao năng lực và hiệu quả quản lý, góp phần phát triển kinh tế – xã hội./.

Tâm Trang (Tổng hợp)
bqllang.gov.vn

Vâng lời Bác, chúng con lên đường

Đúng 7 giờ sáng ngày 23/01/2013, khi tiết trời Hà Nội còn đang mờ sương buổi sớm, nhưng gần 400 cán bộ, giáo viên, học viên Học viện Kỹ thuật Quân sự cùng các đại biểu của Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có mặt đông đủ trước Lăng Chủ tịch Hồ Chi Minh để tổ chức lễ báo công dâng Bác cho 326 học viên Khoá học 43, Học viện Kỹ thuật Quân sự tốt nghiệp ra trường, chuẩn bị lên đường nhận nhiệm vụ mới.

HVKTQS
Học viên Khoá học 43, Học viện Kỹ thuật Quân sự
báo công tại Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Buổi lễ báo công dâng Bác hôm nay là nội dung trọng tâm trong chương trình phối hợp giáo dục, tuyên truyền đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh giữa Học viện Kỹ thuật Quân sự và Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được ký kết từ ngày 19/5/2012. Nooij dung của Chương trình phối hợp giữa Học viện và Bộ Tư lệnh là: “Tất cả các học viên của Học viện Kỹ thuật Quân sự trong dịp khai giảng, mở đầu khoá học mới được vào Lăng viếng Bác; khi kết thúc khoá học ra trường được về Lăng báo công dâng Người”. Đây là nội dung tuyên truyền, giáo dục thiết thực, hiệu quả. Mở đầu khóa học, từng học viên khi về Lăng viếng Bác, như để hứa với Bác sẽ nỗ lực cố gắng phấn đấu hoàn thành tốt nhất nhiệm vụ của người học viên. Để trước khi tốt nghiệp ra trường, tất cả các học viên về trước Lăng Bác báo cáo với Người kết quả học tập, rèn luyện trong những năm học tại Trường. Đồng thời tiếp tục hứa với Bác sẽ đi bất cứ nơi đâu, nhận bất cứ nhiệm vụ gì khi Tổ quốc, nhân dân và Quân đội giao phó; phấn đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của người cán bộ trong Quân đội nhân dân Việt Nam.

Sau lễ chào cờ và lắng nghe những lời căn dặn của Bác đối với Thanh niên, Đại tá Nguyễn Văn Tài, Phó Chủ nhiệm Chính trị Học viện đã trân trọng kính thưa với Bác những kết quả nổi bật trong học tập, rèn luyện của Khóa học 43: Thực hiện mục tiêu đào tạo học viên trở thành người sỹ quan tốt – kỹ sư giỏi – đảng viên mẫu mực, trong gần 6 năm học vừa qua (2007- 2013), toàn thể cán bộ, học viên Khóa 43 đã nêu cao tinh thần đoàn kết, quyết tâm vượt qua mọi khó khăn thử thách, phấn đấu “học tập tốt, rèn luyện kỷ luật nghiêm”, hoàn thành tốt nhiệm vụ của toàn khóa học. Trong số 326 học viên tốt nghiệp ra trường hôm nay có 271 đồng chí (chiếm 83,18%) đạt kết quả Khá, Giỏi. Đồng thời, Khóa học 43 còn dành được 49 giải Olympic, trong đó có 10 giải Nhất và 12 giải Nhì; tiến hành nghiên cứu 130 đề tài khoa học, có 31 đề tài được các cấp khen thưởng và có 322 đồng chí (chiếm 98,78%) được vinh dự trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

Trong niềm vui chung của Học viện và toàn Khoá học 43, có 10 học viên tiêu biểu xuất sắc gồm các đồng chí Nguyễn Văn Cương, Nguyễn Thị Bảo Yến và Ngô Thị Hòa thuộc Đại đội 143, Tiểu đoàn 1; Phạm Đình Thắng, Trương Quang Lăng và Trần Văn Hiệp thuộc Đại đội 243, Tiểu đoàn 2; Đới Thị Lan, Phạm Thúy Hằng thuộc Đại đội 343, Tiểu đoàn 3 và Đào Duy Tùng, Đỗ Văn Thùy thuộc Đại đội 443, Tiểu đoàn 4 được Học viện Kỹ thuật Quân sự và Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh trao tặng Huy hiệu Bác Hồ trước Lăng của Người. Đồng chí Thiếu tướng Đặng Nam Điền, Chính ủy Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh và đồng chí Thiếu tướng Nguyễn Thiện Chất, Phó Chính ủy Học viện Kỹ thuật Quân sự đã gắn cho từng đồng chí Huy hiệu Bác Hồ – phần thưởng cao quý mà lúc sinh thời Người dành tặng cho những gương “người tốt, việc tốt” tiêu biểu.

Đời đời ghi nhớ công ơn của Đảng, của Bác, trực tiếp là những tình cảm quý báu và sự quan tâm giáo dục, rèn luyện của Học viện dành cho các học viên trong những năm học vừa qua, đồng chí Phạm Đình Thắng đã xúc động báo cáo với Bác: “Trong giờ phút trang nghiêm này, chúng cháu xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới Đảng, Bác Hồ, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, các đồng chí lãnh đạo, chỉ huy các cấp, cùng các thầy, các cô và các đồng chí nhân viên, chiến sỹ phục vụ trong Học viện đã luôn quan tâm giáo dục, rèn luyện, giúp đỡ để chúng cháu hoàn thành tốt nhiệm vụ khóa học và trở thành người sỹ quan, người cán bộ khoa học kỹ thuật trong Quân đội nhân dân Việt Nam Anh hùng”.

Kết thúc buổi lễ, các đại biểu cùng toàn thể cán bộ, học viên Khóa học 43, Học viện Kỹ thuật Quân sự kính cẩn dâng vòng hoa: “Đời đời nhớ ơn Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại” và vào Lăng viếng Người. Tâm trạng về bên Bác ai cũng bồi hồi xúc động, nhưng đều quyết tâm thực hiện trọn vẹn lời hứa mà đồng chí Phạm Thúy Hằng, học viên Đại đội 343, Tiểu đoàn 3 đã hứa với Bác: “Năm xưa, vâng lời Bác, các thế hệ cha anh đã xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước. Nay, vâng lời Bác, chúng cháu sẽ tiếp bước cha anh, lên đường hướng tới mọi vùng miền, biên cương của Tổ quốc, đem sức trẻ, lòng nhiệt huyết và kiến thức đã được Học viện trang bị vào quản lý, khai thác, sử dụng, cải tiến vũ khí, trang thiết bị kỹ thuật của từng đơn vị, góp phần xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo vệ và xây dựng Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”./..

Nguyễn Hữu Mạnh
bqllang.gov.vn

Vị Đại đức có nhiều việc làm theo gương Bác

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nêu rõ những giá trị đạo đức và văn hóa tích cực của tôn giáo: “Chúa Giê-su dạy: Đạo đức là bác ái. Phật Thích Ca dạy: Đạo đức là từ bi”. Cả cuộc đời Chủ tịch Hồ Chí Minh là tấm gương mẫu mực về tình yêu thương con người, tất cả vì hạnh phúc của nhân dân.

Tìm thấy trong triết lý Phật giáo và tư tưởng Hồ Chí Minh những trùng hợp về tư tưởng cao cả vì con người, noi theo tấm gương đạo đức tuyệt vời cao đẹp của Bác, trong thời gian qua, Đại đức Thích Thiện Hòa cùng chùa Hải Hội, xã Hòa Hiệp Trung, huyện Đông Hòa, tỉnh Phú Yên đã có nhiều việc làm thiết thực nhằm cứu giúp những cảnh đời nghèo khó và xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư.

Bàn thờ Bác bốn mùa ngát hương

Tôi tìm về chùa Hải Hội – ngôi chùa đẹp, cổ kính, mang đậm dấu ấn kiến trúc chùa chiền Nam Trung Bộ vào một ngày rằm. Người đi lễ chùa khá đông. Tiếng chuông, tiếng mõ hoà với tiếng rì rào sóng vỗ tạo nên khung cảnh yên bình ở một vùng quê biển. Đại đức Thích Thiện Hòa, trụ trì cùa Hải Hội dẫn tôi vào gian chánh điện, kính cẩn thắp hương lên bàn thờ Phật và bàn thờ Bác.

Đại đức cho biết: Từ trước năm 1975, sau khi Bác mất, hằng năm, vào dịp sinh nhật Bác hay Tết Độc lập, chùa đều bí mật lập bàn thờ Bác, thắp hương tưởng nhớ công ơn của Người. Ngay sau giải phóng, chùa lập bàn thờ Bác ở vị trí trang trọng nhất của gian chánh điện. Bà con ngư dân, trước mỗi chuyến biển, đều đến chùa, cầu cho sóng yên biển lặng và thắp thắp hương, hứa với Bác sẽ chung tay giữ biển đến cùng, như lời Bác dạy. Đi lễ chùa cũng là dịp bà con thắp hương lên bàn thờ Bác, vì thế, bàn thờ Bác quanh năm hương hoa thơm ngát.

Đại đức Thích Thiện Hoà tâm sự: “Chúng tôi lúc nào cũng tưởng nhớ đến Bác Hồ kính yêu vì Bác là vị lãnh tụ vĩ đại đã giải phóng dân tộc khỏi áp bức của ngoại xâm, để chúng tôi có được cuộc sống yên bình như ngày hôm nay, yên tâm tu hành, tu học. Tôi đã nghiên cứu rất kỹ cuộc đời, tấm gương đạo đức của Bác, tư tưởng vì dân, vì con người của Bác và thấy bổn phận mình phải học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Người”.

Chùa Hải Hội đã có từ lâu đời. Trong kháng chiến chống Mỹ, đây là cơ sở, nơi đi về của cán bộ cách mạng. Cũng vì thế, không ít lần chính quyền chế độ cũ đã làm khó dễ đối với chùa, thậm chí chúng còn cài lựu đạn cho nổ tung  tượng Phật. Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, với sự ủng hộ của chính quyền, sự đóng góp của đạo hữu, ngôi chùa được tu bổ, xây dựng khang trang, là nơi sinh hoạt tín ngưỡng của bà con phật tử xã Hòa Hiệp trước đây, nay là các xã Hòa Hiệp Bắc, Hòa Hiệp Trung, Hòa Hiệp Nam, huyện Đông Hòa. Tiếp nối truyền thống tốt đẹp trong kháng chiến chống Mỹ, các thế hệ trụ trì chùa Hải Hội đã tích cực tham gia hưởng ứng các phong trào yêu nước.

vi Dai ducBàn thờ Bác tại chùa Hải Hội

Đặc biệt, từ khi triển khai Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gươg đạo đức Hồ Chí Minh”, từ tấm gương của Bác và qua nghiên cứu, tìm thấy trong triết lý Phật giáo và tư tưởng Hồ Chí Minh những trùng hợp về tư tưởng cao cả vì con người, mỗi tháng 2 lần, trong các buổi dạy giáo lý, Đại đức Thích Thiện Hòa đã lồng ghép nói về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh cho bà con phật tử. Đại đức dặn bà con phải luôn thương yêu, đoàn kết, giúp đỡ nhau theo lời Bác và cũng là lời Phật dạy.

Những việc làm theo gương Bác

Các xã Hòa Hiệp ngày nay đã có nhiều đổi mới, song tỷ lệ hộ nghèo vẫn còn khá cao và vẫn còn không ít cảnh đời bất hạnh do hậu quả chiến tranh. Chung tay cùng người nghèo, góp phần cùng địa phương giúp đỡ những gia đình khó khăn, Đại đức Thích Thiện Hòa đứng ra  thành lập Chi hội Chữ thập đỏ của chùa với gần 200 hội viên là các phật tử, luôn duy trì nguồn quỹ khoảng 30 triệu đồng, trong đó có nhiều  hội viên nòng cốt, chưa bỏ sót tham gia một đợt quyên góp nào. Ông Huỳnh Đức Ngọc ở thôn Phú Hiệp 2, xã Hòa Hiệp Trung, một thành viên tích của Chi hội Chữ thập đỏ chùa Hải Hội nói: “Chúng tôi rất ủng hộ những việc làm từ thiện của chùa Hải Hội. Không nhiều thì ít, hễ nhà chùa mở đợt quyên góp là gia đình tôi hưởng ứng ngay”.

Từ nguồn quỹ này, Chi hội Chữ thập đỏ Chùa Hải Hội thường xuyên giúp đỡ nhiều gia đình khó khăn, nạn nhân chất độc màu da cam và tặng quà cho học sinh nghèo vượt khó. Ngay sau trận lũ  lịch  sử ở Phú Yên đầu tháng 11/2009, chùa Hải Hội đã vận động quyên góp, tổ chức 3 đợt về huyện Đồng Xuân – nơi bị thiệt hại nặng nề nhất – trao quà cho bà con vùng lũ trị giá 50 triệu đồng.

Cùng với đó, Đại đức Thích Thiện Hòa còn gặp gỡ trao đổi với bà con phật tử về thực hiện đời sống văn hoá ở khu dân cư, chăm lo xây dựng gia đình hạnh phúc, yêu thương đùm bọc, nuôi dạy con cái ngoan hiền, hiếu học, góp phần xây dựng và giữ vững danh hiệu các thôn văn hóa.

Những việc làm của Đại đức Thích Thiện Hòa và Chi hội Chữ thập đỏ chùa Hải Hội được chính quyền, Mặt trận địa phương đánh giá cao. Ông Nguyễn Hữu Tổng, Phó Chủ tịch UBMTTQ Việt Nam xã Hòa Hiệp Trung nói: “Không chỉ góp phần giúp đỡ những cảnh đời khốn khó, bà con nghèo,  chùa Hải Hội và Đại đức Thích Thiện Hòa còn hỗ trợ địa phương rất nhiều trong việc xây dựng thôn xóm bình yên”.

Phan Xuân Luật
cand.com.vn