Tag Archive | Hồ Chí Minh

Tết trồng cây cuối cùng của Bác Hồ

Đồng chí có biết?

Trong Di chúc, Bác dặn trồng nhiều cây ở những nơi lưu niệm Người, không nên dựng bia đá, tượng đồng - Ảnh tư liệu

Trong Di chúc, Bác dặn trồng nhiều cây ở những nơi lưu niệm Người, không nên dựng bia đá, tượng đồng – Ảnh tư liệu

QĐND – Lúc sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến công tác trồng cây gây rừng. Ngày 28-11-1959, với bút danh Trần Lực, Hồ Chí Minh viết bài “Tết trồng cây” để phân tích ý nghĩa và lợi ích thiết thực của phong trào này và “đề nghị tổ chức một ngày Tết trồng cây, việc này tốn kém ít mà lợi ích rất nhiều”. Tết trồng cây đầu tiên đã được tổ chức ở miền Bắc vào đầu Xuân năm 1960. Từ đó, hằng năm, vào dịp đầu Xuân mới Bác Hồ lại đến một địa phương nào đó để trồng cây.

Địa điểm Người trồng cây cuối cùng là mùa Xuân Kỷ Dậu năm 1969 tại đồi Yên Bồ, xã Vật Lại, huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây (nay là Hà Nội). Hồi ấy sức khỏe của Bác yếu nhiều, việc bố trí để Bác trồng cây ở một địa phương nào đó theo ý của Bác là một vấn đề rất khó khăn. Những người phục vụ Bác rất lo lắng nên nhiều lần đề nghị Bác hoãn lại việc trồng cây. Nhưng Bác rất kiên quyết. Bác gợi ý chọn xã Vật Lại, huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây là nơi có phong trào trồng cây tốt.

Theo kế hoạch đã chuẩn bị, Bác đến địa điểm trồng cây. Đông đảo các đại biểu, các tầng lớp nhân dân đã đứng trên những đồi cây đón Bác. Bác trực tiếp trồng thêm một cây đa. Nhìn những xẻng đất, bình nước Bác tưới mát cho cây, mọi người ai cũng xúc động nghẹn ngào.Trồng cây xong, Bác cùng mọi người quây quần dưới tán cây và thân mật hỏi chuyện và chúc Tết mọi người. Tất cả mọi người có mặt trong buổi Bác trồng cây năm ấy không ai nghĩ rằng đó là mùa xuân cuối cùng và cũng là cái Tết trồng cây cuối cùng của Bác.

Ghi nhớ lời bác dạy 54 năm qua, nhân dân Ba Vì đã ra sức thi đua sản xuất giỏi, trồng nhiều cây xanh, năm nào cũng thực hiện tốt phong trào “Tết trồng cây” do Bác Hồ phát động. Xuân Quý Tỵ này, Ba Vì sẽ tổ chức ra quân thực hiện Tết trồng cây vào ngày 18-2 (tức là ngày mồng 9 Tết).

MINH HÀ
qdnd.vn

Theo chân Bác trên đất nước Hoa Hồng (tiếp theo)

(ĐCSVN)  – Trong ba ngày từ 13 đến 17 tháng 8 năm 1957, Chủ tịch Hồ Chí Minh dẫn đầu Đoàn đại biểu Đảng và Nhà nước ta thăm chính thức Cộng hoà Nhân dân Bulgaria. Trong chuyến thăm ba ngày ngắn ngủi đó, hình ảnh của “một vị anh hùng huyền thoại của một dân tộc vĩ đại” (theo cách gọi của báo chí Bulgaria thời đó) qua nhiều thế hệ, vẫn còn in đậm nét trong ký ức của những người bạn Bulgaria trọng thị, mến khách.

Lễ đón Chủ tịch Hồ Chí Minh tại quảng trường Trung tâm Thủ đô Sophia.
(Ảnh chụp lại từ phông tư liệu của Bảo tàng Hồ Chí Minh).

Ông Phạm Quốc Bảo, nguyên Đại sứ nước ta tại Bulgaria cho biết, nếu theo dấu chân Bác chỉ thông qua những trang tư liệu thì chưa đủ. Và, ông kể cho chúng tôi nghe quá trình lần tìm những nhân chứng đã từng tham gia đón tiếp Người trong chuyến thăm lịch sử đó.

Tháng 8-2007, Đoàn cán bộ Ban Tuyên giáo Trung ương do GS, TS Phạm Mạnh Hùng, Phó Trưởng ban làm Trưởng đoàn đã cùng Đại sứ và nhóm biên soạn đến thăm lâu đài Vơrana, trước đây là Nhà khách Chính phủ, nơi Bác Hồ đã ở trong thời gian chuyến thăm lịch sử. Chủ nhân của lâu đài là cựu Hoàng Simeon Đệ nhị, nguyên Thủ tướng Bulgaria (2001-2005) đã đích thân dẫn đoàn đi thăm nơi ăn, chốn nghỉ của Bác trước đây và giới thiệu với khách về tòa lâu đài cổ kính này.

Các hoạt động kỷ niệm 50 năm chuyến thăm Bulgaria của Chủ tịch Hồ chí Minh diễn ra trên đất bạn đã được các cơ quan, đoàn thể ở trung ương và địa phương, các hãng thông tấn báo chí và nhân dân Bulgaria đánh giá cao và hưởng ứng nhiệt tình. Tới dự mít tinh và khai mạc triển lãm ảnh có nhiều vị lãnh đạo cấp cao như: Bộ trưởng Quốc phòng, Bộ trưởng Kinh tế và Năng lượng, Chủ tịch Cơ quan Nhà nước về Công nghệ thông tin và Truyền thông; Chủ nhiệm Ủy ban Nông – Lâm của Quốc hội, Chủ tịch Nhóm nghị sĩ Quốc hội hữu nghị với Việt Nam; Thứ trưởng Bộ Văn hóa; Chủ tịch Hội Hữu nghị Bulgaria – Việt Nam; các đại biểu Quốc hội, Đoàn Ngoại giao, cán bộ nhân viên Đại sứ quán, đông đảo bà con trong cộng đồng người Việt và bạn bè Bulgaria… Điều rất cảm động là các cựu chiến binh, các nhà hoạt động chính trị – xã hội lão thành, có nhiều tình cảm sâu sắc với Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tham gia đầy đủ trong các hoạt động nhân dịp kỷ niệm chuyến thăm Bulgaria của Bác.

Trước đó, nhằm bổ sung, hoàn thiện tư liệu cho việc biên soạn cuốn sách, Đại sứ và nhóm biên soạn đã tổ chức nhiều cuộc gặp gỡ với các nhân chứng. Ngày 8-5-2007, vợ chồng nghị sĩ Oleg Popov và con trai đến thăm Đại sứ quán nước ta tại Sôphia ta trước khi bà Evelina Popova sang Việt Nam công tác. Bà cho biết, trước đây cụ Popov (bố chồng bà) đã được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Nôvi Khan. Hồi đó cụ Popov còn là một thượng úy trẻ trong hàng ngũ an ninh nước bạn bảo vệ Bác Hồ. Sau này, cụ Popov được thăng quân hàm thiếu tướng an ninh và đã nghỉ hưu. Đại sứ rất xúc động khi nghe tin vui này và đã ngỏ ý mong muốn được đến thăm cụ. Không bao lâu sau, chiều ngày 11-5, ông Phạm Quốc Bảo về thăm làng Gabra. Mặc dù đã gần 80 tuổi, không quản đường xá xa xôi, cụ Popov đã lên tận làng Novi Khan, cách nhà 15 km để chỉ nơi Bác Hồ dừng chân và kể lại khi nghe tin Bác Hồ đi qua tuyến đường này, nhân dân đã đổ ra đường, đông chưa từng có trong lịch sử để chào đón Bác. Cụ nói rằng Chủ tịch Hồ Chí Minh là vị khách duy nhất được nhân dân Bulgaria đón tiếp nồng nhiệt đến như vậy. Cụ cũng không quên kể lại những giây phút xúc động khi được ôm Bác Hồ như thế nào, nửa thế kỷ đã qua mà cho tới tận bây giờ vẫn còn nhớ mãi không nguôi. Cụ đã tâm sự: “Tham gia bảo vệ Bác Hồ, tôi thấy có cái gì đấy rất khác. Người thật khiêm tốn, giản dị và cái đó đã tôn vinh Người trong mắt người dân Bulgaria và gây ấn tượng rất sâu sắc đối với tôi cho đến tận bây giờ”.

Ngày 17-8-2007, trong số khách đến dự mít tinh kỷ niệm 50 năm chuyến thăm Bulgaria của Chủ tịch Hồ Chí Minh có hai mẹ con cụ Vasilka Nikiphorova. Cụ tặng hoa Đại sứ và bày tỏ cảm tình đặc biệt với nhân dân Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tuy ở tuổi 93 nhưng cụ vẫn minh mẫn và rất tích cực tham gia các hoạt động của hội hữu nghị Bulgaria – Việt Nam. Ngày 29-8-2007, Đại sứ cùng nhóm biên soạn đến thăm gia đình cụ, thật cảm động khi được biết cả con gái và con rể của cụ nay đã ở tuổi 70 mà trước đây cũng đều được gặp Bác Hồ. Cụ được gặp Bác Hồ ở cuộc mít tinh, dự chiêu đãi và tặng hoa Bác cách đây nửa thế kỷ. Bà Maria Nikiphorova phụ trách nhóm thiếu nhi tặng hoa Bác Hồ ở sân bay Sophia, còn ông Andrey Evtimov Penchev được dự mít tinh chào mừng Bác ở quảng trường Đỏ, thành phố Plovdiv. Năm mươi năm đã trôi qua, nhưng hình ảnh về Bác Hồ vẫn còn in dấu ấn sâu đậm trong lòng người dân Bulgaria.

Theo dấu chân Bác Hồ, Đại sứ cùng nhóm giúp việc đã về làng Perustitsa (nay là một thị trấn) nằm ở phía tây dãy núi Rodopi ở cách Sophia 147 km về phía Đông Nam. Nhóm biên soạn đã vào tham quan hầm rượu vang mà cách đây 50 năm Bác Hồ đã đến thăm. Tại đây, hai bố con ông Giám đốc niềm nở đón tiếp và đã dành cho ông Phạm Quốc Bảo và nhóm biên soạn một bất ngờ lớn. Họ giới thiệu một cụ già người tầm thước, da dẻ hồng hào có mặt trong buổi tiếp là người được gặp Bác Hồ ở đây tháng 8-1957. Cụ Iordan Costadinov Toncov bồi hồi nhớ lại: “Cách đây 50 năm, khi đó tôi mới 25 tuổi đã vinh dự được bắt tay Bác Hồ”. Sau đó, cụ đã hướng dẫn các thành viên của đoàn công tác tham quan những nơi mà nửa thế kỷ trước Bác Hồ đã thăm như: hầm rượu vẫn còn nguyên, ngôi nhà nơi tiếp đón Bác, gia đình ông Petar Savov có người em đã anh dũng hy sinh trong chiến tranh chống phát xít để bảo vệ dân làng. Cụ Iordan Costadinov Toncov xúc động nói: ”Tôi vẫn còn nhớ mãi cái bắt tay nồng nhiệt với một bậc vĩ nhân. Dù chỉ trong giây lát ngắn ngủi, nhưng cũng đủ để bản thân tôi có cơ hội cảm nhận được lòng nhân ái của Người”.

Vào dịp kỷ niệm ngày sinh lần thứ 80 của cụ bà Angelina Ivanova Angelova (23-11-2007), nguyên Giám đốc Liên hiệp Nhà trẻ mang tên Hồ Chí Minh trong suốt 20 năm (1970-1990), đơn vị liên tục là lá cờ đầu trong toàn quốc và đã được nhà nước tặng thưởng Huân chương cao quý “Kiril và Metoy” hạng Nhất”. Tiếp xúc với Đại sứ, cụ Angelina Ivanova Angelova xúc động tâm sự: “Cho đến ngày nay, các lớp con cháu của chúng tôi vẫn mang trong mình niềm tự hào lớn lao là đã được dạy dỗ và lớn lên từ Liên hiệp Nhà trẻ “Hồ Chí Minh”.

Theo dấu chân Bác Hồ, nhóm biên soạn đã đi theo hành trình Bác đã đi qua, bồi hồi xúc động và niềm tự hào trào dâng khó tả. Từ các cơ quan trung ương đến chính quyền địa phương, từ thủ đô Sophia đến Perustitsa, những địa danh, thành phố, làng mạc, đường đèo, núi non, rừng cây, sông suối…, đến đâu cũng như vẫn còn in dấu chân Người, như những nhân chứng lịch sử đã chứng kiến một thời Bác đã đi qua, nay vẫn còn để lại những dấu ấn sâu đậm trong lòng người dân Bulgaria.

Những nhân chứng lịch sử đã nói lên rằng: Sự kính trọng, khâm phục và tình cảm quý báu đối với Bác Hồ vẫn còn là những dấu ấn sâu đậm trong lòng những người bạn Bulgaria, bất chấp cả những biến động lớn trong quan niệm về các giá trị tinh thần, tư tưởng và đạo đức trong quá trình chuyển đổi thể chế chính trị của đất nước.

Trải qua những bước thăng trầm của lịch sử, Di sản Hồ Chí Minh vẫn là cầu nối cho những ý niệm tốt đẹp của người Bulgaria đối với Việt Nam. Dấu ấn của Người để lại vẫn luôn nâng bước để chúng ta tiến lên trên con đường hòa bình, hữu nghị và hợp tác giữa các dân tộc.

(Viết theo lời kể của ông Phạm Quốc Bảo và tài liệu do nhóm biên soạn cuốn sách cung cấp)

Nguyễn Vũ Cân
dangcongsan.vn

Theo chân Bác trên đất nước Hoa Hồng

(ĐCSVN)  – Trong ba ngày từ 13 đến 17 tháng 8 năm 1957, Chủ tịch Hồ Chí Minh dẫn đầu Đoàn đại biểu Đảng và Nhà nước ta thăm chính thức Cộng hoà Nhân dân Bulgaria. Trong chuyến thăm ba ngày ngắn ngủi đó, hình ảnh của một vị anh hùng huyền thoại của một dân tộc vĩ đại (theo cách gọi của báo chí Bulgaria thời đó) qua nhiều thế hệ, vẫn còn in đậm trong ký ức của những người bạn Bulgaria trọng thị, mến khách..

Chủ tịch Hồ Chí Minh trong chuyến thăm Bulgaria từ ngày 13 đến
ngày 17 tháng 8 năm 1957. (Ảnh chụp lại từ phông tư liệu của Bảo tàng Hồ Chí Minh)

Bác Hồ qua từng trang tư liệu

Tháng 6 năm 2010, tôi được ông Phạm Quốc Bảo, nguyên Đại sứ nước ta tại Bulgaria tặng cuốn sách “Hồ Chí Minh trên đất nước Hoa Hồng”. Cuốn sách này do Đại sứ quán nước ta tại Cộng hoà Bulgaria phối hợp với Bảo tàng Hồ Chí Minh biên soạn và được Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia – Sự Thật phát hành. Cuốn sách tập hợp những tư liệu quý về chuyến thăm lần đầu tiên và cũng là lần duy nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh đến Bulgaria từ ngày 13 đến ngày 17 tháng 8 năm 1957. Chuyến thăm được ghi vào trang vàng của lịch sử quan hệ giữa Việt Nam và Bulgaria.

Ông Phạm Quốc Bảo kể rằng, nhờ sự giúp đỡ tận tình của bạn bè và các cơ quan hữu quan Bulgaria và trong nước, Đại sứ quán nước ta đã sưu tầm được nhiều hình ảnh và tư liệu quý về hoạt động đối ngoại của Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Bulgaria và Việt Nam.

Đầu năm 2007, nhờ có mối quan hệ thân tình với một số cán bộ lãnh đạo Bộ Ngoại giao Bulgaria, Đại sứ quán ta đã nhận được một tập hồ sơ tư liệu quý về chuyến thăm Bulgaria năm 1957 của Chủ tịch Hồ Chí Minh gồm 62 trang bằng tiếng Bulgaria và tiếng Pháp. Trong đó có nhiều tài liệu có giá trị như các bản ”tốc ký” ghi lại những lời phát biểu miệng của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại buổi gặp mặt với Đoàn Chủ tịch Quốc hội Bulgaria, biên bản các cuộc hội đàm giữa các nhà lãnh đạo hai nước, các chỉ thị và nghị quyết đặt tên Chủ tịch Hồ Chí Minh cho các đại lộ, nhà trẻ, nhà máy ở Bulgaria…

Tháng 5/2007, nhờ sự giúp đỡ của Quốc hội Bulgaria, Đại sứ quán nước ta đã nhận được hai tập bản sao báo “Sự nghiệp Công nhân” – Cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng sản Bulgaria và báo “Mặt trận Tổ quốc” – Cơ quan ngôn luận của Đoàn Chủ tịch Quốc hội và Mặt trận Tổ quốc Bulgaria (từ ngày 13 đến ngày 19/8/1957) đang lưu giữ tại Quốc hội. Trong đó, các báo đăng tải các tin, bài, văn kiện, lời phát biểu của lãnh đạo hai nước… diễn tả đầy đủ toàn cảnh chuyến thăm của Bác qua hệ thống truyền thông Bulgaria. Dựa trên những tư liệu quý bước đầu sưu tầm được, trước hết nhóm biên soạn tiến hành cuộc hành trình ”Theo dấu chân Bác Hồ” trên tư liệu báo chí. Những tư liệu đó đã cho thấy, lãnh đạo Đảng, Nhà nước và nhân dân Bulgaria đã dành cho Chủ tịch Hồ Chí Minh sự đón tiếp hết sức nồng nhiệt, trọng thị, hữu nghị và thân thiết, thể hiện tình cảm chân thành với lòng kính trọng và tình yêu cao quý nhất của nhân dân Bulgaria anh em đối với nhân dân Việt Nam anh hùng. Báo chí Bulgaria mô tả nhân dân Bulgaria đón tiếp Chủ tịch Hồ Chí Minh như một vị anh hùng huyền thoại của một dân tộc vĩ đại. Đồng thời khắc họa trong tâm khảm của người dân Bulgaria hình ảnh của “Bác Hồ” khiêm tốn, giản dị, cởi mở, chân thành và giàu lòng nhân ái.

Vào một ngày cuối thu năm 2007, lãnh đạo Cơ quan Lưu trữ Quốc gia Bulgaria mời Đại sứ đến thăm. Cùng đi với Đại sứ còn có tiến sĩ Bạc Cầm Tiến, một nhà khoa học đang định cư tại Bulgaria. Sau này, Tiến sĩ Bạc Cầm Tiến được giao nhiệm vụ biên dịch những tài liệu tiếng Bulgaria sang tiếng Việt, phục vụ công tác biên soạn cuốn sách “Hồ Chí Minh trên đất nước Hoa Hồng”.  Ông Phạm Quốc Bảo nói rằng, đây là cơ hội để nhóm biên soạn tìm kiếm các tư liệu về Bác đang được lưu giữ ở Cục Lưu trữ Quốc gia Bulgaria. Ông nói: “Điều cuốn hút chúng tôi nhất là những album ảnh và những tập tài liệu đã ố vàng bởi thời gian, nhưng được bảo quản rất chu đáo, trong đó có gần 40 bức ảnh quý, những bút tích và chữ ký nguyên gốc của Bác”.

Khám phá đầu tiên và có ý nghĩa quan trọng nhất trong quá trình tìm hiểu, nghiên cứu các tài liệu này là mối quan hệ giữa nhân dân Việt Nam và nhân dân Bulgaria đã có từ rất lâu, trước khi hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức (tháng 2/1950). Điều này đã được Bác Hồ “tiết lộ” trong lời phát biểu khi đến thăm Đoàn Chủ tịch Quốc hội ngày 14/8/1957: ”Mối quan hệ giữa nhân dân Việt Nam và nhân dân Bulgaria đã có từ lâu rồi. Hôm nay tôi mới tiết lộ điều bí mật của mối quan hệ này”. Người kể về mối quan hệ thân thiết của mình với những người con ưu tú của dân tộc Bulgaria là Georgi Dimitrov và Vasil Kolarov khi người tham dự một hội nghị bí mật của Quốc tế Cộng sản trước khi đi vào hoạt động bí mật tại Trung Quốc.

Chính mối quan hệ mang ý nghĩa lịch sử sâu xa đó đã đặt nền móng xây dựng mối quan hệ hữu nghị truyền thống tốt đẹp giữa nhân dân hai nước Việt Nam – Bulgaria. Trải qua những bước thăng trầm của lịch sử, nhân dân hai nước không ngừng vun đắp cho mối quan hệ này ngày càng nở hoa kết trái.

Ông Phạm Quốc Bảo, nguyên Đại sứ nước ta tại Cộng hoà Bulgaria.

Theo ông Phạm Quốc Bảo, bước đầu tiên – như cách ông nói – theo chân Bác trên đất nước Hoa Hồng qua tư liệu báo chí cho thấy:

Chính Chủ tịch Hồ Chí Minh là đóng vai trò to lớn trong việc phát triển quan hệ hữu nghị giữa nhân dân hai nước Việt Nam và Bulgaria, đồng thời góp phần củng cố sự đoàn kết trong phe xã hội chủ nghĩa thời đó vì sự nghiệp hoà bình, tiến bộ xã hội trên thế giới.

Một trong những mục đích quan trọng của chuyến thăm còn nhằm vào việc củng cố sự đoàn kết và thống nhất hành động giữa các nước xã hội chủ nghĩa chống chạy đua vũ trang và chiến tranh xâm lược của chủ nghĩa đế quốc thời bấy giờ. Điều này đã được nêu rõ trong Tuyên bố chung của chuyến thăm.

Trong bài xã luận ngày 18/8/1957, Báo “Mặt trận Tổ quốc” Bulgaria gọi Đoàn đại biểu ta là ”Những vị sứ giả của tình hữu nghị và đoàn kết giữa các dân tộc”.

Phóng sự báo “Sự nghiệp Công nhân” đã ghi lại những chi tiết quý báu của hoạt động ngoại giao “Hồ Chí Minh” trong buổi đến thăm nông trang Pêruxtixa. Lúc đó, tại buổi họp mặt, khi nhận bình rượu vang từ tay đồng chí Bí thư Tỉnh ủy Đảng Cộng sản Bulgaria, Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa chậm rãi đọc dòng khẩu hiệu trên tường bằng tiếng Bulgaria “Hãy củng cố sự thống nhất giữa những người cộng sản và nông dân!”, vừa rót rượu, mỉm cười mời Chủ tịch Đảng Liên minh Nông dân. Sự tinh tế, sâu sắc trong phong cách “ngoại giao nhân dân” Hồ Chí Minh đã được mọi người có mặt vỗ tay nhiệt liệt hưởng ứng. Như vậy, với một cử chỉ rất bình dị, thân tình trong một cuộc gặp gỡ ngắn ngủi, Người đã kịp chuyển đến các vị lãnh đạo của bạn thông điệp về tầm quan trọng và sức mạnh của sự đoàn kết và thống nhất…

Lãnh đạo Đảng và Nhà nước Bulgaria ủng hộ hoàn toàn đối với sự nghiệp đấu tranh thống nhất đất nước của nhân dân Việt Nam. Lãnh đạo hai nước khẳng định sự cần thiết phải có những nỗ lực chung của tất cả các lực lượng yêu chuộng hòa bình, nhằm thi hành nghiêm chỉnh Hiệp định Giơnevơ, chấm dứt sự chia cắt đất nước, góp phần tích cực vào việc củng cố hòa bình ở khu vực và trên thế giới.

Sự đoàn kết gắn bó giữa hai Đảng, hai Nhà nước và nhân dân hai nước dựa trên những nét tương đồng về hoàn cảnh lịch sử, lý tưởng cách mạng và lập trường kiên định trên các vấn đề quốc tế cùng quan tâm.

Sự kính trọng, khâm phục và đặc biệt là tình cảm nồng nhiệt, thân thiết và gần gũi mà nhân dân Bulgaria đã dành cho Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Những tình cảm đặc biệt mà nhân dân Bulgaria dành cho Bác xuất phát từ uy tín lớn lao và khả năng cảm hoá đặc biệt của Người. Ông Andey Evtimov Penchv – một nhân chứng lịch sử đã tâm sự: ”Một ấn tượng mạnh mẽ đọng lại trong tôi là chỉ qua một lần gặp mặt tại cuộc mít tinh ngắn ngủi mà Bác Hồ đã trở nên vô cùng gần gũi thân thiết với tất cả những người có mặt tại đây. Họ xem Người như một người thân. Chỉ trong khoảnh khắc Người đã chiếm được lòng tin của tất cả. Ai cũng muốn được tự mình góp phần ủng hộ đồng bào Việt Nam anh em. Sức mạnh vô hình từ Người đã lôi cuốn họ: tính khiêm tốn giản dị, niềm mong muốn vô tận được tiếp xúc với mọi người dân bình thường, khả năng diễn đạt nội dung phong phú bằng rất ít lời và yếu tố không kém phần quan trọng là phong thái trí thức, thanh cao trong mọi cử chỉ của Người…”.

Nguyễn Vũ Cân
dangcongsan.vn

Mùa Xuân, nghĩ về Đảng, về học tập, làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh

Theo từng nhịp bước thời gian, hạ phai, thu úa, đông tàn … Mùa Xuân đến, tiết Xuân tươi khơi dậy sức sống cho muôn loài; vạn vật phô bày toàn diện vẻ đẹp huy hoàng, lộng lẫy, sức sống sung mãn, toàn bích. Nơi nơi nô nức, hân hoan chào đón mùa Xuân. Mùa Xuân của thiên nhiên, đất trời chỉ đến một lần trong  năm; mùa Xuân là thời gian vui tươi hạnh phúc và tràn đầy sức sống mà mọi người được hưởng, ai ai cũng có những mùa Xuân tươi đẹp trong cuộc đời!

 4. 1.mua xuan nghi ve DangVới Đảng ta, nhân kỷ niệm lần thứ 30 Ngày thành lập Đảng (3/02/1930), Chủ tịch Hồ Chí Minh có nói: “Với tất cả tinh thần khiêm tốn của người cách mạng, chúng ta vẫn có quyền nói rằng:“ĐẢNG TA THẬT LÀ VĨ ĐẠI”.

Soi rọi lịch sử hình thành và phát triển của Đảng trong 83 năm qua, chúng ta nhận thức được sự khẳng định của Chủ tịch Hồ Chí Minh là vô cùng sâu sắc! Bởi lẽ, ngoài lợi ích của giai cấp, của nhân dân, của dân tộc, Đảng ta không có lợi ích nào khác. Trải qua các thời kỳ cách mạng, Đảng luôn giáo dục đảng viên phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân; mỗi đảng viên phải thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; đặt lợi ích của dân tộc, của Đảng, của nhân dân, của tập thể lên trên lợi ích cá nhân.

Từ đầu năm 2007 đến nay, Đảng ta phát động cán bộ, đảng viên và nhân dân rèn luyện, tu dưỡng, học tập, làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, noi theo tác phong, phong cách làm việc của Người, nâng cao ý thức trách nhiệm, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí, quan liêu; mỗi cán bộ, đảng viên phấn đấu làm người công bộc tận tụy, trung thành của nhân dân, noi theo đời tư trong sáng, cuộc sống riêng giản dị của Người.

Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” đã chỉ ra 3 nội dung trọng tâm: ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên; xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế; xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm cá nhân người đứng đầu cấp ủy, chính quyền và mối quan hệ với tập thể cấp ủy, cơ quan, đơn vị … là những vấn đề, nội dung cơ bản và hệ trọng để xây dựng Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh! Qua đợt sinh hoạt chính trị quan trọng và rộng lớn này, các cấp ủy đảng, các ngành, các cấp, nhất là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý nhận thức đầy đủ và sâu sắc mục đích, ý nghĩa, nội dung những tư tưởng chỉ đạo của Đảng, những công việc phải làm, trên cơ sở đó thống nhất cao về ý chí, quyết tâm, thấy đầy đủ trách nhiệm để gương mẫu thực hiện nghị quyết có hiệu quả trên mỗi cương vị công tác tại địa bàn, lĩnh vực thuộc trách nhiệm lãnh đạo của mình!

Ngày nay, hơn lúc nào hết, Đảng ta kiên định, giữ vững lập trường chủ nghĩa Mác – Lênnin, tư tưởng Hồ Chí Minh, “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, thống nhất ý chí, hành động trong toàn Đảng, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, kêu gọi mỗi cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên trong hệ thống chính trị trung với nước, hiếu với dân. Chỉ có một Đảng chân chính mới canh cánh nỗi lo chưa xây dựng đất nước giàu mạnh, chưa chăm lo chu đáo cuộc sống và hạnh phúc của nhân dân.

Lãnh tụ của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nghiêm túc chỉ ra trách nhiệm của Đảng và Nhà nước: Chính sách của Đảng và Chính phủ là phải hết sức chăm nom đến đời sống của nhân dân. Nếu dân đói, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân rét là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân dốt là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân ốm là Đảng và Chính phủ có lỗi. Vì vậy, cán bộ Đảng và chính quyền từ trên xuống dưới, đều phải hết sức quan tâm đến đời sống của nhân dân. Một Đảng mà thấy hết, nhận hết trách nhiệm khuyết điểm về mình và quyết tâm sửa chữa là một đảng cách mạng chân chính, là đạo đức, là văn minh!

Mùa Xuân đến, nghĩ về Đảng, về học tập, làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh thấy lòng mình ấm lại! Chúng ta tin tưởng tuyệt đối sự lãnh đạo của Đảng bằng nhận thức khoa học, với sự hiểu biết sâu sắc về bản chất vì dân, vì nước, vì dân tộc của Đảng! Năm mới Quý Tỵ – 2013, mỗi cán bộ, đảng viên tiếp tục tu dưỡng, rèn luyện, thấm nhuần và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Mỗi đảng viên của Đảng phấn đấu mãi mãi là một nhành Xuân của Đảng, xây dựng Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh, góp phần làm cho Đảng gắn bó mật thiết, máu thịt với nhân dân, làm cho đạo đức, văn minh của Đảng tỏa sáng.

http://www.ubmttq.hochiminhcity.gov.vn
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Bác Hồ – Người không có tuổi !

Một buổi sáng năm 1960, nhà thơ An-tôn-xki, người dịch “Nhật ký trong tù” vào thăm Bác tại Hà Nội. Nhà thơ viết: “Đúng 6 giờ rưỡi, chúng tôi đến chờ Người. Vừa mới bước qua ngưỡng cửa phòng khách thì từ phía cánh cửa đối diện đã bước ra một người đứng tuổi, vóc người tầm thước, với chiếc áo ka ki màu sáng và chân đi đôi dép. Người niềm nở mỉm cười. Ở đây tôi dùng chữ “đứng tuổi” là vì tôi biết rõ tuổi Hồ Chủ tịch. Đúng hơn cả, nên gọi Bác Hồ là người không có tuổi. Thật vậy, mái tóc Người đã bạc mà dáng dấp vẫn gọn gàng, nhanh nhẹn như tuổi thanh niên”.

7.a1Bác Hồ với một số người cao tuổi tiêu biểu. 

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh của chúng ta lúc đó 55 tuổi. Nhìn dáng người mảnh khảnh, đôi mắt sáng, vầng trán cao và bộ râu hơi dài, cả nước kính trọng và tôn vinh Hồ Chủ tịch là Lãnh tụ dân tộc. Báo chí thì gọi Bác là Cụ Hồ Chí Minh.

Nhà thơ Tố Hữu lúc đó chưa được gặp Bác, trong bài thơ “Hồ Chí Minh” viết ngày 26-8-1945, cũng đã gọi Bác Hồ là một người lính già:

“Hồ Chí Minh
Người lính già
Đã quyết hy sinh
Cho Việt Nam Độc Lập
Cho thế giới hoà bình…”

Một lần, một nhạc sỹ đưa một đoàn các cháu thiếu nhi vào thăm Bác. Các cháu cùng hát vang bài ca: “Ai yêu Bác Hồ Chí Minh hơn thiếu niên nhi đồng”. Khi nghe đến câu hát: “Bác nay tuy đã già rồi, già rồi nhưng vẫn vui tươi…”, Bác Hồ quay sang tươi cười, nói với đồng chí Trần Duy Hưng:

– Này chú, Bác đã già đâu nhỉ?

Có thể nói, Bác Hồ của chúng ta là một con người không chấp nhận tuổi già. Chúng ta hãy tưởng tượng, một con người 21 tuổi, với hai bàn tay trắng đã ra đi tìm đường cứu nước. Sang Pháp, rồi vượt biển lớn đi vòng quanh Châu Phi, rồi sang Mỹ, Anh, Đức, Ý, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Thuỵ Sỹ, Nga, Trung Quốc… Hầu như đi khắp các châu lục, làm nhiều nghề, vừa học vừa hoạt động cách mạng, vừa phải khôn khéo vượt qua mọi sự bắt bớ của bọn đế quốc. Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã viết: “Bây giờ nghĩ lại, tôi thấy thật lạ lùng, là một người Việt Nam trẻ tuổi, vừa đến Thủ đô Paris không bao lâu, đã thâm nhập ngay được vào đời sống chính trị tại đó, làm những việc cực kỳ quan trọng đối với dân tộc mình, đối với các dân tộc thuộc địa và góp phần hình thành chính đảng cách mạng của giai cấp công nhân Pháp”.

Chúng ta cũng biết trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Người, Bác Hồ của chúng ta đã hai lần phải vào tù, và một lần lĩnh án tử hình vắng mặt do Toà án Nam triều ở Vinh, theo lệnh nhà cầm quyền Pháp kết án ngày 11-11-1929. Năm 1931, Bác bị bắt vào nhà tù Hương Cảng, và năm 1942 ở nhà tù Tưởng Giới Thạch ở Tĩnh Tây, Trung Quốc, với bao nỗi đày ải khổ cực. Trong thời gian 1 năm 12 ngày, bị giải đi mấy chục nhà giam, chân bị cùm, răng rụng, đói và rét. Song chính trong tù ngục ấy, Bác đã để lại cho chúng ta tập thơ nổi tiếng “Nhật ký trong tù” mà ngày nay đã được in ra ở 30 nước:  Anh, Pháp, Trung Quốc, Đức, Tiệp, Nga, Tây Ban Nha, Hàn Quốc…

Khi về Pác Bó, Cao Bằng, ở trong hang đá lạnh, ăn uống thì kham khổ “Sáng ra bờ suối, tối vào hang. Cháo bẹ, rau măng, vẫn sẵn sàng…”. Một cuộc đời cách mạng gian khổ như thế, trước Đại hội Tân Trào ở lán Nà Lừa, Bác lại bị một trận ốm rất nặng. Đồng chí Võ Nguyên Giáp kể: Có đêm Bác đã dặn lại như có ý dối dăng… Thế nhưng Cách mạng Tháng Tám thành công, đã 55 tuổi, Bác Hồ vẫn ngày đêm làm việc, lái con thuyền cách mạng Việt Nam vượt qua những ghềnh thác hiểm nghèo, và Người không hề nghĩ đến tuổi già!

Ngày 19 tháng 5 năm 1946.

Lần đầu tiên nhân dân ta mừng Ngày sinh của Bác. Bác nói với Đoàn đại biểu Nam Bộ đến mừng Người: “Tôi xin cảm ơn các anh, các chị Nam Bộ đã đến chúc thọ tôi. Thật ra, các báo ở đây đã làm to cái ngày sinh của tôi, chứ 56 tuổi chưa có gì đáng chúc thọ, hãy cũng còn như thanh niên cả…” (Báo Cứu Quốc ngày 20-5-1946).

Sau này trong những bài thơ viết về tuổi thọ, Bác vẫn không chấp nhận tuổi già. Bài thơ “Không đề”, Bác viết năm 1949 tại chiến khu Việt Bắc:

KHÔNG ĐỀ

Vì nước chưa nên nghĩ đến nhà
Năm mươi chín tuổi vẫn chưa già
Chờ cho kháng chiến thành công đã
Bạn sẽ ăn mừng sinh nhật ta.

Cho đến năm 78 tuổi, trong bài thơ “Không đề” Bác Hồ vẫn viết:

KHÔNG ĐỀ

Bảy mươi tám tuổi vẫn chưa già
Vẫn vững hai vai việc nước nhà
Kháng chiến dân ta đang thắng lớn
Tiến bước ta cùng con em ta!

Anh em ở gần Bác mới thưa với Bác rằng: “Thưa Bác. 78 tuổi là già rồi ạ!”, thế là Bác chữa lại: “Bảy mươi tám tuổi chưa già mấy/ Vẫn vững hai vai việc nước nhà…”.

Sự nghiệp cách mạng vĩ đại của cả một dân tộc. Cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, mà Bác là người chèo lái, nỗi lo toan cho hạnh phúc của nhân dân và lẽ sống cao đẹp vì dân, vì nước, khiến Người đã vượt qua cái tâm lý tuổi già thông thường, để luôn hướng tới một mùa xuân đẹp đẽ của đất nước!

Ngày 19 tháng 5 năm 1946.

Một Đoàn cán bộ của Ban Vận động đời sống mới, do nhà văn Nguyễn Huy Tưởng dẫn đầu, vào chúc thọ Bác. Nhân lúc trò chuyện, nhà văn thưa với Bác:

– Thưa Cụ, nhân hôm nay đến chúc thọ Cụ Chủ tịch, xin Cụ cho Ban Đời sống mới chúng tôi một khẩu hiệu để vận động nhân dân thực hiện.

Bác Hồ vui vẻ hẳn lên, Người nói:

– Khẩu hiệu ư? Thế thì khẩu hiệu đó là: “Cần kiệm liêm chính, chí công vô tư”.

Sau một phút suy nghĩ, nhà văn lão thành đứng dậy thành thật thưa với Bác:

– Thưa Cụ Chủ tịch, khẩu hiệu đó rất hay, nhưng nghe nó cổ cổ thế nào ấy ạ!

Bác Hồ cười:

– Ơ hay! Sao lại cổ? Các cụ ta xưa ăn cơm, bây giờ chúng ta ăn cơm vẫn thấy ngon. Thế thì nó cổ chỗ nào? Cái hay của Tổ tiên thì chúng ta phải học.

Ngày 10 tháng 5 năm 1965.

Năm ấy, Bác Hồ của chúng ta vừa tròn 75 tuổi!

Đúng 9 giờ sáng hôm ấy, Người ngồi vào bàn viết Bản Di chúc “Tuyệt đối bí mật”. Năm ngày sau, ngày 14-5 Người đã viết xong Bản Di chúc lịch sử và tự tay đánh máy. Cuối tài liệu Bác ghi: Hà Nội ngày 15 tháng 5 năm 1965 và ký tên Hồ Chí Minh.

Tối hôm đó, các đồng chí trong Bộ Chính trị vào mừng thọ Bác 75 tuổi. Một bó hoa tươi được đặt trang trọng trên bàn. Đồng chí Trường Chinh thay mặt, nói mấy lời chúc thọ Bác.

Bác xúc động nói:

– Bác cảm ơn các chú đã có lòng, nhưng trong lúc toàn dân ta đang kháng chiến gian khổ, mọi việc hết sức khẩn trương, mà lại đi chúc thọ một cá nhân như thế này là không nên!

Mọi người có mặt trong căn phòng đều lặng yên, suy nghĩ… Bác Hồ của chúng ta là như thế đó! Trong cả cuộc đời mình, Người luôn đặt lợi ích chung lên trên lợi ích riêng,“Nâng niu tất cả, chỉ quên mình!”.

Ngày 19 tháng 5 năm 1969.

Hồi này sức khoẻ của Bác đã yếu! Đúng 9 giờ, Bác lại ngồi vào bàn xem lại Bản Di chúc đã viết. Người đọc lại rất kỹ toàn bộ các bản viết trong 4 năm qua và chữa lại một số chữ. Trong câu “Khi người ta đã ngoài 70 tuổi”, Bác chữa lại là “70 xuân!”.

Buổi sáng, Bác hỏi đồng chí Vũ Kỳ:

– Cháu Trỗi hy sinh cách đây đã gần 5 năm rồi chú nhỉ?

Đồng chí Vũ Kỳ thưa với Bác:

– Thưa Bác, anh Trỗi hy sinh ngày 16 tháng 10 năm 1964, đến nay đã gần 5 năm!

Một thoáng buồn, rồi Bác bảo đồng chí Cẩn nấu món ăn theo kiểu Nam Bộ để Bác mời khách. Trưa hôm ấy, Bác mời đồng chí Phạm Văn Đồng sang cùng tiếp khách. Khách mời của Bác hôm ấy là hai cháu gái miền Nam, chị Phạm Thị Quyên vợ anh Trỗi và chị Nguyễn Thị Châu.

Không ai ngờ, đó là ngày 19 tháng 5 cuối cùng trong cuộc đời 79 mùa xuân của Bác!

Bác Hồ kính yêu của chúng ta là như thế đó. Bằng một nghị lực phi thường, và trí tuệ siêu việt Người đã suốt đời lãnh đạo toàn Đảng, toàn dân ta làm cách mạng. Người nói: “Xưa nay, những người yêu nước không vì tuổi già mà chịu ngồi không!”.

Trước kia, khi chưa gặp Bác, nhà thơ Tố Hữu viết: “Hồ Chí Minh người lính già/ Đã quyết chí hy sinh…”. Nay được ở gần Bác, nhà thơ lại viết: “Hồ Chí Minh – Người trẻ mãi không già”. Và “Không gì vui bằng mắt Bác Hồ cười. Quên tuổi già, tươi mãi tuổi đôi mươi!”.

Bác Phạm Văn Đồng đã nói: “Tưởng nhớ Hồ Chí Minh là biến khẩu hiệu “Hồ Chí Minh sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta” thành tư tưởng, tình cảm và hành động của mỗi người cộng sản và mỗi người dân”./.

Bùi Công Bính
Theo baonamdinh.com.vn
Kim Yến
(st)

bqllang.gov.vn

Mùa Xuân Tân Tỵ 1941 Bác Hồ trở về Pác Bó !

6. 1 bh 1941
Bác Hồ về Pác Bó, Cao Bằng (28/1/1941).

Sau 30 năm đi tìm đường cứu nước, mùa Xuân Tân Tỵ năm 1941, Bác Hồ của chúng ta đã trở về Tổ quốc!

Có cái gì đó giống như một câu chuyện cổ tích, kể về một chàng trai từ biệt quê hương. Anh đã ra đi, vượt qua biết bao núi cao, rừng rậm, biển cả… vượt qua biết bao thử thách, đói rét, tai ương… Và sau 30 năm ròng rã anh đã trở về, đem theo một cuốn sách quý thần kỳ…

Trong bài: “Sen của loài người”, nhà thơ Chế Lan Viên đã viết:

“Văn chương thế giới hay dùng chữ thần kỳ khi nói đến Hồ Chí Minh. Chỉ riêng việc “đi” của Người đã lắm nét thần kỳ. Nơi nào là nơi Người chưa đến trên thế giới?”. Ba mươi năm đi khắp các châu lục để tìm đường cứu nước. Một nhà nghiên cứu đã nói: Đó là một cuộc đi dài nhất so với mọi cuộc đi của bất cứ một anh hùng, chí sĩ nào đầu thế kỷ, và cũng có thể nói, đó là một cuộc đi dài nhất so với bất kỳ một lãnh tụ cách mạng nào trên thế giới! (1911-1941).

Mảnh đất Tổ quốc đầu tiên được đón bước chân Bác Hồ, là cái bản nhỏ Pác Bó, xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng. Và chính ở nơi đây, trong những ngày đầu trở về Tổ quốc, Bác đã viết bài thơ:

Pác Bó hùng vĩ

Non xa xa, nước xa xa

Nào phải thênh thang mới gọi là

Đây suối Lê-nin, kia núi Mác

Hai tay gây dựng một sơn hà.

Tháng 2-1941

Đại tá Dương Đại Lâm, quê ở Pác Bó kể lại: Sau cái đêm đầu tiên nghỉ lại tại nhà một đồng bào Nùng có cảm tình với cách mạng, hôm sau Máy Lỳ – người chủ nhà – dẫn Bác và mấy đồng chí vừa về nước, theo một con đường nhỏ chạy ngoằn ngoèo qua rừng, lên một ngọn núi đá. Từ bờ suối trèo lên phải qua một đoạn dốc khá dài, cây cối rậm rạp, mới lên tới cửa hang. Hang không rộng lắm, có hai ba ngách nhỏ. Trong một ngách có tảng đá khá to, bằng phẳng, sau này mọi người gác cây rồi rải lá lên làm giường nằm. Gần đấy, một con suối nhỏ chảy quanh các tảng đá, rồi đổ xuống phía dưới, tung những bọt trắng xoá. Bác hỏi, Máy Lỳ bảo: “Ở đây mọi người gọi hang này là Cốc Bó, có nghĩa là đầu nguồn!”.

Vốn là một người yêu thích thiên nhiên, Bác tỏ vẻ thích thú. Khi đi xem cảnh vật chung quanh, nhìn ngắm mãi ngọn núi đá hùng vĩ, Bác bảo với mọi người:

– Chúng ta sẽ đặt tên cho ngọn núi này là Núi Các – Mác, còn dòng suối đẹp kia, nước trong vắt bắt nguồn từ ngọn núi ra, chúng ta sẽ gọi là Suối Lê-nin!

Tất cả mọi người đều tỏ vẻ tán thưởng!

Có người nói, nghĩ đến Bác Hồ là chúng ta nghĩ ngay đến sông núi, đất nước, và chính Bác cũng là người đặt tên cho đất nước, sông núi mình. Ngọn núi Các – Mác và dòng suối Lê-nin không những là biểu tượng cho một con đường cách mạng vĩ đại mà cả dân tộc ta ngay từ đầu đã lựa chọn, mà còn làm cho vùng đất núi non này như xa, rộng hẳn ra, gắn liền Việt Nam với Cách mạng thế giới!

Cũng ở hang Pác Bó này Bác Hồ còn viết bài thơ:

Tức cảnh Pác Bó

Sáng ra bờ suối, tối vào hang
Cháo bẹ, rau măng vẫn sẵn sàng
Bàn đá chông chênh dịch sử Đảng
Cuộc đời cách mạng thật là sang!

                                    Tháng 2-1941

Đồng chí Vũ Kỳ kể lại: “Hành trang theo Bác trở về Pác Bó vẻn vẹn chỉ có một chiếc va ly xách tay bằng mây, trong đựng hai bộ quần áo đã cũ. Và tập tài liệu “Con đường giải phóng” tập hợp những bài giảng trong lớp huấn luyện ở Nậm Quang (Quảng Tây, Trung Quốc) do Bác phụ trách vừa mới kết thúc trước Tết mấy hôm”.

Về Pác Bó, Bác thường mặc bộ quần áo dân tộc Nùng, màu chàm, ống tay rộng. Thức ăn của Bác và anh em chỉ có rau bí, rau rừng, măng đắng, và ốc bắt ở suối. Tháng giáp hạt, nhân dân ăn độn ngô, Bác cũng ăn cháo, ăn ngô. Trời mưa, hang núi ướt lạnh thấu xương, từ các nhũ đá nước nhỏ giọt xuống đều đều không dứt. Để đỡ lạnh, mọi người phải đốt một đống lửa nhỏ. Nhưng thời gian này, Bác đã viết hàng chục bài thơ tuyên truyền cách mạng. Và cũng từ đây, trong hang đá đại bản doanh này, tháng 5 năm 1941, Hội nghị Trung ương lần thứ 8 của Đảng ta đã họp, định ra đường lối đấu tranh giải phóng dân tộc.

Hai mươi năm sau, Bác Hồ lại trở về thăm lại Pác Bó. Người viết bài thơ:

Thăm lại hang Pác Bó

Hai mươi năm trước ở hang này
Đảng vạch con đường đánh Nhật, Tây
Lãnh đạo toàn dân ra chiến đấu
Non sông gấm vóc có ngày nay!

                              Ngày 20-2-1961

Trong bài thơ này, không một chữ nói về mình, Bác chỉ nhắc đến Đảng, đến Dân, đến non sông gấm vóc! Với người khác, khi đi xa trở lại, thường kể về những ngày đầu gian khổ, nhưng Bác thì không! Bác Hồ của chúng ta là thế đó! “Nâng niu tất cả chỉ quên mình” (Tố Hữu).

Trong thời kỳ cách mạng và kháng chiến, trước sau Bác Hồ đã sống với đồng bào các dân tộc Việt Bắc trên 12 năm. Và núi rừng Việt Bắc, Chiến khu của Cách mạng, cũng đã trở thành tình sâu nghĩa nặng với Đảng, với Bác Hồ, trở thành niềm tin yêu, hy vọng của cả nước trong những ngày kháng chiến gian khổ:

“Ở đâu u ám quân thù
Nhìn lên Việt Bắc cụ Hồ sáng soi”

Tố Hữu

Nói đến Việt Bắc, là nói đến “Mái đình Hồng Thái, cây đa Tân Trào”,  nói đến những an toàn khu Định Hoá (Thái Nguyên), Chiêm Hoá (Tuyên Quang) trong kháng chiến, nói đến Pác Bó, đã trở thành thơ, thành Di tích lịch sử Cách mạng cho muôn đời con cháu!

Mùa Xuân này trở lại Pác Bó thăm vùng đất “Đầu nguồn” Cách mạng, lòng chúng ta lại bồi hồi nhớ đến Bác kính yêu!

Năm 1911, một buổi sáng Nguyễn Tất Thành đã nói với một người bạn thân:

– Lê này, mình đã quyết định ra nước ngoài, đến nước Pháp và các nước khác. Mình muốn biết ở đấy họ sống và lao động ra sao, rồi sau đó sẽ trở về nước để giúp đỡ đồng bào mình.

– Cậu lấy tiền đâu để đi? Người bạn ngạc nhiên hỏi.

Nguyễn Tất Thành giơ hai bàn tay ra:

– Đây, tiền đây! Mình sẽ lao động, sẽ làm bất cứ việc gì để sống và hoạt động…

Thế rồi, chuyến đi lịch sử đã diễn ra. Ngày 5 tháng 6 năm 1911, Bến cảng Nhà Rồng tấp nập. Tàu đô đốc La-tút-sơ Trê-vin, một tàu lớn đang đón khách và lấy hàng. Một thanh niên mảnh khảnh, dáng học trò, bước đến trước viên Thuyền trưởng:

– Tôi đến để làm phụ bếp. Tên tôi là Văn Ba (anh là con thứ ba trong gia đình).

Và 30 năm sau, một con người đã mang hàng trăm tên, làm 12 nghề khác nhau, biết hơn 12 thứ tiếng, đã từng đi qua khắp các châu lục trên thế giới lại trở về Tổ quốc thân yêu của mình. Suốt 30 năm trời đằng đẵng, Người chỉ ước mong cái ngày hôm ấy. Đã nhiều lần, Bác tìm cách về nước, nhưng giặc Pháp giăng lưới cảnh sát dày đặc ở dọc biên giới. Trong khi đó Bác đã bị bọn thực dân Pháp và chính phủ Nam Triều kết án tử hình vắng mặt. Còn bây giờ, tình hình thế giới và trong nước có nhiều thuận lợi, phải gấp rút tìm mọi cách trở về lãnh đạo cách mạng.

Và Pác Bó, Cao Bằng, mảnh đất vùng biên giới đã có cơ sở cách mạng từ năm 1937 này, đã được Bác Hồ chọn là nơi về nước. Và thật không ngờ, ngày trở về Tổ quốc của mình lại đúng vào những ngày Tết, những ngày Xuân Việt Nam. Hoa mơ nở trên những cánh rừng biên giới như lặng lẽ chào đón người con thân yêu nhất của mình, trở về với một ước mơ lớn. Nhưng thời điểm đó không phải là ngẫu nhiên, chúng ta nhớ Hội nghị thành lập Đảng ở Cửu Long (Trung Quốc) Bác cũng chọn vào ngày mùng 5 Tết Canh Ngọ. Những ngày Tết dân tộc cổ truyền, là dịp thuận lợi nhất để che mắt địch.

Ngày trở về Pác Bó, Bác Hồ của chúng ta đã 51 tuổi. Và Người lại nhắc lại hình ảnh “Hai bàn tay” trong bài thơ Pác Bó của mình:

“Đây suối Lê-nin, kia núi Mác
Hai tay gây dựng một sơn hà”

Nhưng bây giờ không phải là hai bàn tay trắng lúc ra đi. Hai bàn tay ấy, hôm nay đã có chủ nghĩa Mác – Lê-nin dẫn đường, có đông đảo đồng bào, đồng chí và núi rừng cách mạng chở che.

Trước mắt Người đã là Mùa Xuân Tổ quốc, dù mới chỉ là mùa Xuân trên một cánh rừng biên giới. Song thật là kỳ diệu, lịch sử đã đi những bước đi ngàn dặm. Chỉ bốn năm sau, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, ngày 2 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dõng dạc tuyên bố với thế giới: Một nước Việt Nam Độc lập, Tự do, Thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ!

Non sông gấm vóc đã mở ra một thời đại mới, một thời đại mang tên Người – Thời đại Hồ Chí Minh!

 Bùi Công Bính
Theo baonamdinh.com.vn
Kim Yến
(st)

bqllang.gov.vn

Bác Hồ với mùa Xuân Hà Giang

Mùa Xuân như có một cái gì đó định mệnh gắn liền với Bác Hồ kính yêu của chúng ta. Có thể bắt đầu từ mùa Xuân năm 1930, khi cách mạng thế giới có những bước phát triển thuận lợi, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc với tư cách là đại biểu của Quốc tế Cộng sản, ngày 3.2.1930, Người đã sáp nhập ba tổ chức Cộng sản, thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam), tại Hương Cảng, Trung Quốc, đánh dấu một bước ngoặt lịch sử vĩ đại, mở ra một thời kỳ mới của cách mạng vô sản theo học thuyết Mác.

5.a1
Ảnh Tư liệu

Những năm tháng hoạt động cách mạng ở nước ngoài, Bác luôn hướng về Tổ quốc, cùng Đảng tổ chức, lãnh đạo cách mạng Việt Nam đứng lên từng bước đấu tranh giành độc lập tự do cho dân tộc. Để rồi từ Bến Cảng Sài Gòn năm 1911, Bác ra đi tìm đường cứu nước, đúng vào mùa Xuân năm 1941, khi thời cơ cách mạng đã đến, Người từ Trung Quốc trở về Tổ quốc ngày 28.1.1941 tại vùng biên giới tỉnh Cao Bằng, trực tiếp cùng Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam đứng lên đánh Pháp, đuổi Nhật, làm nên Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa – Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á. Con đường đi làm cách mạng của Người là cả một chặng đường lịch sử gắn với vận mệnh dân tộc. Có một nhà thơ đã viết: Cuối trời Bác đi ngàn sóng tiễn/ Ngày về hoa nở thắm vùng biên/ Ba mươi năm thức tìm chân lý/ Lập nước Việt Nam sáng vạn niên.

Mùa Xuân này Bác đã đi xa 44 năm. Với Hà Giang, kể từ mùa Xuân 1961 Người lên thăm Đảng bộ và đồng bào các dân tộc tỉnh nhà, đến nay đã 52 năm. Vậy là hơn nửa thế kỷ, trong trái tim đồng bào 22 dân tộc Hà Giang, hình ảnh Bác Hồ vẫn in đậm trong trái tim mỗi người dân như cơm ăn nước uống hàng ngày… Nhớ lại những tháng năm ấy, giữa lúc miền Bắc đang đẩy mạnh hàn gắn vết thương chiến tranh,kiến thiết đất nước tiến lên xây dựng XHCN, nửa nước – miền Nam vẫn còn dưới ách cai trị của đế quốc Mỹ xâm lược. Mặc dù bận trăm công ngàn việc, Bác Hồ đã lên thăm Hà Giang – một tỉnh biên cương cực Bắc của Tổ quốc, thể hiện tình cảm, trách nhiệm của Đảng, Chính phủ, của Người với đồng bào các dân tộc. Ngày lên thăm Hà Giang, trước Lễ đài tại sân vận động Người căn dặn: “Đảng bộ và nhân dân các dân tộc trong tỉnh phải đoàn kết, ra sức tăng gia, sản xuất, phát triển chăn nuôi, khai thác lâm thổ sản, giữ gìn vệ sinh và cố gắng xóa mù chữ. Các dân tộc từ huyện đến khu cần phải ra sức giúp đỡ đồng bào rẻo cao…”. Thực hiện lời dạy của Người, những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, Chính phủ, được sự giúp đỡ trách nhiệm của các bộ, ngành Trung ương, trực tiếp là Đảng bộ Hà Giang, 22 dân tộc anh em trong tỉnh luôn đoàn kết bên nhau, vượt qua nhiều khó khăn gian khổ, thách thức, không cam chịu đói nghèo, lạc hậu, thực hiện công cuộc đổi mới của Đảng… đã từng bước đưa Hà Giang vươn lên xóa đói giảm nghèo, phát triển kinh tế – xã hội, giữ vững quốc phòng – an ninh, xây dựng hệ thống chính trị ngày càng vững mạnh, luôn xứng đáng là một tỉnh phên giậu vững chắc biên cương của Tổ quốc. Từ một tỉnh sau tái lập thuộc diện nghèo nhất nước, sau 21 năm chia tách, Hà Giang đã vươn lên trở thành tỉnh có nền kinh tế tốc độ tăng trưởng luôn cao, năm 2012 đạt 10,78%; thu nhập bình quân đầu người đạt 11, 1 triệu đồng/năm; thu ngân sách trên địa bàn đạt trên 1.200 tỷ đồng, tăng cao so các năm trước. Đặc biệt tỷ lệ huy động trẻ em trong độ tuổi đến trường đạt 98%; tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 30,06%; tỷ lệ tăng dân số tự nhiên còn 1,76%; tỷ lệ che phủ rừng đạt 55,6%; tỷ lệ dân cư nông thôn được sử dụng nước sạch 64, 5%v.v… Đến nay 100% các xã có đường ô tô trải nhựa đến trụ sở, nhiều xã có đường ô tô xuống thôn. Chương trình: Điện, đường, trường, trạm của tỉnh từ đại hội Đảng bộ tỉnh khóa XIII đã làm thay đổi diện mạo nông thôn, đặc biệt ở vùng sâu, xa, biên giới nâng lên rõ nét. 100% các xã có trụ sở làm việc của UBND, nhà trạm xá xã, trường học cao tầng, điện về xã, có nhiều nơi đến thôn… Chương trình bể nước, mái nhà, con bò ở 4 huyện vùng cao nguyên đá Đồng Văn đã cơ bản giúp cho gần 20 vạn đồng bào thoát khỏi cảnh thiếu nước trầm trọng vào mùa đông. Kinh tế thị trường đã tỏa sâu vào tận xóm thôn, làng bản, đồng bào các dân tộc thiểu số không còn xa lạ với từ kinh tế hàng hóa. Bà con ở vùng cao phía Bắc hay phía Tây… của tỉnh đã biết trồng cỏ để phát triển chăn nuôi bò hàng hóa, từ đó hình thành chợ bò ở huyện Mèo Vạc, Đồng Văn, Yên Minh… Trong lao động sản xuất, XĐGN đã xuất hiện hàng ngàn hộ đồng bào thiểu số lao động giỏi, XĐGN nhanh… Các chương trình đưa báo chí như: PT-TH đến với bà con đạt từ 92 đến 98%; báo Hà Giang và các loại báo ngành trung ương đã đến tận thôn, bản, trường học… không ngừng nâng cao dân trí cho đồng bào… Đặc biệt chương trình xây dựng nông thôn mới do Đảng ta lãnh đạo, hơn 2 năm qua bộ mặt nông thôn Hà Giang như một công trường xây dựng, được gắn với các chương trình, dự án đã nâng cao hiệu quả đầu tư, cộng sự đóng góp của nông dân bước đầu tạo cho nông thôn ở miền núi, biên giới vùng sâu, xa một nền tảng vững chắc để đồng bào xây dựng cuộc sống mới.

Mùa xuân mới lại về trên quê hương Hà Giang. Thị xã Hà Giang ngày Bác lên thăm nay đã thành thành phố khang trang, xanh, sạch, đẹp… Đồng bào các dân tộc Hà Giang đang phấn khởi đón xuân về, trong những cành đào, mận, lê trắng muốt… rộ nở khắp núi rừng, bà con các dân tộc như thấy Bác đang về thăm Hà Giang cùng mùa xuân. Hà Giang đang từng bước thực hiện rất tốt lời căn dặn của Người.

Theo Báo Hà Giang
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

Kỷ vật và kỷ niệm với Bác Hồ

Câu chuyện đã qua tròn nửa thế kỷ nhưng ông vẫn nhớ rành rọt lắm. Nhất là mỗi lần ngắm nhìn chiếc phù hiệu, thẻ ra vào và giấy giới thiệu là ông lại rưng rưng nhớ tới kỷ niệm với Bác Hồ kính yêu…

Vào cuối năm 1961, Bác Hồ về thăm quê hương Nghệ An lần thứ hai từ ngày 8 đến ngày 10-12-1961. Để phục vụ cho chuyến đi của Bác Hồ về Nghệ An và sau đó thăm tỉnh Thanh Hóa bảo đảm an toàn, Cục Không quân đã cử Thiếu úy Hoàng Ngọc Mạnh, lúc ấy đang là Trợ lý Điều phái Chỉ huy Sở – Ban Tác chiến – Cục Không quân đi trước đến hai tỉnh Nghệ An và Thanh Hóa để liên hệ công tác làm nhiệm vụ xác định vị trí, chọn địa điểm để máy bay trực thăng chở Bác có thể cất cánh và hạ cánh an toàn. Trước khi đi công tác, Thiếu úy Hoàng Ngọc Mạnh được Cục Không quân cấp giấy giới thiệu số 845 ngày 6-12-1961 (hạn đến ngày 16-12-1961). Khi đến tỉnh Nghệ An đồng chí được Công an tỉnh Nghệ An cấp phù hiệu ngày 7-12-1961 có dòng chữ “Lam – Trà nổi sóng”. Nghĩa của dòng chữ này xuất phát từ năm 1960, tại Nghệ An có phát động phong trào An – Ngãi quật khởi, “Lam – Trà nổi sóng” vừa là phong trào, vừa thể hiện tấm lòng của Nghệ An đối với miền Nam tiền tuyến lớn anh hùng mà cụ thể là với tỉnh Quảng Ngãi kết nghĩa. Phù hiệu chỉ cấp trong nội bộ và được ra vào bí mật. Ngày 11-12-1961 khi ra tới Thanh Hóa, Hoàng Ngọc Mạnh còn được Công an tỉnh Thanh Hóa cấp tiếp một thẻ ra vào. Ông đã sử dụng giấy giới thiệu, phù hiệu, thẻ để ra vào Tỉnh ủy, Tỉnh đội, Công an tỉnh, Ủy ban Hành chính của hai tỉnh Thanh Hóa – Nghệ An thực hiện nhiệm vụ trong suốt quá trình công tác của mình từ ngày 7 đến ngày 12-12-1961.

3. ky vatGiấy giới thiệu, phù hiệu của CCB Hoàng Ngọc Mạnh.

 Trong chuyến công tác này, có một kỷ niệm sâu sắc với Bác Hồ mà Hoàng Ngọc Mạnh không bao giờ quên. Ông nhớ lại: “Vào lúc 23 giờ đêm 10-12-1961, sau khi liên hoan, xem biểu diễn văn nghệ chia tay quê hương Nghệ An để sáng hôm sau Bác Hồ ra thăm tỉnh Thanh Hóa, Tỉnh ủy Nghệ An đã tổ chức cuộc họp đột xuất thống nhất kế hoạch để sáng hôm sau Bác Hồ ra thăm Thanh Hóa. Cuộc họp có sự tham gia của đồng chí Phạm Kiệt, Thứ trưởng Bộ Công an cùng các cán bộ chủ chốt của tỉnh Nghệ An và đại diện một số ban, ngành liên quan. Đang họp thì Bác trở về, đi qua phòng họp của Tỉnh ủy. Bác vào phòng và hỏi:

– Các đồng chí đang làm gì ở đây?

Đồng chí Phạm Kiệt đứng lên trả lời Bác:

– Thưa Bác, chúng cháu đang họp chuẩn bị kế hoạch để sáng mai Bác ra thăm Thanh Hóa.

– Tình hình máy bay ngày mai thế nào? Xăng dầu có đủ không? Bác hỏi.

Đồng chí Phạm Kiệt bảo tôi trả lời Bác. Tôi nói:

– Thưa Bác! Máy bay tốt, xăng dầu đủ và còn thừa ạ.

– Thế các anh em phi công ăn, ngủ ở đâu?

– Dạ thưa Bác, anh em phi công ăn ngủ ở giao tế ạ (giao tế là nơi đón tiếp, nghỉ ngơi của nhiều Đoàn khách cán bộ cao cấp trong nước và bạn bè quốc tế).

Bác lại hỏi:

– Giao tế ở đâu? Cách đây bao xa? Bác muốn qua thăm anh em.

Vì đã khuya, ngoài trời rất lạnh và muốn Bác về ngủ giữ sức khỏe để mai còn lên đường nên tôi đã trả lời:

– Dạ thưa Bác xa lắm, cách đây khoảng hơn 400m ạ.

Bác cười:

– Cách đây có hơn 400m mà đồng chí bảo xa.

Tôi suy nghĩ rất nhanh rồi trả lời:

– Thưa Bác, bây giờ đã là 11 giờ, để bảo đảm sức khỏe các đồng chí trong tổ bay đã đi ngủ từ lúc 8-9 giờ tối.

Khi nghe xong câu trả lời của tôi, Bác nói:

– Đồng chí nói thế thì mới đúng, chứ cách đây có hơn 400m mà bảo xa thì không xa.

Bác mỉm cười rồi nói tiếp:

– Các đồng chí tiếp tục làm việc đi, Bác về phòng đi ngủ.

Câu chuyện và kỷ niệm gắn với chuyến công tác phục vụ Bác Hồ về thăm hai tỉnh Nghệ An – Thanh Hóa 50 năm trước vẫn còn nguyên vẹn trong ký ức người lính không quân năm xưa. Cựu chiến binh Hoàng Ngọc Mạnh đã cất giữ cẩn thận giấy giới thiệu, phù hiệu và thẻ ra vào như một kỷ vật quý của mình và gia đình. Ngày 8-8-2011 vừa qua, ông đã trao tặng cho Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam…

Theo qdnd.vn
Thúy Hằng (st)

bqllang.gov.vn

Di chúc màu xanh!

Trong Di chúc, Bác dặn trồng nhiều cây ở những nơi lưu niệm Người, không nên dựng bia đá, tượng đồng - Ảnh tư liệu

Trong Di chúc, Bác dặn trồng nhiều cây ở những nơi lưu niệm Người, không nên dựng bia đá, tượng đồng – Ảnh tư liệu

“Mùa xuân là Tết trồng cây
Làm cho đất nước càng ngày càng Xuân”

Bác Hồ

Trong cuốn sách “Hồ Chí Minh – Vĩ đại một con Người”, Giáo sư Trần Văn Giàu viết: “Con người là tinh anh của thiên nhiên, thiên nhiên như cha mẹ của con người. Nhưng không phải mỗi ai đều biết yêu thiên nhiên, đều biết gắn thiên nhiên với cuộc sống chiến đấu của mình. Cụ Hồ đem hết nghị lực của mình cho đấu tranh xã hội, ấy vậy mà Cụ Hồ vẫn gắn bó với thiên nhiên đằm thắm. Ở Cụ Hồ thiên nhiên là bạn tri âm”.

Thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng nói: “Chủ tịch Hồ Chí Minh có hai người bạn đời luôn cùng sống là con người và thiên nhiên”.

Năm 1959 Bác Hồ phát động Tết trồng cây, và từ đó Người thường xuyên theo dõi, nhắc nhở, động viên phong trào trồng cây cho đất nước xanh tươi.

Nhưng không phải chỉ có mùa xuân, Bác Hồ đã viết: “Tết trồng cây là ngày mở đầu cho việc trồng cây suốt cả năm”.

Nhìn những tấm ảnh Bác Hồ trồng cây ở khắp nơi, chúng ta đều thấy ánh mắt trìu mến và vui tươi, thể hiện một tình yêu cây của Bác.

“Vượt trùng dương chát mặn bốn phương trời
Bác thương nhớ từng bụi sim cằn cỗi
Mỗi cành lá quê mình xanh tiếng gọi
Bác trở về đất Mẹ – Bác trồng cây”

Đặc biệt, lúc sinh thời Bác Hồ đã trồng sáu cây đa. Cây đa đầu tiên Bác trồng mở đầu cho Tết trồng cây là ở Công viên Thống Nhất, Hà Nội. Và cây đa cuối cùng là ở xã Vật Lại, Ba Vì. Xin kể lại một vài sự tích về những cây đa Bác trồng.

Sáng ngày 31 tháng 1 năm 1965, huyện Đông Anh tổ chức Tết trồng cây ở xã Đông Hội. Nhân dân đi trồng cây rất đông. Trong tiếng trống ếch rộn ràng của các cháu thiếu nhi, các cụ già hăng hái đào hố, đặt cây.

Đúng lúc đó thì Bác Hồ đến thăm! Mọi người chen nhau vòng quanh Bác. Bác vẫy tay cho các cháu thiếu nhi im lặng rồi nói vui:

– Các cụ, các chú trồng mười cây sống cả mười cây thì hơn, hay trồng sáu mươi cây chết cả sáu mươi?

– Thưa Bác, chúng cháu quyết trồng mười cây ăn cả mười ạ.

Bác khen như thế là tốt, rồi Bác xắn quần cùng mọi người đi lên gò. Ở đây, bà con đang đào một cái hố rộng. Mọi người mời Bác cùng các cụ già trồng một cây đa. Bác vui vẻ nhận lời. Xem lại cây đa cẩn thận, đặt cây cho thẳng, rồi Bác cùng mọi người xúc đất tốt đắp vào gốc cây.

Từ đấy, các cụ già làng Đông Hội thay nhau chăm sóc cây đa Bác trồng. Cây đa ngày càng lớn, bà con bảo nhau xây tường gạch bao quanh gò, có đường lên xây bậc rất dễ đi. Giờ đây cây đa lớn đã được 48 năm. Mọi người qua lại vẫn thường ngồi nghỉ dưới bóng mát của cây đa Bác Hồ.

Tết Kỷ Dậu 1969 – Cái Tết cuối cùng của Bác.

Hồi này sức khỏe của Bác đã yếu hơn trước. Bác sĩ dặn dò cần tránh để Bác đi lại nhiều. Gần Tết, Bác hỏi đồng chí Vũ Kỳ:

– Chú Kỳ, Tết này các chú đã chuẩn bị cho Bác đi thăm những đâu?

Rồi Bác bỗng hỏi thêm:

– Chú có nhớ Bác phát động Tết trồng cây năm nay là năm thứ mấy rồi không?
– Thưa Bác, năm thứ mười ạ.

– Đúng! Nhân dịp kỷ niệm mười năm Tết trồng cây, chú bố trí cho Bác đi trồng cây ở một địa phương có thành tích.

Rồi Bác nói tiếp:

– Chắc chú còn nhớ cách đây năm, sáu năm, khi đi thăm xã trồng cây khá nhất, chúng mình có ghé nghỉ ở gần Trung Hà. Nhìn phía đồi trọc trước mắt. Bác có dặn đồng chí bí thư và chủ tịch Hà Tây là cần động viên các cụ trồng cây. Bây giờ, nơi đó thành một đồi cây đẹp rồi! Cho nên Tết này ta phải đến thăm và chúc Tết đồng bào.

Nơi đó chính là xã Vật Lại, huyện Ba Vì.

Đồng chí Vũ Kỳ kể:

– Nhắc đến đó, tôi đã thấy lo lo vì đường sá hơi xa. Không ngờ Bác lại nói thêm, muốn vào thăm trại chăn nuôi của chú Hồ Giáo, thăm các cháu miền Nam, trường Nguyễn Văn Trỗi và một hợp tác xã nông nghiệp giỏi nữa. Sau đó, chúng tôi phải sang nhờ Thủ tướng Phạm Văn Đồng nói hộ với Bác, và thế là Tết năm ấy Bác đã đi thăm bộ đội phòng không, không quân, rồi trưa về thăm xã Vật Lại.

Đến Vật Lại, chào hỏi bà con xong, Bác lên ngay trên đồi trồng một cây đa. Trước khi trồng, Bác hỏi đồng chí bí thư đảng ủy:

– Cây đa này có rễ không chú?

– Thưa Bác có rễ chứ ạ!

Chúng tôi chưa hiểu vì sao Bác lại hỏi thế, thì Bác đã giải thích luôn, có lần Bác cũng đi trồng cây thế này, nhưng các đồng chí ấy không chuẩn bị trước, nên chặt luôn một cành cây to cắm xuống, rồi mời Bác xúc đất trồng cây.

Nghe xong, Bác cháu đều cười vui vẻ!

Ngày nay cây đa cuối cùng Bác trồng ở Vật Lại đã hơn bốn mươi năm, cũng là hơn bốn mươi năm Bác đã đi xa! Cây Đa Vật Lại giờ đã to lớn, rễ phụ chằng chịt với hàng chục cành lớn, vươn cao tỏa bóng xanh tốt quanh năm. Mùa xuân này, khách du lịch từ bốn phương về thăm vùng đất cổ Ba Vì, ai cũng muốn dừng chân tại Đồi cây Bác Hồ, để tận hưởng bóng mát của Người.

Ngồi dưới bóng cây đa lớn Bác trồng, lại nhớ đến những câu thơ của Bác đã viết về Tết trồng cây:

“Muốn làm nhà cửa tốt

Phải ra sức trồng cây

Chúng ta chuẩn bị từ rày

Dăm năm sau, sẽ bắt tay dựng nhà”

Hình ảnh Bác Hồ – Người trồng cây vĩ đại đã là đề tài cho biết bao nhà thơ viết về Bác. Và trên đất nước ta đã có biết bao những cây đa xanh và những loài cây khác tỏa bóng theo lời kêu gọi trồng cây của Người. Thiên nhiên là người mẹ, là cái nôi xanh của sự sống và con người khôn ngoan phải biết gìn giữ thiên nhiên, biết sống hòa hợp với thiên nhiên. Những năm gần đây, lũ ống, lũ quét, lở đất… cùng nhiều nguy cơ tiềm ẩn của thiên tai, đều có nguyên nhân do nạn phá rừng nghiêm trọng của chính chúng ta. Tình yêu thiên nhiên là một trong những tình cảm lớn của con người và yêu nước là phải yêu chính những cánh rừng xanh của Tổ quốc!
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi xa, nhưng Người đã để lại cho chúng ta bao thế hệ người, bao thế hệ cây, như nhiều nhà thơ đã viết:

“Trong công cuộc gieo trồng vĩ đại
Bác để lại cho chúng ta
Bao thế hệ người, bao thế hệ cây
Cho mùa Xuân tô điểm nước non này!”

“Bác để lại đây Di Chúc màu xanh
Mà rễ đã ăn sâu vào lòng đất
Bao thế hệ đi qua trong vòm bóng mát
Cho lẽ sống của Người thấm mãi trong ta”

“Tết trồng cây đem lại những Mùa Xuân
Tầng đá ong cũng thấy mình trẻ lại
Thấy cây mọc lại nhớ lời Bác dạy
Thấy màu xanh lại nhớ Bác khôn nguôi!”

Bùi Hải Bình
baotintuc.vn

Tượng Bác Hồ giữa lòng thủ đô Mexico lịch sử và văn hoá.

Thật là xúc động và vui mừng khi mà đề án “Tôn vinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, Anh hùng giải phóng dân tộc, Nhà văn hoá kiệt xuất, ở nước ngoài” vừa được Bộ Ngoại giao phát động trong năm “Ngoại giao văn hóa 2009” thì từ miền đất xa phía Tây bán cầu, tại Trung tâm Lịch sử của Thủ đô Mexico, đất nước của nhiều nền văn hóa cổ, đã tiến hành trang trọng và ấm cúng Lễ khánh thành tượng đài Hồ Chí Minh và Công viên “Tự do cho các dân tộc”.

Đại sứ Việt Nam tại Mexico Phạm Văn Quế (bên phải), Thị trưởng Mexico Marcelo Ebrand cùng các cháu thiếu nhi tại Lễ khách thành Tượng Bác, ngày 16/1 tại Thủ đô Mexico.

Đó là bức tượng toàn thân Chủ tịch Hồ Chí Minh phỏng theo bức ảnh Bác bên bộ bàn ghế mây giản dị, đọc báo trong vườn Chủ tịch Phủ được nhiếp ảnh gia Đinh Đăng Định ghi lại năm 1960. Đằng sau và bên trên bức tượng là hàng chữ vàng quen thuộc “Không có gì quý hơn độc lập tự do” bằng tiếng Tây Ban Nha với chữ ký của Bác rực rỡ trên bức tường thành bán nguyệt ốp đá trắng ngọc, soi bóng trên mặt gương nước lung linh, cùng những cánh bèo xanh và đóa hoa súng hồng rung rinh, làm ấm lòng hàng trăm vị quan khách đến với ngày hội tôn vinh Hồ Chí Minh.Ngày 16 tháng 1 năm 2009 “ngày thiên hỷ” theo lịch cổ Việt Nam, trong cái rét ngọt và dưới làn mưa xuân lất phất như đón Bác về chúc Tết, mừng xuân năm nào, hàng trăm bạn bè, dân chúng thủ đô và quan chức Mexico cùng hàng chục người con Việt Nam đang sinh sống xa Tổ quốc đã tận mắt chứng kiến ông thị trưởng thành phố Mexico, Marcelo Ebrad và Đại sứ Việt Nam tại Mexico, Phạm Văn Quế vén tấm lụa hồng, chính thức khánh thành Công viên và Tượng Bác trong tiếng vỗ tay và hò reo không ngớt “Hồ, Hồ, Hồ Chí Minh”. Hàng chục phóng viên, nhà nhiếp ảnh, quay phim chuyên nghiệp và nghiệp dư của cả hai nước đã xúc động ghi lại những giây phút thiêng liêng, nhất là cảnh nhiều lượt người chen nhau len vào chỗ đặt tượng Bác bởi người nào cũng muốn tranh thủ lưu lại bên Người ít giây phút để có được những tấm hình lưu niệm đẹp nhất. Chúng tôi, những người con Việt Nam xa xứ hoàn toàn ấn tượng và bị cuốn hút bởi tình cảm mà người dân Mexico dành cho Việt Nam nói chung và Bác Hồ nói riêng. Ai ai cũng thầm cám ơn nghệ sĩ tạc tượng trẻ tài ba Ponzanelli, người đã khắc họa hình tượng Bác rất có thần thái, ở đó toát lên những đức tính cao quý của một nhà hiền triết, một vĩ nhân, người cha già dân tộc giản dị, nhân ái và gần gũi thân quen.

Phát biểu trong buổi lễ, ông Thị trưởng Marcelo Ebrard đã khẳng định những chiến công lẫy lừng của dân Việt Nam thắng quân xâm lược trong thế kỷ 20 đã đi vào lịch sử nhân loại như những trang chói lọi nhất. Việt Nam, Hồ Chí Minh là những biểu tượng sống đã thôi thúc các dân tộc bị áp bức đứng lên đấu tranh, giành độc lập tự do. Hồ Chí Minh xứng danh là lãnh tụ thế giới… Tượng đài Hồ Chí Minh ở đây là dành cho tất cả các dân tộc đã và đang đấu tranh vì độc lập tự do của mình.

Đại sứ Phạm Văn Quế đã cám ơn Ngài Thị trưởng và nhân dân Thủ đô Mexico, với những tình cảm tốt đẹp và sự ngưỡng mộ đối với nhân dân Việt Nam và cá nhân Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã cho xây dựng công viên “Tự do cho các dân tộc” và đặt tượng đài Hồ Chí Minh tại Thủ đô bằng chính kinh phí của mình. Đại sứ cũng nhấn mạnh Hồ Chí Minh không chỉ là chiến sĩ lỗi lạc đấu tranh vì độc lâp, tự do cho các dân tộc, mà Người còn là nhà văn hóa lớn được UNESCO công nhận trên toàn thế giới. Câu nói bất hủ của Người “Không có gì quý hơn độc lập tự do” vẫn còn nguyên giá trị trong thời đại ngày nay.

Ông Virgilio Caballero, Chủ tịch Hội Hữu nghị và hợp tác Mexico – Việt Nam, người đã chọn bức ảnh Bác làm đề tài để nghệ nhân tạc tượng Mexico sáng tác, với mái tóc bạc trắng đã không ít lần nghẹn ngào bày tỏ: thật là tuyệt vời! Thế hệ chúng tôi xuống đường những năm 60 để phản đối chiến tranh Việt Nam đâu nghĩ tới có ngày được tạc và đặt tượng Bác Hồ giữa lòng Thủ đô Mexico; giấc mơ bấy lâu chờ mong nay đã thành hiện thực! Bác ngồi đó dung dị trong lòng bạn bè quốc tế và nhân dân chứ không cao xa, cách biệt trên bệ cao quyền lực.

Công viên “Tự do cho các dân tộc” với kiến trúc chủ đạo mang đậm nét Việt Nam là kết quả của sự vận động, phối hợp và hợp tác chặt chẽ giữa tập thể cán bộ nhân viên Đại sứ quán Việt Nam tại Mexico, đứng đầu là kiến trúc sư – Đại sứ Phạm Văn Quế cùng với Viện Hữu nghị và hợp tác Mixico – Việt Nam và các cơ quan chức năng của thành phố Mexico. Rất khẩn trương và quyết tâm, chỉ trong vòng hơn hai tháng làm việc liên tục và miệt mài, từ một khu vườn um tùm và tối bụi, các bạn Mexico đã cải biến thành một công viên tươi xanh với hệ thống chiếu sáng hiện đại, đậm nét á đông, nhất là với các cây trồng Việt Nam quen thuộc như tre, trúc, sả, sen, bèo, muống cạn và nhiều cây thảo dược nhiệt đới… và giữa thiên nhiên tuyệt vời ấy, nổi lên hình ảnh Bác Hồ rất đời thường, đang thư thái làm việc.

Tượng đài Hồ Chủ tịch trong công viên “Tự do cho các dân tộc” thực sự là biểu tượng cao quý của tình đoàn kết hữu nghị và hợp tác giữa nhân dân hai thủ đô và hai nước Việt Nam – Mexico, một không gian độc đáo giữa thành phố Mexico cổ kính. Đây là một công trình văn hóa và công cộng nằm trong khu Trung tâm lịch sử của Thủ đô mà bạn đã quy hoạch dài lâu để hướng tới những hoạt động thiết thực cho lễ kỷ niệm 200 năm ngày phát động cuộc chiến tranh giành độc lập dân tộc vào năm 2010.

Từ nay trở đi, bất kỳ người con Việt nào khi đặt chân lên miền đất của các nền văn hóa cổ lớn là Azteca và Maya, quê hương của những vũ điệu trữ tình Mariachi và của những vị anh hùng đã chiến đấu vì độc lập tự do của Mexico như Miguel Hidalgo, Benito Juarez, … đều có thể tự hào và vinh dự đến thăm công viên “Tự do cho các dân tộc”, ngắm tượng Bác Hồ và thậm chí ngồi bên Bác, lâng lâng trong tình cảm bao la của bạn bè quốc tế.

Năm nay mùa xuân như đến sớm hơn với cộng đồng Việt Nam nhỏ bé nhưng gắn kết tại Mexico. Bác ơi, thế là tết này chúng con đã có thể dâng lên Bác những cành đào hồng thắm, bánh chưng xanh, chút mứt sen và ấm trà thơm thắm đậm tình quê và thắp cho Người nén hương trong khuôn viên Việt giữa trời đất Mexico để cầu chúc cho dân tộc Việt Nam mãi trường tồn, mãi hạnh phúc, an khang và thịnh vượng. Tượng đài Hồ Chí Minh giữa Trung tâm lịch sử của Thủ đô Mexico thực sự là món quà sớm của năm “Ngoại giao Văn hóa 2009”.

Thành phố Mexico. 17/1/2009
Ngô Tiến Dũng, Tham tán công sứ
Đại Sứ quán Việt Nam tại Mexico.

lamdong.gov.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh tin dùng tri thức

Bác HồSau tuyên ngôn Độc lập, ngày 3-9-1945 Chính phủ họp để cụ thể hóa chương trình hành động 6 điểm, nhiệm vụ hàng đầu diệt giặc đói, giặc dốt, còn nguy hiểm hơn giặc ngọai xâm. Tháng 10-1946, nói chuyện với đông đảo giới trí thức cả nước, Bác Hồ nhắc lại: Đói, dốt còn nguy hiểm hơn giặc ngọai xâm, đói không đánh giặc được, dốt thì mất nước, kiến thiết nước nhà cho dân giàu nước mạnh càng cần trí thức…

Luật sư Phan Anh, nguyên Bộ trưởng Bộ Thanh Niên trong Chính phủ Bảo Đại- Trần Trọng Kim, sau Cách mạng tháng tám được cử làm Bộ trưởng Quốc phòng, rồi Bộ trưởng Ngoại thương mà không phải đảng viên cộng sản. Ông Phan trả lời người bạn Na Uy rằng: Mấu chốt là Hồ Chí Minh áp dụng chính sách tín nhiệm đối với trí thức. Tính ra có hơn một năm trời mà có 4 lần thay đổi trong Chính phủ.

Lần đầu, từ Ủy ban Dân tộc giải phóng do Quốc dân đại hội ở Tân Trào cử ra ngày 25-8-1945 về Hà Nội mở rộng thành phần mang tên Chính phủ Lâm thời ra mắt ngày 2-9-1945, có 15 bộ trưởng thì 9 bộ trưởng thuộc tầng lớp gọi là trí thức tiểu tư sản.

Lần hai, 20 vạn quân lính Tàu Tưởng vượt biên giới vào Việt Nam theo quyết định của Hội nghị Postdam (7-1945), để giải giáp quân đội Nhật. Chúng kéo cả vợ con nhếch nhác, cả các tổ chức đảng phái phản động để chống phá cách mạng nước ta với mục tiêu trước mắt: “Diệt cộng, cầm Hồ”. Rủi cho chúng, Việt Nam đã có chủ, Chính phủ cụ Hồ ra mắt và tuyên bố độc lập trước thế giới ngày 2-9 rồi. Trong tình huống “ngàn cân treo sợi tóc”, Chủ tịch Hồ Chính Minh đã tỏ rõ bản lĩnh “dĩ bất biến, ứng vạn biến” của mình. Thực tài tình và bất ngờ khi người mời thủ lĩnh Việt Cách (Việt Nam Cách mạng đồng minh) Nguyễn Hải Thần chuyên nghề xem bói bốc thuốc bên Vân Nam vào ghế Phó Chủ tịch Chính phủ liên hiệp Lâm thời ngày 1-1-1946.

Lần ba, để “danh chính ngôn thuận” khẳng định chủ quyền độc lập, trong muôn vàn khó khăn, lần đầu tiên nước ta tổ chức tổng tuyển cử vào ngày 6-1-1946. Thực hiện sách lược “Tạm hòa với Tưởng” Hồ Chủ tịch đề nghị Quốc hội dành cho tổ chức Việt Quốc (Việt Nam Quốc dân đảng) và Việt Cách 70 ghế, chấp nhận 2 ghế quan trọng giao cho người không phải đảng phái – Bộ Nội vụ do Cụ Huỳnh Thúc Kháng giữ chức bộ trưởng (Bác đã tính trước, mời cụ từ Quảng Ngãi ra Hà Nội). Bộ Quốc phòng do ông Phan Anh giữ chức. Cựu hoàng Bảo Đại được mời giữ chức cố vấn tối cao. Mặc dù sau đó, một số thành viên trong chính phủ đã tự đào thải mình, chạy theo quân Tưởng về nước như “Phó chủ tịch” Nguyễn Hải Thần, Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Tường Tam…

Lần bốn, ngày 3-11-1946 tại kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa I, Bác Hồ tuyên bố thành phần chính phủ đoàn kết, toàn dân, tập hợp nhân tài, không phân biệt đảng phái, đó là Chính phủ Liên hiệp quốc dân. Các nhân sỹ trí thức được giữ trọng trách trong Chính phủ gồm các Bộ: Nội vụ – Huỳnh Thúc Kháng, Giáo dục – Nguyễn Văn Huyên, Giao thông công chính – Trần Đăng Khoa, Y tế – Hoàng Tích Trí, Tư pháp – Vũ Đình Hòe, Canh nông – Ngô Tấn Nhơn, Cứu tế – Chu Bá Phượng… Hầu hết những người được “chọn mặt gửi vàng” sau này đều xứng đáng với sự tin cậy của Bác.

PHÚC KHÁNH (ST)
xaydungdang.org.vn

Bình đẳng dân tộc đặt nền móng cho đại đoàn kết

Ảnh minh họa. (Nguồn: Internet)

Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Người đã để lại cho Đảng, nhân dân, dân tộc ta nhiều di sản tư tưởng, văn hóa có ý nghĩa giá trị nhân văn sâu sắc.

Nhân dịp kỷ niệm 120 năm Ngày sinh nhật Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 – 19/5/2010) và 20 năm Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO) công nhận Người là “Anh hùng giải phóng dân tộc, Nhà văn hóa kiệt xuất Việt Nam (1990 – 2010), Vietnam+ xin trân trọng giới thiệu tới bạn đọc một số bài viết trong cuốn Kỷ yếu của Hội thảo khoa học quốc tế “Di sản Hồ Chí Minh trong thời đại ngày nay” diễn ra trong hai ngày 12-13/5, tại Hà Nội.

Dưới đây, xin trích đăng bài viết của bà Hà Thị Khiết, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Dân vận Trung ương:

Một trong những di sản quý mà Hồ Chủ tịch đã để lại cho nhân dân Việt Nam chính là tư tưởng của Người về bình đẳng dân tộc. Tư tưởng này đã đặt nền móng cho việc củng cố, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Bình đẳng dân tộc trong quan niệm của Hồ Chí Minh khác xa bình đẳng dân tộc của giai cấp tư sản. Hồ Chí Minh cho rằng, bình đẳng dân tộc không chỉ cụ thể hóa về mặt pháp lý, mà quan trọng hơn là phải được thực hiện trên thực tế. Và chính Người đã thực hiện điều đó.

Ngay sau Cách mạng Tháng Tám thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã khẳng định, các dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam đều bình đẳng và Chính phủ sẽ hết sức giúp đỡ các dân tộc thiểu số về mọi mặt.

Trong kháng chiến chống Pháp, Đảng ta tiếp tục đề ra những chính sách nhằm thực hiện bình đẳng dân tộc. Tháng 8-1952, Bộ Chính trị đã ra Nghị quyết về dân tộc. Tiếp đó, tháng 6-1953, Chính phủ đã ban hành chính sách dân tộc của Nhà nước Việt Nam với tinh thần cơ bản là đoàn kết các dân tộc trên nguyên tắc bình đẳng, tương trợ lẫn nhau. Hiến pháp của nước ta cũng khẳng định quyền bình đẳng của các dân tộc trong cộng đồng dân tộc Việt Nam và được cụ thể hoá bằng chính sách dân tộc qua các thời kỳ của cách mạng.

Bình đẳng dân tộc và độc lập dân tộc có mối quan hệ chặt chẽ và có sự tác động qua lại lẫn nhau. Trong đó, độc lập dân tộc là nền tảng để thực hiện quyền bình đẳng giữa các dân tộc.

Thực tiễn lịch sử Việt Nam đã chứng minh điều đó. Khi thực dân Pháp, đế quốc Mỹ xâm lược nước ta, chúng đã thi hành những chính sách đi ngược lại với nguyện vọng và quyền của các dân tộc ở Việt Nam. Đó là chính sách “chia để trị”, “dùng người Việt đánh người Việt”, dùng người dân tộc này đánh người dân tộc khác, nhằm chia rẽ các dân tộc, phục vụ cho mưu đồ thống trị của chúng.

Vì vậy, có giành được độc lập dân tộc, mới có điều kiện để chăm lo cho đồng bào các dân tộc về kinh tế, văn hóa, giáo dục và y tế. Sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, nhất là sau khi miền Bắc được giải phóng, Đảng và Chính phủ đã có những kế hoạch và hành động cụ thể để thực hiện quyền bình đẳng giữa các dân tộc, từng bước mang lại cuộc sống mới cho đồng bào.

Mặt khác, thực hiện bình đẳng dân tộc cũng là nhân tố quyết định để củng cố và tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc. Khi một dân tộc này chà đạp, ép buộc các dân tộc khác thì sớm hay muộn cũng tạo nên sự chia rẽ, ly khai dân tộc. Hồ Chí Minh đã sớm nhận thấy điều đó khi cho rằng để xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc thì phải thực hiện bình đẳng dân tộc, đại đoàn kết dân tộc không những phải dựa trên nền tảng của khối liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức, mà còn phải thực hiện đoàn kết các dân tộc.

Cơ sở của khối đại đoàn kết dân tộc là bình đẳng dân tộc, vì lợi ích của tất cả các dân tộc trong một quốc gia. Khi các dân tộc được đối xử bình đẳng, cả về nghĩa vụ và quyền lợi, sẽ tạo ra tiếng nói chung và tạo nên sự đồng thuận giữa các dân tộc và ngược lại.

Vì thế, nếu không đảm bảo và không có những chính sách và hành động cụ thể để thực hiện bình đẳng dân tộc, làm cho bình đẳng dân tộc ngày càng trở thành hiện thực thì khối đại đoàn kết dân tộc sẽ bị lung lay, làm ảnh hưởng đến sự tập hợp lực lượng của cách mạng.

Để thực hiện quyền bình đẳng dân tộc, cần phải có một xã hội mà ở đó quyền bình dẳng giữa các dân tộc có điều kiện và cơ sở để thực hiện. Xã hội đó, không thể khác là xã hội xã hội chủ nghĩa. Kết luận trên của Hồ Chí Minh được Người rút ra trong quá trình khảo nghiệm các con đường cứu nước và trong quá trình khảo sát các xã hội tư bản.

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định trong quan hệ giữa dân tộc đa số có trình độ phát triển cao hơn với các dân tộc thiếu số có trình độ thấp hơn rất dễ nảy sinh tư tưởng kỳ thị dân tộc, và thường có hai thái cực: một là người dân tộc lớn dễ mắc bệnh kiêu ngạo, và hai là cán bộ địa phương, nhân dân địa phương lại dễ cho mình là dân tộc nhỏ bé, tự ti, cái gì cũng cho là mình không làm được, rồi không cố gắng.

Người cho rằng, cần phải khắc phục những tư tưởng dân tộc lớn, dân tộc hẹp hòi và tự ti dân tộc. Trong nhiều hội nghị, trong nhiều bài viết, bài nói, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dùng những từ rất thân mật, ruột thịt để nói về tình đoàn kết giữa các dân tộc trong cộng đồng dân tộc Việt Nam, như “anh em một nhà”, “giúp đỡ nhau cùng tiến bộ”… Người nhấn mạnh rằng, đồng bào miền xuôi với trình độ văn hoá, khoa học, kỹ thuật phát triển hơn phải giúp đỡ đồng bào thiểu số, để cùng tiến bộ.

Người cũng đã khẳng định nhiệm vụ của Trung ương, Chính phủ và cấp ủy đảng là phải làm sao nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của đồng bào các dân tộc, phải giúp đỡ đồng bào các dân tộc thiểu số về mọi mặt.

Việt Nam là một quốc gia thống nhất gồm 54 dân tộc chung sống, trong đó, dân tộc Kinh chiếm đa số, còn lại 53 dân tộc thiểu số chiếm tỷ lệ 13,8% dân số cả nước. Cộng đồng các dân tộc Việt Nam được hình thành và phát triển cùng với tiến trình lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước tạo nên một dân tộc Việt Nam thống nhất.

Các dân tộc ở nước ta sinh sống gắn bó với nhau từ lâu đời, đã sớm có ý thức đoàn kết, giúp nhau trong chinh phục thiên nhiên, chống giặc ngoại xâm và xây dựng đất nước. Sự đoàn kết gắn bó giữa các cộng đồng dân tộc đã tạo nên một quốc gia đa dân tộc bền vững, thống nhất.

Ngày nay, trước yêu cầu phát triển mới của đất nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng, các dân tộc tiếp tục phát huy truyền thống tốt đẹp, tăng cường đoàn kết, nỗ lực phấn đấu xây dựng nước Việt Nam độc lập, thống nhất, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh, vững bước tiến lên chủ nghĩa xã hội.

Trong suốt quá trình cách mạng Việt Nam, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về chính sách dân tộc là nhất quán, theo nguyên tắc: các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tương trợ nhau cùng phát triển. Đây vừa là nguyên tắc, vừa là mục tiêu chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta.

Bước vào thời kỳ đổi mới, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về bình đẳng dân tộc, chính sách dân tộc của Đảng đã được thể hiện ở các nghị quyết của Đảng.

Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 khoá IX về công tác dân tộc đã khẳng định chính sách dân tộc trong giai đoạn hiện nay là: “Ưu tiên đầu tư phát triển kinh tế – xã hội các vùng dân tộc và miền núi, trước hết, tập trung vào phát triển giao thông và cơ sở hạ tầng, xoá đói, giảm nghèo; khai thác có hiệu quả tiềm năng, thế mạnh của từng vùng, đi đôi với bảo vệ bền vững môi trường sinh thái, phát huy nội lực, tinh thần tự lực, tự cường của đồng bào các dân tộc, đồng thời tăng cường sự quan tâm hỗ trợ của Trung ương và sự giúp đỡ của các địa phương trong cả nước.”

Nghị quyết Đại hội X của Đảng tiếp tục khẳng định: “Vấn đề dân tộc và đoàn kết các dân tộc là vấn đề chiến lược, cơ bản, lâu dài của sự nghiệp cách mạng nước ta. Các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ….”

Để đẩy mạnh phát triển kinh tế – xã hội vùng dân tộc và miền núi, nâng cao dần mức sống của đồng bào các dân tộc, trong những năm qua và nhất là giai đoạn hiện nay, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương chính sách ưu tiên đối với đồng bào dân tộc thiểu số một cách đồng bộ và toàn diện trên tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội.

Song song đó, Đảng và Nhà nước đã triển khai thực hiện nhiều chương trình, dự án đầu tư phát triển trên địa bàn miền núi, vùng đồng bào dân tộc như: Chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng; Chương trình phát triển kinh tế – xã hội các xã đặc biệt khó khăn miền núi, vùng sâu, vùng xa. Trong số đó, Chương trình 135 – giai đoạn 2, đang đầu tư cho 1.841 xã và 3.149 thôn, bản đặc biệt khó khăn với tổng vốn đầu tư gần 13 nghìn tỷ đồng; quyết định số 134/2004 về chính sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số và tập trung giúp đỡ 62 huyện khó khăn nhất; thực hiện sâu rộng Chương trình xoá đói giảm nghèo và chăm lo các đối tượng thuộc diện chính sách xã hội, người có công với cách mạng.

Nhờ vậy, cuộc sống của đồng bào các dân tộc vùng cao, vùng sâu, vùng xa từng bước được cải thiện rõ rệt, quyền của các dân tộc thiểu số được bảo đảm đầy đủ và toàn diện; đồng bào các dân tộc luôn tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước, tích cực phát huy truyền thống cách mạng, yêu nước, tinh thần đoàn kết để xây dựng một nước Việt Nam giàu mạnh, ấm no, hạnh phúc, như Bác Hồ hằng mong muốn./.

Hà Thị Khiết (Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Dân vận Trung ương)
vietnamplus.vn