Tag Archive | Hồ Chí Minh

Bác Hồ với Ngày Quốc tế Lao động 1/5

Trong sự nghiệp hoạt động của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất chú trọng đến giai cấp công nhân như là động lực mạnh mẽ của phong trào giải phóng dân tộc theo khuynh hướng tiến bộ. Nhân dịp kỷ niệm 127 năm Ngày Quốc tế Lao động 1/5 (1/5/1886 – 1/5/2013) – Ngày biểu thị tình đoàn kết hữu nghị giữa giai cấp công nhân và nhân dân lao động trên toàn cầu, cùng đấu tranh cho thắng lợi của hòa bình, tự do, dân chủ và tiến bộ xã hội, chúng ta hãy cùng nhìn lại dấu ấn của Chủ tịch Hồ Chí Minhlúc sinh thời qua các sự kiện diễn ra vào ngày 1/5.

Ngày 1/5/1920, báo cáo của mật thám ghi nhận Nguyễn Ái Quốc tham dự mít tinh kỷ niệm Ngày Lao động quốc tế cùng Nhóm đảng viên Xã hội Pháp và tham luận trên diễn đàn đòi ngưng gửi người sang thuộc địa.

Ngày 1/5/1924, theo lời mời của Thành uỷ Moscow và Ban Thư ký của Quốc tế Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc tham gia và phát biểu trong cuộc mít-tinh kỷ niệm Ngày Quốc tế Lao động 1/5 tại Hồng trường.

Ngày 1/5/1925, cùng với những nhà cách mạng Trung Quốc, Nguyễn Ái Quốc tham gia tổ chức Đại hội lần thứ Nhất của nông dân tỉnh Quảng Đông tiến tới thành lập Hội Nông dân.

Ngày 1/5/1943, trên Báo Việt Nam Độc lập xuất bản tại Cao Bằng, đăng bài “Kỷ niệm Trần Hưng Đạo” của Bác với lời kết: “Chuyện Trần Hưng Đạo để lại cho ta một bài học: Muốn đánh quân xâm lấn nước ta cần 2 điều: Một là toàn dân đoàn kết, hai là khéo dùng lối du kích”.

Ở Việt Nam, Ngày Quốc tế Lao động đầu tiên được tổ chức vào năm 1930. Ngày 1/5/1930, lần đầu tiên trong lịch sử phong trào công nhân ở Đông Dương, giai cấp công nhân nước ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đã biểu tình ngoài đường phố để biểu dương tình đoàn kết cách mạng với công nhân quốc tế, đồng thời đấu tranh trực diện với bọn đế quốc thực dân Pháp, đòi chúng phải cải thiện điều kiện làm việc, phải tăng lương và thực hiện luật lao động ngày làm việc 8 giờ. Báo Người Lao Khổ – của Khu bộ Vinh – Bến Thuỷ mấy hôm sau, viết rằng: “Lần đầu tiên, anh em lao – nông nắm tay nhau giữa trận tiền”. Đó là điểm bắt đầu cho cả cao trào 1930 – 1931 với đỉnh cao là phong trào Xô Viết – Nghệ Tĩnh.

Ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, nước nhà được độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 22cNV/CC ngày 18/2/1946 về những ngày nghỉ Tết, kỷ niệm lịch sử và lễ tôn giáo, trong đó công bố: Ngày 1/5 là một trong những ngày Lễ chính thức và công nhân, lao động cả nước được nghỉ một ngày có hưởng lương. Kể từ đây, ngày 1/5 được coi là một trong những ngày lễ chính thức hàng năm của Nhà nước ta.

Ngày 1/5/1946, lần đầu tiên trong lịch sử nước ta, ngày Quốc tế lao động 1/5 được tổ chức kỷ niệm mít tinh trọng thể tại Hà Nội, với sự tham dự của 20 vạn nhân dân lao động. Nhân dịp này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc lời kêu gọi:“Cùng đồng bào toàn quốc! Cùng anh chị em lao động! Ngày 1 tháng 5 là một ngày Tết chung cho tất cả các nước trên thế giới. Đó là một ý nghĩa đoàn kết rất sâu xa. Ở nước ta, lần này là lần đầu tiên đồng bào ta, anh chị em lao động ta được tự do đón tiếp ngày 1 tháng 5. Vậy nên nó có ý nghĩa đặc biệt sâu xa hơn nữa. Đối với chúng ta nó là một ngày để cho thế giới biết rằng: Ngày này chẳng những là ngày Tết lao động, mà còn là ngày nhân dân đoàn kết. Đoàn kết để giữ vững tự do dân chủ. Đoàn kết để kiến thiết nước nhà. Đoàn kết để xây dựng một đời sống mới”.

BH-vơi-ngay-15-1Sắc lệnh số 22c NV/CC ngày 18/2/1946 quy định ngày 1/5 là một trong những ngày Lễ chính thức của nước taẢnh Internet

Ngày 1/5/1948, Bác Hồ ra “Lời kêu gọi thi đua yêu nước”, trong đó có đoạn: “Nước ta kinh tế lạc hậu, nhưng lòng yêu nước và chí quật cường chẳng kém ai. Nay muốn tự cung tự cấp, tự túc, đi kịp người thì chúng ta phải đi mau. Vì vậy, sĩ, nông, công, thương, binh, gái trai già trẻ, toàn thể quốc dân ta, vô luận ở địa vị nào, làm công việc gì, phải ra sức tham gia cuộc Thi đua yêu nước, tức là tăng gia sản xuất”.

BH-vơi-ngay-15-2Bút tích “Lời kêu gọi thi đua yêu nước” của Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày 1/5/1948. Ảnh Internet

Ngày 1/5/1951, trong lời kêu gọi nhân ngày Quốc tế Lao động, Bác Hồ xác định “Trọng tâm thi đua là: Quân đội thi đua giết gịăc lập công. Công nhân thi đua tăng gia sản xuất. Nông dân thi đua sản xuất lương thực. Trí thức thi đua sáng tác, phát minh. Cán bộ thi đua cần, kiệm, liêm, chính. Toàn dân thi đua tích cực tham gia kháng chiến”.

Cùng ngày, Báo “Nhân Dân” đăng bài “Đảng Lao động Việt Nam với lao động trí óc” của Bác với bút danh C.B., Bác nêu rõ:“Lao động trí óc cần được khuyến khích giúp đỡ phát triển tài năng… trí thức ta cần cải tạo tư tưởng và sửa đổi lề lối làm việc”.

Ngày 1/5/1954, Báo Nhân Dân đăng bài “Mấy khuyết điểm của báo chí ta” của Bác, đi đến kết luận: “Nói tóm lại, để làm trọn nhiệm vụ tuyên truyền, tổ chức, hướng dẫn, thì các báo chí ta cần phải gần gũi quần chúng hơn nữa, đi sâu vào công việc thực tế hơn nữa, cách làm việc của báo chí phải cải thiện hơn nữa”.

Ngày 1/5/1958, Bác đưa ra “Lời kêu gọi nhân Ngày Quốc tế Lao động” khẳng định: “Hôm nay, cùng với nhân dân lao động toàn thế giới, chúng ta nhiệt liệt chào mừng Ngày 1 tháng 5 trong lòng đầy tin tưởng và phấn khởi quyết tâm vượt mọi khó khăn, tiến lên làm tròn những nhiệm vụ mới… Ngày 1 tháng 5 năm nay là một ngày đoàn kết, đấu tranh, tin tưởng và phấn khởi”.

Ngày 1/5/1964, nhân Ngày Quốc tế Lao động, Bác gửi điện khen ngợi thanh niên trên công trường khôi phục đường sắt Thanh Hoá – Vinh, trong đó có việc xây lại Cầu Hàm Rồng.

BH-vơi-ngay-15-3Chủ tịch Hồ Chí Minh tại cuộc mít tinh chào mừng Ngày Quốc tế Lao động 1/5/1965.  Ảnh Internet

Tối ngày 1/5/1966, sau buổi xem Đoàn Văn công tỉnh Quảng Bình từ tuyến lửa về biểu diễn trong Phủ Chủ tịch, Bác bày tỏ cảm tưởng: “Nhân dân ta thật anh hùng. Chiến đấu ác liệt như thế, gian khổ như thế mà vẫn lạc quan ca hát. Một dân tộc như thế thì không một thế lực hung bạo nào có thể khuất phục được”.

Kể từ sau năm 1975, kỷ niệm Ngày Quốc tế Lao động 1/5 ở Việt Nam ngày càng có ý nghĩa khi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta kỷ niệm Ngày Chiến thắng 30/4. Đây là dịp giai cấp công nhân và nhân dân lao động cả nước ôn lại truyền thống đấu tranh chống ngoại xâm; sôi nổi hưởng ứng các phong trào thi đua yêu nước để bày tỏ lòng tưởng nhớ, biết ơn sâu sắc với Chủ tịch Hồ Chí Minh – vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc ta. Người đã có công lao rất to lớn giúp nhân dân ta ý thức được ý nghĩa lịch sử và tác động của việc kỷ niệm Ngày Quốc tế Lao động 1/5, từ đó càng thêm quyết tâm đi theo con đường cách mạng do Đảng và Bác kính yêu đã lựa chọn, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.

Thu Hiền
bqllang.gov.vn

Khơi dậy tính chủ động, sáng tạo trong phong trào phát huy sáng kiến cải tiến kỹ thuật

Đoàn 195, Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh là đơn vị kỹ thuật, trực tiếp quản lý, vận hành, bảo dưỡng, sửa chữa hệ thống thiết bị kỹ thuật, bảo quản kiến trúc công trình Lăng, Đài tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ và các công trình có liên quan, bảo đảm thông số về nhiệt độ, độ ẩm, môi trường liên tục ổn định, sạch và chính xác, phục vụ tốt nhất cho công tác y tế giữ gìn lâu dài, bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh. Những năm qua, nhiệm vụ bảo đảm kỹ thuật của Đoàn luôn hoàn thành tốt, các chỉ tiêu thông số luôn duy trì ổn định theo yêu cầu nhiệm vụ. Một trong những nhân tố cơ bản là Đảng uỷ, Chỉ huy Đoàn đã khơi dậy tính chủ động, sáng tạo của đội ngũ cán bộ, nhân viên chuyên môn kỹ thuật trong phong trào phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật.

sang-kien-aGia công bộ Vam tháo cánh tháp giải nhiệt

Quản lý, vận hành khai thác một khối lượng lớn thiết bị kỹ thuật, bao gồm các hệ thống đồng bộ, nhưng sau nhiều năm vận hành, sử dụng một số thiết bị đã xuống cấp, lạc hậu vệ công nghệ, đang trong quá trình từng bước đổi mới, thay thế, nâng cấp theo hướng hiện đại, công nghệ tiên tiến. Thực tế đó đã đặt ra những khó khăn và yêu cầu mới trong công tác bảo đảm kỹ thuật nói chung, công tác vận hành, khai thác bảo đảm thông số nói riêng. Để khắc phục sự thiếu đồng bộ và sự lạc hậu của hệ thống thiết bị, nhất là vấn đề tiêu hao năng lượng, chi phí thay thế, nhân công trong công tác bảo quản, bảo dưỡng, sửa chữa. Đẩy mạnh phong trào phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật là một trong những yêu cầu đặt ra trong lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ, nhằm khơi dậy và phát huy tiềm năng, sáng tạo của cán bộ, nhân viên chuyên môn kỹ thuật, không ngừng nâng cao chất lượng, hiệu quả trong quản lý, vận hành khi khai thác hệ thống thiết bị kỹ thuật phục vụ cho yêu cầu nhiệm vụ đơn vị.

Nhận thức đúng đắn, đầy đủ ý nghĩa, mục tiêu, thực hiện phương châm phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật là một nhiệm vụ, một nội dung của công tác quản lý vận hành, một tiêu chí quan trọng để đánh giá kết quả thực hiện Cuộc vận động 50, đánh giá phong trào thi đua quyết thắng và kết quả thực hiện nhiệm vụ chính trị. Đảng uỷ, Chỉ huy Đoàn đã có những chủ chương, biện pháp tích cực, cụ thể trong lãnh đạo, chỉ đạo đẩy mạnh phong trào phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật và đã đạt được kết quả thiết thực, góp phần hợp lý hoá quy trình vận hành, giảm chi phí, tiết kiệm năng lượng, vật tư, hoàn thiện hệ thống thiết bị. Trong hai năm 2011 năm 2012, Đoàn đã có 25 sáng kiến cải tiến kỹ thuật được Bộ Tư lệnh công nhận và ứng dụng trong thực tiễn nhiệm vụ. Một số sáng kiến điển hình như “Cải tiến pin lọc bụi điều hoà K6, K7” đã tiết kiệm chi phí khi sử dụng pin lọc ngoại; sáng kiến tận dụng nước thu Quảng trường Ba Đình, tận dụng được 200m3/ngày; sáng kiến “Cải tạo mạch chiếu sáng và hệ thống nguồn cung cấp phục vụ thi công bể 200m3 tại tháp giải nhiệt” sáng kiến “Bộ giá kẹp van tháo đèn cột đèn 11m”, “Gia công và lắp đặt bộ vam tháo cánh quạt tháp giải nhiệt máy lạnh Công trình Lăng” giảm chi phí và nhân công, bảo đảm an toàn.

sang-kien-bThi công lắp đặt biến tần tháp giải nhiệt

Kết quả phong trào phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật của Đoàn 195 những năm qua là đáng khích lệ, có ý nghĩa thực tiễn góp phần nâng cao chất lượng công tác bảo đảm kỹ thuật, bảo đảm thông số thường xuyên ổn định, chính xác, có độ dự phòng cao, khẳng định ý chí trách nhiệm, tính chủ động, sáng tạo của đội ngũ cán bộ, nhân viên chuyên môn kỹ thuật trong việc từng bước vươn lên làm chủ vững chắc nhiệm vụ chính trị. Để đạt được kết quả nêu trên, Đoàn 195 đã tập trung thực hiện tốt một số biện pháp chủ yếu sau đây:

Một là, lãnh đạo nâng cao nhận thức trách nhiệm của cán bộ, công nhân viên, chiến sỹ về hoạt động sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, coi đó là một nhiệm vụ, một hoạt động thường xuyên trong công tác, trong thực hiện nhiệm vụ. Xác định mọi hoạt động sáng tạo trong công tác quản lý, vận hành thiết bị kỹ thuật đều là sáng kiến, không phân biệt lĩnh vực, quy mô, ngành nghề; khắc phục nhận thức không đúng, các biều hiện tự ty cho rằng; sáng kiến cải tiến kỹ thuật phải là những đề tài nghiên cứu có hàm lượng kỹ thuật cao; đơn vị quản lý khai thác một hệ thống thiết bị đồng bộ, thì không còn ý nghĩa cho hoạt động sáng kiến; mà cần xác định ở đơn vị cơ sở trực tiếp, thì phải coi những ý tưởng sáng tạo, những cải tiến trong thao tác, cải tạo, gia công chi tiết thiết bị dù nhỏ nhất, nhưng hiệu quả trong ứng dụng, sử dụng, giảm chi phí và tiết kiệm đều được tổng hợp lại hoàn thiện thành sáng kiến. Điều đó đã khích lệ, động viên, huy động được trí tuệ, khả năng sáng tạo của cán bộ, nhân viên trong phong trào phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật.

Hai là, trong chỉ đạo thực hiện lấy Ban Tham mưu – Kỹ thuật, cán bộ kỹ thuật đầu ngành, cán bộ quản lý kỹ thuật trực tiếp làm nòng cốt, phát huy vai trò của tổ chức công đoàn; câu lạc bộ “cán bộ, nhân viên kỹ thuật trẻ” của chi đoàn thanh niên. Đặt ra những yêu cầu, nhiệm vụ cụ thể trong việc nghiên cứu cả hệ thống và từng hệ thiết bị, trong đó tập trung nghiên cứu cải tiến, hoàn thiện hệ thống kỹ thuật, hợp lý hoá quy trình vận hành, khai thác sử dụng có hiệu quả hệ thống thiết bị hiện có, đồng thời tích cực học tập, nghiên cứu làm chủ thiết bị mới, hiện đại, chú trọng chuyển giao, ứng dụng công nghệ mới vào nhiệm vụ bảo đảm thông số hiệu quả nhất. Mở rộng hoạt động sáng kiến trong lĩnh vực quản lý, chỉ huy, trong ứng dụng công nghệ thông tin, các phần mềm tin học trong quản lý các mặt công tác, các nội dung công việc, phục vụ cho công tác quản lý, chỉ huy điều hành và thực hiện nhiệm vụ của đơn vị.

Ba là, đưa công tác quản lý hoạt động sáng kiến thành nề nếp, gắn với công tác quản lý kỹ thuật. Thường xuyên động viên khơi dậy tính chủ động sáng tạo, tự lực, tự cường của cán bộ, nhân viên kỹ thuật trong nghiên cứu ứng dụng khoa học kỹ thuật vào thực hiện nhiệm vụ. Quan tâm chỉ đạo hoàn thiện ý tưởng sáng tạo, lấy ý kiến đóng góp của tập thể, lập hồ sơ, thẩm định, hoàn chỉnh thuyết minh, phân loại, đề nghị Bộ Tư lệnh xét công nhận, chỉ đạo ứng dụng vào thực tiễn nhiệm vụ. Có những sáng kiến, là những giải pháp kỹ thuật được áp dụng lâu dài, nhưng cũng có giải pháp chỉ được áp dụng một lần, hoặc trong một công việc cụ thể, vì vậy phải luôn gắn hoạt động sáng kiến, cải tiến kỹ thuật với nhiệm vụ bảo đảm kỹ thuật.

Bốn là, chú trọng tổ chức hội thi, hội thao kỹ thuật, đây vừa là biện pháp để đánh giá chất lượng huấn luyện chuyên môn, tay nghề, nhưng đồng thời cũng thúc đẩy tính tích cực, sáng tạo của mỗi người trong hoạt động thực tiễn. Phần lớn sáng kiến đều bắt nguồn từ thực tiễn, gắn với nhiệm vụ; hoạt động thực tiễn của bộ đội càng phong phú đa dạng, sẽ là môi trường thuận lợi nảy sinh ý tưởng mới. Hàng năm quan tâm chỉ đạo chặt chẽ hội thi, hội thao, trọng tâm là thi thợ giỏi, hội thao kỹ thuật tổng hợp theo từng chuyên ngành qua đó để không ngừng nâng cao chất lượng công tác bảo đảm kỹ thuật, phục vụ tốt nhất cho nhiệm vụ chính trị.

Năm là, gắn hoạt động sáng kiến, cải tiến kỹ thuật với đẩy mạnh phong trào thi đua quyết thắng, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, thực hiện Cuộc vận động 50. Xác định hoạt động sáng kiến, cải tiến kỹ thuật là một biện pháp trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ, một nội dung thi đua, một chỉ tiêu đăng ký danh hiệu thi đua của tập thể, cá nhân, là một trong các tiêu chí để xét khen thưởng hàng năm, nhất là danh hiệu chiến sỹ thi đua. Thường xuyên chú ý phát hiện, bồi dưỡng và nhân rộng các điển hình tiên tiến trong phong trào phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, biểu dương, khen thưởng kịp thời, tạo động lực để phong trào phát triển bền vững, hiệu quả.

Phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, cùng với hợp lý hoá quy trình vận hành, tiết kiệm năng lượng là một trong những nội dung quan trọng trong công tác bảo dưỡng kỹ thuật. Trước yêu cầu nhiệm vụ chính trị trong giai đoạn mới, lãnh đạo, chỉ đạo đẩy mạnh phong trào phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật trong đội ngũ cán bộ, nhân viên chuyên môn kỹ thuật, là trách nhiệm chung của cấp uỷ, chỉ huy, các tổ chức và các lực lượng, bảo đảm cho đơn vị hoàn thành tốt và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, trong mọi tình huống.

Dương Hoàng Toán 
bqllang.gov.vn

Hội thảo khoa học Đề tài “Nghiên cứu các giải pháp phát huy ý nghĩa chính trị, văn hóa của Công trình Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh trong giai đoạn mới”

Chiều ngày 25 tháng 3 năm 2013, tại Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã diễn ra Hội thảo khoa học Đề tài KHXH&NV, mã số KXBL-12-02: “Nghiên cứu các giải pháp phát huy ý nghĩa chính trị, văn hóa Công trình Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh trong giai đoạn mới”. Đây là Đề tài nghiên cứu KHXH&NV cấp Bộ, được thực hiện trong hai năm (2012-2013). Thiếu tướng Đặng Nam Điền, Bí thư Đảng ủy, Chính ủy Bộ Tư lệnh, Chủ nhiệm Đề tài đã chủ trì Hội thảo. Tham dự Hội thảo có Thủ trưởng Bộ Tư lệnh, các đồng chí Bí thư đảng ủy cơ sở, đại biểu các cơ quan, đơn vị.

Hội thảo khoa học Đề tàiHội thảo khoa học Đề tài KHXH&NV, mã số KXBL-12-02: “Nghiên cứu các giải pháp phát huy ý nghĩa chính trị, văn hóa Công trình Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh trong giai đoạn mới”

Xuất phát từ thực trạng phát huy ý nghĩa chính trị, văn hóa của Công trình Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh trong thời gian qua và yêu cầu thực hiện trong thời gian tới đồng thời góp phần thực hiện tốt Đề án số 2341/Ttg ngày 22/12/2010 của Thủ tướng Chính phủ về “Giữ gìn lâu dài, bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh và phát huy ý nghĩa chính trị, văn hóa của Công trình Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh trong giai đoạn mới”, Phòng Chính trị đã được giao thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu Đề tài KHXH&NV trên. Sau hơn một năm triển khai thực hiện,  Tổ Đề tài đã tiến hành khảo sát điều tra, đánh giá thực trạng và rút ra những kinh nghiệm về công tác đón tiếp, tuyên truyền tại Lăng và những nội dung nhằm phát huy ý nghĩa chính trị, văn hóa của Công trình Lăng trong giai đoạn mới. Tham dự Hội thảo, các đại biểu đã tham gia góp ý vào các nội dung mà tổ Đề tài đã thực hiện đồng thời đóng góp những ý kiến để Tổ Đề tài tiếp tục nghiên cứu, bổ sung, hoàn thiện các nội dung nghiên cứu trong thời gian tới. Phát biểu tại Hội thảo, Thiếu tướng Đặng Nam Điền yêu cầu Tổ Đề tài cần tiếp tục nghiên cứu, khảo sát, đánh giá để làm rõ những nội dung, biện pháp nhằm phát huy ý nghĩa chính trị, văn hóa của Công trình Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, tập trung là: Tích cực làm tốt công tác tuyên truyền, quảng bá để nhân dân trong nước, người Việt Nam ở nước ngoài và khách quốc tế nhận thức đúng đắn việc  giữ gìn lâu dài thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh và xây dựng Công trình Lăng của Người; Tổ chức đón tiếp nhân dân và khách quốc tế đến viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh tận tình, chu đáo; Tổ chức các hoạt động sinh hoạt chính trị, văn hóa, nghệ thuật nhằm tuyên truyền, giáo dục sâu sắc tư tưởng, đạo đức Chủ tịch Hồ Chí Minh; Phát huy vai trò, trách nhiệm của cấp ủy, chính quyền, mặt trận và các đoàn thể từ Trung ương đến địa phương trong việc tổ chức cho các tầng lớp nhân dân về Lăng viếng Bác và tham gia các sinh hoạt chính trị, văn hóa, nghệ thuật tại khu vực Lăng Bác và Quảng trường Ba Đình; Thường xuyên làm tốt công tác tu bổ, tôn tạo kiến trúc, cảnh quan môi trường xung quanh Lăng Bác, làm cho Lăng Bác trở thành một điểm đến hấp dẫn đối với nhân dân trong nước và khách quốc tế.

Theo kế hoạch, Đề tài sẽ tiến hành nghiệm thu vào cuối năm 2013.

Duy Hưng, Ngọc Hà
bqllang.gov.vn

Tre xanh bên Lăng Bác Hồ

Trong tâm thức mỗi con người Việt Nam, khi nghĩ về lũy tre xanh, đều như tự hỏi: “Tre xanh”, “Xanh tự bao giờ” và rồi lại tự trả lời: “Chuyện ngày xưa đã có bờ tre xanh” (Thi sĩ Nguyễn Duy).

trongtre1Công trình cải tạo vườn tre bên Lăng Bác Hồ đang được gấp rút hoàn thành trước ngày 19 tháng 5 năm 2013.

Nhà văn Thép Mới, trong tùy bút “Cây tre Việt Nam” đã viết: “Dưới bóng tre xanh của ngàn xưa thấp thoáng những ngôi chùa cổ. Dưới bóng tre xanh, Việt Nam gìn giữ một nền văn hoá lâu đời, tre xanh giúp người dân làm nhà dựng cửa, vỡ ruộng khai hoang, tre ăn ở với người đời đời kiếp kiếp…. Rặng tre xanh là chiến luỹ bảo vệ làng mạc, xóm thôn, đồng thời ôm vào lòng mình tình thân thương của bà con chòm xóm từ đời này qua đời khác, che mưa che bão cho con người”.

Cây tre đã gắn bó với bao thăng trầm của lịch sử nước nhà. “Đất nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre và đánh giặc”. Không phải ngẫu nhiên sự tích loại tre thân vàng được người Việt gắn với truyền thuyết Thánh Gióng. Hình ảnh Thánh Gióng nhổ bụi tre đằng ngà đánh đuổi giặc Ân xâm lược đã trở thành biểu tượng cho sức mạnh chiến thắng thần kỳ, đột biến của dân tộc ta đối với những kẻ thù xâm lược lớn mạnh. Trải qua nhiều thời kỳ lịch sử, các lũy tre đã trở thành “Pháo đài xanh” vững chắc chống quân xâm lược, chống thiên tai. Tre thật sự trở thành chiến lũy và là nguồn nguyên, vật liệu vô tận để chế tạo vũ khí tấn công trong các cuộc chiến tranh chống xâm lược. Chính những cọc tre trên sông Bạch Đằng, Ngô Quyền đã đánh tan quân Nam Hán. Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, trong lúc quân xâm lược tàn bạo, tung hoành với bao nhiêu vũ khí tối tân, đầy tính hủy diệt thì dân tộc Việt Nam với gậy tầm vông vót nhọn, với hố chông nhọn hoắt đã không ngần ngại đối đầu với kẻ thù. Tre là gậy tầm vông, đòn càn, đòn xóc, chông tre… trong chín năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Tre là “Gậy Trường Sơn” cùng trai làng đi đánh giặc Mỹ…Gần gũi và thân thiết với dân tộc, cây tre đã từng là nguồn cảm hứng vô tận trong văn học, nghệ thuật. Từ những câu chuyện cổ tích đến những bài ca dao, tục ngữ đều có mặt của tre. Đã có không ít tác phẩm nổi tiếng viết về tre. Cây tre Việt Nam còn góp mặt trong những làn điệu dân ca, điệu múa sạp phổ biến hầu khắp cả nước, và còn là một trong những chất liệu quan trọng trong việc tạo ra các nhạc khí dân tộc như: Đàn tơ rưng, sáo, kèn,… Tre đi vào cuộc sống của mỗi người, đi sâu thẳm vào tâm hồn người Việt. Mỗi khi xa quê hương, mỗi chúng ta khó lòng quên được hình ảnh lũy tre làng thân thương, những nhịp cầu tre êm đềm… Hình ảnh của tre luôn gợi nhớ về một làng quê Việt Nam mộc mạc, con người Việt Nam thanh cao, giản dị, bất khuất kiên trung. Tre là bạn đồng hành thủy chung, can đảm của người Việt từ thuở xa xưa khai hoang, dựng nước. Tre nghìn đời bao bọc, chở che cho sinh tồn của người. Tre hóa thân thành thế giới văn hóa tre trúc quây quần thân thiết với đời người, in hình in bóng đậm đà vào văn hóa, thi ca, nhạc họa, vào sâu xa tâm thức con người Việt Nam. Tre xanh hiên ngang, nhũn nhặn, cứng cáp mà dẻo bền vô hạn. Tre là biểu tượng của cốt cách và các phẩm chất đặc sắc của con người và văn hóa Việt Nam. Cây tre đã và sẽ mãi mãi trường tồn cùng với dân tộc Việt Nam….

Giữa Ba Đình lịch sử, mùa thu năm 1975, Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh được khánh thành. Trong các loài cây, hoa tiêu biểu của cả nước được tụ hội về bên Lăng Bác, hai vườn tre xanh vươn thẳng, xanh mướt được trồng bên Lăng của Người. Và, gần 40 năm qua, tre xanh bên Lăng Bác cũng đã đi vào tâm thức, thơ ca trong lòng mỗi người dân Việt Nam. Nhà thơ Viễn Phương đã gửi gắm tình cảm của mình khi về Lăng viếng Bác, ngắm những hàng tre xanh: “Con ở miền Nam ra thăm Lăng Bác. Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát. Ôi! Hàng tre xanh xanh Việt Nam. Bão táp mưa sa đứng thẳng hàng”…. Những hàng tre xanh bên Lăng Bác đã thực sự tô điểm thêm cho vẻ đẹp thanh tao, bình dị  bên ngôi nhà vĩnh cửu của Người.

Ngày nối ngày, nhân dân từ mọi miền của Tổ quốc về Lăng viếng Bác, được ngắm nhìn hàng tre, biểu tượng của dân tộc và cũng là tượng trưng cho cốt cách của Người Anh hùng giải phóng Dân tộc, Nhà văn hóa kiệt xuất Hồ Chí Minh. Tre xanh rì rào bên Lăng Bác, như khúc dân ca hát mãi mãi bên Người./.

Tháng Ba, về Lăng viếng Bác

Đặng Hòa Bình
bqllang.gov.vn

Đội 4, Đoàn 275 “Đoàn kết lập công, phát huy truyền thống”

Đội 4, Đoàn 275, Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh thành lập ngày 24/3/1998. 15 năm qua, đơn vị luôn hoàn thành tốt, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, 5 năm được tặng danh hiệu đơn vị Quyết thắng, 19 lượt Chiến sỹ thi đua cơ sở, 01 đồng chí Chiến sỹ thi đua toàn quân, 02 gương điển hình tiên tiến và nhiều Bằng khen, Giấy khen các cấp.

275
Trinh sát viên Đội 4 biểu diễn võ thuật

Là đơn vị mới thành lập, do yêu cầu tăng cường công tác bảo đảm an ninh và phục vụ Lễ viếng Bác, tham quan khu vực Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, từ những ngày đầu, biên chế của đơn vị có cả sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân viên quốc phòng và hạ sỹ quan, binh sỹ. Bởi vậy Chi ủy và Chỉ huy Đội luôn coi trọng việc xây dựng mối đoàn kết nội bộ thống nhất. Nhớ lại ngày đầu ra nghị quyết lãnh đạo nhiệm vụ, Trung tá Bùi Mạnh Thăng, nguyên Bí thư Chi bộ nhớ lại: “Trong Nghị quyết lãnh đạo nhiệm vụ quý II năm 1998 của Chi bộ Đội 4 ghi rõ là mỗi cán bộ, đảng viên bồi dưỡng, giúp đỡ một quần chúng trong cả quá trình học tập, huấn luyện, công tác và sinh hoạt hằng ngày. Định kỳ 6 tháng, một năm báo cáo kết quả giúp đỡ quần chúng trước chi bộ”. Do vậy, vào giờ nghỉ, ngày nghỉ, hình ảnh cán bộ huấn luyện bổ trợ những động tác võ thuật, hay trao đổi học ngoại ngữ cho nhân viên, chiến sỹ đã trở lên quen thuộc. Trong Chi bộ Đội 4 chưa bao giờ có quần chúng yếu kém. Điều đó đã được cán bộ, chiến sỹ trong Đoàn 275 luôn ghi nhận, như lời khẳng định của Đại tá Bùi Hữu Hưng, Đoàn trưởng: “Tình thương yêu đồng chí, đồng đội trong cán bộ, nhân viên, chiến sỹ của Đội 4 như ruột thịt. Thông qua kinh nghiệm đó, từ năm 2010, Đảng ủy, Chỉ huy Đoàn 275 đã giao nhiệm vụ cho Đội 4 giúp các cơ quan, đơn vị khác trong Đoàn quản lý, giáo dục, rèn luyện những trường hợp cá biệt. Thực tế trong những năm qua các quân nhân chậm tiến trong Đoàn khi giao về cho Đội 4 quản lý, giáo dục, rèn luyện một thời gian ngắn đều chuyển biến tiến bộ”.

Trong thực hiện nhiệm vụ trinh sát khu vực, bảo vệ mục tiêu Công trình Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhận, chuyển trả máy ảnh, máy quay phim… phục vụ khách đến viếng Bác, cán bộ, nhân viên, chiến sỹ Đội 4 luôn “tinh thông nghiệp vụ”. Hàng ngày làm nhiệm vụ trinh sát khu vực, bảo vệ các mục tiêu, Đội 4 luôn nắm chắc địa bàn, kịp thời phản ánh, báo cáo hàng giờ về tình hình an ninh khu vực cho Chỉ huy Đoàn. Đồng thời chủ động phát hiện, ngăn chặn và phối hợp với các lực lượng của Đoàn 275, Trung đoàn 375 (Bộ Tư lệnh Cảnh vệ) và Công an khu vực để giải quyết kịp thời các trường hợp vi phạm quy định. Trực tiếp bảo đảm an ninh khu vực Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, Chùa Một Cột và các khu vực liên quan luôn an toàn tuyệt đối.

Nhiệm vụ nhận chuyển trả máy ảnh, máy quay phim… phục vụ khách đến viếng Bác được triển khai từ tháng 5 năm 1998. Những năm đầu triển khai, Đội 4 đã bảo đảm tốt việc nhận, chuyển trả mỗi ngày hàng ngàn lượt điện thoại di động, máy ảnh, camera…Nhiều trường hợp quên nhận lại điện thoại di động, máy ảnh, camera, Đội 4 đều chủ động liên hệ để trả lại đúng người gửi, không để xảy ra sai sót, hỏng hóc, hoặc nhầm lẫn. Những năm gần đây, do khách mang máy các loại vào viếng Bác nhiều, nếu nhận, chuyển trả hết sẽ gây ùn tắc dòng người viếng, Đội 4 đã tham mưu, đề xuất với Đoàn 275, Bộ Tư lệnh và Ban Quản lý Lăng không nhận, chuyển trả máy điện thoại nữa mà yêu cầu khách phải tắt nguồn khi mang theo người vào Lăng viếng Bác. Đồng thời Đội 4 tăng cường nhắc nhở, hướng dẫn yêu cầu khách chấp hành đúng quy định sử dụng máy các loại khi vào Lăng viếng Bác.

Quá trình thực hiện nhiệm vụ đã có nhiều gương người tốt việc tốt, tiêu biểu như: Hạ sỹ Lê Chí Công, Trinh sát viên trong quá trình làm nhiệm vụ tại khu vực Chùa Một Cột ngày 03 tháng 2 năm 2000, đã phát hiện thấy một chiếc ví của khách nước ngoài đánh rơi, trong ví có 3.590 USD và nhiều giấy tờ khác đã báo cáo chỉ huy đơn vị trả lại người mất; Binh nhất Phạm Công Hoan, Trinh sát viên trong quá trình làm nhiệm vụ tại Nam đường Hùng Vương ngày 27 tháng 10 năm 2008 thấy một trường hợp cướp giật khách đi đường đang chạy trốn đã truy đuổi và bắt được tên cướp, giao cho Công an phường Điện Biên để xử lý, trả lại tài sản cho người bị hại; Trung úy chuyên nghiệp Nguyễn Huy Công, nhiều năm liền được tặng danh hiệu Chiến sỹ thi đua cơ sở, năm 2010 được tặng danh hiệu Chiến sỹ thi đua toàn quân…

Qua 15 năm xây dựng và từng bước trưởng thành, các lớp cán bộ, nhân viên, chiến sĩ Đội 4 luôn “Đoàn kết hiệp đồng, phát huy truyền thống” lập được những thành tích ban đầu đáng khích lệ, đặt nền móng cho cán bộ, nhân viên, chiến sỹ Đội 4 hôm nay. Đúng như Đại úy Trần Văn Tĩnh, Đội trưởng đã tâm sự: “Nhìn lại thành tích 15 năm qua chúng tôi rất tự hào. Song mỗi người đều cảm nhận rõ trách nhiệm của mình phải nỗ lực, cố gắng phấn đấu để giữ vững và phát huy những thành tích đó. Bởi vậy, chúng tôi sẽ tiếp tục xây dựng mối đoàn kết nội bộ, thống nhất cao, giỏi về nghiệp vụ chuyên môn, chấp hành kỷ luật nghiêm và tinh thông, nhạy bén trong quá trình thực hiện nhiệm vụ. Hàng năm Đội 4 chúng tôi sẽ đăng ký và phấn đấu đạt được danh hiệu Đơn vị Quyết thắng”.

Nguyễn Hoàng Hà, Nguyễn Đình Cường
bqllang.gov.vn

Trung đoàn 375 – 38 năm xây dựng và trưởng thành

375.1
Doanh trại trung đoàn 375 tại 19 Thụy Khuê – Tây Hồ – Hà Nội

Là đơn vị trực thuộc Bộ Tư lệnh Cảnh vệ, phối thuộc trong Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, quá trình hình thành, xây dựng và phát triển của Trung đoàn 375 gắn liền với những sự kiện lịch sử của dân tộc. Ngày 02/9/1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh – Người anh hùng giải phóng dân tộc, lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam đã “đi gặp các cụ Các Mác, cụ Lênin và các vị cách mạng đàn anh khác. Ngày 29/11/1969 Bộ Chính trị, Trung ương Đảng Lao động Việt Nam ra Quyết nghị: “Với tấm lòng kính yêu vô hạn và đời đời nhớ ơn Hồ Chủ tịch chúng ta phải thực hiện đến mức tốt nhất nhiệm vụ giữ gìn lâu dài thi hài Hồ Chủ tịch và xây dựng Công trình Lăng của Người”. Thực hiện Nghị quyết của Bộ Chính trị, ngày 2/9/1973 Công trình Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được khởi công xây dựng.

375.2
Cán bộ, chiến sỹ Trung đoàn 375 hướng dẫn nhân dân và khách quốc tế
vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh

1.4.375
Kiểm tra hành lý tại cửa kiểm tra an ninh số 2 Ông Ích Khiêm

Để bảo đảm tuyệt đối an toàn cho thi hài Bác và Công trình Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngày 20/2/1975 Bộ Công an đã ra chỉ thị số 157 giao cho Cục Cảnh sát Bảo vệ thành lập một đơn vị để thực hiện nhiệm vụ đặc biệt quan trọng này. Chấp hành Chỉ thị của Bộ Công an, ngày 28/3/1975 Tiểu đoàn 75 trực thuộc Cục Cảnh sát Bảo vệ, tiền thân của Trung đoàn 375 – Bộ Tư lệnh Cảnh vệ chính thức được thành lập với gần 650 cán bộ, chiến sỹ – là những người ưu tú được chọn lựa từ các trường, các sở, ty công an thuộc 24 tỉnh, thành từ Quảng Bình trở ra, đại diện cho lực lượng Công an nhân dân thực hiện nhiệm vụ vinh quang “giữ yên giấc ngủ của Người”.

Ngày đầu thành lập, nhiệm vụ chính trị của đơn vị là công tác vũ trang tuần tra, canh gác bảo vệ tuyệt đối an toàn mục tiêu Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh và tổ chức, hướng dẫn phục vụ đồng bào và khách quốc tế vào Lăng viếng Bác. Ngày đầu thành lập với biết bao khó khăn bỡ ngỡ, nhiệm vụ mới mẻ, trong khi cơ sở vật chất, phương tiện kỹ thuật còn thiếu, trình độ đào tạo của cán bộ, chiến sỹ không đồng đều, nhưng với niềm vinh dự, tự hào khi được sống và làm việc bên Lăng Bác Hồ kính yêu, mỗi cán bộ, chiến sỹ trong đơn vị đã đoàn kết đồng lòng, quyết tâm khắc phục khó khăn, nỗ lực phấn đấu thực hiện xuất sắc nhiệm vụ được giao.

Góp phần tích cực trong việc bảo vệ an ninh trật tự của đất nước, đơn vị còn thực hiện tốt những nhiệm vụ khác được cấp trên giao như: Áp tải an toàn các chuyến hàng đặc biệt của Nhà nước; tăng cường quân số cho Trung đoàn 30, Cục Cảnh sát Bảo vệ làm nhiệm vụ truy quét tàn quân Pulrô; tăng cường cán bộ, chiến sỹ về Công an các tỉnh biên giới để tham gia chiến đấu bảo vệ biên cương Tổ quốc. Năm 1990, đơn vị được cấp trên giao nhiệm vụ bảo vệ an ninh trật tự khu vực Bảo tàng Hồ Chí Minh và nhiệm vụ môtô hộ tống, tiêu binh danh dự bảo vệ các đoàn khách quốc tế cấp cao sang thăm và làm việc tại nước ta, các Đại sứ trình thư uỷ nhiệm. Năm 1994 đơn vị tiếp nhận nhiệm vụ bảo vệ Đài tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ đã hy sinh quên mình vì độc lập, tự do của Tổ quốc.

Đứng trước tình hình an ninh chính trị trên thế giới và khu vực có nhiều diễn biến phức tạp, hoạt động vũ trang, bạo loạn, khủng bố, đánh bom, xung đột sắc tộc, tôn giáo … thường xuyên xảy ra; để bảo đảm tuyệt đối an  toàn khu vực Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh và Quảng trường Ba Đình, Đảng uỷ, Ban Chỉ huy Trung đoàn đã ra Quyết định số 500 QĐ/ E375(CT) ngày 22/12/2004 về việc thành lập Đội Kỹ thuật bảo vệ nghiệp vụ trực thuộc Ban Tham mưu và Quyết định số 298/QĐ-E375(CT) ngày 21/6/2007 về thành lập Tổ Cảnh sát Bảo vệ trực thuộc Đại đội 3 với nhiệm vụ bảo đảm an ninh trật tự khu vực vòng ngoài, để bảo đảm khép kín mục tiêu bảo vệ khu vực Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, Quảng trường Ba Đình, Đài tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ. Ngày 30/7/2007, Trung đoàn chính thức được lãnh đạo cấp trên giao thêm nhiệm vụ gác tiêu binh danh dự cho các cuộc tiếp khách của lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chính phủ và Quốc hội.

Hàng năm, đơn vị còn phối hợp, tham gia bảo vệ các cuộc mít tinh, diễu binh, diễu hành tại Quảng trường Ba Đình, các Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng, các kỳ họp Quốc hội thường niên và nhiều cuộc sinh hoạt chính trị khác diễn ra tại Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh và Quảng trường Ba Đình lịch sử.

Có thể khẳng định: Trong suốt 38 năm qua, Trung đoàn 375 – Bộ Tư lệnh Cảnh vệ đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị được giao, bảo đảm và giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ quốc phòng an ninh của đất nước.

Trải qua 38 năm chiến đấu, xây dựng và trưởng thành, dù trong hoàn cảnh nào, Đảng uỷ, Ban Chỉ huy Trung đoàn luôn thống nhất và xác định nhiệm vụ xây dựng đơn vị vững mạnh về mọi mặt là mục tiêu cơ bản thường xuyên, trong đó coi trọng xây dựng đơn vị vững mạnh về chính trị là cơ sở, xây dựng đội ngũ cán bộ là khâu then chốt và xây dựng Đảng bộ là nhiệm trung tâm thường xuyên.

Trong công tác nghiệp vụ, đơn vị luôn chủ động nắm tình hình, nghiên cứu dự báo những tình huống nghiệp vụ có thể xảy ra, trên cơ sở đó xây dựng kế hoạch, phương án tác chiến bảo đảm thế chủ động trong bất cứ tình huống nào không để bị động, bất ngờ; mọi chế độ trực ban, trực chiến, trực chỉ huy, trinh sát tuần tra canh gác bảo vệ mục tiêu được duy trì nghiêm ngặt. Cán bộ, chiến sỹ trong quá trình thực hiện nhiệm vụ luôn phát huy tinh thần chủ động, ý thức cảnh giác phát hiện tội phạm, giữ vững an ninh trật tự khu vực được phân công. Đơn vị đã phát hiện, ngăn chặn hàng trăm trường hợp cố ý xâm phạm vào khu vực bảo vệ, nhiều chiến sỹ đã dũng cảm tấn công tội phạm được cấp trên khen thưởng. Điển hình là 02 đồng chí Phạm Văn Miên và Trần Văn Dũng đã cảnh giác phát hiện, bắt giữ  đối tượng có hành vi vi phạm đến sự an toàn của mục tiêu bảo vệ. Với thành tích đó, hai đồng chí đã được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Ba và Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ.

38 năm qua, đơn vị đã phối hợp chặt chẽ với Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh trong công tác bảo đảm an ninh, trật tự, bảo vệ công trình kiến trúc Lăng, đồng thời thực hiện xuất sắc nhiệm vụ tổ chức lễ viếng Bác. Đã tổ chức, đón tiếp, hướng dẫn cho hơn 40 triệu lượt người vào Lăng viếng Bác (trong đó có hơn 07 triệu lượt khách quốc tế) bảo đảm chu đáo, an toàn. Trong công tác này, cán bộ, chiến sỹ đã thể hiện rõ thái độ làm việc tận tuỵ, nhận và trả đầy đủ gần 6 triệu hành lý của khách đi viếng Bác gửi lại. Đã cấp cứu y tế gần 07 nghìn người, hơn 19 nghìn trường hợp cụ già, thương binh, người tàn tật, Bà mẹ Việt Nam Anh hùng đã được cán bộ, chiến sỹ phục vụ dùng xe đẩy tay đưa vào viếng Bác. Song song với các nhiệm vụ trên, đơn vị đã tổ chức tốt công tác tiêu binh danh dự, lái xe mô tô hộ tống bảo vệ hàng trăm đoàn khách cấp nguyên thủ quốc gia sang thăm, làm việc tại nước ta, các Đại sứ trình quốc thư bảo đảm an toàn, đúng nghi lễ, phục vụ tốt cho công tác đối ngoại của Đảng và Nhà nước.

Trong công tác xây dựng lực lượng, Đảng uỷ, Chỉ huy Trung đoàn luôn đặc biệt chú trọng đến việc nâng cao chất lượng chính trị tư tưởng coi đó là cơ sở, nền tảng để hoàn thành các nhiệm vụ khác. Thông qua việc quán triệt quan điểm, đường lối của Đảng, Nghị quyết của tổ chức đảng các cấp, kết hợp giữa công tác giáo dục chính trị tư tưởng cơ bản với giáo dục truyền thống của đơn vị từng bước xây dựng và nâng cao bản lĩnh chính trị cho cán bộ, đảng viên, chiến sỹ. Đi đôi với công tác giáo dục và quản lý, đã thường xuyên đẩy mạnh phong trào thi đua “Vì an ninh Tổ quốc” gắn với phong trào “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh – CAND vì nước quên thân, vì dân phục vụ” “Công an nhân chấp hành nghiêm điều lệnh, xây dựng nếp sống văn hóa, vì nhân dân phục vụ”, tổ chức tốt các hoạt động văn hoá, thể thao tạo không khí vui tươi, sôi nổi trong toàn đơn vị. Đảng uỷ, Chỉ huy Trung đoàn đã thường xuyên chăm lo kiện toàn tổ chức và công tác cán bộ, quan tâm đúng mức đến công tác đào tạo nâng cao trình độ, kiến thức về mọi mặt cho cán bộ, chiến sỹ. Ngày mới thành lập, đơn vị chưa có đồng chí nào có trình độ đại học, đến nay đã có 150 cán bộ, chiến sỹ đã tốt nghiệp Đại học, Cao đẳng; 119 đồng chí có bằng Trung học nghiệp vụ, nhiều đồng chí thông thạo ngoại ngữ đáp ứng với yêu cầu công tác. Cùng với việc chăm lo đến yếu tố con người, cấp uỷ đã thường xuyên quan tâm, chăm lo xây dựng tổ chức Đảng và các tổ chức quần chúng vững mạnh, chăm lo công tác hậu cần phục vụ công tác, chiến đấu và bảo đảm đời sống cho cán bộ, chiến sỹ. Đảng bộ Trung đoàn nhiều năm liền được công nhận danh hiệu trong sạch, vững mạnh, được Đảng uỷ Công an Trung ương tặng Cờ và Bằng khen; Đoàn cơ sở và Hội Phụ nữ Trung đoàn nhiều năm liên tục được Trung ương Đoàn và Trung ương Hội tặng Cờ, Bằng khen.

Qua 38 năm chiến đấu, xây dựng và trưởng thành, Trung đoàn đã được Đảng, Nhà nước, Chính phủ tặng thưởng các danh hiệu:

– Huân chương Lao động hạng Ba (năm 1980);

– Huân chương Hồ Chí Minh (năm 1985);

– Huân chương Độc lập hạng Ba (năm 1995);

– Huân chương Quân công hạng Nhì (năm 2000);

– Anh hùng LL VTND thời kỳ đổi mới (năm 2003);

– Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng Ba (năm 2007);

– 04 lần được Thủ tướng Chính phủ tặng Bằng khen.

– 01 đồng chí được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Ba, 02 đồng chí được tặng Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ.

Những phần thưởng trên đây của Đảng, Nhà nước, Chính phủ và của cấp trên là sự ghi nhận công lao, khẳng định thành tích của các thế hệ cán bộ, chiến sỹ Trung đoàn. Bên cạnh sự nỗ lực của cán bộ, chiến sỹ, trong suốt 38 năm qua đơn vị luôn nhận được lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ, sâu sát của Thường vụ Đảng uỷ, lãnh đạo Bộ Tư lệnh Cảnh vệ, Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, sự phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ và giúp đỡ có hiệu quả của các cơ quan, đơn vị liên quan trong và ngoài ngành trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ, xây dựng Đảng bộ, đơn vị.

Nhìn lại chặng đường 38 năm chiến đấu, xây dựng, trưởng thành đã qua và những thành tích đã đạt được, mỗi cán bộ, chiến sỹ của Trung đoàn có quyền tự hào về truyền thống vẻ vang đó, đồng thời cần luôn sẵn sàng chuẩn bị một tâm thế vững vàng để vượt qua những khó khăn và thách thức mới, tiếp tục hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.

Trần Thanh Hương Lan
bqllang.gov.vn

Đoàn 195 đẩy mạnh xây dựng chính quy, rèn luyện kỷ luật

Là đơn vị bảo đảm kỹ thuật trọng yếu của Bộ Tư lệnh, trực tiếp quản lý vận hành hệ thống thiết bị kỹ thuật Công trình Lăng, Đài tưởng niệm các Anh hùng, Liệt sỹ và các công trình có liên quan, yêu cầu nhiệm vụ đòi hỏi cao về tính kỷ luật, thận trọng, tỷ mỷ, chính xác. Đối tượng quản lý của đơn vị chủ yếu là hưởng lương, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân viên quốc phòng, gồm nhiều lớp lứa, nhiều loại thợ, phần lớn mới được chuyển từ chế độ công nhân viên quốc phòng sang quân nhân chuyên nghiệp chưa được rèn luyện thử thách nhiều trong môi trường chính quy; chế độ làm việc theo ca, xa sự quản lý trực tiếp; địa bàn cư trú rộng, phức tạp; môi trường làm việc nghiêm cách, đòi hỏi cao về tính tự giác, những khó khăn về đời sống, hậu phương gia đình và những tác động nhiều mặt của mặt trái cơ chế thị trường đã ảnh hưởng không nhỏ đến nhận thức tư tưởng, trách nhiệm, nhất là việc chấp hành nền nếp chính quy và rèn luyện kỷ luật.

DOAN 195.CHIEN SYĐơn vị tổ chức huấn luyện Điều lệnh đội ngũ năm 2011

Xuất phát từ thực tiễn và yêu cầu thực hiện nhiệm vụ, Đại hội Đảng bộ Đoàn nhiệm kỳ 2010 – 2015 xác định xây dựng chính quy, rèn luyện kỷ luật là một trong hai khâu đột phá, nhằm tạo ra những chuyển biến trên tất cả các mặt công tác. Từ một đơn vị trung bình, không có sự nổi trội trong phong trào thi đua quyết thắng của Bộ Tư lệnh, Đoàn đã từng bước vươn lên trở thành một trong những điển hình tiên tiến, nề nếp chế độ chính quy, quản lý kỷ luật được duy trì nghiêm túc, thống nhất; các khâu yếu, mặt yếu dần được khắc phục, đơn vị ổn định, nội bộ đoàn kết thống nhất cao, tư tưởng tích cực, tiên tiến giữ vai trò chủ đạo trong mọi mặt công tác, mọi mặt hoạt động của đơn vị. Kết quả đó thực sự là động lực, góp phần quan trọng vào việc thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao.

Năm 2013 là năm bản lề trong thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng các cấp và kế hoạch 5 năm (2010 – 2015). Quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết của Đảng ủy, chỉ thị của Tư lệnh về xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, thực hiện mục tiêu xây dựng đơn vị tiêu biểu về điều lệnh và nghi lễ, trong đó xây dựng đơn vị về chính quy, rèn luyện kỷ luật là khâu quan trọng, có ý nghĩa quyết định. Để tiếp tục xây dựng đơn vị có nền nếp chính quy, quản lý duy trì nghiêm kỷ luật, xây dựng đơn vị VMTD, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Đảng ủy, Chỉ huy Đoàn 195 xác định và thực hiện tốt những nội dung, biện pháp chủ yếu sau đây:

Thường xuyên làm tốt công tác giáo dục, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, công nhân viên, chiến sỹ về xây dựng chính quy và rèn luyện kỷ luật. Đây là biện pháp cơ bản hàng đầu, bởi vì chất lượng hiệu quả xây dựng chính quy, rèn luyện kỷ luật chỉ đạt được khi cán bộ, công nhân viên, chiến sỹ có nhận thức thống nhất, hành động tự giác. Do đó cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục về vị trí, ý nghĩa của xây dựng chính quy, rèn luyện kỷ luật đối với việc hoàn thành nhiệm vụ chính trị của đơn vị; phổ biến quán triệt các chỉ thị, hướng dẫn của cấp trên, Chỉ thị 37 của Thường vụ Đảng ủy Quân sự Trung ương (nay là Quân ủy Trung ương), Chỉ thị 85 của Tổng Tham mưu trưởng, Quyết định 2530 của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Nghị quyết của Đảng ủy Đoàn 969, Chỉ thị của Tư lệnh cũng như những nội dung, yêu cầu cụ thể trong thực hiện xây dựng chính quy, rèn luyện kỷ luật của Đoàn. Thực hiện các hình thức, biện pháp giáo dục đồng bộ, sát với đối tượng, coi trọng đối tượng là quân nhân chuyên nghiệp, công nhân viên quốc phòng, chiến sỹ mới, kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục cơ bản với giáo dục truyền thống, niềm vinh dự, tự hào trách nhiệm; giáo dục thường xuyên với quán triệt nhiệm vụ, giáo dục với quản lý, rèn luyện kỷ luật, làm cho cán bộ, công nhân viên, chiến sỹ nhận thức sâu sắc xây dựng chính quy, rèn luyện kỷ luật là yêu cầu khách quan, là nhiệm vụ thường xuyên ở đơn vị làm nhiệm vụ chính trị đặc biệt, thấy rõ nghĩa vụ, trách nhiệm, tự giác tu dưỡng, rèn luyện chấp hành nghiêm kỷ luật, nền nếp chế độ chính quy.

DOAN 195.giao luuTổ chức diễn đàn tuổi trẻ Đoàn 195 với rèn luyện kỷ luật

Tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chỉ huy, đề cao vai trò gương mẫu, nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ trì. Đây vừa là nguyên tắc, vừa là vấn đề cốt lõi nhất trong xây dựng chính quy, rèn luyện kỷ luật. Cấp ủy, cán bộ chủ trì phải có sự thống nhất cao về nhận thức, trách nhiệm, coi việc lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng chính quy, rèn luyện kỷ luật là nhiệm vụ trọng tâm, thường xuyên trong mọi hoạt động của đơn vị, đưa nội dung này vào nghị quyết lãnh đạo thường kỳ với những biện pháp cụ thể, chú trọng giải quyết, xử lý dứt điểm các khâu yếu, mặt yếu, thường xuyên rút kinh nghiệm, gắn xây dựng chính quy, rèn luyện kỷ luật với phong trào thi đua quyết thắng, nhất là việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, xây dựng tổ chức Đảng trong sạch vững mạnh gắn với xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện. Cán bộ, đảng viên gương mẫu, nêu gương, thực sự là tấm gương sáng về thực hiện nền nếp chính quy, chấp hành kỷ luật, thực hiện phương châm cấp trên làm gương cho cấp dưới, đảng viên gương mẫu cho quần chúng noi theo. Phát huy vai trò của Đoàn Thanh niên, Công đoàn, Phụ nữ, hướng hoạt động của các tổ chức quần chúng vào thực hiện nền nếp chính quy, chấp hành kỷ luật.

Chủ động tích cực tăng cường kiểm tra, đôn đốc, chẩn chỉnh và xử lý giải quyết, kịp thời các trường hợp sai phạm. Coi đây là nhiệm vụ thường xuyên của lãnh đạo, chỉ huy, việc xây dựng chính quy, rèn luyện kỷ luật mang tính tự giác tích cực là cơ bản nhưng cũng là những quy định mang tính bắt buộc. Chính vì vậy, bên cạnh làm tốt công tác giáo dục, động viên phải thường xuyên kiểm tra, kiểm soát duy trì nghiêm chế độ chính quy trên tất cả các mặt công tác; trọng tâm là chế độ trong ngày, trong tuần, chế độ trực các cấp, duy trì chấn chỉnh lễ tiết, tác phong quân nhân, chế độ giờ giấc làm việc; tăng cường các biện pháp quản lý bộ đội, quản lý ngoài giờ hành chính, quản lý các mối quan hệ, quản lý chặt chẽ vật tư, tài chính, tài sản, vũ khí trang bị; tuần tra, canh gác bảo vệ, chủ động phát hiện và ngăn ngừa các biểu hiện hành vi vi phạm kỷ luật. Trong lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng chính quy, rèn luyện kỷ luật lấy giáo dục thuyết phục là chủ yếu, nhưng đồng thời cũng kiên quyết xử lý nghiêm minh các trường hợp, các vụ việc, các hành vi vi phạm, không bao che, giấu giếm khuyết điểm, nể nang, né tránh giữ nghiêm kỷ luật Quân đội và quy định của đơn vị.

Tập trung chỉ đạo xây dựng đơn vị điểm, chú ý phát hiện, bồi dưỡng và nhân rộng điển hình tiên tiến trong thực hiện nền nếp, chính quy, rèn luyện kỷ luật. Đây là biện pháp quan trọng trong lãnh đạo, chỉ đạo, nhằm thường xuyên rút kinh nghiệm, tìm ra cách làm hay có hiệu quả, tạo sự chuyển biến tích cực, đồng đều vững chắc về xây dựng chính quy, rèn luyện kỷ luật trong toàn đơn vị. Tập trung chỉ đạo xây dựng và đặt ra những nội dung yêu cầu riêng với từng khối cơ quan và đơn vị, về từng đối tượng, nhiệm vụ, xây dựng khối cơ quan thực sự mẫu mực, chính quy để làm gương cho đơn vị, cán bộ chủ trì làm gương cho cấp dưới; mỗi năm chọn một đơn vị xây dựng điểm toàn diện, một đơn vị điểm về xây dựng chính quy, rèn luyện kỷ luật, tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra, giúp đỡ tạo điều kiện để đơn vị hoàn thành nhiệm vụ. Làm tốt công tác sơ kết, tổng kết, trao đổi kinh nghiệm, phát huy ưu điểm, khắc phục triệt để hạn chế khuyết điểm, biểu dương, khen thưởng, cổ vũ động viên các nhân tố tích cực, điển hình tiên tiến, nhằm không ngừng nâng cao chất lượng hiệu quả xây dựng chính quy, rèn luyện kỷ luật.

Phát huy dân chủ quan tâm chăm lo và không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của đơn vị. Đây là điều kiện cơ bản bảo đảm sự đoàn kết thống nhất cao trong đơn vị, là cơ sở khơi dậy ý chí quyết tâm, trách nhiệm của cán bộ, công nhân viên, chiến sỹ trong xây dựng chính quy, rèn luyện kỷ luật. Phát huy dân chủ rộng rãi, dân chủ trên mọi mặt công tác, trong mọi hoạt động của đơn vị, thông qua việc thực hiện có nền nếp, chất lượng quy chế dân chủ ở cơ sở, hoạt động đối thoại, nâng cao chất lượng ngày chính trị văn hóa tinh thần, ngày điều lệnh, ngày pháp luật, tăng cường công tác bảo vệ chính trị nội bộ, hoạt động của Tổ công tác dân vận để ngăn ngừa tiêu cực, tệ nạn xã hội tác động vào đơn vị; phát huy hiệu quả hoạt động của các thiết chế văn hóa; coi trọng tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao, tăng gia cải thiện đời sống, tạo điều kiện cho cán bộ, công nhân viên, chiến sỹ giải quyết hài hòa công việc gia đình với nhiệm vụ đơn vị, bảo đảm đầy đủ kịp thời các chế độ, tiêu chuẩn về đời sống văn hóa, tinh thần, thực hiện tốt chính sách hậu phương quân đội, quan tâm giúp đỡ các đồng chí có hoàn cảnh khó khăn ổn định cuộc sống, yên tâm công tác, xây dựng bầu không khí dân chủ, đoàn kết trong tập thể, yêu mến gắn bó xây dựng đơn vị.

Dương Hoàng Toán
bqllang.gov.vn

Hoa ban đẹp dịu dàng trước Lăng Bác

Vào dịp tháng ba hàng năm, những bông hoa ban thanh tao, tinh khiết trên con đường Bắc Sơn (đối diện Lăng Bác Hồ) lại trở mình khoe sắc. Sự dịu dàng, mong manh của loài hoa đến từ Tây Bắc này đã làm bừng sáng lên vẻ đẹp cho con đường.

Loài hoa vốn của núi rừng Tây Bắc xuất hiện giữa Thủ đô từ những năm 1960 trong kế hoạch trồng thử nghiệm của các nhà quy hoạch đô thị. Sau quá trình thử nghiệm đó, hoa ban sinh trường, phát triển, hoa nở đẹp nên đã được quyết định trồng thành hai dãy ở con đường Bắc Sơn này.

Hoa ban 1 Hàng ngày, có hàng trăm người đến với con đường Bắc Sơn để có dịp thưởng thức vẻ đẹp của loài hoa này cũng như để lưu giữ lại khoảnh khắc của mùa xuân.

Hoa ban 2Hoa ban nở rộ khoe sắc khắp con đường mang lại cho mọi người cảm giác dễ chịu như đang ở giữa núi rừng Tây Bắc.

Hoa ban 3Một chút phớt hồng của hoa ban mang đến cảm giác ấm áp giữa tiết trời se se lạnh của mùa xuân.

Hoa ban 5Những bông hoa khoe sắc giữa trời Thủ đô Hà Nội.

Hoa ban 6Hoa ban – loài hoa nhẹ nhàng hướng về Lăng như chính trái tim của người dân Tây Bắc luôn luôn ngóng trông về Bác Hồ.

Hoa ban 6

Hoa ban 7 Rất nhiều bạn trẻ đã lựa chọn đường hoa ban là địa điểm tụ tập, chụp ảnh lưu niệm ngày cuối tuần.

Hoa ban 8Hầu hết mọi người đến đây đều cảm nhận được sức cuốn hút kỳ diệu của loài hoa rất mực giản dị, tinh khiết này.

Hoa ban 9

Hoa ban 10

Hoa ban 11Các em nhỏ cũng rất thích thú khi được tạo dáng, dạo chơi trên con đường rợp sắc hoa ban.

Hoa ban 12 Những bạn trẻ yêu nhiếp ảnh cũng tranh thủ cơ hội để tìm được những khoảnh khắc ảnh đáng nhớ với hoa ban.

Hoa ban 13Vẻ đẹp thanh khiết của hoa ban không chỉ có sức hút riêng với giới trẻ.

Hoa ban 14

Mặc dù năm nay số lượng hoa ban bị giảm đi do công trường đang thi công ngay trên con đường Bắc Sơn nhưng hoa ban vẫn khoe sắc và có sức hút mạnh với đông đảo người dân Thủ đô. Con đường Bắc Sơn ngập tràn sắc hoa ban thực sự là địa điểm hấp dẫn, làm tăng thêm vẻ đẹp cho mùa xuân ở Lăng Bác cũng như mùa xuân của Thủ đô Hà Nội.

Thanh Huyền
bqllang.gov.vn

“Bác Hồ sống mãi”

Nhân dịp kỷ niệm 20 năm hợp tác trực tiếp với Trung tâm Nghiên cứu Y sinh Matxcơva trong thực hiện nhiệm vụ y tế giữ gìn lâu dài, bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh, Hãng phim Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh (TFS) đã trao tặng Ban Quản lý Lăng bộ phim tài liệu “Bác Hồ sống mãi”.

Bac ho song mai 2Tổng Giám đốc Đài Truyền hình T.P Hồ Chí Minh Nguyễn Quý Hòa
trao tặng phim “Bác Hồ sống mãi” cho đơn vị.

Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh là công trình của “lòng dân, ý Đảng”. Lăng Bác đã trở thành nơi hội tụ tình cảm, niềm tin của đồng bào trong nước và bầu bạn quốc tế đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh. Hướng tới kỷ niệm 20 năm hợp tác trực tiếp trong thực hiện nhiệm vụ giữ gìn lâu dài, bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh (1992 – 2012) giữa Ban Quản lý Lăng với Trung tâm Nghiên cứu Y sinh Matxcơva, đơn vị đã đề nghị Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh sản xuất phim tài liệu để phục vụ công tác tuyên truyền, phát huy ý nghĩa chính trị, văn hoá sâu sắc của Công trình Lăng trong giai đoạn mới.

Trân trọng đề nghị của Ban Quản lý Lăng, Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh đã giao cho TFS cử Đoàn làm phim thực hiện kế hoạch này. Các thành viên trong Đoàn đều là những đồng chí có nhiều kinh nghiệm như: Giám đốc sản xuất – Nguyễn Ngọc Bình, Phó Giám đốc TFS; Biên kịch và viết lời bình – Trần Đức Tuấn; Đạo diễn – Nguyễn Hoàng; Quay phim – Huỳnh Lâm…. Khi đón Đoàn làm phim ra thăm Lăng Bác và trao đổi những công việc cụ thể, chúng tôi cảm nhận được sự xúc động và xen lẫn lo âu trên mỗi gương mặt. Bởi như Phó Giám đốc Nguyễn Ngọc Bình cho biết: “Chủ tịch Hồ Chí Minh rất vĩ đại. Được làm phim về Bác là điều tuyệt vời. Song đã có nhiều phim về Bác, phim nào cũng rất hay. Vậy phim này phải khai thác góc độ riêng để thấy được tầm vĩ đại của Bác và tình cảm của mọi người dành cho Bác, đặc biệt là khi Người đã đi xa”. Sau buổi vào Lăng viếng Bác và tham quan Khu Di tích K9 (Đá Chông, Ba Vì, Hà Nội, nơi Bác Hồ đã nhiều lần lên làm việc, tiếp khách quốc tế và cũng là nơi Trung ương Đảng chọn làm địa điểm chủ yếu để giữ gìn thi hài Bác trong những năm chiến tranh 1969 – 1975), Đạo diễn Nguyễn Hoàng suy nghĩ: “Hình ảnh về Lăng Bác, Quảng trường Ba Đình và Khu Di tích K9 trong phim này phải có nét mới, ghi từ trên cao để mọi người thấy được toàn cảnh, từ đó cẩm nhận đầy đủ hơn tầm nhìn của Trung ương trong việc lựa chọn địa điểm xây dựng Lăng Bác và quyết định giữ gìn di tích về Người để giáo dục truyền thống cách mạng”.

Doan phim 5 de bop
Đoàn làm phim đặt hoa và viếng Viện sỹ Đê-bốp (là một trong những chuyên gia y tế đầu tiên của Liên Xô giúp Việt Nam giữ gìn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh) ở Matxcơva

Quá trình thực hiện bộ phim tài liệu này, Đoàn làm phim luôn phối hợp chặt chẽ, thống nhất cao với đơn vị trong việc xây dựng kế hoạch sản xuất, nội dung phim, trao đổi về kịch bản, lời bình và duyệt phim. Trực tiếp phục vụ Đoàn làm phim ghi hình, gặp gỡ, phỏng vấn nhiều nhân chứng là những cán bộ, bác sỹ, lái xe đã nhiều năm gắn bó với nhiệm vụ chính trị đặc biệt “Giữ yên giấc ngủ của Người” và sưu tầm tư liệu của đồng nghiệp ở Hà Nội trong những ngày hè nóng bức, chúng tôi cảm phục tinh thần hết lòng vì công việc của từng thành viên trong Đoàn. Ngoài việc ghi hình trong nước, Đoàn làm phim đã trực tiếp sang Liên bang Nga và Ucraina để tìm hiểu, thu thập thông tin và tiếp xúc phỏng vấn các chuyên gia, các nhà khoa học đã và đang có quá trình cống hiến lâu dài, trực tiếp làm nhiệm vụ tại Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Gần trọn một năm miệt mài lao động nghệ thuật, đầy sáng tạo, tâm huyết, trách nhiệm cao của những nhà làm phim, bộ phim “Bác Hồ sống mãi” được hoàn thành với nội dung sâu sắc, hình ảnh đẹp, lời bình và âm nhạc cảm động. Hai tập của bộ phim phát sóng trên Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh đúng dịp kỷ niệm 83 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam đã được khán giả màn ảnh nhỏ đón nhận với những tình cảm đặc biệt. Điều này đã đáp ứng mong muốn của biên kịch Trần Đức Tuấn: “Phim  tài liệu “Bác Hồ sống mãi” này, xin được bày tỏ để khán giả truyền hình có thể thấu hiểu được những khó khăn, vất vả và niềm vinh dự của đội ngũ những người thực hiện nhiệm vụ giữ gìn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh. Thông qua lời kể của những nhân chứng, những nhà khoa học, chuyên gia, y bác sĩ Việt Nam và Nga, những người đã và đang trực tiếp làm nhiệm vụ tại Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh mới thấy việc chúng ta tạo dựng nên công trình thiêng liêng này, không chỉ là để tri ân, để hợp lòng người. Điều lớn lao hơn nhiều là để bày tỏ ước nguyện xây dựng một nước Việt Nam giàu mạnh, dân chủ, công bằng, góp phần kiến tạo một thế giới văn minh, không còn lòng tham ích kỷ, không có xâm lược và chiến tranh như Người hằng mong đợi”.

Ngoài phim tài liệu “Bác Hồ sống mãi” Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh còn trao tặng Ban Quản lý Lăng 11 bộ phim ký sự “Hành trình theo chân Bác” ở nước ngoài và các phim tài liệu “Đại tướng Võ Nguyên Giáp”, “Bác Hồ ở Thái Lan”, “Còn in bóng Người”…

Đồng chí Thiếu tướng Nguyễn Văn Cương, Trưởng ban Ban Quản lý Lăng đã thay mặt cán bộ, công nhân viên, chiến sỹ Ban Quản lý Lăng gửi thư trân trọng cảm ơn Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh đã giúp đỡ đơn vị hoàn thành phim tài liệu “Bác Hồ sống mãi” để phục vụ công tác đón tiếp tuyên truyền, phục vụ đồng bào, khách quốc tế đến viếng Bác và mong muốn Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh tiếp tục phối hợp, giúp đỡ sản xuất phim tài liệu về Khu Di tích K9, phục vụ đồng bào đến dâng hương, tưởng niệm Bác và tham quan Khu Di tích”.

Hữu Mạnh, Nguyễn Hoàng
bqllang.gov.vn

Câu chuyện của người phụ nữ khuyết tật thêu chân dung Bác Hồ

Là một nghệ nhân của làng thêu lớn tại Hà Nội, vượt lên sự nghiệt ngã của số phận, cô Hoàng Thị Khương (sinh năm 1965) đã tự tìm tòi, học hỏi để thêu nên những bức tranh tinh xảo. Nhưng trong những bức tranh đó, việc lựa chọn và cố gắng để hoàn thành bức chân dung về Bác Hồ chính là điều đáng nhớ nhất trong hơn ba mươi năm làm nghề thêu của người phụ nữ nhỏ bé nhưng đầy nghị lực  này.

Bắt đầu từ niềm yêu thích với những bức ảnh của Bác Hồ

Nghe nhan.anh bacCô Hoàng Thị Khương cùng bức chân dung Bác Hồ

Sinh ra và lớn lên ở làng thêu Quất Động (Huyện Thường Tín – Hà Nội), trong một gia đình đã có bốn đời làm nghề thêu nên việc đi theo nghề đối với cô Khương là một lựa chọn đầu tiên. Từ khi mới lọt lòng, cô đã được sống trong môi trường của nghề thêu. Hình ảnh cô nhớ đầu tiên về mẹ cũng chính là hình ảnh người mẹ chăm chú, cần mẫn bên từng đường kim, mũi chỉ.

Trong suốt hơn ba mươi năm thêu, cô đã thêu rất nhiều những bức tranh sống động. Và cách đây khoảng mười năm, cô bắt đầu ý tưởng thêu tranh chân dung Bác Hồ. Cô bảo hồi bé mỗi lần được nhìn thấy ảnh Bác Hồ cô đều thích lắm. Có lẽ, chính tình yêu từ khi còn bé đó đã thôi thúc cô quyết tâm thêu bức chân dung của Bác.

Khi được hỏi về việc thêu tranh chân dung của Bác, cô Khương chia sẻ: “Đối với một bức tranh bình thường, mình thêu sao cho khéo, cho có hồn đã rất khó rồi. Nhưng đối với một bức tranh chân dung thì lại càng khó khăn hơn rất nhiều, đối với chân dung của Bác Hồ lại càng là một thử thách không nhỏ. Hơn thế, vào thời điểm đó, cô chưa từng thêu một bức tranh chân dung nào. Tay nghề dù đã có vài chục năm nhưng đó vẫn là sự lựa chọn không hề dễ dàng”.

Nghe nhan.anh bac.2Bức chân dung luôn được treo trân trọng ở chính giữa ngôi nhà của cô Khương

Cô Khương không thể nhớ là mình đã phải mất thời gian bao nhiêu lâu để hoàn thiện được bức chân dung đầu tiên về Bác và đã bao nhiêu lần cô phải tháo từng đường kim mũi chỉ để làm lại vì không bằng lòng với bức chân dung mình đã thêu. Đến nay, dù đã mười năm trôi qua, cô vẫn còn giữ lại cho mình bức chân dung đầu tiên về Bác mà cô đã thêu. Bởi với cô, đó là một kỷ niệm không thể quên trong suốt cuộc đời gắn bó với nghề.

Nhớ về quãng thời gian hoàn thành bức chân dung đầu tiên của Bác Hồ, cô Khương nói: “Không chỉ phải sửa đi sửa lại từng mũi kim, đường chỉ mà cô phải chú ý thay đổi trong cách phối màu. Bởi nếu thêu theo đúng ba-ren như bức ảnh được dập thì khuôn mặt của Bác sẽ bị tối ở một bên góc. Vì thế khi thêu cô phải thay đổi cách phối màu sắc để khuôn mặt của Bác không bị tối. Bức chân dung phải sáng, phải có hồn thì mới được coi là một bức tranh thêu chân dung thực sự”.

Theo cô Khương, trong bức chân dung Bác Hồ, ba chi tiết khó nhất là mắt, miệng và râu. Cô lý giải: “Bởi thần thái của Bác trong bức tranh rất quan trọng, phải thêu làm sao để toát lên được thần thái cao quý mà rất mực gần gũi của Bác. Người ngắm tranh mà thấy như Bác đang cười với mình vậy”.

Việc thêu chân dung của Bác Hồ hoàn toàn xuất phát từ sự tôn kính Bác của người phụ nữ khuyết tật này. Đối với cô, hình ảnh của Bác là hình ảnh của cả dân tộc ta. Từ việc yêu thích, kính trọng Bác, cô đã ấp ủ và cố gắng thực hiện bằng được điều ý nghĩa này. Dù biết là khó khăn, là thử thách lớn nhưng cô vẫn quyết tâm để thực hiện.

Đã từng liên hệ để gửi tặng bức chân dung Bác Hồ đến chương trình Kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội nhưng rất tiếc ý định đó không hoàn thành được. Bức chân dung ấy giờ được cô giữ lại và treo một cách trân trọng tại gia đình cô. Theo lời cô Khương, cô sẽ vẫn thực hiện những bức chân dung về Bác Hồ cũng như các khung cảnh, đồ vật đã gắn bó Bác.

Người phụ nữ của tinh thần “ tàn nhưng không phế”

Đôi chân của cô Khương bị tật do một cơn sốt khi cô mới chỉ được vài tháng tuổi. Mặc dù gia đình đã cố chữa chạy nhưng mọi hy vọng đều không thể giúp đôi chân của cô lành lặn được. Cô lớn lên nhưng đôi chân lại teo đi, những bước chân dần trở nên khó khăn, yếu ớt nhưng cô không chán nản. Không thể bước đi bình thường như những người khác, cô chọn làm nghề thêu để giúp ích cho gia đình.

Nghe nhan.3Hàng ngày, cô Khương vẫn tỉ mỉ bên từng mũi thêu

Cô tâm sự: “Đến với nghề là một chuyện nhưng tình yêu nghề, sự bền bỉ mới là điều quan trọng nhất. Chính yếu tố đó đã giúp cho cô có được nghị lực để gắn bó với nghề thêu vốn cần lắm sự tỉ mỉ này”. Và có lẽ đối với một người khuyết tật như cô, nếu không có được nghị lực mạnh mẽ lắm thì cô đã không thể có được những tác phẩm thêu sống động như bây giờ.

Không được đào tạo bài bản, mọi kỹ thuật thêu cơ bản của cô đều được truyền dạy từ chính người mẹ của mình. Nhìn rồi bắt chước, học hỏi mọi người rồi cuối cùng cô đã dần dần học được kỹ thuật thêu một cách thành thạo. Cô bảo: “Không chỉ học thêu đâu, học gì cũng vậy thôi, mình đều phải luôn luôn học hỏi, chịu khó nhận những ý kiến đóng góp của mọi người. Nếu cứ nghĩ mình giỏi thì không thể tốt lên được. Và hơn thế, mình đã quyết định làm một điều gì đó thì phải quyết tâm làm cho bằng được. Nếu không quyết tâm mạnh mẽ thì làm gì cũng sẽ nhanh chán nhanh nản. Thành công hay không thì đều ở mình mà ra hết!”.

Là một nghệ nhân, cô luôn đề cao việc chỉn chu cho từng tác phẩm thêu. Cô nhắc đi nhắc lại điều mà cô tâm niệm với tôi. “ Đã làm nghề thì mình phải thật sự tập trung, bỏ cả tâm trí vào đó. Mình không để cả tâm trí để làm thì tác phẩm đó sẽ không thể có hồn được. Bởi tranh là để ngắm để người ta yêu, để nhớ đến và trân trọng” – cô Khương khẳng định.

Từ nghị lực của mình, cô đã giúp cho nhiều người khuyết tật khác học được nghề thêu cũng như có việc làm nhất định. Đến nay, xưởng sản xuất của cô có khoảng bảy người thợ thêu là những phụ nữ khuyết tật. Cô đã từng được nhận Giấy khen vì đã có thành tích đóng góp cho thành công của Ngày Di sản văn hóa Việt Nam lần thứ VI với chủ đề “Dấu ấn Thăng Long – Hà Nội và Tuổi trẻ với Di sản văn hóa Việt Nam”.

Còn nhớ vào “Tết hòa bình đầu tiên”, trong dịp đến thăm anh chị em ở Trường Thương binh hỏng mắt Hà Nội, Bác Hồ đã dặn dò: “Thương binh tàn nhưng không phế”. Và đối với người khuyết tật như cô Khương, lời dạy ấy cũng chính là phương châm sống. Đó chính là động lực giúp cô có được sự kiên trì, bền bỉ để vươn lên, vượt qua sự thiệt thòi của số phận để trở thành một người có ích cho xã hội./.

Thanh Huyền
bqllang.gov.vn

“Tư cách một người cách mệnh” và vấn đề giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên hiện nay

Tu cach nguoi dang vien
Chủ tịch Hồ Chí Minh nói chuyện với cán bộ, chiến sĩ Đại đoàn Quân Tiên phong
tại Đền Hùng trước khi về tiếp quản giải phóng Thủ đô Hà Nội- 1954 (Ảnh T.L).

“Tư cách một người cách mệnh” là bài giảng đầu tiên của Chủ tịch Hồ Chí Minh cho các lớp tập huấn cán bộ của Đảng ta từ năm 1927, song đến nay vẫn còn nguyên giá trị. Tuy ngắn gọn nhưng nội dung bài giảng đã chỉ rõ những yêu cầu về phẩm chất và năng lực của người cán bộ cách mạng:

Tự mình phải: Cần kiệm. Hoà mà không tư. Cả quyết sửa lỗi mình. Cẩn thận mà không nhút nhát. Hay hỏi. Nhẫn nại (chịu khó). Hay nghiên cứu, xem xét. Vị công vong tư. Không hiếu danh, không kiêu ngạo. Nói thì phải làm. Giữ chủ nghĩa cho vững. Hy sinh. Ít lòng ham muốn về vật chất. Bí mật.

Đối người phải: Với từng người thì khoan thứ. Với đoàn thể thì nghiêm. Có lòng bày vẽ cho người. Trực mà không táo bạo. Hay xem xét người.

Làm việc phải: Xem xét hoàn cảnh kỹ càng. Quyết đoán. Dũng cảm. Phuc tùng đoàn thể”.[1]

Tự mình phải là thái độ và hành vi đầu tiên trong “Tư cách một người cách mệnh”. Tự mình phải vừa là yêu cầu, vừa là mệnh lệnh, là những chỉ dẫn phải được thực hiện. Đây là vấn đề có tầm quan trọng đặc biệt, quyết định tới tư cách của người cách mệnh. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần căn dặn cán bộ, đảng viên: “Tự mình không trong sáng, không gương mẫu, tự mình đã hủ hoá thì không lãnh đạo được ai, không làm nên trò trống gì. Nếu tự mình đã cần kiệm, liêm chính, không tham danh vọng thì bất cứ thủ đoạn nào của kẻ địch cũng không thể mua chuộc và làm mình gục ngã”[2].

Trong lịch sử có nhiều chiến sỹ cộng sản đã phải sống và hoạt động trong điều kiện rất ác liệt nhưng vẫn giữ gìn khí tiết, một lòng, một dạ trung thành với mục tiêu lý tưởng, không bao giờ phản bội, xưng khai. Họ là tấm gương sáng ngời mục tiêu, lý tưởng của Đảng. Họ là những tấm gương tiêu biểu về ý chí và nghị lực vươn lên của người cộng sản. “Tự mình phải” là yếu tố nội lực có ý nghĩa quyết định trực tiếp sự tiến bộ của mỗi người cộng sản. Chỉ có tự mình thấm nhuần sâu sắc mục tiêu, lý tưởng; tự mình rèn luyện mọi lúc, mọi nơi; tự mình gắn bó với tổ chức, với quần chúng nhân dân; tự mình đặt lợi ích của cá nhân trong mối quan hệ biện chứng với lợi ích tập thể… thì người cộng sản mới trở thành tấm gương để quần chúng học tập, noi theo. Điều này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ ngay từ trước khi thành lập Đảng đến nay đã gần một thế kỷ, nhưng vẫn còn nguyên giá trị. Đó chính là cơ sở để Đảng ta xây dựng mẫu hình người đảng viên cộng sản với những tiêu chí cụ thể, phù hợp với tình hình cách mạng và thực tiễn của cuộc sống. Đặc biệt vào những thời điểm nhạy cảm, trước những bước ngoặt của cách mạng.

Trong tình hình hiện nay, lãnh đạo sự nghiệp đổi mới của đất nước, Đảng ta đặt lên hàng đầu việc quan tâm chăm lo, bồi dưỡng phẩm chất, năng lực – đức và tài cho cán bộ, đảng viên. Tuy nhiên, bên cạnh những mặt đã làm được, trong Đảng đã và đang nổi lên những yếu kém, tiêu cực, nhất là sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức và lối sống. Tệ quan liêu, tham nhũng ở một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên còn rất nghiêm trọng. Không ít người dao động, giảm sút niềm tin và ý chí chiến đấu, phai nhạt mục tiêu, lý tưởng cách mạng. Tình trạng lợi dụng chức quyền và cương vị công tác để tham nhũng, ăn hối lộ, buôn lậu, làm giầu bất chính có chiều hướng tăng nhanh. Lối sống cá nhân thực dụng, cơ hội, chạy theo danh vị, chức quyền, lợi ích cục bộ, thu vén cá nhân… diễn ra khá phổ biến. Thậm chí có cán bộ, đảng viên sống quay lưng lại với nhân dân, ăn chơi, hưởng lạc sa đọa…. Nhất là những năm gần đây, các vụ tiêu cực, tham nhũng lớn của một bộ phận cán bộ có chức có quyền của một số ngân hàng, Tổng công ty nhà nước đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín và niềm tin của nhân dân đối với Đảng.

Tình hình trên có nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu là cấp uỷ đảng và lãnh đạo, chỉ huy các cấp chưa thực hiện nghiêm túc các quy định về công tác kiểm tra, thanh tra và chưa phát huy tốt vai trò làm chủ của cán bộ, đảng viên và quần chúng ngay từ ở cơ sở. Chậm bổ sung, cụ thể hoá và hoàn thiện các quy định về thực hiện dân chủ, về những điều đảng viên không được làm. Mặt khác không ít cán bộ, đảng viên, kể cả cán bộ lãnh đạo cấp cao mang nặng chủ nghĩa cá nhân, tư tưởng cơ hội, tham vọng quyền lực, danh lợi, tư tưởng lợi ích nhóm, thiếu gương mẫu rèn luyện bản thân, chưa tự giác và nghiêm túc thực hiện các nghị quyết và Điều lệ của Đảng. Trong khi đó, các thế lực thù địch, phản động, bằng chiến lược “diễn biến hoà bình” đang tăng cường chống phá cách mạng nước ta một cách quyết liệt. Chúng tập trung thổi phồng những sai lầm, yếu kém của ta, khoét sâu vào những hiện tượng tiêu cực trong xã hội và sự suy thoái về đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên. Từ đó đi đến phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng và sự tiên phong gương mẫu của người đảng viên.

Vấn đề đặt ra cho toàn Đảng và cho mỗi cấp uỷ từ Trung ương đến cơ sở là phải làm gì và làm như thế nào để giữ vững vai trò, vị trí và niềm tin đối với Đảng trong lòng các tầng lớp nhân dân. Làm thế nào để tiếp tục có được “Tư cách người cách mệnh” như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn.

Xuất phát từ yêu cầu nhiệm vụ và thực tiễn đang đặt ta, nhân dịp cùng nhau ôn lại những lời chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong tác phẩm Đường Kách mệnh, xin được đề xuất một vài tiêu chí của người đảng viên trong giai đoạn hiện nay như sau:

– Luôn vững vàng về chính trị, quyết tâm phấn đấu hy sinh cho mục tiêu, lý tưởng của Đảng; kiên định và quyết tâm bảo vệ những nguyên tắc cơ bản của công cuộc đổi mới. Bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, cảnh giác và đấu tranh có hiệu quả chống mọi sự tấn công của kẻ địch.

– Phải là người công dân gương mẫu, người lao động giỏi, làm việc với chất lượng tốt và hiệu quả cao; trung thực, tận tuỵ, không bóc lột.

– Thường xuyên đi đầu trong các phong trào quần chúng; có khả năng giáo dục, thuyết phục và lãnh đạo quần chúng, gắn bó mật thiết với quần chúng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của quần chúng; chăm lo và bảo vệ lợi ích chính đáng của quần chúng; kiên quyết đấu tranh chống mọi hành vi làm tổn hại tới mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với quần chúng.

– Có chí tiến thủ, tích cực học tập, rèn luyện để nâng cao phẩm chất và năng lực phù hợp với nhiệm vụ và chức trách được giao.

– Tôn trọng và chấp hành đúng nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt động của Đảng. Đề cao kỷ luật, xây dựng và bảo vệ sự đoàn kết thống nhất trong Đảng.

Từ những tiêu chí trên đây, mỗi cơ quan, đơn vị cần chi tiết hoá thành những nội dung cụ thể sát với yêu cầu nhiệm vụ chính trị của tập thể và chức trách, nhiệm vụ của từng cá nhân cán bộ, đảng viên. Hàng quý và từng năm trên cương vị, chức trách được giao, các tổ chức cơ sở đảng tập trung phân tích đánh giá chất lượng đảng viên một cách khách quan, chính xác, làm cơ sở cho việc đánh giá, sử dụng cán bộ, đảng viên, nhất là những cán bộ giữ những cương vị công tác trong các tổ chức, đoàn thể và cơ quan nhà nước. Thực hiện tốt những điều đó chính là hành động thiết thực học tập và làm theo lời Bác dạy./.

Thiếu tướng, TS Đặng Nam Điền
Chính ủy Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh
bqllang.gov.vn

Lãnh đạo Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh gặp gỡ và làm việc với Ban Giám hiệu Trường Đại học Lâm nghiệp

Trong năm 2012, giữa Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trường Đại học Lâm nghiệp đã có nhiều nội dung phối hợp hoạt động, đặc biệt là trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học công nghệ và bảo vệ môi trường.

BQLL tang quaLãnh đạo Ban Quản lý Lăng tặng quà lưu niệm cho Trường

Trường Đại học Lâm nghiệp đã cử các cán bộ có trình độ chuyên môn sâu cùng với cán bộ của Ban Quản lý Lăng thực hiện Đề tài nghiên cứu khoa học “Nghiên cứu đề xuất giải pháp tôn tạo vườn tre khu vực Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh” làm cơ sở để báo cáo Thủ tướng Chính phủ  cho phép thực hiện Dự án “Cải tạo vườn tre khu vực Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh” trong năm 2013; tham gia đóng góp ý kiến trong các hội thảo khoa học, đề xuất các giải pháp kỹ thuật trong lựa chọn giống tre trồng mới tại Lăng Bác; tư vấn việc phòng trừ sâu bệnh hại đối với các loại cây trồng trong khu vực Lăng Bác và Quảng trường Ba Đình; tư vấn giúp Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh về các nội dung, biện pháp quản lý, bảo vệ, chăm sóc và quy hoạch rừng tại Khu Di tích K9…; Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giúp bố trí các đợt tham quan, học tập, nghiên cứu, khảo sát thực tế tại Khu Di tích rừng K9 cho sinh viên của Trường Đại học Lâm nghiệp.

BQLL toan canh lam viecĐoàn cán bộ Ban Quản lý Lăng làm việc tại Trường Đại học Lâm nghiệp

Ngày 19/2/2013 vừa qua, tại Trường Đại học Lâm nghiệp đã diễn ra buổi làm việc giữa Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh và Ban Giám hiệu Nhà trường. Tham gia buổi làm việc, về phía Ban Quản lý Lăng có Thiếu tướng Nguyễn Văn Cương – Trưởng ban kiêm Tư lệnh Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh; Thiếu tướng Đặng Nam Điền – Bí thư Đảng ủy Đoàn 969, Chính ủy Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng; Đại tá Cao Đình Kiếm – Ủy viên Thường vụ Đảng ủy Đoàn 969, Chủ nhiệm Chính trị Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng; cùng các cán bộ của Văn phòng Ban Quản lý Lăng, Ban Quản lý Quảng trường Ba Đình và Trung tâm Nghiên cứu, Ứng dụng Khoa học, Công nghệ và Môi trường.

BQLL tham quan thuc nghiemĐoàn tham quan Khu rừng thực nghiệm của Trường

Về phía Trường Đại học Lâm nghiệp có Nhà giáo ưu tú, PGS.TS Nguyễn Văn Tuấn – Bí thư Đảng ủy, Phó Hiệu trưởng; Nhà giáo ưu tú, PGS. TS Phạm Văn Chương – Phó Hiệu trưởng; TS. Nguyễn Trọng Bình – Chủ nhiệm Khoa Lâm học; TS. Trần Ngọc Hải – Chủ nhiệm bộ môn Thực vật rừng; TS. Bùi Thế Đồi – Trưởng phòng KH&HTQT.

Tại buổi làm việc, Ban Giám hiệu Nhà trường đã giới thiệu khái quát về Trường Đại học Lâm nghiệp, những thành tích trong lĩnh vực đào tạo mà Nhà trường đã đạt được, những ngành nghề đào tạo, những định hướng của Nhà trường trong những năm tới cũng như các thế mạnh mà Trường có thể tham gia hợp tác với Ban Quản lý Lăng.

BQLL chup anh luu niemĐoàn chụp ảnh lưu niệm tại Trường Đại học Lâm nghiệp

Thiếu tướng Nguyễn Văn Cương, Trưởng ban Ban Quản lý Lăng đã giới thiệu về nhiệm vụ chính trị mà đơn vị đang thực hiện, quyết tâm của toàn thể cán bộ, chiến sỹ, công chức và viên chức Ban Quản lý Lăng trong việc “Giữ gìn lâu dài, bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh và phát huy ý nghĩa chính trị, văn hóa của Công trình Lăng trong giai đoạn mới” và mong muốn tiếp tục được hợp tác nhiều mặt với Nhà trường, đặc biệt trong các lĩnh vực Kiến trúc cảnh quan, Lâm nghiệp đô thị, Quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng…

Kết thúc buổi làm việc, Thiếu tướng Nguyễn Văn Cương và Đoàn cán bộ của Ban Quản lý Lăng đã tặng quà lưu niệm cho Nhà trường bức chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Nguyễn Mạnh Tuyến
bqllang.gov.vn