Tag Archive | Giáo dục

Triết lý giáo dục Hồ Chí Minh qua “Bài nói chuyện tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội”

Ngày 21-10-1964, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Tổng thống Mali Môđibô Câyta đến thăm Trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Người đã nói chuyện với các thầy cô giáo, sinh viên và cán bộ, công nhân viên của trường. Bài viết nêu một số kiến giải bước đầu về triết lý giáo dục Hồ Chí Minh từ “Bài nói chuyện tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội” của Người và qua đó muốn khẳng định triết lý giáo dục Hồ Chí Minh không phải chỉ thể hiện ở lời nói mà là cơ sở định hướng cho hoạt động thực tiễn giáo dục và xây dựng con người.

chu-tich-ho-chi-minh-ve-tham-truong-dhsphn-lan-thu-nhat-19571.jpgChủ tịch Hồ Chí Minh trong một lần về thăm Trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Ảnh tư liệu.

1. Trường Sư phạm phải là “trường mô phạm”

Trong thực tiễn lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành sự quan tâm rất lớn đối với đối với ngành Sư phạm và sự nghiệp phát triển giáo dục nước nhà.

Ngày 10 tháng 10 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 45 thành lập Ban Đại học Văn khoa tại Hà Nội – tiền thân trực tiếp của Trường ĐHSP Hà Nội. Trong đó, Chủ tịch Chính phủ khẳng định việc đào tạo giáo viên trung học là “rất nên cần thiết” để nâng cao nền văn hóa Việt Nam, “xứng danh với một nước độc lập và để theo kịp bước các nước tiên tiến trên hoàn cầu”. Sự kiện này đã hiện thực hóa triết lý “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”. Tiếp sau đó, Chính phủ cho thành lập ngành Sư phạm (1946) và Trường Sư phạm Cao cấp – Trường ĐHSP Hà Nội (1951).

Chủ tịch Hồ Chí Minh có nhiều lần tới thăm và nói chuyện với cán bộ, giáo viên, sinh viên của Trường ĐHSP Hà Nội, thể hiện sự quan tâm tin tưởng đặc biệt của Người đối với trường sư phạm. Năm 1957, Người tới thăm và căn dặn cán bộ giáo viên về cách dạy dỗ phải xuất phát từ tình yêu thương, kiên nhẫn thuyết phục học trò,…. Năm 1960, tới thăm Trường, Người giáo dục sinh viên phát huy tinh thần phấn đấu trong học tập và cống hiến cho cách mạng. Năm 1964, Người tới thăm Trường cùng với Tổng thống Môđibô Câyta và phu nhân cùng đoàn đại biểu nhà nước Cộng hòa Mali. Sự kiện này cũng khẳng định được vị thế, vai trò của trường sư phạm trong chính sách giáo dục quan hệ ngoại giao, hợp tác quốc tế của Đảng và Nhà nước ta.

Mở đầu Bài nói chuyện, Chủ tịch Hồ Chí Minh nghiêm khắc tự phê bình: “Vì bận nhiều việc, Bác ít đến thăm nhà trường”, sau đó, Người nêu lên những vấn đề mang tính triết lý giáo dục như sau:

– Giáo viên sư phạm cần phải xung phong gương mẫu đi đầu trong việc học tập cũng như trong mọi việc. Trong đó có nhiệm vụ phát triển giáo dục miền núi (“đưa cái hiểu biết văn hóa lên cho đồng bào”). Người khẳng định việc này đã có kết quả tốt và“đó đều là công lao của nhà trường, của các cô giáo, thầy giáo”.

– Sứ mệnh cao cả của trường sư phạm cần phải thực hiện là “làm thế nào để nhà trường này chẳng những là trường sư phạm mà còn là trường mô phạm của cả nước”. Từ “mô phạm” được hiểu là khuôn phép, mẫu mực, chuẩn mực để người khác tôn trọng và dựa vào đó mà noi theo. Khi Người nói “trường mô phạm” là nói đến con người – chủ thể – trong Nhà trường, đó chính là cán bộ, giáo viên, công nhân viên, học sinh, sinh viên. Điều này có nghĩa là Người đòi hỏi ở những chủ thể của Nhà trường phải (và phải phấn đấu để đạt được) là khuôn mẫu, chuẩn mực về cả đạo đức, tác phong, trình độ chuyên môn, tinh thần sáng tạo, tiên phong gương mẫu về mọi mặt. Đây là cái đích phấn đấu của tất cả mọi người trong Nhà trường. Bởi thế, đối với Trường ĐHSP Hà Nội, triết lý đó của Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn được coi là di sản tinh thần to lớn, là “kim chỉ nam” cho mọi hoạt động của Nhà trường và thực tiễn phát triển 60 năm qua đã chứng minh “sự dẫn đường” bởi triết lý giáo dục đó của Người. Hiện nay, khẩu hiệu hành động của Trường ĐHSP Hà Nội là: “Mô phạm – Sáng tạo – Cống hiến”.

Triết lý giáo dục Hồ Chí Minh về trường sư phạm “phải là trường mô phạm” cần phải được coi là tuyên ngôn về ngành sư phạm Việt Nam và các trường sư phạm cần coi đó là “kim chỉ nam” cho mọi hoạt động của nhà trường. Đến nay triết lý còn nguyên giá trị lý luận và ý nghĩa thực tiễn mang tính thời đại. Trước yêu cầu của sự phát triển đất nước hiện nay, đề nghị Đảng, Nhà nước, Bộ Giáo dục và Đào tạo quan tâm hơn nữa đối với ngành sư phạm, đặc biệt tạo nhiều cơ chế đặc thù, mở ra những cơ hội phát triển thực sự mới cho mạng lưới các trường sư phạm, thúc đẩy hệ thống giáo dục quốc dân hội nhập quốc tế.

2. Phong trào thi đua phải thực chất, hiệu quả

Trong Bài nói chuyện, điều đầu tiên nói về ưu điểm của Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Người đã khẳng định: “Một là tất cả mọi người, các cô giáo, thầy giáo, các cán bộ, công nhân viên cũng như các cháu học sinh đều có tinh thần khắc phục khó khăn làm tròn nhiệm vụ. Đó là một điều tốt… Một ưu điểm nữa là phong trào thi đua “Hai tốt” ở đây làm khá. Bác nói rằng khá, chứ chưa phải trăm phần trăm tốt đâu nhé”.

Sức sống của phong trào thi đua “Hai tốt” (dù được triển khai cách đây nửa thế kỷ – 1961) tự nó đã khẳng định tính hiệu quả trong toàn ngành giáo dục. “Hai tốt” đơn giản chỉ là “dạy tốt, học tốt” nhưng bao chứa tất cả ý chí quyết tâm, lòng nhiệt huyết, tận tụy, sự nỗ lực cố gắng, phấn đấu bền bỉ, sự hy sinh, năng lực sáng tạo, chủ động, và cả niềm tin, sự kỳ vọng,… của hai chủ thể chính đó là nhà giáo và học trò. “Hai tốt” không phải là một phong trào mang tính hình thức nảy sinh từ tư duy các nhà quản lý mà là kết quả của quá trình tổng kết thực tiễn giáo dục của toàn ngành mà trực tiếp được bắt đầu nhân rộng, phổ biến từ một mô hình thi đua đã được kiểm nghiệm qua thực tiễn ở một trường học tại địa phương – Trường THCS Bắc Lý (huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam).

Sau này, trong bức thư cuối cùng gửi cho ngành giáo dục cả nước (10/1968), Người nhấn mạnh quyết tâm và kỳ vọng vào hiệu quả toàn diện của phong trào: “Dù khó khăn đến đâu cũng phải tiếp tục thi đua dạy tốt và học tốt. Trên nền tảng giáo dục chính trị và lãnh đạo tư tưởng tốt, phải phấn đấu nâng cao chất lượng văn hoá và chuyên môn nhằm thiết thực giải quyết các vấn đề do cách mạng nước ta đề ra và trong một thời gian không xa, đạt những đỉnh cao của khoa học và kỹ thuật”.

Từ kết quả của phong trào thi đua “dạy tốt, học tốt” với sự định hướng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, có thể nêu lên nội dung triết lý giáo dục của Người: Phong trào thi đua chỉ có sức lan tỏa và phát huy hiệu quả thiết thực khi nó được bắt đầu từ mô hình của thực tiễn, đối tượng thực hiện rõ ràng, mục tiêu có tính xuyên suốt, dễ hiểu, phương thức tổ chức thực hiện cụ thể, sáng tạo, sinh động và việc kiểm tra đánh giá, tổng kết đơn giản (bởi hiệu quả thực hiện phải dễ thấy qua người thực(Thầy – Trò), việc thực (Dạy – Học),…

Hầu hết các phong trào thi đua sau này được ngành giáo dục phát động thực chất là cụ thể hóa hoặc dưới hình thức khác cho phù hợp với điều kiện thực tiễn nhưng về bản chất vẫn nhằm mục đích cơ bản nhất là “dạy tốt, học tốt”.

3. Trường sư phạm phải là thành trì vững chắc của đạo đức xã hội

Trong Bài nói chuyện, Người nêu mục tiêu giáo dục phải đạt được là đào tạo con người phát triển toàn diện cả về tài và đức: “Dạy cũng như học phải biết chú trọng cả tài lẫn đức. Đức là đạo đức cách mạng. Đó là cái gốc, rất là quan trọng. Nếu không có đạo đức cách mạng thì có tài cũng vô dụng. Đạo đức cách mạng là triệt để trung thành với cách mạng, một lòng một dạ phục vụ nhân dân”.

– Khi Người nêu yêu cầu trong dạy và học “phải biết chú trọng cả tài lẫn đức” cũng có nghĩa đặt ra nhiệm vụ và mục tiêu giáo dục toàn diện. Tuy nhiên, việc Người đưa ra định nghĩa về “đức” và nhận định vai trò của đạo đức cách mạng thì không có nghĩa là hạ thấp vai trò của “tài”. Bởi trong mỗi thời điểm lịch sử nhất định, việc giáo dục toàn diện cho con người là nhiệm vụ cơ bản nhưng nhấn mạnh một mặt nào đó cũng là do xuất phát từ nhiệm vụ kinh tế – xã hội. Hồ Chí Minh dùng khái niệm “đạo đức cách mạng” để giải thích về “đức” và coi đó “là cái gốc, rất là quan trọng” nhằm phân biệt với đạo đức truyền thống được hình thành trong xã hội cũ. Theo Người, nhiệm vụ của giáo dục là xây dựng con người mới với đạo đức mới (có nội dung cốt lõi là “triệt để trung thành với cách mạng, một lòng một dạ phục vụ nhân dân”). Như thế, nhiệm vụ giáo dục phải gắn liền với thực tiễn đời sống xã hội, đào tạo con người phải nhằm mục đích phụng sự Tổ quốc và Nhân dân.

– Yêu cầu chú trọng giáo dục đạo đức cách mạng được Người nêu lên ở Trường ĐHSP Hà Nội cho chúng ta thấy tư tưởng cốt lõi về đào tạo ngành sư phạm phải đặc biệt chú trọng đến nội dung giáo dục đạo đức bởi nghề dạy học “rất là quan trọng, rất là vẻ vang”. Người khẳng định: “Nếu không có đạo đức cách mạng thì có tài cũng vô dụng”. Điều này không chỉ đặt ra ở phương diện triết lý giáo dục mà trong thực tiễn, đòi hỏi mỗi cán bộ, giáo viên, học sinh, sinh viên phải thấu triệt và không ngừng nỗ lực hiện thực hóa yêu cầu này.

Chủ tịch Hồ Chí Minh còn nêu lên những yêu cầu cụ thể:

– Yêu cầu về lý tưởng sống phụng sự Tổ quốc và Nhân dân, “quyết tâm phải làm tròn nhiệm vụ”, phải hòa mình vào thực tế sinh động đầy khó khăn, gian khổ để qua đó hiểu biết thêm thực tiễn giúp cho giáo dục thực chất.

– Yêu cầu đối với quan hệ xã hội trong Nhà trường trước hết “phải đoàn kết”: “Đoàn kết thật sự, giữa thầy và thầy, giữa thầy và trò, giữa trò và trò, giữa cán bộ và công nhân. Toàn thể nhà trường phải đoàn kết thành một khối, đoàn kết phải thật sự trăm phần trăm chứ không phải chỉ là đoàn kết miệng”. Trong mối quan hệ giữa trò với trò phải đảm bảo tinh thần bình đẳng, phải “thật sự coi nhau như anh em, chị em ruột thịt trong một nhà”, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ, không được có ý ganh ghét, đố kỵ, hống hách,…

– Yêu cầu về phẩm chất Nhà giáo: Các cô giáo, thầy giáo cần “phải có chí khí cao thượng, phải “tiên ưu hậu lạc” nghĩa là khó khăn thì phải chịu trước thiên hạ, sung sướng thì hưởng sau thiên hạ. Đây là đạo đức cách mạng”, thường xuyên “thi đua phát triển ưu điểm, sửa chữa khuyết điểm” để trở nên mẫu mực, chuẩn mực; “Thầy cũng như trò, cán bộ cũng như nhân viên, phải thật thà yêu nghề mình. … Người thầy giáo tốt – thầy giáo xứng đáng là thầy giáo – là người vẻ vang nhất. Dù là tên tuổi không đăng trên báo, không được thưởng huân chương, song những người thầy giáo tốt là những anh hùng”.

Thực tiễn đời sống xã hội hiện nay đặt ra nhiều vấn đề liên quan đến đạo đức trong ngành giáo dục. Gần đây, tình trạng vi phạm đạo đức nhà giáo và bạo lực học đường ngày càng gia tăng và trở nên nghiêm trọng. Vấn đề giáo dục đạo đức hơn bao giờ hết trở thành mối quan tâm trước hết của toàn xã hội.

Từ những chỉ dẫn sâu sắc mang tính triết lý giáo dục trên đây của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bài phát biểu tại chính ngôi trường đại học đầu tiên của ngành sư phạm, chúng tôi đề nghị, Bộ Giáo dục – Đào tạo cần đề cao hơn nữa về vai trò và sứ mệnh của các trường sư phạm, đặc biệt các trường Đại học Sư phạm phải được coi là thành trì vững chắc nhất bảo vệ, giữ gìn, giáo dục và phát huy nền tảng đạo đức xã hội.[2] Bởi trước đây, đã có thời kỳ, Trường ĐHSP Hà Nội được coi như “một loại trường Đảng”, có sứ mệnh như là “pháo đài bảo vệ chủ nghĩa xã hội” và thực tế thông qua những thành quả đào tạo đã phát huy tốt vai trò đó trong toàn ngành giáo dục và toàn xã hội.

Thay đổi nhận thức là một bước cơ bản để thay đổi hành động. Đạo đức nhà giáo đại diện cho nền tảng của đạo đức xã hội. Quan tâm tới sự phát triển toàn diện trong giáo dục, đặc biệt chú trọng giáo dục đạo đức với những chính sách ưu tiên cụ thể, kịp thời cho chủ thể giáo dục (thầy – trò) cũng như việc xử lý nghiêm minh những trường hợp vi phạm đạo đức nhà giáo sẽ là cơ sở thực sự tin cậy để xây dựng nền tảng đạo đức xã hội, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, đảm bảo cho sự phát triển bền vững của đất nước.

4. Triết lý “trồng cây” – “trồng người” và tổ chức giáo dục trong nhà trường

Chủ tịch Hồ Chí Minh phát động Tết trồng cây vào mùa xuân với ý nghĩa “làm cho đất nước càng ngày càng xuân”. Lợi ích của trồng cây thì ai cũng hiểu nhưng triết lý sâu xa trong việc trồng cây chính là sự nghiệp trồng người: “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”.

Trong bài nói chuyện, sau khi nhắc nhở về kết quả làm vệ sinh và trồng cây còn hạn chế, Người đặt yêu cầu: “Các cô, các chú và các cháu phải làm cho vườn của trường thành một vườn hoa, vườn cây tươi đẹp”.

Nếu hiểu việc trồng cây liên hệ tới sự nghiệp trồng người thì ở đây Hồ Chí Minh đã cho chúng ta những chỉ dẫn cụ thể, sinh động. Nếu “tham trồng cây nhiều, nhưng không chăm bón cho tốt” thì sao mà đạt kết quả tốt được. Điều đó cũng như trong công tác đào tạo, không phải cứ tham về số lượng, mà không đảm bảo về điều kiện đào tạo cho tốt, như về đội ngũ, về cơ sở vật chất, thiết bị,… thì không thể đảm bảo chất lượng được và đương nhiên không đáp ứng được yêu cầu của xã hội. Chính vì thế, nhất định phải đảm bảo tốt về điều kiện để “trồng cây nào thì phải chăm bón cho tốt cây đó. Như thế, hơn là tham trồng nhiều mà kết quả ít”.

Từ triết lý “trồng cây” – “trồng người” của Hồ Chí Minh có thể nhận thấy rằng: Đối với việc trồng người (sự nghiệp giáo dục – điều kiện để tạo nên con người) thì không thể cho phép người ta tạo ra phế phẩm, dù chỉ ở trong suy nghĩ.

Điều đặc biệt, chỉ trong một đoạn ngắn nhắc nhở việc trồng cây, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu lên 4 từ “phải”: “phải chăm bón cho tốt cây”, “phải làm cho vườn trường thành một vườn hoa, vườn cây tươi đẹp”, “phải làm”, “làm thì phải có tổ chức”. Triết lý sâu sắc của Người ở đây là: kể từ việc trồng cây đến việc trồng người, nhất định con người phải là chủ thể, phải chủ động thực hiện và khi thực hiện thì phải đảm bảo điều kiện, phải có trách nhiệm, phải đạt hiệu quả và có tác động thúc đẩy môi trường – xã hội phát triển. Điều này không chỉ khẳng định chân lý: Con người là chủ thể của lịch sử, của xã hội mà còn thể hiện rõ quan điểm của Hồ Chí Minh: “Giáo dục là sự nghiệp của quần chúng”.

Về công tác tổ chức giáo dục trong nhà trường, Người chỉ rõ: “Làm thì phải có tổ chức… Có tổ chức thì nhất định làm được tốt”. Về phương pháp học tập, đối với người học “không nên học gạo, không nên học vẹt” mà “Học phải suy nghĩ, học phải liên hệ với thực tế, phải có thí nghiệm và thực hành. Học với hành phải kết hợp với nhau” [4;331]. Để phương pháp dạy và học thực sự hiệu quả, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu đối với cả giáo viên và học sinh phải đảm bảo kỷ cương nền nếp: “Cần phải giữ gìn kỷ luật cho tốt, phải sạch sẽ, gọn gàng. Kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa tự do, chống lề mề, luộm thuộm”.

Tóm lại, tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục là một hệ thống quan điểm thể hiện tầm nhìn chiến lược sâu sắc về vai trò của giáo dục đối với sự phát triển của con người và toàn xã hội. Trong đó có những tư tưởng đi trước thế giới, trở thành chân lý được nhân loại tiến bộ thừa nhận và tiếp tục thực hiện tư tưởng của Người[3].Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục chứa đựng kho tàng triết lý sâu sắc, đó là kết quả của sự thẩm thấu và phát triển những tinh hoa, cốt lõi của nền văn hóa dân tộc cùng với những tri thức tiến bộ của văn minh nhân loại. Kho tàng triết lý ấy cần được tiếp tục khai thác nhằm xây dựng cơ sở lý luận có tính chất nền tảng, kim chỉ nam của triết lý giáo dục Việt Nam hiện đại, góp phần vào nội dung của chủ thuyết phát triển Việt Nam đang được đầu tư nghiên cứu. Hiện thực của triết lý giáo dục Hồ Chí Minh chính là ở cuộc đời và sự nghiệp của Người.

NCS. Nguyễn Bá Cường
Đại học Sư phạm Hà Nội

hochiminhhoc.com

Đẩy mạnh giáo dục đạo đức Hồ Chí Minh cho cán bộ, đảng viên

(ĐCSVN)- Mỗi một giai cấp trong lịch sử, mỗi một dân tộc, một cộng đồng dù lớn, hay nhỏ đều có giá trị và chuẩn mực đạo đức riêng. Đạo đức thuộc phạm trù ý thức xã hội, cũng như các loại hình thái ý thức xã hội khác, nó được hình thành và phát triển trên một cơ sở kinh tế – xã hội nhất định và điều kiện lịch sử nhất định.

Đạo đức của giai cấp vô sản – đạo đức cộng sản – được hình thành và phát triển trong cuộc đấu tranh giải phóng giai cấp những người lao động, giải phóng dân tộc và nhân loại khỏi áp bức, bất công. Đạo đức ấy tác động góp phần thúc đẩy cuộc đấu tranh đó. Lênin cho rằng đạo đức cộng sản góp phần cải tạo xã hội cũ và xây dựng một xã hội mới tốt đẹp. Trên ý nghĩa đó đạo đức mang tính cách mạng.

Nhận thức vai trò chủ động, tích cực của đạo đức, ngay khi chuẩn bị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, năm 1927 trong tác phẩm Đường kách mệnh, Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đã đặt lên trang đầu nội dung về tư cách một người cách mệnh. Có thể coi đó là chuẩn mực đầu tiên cần có cho những ai bước vào con đường cách mạng. Tư cách ấy có 3 nhóm vấn đề: tự mình phải làm gì; đối với người phải thế nào; làm việc phải như thế nào. Trong 14 điểm tự mình phải làm gì rất đáng chú ý như: Giữ chủ nghĩa cho vững; không hiếu danh, không kiêu ngạo; nói thì phải làm; ít lòng tham muốn về vật chất; cần kiệm; vị công vong tư … Có ý nghĩa sâu sắc, bền vững. Nhiều thế hệ các chiến sĩ cách mạng, những đảng viên cộng sản đã giữ vững khí tiết cộng sản, ý chí đấu tranh trên nền đạo đức đó.

Ngay từ khi đi tìm đường cứu nước và chuẩn bị thành lập Đảng, chính Nguyễn Ái Quốc là hiện thân của những tư cách đạo đức đó. Mùa xuân năm 1930 Nguyễn Ái Quốc sáng lập Đảng cộng sản Việt Nam. Từ đó Đảng được trang bị lý luận chủ nghĩa Mác-Lênin, những tư tưởng cách mạng của Nguyễn Ái Quốc và cả đạo đức mới – đạo đức cách mạng.

Với thắng lợi của cuộc cách mạng Tháng Tám năm 1945 Đảng Cộng sản trở thành Đảng cầm quyền ở Việt Nam. Ngay sau đó, trong bộ máy chính quyền cách mạng các cấp đã xuất hiện những tiêu cực, những căn bệnh cần phải loại trừ. Trong thư gửi chính quyền các cấp ngày 17-10-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra những căn bệnh như: Trái phép, Cậy thế, Hủ hoá, Tư túng, Chia rẽ, Kiêu ngạo. Người nhấn mạnh: “Chúng ta không sợ sai lầm, nhưng đã nhận biết sai lầm thì phải ra sức sửa chữa. Vậy nên, ai không phạm những lầm lỗi trên này, thì nên chú ý tránh đi, và gắng sức cho thêm tiến bộ. Ai đã phạm những lầm lỗi trên này, thì phải hết sức sửa chữa, nếu không tự sửa chữa thì Chính phủ sẽ không khoan dung”.

Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc vô cùng khó khăn gian khổ đặt ra những yêu cầu nghiêm khắc về tu dưỡng đạo đức cách mạng. Trong tác phẩm sửa đổi lối làm việc (10-1947) Chủ tịch Hồ Chí Minh nghiêm khắc chỉ ra những khuyết điểm, sai lầm của một số cán bộ, đảng viên với các bệnh tham nhũng, lười biếng, kiêu ngạo, hiếu danh, thiếu kỷ luật, hẹp hòi địa phương chủ nghĩa, bè cánh cá nhân… Người nhấn mạnh 5 đức tính tốt cần rèn luyện đó là: nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm. Đó là đạo đức cách mạng.
Sau ngày miền Bắc được giải phóng (1954) và tiến lên chủ nghĩa xã hội, Đảng cầm quyền đứng trước những nhiệm vụ mới mẻ, nặng nề. Điều đó đòi hỏi cán bộ, đảng viên của Đảng phải có trình độ học vấn và lý luận nhất là lý luận về xây dựng chủ nghĩa xã hội, hiểu biết về kinh tế, nắm bắt quy luật và đặc điểm thực tiễn. Mặt khác phải tu dưỡng đạo đức nhiều hơn để khắc phục những nguy cơ của Đảng cầm quyền. Năm 1958, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết tác phẩm quan trọng: Đạo đức cách mạng. Người nêu rõ, đạo đức cách mạng là: “Quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng. Đó là điều chủ chốt nhất. Ra sức làm việc cho Đảng, giữ vững kỷ luật của Đảng, thực hiện tốt đường lối, chính sách của Đảng. Đặt lợi ích của Đảng, của nhân dân lao động lên trên, lên trước lợi ích riêng của cá nhân mình. Hết lòng hết sức phục vụ nhân dân. Vì Đảng, vì dân mà đấu tranh quên mình, gương mẫu trong mọi việc. Ra sức học tập chủ nghĩa Mác-Lênin, luôn luôn dùng tự phê bình và phê bình để nâng cao tư tưởng và cải tiến công tác của mình và cùng đồng chí mình tiến bộ”.

Ngày 3-2-1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết bài báo: “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân. Người cho rằng: “Để làm cho tất cả cán bộ, đảng viên xứng đáng là những chiến sĩ cách mạng, Đảng ta phải ra sức tăng cường giáo dục toàn Đảng về lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, về đường lối, chính sách của Đảng, về nhiệm vụ và đạo đức của người đảng viên”. “Mỗi cán bộ, đảng viên phải đặt lợi ích của cách mạng, của Đảng, của nhân dân lên trên hết, trước hết. Phải kiên quyết quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng, bồi dưỡng tư tưởng tập thể, tinh thần đoàn kết, tính tổ chức và kỷ luật”. Phải đi sâu đi sát thực tế, gần gũi quần chúng, cố gắng học tập, rèn luyện, nâng cao trình độ hiểu biết để làm tốt mọi nhiệm vụ.

Trong bản Di chúc lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”. Làm theo Di chúc của Người, trong công cuộc đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn luôn chú trọng đổi mới, chỉnh đốn Đảng, coi xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt. Quan điểm nhất quán của Đảng là coi trọng đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện đảng viên cả về đức và tài trong đó đức là gốc.

Đại hội X Đảng Cộng sản Việt Nam (4-2006) nhấn mạnh nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng nhằm đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển. Nội dung xây dựng, đổi mới, chỉnh đốn Đảng được Đại hội đề cập toàn diện từ nâng cao trình độ trí tuệ, lý luận, bản lĩnh chính trị đến đổi mới tổ chức, bộ máy, công tác cán bộ, từ thực hiện tốt nhất những nguyên tắc tổ chức, hoạt động của Đảng đến kiện toàn và đổi mới tổ chức hoạt động của tổ chức cơ sở đảng, từ đổi mới phương thức lãnh đạo đến nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên. Chất lượng đội ngũ đảng viên thể hiện ở trình độ học vấn, hiểu biết lý luận, ở năng lực tổ chức thực tiễn, năng lực hoàn thành nhiệm vụ được giao, ở khả năng, trình độ chuyên môn cao và ở phẩm chất, đạo đức tốt. Rèn luyện về phẩm chất đạo đức, nâng cao đạo đức cách mạng trở thành yêu cầu và nội dung rất quan trọng trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Đại hội X cũng thẳng thắn chỉ ra rằng “Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, bệnh cơ hội, chủ nghĩa cá nhân và tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí trong một bộ phận cán bộ công chức diễn ra nghiêm trọng”.

Để khắc phục tình trạng đó, đẩy mạnh công tác xây dựng, đổi mới, chỉnh đốn Đảng, Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam đã và đang kiên quyết chống tham nhũng, lãng phí, tệ quan liêu, vô cảm, vô trách nhiệm của một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức. Từ ngày 1-6-2006 Luật Phòng, chống tham nhũng, lãng phí có hiệu lực, là cơ sở pháp lý quan trọng để chống tham nhũng, lãng phí có hiệu quả. Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X (7-2006) đã ra nghị quyết Về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí. Trung ương Đảng nhấn mạnh quan điểm, vừa tích cực, chủ động phòng ngừa, vừa kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, trong đó phòng ngừa là chính. Làm sao để tệ nạn tham nhũng, lãng phí bị đẩy lùi, không còn diễn ra nữa. Đó là mong muốn của toàn Đảng, toàn dân. Các giải pháp cơ bản đã được đề ra. Trong các giải pháp đó, vấn đề giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên là rất quan trọng và cần thiết và phải được thực hiện thường xuyên, liên tục, sâu sắc.

Ngày 7-11-2006 Bộ Chính trị đã ra Chỉ thị số 06-CT/TƯ về học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Toàn Đảng thực hiện Chỉ thị đó với đợt sinh hoạt chính trị học tập và làm theo đạo đức Hồ Chí Minh từ ngày 3-2-2007. Hồ Chí Minh không chỉ nêu ra những nội dung, tiêu chuẩn của đạo đức cách mạng để mọi đảng viên, cán bộ phấn đấu, rèn luyện, mà chính Người là hiện thân và nêu tấm gương sáng ngời về đạo đức cách mạng.

Đạo đức Hồ Chí Minh trước hết là Người đã suốt đời “hết lòng hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân”, là tận trung với nước, tận hiếu với dân. Độc lập cho Tổ quốc, hạnh phúc cho đồng bào là mục tiêu phấn đấu của Người. Ham muốn tột bậc của Người là làm sao cho nước ta hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành. Một ngày mà đất nước chưa độc lập, thống nhất, đồng bào còn chịu khổ là một ngày Bác ăn không ngon, ngủ không yên. Người đau nỗi đau của nhân dân, vui niềm vui và hạnh phúc của nhân dân. Yêu nước, thương dân, một lòng tận tụy vì nước, vì dân, mở lòng mình hoà vào cuộc sống của nhân dân.

Đạo đức Hồ Chí Minh là ý chí, nghị lực vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, chấp nhận mọi hiểm nguy với niềm tin vào tương lai của cách mạng, của đất nước, dân tộc, tin vào con người. Đó là một con người mà uy vũ không thể khuất phục, gian khó chẳng thể chuyển lay, vật chất không thể cám dỗ. Ở Hồ Chí Minh sáng ngời lý tưởng cộng sản, phấn đấu cho một xã hội tốt đẹp, công bằng, căm ghét những gì xấu xa, hư hỏng. Người kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân, vì chủ nghĩa cá nhân là nguồn gốc của mọi tiêu cực và những căn bệnh xấu, chủ nghĩa cá nhân làm tha hoá con người:
Hồ Chí Minh đã sống “một cuộc đời oanh liệt, đầy gian khổ hy sinh, vô cùng cao thượng và phong phú, vô cùng trong sáng và đẹp đẽ”. Người là hiện thân của lòng nhân ái, vị tha, khoan dung, nhân hậu, của “muôn vàn tình thân yêu” để lại cho muôn đời con cháu. Người là bậc đại trí, đại nhân, đại dũng nhưng lại vô cùng khiêm tốn, giản dị, càng vĩ đại vì giản dị. Người luôn luôn sống như một người bình thường, hoà đồng, gần gũi với nhân dân và không chấp nhận bất cứ một đặc ân, đặc quyền, đặc lợi gì cho riêng mình, không ham danh lợi, chức vụ, tiền tài. Hồ Chí Minh không có của cải, tài sản riêng và trên ngực không một tấm Huân chương, “một đời thanh bạch chẳng vàng son”.

Hồ Chí Minh là mẫu mực về cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Suốt đời Người học tập và làm việc không mệt mỏi để phụng sự Tổ quốc và nhân dân. Trí tuệ Hồ Chí Minh là kết quả của sự học tập, nghị lực tự học phi thường, học từ thực tiễn, từ sách vở, từ giá trị văn hoá của dân tộc và nhân loại. Người vừa lao động vừa hoạt động cách mạng. Khi ở cương vị lãnh đạo cao nhất vẫn tiết kiệm từng đồng tiền, hạt gạo, từng mẩu giấy, mẩu bút chì, tranh thủ từng phút, từng giờ cho công việc. Ở Hồ Chí Minh là sự công minh, chính trực, không thiên tư, thiên vị, đồng thời chứa chan tình yêu thương đối với gia đình, họ hàng, quê hương, xứ sở, một con người trung hiếu vẹn toàn.

Đạo đức Hồ Chí Minh là sự thống nhất giữa nói và làm. Người coi trọng công việc thực tế mà nói ít. Đã nói là phải làm. Người trân trọng, khích lệ những điều tốt đẹp những gương người tốt việc tốt. Người phê phán thói ba hoa, nói suông, hứa suông mà không làm hoặc nói hay mà làm dở, nói một đằng làm một nẻo. Người kết hợp mật thiết giữa lý luận với thực tiễn, vận dụng sáng tạo lý luận vào thực tiễn Việt Nam và luôn luôn tổng kết thực tiễn để trở thành lý luận, tư tưởng Hồ Chí Minh. Trên ý nghĩa đó, đạo đức đúng như Lênin nói đã góp phần cải tạo, đẩy lùi cái xấu và xây dựng một xã hội tốt đẹp.

Học tập và làm theo đạo đức Hồ Chí Minh chắc chắn làm cho Đảng ta, Nhà nước ta mạnh lên, chế độ ta và mỗi con người tốt đẹp thêm lên và tin rằng sẽ ngăn chặn, đẩy lùi được tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí và mọi thói hư, tật xấu khác làm cho công cuộc đổi mới theo con đường xã hội chủ nghĩa có thêm nhiều thành tựu mới, thực hiện thành công nguyện ước của Bác Hồ.

PGS.TS Nguyễn Trọng Phúc

dalat.gov.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh với chiến lược xây dựng xã hội học tập

Vấn đề “Xã hội học tập” mà ngày nay các quốc gia coi là tiêu điểm của chính sách phát triển đã được Bác Hồ khai sáng trong tư duy và chiến lược hành động cho nước ta ngay từ những ngày đầu của chính quyền cách mạng.

index.jpgBác Hồ thăm lớp bình dân học vụ. Ảnh: Tuấn Anh

Xã hội học tập chỉ thành hình và phát triển khi người quản  lý thúc đẩy được mọi người dân có nhu cầu học tập, có khát vọng học tập. Nhu cầu này gắn liền với việc quản lý hỗ trợ cho nhân dân nâng cao năng lực tiếp nhận sự học tập và mở rộng cơ hội học tập cho nhân dân.

Quản lý phải làm sao cho bộ ba “Nhu cầu – Năng lực – Cơ hội” gắn bó chặt chẽ với nhau.

Không tạo ra nhu cầu đích thực thì dù có ra sức nâng cao năng lực và mở rộng cơ hội đến đâu cũng không thể hiện thực được mục tiêu về xã hội học tập.

Song khi đã tạo ra nhu cầu – Người dân có tha thiết học mà người quản lý không giúp người dân có năng lực để “Học được” và cơ hội “Được học” thì cũng không thể hình thành xã hội học tập.

Nhu cầu càng lớn thì năng lực và cơ hội càng phải được nâng cao và mở rộng và ngược lại càng nâng cao năng lực và mở rộng cơ hội học tập thì càng phải thúc đẩy nhu cầu.

Để cho ba nhân tố này rời rạc với nhau thì không thể nói đến xã hội học tập. Xã hội học tập hội tụ và làm phát triển ba nguồn vốn: vốn con người, vốn tổ chức, vốn xã hội, nó là nhân tố đưa quốc gia tăng trưởng có chất lượng và phát triển bền vững.

Hiện nay có quan niệm xã hội phải tiến tới “Kinh tế tri thức”, đạt “Kinh tế tri thức”, mới có thể xây dựng xã hội học tập. Không ai phủ nhận tầm quan trọng của kinh tế tri thức tạo ra nhu cầu rộng lớn và điều kiện thuận lợi về học tập để có một xã hội học tập đích thực và bền vững.

Tuy nhiên cứ phải chờ có “Kinh tế tri thức” mới xây dựng được xã hội học tập thì những nước nghèo, những nước chậm phát triển và đang phát triển sẽ mất bao nhiêu năm (?) mới đi tới xã hội học tập.

Thực tế của Việt Nam từ sau Cách mạng tháng 8/1945 và suốt năm 1946 đã chứng minh cho một điều khác hẳn. Khi bắt đầu xây dựng chính quyền cách mạng (2/9/1945) 95% nhân dân còn mù chữ, nạn đói đã làm kiệt quệ nền kinh tế; giặc ngoại xâm với những kẻ thù hung bạo xảo quyệt nhất can thiệp vào nước ta.

Bác Hồ người chèo lái con thuyền cách mạng trong lúc đất nước còn nguy nan đã chấn hưng dân khí, khai sáng cho dân tộc ý chí quyết tâm đẩy lùi cái dốt của bản thân, cái dốt của cộng đồng, của đất nước. Bác đã lãnh đạo, tạo cho toàn dân có nhu cầu trở thành một dân tộc thông thái làm cho mọi người giác ngộ “Dân cường nước thịnh”, “Dân mạnh nước giàu” và trên cơ sở này Người tổ chức cho chính quyền cách mạng dù còn trứng nước có các phương án quản lý hiệu quả nâng cao năng lực học tập của mọi người và mở rộng cơ hội học tập cho  mọi người.

Ngày 2/9/1945 tiếp theo bản Tuyên ngôn độc lập mà vị Chủ tịch nước long trọng đọc trước quốc dân đồng bào, tuyên bố sự ra đời của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà trước thế giới, Chính phủ đã nêu ra chương trình, nội dung chính của chính sách phát triển đất nước. Mục tiêu của giáo dục trong chương trình này đã được khẳng định: “Nền giáo dục mới đang ở thời kỳ tổ chức. Chắc chắn là bậc sơ học sẽ cấp bách. Trong thời hạn rất ngắn sẽ thi hành lệnh bắt buộc học chữ quốc ngữ để chống nạn mù chữ đến triệt để. Vấn đề vô cùng quan trọng ấy chúng ta chẳng chờ đến lúc sự sinh hoạt trở nên bình thường mới giải quyết mà ngay trong hoàn cảnh eo hẹp này chúng ta phải kiên quyết tiến hành. (Đ/c Võ Nguyên Giáp được Hồ chủ tịch giao cho việc trình bày chính sách nội chính của Chính phủ. Tư liệu: Những sự kiện giáo dục phổ thông 1945 – 1985. Viện Khoa học Giáo dục 1985, tr2)”.

Ngày 3/9/1945 trong phiên họp đầu tiên của chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà. Người nêu nhiệm vụ giáo dục – chống giặc dốt là nhiệm vụ cấp bách của chính quyền mới.

Tháng 10/1945, Người ra lời kêu gọi chống nạn thất học như một mệnh lệnh hội tụ toàn dân tộc đưa đất nước vào công cuộc đại nghĩa mở ra kỷ nguyên mới của đất nước.

Dưới sự lãnh đạo của Bác chỉ có 4 tháng của năm 1945 hệ thống giáo dục quốc dân với các thiết chế: Nha bình dân học vụ, Nha giáo dục phổ thông, Hội đồng cố vấn học chính đã hình thành. Trong hoàn cảnh lúc đó hệ thống này đã tạo ra những cơ hội cho nhân dân xoá được nạn thất học, hé mở những cánh cửa cho nhân dân phát triển sự tiến hoá.

Bước sang năm 1946, dù còn biết bao sự bộn bề của các vấn đề kinh tế, chính trị, ngoại giao, quân sự của đất nước, Bác Hồ vẫn dành cho sự nghiệp giáo dục sự chăm lo tỉ mỉ chu đáo.

Kiên trì quốc sách của một đất nước dưới chính thể mới là làm cho ba lĩnh vực: kinh tế giáo dục quốc phòng phải luôn luôn gắn bó với nhau, Bác đã chỉ đạo cho chính quyền mới coi giáo dục là then chốt của sự kết hợp này.

Chỉ trong năm 1946 Bác đã viết hàng chục bài báo, thực hiện hàng chục lần tiếp xúc với nhân dân để khích lệ mọi người ham học, ham dạy. Gây ngạc nhiên cho thế hệ ngày nay là tại thời điểm này (1946) Người đã có thông điệp “Học suốt đời” (nói chuyện với đ/c Nguyễn Thị Định), “Phải làm cho dân tộc Việt Nam trở thành dân tộc thông thái” (có hàm ý như các yêu cầu xây dựng kinh tế tri thức – Nói chuyện với đồng bào Hải Phòng khi đi Pháp về 10/1946).

Vị Chủ tịch nước coi lĩnh vực giáo dục bình dân là tiêu điểm cho sự phát triển hệ thống giáo dục quốc dân (ngày nay chính là giáo dục cộng đồng); Người nói với anh chị em giáo viên bình dân học vụ: “Anh chị em yêu quí! Chương trình của Chính phủ ta là làm thế nào cho đồng bào cả nước ai cũng có ăn, có mặc, có học

Trước khi bước lên máy bay đi Pháp (4/5/1946) , Người còn căn dặn cụ Huỳnh Thúc Kháng, lúc đó là Quyền Chủ tịch nước “Chú ý đến công việc bình dân học vụ”.

Ngay sau khi đi Pháp về Bác tổ chức kỳ họp thứ 2 Quốc hội khoá 1 thành lập Chính phủ mới (từ 3/11/1946). Dù có rất nhiều công việc khẩn trương của thời gian nóng bỏng này (Thực dân Pháp tạo ra những gây chiến khiêu khích ngay trong lòng Hà Nội), Bác vẫn quan tâm đến sự nghiệp bình dân học vụ. Ngày 5/11/1946 Người viết văn kiện “Công việc khẩn cấp bây giờ” chỉ ra nhiệm vụ và phương hướng kháng chiến toàn quốc. Tối cùng ngày Bác đến thăm các lớp bình dân ở Trường Hàng Than và khu phố Hàng Bún (Hà Nội) sát nơi đóng quân của quân đội Pháp. Vào từng lớp học Bác ân cần hỏi học viên làm những nghề gì, học viên trả lời người thì kéo xe, người đi ở, người đi bán kẹo rong, người làm nội trợ, Bác khen thầy trò Trường Hàng Than “Thầy siêng dạy, trò siêng học thế là tốt lắm”.

Ngày 24/11/1946 (trước toàn quốc kháng chiến 19/12/1946 gần một tháng) Bác đọc diễn văn khai mạc Hội nghị văn hoá toàn quốc lần thứ nhất, Bác kêu gọi các nhà văn hoá Việt Nam xây dựng nền văn hoá mới sửa đổi được “Tham nhũng, lười biếng, phù hoa, xa xỉ, phải làm cho ai ai cũng có lý tưởng tự chủ độc lập”. Bác kêu gọi các nhà văn hoá chú ý đến việc học tập của nhi đồng, giáo dục cho nhân dân thực hiện độc lập, tự cường và tự chủ.

Từ tháng 3/1947 khi cuộc kháng chiến chống Phap vừa bắt đầu và bước vào giai đoạn gian khó nhất, về công tác tại Thanh Hoá, Bác Hồ đã giao cho lãnh đạo Thanh Hoá qua các ông Lê Thước, Đặng Thai Mai xây dựng Thanh Hoá có các “Gia đình học hiệu”, người dân Thanh Hoá thành “Tiểu giáo viên”. Ngày nay đề cập vấn đề xã hội học tập, UNESCO nêu ra vấn đề “Gia đình học hiệu” (learning family). Tự hào tham ý tưởng của thời đại đã được Bác cảm nhận từ trước đó hàng mấy thập niên khi đất nước còn vô vàn khó khăn và Người đã truyền tâm ý cho đ.c, cho nhân dân hiện thực được ý tưởng này dù trong nước bất cứ hoàn cảnh nào kể cả lúc khó khăn.

Những sự kiện của Bác Hồ với ngành giáo dục thời kỳ đầu chính quyền cách mạng 9/1945 – 12/197 càng chứng tỏ vai trò của công tác quản lý khi nắm chắc 3 khâu cơ bản: Thúc đẩy nhu cầu – Nâng cao năng lực – Mở rộng cơ hội của người dân trong lĩnh vực giáo dục và biết gắn bó ba khâu này vào với nhau thì đó là tiền đề quan trọng cho việc xây dựng và phát triển xã hội học tập.

Sau 6 thập niên phát triển nền giáo dục cách mạng nước ta ngày nay trong những năm đầu tiên của thiên niên kỷ mới đã có mặt bằng giáo dục với số người lớn biết chữ 90,3%, tỷ lệ thanh thiếu niên 6 – 24 tuổi được học tại các nhà trường là 64%, chỉ số phát triển giáo dục là 0,82 (Báo cáo Phát triển con người 2005).

Nếu tính trong số 177 quốc gia và vùng lãnh thổ có mặt trong Báo cáo Phát triển con người thì giáo dục nước ta có thứ hạng 93.

Giá trị và thứ hạng này cho phép chúng ta có thể khẳng định: những tiền đề xây dựng xã hội học tập ở nước ta đã có dù rằng mặt bằng kinh tế của nước ta còn khá thấp trong tương quan chung (chỉ số kinh tế mới đạt 0,572 xếp thứ 122/177 nước).

Xây dựng xã hội học tập của nước ta dù có những tín hiệu tốt song còn đó những thách thức. Dù số người biết chữ có tỷ lệ cao dù nhiều trường học mở ra, số thanh thiếu niên được đi học đông, song để có một nền học vấn thiết thực từ nhu cầu không phù phiếm tạo cho công dân có kỹ năng đời sống phát triển cộng đồng bền vững thì vấn đề lại còn nhiều nỗi băn khoăn.

Nước ta đang thực hiện chương trình giáo dục cho mọi người (Education for All – EFA), các chương trình phổ cập giáo dục tiểu học, trung học cơ sở, những dự án mở rộng trung học phổ thông, những ý tưởng đưa đại học tinh hoa thành đại học đại chúng nhằm tạo ra nền móng của “xã hội học tập”. Có thể khẳng định rằng các chương trình này chỉ có ý nghĩa nếu ta quán triệt được các ý tưởng giáo dục nhân văn và thân dân của Bác Hồ kính yêu.

(Theo báo Giáo dục & Đào tạo)

hochiminhhoc.com

Quan điểm giáo dục qua tập thơ “Nhật ký trong tù” của Hồ Chủ tịch

Bác nói và viết ít nhiều đều mang ý nghĩa giáo dục, điều đó có thể hiểu theo nhiều góc độ, nhiều phương diện. Trong “Nhật ký trong tù” có nhiều bài thơ liên quan đến việc giáo dục con người, nhưng có ba bài: “Tự khuyên mình” (Tự Miễn); “Nghe tiếng giã gạo” (Vãn thung mễ thanh) và “Nửa đêm” (Dạ bán) là rõ hơn cả. 

Bài “Tự khuyên mình” Bác viết cho chính Bác, trực tiếp nói đến giáo dục. Hai bài còn lại gián tiếp nói đến giáo dục qua những hình ảnh được sử dụng trong thơ và có tính chất ký sự. Bác ghi lại những điều quan sát rồi suy gẫm, khái quát vấn đề. Trình bày những suy tư về giáo dục bằng thơ là việc không phải hiếm người làm. Nhưng ở Bác, quan điểm giáo dục được trình bày rõ ràng, giản dị nhưng đầy chất triết lý.

1. Ở bài “Tự khuyên mình”: 

Bác đưa ra một quy luật tự nhiên: không có cảnh rét mướt tiều tụy của mùa đông thì cũng sẽ không có cảnh ấm áp huy hoàng của mùa xuân. Đó là lẽ tất yếu – quy luật tuần hoàn của tự nhiên cũng như “Hết mưa là nắng hửng lên thôi”. Từ đó, Bác nghĩ đến con người, đời người:

“Nghĩ mình trong bước gian truân,
Tai ương rèn luyện tinh thần thêm hăng.”

Khi gặp tai ương (tai họa có hại cho bản thân) thì con người được rèn luyện, thử thách càng trở nên vững vàng hơn. Thật giản dị nhưng đó là một chân lý. Trong thực tế, đây là một việc không phải ai cũng làm được. Có người gặp khó khăn (tai họa) là nản chí, khuất phục hoàn cảnh, bị hoàn cảnh chi phối. Còn Bác, Bác không như vậy vì Người đã xác định rồi:

“Ví không có cảnh đông tàn,
Thì đâu có cảnh huy hoàng ngày xuân.”

Sự đối lập hai cảnh “Đông hàn tiều tụy cảnh” (Cảnh rét mướt tiều tụy của mùa đông” với “xuân noãn đích huy hoàng” (cảnh ấm áp huy hoàng của mùa xuân) là để làm bật ý: không trải qua gian khổ sẽ không có ngày sung sướng. Từ quy luật tự nhiên rút ra quy luật cuộc đời và rút ra bài học cho chính bản thân.

Con người ta không ai muốn mình gặp phải tai ương. Nhưng khi gặp tai ương thì hoặc là lui lại hoặc là vượt qua để rèn luyện tinh thần. Bác đã coi tai ương là dịp, là cái để tự phấn đấu, trưởng thành. Tai ương là dịp để rèn luyện tinh thần, phải nói là dịp tốt để rèn luyện tinh thần.

2. Ở bài Nghe tiếng giã gạo: 

Cách biểu đạt của Bác có khác. Đối lập hai khâu trong một quá trình:

“Gạo đem vào giã bao đau đớn
Gạo giã xong rồi trắng tựa bông”

So sánh cuộc đời con người (nhân sinh tại thế) với việc giã gạo, rõ ràng quá, dễ hiểu quá! Có rèn luyện trong gian khổ, có trải qua đau đớn, thậm chí phải trải qua thất bại mới có thành công. Gạo có bị giã mới “Trắng tựa bông”. Con người có rèn luyện trong gian khổ mới thành công một cách tốt đẹp.

Như vậy, sự đối lập hai khâu trong một quá trình như đã nói ở trên là sự đối lập hòa hợp, đi đến thống nhất biện chứng trong một sự vật.

Cùng với tinh thần càng chịu nhiều đau thương, mất mát, tai ương thì càng rèn luyện mình vững vàng, bản lĩnh hơn như ở bài “Tự khuyên mình”. Ở đây, Bác khẳng định yếu tố nỗ lực chủ quan để vượt qua hoàn cảnh khó khăn là môi trường rèn luyện tốt. Ông cha ta nói “lửa thử vàng gian nan thử sức”, quả không sai!

“Sống ở trên đời người cũng vậy
Gian nan rèn luyện mới thành công”

Khó khăn rèn luyện để mình thành công quả là một ý thật sâu sắc, một bài học vô cùng quý giá, bổ ích.

3. Ở bài Nửa đêm: 

Bác trình bày quan điểm của mình một cách trực tiếp, đó là một sự đúc kết, chiêm nghiệm.

Ở đây, chúng ta lại bắt gặp sự đối lập, hòa hợp, giữa thức và ngủ, giữa thiện và ác.

Khi người ta ngủ đều có chung một hoạt động (nhịp đập của trái tim) do đó khó phân biệt được người hiền và kẻ ác, tất cả đều như nhau. Nhưng lúc tỉnh dậy (đúng hơn là sau khi tỉnh dậy), kẻ ác và người lành mới phân biệt được bởi việc làm của họ khác nhau:

“Ngủ thì ai cũng như lương thiện,
Tỉnh dậy phân ra kẻ dữ hiền.
Hiền dữ phải đâu là tính sẵn,
Phần nhiều do giáo dục mà nên.”

Như vậy, qua bài thơ, ta thấy Bác khẳng định phẩm chất của con người, đạo đức của con người, nhân cách của con người phần nhiều do giáo dục mà nên. Điều đó chính là Bác muốn nhấn mạnh ý nghĩa của hoàn cảnh giáo dục đối với việc hình thành tính cách con người. Bác triết luận rằng trong giáo dục phải chú ý đặc biệt đến hoàn cảnh sống tốt hơn để phát triển cái thiện, đẩy lùi cái ác. Hoàn cảnh, môi trường, giáo dục có văn hóa, đầy sự yêu thương chắc chắn sẽ đẩy lùi cái ác, hướng tới cái thiện.

Tiêu diệt cái ác có thể bằng nhiều cách (có thể bằng pháp luật) là cần thiết nhưng chúng ta cần xây dựng, khuyến khích và phát triển cái thiện ở con người vì nó cũng góp phần đẩy lùi cái ác. Đó là bài học giáo dục quý báu rút ra từ bài thơ “Nửa đêm” này của Bác. Bác khẳng định dứt khoát rằng tính cách con người phần nhiều do giáo dục mà có. Khẳng định đó có tính triết lý và cũng rất thực tế. Bài thơ có sức mạnh thuyết phục do nó giản dị, dễ hiểu và có thể làm theo được.

Qua ba bài thơ trên, như vừa phân tích, mọi người có thể rút ra những kết luận bổ ích về vấn đề giáo dục, về sự nghiệp giáo dục. Ba bài thơ trên thể hiện rõ quan điểm giáo dục, tư tưởng giáo dục của Bác. Đó là tư tưởng tự rèn luyện, tự giáo dục tùy theo hoàn cảnh sống của con người. Đúng là nội dung tư tưởng của ba bài thơ trên và “Nhật ký trong tù” nói chung vượt ra ngoài hình thức thơ Đường luật chật hẹp mà nó chứa đựng. Ba bài thơ trên của Bác có một ý nghĩa giáo dục sâu xa cho mọi thời đại, mọi xã hội đối với việc hình thành và phát triển, hoàn thiện nhân cách con người.

Nguyễn Đình Triều
GV. Khoa Khoa học Xã hội & Nhân văn

tdmu.edu.vn

Hồ Chí Minh là tấm gương phản chiếu phẩm chất của một người thầy mẫu mực.

“Đầu năm 1911, Người bỏ học. Trên đường ra nước ngoài, Người qua Phan Thiết và đã dạy học trong một thời gian ngắn tại trường Dục Thanh, một trường tư do một số văn thân yêu nước lập ra” [1, tr.15]. Đây là trích đoạn trong tập sách Chủ Tịch HồChí Minh, tiểu sử và sự nghiệp. Điều đó cho thấy Hồ Chí Minh đã từng là một thầy giáo trước khi trở thành một vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam. Tuy nhiên, trong bài viết này, tính chất mẫu mực của người thầy trong nhân cách Hồ Chí Minh mà chúng tôi tìm hiểu bao hàm nhiều phương diện ý nghĩa hơn là khái niệm một thầy giáo đơn thuần, bởi nhân cách và trí tuệ của Người được trui rèn và tỏa sáng trong suốt một quá trình đấu tranh lâu dài không mệt mỏi cho nền độc lập dân tộc, cho sự thống nhất nước nhà.

hồ chí minh
1.Hồ Chí Minh là tấm gương phản chiếu phẩm chất của một người thầy mẫu mực 

Xét về cách giải quyết vấn đề, Hồ Chí Minh có một thế giới quan khoa học. Ở Người, ta thấy một lối nghĩ, lối làm rất khoa học, chính xác và quyết đoán. Với tinh thần yêu nước nồng nàn, Người sớm tiếp xúc và tham gia các phong trào yêu nước. Trong những năm học ở Trường Quốc học Huế (1905 – 1910), Người đã làm liên lạc cho một số nhà nho yêu nước lúc bấy giờ. HồChí Minh sớm nhận thức và rất nhanh nhạy trong việc đánh giá đường lối đấu tranh của các phong trào yêu nước. Người thấy rằng, phong trào Cần vương thất bại là vì không tập hợp được quần chúng; cuộc khởi nghĩa của Hoàng Hoa Thám sớm tan rã vì không có đường lối rõ ràng; chủ trương của cụ Phan Chu Trinh thì có tính cải lương; còn cụ Phan Bội Châu lại dựa vào Nhật để đánh thực dân Pháp, khác nào “đưa hổ cửa trước, rước beo cửa sau”. Vì thế, Người đã quyết tâm đi tìm con đường cứu nước mới _ con đường dân tộc độc lập, dân chủ tự do. Năm 1911, Bác đã rủ một người bạn ra nước ngoài xem họ làm thế nào để về giúp đồng bào thì người kia hỏi lấy tiền đâu mà đi, Bác vừa trả lời “Đây, tiền đây” [2, tr.14] vừa giơ hai bàn tay ra; và rồi Bác đã đồng ý làm bất cứ việc gì để được đi ra nước ngoài. Chính lòng yêu nước vô bờ bến và sự quyết đoán ấy, BácHồ đã tìm được con đường cứu nước mới và trở thành thành viên của Đệ tam Quốc tế. Từ sau năm 1940, Bác trở về nước cùng Trung ương Đảng chuẩn bị tổng khởi nghĩa và thực hiện thành công cuộc tổng khởi nghĩa vào năm 1945, mở ra một kỷ nguyên mới cho đất nước, cho con người Việt Nam. Người được bầu làm Chủ tịch nước. Trong vai trò mới, Người đã dũng cảm và khéo léo chèo chống con thuyền cách mạng vượt qua hết khó khăn này đến gian nguy khác bằng chính cách nhìn nhận, đánh giá tình thế cách mạng một cách khoa học, chính xác và táo bạo. Cụ thể nhất là việc Người đặt bút ký với Sainteny _ đại diện của Pháp, bản Hiệp định ngày 6 tháng 3 năm 1946, mà theo căn cứ của Bản hiệp định thì nước Việt Nam thừa nhận ở trong khối Liên hiệp Pháp, cho phép 15.000 lính Pháp đổ bộ vào Bắc và Trung bộ Việt Nam để thay thế quân Tưởng. Trước sự nghi ngờ của dư luận cho rằng Hồ Chí Minh đã bị Pháp mua chuộc, Bác đã dõng dạc tuyên bố trước nhân dân : “Hồ Chí Minh không và sẽ không bao giờ là một người bán nước”, đồng thời chỉ rõ những nguyên nhân khách quan và chủ quan buộc ta phải tạm thời nhượng bộ Pháp. Và chính nhờ hiệp định này nhân dân ta tránh được cuộc đối đầu trực tiếp vớinhiều thế lực thù địch để có thời gian chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài.

Hồ Chí Minh là người không ngừng học hỏi để hoàn thiện bản thân, nắm bắt tri thức nhân loại. Ví như, để học tiếng Anh, Bácđã một mình đến Luân Đôn. Và để có thể sống ở Luân Đôn, Bác đã phải làm đủ nghề cực nhọc với những đồng lương rẻ mạt như: nhận cào tuyết trong một trường học, việc đốt lò trong xưởng, việc rửa chén bát trong nhà hàng. Rồi ta lại thấy rất rõ điều này qua việc Bác học tiếng Pháp. Bác học từng chữ một khi trên tàu lênh đênh ra nước ngoài nhờ vào hai thanh niêngiải ngũ người Pháp; hay để viết được báo bằng tiếng Pháp cho đúng, Bác luôn viết thành hai bản, một bản nhờ người khác sửa, một bản giữ lại để sau này đối chiếu đúng sai; lúc đầu viết ngắn, sau lại viết dài rồi rút gọn lại. Chính lòng kiên trì và sự miệt mài học tập, Bác đã viết được những bài báo, vở kịch được công chúng khen ngợi. Bác lại thường xuyên tham gia những buổi thảo luận của những người trong Đảng xã hội Pháp. Rồi Bác lại đến nước Nga để được gặp Lê Nin, nhưng đã không kịp vì Lê Nin đã mất trước đó mấy ngày. Ngay lúc ấy, Bác liền liên lạc với những người quen và bắt đầu học tiếng Nga để thuận việc tiếp xúc với lí tưởng chủ nghĩa xã hội Nga. Có thể nói, trí tuệ của Hồ Chí Minh là kết tinh của một quá trình phấn đấu, học hỏi không ngừng với niềm khát khao vươn tới trí tuệ nhân loại và tình yêu nước sâu sắc.

2. Hồ Chí Minh luôn thể hiện năng lực của một người thầy mẫu mực 

Ở Người, ta thấy một sự cảm hoá rất mạnh mẽ. Sự cảm hoá ấy dựa trên sự chia sẻ, đồng cảm và yêu thương qua suy nghĩ, lời nói và hành động. Nhờ năng lực đó mà Bác đã được những người Pháp, người Anh, người Nga nhiệt tình dạy cho những thứ tiếng của họ. Đặc biệt thời gian ở Luân Đôn, khi đang làm chân phụ dọn dẹp ở tiệm ăn Các lơ tông, với hành động giữ lại những phần ăn thừa như thịt gà, bit tết… một cách cẩn thận và sạch sẽ để chia cho những người nghèo, Bác đã được Ét Cốp Phi E _ một ông vua đầu bếp thời bấy giờ cho lên phụ bếp, lại dạy cho cách nấu ăn và tăng lương. Việc này đối với tiệm ăn Các lơ tông là chưa có tiền lệ. Hay một ví dụ khác, vào năm 1922, Bác cùng với những người trong Ban thường vụ Hội Liên hiệp thuộc địa họp bàn việc cho xuất bản Báo Người cùng khổ nhưng không thành công vì thiếu tài chính. Nhưng Bácquyết vẫn cứ cho ra Báo Người cùng khổ bằng cách quyên góp tiền từ công chúng. Trong các cuộc mít tinh, Bác thường lên diễn đàn và nói: “Các bạn thân mến! Báo Người cùng khổ phát không, nhưng hết sức cảm ơn nếu các bạn vui lòng quyên góp ít tiền để giúp chúng tôi trả tiền in. Một xu, một quan, ít nhiều cũng tốt” [2, tr.44]. Thế là Báo Người cùng khổ được phát hành.

Ngoài sự cảm hoá nhân dân, quần chúng, mọi tầng lớp bằng hành động cụ thể, Bác còn cảm hoá họ bằng những câu văn, bài thơ, lời kêu gọi chứa chan tình thương và nhiệt huyết. Với các văn nghệ sĩ, những người lính, Bác thường xuyên viết thư thăm hỏi, động viên; với các cháu thiếu nhi, không trung thu nào là Bác không viết những vần thơ yêu thương, khích lệ. Ví như trong Thư trung thu năm 1952, có đoạn :

“Ai yêu nhi đồng
Bằng Bác Hồ Chí Minh
Mong các cháu cố gắng
Thi đua học và hành.”[3, tr.81]

Hay như “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” ngày 20 tháng 12 năm 1946 có đoạn viết :
“Không. Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ.Hỡi đồng bào! Chúng ta phải đứng lên! Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia đảng phái, dân tộc, hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp, cứu tổ quốc. Ai có súng dùng súng, ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc, ai cũng phải ra sức chống thực dân cứu nước” [1, tr.98]. Sau lời kêu gọi này là hàng loạt phong trào thi đua yêu nước được ra đời như: thi đua diệt giặc đói, giặc dốt, thi đua giết giặc, thi đua sản xuất. Có thể nói là “người người thi đua, nghành nghành thi đua”.

Hồ Chí Minh luôn có lối sống mẫu mực, chân thành, giản dị mà đầy tình nghĩa. “…Chúng tôi đều nhìn Bác, một vị Chủ tịch nước trong bộ quần áo kaki bạc màu, chân đi dép, hiện thân của sự giản dị, trong sáng, một mẫu người tuổi trẻ mà chúng tôi hằng mong đợi, ước mơ” [4, tr.79]; hay “…Bác Hồ là tinh hoa của những tinh hoa Việt Nam, tổng hợp của những giá trị tinh thần cao quý của dân tộc, của thời đại” [5, tr.209]. Với một lời cảm nhận, một lời nhận xét trên của những người đã từng tiếp xúc với Bác cho ta thấy: Hồ Chí Minh là mẫu đạo đức, tác phong của những người cách mạng được gần gũi và làm việc cùngBác. Bác luôn nêu lên những chuẩn mực đạo đức mới, tự mình thực hiện và phổ cập đế mọi người cùng thực hiện. Bác luôn coi đạo đức là cái gốc của con người, đặc biệt là người cách mạng. Mà có lẽ đạo đức ấy là sự quyết tâm tự đấu tranh để hoàn thiện bản thân và chiến thắng cái xấu trong cuộc sống. Ta có thể thấy rất rõ điều này qua những lời nói, việc làm bình dị nhất từ con người Hồ Chí Minh như trong cách xưng hô: nói với toàn dân thì “thưa đồng bào”, nói với cấp dưới là “các chú”, nói với thiếu nhi là “bác” với “cháu”; trong cách ăn mặc Bác cũng rất giản dị “…Khi ở Pari về, người ta thấy Hồ Chí Minh mặc một bộ kaki đã vá. Có người yêu cầu Chủ tịch thay bộ áo quần khác. Chủ tịch đáp: Nhiều đồng bào ta có được bộ quần áo này cũng là tốt lắm. Thế thì việc gì phải thay” [2, tr.148]. Còn khi về Hà Nội, Bác sống trong một ngôi nhà sàn đơn sơ vớinhững vật dụng cần thiết nhất. Vậy đấy, Bác là chân dung của một nhà cách mạng vì nước quên thân, vì dân phục vụ.

Hồ Chí Minh lại là người có tài quản lý và tổ chức. Ví như câu chuện bác chọn Phó Thủ tướng : “… Bác đọc danh sách, thấy đồng chí nào cũng có quá trình phấn đấu đáng tin cậy. Nhưng Bác suy nghĩ và phân tích: chú này có quá trình khái quát nhanh, chú kia chặt chẽ về tài chính…nhưng làm Phó Thủ tướng ngoài năng lực, ý chí tổ chức kỉ luật và tinh thần trách nhiệm, cần phải sâu sát tình hình thực tế, tổ chức thực hiện kiểm tra đôn đốc… Bác thấy chú Mười là đủ tiêu chuẩn vừa nói nhưng đểBác xem sức khoẻ thế nào đã.” [4, tr.48]. Thế là Bác mời đồng chí Đỗ Mười đến nói chuyện, lại mời cùng ăn cơm. Sau rồi,Bác suy nghĩ và quyết định đồng chí Đỗ Mười làm Phó Thủ tướng, nhưng lại quy định chỉ được làm việc ban ngày để đảm bảo sức khoẻ làm việc lâu dài. Ngoài ra, ta còn thấy sự tài tình của Bác trong việc tổ chức và quản lý bộ máy nhà nước, chính quyền cách mạng trong nhiều tình huống vào những hoàn cảnh khác nhau như khi mới thành lập Chính phủ Cách mạng lâm thời, khi tổ chức chiến dịch biên giới… Thế mới biết, Bác rất cẩn thận và tỉ mỉ trong việc tuyển chọn “đầy tớ” của nhân dân, những cán bộ cốt cán có đủ năng lực và phẩm chất để đưa con thuyền cách mạng đến với chiến thắng cuối cùng.

Cuộc đời của Hồ Chí Minh, sự nghiệp của Hồ Chí Minh là tấm gương để mỗi người dân Việt Nam noi theo và phấn đấu. Đặc biệt, ngày nay, những Thầy, Cô giáo trẻ lại càng phải học tập tấm gương đạo đức và nhân cách của Hồ Chí Minh. Đó là học tập cách nhìn nhận đánh giá sự vật hiện tượng một cách khách quan khoa học, để có thể nắm bắt tri thức và không ngừng bồi dưỡng kiến thức; học cách cảm hoá, quản lí con người thông qua việc rèn luyện lối sống chân thành, trung thực, giản dị giàu tình nghĩa nhưng công bình và liêm chính.

ThS. Lê Sỹ Đồng 
GV. Khoa Khoa học Xã hội & Nhân Văn


Tài liệu tham khảo
1. Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng Trung ương, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tiểu sử và sự nghiệp, Nxb Sự Thật, 1975.
2. Trần Dân Tiên, Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch, Nxb Sự Thật, 1975.
3. Trúc Chi, Hồ Chí Minh vẻ đẹp bên trong của viên ngọc, Nxb Thanh Niên, 2000.
4. Phan Hiền, Bác Hồ với sự nghiệp trồng người, Nxb Trẻ, 2004.
5. Hà Huy Giáp, Bác Hồ người Việt Nam đẹp nhất, Nxb Thanh Niên, 1977.
6. Ban Tư tưởng văn hoá Trung ương, Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hoá, Hà Nội, 2003.

tdmu.edu.vn

Về công tác giáo dục và tuyên truyền

 – “Các cháu là mầm non của Tổ quốc, là tương lai của xã hội, các cô phải trông nom dạy dỗ các cháu chu đáo”. Đó là lời Bác căn dặn người lớn khi gặp các cháu bé ở nhà trẻ lần thăm Khu Tập thể của Thành hội Phụ nữ Hà Nội, ngày 31/8/1958.

“Văn hoá giáo dục là một mặt trận quan trọng trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất nước nhà. Học phải đi đôi với hành, lý luận phải liên hệ với thực tế… Từ trước đến nay, đồng bào ta hết lòng giúp đỡ công việc giáo dục. Tôi mong rằng từ nay về sau, đồng bào sẽ cố gắng giúp được nhiều hơn nữa cho trường học và ai cũng tự mình cố gắng học tập”. Câu này được trích trong lá thư đề ngày 31/8/1960 của Bác Hồ gửi cho cán bộ giáo dục, học sinh, sinh viên các trường bổ túc văn hoá nhân năm học mới.

 Bác Hồ chụp với bà con đại biểu đồng bào miền núi về thăm Thủ đô năm 1945Bác Hồ chụp với bà con đại biểu đồng bào miền núi về thăm Thủ đô năm 1945.

Ngày 31/8/1963, Bác đến thăm và nói chuyện với Hội nghị Tuyên giáo miền núi. Mở đầu bài phát biểu, Bác phê bình: “Cả hội nghị có hơn 200 đại biểu mà chỉ có 5 phụ nữ, lại không có một phụ nữ dân tộc thiểu số nào. Trong lúc còn công tác bí mật, trước Các mạng tháng Tám, trong kháng chiến, các chị em phụ nữ miền núi rất anh dũng bảo vệ cán bộ, giúp đỡ cách mạng. Hồi đó, báo của Mặt trận Việt Minh, nếu không có phụ nữ thì không ra được đâu… Nhiệt tình cách mạng của chị em phụ nữ các dân tộc thiểu số cao như vậy đấy. Một cuộc họp như thế này, mà quên mất vai trò phụ nữ, thì chắc ở các địa phương, các chú cũng quên mất vai trò phụ nữ?”.

Về công tác tuyên truyền, Bác yêu cầu: “Công tác tuyên truyền phải cụ thể, thiết thực. Tuyên truyền cái gì? Tuyên truyền cho ai? Tuyên truyền để làm gì? Tuyên truyền cách nào?… Tuyên truyền huấn luyện phải xuất phát từ chỗ nào? Xuất phát từ nhiệt tình cách mạng, tình thương yêu chân thành đồng bào các dân tộc, từ tinh thần hết lòng phục vụ đồng bào các dân tộc… Tuyên truyền không cần phải nói tràng giang đại hải mà nói ngắn gọn những vấn đề thiết thực, chắc chắn làm được, để cho mọi người hiểu rõ và quyết tâm làm bằng được… Đồng bào các dân tộc rất thật thà và rất tốt. Nếu nói đúng thì đồng bào nghe, đồng bào làm và làm được”.

Một việc đáng nhớ: Ngày 31/8/1969 chỉ 2 ngày trước khi qua đời, giữa lúc bệnh tình đã trở nên trầm trọng, Bác Hồ vẫn quan tâm theo dõi tình hình chiến sự và gửi lẵng hoa tặng các chiến sĩ tên lửa Sư đoàn 361 khi được nghe báo cáo thành tích vừa bắn rơi vào ngày hôm truớc chiếc máy bay không người lái của Mỹ. Đây cũng là phần thưởng cuối cùng trong đời Bác tặng đồng bào và chiến sĩ .

X&N
bee.net.vn