Tag Archive | Cuộc đời Hồ Chí Minh

“Một năm khởi đầu bằng mùa Xuân”

– Nhật ký của Vũ Kỳ, người thư ký gần gũi của Bác Hồ viết:

Chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1945

Chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1945

“Ngày 20/1/1946: Dân Hà Nội năm nay có lẽ nghỉ Tết sớm hơn mọi năm, Tết Bính Tuất sắp tới là Tết Độc lập đầu tiên của cả nước và của từng nhà, còn hơn một tuần nữa mới tới ngày tiễn Ông Táo lên trời mà nhiều nhà đã sửa soạn cả rồi. Bác Hồ đã nghĩ sớm đến Tết, nhưng Bác chẳng có gì để chuẩn bị và cơ quan cũng chưa chuẩn bị gì cả. Công việc ngày càng bận rộn.

Ngay đầu giờ làm việc sáng nay, Bác viết thư kêu gọi đồng bào nhân dịp Tết sắp đến. Chẳng là tối qua, Bác hỏi còn mấy ngày thì tới 23 tháng Chạp. Thư ngắn gọn và cứ tưởng Bác đang nói chuyện với mọi người. Chắc đêm qua Bác nghĩ nhiều đến đồng bào và chiến sĩ .

Thư mở đầu bằng câu: “Dân ta là một dân tộc giàu lòng bác ái…” và kết thúc bằng câu : “…sao cho mọi người đều được hưởng cái thú vui vẻ Tết xuân đầu tiên của nước Việt Nam độc lập” (hết nhật ký).

Đọc toàn văn bức thư này trong “Hồ Chí Minh toàn tập” còn có đoạn:

“Vậy qua năm mới, các cháu phải xung phong thực hành “đời sống mới”. Đời sống mới là: – Hăng hái kiên quyết, không sợ khó, không sợ khổ – Phải siêng học, phải siêng làm, phải tiết kiệm – Việc nên làm (như ủng hộ kháng chiến, tăng gia sản xuất) thì ta không chờ ai nhắc nhủ – Việc nên tránh (như tự tư tự lợi) thì ta không đợi ai ngăn ngừa”.

X&N
bee.net.vn

Việc gì khó có thanh niên!

– Ngày 19/1/1959, trong bài phát biểu tại Hội nghị cán bộ Đoàn Thanh nên Lao động Việt Nam, Bác Hồ đã đưa ra khẩu hiệu: “Việc gì khó có thanh niên! Ở đâu khó có thanh niên!” và căn dặn: “Trong mọi việc thanh niên phải làm đầu tàu, xung phong guơng mẫu. Thanh niên hăng hái là tốt, những chớ xa rời quần chúng, xa rời thì không làm được đầu tàu, đầu tàu mà rời toa tàu thì vô dụng”.

Ngày 19/1/1965, bước vào kế hoạch 5 năm lần thứ hai trong bối cảnh đế quốc Mỹ đã phát động cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân ra miền Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói chuyện với Hội nghị phổ biến kế hoạch nhà nước năm 1965.

Tháng 1-1964 HCM thăm khu công nghiệp gang thép Thái Nguyên nhân dịp lò cao số 1 ra mẻ gang đầu tiên.Tháng 1/1964 HCM thăm khu công nghiệp gang thép Thái Nguyên nhân dịp lò cao số 1 ra mẻ gang đầu tiên.

Bác đề cập tới một số tư tưởng quan trọng trong chỉ đạo thực hiện kế hoạch: “Đặt kế hoạch thật tốt và thật sát là rất cần, nhưng đó chỉ là bước đầu, Kế hoạch 10 phần thì biện pháp cụ thể là 20 phần, chỉ đạo thực hiện sát sao phải 30 phần.

Có như thế mới chắc chắn hoàn thành kế hoạch. Khi đặt kế hoạch thì phải nhìn xa. Có nhìn xa mới quyết định đúng đắn thời kỳ nào làm công việc gì là chính. Phải thấy rộng. Có thấy rộng thì mới sắp đặt các ngành hoạt động một cách cân đối. Khi đi vào thực hiện thì mỗi ngành, mỗi nghề phải rất tỉ mỉ, chu đáo thật sát với mỗi cơ sở. Đó là “một bộ ba” để hoàn thành tốt kế hoạch”.

Ngày 19/1/1959, nhân chuyến thăm của Đoàn đại biểu Chính phủ CHDC Đức do Thủ tướng Otto Grothewohl dẫn đầu sang thăm Việt Nam, Bác đã mời phu nhân thủ tuớng đến thăm khu nhà sàn trong phủ Chủ tịch.

Trong câu chuyện trao đổi với khách, Bác đã nói : “Cô biết đấy, chúng tôi đã chiến thắng vì trước hết, có một dân tộc yêu nước nồng nàn như vậy. Dân tộc đó sẵn sàng hy sinh tất cả đẻ giành độc lập và tự do!”.

Trả lời câu hỏi thân tình của khách về cuộc sống riêng tư, Bác nói: “Tôi không còn thì giờ để nghĩ đến chuyện riêng nữa. Tôi phải sống vì dân tộc. Cả đất nước Việt Nam này là gia đình tôi”.

X&N
bee.net.vn

Có nên bỏ hết tiền ra mua sắm Tết?

 10 ngày trước Tết Canh Tý, ngày 18/1/1960, trên báo “Nhân Dân”, với bút danh T.L, Bác viết bài “Mừng Tết Nguyên đán như thế nào?” đặt vấn đề có nên biến ngày Xuân thành dịp tiêu pha “có bao nhiêu tiền đều bỏ ra mua sắm hết để đánh chén lu bù” hay không?

Bác cho rằng “thế là mừng Xuân một cách lạc hậu, thế là lãng phí, thế là không Xuân! Nên nhớ rằng hiện nay chúng ta phải cần kiệm xây dựng nước nhà, xây dựng Chủ nghĩa Xã hội. Không nên vì một cớ gì mà quên nhiệm vụ ấy”.

Tháng 1/1960, Bác thăm thị xã Kíên An đang nhận những bó hoa của các cháu thiếu nhiTháng 1/1960, Bác thăm thị xã Kiến An, đang nhận những bó hoa của các cháu thiếu nhi

Bài báo kết luận: “Các đồng chí cán bộ ta cần phải hướng dẫn đồng bào làm cho Tết Canh Tý thành một cái Tết vui vẻ và tưng bừng, đồng thời là một Tết tiết kiệm và thắng lợi.

“Trăm năm trong cõi người ta
Cần kiệm xây dựng nước nhà mới ngoan
Mừng Xuân, Xuân cả thế gian
Phải đâu lãng phí cỗ bàn mới Xuân”

Nhắc lại ngay Tết Độc lập đầu tiên (1946) trên báo “Cứu Quốc” vị Chủ tịch của nước Việt Nam mới cũng viết bài báo có nhan đề “Tết” nêu rõ: “Dân tộc ta là một dân tộc giàu lòng đồng tình và bác ái.

Trong lúc này toàn quốc đồng bào từ giàu đến nghèo, từ già đến trẻ, ai cũng sửa soạn ăn Tết mừng Xuân. Tôi kêu gọi đồng bào và các đoàn thể làm thế nào để chia sẻ cuộc vui Xuân mừng Tết với: Những chiến sĩ oanh liệt trước mặt trận. Những gia quyến các chiến sĩ. Những đồng bào nghèo nàn. Sao cho mọi người đều được hưởng thú vui về Tết Xuân đầu tiên của nước Việt Nam Độc lập”.

Cũng Tết năm đó, Bác còn viết bài “Gương sáng suốt của Đời sống mới ”biểu dương“ các vị kỳ lão Đình Bảng và làng Xuân Tảo đã đem số tiền mừng thọ… ủng hộ vào Quỹ Cứu quốc và ủng hộ chiến sĩ. Các vị ở xã Đông Hội, Gia Khánh, Ninh Bình đem ba phần tư tiền tế Thành hoàng… để giúp chiến sĩ người mặt trận. Họ Nguyễn Thượng của làng Thượng Phúc.. giảm ăn uống cúng giỗ để quyên vào Quỹ chiến sĩ…”.

Bài báo kết luận: “Ba việc đó chẳng những đã tỏ lòng vàng ngọc của đồng bào các làng xã kể trên, đồng thời cũng là một gương sáng trong sự thực hành Đời sống mới cho đồng bào cả nước”.

X&N
bee.net.vn

“Đánh kẻng còn hơn gẩy đàn”

– Ngày 17/1/1926, lúc này Nguyễn Ái Quốc với bí danh là Lý Thuỵ đang hoạt động ở Quảng Châu (Trung Quốc) nhằm tập hợp các thanh niên từ trong nước mới sang. Trên báo “Thanh Niên” do Nguyễn Ái Quốc sáng lập đăng bài “Báo chí bình dân” nhằm đưa ra một quan niệm về báo chí cách mạng. 

Bài báo viết: “Các bạn chúng ta phàn nàn nhiều lần rằng các bài báo của ta thiếu trau chuốt để có thể gây ảnh hưởng đến tâm trí dân chúng. Chúng tôi bất chấp (xem thường) việc sử dụng những từ mỹ miều, văn phong lịch lãm, câu chữ đong đưa, nhịp câu đăng đối song hành, những sự tô vẽ văn chương mà các nhà nho ham chuộng. Nhưng ngựơc lại, chúng tôi gắng sức vì lợi ích của tất cả mọi người, dùng một văn phong sáng sủa, chính xác và dễ hiểu.

Ngày 17/1/1967, Bác Hồ tiếp nhân sĩ trí thức Mỹ phản đối chiến tranh ở VNNgày 17/1/1967, Bác Hồ tiếp nhân sĩ trí thức Mỹ phản đối chiến tranh ở VN

Vì mục đích của chúng tôi là: 1. đánh trả sự tàn bạo của người Pháp, 2. khích lệ dân tộc An Nam liên kết lại, 3. làm cho họ thấy đuợc nguyên nhân những đau khổ, đói nghèo của họ và chỉ ra cho họ làm thế nào để tránh được những điều đó nên bản báo của chúng tôi làm tròn nhiệm vụ là hồi kẻng báo động … Tiếng đàn cầm chắc chắn hay hơn tiếng kẻng, những trước mối hoạ đang đe doạ chúng ta, tốt nhất là đánh kẻng còn hơn gẩy đàn!

Có nhiều cách làm rung động lòng người. Khóc lóc, than vãn, đọc Kiều hay Tam Quốc đều khiến ta mủi lòng. Nhưng đó chỉ là những cảm xúc thoáng qua và hời hợt mà chúng tôi không muốn gợi lên trong lòng độc giả chúng tôi. Ngược lại, chúng tôi muốn rằng văn của chúng tôi gây được cho họ ảnh hưởng sâu sắc và lâu dài.

Ví dụ, nếu gặp một nông dân An Nam quần áo tả tơi, chúng tôi sẽ bằng một giọng đầy thương cảm, nhưng che giấu đi niềm xúc động và nuốt nước mắt mà nói rằng: Than ôi! Sao mà số phận anh khốn khổ thế này. Anh mua giống hết 2 đồng, mua phân 4 đồng, thuê thợ 5 đồng và nộp thuế 1 đồng. Tiền anh chi đã lên đến 15 đồng, anh bán thóc được 18 đồng. Nhưng vì anh đã phải nộp thuế chợ 1 đồng, nên thực ra anh chỉ được 2 đồng, mà tiền ấy, anh cũng bị Pháp cướp mất. Vì thế tôi mới bảo rằng anh khốn khổ.

Anh nông dân của chúng ta sẽ không khóc, không than. Nhưng anh ta suy nghĩ, hiểu ra và cuối cùng sẽ vùng lên và làm cái việc tuyên truyền chống chủ nghĩa đế quốc. Còn những ai yêu thơ thì họ cứ tự do đắm chìm mà đọc Cung Oán hay Nhị Độ Mai.”

X&N
bee.net.vn

“Kêu gọi đồng bào phá hoại để kháng chiến”

 Ngày 16/1/1947, hơn một năm sau ngày toàn quốc kháng chiến, sau khi chủ trì một cuộc họp của Hội đồng Chính phủ nghe báo cáo về tình hình các mặt trận trên cả nước, thảo luận về việc tổ chức tản cư nhân dân ra khỏi các vùng chiến sự, vấn đề xây dựng nền giáo dục kháng chiến và chăm sóc thương binh…, Chủ tịch Hồ Chí Minh soạn thảo “Lời kêu gọi đồng bào phá hoại để kháng chiến”.

Bác Hồ đọc Thơ Chúc Tết tháng 1/1967

Bác Hồ đọc Thơ Chúc Tết tháng 1/1967

Sau “Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến” ngày 20/12/1946 thì đây là một văn kiện quan trọng của người đứng đầu Nhà nước kêu gọi dân chúng tiếp tục cuộc kháng chiến bằng những việc làm cụ thể và thiết thực.

Văn kiện viết: “Vì sao ta phải kháng chiến? Vì không kháng chiến, thì Pháp sẽ cướp nước ta lần nữa. Chúng sẽ bắt dân ta làm nô lệ lần nữa. Vì ta không chịu làm trâu ngựa cho Pháp, vì ta phải gìn giữ non sông đất nước ta, cho nên ta phải đánh bọn thực dân Pháp. Đánh thì phải phá hoại. Ta không phá thì Pháp cũng phá…

Vì vậy ta phải phá trước, cho Pháp không dùng được. Bây giờ chúng ta phá đi, để chặn Pháp lại, không cho chúng tiến lên, không cho chúng lợi dụng, ta vì nước hy sinh chịu khổ một lúc. Đến ngày kháng chiến thắng lợi, ta sẽ cùng nhau kiến thiết sửa sang lại nào có khó gì.

Vậy tôi thiết tha kêu gọi toàn thể đồng bào ở đây, mọi người đều ra sức giúp phá. Phá cho rộng, phá cho sâu, phá sao cho bọn Pháp không lợi dụng được. Một nhát cuốc của đồng bào cũng như một viên đạn của chiến sĩ bắn vào quân địch vậy.

Tôi lại trân trọng hứa với đồng bào rằng: kháng chiến thắng lợi rồi, tôi sẽ ra sức cùng đồng bào sửa sang tu bổ lại hết. Chúng ta sẽ làm những đường sá, cầu cống khéo hơn, những nhà cửa tốt hơn, và xứng đáng một dân tộc tự do, độc lập hơn.”

Cuộc “tiêu thổ kháng chiến” được lịch sử ghi nhận như một “tấn bi kịch lạc quan”. Đó là sự mất mát rất to lớn những di sản vật chất nhưng lai biểu dương một nghĩa khí anh hùng.

Sau này, trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, đặc biệt là với cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân của Mỹ đánh ra miền Bắc, cái tinh thần này tiếp tục được thể hiện trong ý chí “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” được nêu lên trong lời kêu gọi ngày 17/7/1966 của Bác Hồ: “Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hay lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và môt số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quý hơn độc lập, tự do. Đến ngày thắng lợi, nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước ta to đẹp hơn, đàng hoàng hơn!”.

X&N
bee.net.vn

Một kỳ họp trên Chiến khu

 Ngày 15/1/1948, Bác chủ trì Hội nghị Trung ương Đảng mở rộng. Nhật ký của Bộ trưởng Tài chính Lê Văn Hiến thuật lại hội nghị này.

“Ngày 14/8:.. Hôm nay cùng anh em trung uỷ (tức Uỷ viên Trung ương Đảng- X&N) ăn cơm tại nhà Cụ. Bữa cơm vui vẻ quá. Cụ khôi hài tợn.

Cụ cho một cái áo ấm của đồng bào các nơi biếu Cụ nhưng vì sẵn có áo ấm rồi nên Cụ để tặng lại người khác thiếu thốn hơn. Đêm ngủ tại đây, bên cạnh một đống lửa hồng ấm áp quá”.

Bác Hồ đọc thơ chúc Tết tháng 1/1969Bác Hồ đọc thơ chúc Tết tháng 1/1967

Ngày 15/1/1948: Buổi sáng Cụ cặm cụi chế cà phê và cho mỗi người một cốc. Ấm bụng rồi Cụ và các anh em đi đến địa điểm hội nghị. Trong một khoảng rừng khác, một ngôi nhà rộng rãi của đồng bào Mán đã chật cả người. Ai nấy đều ra đón chào Cụ. Anh em gặp nhau sau những ngày vất  vả vì cuộc tấn công của địch (trận tập kích của Pháp lên Bắc Kạn-X&N), vui mừng quá.

Cụ bắt tay mọi người rồi câu chuyện thân mật đậm đà kéo dài chung quanh Cụ trong lúc gió trong rừng hắt vào lạnh thấu xương. Cuộc hội nghị bắt đầu từ 8h30, sau khi làm lễ chào cờ, mặc niệm chiến sĩ vong trận và lễ giới thiệu các trung uỷ và các cán bộ có mặt. Lễ này long trọng quá, trên đỉnh đồi cao và kín…Hội nghị đến tối mò mới nghỉ…”.

Sau Hội nghị Trung ương, Hội đồng Chính phủ họp tiếp dưới sự chủ tọa của Bác cho đến ngày 19/1 bàn nhiều vấn đề quan trọng trong đó có việc phong hàm cấp tướng đầu tiên cho một số cán bộ quân đội và việc phát hành tiền tài chính…

Cũng trong ngày Bác còn viết thư thăm hỏi và động viên một vị quan lang có uy tín của dân tộc Mường là cụ Đinh Công Phủ, trong thư bày tỏ xin biếu một tấm áo trấn thủ do nhân dân gửi biếu nay tặng lại.

X&N
bee.net.vn

Thông qua Luật Hôn nhân và Gia đình

– Ngày 13/1/1960, cách đây tròn nửa thế kỷ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh ban bố Luật Hôn nhân và Gia đình. Luật đã được kỳ họp thứ 11 Quốc hội khoá II thông qua.

Trong bài nói tại Đại hội Đại biểu nhân dân Hà Nội diễn ra vào buổi tối cùng ngày ký sắc lệnh, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ ý: “Thưa đồng bào yêu quý. Chúng ta đều nhất trí xác nhận rằng kỳ họp lần thứ 11 của Quốc hội đã đạt được kết quả rất to lớn và ảnh hưởng sâu xa. Như Luật Hôn nhân và Gia đình có quan hệ mật thiết đến mọi người dân trong nước, đến cả nòi giống Việt Nam ta. Đạo luật ấy làm cho gái trai thật sự bình quyền, gia đình thật sự hạnh phúc. Toàn thể đồng bào ta đều nhiệt liệt hoan nghênh đạo luật chí tình chí lý ấy”.

Tháng 1/1959, Hồ Chí Minh thăm Viện Bảo tàng Lịch sử Việt NamTháng 1/1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam

Kỳ họp thứ 11của Quốc hội khoá I diễn ra tại Nhà Hát lớn thành phố Hà Nội từ ngày 18 đến 31/12/1959 có nhiều nội dung quan trọng trong đó có việc sửa đổi Hiến pháp và thông qua Luật Hôn nhân và Gia đình.

Liên quan đến bộ Luật này, bà Lê Thị Xuyến thay mặt Tiểu ban soạn thảo trình bày văn bản dự thảo, tiếp đó các đại biểu sôi nổi thảo luận về căn bản tán thành bộ luật quan trọng này. Bác Hồ góp ý rằng dự thảo dùng nhiều chữ Hán – Việt, cần sửa để dân dễ hiểu và làm theo; đại biểu Công giáo của tỉnh Hà Tĩnh là ông Vương Đình Long không tán thành “ly hôn” vì nó trái với giáo lý của Đạo…

Sau cùng Bác phát biểu: “Quốc hội đã phát biểu sôi nổi, thế là tốt. Tuyệt đại đa số các đại biểu tán thành Luật Hôn nhân và Gia đình, có một đại biểu không tán thành. Đó là vấn đề tôn giáo. Chúng ta tôn trọng tự do tín ngưỡng. Xã hội luôn luôn biến đổi, tiến lên mãi không bao giờ thụt lùi. Đó là quy luật. Chúng ta ra Luật Hôn nhân tức là luật lấy vợ lấy chồng, xây dựng gia đình.

Vì sao trong luật đó lại có điều khoản nói đến ly hôn, tức là bỏ vợ, bỏ chồng? Chính vì chúng ta còn ảnh hưởng của chế độ phong kiến cũ, còn có những đôi vợ chồng bị ép buộc lấy nhau không chung sống với nhau được nữa. Luật phải cho phép họ bỏ nhau để giải phóng cho họ.

Nhưng sau này, nếu ta áp dụng tốt Luật Hôn nhân và Gia đình, tình trạng ép buộc không còn nữa, gia đình chúng ta xây dựng sẽ hoà thuận, hạnh phúc, thì những điều khoản về ly hôn mà đại biểu Vương Đình Long lo lắng sẽ không cần nữa. Tức là nếu chúng ta áp dụng tốt Luật Hôn nhân và Gia đình, thì sau này, trong một thời gian ngắn, xã hội tiến lên, con người tiến lến, ly hôn sẽ không còn nữa”.

Sáng 29/12/1959, Quốc hội biểu quyết với 193 phiếu thuận và 1 phiếu không biểu quyết. Bác phát biểu:“Đây là một thắng lợi có ý nghĩa lịch sử. Thi hành Luật Hôn nhân và Gia đình là nhiệm vụ của toàn dân…”.

X&N

bee.net.vn

“Nước Việt Nam là đại gia đình của tôi”

– Trong một bức thư chia buồn gửi tới Bác sĩ Vũ Đình Tụng, một tín đồ theo Đạo Thiên Chúa khi đó đang là Chủ tịch Hội Chữ thập Đỏ Việt Nam, Bác đã nói: “Nước Việt Nam là đại gia đình của tôi”.

Ngày 11/1/1946, từ Thái Bình Bác đi thăm tỉnh Nam Định. 7 giờ sáng, đông đảo nhân dân đã tề tựu trước Uỷ ban Hành chính thành phố nghe vị Chủ tịch nước nói chuyện với đồng bào về những nhiệm vụ kháng chiến, cứu đói.

Sau đó Bác đến thăm và chia quà cho trẻ em ở Trại mồ côi Nam Định. Tại đây, Bác cảm động nói với bà Phước: “Tôi ghé qua đây thăm bà và các cháu. Tôi thay mặt các cháu không cha, không mẹ đó cảm ơn bà đã trông nom chúng như một người mẹ. Chúng tội tình gì mà tội nghiệp quá”.

Tình cảm của một người Cha trong gia đình đời thường, một năm sau đó (1/1947) được Bác thể hiện như một lời tâm tình trong bức điện gửi Bác sĩ Vũ Đình Tụng, một tín đồ theo Đạo Thiên Chúa khi đó đang là Chủ tịch Hội Chữ thập Đỏ Việt Nam. Đó cũng là một bức điện chia buồn khi Bác được tin người con trai của Bác sĩ Tụng vừa hy sinh trong cuộc kháng chiến chống thực dân xâm lược Pháp. Thư viết :

“Thưa Ngài, Tôi được báo cáo rằng, con giai ngài đã oanh liệt hy sinh cho Tổ quốc. Ngài biết rằng tôi không có gia đình, cũng không có con cái. Nước Việt Nam là gia đình của tôi. Tất cả thanh niên Việt Nam là con cháu của tôi. Mất một thanh niên thì hình như tôi đứt một đoạn ruột vậy.

Nhưng cháu và anh em thanh niên khác dũng cảm hy sinh để gìn giữ đất nước. Thế là họ đã làm rạng rỡ dân tộc, vẻ vang giống nòi. Họ chết cho Tổ quốc sống mãi; vật chất họ mất nhưng tinh thần họ vẫn luôn luôn sống với non sông Việt Nam.

Họ là con thảo của Đức Chúa, họ đã thực hiện cái khẩu hiệu: Thượng đế và Tổ quốc… Ngài đã đem món quà quý báu nhất là con của mình, sẵn sàng hiến cho Tổ quốc. Từ đây chắc Ngài sẽ ra sức giúp việc kháng chiến để bảo vệ nước nhà thì linh hồn cháu ở trên trời cũng bằng lòng và sung sướng…”

X&N
bee.net.vn

“Vực thẳm thuộc địa”

– “Vực thẳm thuộc địa” là tên của một bài báo ký tên Nguyễn Ái Quốc đăng trên tờ “L’ Humanité” số ra ngày 9/1/1923.  Tờ báo là cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng sản Pháp và tác giả của bài báo nói trên chính là một trong những người tham gia sáng lập tổ chức chính trị này.

Bài báo tố cáo giới thực dân và trực tiếp là Bộ trưởng Thuộc địa Albert Saraut, người đã từng làm Toàn quyền Đông Dương nhiều năm, một mặt khai thác thuộc địa và bóc lột dân bản xứ một cách thậm tệ để làm giàu không phải chỉ cho nước Pháp mà cho chính bọn chúng.

Trong khi đó, chúng lại yêu cầu chính quốc phải đầu tư nhiều tỷ đồng cho các thuộc địa. Như vậy thực chất là chúng bòn rút chính nhân dân Pháp để phục vụ vào những việc làm lãng phí, xa xỉ, nuôi bộ máy quan liêu và ăn bám.

Quảng cáo cho hội chợ quốc tế và thuộc điạ Bordeaux 1937Quảng cáo cho hội chợ quốc tế và thuộc địa Bordeaux 1937

Tác giả đưa ra nhiều dẫn chứng với những con số thuyết phục trong đó có cuộc Triển lãm Thuộc địa vô cùng tốn kém đang diễn ra ở nước Pháp. Bài báo kết luận: “Đó là số tiền hàng triệu và thậm chí hàng tỷ mà nếu người ta biết cách tìm thì có lẽ người ta sẽ kiếm ra được một cách dễ dàng. Nhưng ngài Bộ trưởng lại cứ muốn gõ vào dân bản xứ”.

Đây là bài báo khai bút cho năm 1923 là năm cuối cùng Nguyễn Ái Quốc ở Pháp. Tháng 6 năm đó với tư cách là đảng viên thuộc địa của Đảng cộng sản Pháp, Nguyễn Ái Quốc đã lên đường sang Liên Xô học tập. Nhưng ngay thời gian đã sống ở nước Nga, những bài báo của Nguyễn Ái Quốc vẫn thường xuyên xuất hiện trên các ờ báo cánh tả xuất bản ở Pháp, tổng cộng trong năm 1923 đã có trên dưới 30 bài báo được đăng.

Đây cũng chính là những chất liệu để sau này, Nguyễn Ái Quốc cho ra đời tác phẩm “Bản án chế độ thực ân Pháp” (Le Procès de la coloníation Francaise) nổi tiếng (xuất bản ở Pháp vào năm 1925, và được tái bản tại Việt Nam 1946).

X&N

bee.net.vn

Tóc Bác Hồ qua các thời kỳ

Có một hiện vật độc nhất vô nhị đã gây xúc động cho mọi người xem tại một triển lãmdo Bộ công An tổ chức tại Thành phố Cần Thơ, đó là ” Tóc của Bác Hồ qua các thời kỳ” do cán bộ chiến sĩ cảnh vệ phục vụ Bác từ năm 1954 đến khi Bác qua đời (1969) còn lưu giữ lại.

Đây là một trong số gần 1.000 hiện vật, tư liệu, hình ảnh trưng bày triển lãm về lịch sử 60 năm chiến đấu, xây dựng và trưởng thành của Lực lượng Công an Nhân dân Việt Nam, tổ chức tại Thành phố Cần Thơ từ 27/ 4 đến tháng 5/5/2005 vừa qua.

Tóc của Bác đuợc cất giữ cẩn thận trong một chiếc hộp vuông thuỷ tinh và trưng bày trong một chiếc tủ đặt bên trái cửa ra vào nhà triển lãm. Trong tủ còn các hiện vật khác như tông-đơ, dao cạo, kéo tỉa tóc, chổi quét tóc, áo choàng và khăn mặt (2 hiện vật áo và khăn đã ngả màu).

Trong hộp tóc có nhiều lớp tóc từ nhóm tóc còn đen đến hoa râm và lớp tóc phía trên cùng đã bạc hẳn. Chị Nguyễn Lương Hồng, cán bộ Bảo tàng cho biết: Bộ hiện vật này là hiện vật gốc độc nhất do các đồng chí cảnh vệ phục vụ Bác trong Phủ chủ Tịch trao lại cho bảo tàng hồi đầu năm nay.

Mỗi lần cắt tóc cho Bác, các đồng chí đều cẩn thận giữ tóc lại để làm kỷ niệm. Hiện vật đã được triển lãm tại các tỉnh Đăk Lăk, Đồng Nai và sau triển lãm này sẽ đưa lên triển lãm tại Điện Biên.

Đối với đồng bào miền Nam, những ai chưa một lần gặp mặt Bác, nhìn tóc Bác mà tiếc thương không xiết bởi tất cả những gì thuộc về bác Hồ đều trở nên thiêng liêng đối với cả dân tộc Việt Nam trong đó có đồng bào Miền Nam.

Triển lãm kết thúc đã để lại nhiều ấn tượng khó phai, chúng tôi muốn nói lời cảm ơn đến các thế hệ cán bộ chiến sĩ cảnh vệ trong Phủ Chủ Tịch đã trân trọng giữ gìn tất cả những kỷ vật thuộc về Bác – những kỷ vật tưởng như thường tình mà cũng rất thiêng liêng.

Theo Trần Khánh Linh
TTXVN
dantri.com.vn

Sẽ có thêm một di tích lịch sử về Bác Hồ tại Thái Lan

Theo tờ Phuchatcan (Thái Lan), số ra ngày 7/5, tỉnh Udon Thani của Thái Lan đã có kế hoạch xây dựng địa điểm nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh từng sống và làm việc tại làng Nong Han, xã Chieng Poen, huyện Muong, thành một địa chỉ du lịch lịch sử.

Trong chuyến thăm di tích vừa qua, Tỉnh trưởng tỉnh Udon Thani, ông Charuk Prinyapol, cho biết sẽ dùng ngân sách của Chính phủ, cấp cho các tỉnh trưởng điều hành theo qui chế toàn quyền, để góp phần hoàn chỉnh dự án nói trên.

Theo ông Charuk, việc tu bổ và xây dựng di tích lịch sử này còn nhằm thu hút du khách Việt Nam tới tham quan, học tập.

Người dân địa phương cho biết Hồ Chủ tịch đã từng sống và làm việc tại đây trong vòng 3 tháng, vào khoảng năm 1928. Tại khu di tích rộng khoảng 14.400m2 vẫn còn lưu giữ một số hiện vật mà Người đã sử dụng trong thời gian lưu lại.

Trong thời gian hoạt động bí mật tại Thái Lan dưới bí danh Thầu Chín vào những năm 1928-1929, Hồ Chủ tịch đã di chuyển qua nhiều tỉnh như Phit Chit, Phisanulok, Udon Thani, Nong Khai, Nakhon Phano và cả Băng Cốc, tổ chức nhiều lớp huấn luyện cán bộ và tuyên truyền giáo dục tinh thần yêu nước trong cộng đồng người Việt Nam tại Thái Lan.

Năm 2004, Thái Lan đã khánh thành Khu lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh và làng Hữu nghị Thái-Việt, tại Ban Na Chok, tỉnh Nakhon Phanom. Vừa qua, Bảo tàng Hồ Chí Minh đã trao tặng Khu lưu niệm một bức ảnh ghi hình Bác cùng đại diện Việt kiều tại Thái Lan tình nguyện hồi hương vào năm 1960. Một em bé có mặt trong tấm hình đó nay đã là Tổng Lãnh sự Việt Nam tại Khỏn Kèn (trung tâm Đông Bắc Thái Lan).

Năm 2005 là năm kiều bào Việt Nam tại Thái Lan kỷ niệm 45 năm ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh đón những kiều bào đầu tiên hồi hương về trực tiếp tham gia chiến đấu, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đầu những năm 60, theo thỏa thuận giữa hai Hội chữ Thập Đỏ Thái Lan và Việt Nam, khoảng 70.000 kiều bào tại Thái Lan đã tình nguyện hồi hương về miền Bắc. Ngày 10/1/1960, Bác Hồ đã ra tận cảng Hải Phòng đón 922 kiều bào đầu tiên về nước.

Đến tháng 4/1964, các chuyến hồi hương phải tạm ngừng do nguy cơ Mỹ leo thang chiến tranh, đánh phá miền Bắc. Tính đến thời điểm đó, đã có 46.563 kiều bào từ Thái Lan hồi hương về miền Bắc.

Theo TTXVN
dantri.com.vn