Tag Archive | Chủ tịch Hồ Chí Minh

Những ngày Tết đáng nhớ của Bác Hồ

(Chinhphu.vn) – Trong 79 mùa xuân sôi nổi hào hùng của Bác, có những ngày Tết không thể nào quên đối với nhân dân ta.

Bác Hồ với các cháu thiếu nhi Hà Bắc khi Người về thăm và chúc Tết đồng bào và bộ đội, Tết Đinh Mùi (2-1967).

Trước hết là ngày Tết năm Canh Ngọ (1930). Tại một địa điểm xa tổ quốc, trên bán đảo Cửu Long (Hồng Kông), Bác đã chủ trì một cuộc họp bí mật với đại biểu các tổ chức cộng sản đầu tiên ở trong nước, đặt ra yêu cầu cùng đoàn kết hợp nhất 3 tổ chức đầu tiên ở Bắc-Nam-Trung xây dựng thành một Đảng thống nhất cho cả nước: Đảng Cộng sản Việt Nam.

Đảng ra đời kết thúc một giai đoạn khủng hoảng trong đường lối cứu nước, trở thành một tổ chức Đảng tiên phong, đi đầu mở lối cho một phong trào cách mạng của quần chúng được lãnh đạo trong một tổ chức chặt chẽ, có lý thuyết cách mạng tiên tiến soi đường, có chiến lược, sách lược thích hợp với bối cảnh lịch sử trong và ngoài nước.

Mười một năm sau ngày lịch sử ấy, nhân dân ta và đặc biệt là đồng bào Cao Bằng, đã có niềm vinh hạnh đón Bác sau 30 năm bôn ba đi khắp 5 châu 4 biển tìm đường cứu nước, đã bí mật trở về xúc động ôm trong tay hòn đất của tổ tiên ở cột mốc 108 nơi địa đầu biên giới, giữa bà con dân tộc thiểu số đang đón Tết năm Tân Tỵ (1941).

Bác về ở Pác Bó ngày mồng 2 Tết để chuẩn bị triệu tập Hội nghị Trung ương lần thứ VIII, điều chỉnh chiến lược và sách lược đấu tranh cách mạng cho phù hợp với hoàn cảnh khách quan của tình hình thế giới và trong nước. Bác chỉ rõ: “Trong lúc này quyền lợi của bộ phận, của giai cấp, phải đặt dưới sự sinh tử, tồn vong của quốc gia, dân tộc. Lúc này, nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được”.

Trên cơ sở phân tích như vậy, dưới sự chỉ đạo của Bác, Hội nghị đã nhất trí xác định lại nhiệm vụ chiến lược và tính chất của cách mạng Việt Nam: “Không phải là cuộc cách mạng tư sản dân quyền (cuộc cách mạng phải giải quyết hai vấn đề phản đế với điền địa), mà là cuộc cách mạng chỉ phải giải quyết một vấn đề cần kíp: dân tộc giải phóng. Cuộc cách mạng Đông Dương trong giai đoạn hiện tại là một cuộc cách mạng dân tộc giải phóng”.

Mặt trận Việt Minh thành lập năm 1941 công bố Tuyên ngôn, chương trình với Điều lệ, trong đó nhấn mạnh rằng: “Việt Minh chủ trương liên hiệp hết thảy các giới đồng bào yêu nước, không phân biệt giàu nghèo, già trẻ, trai gái, không phân biệt tôn giáo, đặng cùng nhau mưu cuộc dân tộc giải phóng và sinh tồn”.

Bác giao nhiệm vụ xây dựng cơ sở cách mạng và phát triển lực lượng mạnh mẽ ở một số khu vực đầu tiên tại miền núi Việt Bắc cho các đồng chí Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp, Phùng Chí Kiên, Phạm Văn Đồng.

Đến mùa xuân năm sau (1942) nhiều “tổng hoàn toàn” và “châu hoàn toàn” theo Việt Minh đã xuất hiện ở Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Kạn. Phong trào được lực lượng vũ trang của Tuyên truyền giải phóng quân cổ vũ và ủng hộ đã nhanh chóng tiến nhanh đến thời kỳ tiền khởi nghĩa và giành được thắng lợi hoàn toàn trong Tổng Khởi nghĩa tháng Tám năm 1945, giành được chính quyền độc lập trên cả nước khi Đảng mới 15 tuổi.

Mùa xuân năm Bính Tuất (1946) trong không khí hồ hởi của toàn dân đón mừng ngày Tết năm Độc lập đầu tiên, đêm 30, Bác ra Bờ Hồ Hoàn Kiếm, hòa trong dòng người hào hứng đón xuân ở Đền Ngọc Sơn, rồi bảo các đồng chí tùy tùng đến thăm mấy phố nhỏ, ngõ nhỏ gần hồ Hoàn Kiếm.

Bác rảo bước đến ngõ Phất Lộc, dừng chân trước một căn nhà lụp xụp trống tênh trống toàng, thì vừa gặp người chủ nhà là một phụ nữ đi gánh nước về nhà. Chị ngạc nhiên nhìn mấy vị khách lạ. Được hỏi vì sao đến gần giao thừa còn đi kiếm nước, chị đã trả lời chị đi gánh nước thuê cho những nhà khấm khá muốn có chum nước đầy ngày Tết để ra giêng có tiền của nhiều như nước. Bác xúc động nhìn chị chủ nhà với đàn con rách rưới, cả nhà không có gì là Tết. Người mẹ nghèo lúng túng nhìn khách đến không có chỗ ngồi. Sau phút ngơ ngác, chị định thần nhìn ra ông cụ cao tuổi trong đoàn đúng là Bác Hồ như trong ảnh.

Chị bàng hoàng ấp úng: Bác Hồ! Thưa Bác, sao Bác lại đến nhà cháu?

Bác cũng xúc động và nói: Không đến nhà cháu thì Bác đến nhà ai?

Bác nhìn mấy mẹ con chị, rồi nói với đồng chí Chủ tịch Hà Nội Trần Duy Hưng: Chú có thêm nhiệm vụ!

Và rồi một tháng sau, chị phụ nữ nghèo ấy được Ủy ban gọi cho đi làm một chân tạp vụ ở sở công trình thị chính Hà Nội.

Chị nhớ mãi cái đêm giao thừa được gặp Bác năm ấy.

Tết năm sau, những ngày hòa bình đã sớm chấm dứt, giặc Pháp gây hấn tiến hành cuộc xâm lược nước ta một lần nữa. Cuộc toàn quốc kháng chiến bắt buộc phải bắt đầu. Tết kháng chiến đầu tiên, năm Đinh Hợi (1947), ai cũng tưởng Bác đã lên chiến khu Việt Bắc, an toàn khu. Không ai biết, ngày Tết kháng chiến ấy, Bác đã lặn lội vào Thanh Hóa, với mục đích sâu xa: củng cố cho Thanh Hóa trở thành một hậu phương quan trọng, làm thế ỷ giốc cho Việt Bắc và đồng bằng, trung du Bắc Bộ. Muốn thế, vấn đề con người, vấn đề cán bộ là vấn đề phải lo đầu tiên. Củng cố và nâng cao phẩm chất cán bộ để được lòng tin của nhân dân thì việc đầu tiên phải làm là phòng tránh và khắc phục ngay những bệnh quan liêu, tham nhũng, lãng phí, là việc cần thực hiện kiên quyết, không khoan nhượng. Hồ sơ còn lưu của Ban lịch sử Đảng tỉnh ủy Thanh Hóa còn ghi chép đầy đủ bài nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh với cán bộ chủ chốt toàn tỉnh Thanh hóa. Bác dặn dò:

“Cán bộ là cái dây chuyền của bộ máy- nếu dây chuyền không tốt, không chạy thì động cơ dù tốt, dù chạy toàn bộ, máy cũng bị tê liệt. Cán bộ là những người đem chính sách của Chính phủ, của Đoàn thể thi hành trong nhân dân, nếu cán bộ dở thì chính sách hay cũng không thể thực hiện được. Vậy cán bộ phải có đức tính như thế nào?

1. Mình đối với mình: Đừng tự mãn, tực túc. Đừng kiêu ngạo, phải học lấy điều hay của người ta. Phải siêng năng, tiết kiệm.

2- Đối với đồng chí mình phải như thế nào? Phải thân ái với nhau, nhưng không che đậy những điều dở. Học cái hay, sửa chữa cái dở. Không nên tranh giành ảnh hưởng của nhau. Không nên ganh ghét đố kỵ và khinh kẻ không bằng mình. Bỏ lối hiếu danh, hiếu vị. Thí dụ, một anh nói giỏi, một anh không, khi ra quần chúng anh nói kém sợ anh nói giỏi lên sẽ được công chúng vỗ tay hoan nghênh lấn át ảnh hưởng mình đi, nên không cho anh nói giỏi lên nói.

3- Đối với công việc, phải thế nào? Trước hết, phải nghĩ cho kỹ, có việc làm trước mắt thành công nhưng thất bại về sau. Có việc địa phương này làm có lợi, nhưng hại cho địa phương khác. Những cái như thế, phải tránh.

4 – Đối với nhân dân: Phải nhớ đoàn thể (Đảng) làm việc cho dân, đoàn thể (Đảng) mạnh hay yếu là ở dân. Dân nghe theo là mình mạnh. Phải hiểu nguyện vọng của dân, sự cực khổ của dân. Hiểu tâm lý của dân, học sáng kiến của dân. Nhưng có những việc dân không muốn mà phải làm, như tản cư, nộp thuế, những việc ấy phải giải thích cho dân rõ.

Phải tôn kính dân, phải làm cho dân tin, phải làm gương cho dân. Muốn cho dân phục, phải được dân tin, muốn cho dân tin, phải thanh khiết (tức trong sạch, liêm khiết).

5 – Đối với Đoàn thể: Trước lúc mình vào đoàn thể nào, phải hiểu đoàn thể ấy là gì? Vào làm gì? Mỗi đoàn thể phải vì dân, vì nước. Khi bình thời phải hết sức làm việc. Khi nguy hiểm, phải hy sinh vì đoàn thể. Hy sinh tính mạng, lợi quyền, giữ danh giá của đoàn thể. Muốn giữ danh giá của đoàn thể, phải giữ danh giá của mình. Không được báo cáo láo như: làm thành một việc thì phóng đại, thất bại thì giấu đi.

Sau Hội nghị ngày Tết ấy, Bác còn gửi thư chung cho toàn thể các đồng chí Trung bộ, yêu cầu phải kiên quyết tẩy sạch những khuyết điểm: địa phương chủ nghĩa, óc bè phái, cô độc, hẹp hòi, ham chuộng hình thức, ích kỷ, kiêu ngạo,v.v…

Bác đặc biệt lưu ý: “Thậm chí có nơi có những đồng chí còn giữ óc địa vị, cố tranh làm cho được chức ủy viên này, chủ tịch kia. Còn những đồng chí lo ăn ngon mặc đẹp, lo phát tài, lo chiếm của công thành của tư, đạo đức cách mạng thế nào, dư luận chê bai thế nào cũng mặc. Có nơi các đồng chí chẳng những không phê bình giúp nhau sửa đổi, mà lại che đậy cho nhau, tha thứ cho nhau, giấu cả đoàn thể. Thành thử càng này càng hủ hóa, càng hỏng việc”.

Những lời Bác khuyên nhủ cặn kẽ như trên, khi thấm vào gan ruột từng người, đã khiến cho Thanh Hóa rèn luyện được một đội ngũ cán bộ cần, kiệm, liêm chính, chí công vô tư, được lòng dân nên đi đến thắng lợi trong mọi việc.

Lời Bác dạy trong Tết năm Đinh Hợi (1947) nay còn được in trong cuốn Hồ Chí Minh Toàn tập (tập I) để làm bài học luôn luôn mới, soi sáng đường cho chúng ta đi.

Trần Thái Bình

VGPNews

Ngày bầu cử đầu tiên – Kỳ 2

Tiếng dân trên báo

TT – Dù cả nước có tới trên 90% người mù chữ, nạn đói vẫn hoành hành, phương tiện và công nghệ truyền thông lạc hậu, thiếu thốn; nhưng không khí tự do, dân chủ, minh bạch và công bằng trên các tờ báo giấy đen, in viết thủ công cũng đủ thổi vào đời sống từ thành thị đến thôn quê một luồng cảm hứng chính trị nồng nhiệt, chân thành. Đó là cảm hứng của người làm chủ cuộc đời.

>> Kỳ 1: Thu phục thù trong giặc ngoài

“Bạn cố mà vận động đi”

Những tháng đầu năm 1945, báo chí cũng giống như mọi lĩnh vực khác đều trở nên nghèo nàn, uể oải bởi chiến sự, nạn đói và loạn lạc. Nhưng sau Cách mạng Tháng Tám, đặc biệt là khi sắc lệnh tổng tuyển cử được ban hành thì chưa bao giờ báo chí, nhân dân quan tâm đến chính trị như vậy. Các đảng phái, lực lượng ngoài Việt minh có khá nhiều ấn phẩm như Việt Nam, Thiết Thực, Đồng Tâm… thì Việt minh và các tổ chức dân chủ yêu nước có các báo Độc Lập, Cứu Quốc, Sự Thật, Cờ Giải Phóng… và các báo địa phương như Việt Nam Độc Lập của Việt Minh Cao Bắc Lạng. Các báo đều dành 80-100% lượng thông tin về tổng tuyển cử. Diễn đàn báo chí đăng tải đủ mọi quan điểm, vùng miền, tầng lớp, mọi giới quyền lợi xung quanh ứng cử và bầu cử.

Đặc biệt, Quốc Hội là tờ nhật báo duy nhất chuyên phản ánh, tuyên truyền cho tổng tuyển cử. Sứ mệnh của tờ báo này chỉ tồn tại đến khi kết thúc tổng tuyển cử. Báo mang tên Quốc Hội do ông Trần Hữu Tri làm chủ nhiệm, trụ sở tại 71 Hàng Trống, Hà Nội (địa chỉ của báo Nhân Dân ngày nay), giá bán 8 hào/tờ. Bình thường ra hai trang/số. Những số đặc biệt ra bốn trang. Báo ra tổng cộng 15 số, từ 17-12-1945 đến 6-1-1946 (thỉnh thoảng có ngày không xuất bản).

Mục đích của báo: định rõ giá trị tổng tuyển cử đối với người trong và ngoài nước; giải thích thể lệ tổng tuyển cử cũng như quyền hạn bổn phận của cử tri và giúp những người ứng cử một cơ quan vận động để giới thiệu khả năng, thành tích và chương trình của mình… Số đầu tiên, báo đã có bài hướng dẫn người tự ra ứng cử. Bài viết: “Bạn cố mà vận động đi! Vận động bằng bất cứ cách nào bạn thích: truyền đơn, biểu ngữ, báo chí, vô tuyến truyền thanh, diễn thuyết… Bạn cứ việc vận động một mình nhưng cũng không ai cấm bạn đi tìm mấy người nữa cùng ra ứng cử trong hạt của bạn… Muốn tất cả mọi công việc được dễ dàng bạn nên liên lạc với ủy ban vận động tuyển cử…”.

Chuyên mục cố định “Chúng tôi phỏng vấn” của báo Quốc Hội số nào cũng đăng bài trao đổi của phóng viên với 1-4 ứng viên. Những nhân vật được phỏng vấn thuộc đầy đủ các giới, lực lượng, tầng lớp. Các ứng viên đưa ra những quan điểm, chương trình kế sách khác nhau nhưng đều chung tâm nguyện: độc lập, đoàn kết và vì nhân dân. Các ứng viên rất thẳng thắn góp ý với dự thảo hiến pháp như: cắt bớt quyền hạn của chính quyền địa phương hay tăng quyền tự chủ của nhân dân. Nhà thơ Xuân Diệu nói: “Tôi sẽ bênh vực cái quyền bãi miễn của dân chúng. Có cái quyền ấy thì mới không ăn hiếp dân được. Không gì khả ố bằng sự ăn hiếp dân”. Phát biểu trên báo, ứng viên nào cũng nói về sở trường, thế mạnh của mình như về tài chính, chăn nuôi, kinh doanh thương mại, y tế, giáo dục… kèm theo những mong muốn có điều kiện giúp dân giúp nước.

“Muốn lo việc nước thì ra ứng cử”

Nhật báo Quốc Hội ra 15 số để phục vụ tổng tuyển cử đầu tiên của nước nhà - Ảnh: Q.Thiện

Trên trang 2 báo Quốc Hội số 3 ra ngày 19-12-1945 trong mục thông báo có đoạn: Thể lệ phát thanh dành cho tất cả mọi người có nhu cầu tự vận động bầu cử trên đài phát thanh. Thời gian từ 5g30-6g30 mỗi buổi chiều. Bất cứ ứng viên nào cũng có thể tham gia, chỉ cần đăng ký và nộp tiền.

Ứng viên sẽ đem đến nhà đài các bài viết giới thiệu về mình hoặc về các chương trình kiến thiết quốc gia của mình và thuê đài đọc. Giá tiền 40 đồng Đông Dương/trang. Khổ giấy thương mại 21×27, chữ đánh máy cách nhau hai dòng. Trên nửa trang thì tính tiền cả trang. Dưới nửa trang cũng tính nửa trang. Bài phải qua kiểm duyệt (theo thể lệ vận động: không đả kích lăng mạ người khác, không phản lại quyền lợi dân tộc, tinh thần độc lập, dân chủ…). Đưa bài trước 24 tiếng để rao cho công chúng đón nghe… Nhà nghiên cứu Lê Mậu Hãn nói: đây là một trong những hình thức vận động bầu cử tiến bộ, dân chủ và công bằng nhất trên thế giới lúc đó.

Ngoài ra các ứng viên còn ra sức in truyền đơn, tổ chức các buổi tuần hành, mittinh, diễn thuyết, đối thoại với công chúng. “Toàn là những phương pháp lịch sự, nhã nhặn với một tinh thần rộng rãi, một ý nghĩa cao quí” (báo Quốc Hội số 5 ngày 21-12-1945). Bất cứ một dấu hiệu thiếu minh bạch hay thiếu công bằng nào cũng có thể bị phát giác và đả kích. Trên các diễn đàn tranh cử cũng luôn nóng bởi những cuộc tranh luận. Tinh thần “Hễ là người muốn lo việc nước thì đều có quyền ra ứng cử” được Hồ Chủ tịch hiệu triệu thấm nhuần đến tất cả những nhà cách mạng, nhân sĩ trí thức, kỳ hào và cả những người giới cần lao…

Mặc dù dân trí, công nghệ và các phương tiện vận động hết sức đơn giản thô sơ nhưng tỉnh nào cũng có số ứng viên gấp rất nhiều lần tỉ lệ trúng cử. Chủ yếu là người tự ứng cử. Hà Nội lấy sáu đại biểu thì số người ứng cử tới 47. Kiến An lấy 7 thì ứng cử 60. Hà Nam lấy 7 thì cũng ứng cử 52. Và vì vậy Quốc hội đầu tiên của VN đã có 333 đại biểu và 43% số đó là những đại biểu không thuộc đảng phái nào. 57% còn lại thì cũng đại diện cho nhiều đảng phái khác nhau. Chính Quốc hội khóa này, những vị đại biểu này đã trực tiếp chèo lái con thuyền đất nước vượt qua muôn trùng sóng gió buổi khai sinh để đi đến hôm nay.

Cử tri Hà Nội xem danh sách và tiểu sử ứng cử viên trong ngày bầu cử Quốc hội 6-1-1946 - Ảnh tư liệu

Ngày 10-12-1945, danh sách ứng cử viên khu vực Hà Nội được niêm yết rộng rãi. Trong danh sách, Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng thứ hai sau cụ Nguyễn Văn Tố. Tất cả có 74 ứng cử viên, chọn lấy sáu đại biểu. Một điều bất ngờ với Chủ tịch Hồ Chí Minh là trước ngày tổng tuyển cử, tại Hà Nội, 118 chủ tịch các ủy ban nhân dân và tất cả các đại biểu làng xã tại Hà Nội đã nhất trí công khai một bản kiến nghị yêu cầu cụ Hồ Chí Minh được miễn phải ứng cử trong cuộc tổng tuyển cử vì Cụ đã được toàn dân suy tôn là Chủ tịch vĩnh viễn của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa.Đáp lại nguyện vọng trên, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư trả lời đồng bào: “Tôi rất cảm động được đồng bào quá yêu mà đề nghị: tôi không phải ra ứng cử, đồng bào các nơi khác khắc cử tôi vào Quốc hội. Nhưng tôi là một công dân của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa nên tôi không thể vượt khỏi thể lệ của cuộc tổng tuyển cử đã định. Tôi ra ứng cử ở Hà Nội, nên không thể ra ứng cử ở nơi nào nữa. Tôi xin cảm tạ đồng bào đã có lòng yêu tôi và yêu cầu toàn thể đồng bào hãy làm tròn nhiệm vụ người công dân trong cuộc tổng tuyển cử sắp tới”.

Chiều 5-1-1946, Bác đến khu học xá (nay là Trường đại học Bách khoa Hà Nội) cùng các ứng cử viên gặp gỡ cử tri. Hôm ấy, trước đông đảo quần chúng có mặt, Bác nói với các ứng viên: “Vừa rồi đây, ta vừa giành được độc lập. Một số ít người đã quên cái công khó nhọc của dân chúng. Ta đã phải hi sinh nhiều mới có cái quyền cầm lá phiếu ngày nay đó”. Bác nhắc nhở các ứng cử viên: “Làm việc nước bây giờ là hi sinh, là phấn đấu, quên lợi riêng mà nghĩ đến lợi chung”. Hướng về các cử tri, Bác căn dặn: “Những ai muốn làm quan cách mạng thì nhất định không nên bầu. Ngày mai, không ai ép, không ai mua, toàn dân sẽ thực hiện cái quyền dân chủ ấy”.

Hơn 90% tổng số cử tri đã tham gia cuộc tổng tuyển cử đầu tiên của nước nhà.

(Nguồn: TTXVN và tư liệu của đồng chí Vũ Kỳ)

QUANG THIỆN

_____________________

Tại Sài Gòn, những đợt bỏ phiếu liên tục bị ngắt quãng vì những trận càn quét dưới đất và trên không. “Chúng tôi chuẩn bị bỏ phiếu, một chiếc máy bay Nhật quần đảo trên đầu rồi giội bom xuống. Khói lửa ngất trời”.

Kỳ tới: Lá phiếu trong khói lửa

Tuổi trẻ Online

Ngày bầu cử đầu tiên – Kỳ 1

Thu phục thù trong giặc ngoài

TT – 7g sáng 6-1-1946, tiếng trống, chuông, chiêng… cùng vang dậy khắp Hà Nội, báo hiệu ngày hội tổng tuyển cử đầu tiên của dân tộc VN bắt đầu. Tại miền Nam, người dân cũng nô nức tham gia ngày bầu cử theo lời ca giục giã vang khắp mọi nơi: “Hãy ra bầu cử, người công dân nước Nam. Hãy ra bầu cử, nghị viện của mình…”.

Các lực lượng chống đối ra sức phá hoại, nhưng trước khí thế ngùn ngụt của những con người đòi được quyền làm người, mọi thế lực ngăn cản đều thất bại.

Cổ động cho kỳ bầu cử Quốc hội khóa đầu tiên tại Hà Nội - Ảnh tư liệu

Để tiến hành tổng tuyển cử, chính quyền nhân dân tuy non trẻ nhưng phải đối mặt với rất nhiều thù trong giặc ngoài. Sách lược ứng phó khôn khéo duy nhất đúng lúc đó là: giương cao ngọn cờ đoàn kết, tất cả vì mục tiêu độc lập dân tộc.

Vượt qua khó khăn

Giáo sư Lê Mậu Hãn nhớ lại: Trên các tuyến đường lớn từ phía Bắc đổ về Hà Nội rầm rập gót chân của 20.000 quân Tưởng. Phía Nam, quân Pháp đã quay lại nổ súng. Hàng vạn quân Nhật vẫn còn vũ khí đang đồn trú tại VN. Tại Hà Nội, nhiều đảng phái chính trị chống chính phủ nhân dân ra đời. Đặc biệt là lực lượng Việt Nam quốc dân đảng (Việt Quốc) do Vũ Hồng Khanh, Nguyễn Tường Tam cầm đầu và Việt Nam cách mạng đồng minh hội (Việt Cách) do Nguyễn Hải Thần nắm giữ. Một số vùng như Yên Bái, Vĩnh Yên, Móng Cái đã bị họ chiếm giữ. Các tờ báo, truyền đơn chống phá Việt Minh được phát tán khắp nơi. Luận điệu đòi loại bỏ các bộ trưởng là đảng viên cộng sản khỏi Chính phủ mới được đẩy cao.

Đường phố Hà Nội lúc này chưa hết những đoàn hành khất rách rưới, vạ vật. Khắp các thôn làng xơ xác, tiêu điều. Hơn 2 triệu người VN đã chết vì đói ăn. Đây là một trong những tàn tích rùng rợn nhất của chế độ cũ để lại. Chính phủ nhân dân đã ra đời nhưng lại chưa được quốc tế công nhận. Để tập hợp được sức mạnh toàn dân và thực hiện bất cứ nhiệm vụ gì, chính phủ mới cần phải chính danh, điều đó nghĩa là Chính phủ phải được Quốc hội bầu, và Quốc hội phải do dân bầu.

Mittinh vận động cứu đói tổ chức trước Nhà hát lớn Hà Nội. Hàng ngồi đầu tiên từ phải sang trái: cụ Nguyễn Văn Tố (nhân sĩ), tướng Mỹ Gallager (đại diện lực lượng Đồng minh), Chủ tịch Hồ Chí Minh, cố vấn Vĩnh Thụy, cụ Ngô Tử Hạ (nhân sĩ) - Ảnh tư liệu

Để nhân dân thật sự được hưởng quyền tự do, dân chủ thì đất nước phải có hiến pháp. Tại phiên họp đầu tiên của chính phủ lâm thời ngày 3-9-1945, Hồ Chủ tịch đã nói: chính phủ phải tổ chức tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu càng sớm càng tốt. Năm ngày sau, sắc lệnh về tổng tuyển cử được ban hành: công dân Việt Nam từ 18 tuổi trở lên được tự do bầu cử và ứng cử; thành lập ủy ban dự thảo thể lệ, hiến pháp, các sắc lệnh…

Quân Tưởng và các lực lượng Việt Quốc, Việt Cách ra sức công kích, xuyên tạc trên các diễn đàn thông tin, kèm các hành vi bạo động nhằm phá hoại tổng tuyển cử. Hồ Chủ tịch và chính phủ lâm thời xác định cuộc tổng tuyển cử này còn là cuộc đấu tranh chính trị, đấu tranh nhân dân hết sức cam go. Các chính sách đối nội, đối ngoại, cứng rắn, mềm dẻo đòi hỏi linh hoạt cao.

Chính phủ mới ra đời đã chủ động hòa giải với tướng Tiêu Văn (quân Tưởng) và Việt Cách thông qua bản Thỏa ước đoàn kết và hợp tác ngày 23-10-1945. Nhưng ít ngày sau, Nguyễn Hải Thần tự xé bỏ. Chính phủ lần thứ hai chủ động thảo luận với họ. Họ đòi thay quốc kỳ, lập lại chính phủ, xóa bỏ chế độ ủy ban nhân dân… Việt Quốc thì đòi nắm giữ bộ Nội vụ, Tài chính, Kinh tế, Giáo dục, Quốc phòng, Thanh niên; đòi hoãn tổng tuyển cử và đòi chia 1/3 số ghế Quốc hội, tương đương ghế của Việt Minh….

Ngày 19-11-1945, ba phái Việt Minh, Việt Quốc và Việt Cách cùng tướng Tiêu Văn nhóm họp dưới sự chủ trì của Hồ Chủ tịch đã tìm ra được tiếng nói chung. Mấy ngày sau, văn bản mang tên “Đoàn kết tinh thành” được ba phái chung bút ký. Nhưng tình hình chỉ thật sự dịu đi khi Hồ Chủ tịch tiếp tục thương lượng thêm nhiều bước để ba phái đồng tình với văn bản Biện pháp đoàn kết với ba điều quan trọng nhất là: Độc lập, đoàn kết trên hết; ủng hộ tổng tuyển cử và đình chỉ công kích lẫn nhau. Tổng tuyển cử lúc này mới có thể bắt đầu.

Ngày 6-1-1946, cuộc tổng tuyển cử đầu tiên diễn ra trên đất nước VN. Lần đầu tiên trong lịch sử, mọi người dân VN từ 18 tuổi trở lên, không phân biệt nam, nữ đều được hưởng quyền bầu cử và ứng cử Quốc hội. Hơn 90% tổng số cử tri đã đi bỏ phiếu. Nhân dân cả nước đã bầu 333 đại biểu vào Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa. Chủ tịch Hồ Chí Minh ứng cử ở Hà Nội và đã trúng cử với số phiếu cao nhất là 98,4%.

(Nguồn: Chính phủ VN 1945 – 2003, NXB Thông Tấn 2004)

“Lịch sử nhân loại có thể phải kinh ngạc trước cuộc cách mạng ở một dân tộc nhỏ bé hàng trăm năm nô lệ với 90% dân mù chữ và vừa trải qua một nạn đói khủng khiếp đến mất tính người – giáo sư Lê Mậu Hãn nhận định – Tôi không bàn về ý nghĩa của cách mạng mà nói về một hành vi ứng xử của cách mạng”. Đó là việc Vĩnh Thụy (vua Bảo Đại) ứng cử đại biểu Quốc hội và được làm cố vấn Chính phủ lâm thời – một vị vua của chế độ cũ lại được trở thành thành viên cao cấp của bộ máy lãnh đạo mới, được phép thành người đại diện của dân chúng, sau khi ông đã thoái vị làm thường dân. Đây là một trong những minh chứng về tinh thần dân chủ và đại đoàn kết dân tộc vô cùng cao quí của chính quyền cách mạng.

Ngay sau ngày đọc Tuyên ngôn độc lập, Hồ Chủ tịch đã quyết định mời tất cả những người ngoài Mặt trận Việt Minh cùng đứng chung danh sách ứng cử với quan điểm: dân chủ và tôn trọng người tài năng, đoàn kết mọi lực lượng yêu nước, thiện tâm với quyền lợi dân tộc. Hồ Chủ tịch nói: “Hễ là người muốn lo việc nước thì đều có quyền ra ứng cử; hễ là công dân thì đều có quyền đi bầu cử. Không chia trai gái, giàu nghèo, nòi giống, giai cấp, đảng phái…”.

Khi soạn thảo các văn kiện quan trọng trực tiếp ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia và quyền dân chủ, Hồ Chủ tịch đều thành lập những ban soạn thảo có đủ mọi thành phần, đảng phái miễn là người có tài, có tâm với dân tộc. Ủy ban dự thảo hiến pháp gồm bảy người thì có cả những nhân vật ngoài Việt Minh như Vĩnh Thụy, Đặng Thai Mai. Ủy ban dự thảo thể lệ tổng tuyển cử gồm chín người thì có đại diện đủ cả các giới, các ngành.

Đến ngày 4-1-1946, Hồ Chủ tịch viết thư gửi đồng bào VN ở Lào và Xiêm (Thái Lan) kêu gọi những người Việt xa quê đoàn kết một lòng và không ngừng hướng về Tổ quốc. Kết quả của tinh thần đó đã thể hiện trong Quốc hội đầu tiên của dân tộc là một cơ quan hội tụ đầy đủ nhất những người ưu tú, tài đức thuộc mọi tầng lớp, lứa tuổi, tôn giáo vùng miền, không phân biệt đẳng cấp, quan điểm, văn hóa nhưng đều chung tinh thần đoàn kết, lý tưởng độc lập, dân chủ. Đó là các nhà cách mạng lão thành từng bôn ba hải ngoại như Hồ Chí Minh, Tôn Đức Thắng… đến những trí thức trẻ đầy nhiệt huyết như Nguyễn Đình Thi.

Các thương gia như Nguyễn Sơn Hà, Trịnh Văn Bô đến các nhà văn hóa như Nguyễn Văn Tố, Đặng Thai Mai, Hoàng Đạo Thúy… Các tôn giáo như linh mục Phạm Bá Trực, thượng tọa Thích Mật Thể, chưởng quản Cao Triều Phát (Cao Đài) cùng các đảng phái chính trị như Bồ Xuân Luật, Trương Trung Phụng…

QUANG THIỆN

________________________

Một không khí tự do, dân chủ, minh bạch và công bằng trên các tờ báo đã thổi vào đời sống từ thành thị đến thôn quê một luồng cảm hứng chính trị nồng nhiệt, chân thành trong kỳ bầu cử.

Kỳ tới: Tiếng dân trên báo

Tuổi trẻ Online

5-6-1911: Chuyến ra đi lịch sử

Nguyễn Ái Quốc

TTO – Đã 96 năm kể từ ngày 05-6-1911, ngày chàng thanh niên Nguyễn Tất Thành bước lên con tàu thủy với hai bàn tay trắng, trái tim nóng bỏng nỗi đau mất nước và quyết tâm sắt đá: khôi phục lại nước Việt, bảo vệ nền độc lập và cuộc sống tự do cho mọi người.

Ước vọng quá lớn với một chàng trai 21 tuổi. Nhưng đã thành hiện thực. Chàng trai đã đi vào lịch sử, viết nên lịch sử.

96 năm sau, nước Việt Nam không chỉ có độc lập, tự do, dân Việt không chỉ có cơm ăn, áo mặc, được học hành như ước vọng của Người. Những năm đầu TK 21 này, nước Việt Nam đã có một vị thế mới.

Lại nhớ lời Người: “sánh vai với các cường quốc năm châu”. Bác ơi, ngày này chúng cháu muốn nhắc lại vài câu chuyện về anh Ba thuở ấy. Để biết rằng con đường sáng lạn mà cả dân tộc đang đi đã bắt đầu từ bước chân cô đơn của Người như thế nào….

TTO xin trích đăng lại một số mẩu chuyện ghi lại những bước hoạt động đầu tiên của Người, trích trong sách Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch của tác giả Trần Dân Tiên – NXB Trẻ 2005.

………………………………….

Ra đi với hai bàn tay (*)

…Một vị trí thức ở Sài Gòn kể lại cho tôi:

“Trong khi còn học ở trường Chasseloup–Laubat, tôi gặp một người thanh niên ở Trung bộ vào Sài Gòn ở nhà một người bạn. Vì cùng một lứa tuổi, cho nên chúng tôi lập tức trở nên đôi bạn thân. Tôi đưa anh đến trước tiệm cà phê của Pháp xem đèn điện, xem chiếu bóng và máy nước. Những cái đó trước kia anh chưa hề thấy.

Một hôm tôi mời anh ăn kem. Anh rất lạ. Lần đầu tiên anh mới nếm mùi kem.

Sau ít hôm, anh đột nhiên hỏi tôi: “Anh Lê, anh có yêu nước không?”

Tôi ngạc nhiên và đáp: “Tất nhiên là có chứ!”

“Anh có thể giữ bí mật không?”

“Có”.

“Tôi muốn đi ra ngoài, xem nước Pháp và các nước khác. Sau khi xem xét họ làm như thế nào, tôi sẽ trở về giúp đồng bào chúng ta. Nhưng nếu đi một mình, thật ra cũng có điều mạo hiểm, ví như khi đau ốm… Anh muốn đi với tôi không?”

“Nhưng bạn ơi, chúng ta lấy đâu ra tiền mà đi?”

“Đây, tiền đây” – Anh bạn của tôi vừa nói vừa giơ hai bàn tay – “Chúng ta sẽ làm việc. Chúng ta sẽ làm bất cứ việc gì để sống và để đi. Thế thì anh cùng đi với tôi chứ?”

Bị lôi cuốn vì lòng hăng hái của anh, tôi đồng ý. Nhưng sau khi suy nghĩ kỹ về cuộc phiêu lưu, tôi không có đủ can đảm để giữ lời hứa.

Vài ngày sau, tôi không gặp lại anh bạn nữa. Tôi đoán là anh ta đã đi ngoại quốc. Anh ta đi bằng cách nào? Tôi không biết. Về sau, tôi chỉ biết người thanh niên yêu nước đầy nhiệt huyết ấy là Cụ Nguyễn Ái Quốc, là Hồ Chủ tịch của chúng ta ngày nay”.

Anh phụ bếp kỳ lạ

Ông Mai ở Hải Phòng, nhân viên cũ trên một chiếc tàu Pháp của hãng “Vận tải hợp nhất” đã cho chúng tôi biết những điều mà ông Lê không rõ.

Ông Mai kể lại:

“Vào khoảng cuối năm 1911 hay 1912 – tôi không nhớ đúng nữa – tôi làm việc ở phòng ăn của các sĩ quan trên tàu. Tàu chúng tôi cặp bến Sài Gòn để lấy hàng và đón khách.

Một buổi trưa, một người trai trẻ lên tàu. Sau một phút ngập ngừng, anh ta hỏi xin việc.

Chúng tôi trả lời là không có việc và có chăng nữa, chúng tôi cũng không có quyền nhận anh ta. Chúng tôi cười vì chàng trai có vẻ một anh học trò, không phải là người lao động như chúng tôi. Chúng tôi nói nhỏ với nhau: “Một người như thế có thể làm được công việc gì trên tàu?”.

Tôi không hiểu tại sao tôi thấy thương hại anh ta và tôi nói: “Đi theo tôi, tôi sẽ dẫn anh đến gặp chủ tàu. Có lẽ ông ta sẽ có việc cho anh làm”.

Chủ tàu hỏi: “Anh có thể làm việc gì?”

“Tôi có thể làm bất cứ việc gì!” – Chàng trai trả lời.

“Được, ta sẽ lấy anh làm phụ bếp. Sáng mai anh đến đây nhận việc”.

Chàng trai ấy xưng tên là Ba. Vì tôi đã giúp anh ta việc nhỏ ấy, cho nên anh ta rất thân với tôi, và cũng vì anh ta rất dễ mến tôi cũng rất thân với anh ấy. Việc gì tôi làm được là tôi cố làm để giúp anh ta, vì anh ta chưa biết gì cả. Vả lại, anh ấy có can đảm và nhẫn nại. Phụ bếp trên tàu, mỗi ngày anh ta phải làm từ bốn giờ sáng, quét dọn sạch sẽ nhà bếp lớn trên tàu, tối đốt lửa trong các lò. Sau đó đi khuân than, rồi xuống hầm lấy rau, thịt cá, nước đá v.v…

Công việc khá nặng nhọc vì dưới bếp rất nóng và trong hầm rất rét. Nhất là khi vừa phải vác một bao nặng vừa leo lên những bậc thang trong khi tàu tròng trành.

Xong công việc ấy, phải dọn cho bọn chủ bếp Pháp ăn. Sau đấy, nhặt rau, rửa chảo nồi và đun lò lại. Công việc kéo dài suốt ngày.

Nhà bếp lo cho bảy, tám trăm người cả nhân viên và hành khách. Có nhiều cái chảo bằng đồng lớn và nặng quá, đến nỗi anh Ba phải kéo lê trên sàn. Và những cái nồi cao quá, anh phải leo lên ghế để chùi nồi. Luôn luôn nghe tiếng:

“Ba, đem nước đây!”

“Ba, dọn chảo đi!”

“Ba, thêm than chỗ này, thêm than chỗ kia!”

Suốt ngày, anh Ba đẫm nước, hơi và mồ hôi, mình đầy bụi than. Người ta thấy anh Ba phải dùng hết tinh thần và sức lực để làm cho xong công việc, và hơn nữa vì chưa quen việc. Anh phải gọt xong đống củ cải và khoai tây. Anh không biết làm thế nào. Tôi dạy cho anh. Tôi còn nhớ một lần gọt măng tây. Đây là lần đầu tiên anh Ba thấy măng tây. Anh ta bắt đầu gọt trơ trụi, thì vừa lúc tôi đến. Tôi hối hả quẳng xuống bể tất cả măng đã gọt và tôi bày cho anh ta phải làm như thế nào. Nhờ thế không xảy ra việc gì.

Mỗi ngày, chín giờ tối, công việc mới xong. Anh Ba mệt lử. Nhưng trong khi chúng tôi nghỉ hoặc đánh bài, anh Ba đọc hay viết đến mười một giờ hoặc nửa đêm. Về thứ bậc, anh Ba là người dưới chúng tôi, chúng tôi là những người có chức vị, còn anh Ba chỉ là người phụ bếp. Nhưng vì anh Ba hiểu biết – anh giúp những người bạn mù chữ của tôi viết thư về cho gia đình họ và anh không bao giờ nói tục, vì vậy anh Ba được tất cả chúng tôi yêu mến.

Một lần, dọc đường, anh Ba suýt chết đuối. Biển nổi sóng. Làn sóng to như những quả núi chồm lên đổ xuống. Hầu hết mọi người say sóng. Như mọi ngày, anh Ba đi lên đi xuống từ bếp đến hầm. Không thể vác những rổ rau lên vai vì tàu tròng trành, anh phải buộc rổ rau vào dây sắt để kéo đi, chuyến thứ hai một ngọn sóng lớn thình lình phủ lên sàn tàu và cuốn xuống biển mọi vật trên sàn tàu. Cả những rổ rau và anh Ba nữa. Anh bị đẩy vào giữa cột buồm và dây xích, nhờ vậy mà thoát chết.

Cái gì đối với anh Ba cũng mới, anh phải học tất cả. Ví dụ mới đầu anh không ăn được bánh mì và bơ. Ăn xúp thì anh dùng nĩa.

Vài ngày sau tàu rời bến, có hai hành khách – hai người lính trẻ tuổi giải ngũ về Pháp. Tôi không hiểu tại sao hai anh này đã trở nên bạn thân của anh Ba. Họ giúp anh nhặt rau và buổi tối họ cho anh mượn những quyển sách nhỏ, dạy cho anh đọc và viết. Và anh Ba lại dạy họ quốc ngữ và thỉnh thoảng dấm dúi cho họ cốc cà phê. Anh nói với tôi với một vẻ ngạc nhiên: “Anh Mai, cũng có những người Pháp tốt, anh ạ”.

Hồi ấy, Bùi Quang Chiêu, kỹ sư canh nông vào làng Tây, đi tầu hạng nhất cùng gia đình. Ông ta đưa con sang Pháp học. Trông thấy Ba, ông ta gọi anh lại và thân mật bảo:

“Tại sao con lại làm cái nghề khó nhọc này? Bỏ nghề đi. Con nên chọn một nghề khác, danh giá hơn…”. Anh Ba lễ phép cảm ơn ông Chiêu, nhưng không nói đồng ý hay không.

Đến Mác–xây, chúng tôi lĩnh lương. Mỗi nhân viên Việt Nam được từ một trăm đến hai trăm quan, thêm vào đấy tiền thưởng của hành khách. Anh Ba là phụ bếp, chỉ được mười quan. Anh ta được ít lương, nhưng anh học được nhiều chuyện mới lạ. Coi tôi là bạn thân thiết nhất, anh ta nói với tôi tất cả những điều anh trông thấy và suy nghĩ.

“Ơ! Ở Pháp cũng có người nghèo như bên ta!”.

Trông thấy những gái điếm đến làm tiền trên tàu, Ba nói với tôi:

“Tại sao người Pháp không “khai hóa” đồng bào của họ trước khi đi “khai hóa” chúng ta, sao thế anh Mai?”

Tàu điện đối với anh Ba là một chuyện kỳ lạ.

Lần đầu tiên anh ta trông thấy những “cái nhà biết chạy” ấy. Cái gì cũng làm anh ta chú ý, vì cái gì đối với anh ta cũng mới cả. Luôn luôn anh ta nói

“Lần đầu tiên, tôi mới thấy cái này…”

Công việc trong ngày xong, tôi cho anh ta mượn bộ áo quần, và chúng tôi đi đến tiệm cà phê ở đường Ca–nơ–bia. Không cần phải nói, đây là lần đầu tiên anh ta vào tiệm cà phê và cũng là lần đầu tiên người Pháp gọi anh bằng “ông”.

Sau những ngày đầu tiên ở Mác–xây, anh Ba tóm tắt cảm tưởng của mình bằng mấy chữ:

“Người Pháp ở Pháp tốt, lễ phép hơn người Pháp ở Đông dương”.

Chúng tôi đi theo tàu lên Ha–vơ–rơ (Havre) để sửa chữa. Chúng tôi được đưa sang làm việc ở một chiếc tàu khác, trở về Đông Dương. Anh Ba không muốn trở về. Ông chủ đem anh về nhà. Từ đấy, tôi không được tin tức gì của anh Ba nữa…

Không bao giờ tôi đoán rằng người bạn nhỏ của tôi, người phụ bếp, anh Ba ngây thơ, siêng năng và ngoan ngoãn ấy, lại trở thành Chủ tịch Chính phủ ta, người xây dựng nên nước Cộng hòa chúng ta”.

TRẦN DÂN TIÊN

Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Bác Hồ – NXB Trẻ 2005

(còn tiếp)

………………………………………………..

(*): các tiêu đề do TTO đặt

Tuổi trẻ Online

Đi tìm tư liệu về Bác Hồ ở nước Nga

Bác Hồ vào năm 1933 khi vừa từ Trung Quốc trở lại Nga (ảnh do Bảo tàng Hồ Chí Minh thu thập được trong chuyến công tác tại Nga cuối năm 2006)

TT – “Sau một tháng sang Nga tìm tư liệu về Bác, chúng tôi đã có không phải ba trang mà 1.000 trang, trong đó có khoảng gần 30% là tư liệu mới” – ông Chu Đức Tính, giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh, chia sẻ những thông tin mới nhất mà các cán bộ bảo tàng mới mang về từ nước Nga.

Là một người làm lưu trữ hơn 20 năm, chị Phạm Thị Lai – trưởng phòng tư liệu Bảo tàng Hồ Chí Minh, người phụ trách nhóm công tác – cẩn trọng: “Tất cả sẽ được công bố sau khi chúng tôi đã phân loại, nghiên cứu và trình kết quả lên cấp có thẩm quyền. Có những bí mật mà tôi không đủ thẩm quyền công bố, và thật ra thì ngay ở Nga nó cũng chưa được giải mật”.

Chị Lai kể về một tháng tìm kiếm, làm việc kể từ khi đặt chân xuống sân bay Domodedovo đến khi xách những chiếc vali nặng trĩu tài liệu quí về nước: “Lưu trữ lịch sử chính trị quốc gia Nga là cơ quan lưu trữ lớn nhất nước Nga, có tới 685 phông lưu trữ (phông là đơn vị lưu trữ lớn nhất theo thuật ngữ của chuyên ngành lưu trữ) với 2,1 triệu hồ sơ lưu trữ. Trong đó tư liệu về Đảng Cộng sản VN và Bác Hồ chỉ là một mục lục trong một hồ sơ, với số lượng tài liệu hiện vật khoảng 7.000 trang. Trước đây, thời Liên Xô, các bạn có tặng chúng ta hầu hết các tài liệu mà họ lưu giữ, song chỉ là bản sao chụp, đen trắng, không rõ nét, nay chúng tôi phải tìm cách tiếp cận với hồ sơ gốc để scan. Qui định của cơ quan lưu trữ Nga là mỗi người mỗi ngày chỉ được đọc 5 đơn vị hồ sơ, 1.000 trang cũng tính là một đơn vị mà 1 trang cũng tính là một đơn vị, mà đặt tài liệu vào thứ hai thì thứ tư mới có để đọc”.

Trong số tài liệu mang về, chị Lai thích nhất bức ảnh Bác Hồ vào năm 1933, khi từ Trung Quốc quay lại Nga, với áo dài, khăn, giày, kính như một phú thương Trung Hoa (ảnh). Chị Lai kể: “Bảo tàng của chúng tôi có trưng bày cả bộ quần áo ấy, cả khăn, mũ kính ấy, nhưng chưa có một tài liệu nào, hình ảnh nào cho thấy Bác đã mặc chúng như thế nào. Khi nhìn thấy bức ảnh ấy lần đầu trong lưu trữ Nga, tôi đã nghẹn ngào vì sung sướng. Hay là tấm thẻ Bác chụp để đi dự Đại hội lần 7 của Quốc tế cộng sản năm 1935, với bốn thứ tiếng Anh, Nga, Pháp và Đức, Bác đã gầy và già đi bao nhiêu so với tấm ảnh trong thẻ dự đại hội 5 Quốc tế cộng sản vào năm 1924. Rồi tấm thẻ đảng viên Đảng Cộng sản Pháp năm 1922 với tên Henri Tchen (Henri Trần). Chúng tôi từng thống kê Bác có hơn 160 tên, nhưng mỗi lần gặp một tài liệu với một tên mới của Bác, vẫn không bao giờ hết ngạc nhiên về khả năng phi thường của Người”.

Chị Lai cho biết chuyến đi Nga lần này của đoàn cán bộ Bảo tàng Hồ Chí Minh có nhiều điều thú vị: phát hiện khá nhiều thư Bác gửi các lãnh tụ Đảng Cộng sản Liên Xô, hầu hết viết bằng tiếng Anh và tiếng Pháp, được trợ lý của họ dịch ra tiếng Nga và được cơ quan lưu trữ Nga gìn giữ rất cẩn thận, dù chỉ là hai dòng bút tích. Cũng có những bức thư viết bằng tiếng Nga, rất tình cảm, đặc biệt khi trình bày về các vấn đề thuộc địa. “Chúng tôi cũng đã tìm thấy những bức thư Bác gửi Quốc tế cộng sản xin được quay về Đông Dương, về VN hoạt động. Có những tư liệu về Bác chúng tôi tìm thấy không phải ở “Lưu trữ cá nhân – Nguyễn Ái Quốc” trong Lưu trữ quốc gia, mà ở Lưu trữ cá nhân của Stalin. Tôi hi vọng trong thời gian tới có thể nghiên cứu, báo cáo và công bố những tư liệu này” – chị Lai cho biết.

THU HÀ
Tuổi trẻ Online