Tag Archive | Chủ tịch Hồ Chí Minh

Nhận thức về đối tượng nghiên cứu của môn Tư tưởng Hồ Chí Minh

Trong thực tiễn cách mạng, cùng với chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng ta, dân tộc ta và nhân dân ta. Chính vì vậy, việc giáo dục Tư tưởng Hồ Chí Minh ở các học viện, nhà trường trong xã hội nói chung, trong quân đội ta nói riêng có vai trò to lớn đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay.

Sự ra đời của hệ thống Khoa và Bộ môn Tư tưởng Hồ Chí Minh ở các học viện nhà trường quân đội đã đóng góp một phần không nhỏ vào sự nghiệp nghiên cứu, tuyên truyền, giáo dục một cách cơ bản và hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh trong quân đội. Tuy nhiên, để nâng cao chất lượng giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh ở các học viện, nhà trường quân đội hiện nay; vẫn cần tiếp tục giải quyết đúng đắn, hợp lý nhiều vấn đề mới nảy sinh, trong đó có việc xác định đối tượng môn học. Bởi lẽ, nhận thức đúng đắn về đối tượng môn Tư tưởng Hồ Chí Minh chính là một trong những điều kiện, yêu cầu cơ bản nhất để nâng cao chất lượng công tác giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh, có quan hệ chặt chẽ, hữu cơ với việc xác định nhiệm vụ, nội dung, phương pháp môn học này.

Hiện nay, nghiên cứu, giảng dạy, học tập Tư tưởng Hồ Chí Minh dựa chủ yếu vào Giáo trình chuẩn quốc gia môn Tư tưởng Hồ Chí Minh. Nhưng trong giáo trình này chưa có bài “Đối tượng, nhiệm vụ và phương pháp môn Tư tưởng Hồ Chí Minh”. Ở “Lời nói đầu” của giáo trình có những đoạn viết liên quan ít nhiều tới việc xác định đối tượng môn học: “Đối tượng nghiên cứu chủ yếu của môn Tư tưởng Hồ Chí Minh là hệ thống Tư tưởng Hồ Chí Minh, đó là hệ thống tri thức mang tính qui luật về đối tượng, đòi hỏi phải có thời gian mới có điều kiện xác lập được một cách đầy đủ và chính xác. Tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ được phản ánh trong văn kiện, tác phẩm của Người mà còn được quán triệt trong mọi chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước ta do Người đứng đầu, trong toàn bộ cuộc đời và sự nghiệp Cách mạng mà Người để lại cho chúng ta. Những nội dung đó đều phải được xem là đối tượng nghiên cứu của bộ môn Tư tưởng Hồ Chí Minh … Giảng dạy Tư tưởng Hồ Chí Minh, một bộ môn lý luận – tư tưởng, thuộc lĩnh vực triết học, cũng phải làm rõ khái niệm, từ khái niệm mà hình thành tư tưởng”. Cách đặt vấn đề như thế chưa phải là lời giải đáp một cách đầy đủ, thoả đáng về đối tượng môn học.

Giáo trình môn Tư tưởng Hồ Chí Minh của Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam xuất bản năm 1996 ở trang 6 viết; “Đối tượng môn Tư tưởng Hồ Chí Minh là nghiên cứu những di sản tư tưởng của Người. Quá trình nghiên cứu, dạy – học môn học phải làm rõ nguồn gốc, quá trình hình thành phát triển và hệ thống các quan điểm tư tưởng về các mặt chính trị, nhân văn, đạo đức… của Hồ Chí Minh và hiện thực hoá nó trong xã hội, từ đó chỉ ra giá trị lý luận, thực tiễn tư tưởng của Người với sự nghiệp cách mạng Việt Nam, cách mạng thế giới”. Tập bài giảng Tư tưởng Hồ Chí Minh của Phân viện Hà Nội thuộc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh xuất bản năm 1997 ở trang 7 viết: “Trước hết chúng ta cần phân biệt hai khái niệm khác nhau, tuy có quan hệ rất chặt chẽ với nhau: “Tư tưởng Hồ Chí Minh” có nội dung khách quan là đối tượng nghiên cứu của khoa học và “Tư tưởng Hồ Chí Minh” với tư cách là một bộ môn khoa học”. Tập bài giảng Tư tưởng Hồ Chí Minh của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh được xuất bản năm 2001 ở trang 13 xác định rằng, đối tượng môn học này là “Nghiên cứu, học tập hệ thống quan điểm lý luận, chính trị toàn diện, sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam trong tư tưởng Hồ Chí Minh”, “là luận giải những đóng góp sáng tạo của Hồ Chí Minh đối với văn minh nhân loại, đặc biệt là đối với chủ nghĩa Mác – Lênin”, “được thể hiện vận dụng sáng tạo tư tưởng của Người vào sự nghiệp đổi mới hiện nay”. Tập bài giảng môn Tư tưởng Hồ Chí Minh của trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn xuất bản năm 2003 ở trang 18, 19 viết: “Bộ môn Tư tưởng Hồ Chí Minh là khoa học nghiên cứu về hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng Việt Nam, về giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người, về độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội được đúc kết bằng chân lý “Không có gì quý hơn độc lập tự do”.

Như vậy, từ các giáo trình, tập bài giảng trên, ta thấy việc xác định đối tượng môn học Tư tưởng Hồ Chí Minh tuy đã có nhiều điểm tương đồng, nhưng tính khái quát chưa cao, vẫn có sự khác biệt và những điểm chưa được xác định thật rõ. Điều đó gây khó khăn không nhỏ đến chất lượng, hiệu quả công tác nghiên cứu giáo dục, tuyên truyền, học tập tư tưởng Hồ Chí Minh. Thêm vào đó, chính sự nhận thức chưa thống nhất, chưa thật đầy đủ, rõ ràng, chính xác về đối tượng bộ môn đã dẫn đến những khó khăn trong việc xây dựng, xác lập, phân định về phạm vi chương trình, nội dung giảng dạy của nhiều học viện, nhà trường quân đội. Trên thực tế, ngay cả ở Học viện Quốc phòng, Học viện Chính trị quân sự, việc nghiên cứu, giảng dạy Tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ do Khoa (bộ môn) Tư tưởng Hồ Chí Minh đảm nhiệm, mà còn có một số khoa khoa học xã hội khác cũng thực hiện nhiệm vụ này. Có khoa giảng một số chủ đề, thậm chí có khoa xây dựng hẳn thành một phần về Tư tưởng Hồ Chí Minh trong nội dung, chương trình dạy học.

Tất nhiên, tư tưởng Hồ Chí Minh là một giá trị đa diện nên không chỉ có Khoa Tư tưởng Hồ Chí Minh, mà còn nhiều khoa khác quan tâm nghiên cứu, nhưng góc độ nghiên cứu và mục đích, yêu cầu nghiên cứu của các khoa là khác nhau. Chẳng hạn như: nếu khoa học (môn học) Tư tưởng Hồ Chí Minh nghiên cứu Tư tưởng Hồ Chí Minh với tư cách là một chỉnh thể hoàn chỉnh, nhằm chỉ ra quy luật vận động, phát triển của tư tưởng Hồ Chí Minh, quy luật vận động của cách mạng Việt Nam, của cách mạng thế giới được phản ánh trong tư duy Hồ Chí Minh, thì Triết học nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh trước hết là nhằm giải quyết vấn đề cơ bản của triết học, góp phần làm sáng tỏ những quy luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy; môn Giáo dục học nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh trước hết là nhằm góp phần làm sáng tỏ các quy luật, các quy tắc chung về giáo dục, và môn Xây dựng Đảng nghiên cứu Tư tưởng Hồ Chí Minh chủ yếu là nhằm góp phần làm rõ các quy luật, các nguyên tắc xây dựng Đảng kiểu mới, Đảng của giai cấp công nhân. Thành thử, giảng viên của các khoa khoa học xã hội đều rất cần nghiên cứu Tư tưởng Hồ Chí Minh. Song, quá trình nghiên cứu không phải để nhằm giảng dạy Tư tưởng Hồ Chí Minh, mà là góp phần nâng cao nhận thức về cơ sở lý luận để giảng dạy nội dung của chuyên ngành mình ngày càng đạt chất lượng cao hơn.

Các giáo viên nghiên cứu, giảng dạy Tư tưởng Hồ Chí Minh cần phải nghiên cứu các môn lý luận Mác – Lênin, nghiên cứu lịch sử thế giới, lịch sử Việt Nam, lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, và cả các học thuyết, các khuynh hướng tư tưởng đối lập, sai trái, Nhưng, nghiên cứu những nội dung ấy không phải để giảng dạy Triết học, Kinh tế chính trị học, Chủ nghĩa cộng sản khoa học, Lịch sử dân tộc, Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, mà để có tri thức toàn diện hơn, sâu sắc hơn nhằm góp phần giảng dạy Tư tưởng Hồ Chí Minh tốt hơn, hấp dẫn hơn, thuyết phục hơn. Bởi lẽ, giảng dạy Tư tưởng Hồ Chí Minh không phải là hoạt động mô tả đơn giản các câu nói, bài viết, các sự kiện, các biến cố lịch sử cụ thể có liên quan tới tư tưởng, thân thế và sự nghiệp của Hồ Chí Minh, mà là luận giải các luận điểm mang tính quy luật về các mặt cơ bản của cách mạng Việt Nam một cách khoa học. Vì vậy, có tri thức toàn diện, có nắm vững lý luận Mác – Lênin, nhận thức sâu sắc về lịch sử thế giới, lịch sử dân tộc và lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam…, thì mới có cơ sở vững vàng để khi giảng một tư tưởng, một luận điểm nào đó trong Tư tưởng Hồ Chí Minh để có thể trình bày rõ ràng, chính xác, hấp dẫn về lịch sử hình thành luận điểm, về nội dung luận điểm, về cơ sở lý luận và thực tiễn gắn liền với giá trị lý luận và thực tiễn của luận điểm; mới có phương hướng vận dụng, phát triển luận điểm đó vào thực tiễn của cách mạng Việt Nam và phê phán các học thuyết, các khuynh hướng tư tưởng sai trái trong xã hội, quân đội hiện nay.

Tóm lại, trên cơ sở kế thừa những thành tựu của các giáo trình, tập bài giảng trước, gắn liền với thực tiễn công tác giáo dục Tư tưởng Hồ Chí Minh ở các học viện, nhà trường quân đội trong mười năm qua, cùng với sự phân tích trên, bước đầu có thể nêu ra kết luận: Bộ môn Tư tưởng Hồ Chí Minh là một bộ môn khoa học nghiên cứu Tư tưởng Hồ Chí Minh với tư cách là một chỉnh thể hoàn chỉnh nhằm làm sáng tỏ quy luật hình thành phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh ở các lĩnh vực cơ bản (chính trị, kinh tế, quân sự, đạo đức…) của cách mạng Việt Nam và cách mạng thế giới được phản ánh trong tư duy Hồ Chí Minh và quy luật vận dụng, phát triển tư tưởng của Người trong thực tiễn cách mạng nước ta.

Đại tá, TS Nguyễn Đình Tu
Tạp chí Giáo dục lý luận chính trị quân sự, số 1-2005

cpv.org.vn

Bác như một lão nông tri điền !

Đó là suy nghĩ đầy kính phục về Bác Hồ kính yêu của tất cả các đại biểu dự Hội nghị phát động phong trào sản xuất đông xuân, tháng 8 năm 1958, tại tỉnh Nam Định.

Hội nghị được tổ chức tại xã Yên Tiến (huyện Ý Yên), có rất đông đại biểu các xã, huyện về dự. Đúng ngày họp, Bác Hồ về thăm. Bác mặc áo bà ba nâu, hồng hào, mạnh khỏe, tươi cười bước vào hội trường. Bác đi từ dưới lên, bắt tay nhiều đại biểu các xã, rồi mới bước lên bục nói chuyện. Bác rút từ túi áo một tờ giấy ghi số liệu và bắt đầu nói về tình hình sản xuất của tỉnh Nam Định, trong đó Người chỉ rõ sự sút kém trong thu hoạch vụ chiêm và tiến độ cấy vụ mùa chưa đạt kế hoạch. Bác cũng khen ngợi ba huyện Ý Yên, Vụ Bản, Mỹ Lộc và một số bà con nông dân có nhiều cố gắng trong chăm bón lúa.

Sau khi phân tích những yếu kém trong sản xuất vụ chiêm, Bác dừng lại, nhìn xuống hội trường và nhấn mạnh: Chúng ta làm ruộng, muốn lúa tốt, thu hoạch nhiều, phải hiểu thế nào là “nhất thì, nhì thục”, thế nào là “một nước, hai phân, ba cần, bốn cải tiến kỹ thuật”. Phải có đủ mạ tốt và cấy đúng thời vụ; phải chăm sóc cây lúa từ lúc còn là cây mạ đến lúc thu hoạch, bón đủ phân và có đủ nước, thường xuyên chống sâu, chuột. Bác nói chân tình, hiểu người, hiểu việc, giống như lời khuyên của một lão nông tri điền, thật gần gũi và thiết thực. Bác còn nhắc nhở các cán bộ Tỉnh ủy phải đi sát nông thôn, trực tiếp giúp đỡ và lãnh đạo sản xuất, đẩy mạnh phong trào thi đua trong toàn tỉnh.

Trước khi ra về, Bác vào thăm một số gia đình nông dân và thăm cánh đồng xã Yên Tiến. Bác ngồi xuống bờ một thửa ruộng, dùng gang tay mình đo khoảng cách giữa hai khóm lúa. Bác tỏ ra rất vui khi thấy lúa tốt và khen “cấy dày vừa phải!”…

Lần về thăm của Bác rất ngắn, nhưng đã cổ vũ, động viên cán bộ, nhân dân tỉnh Nam Định rất nhiều. Sau đấy, cả Tỉnh ủy phân công nhau xuống từng huyện, từng xã, dành thì giờ cùng bà con nông dân bàn chuyện làm phân xanh, đôn đốc việc cấy kịp thời vụ, chăm sóc lúa mùa và chuẩn bị vụ đông xuân. Một không khí thi đua lao động rộng khắp toàn tỉnh.

Lê Minh

bqllang.gov.vn

Tư tưởng triết học Hồ Chí Minh

Phương pháp biện chứng Hồ Chí Minh là sự vận dụng thuần thục phương pháp biện chứng duy vật Mácxít.

Hồ Chí Minh không có tác phẩm riêng bàn về phương pháp. Nhưng trong thực tế lãnh đạo và chỉ đạo cách mạng Việt Nam, Người đã vận dụng sáng tạo và nhuần nhuyễn các nguyên lý của phép biện chứng duy vật Mácxít kết hợp với các yếu tố biện chứng của triết học phương Đông qua đó tạo nên một hệ thống phương pháp riêng của mình, rất Mácxít mà cũng rất Hồ Chí Minh, không trộn lẫn được. Vì vậy, có thể nói, có phương pháp biện chứng của Hồ Chí Minh, phương pháp đó vẫn là phương pháp biện chứng của chủ nghĩa Mác – Lênin nhưng đã được vận dụng và chuyển hoá vào thực tiễn cách mạng Việt Nam để xử lý thành công những vấn đề do thực tiễn cách mạng Việt Nam đặt ra, nó in đậm màu sắc Việt Nam – Hồ Chí Minh và bằng cái riêng đã làm phong phú thêm cái chung.

Vậy nội dung và đặc điểm của phương pháp biện chứng Hồ Chí Minh là gì?

Biện chứng trong xử lý mối quan hệ giữa thực tiễn và lý luận, giữa cái riêng và cái chung.

Thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý, đó là quan điểm cốt lõi nhất của nhận thức luận Mácxít và cũng là nguyên lý cơ bản của phép biện chứng duy vật. Theo quan điểm của C.Mác: “ở mỗi dân tộc, lý luận bao giờ cũng chỉ được thực hiện theo mức độ mà nó là sự thực hiện những nhu cầu của dân tộc ấy”. Nói cách khác, lý luận chỉ được coi là đúng đắn khi nó đáp ứng được nhu cầu thực tiễn của mỗi dân tộc.

Hồ Chí Minh cũng quan niệm: “Lý luận là đem thực tế trong lịch sử, trong kinh nghiệm, trong các cuộc tranh đấu, xem xét so sánh thật kỹ lượng, rõ ràng, làm thành kết luận. Rồi lại đem nó chứng minh với thực tế, đó là lý luận chân chính”.

Theo quan niệm đó, Hồ Chí Minh luôn luôn lấy thực tiễn, lấy sự kiện của đời sống dân tộc và thời đại làm định hướng cho tư duy và hành động, lấy mục tiêu độc lập và phát triển của dân tộc làm căn cứ để xem xét lý luận, để lựa chọn con đường và bước đi cho cách mạng Việt Nam, nhờ đó mà tránh được giáo điều, rập khuôn (do chỉ biết lặp lại cái chung), đồng thời cũng tránh để không rơi vào cơ hội, xét lại (do quá nhấn mạnh cái riêng, cái đặc thù).

Đi theo chủ nghĩa Mác – Lênin, tìm thấy con đường giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản, nhưng Hồ Chí Minh biết rút ra từ học thuyết cách mạng và khoa học rộng lớn này những vấn đề cần thiết cho giai đoạn trước mắt của cách mạng Việt Nam, đề ra đường lối đúng đắn cho cách mạng Việt Nam: từ giải phóng dân tộc đến giải phóng giai cấp và giải phóng con người, tức là từ độc lập dân tộc tiến lên CHXH.

Tiếp theo, trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, nhờ đứng vững trên quan điểm thực tiễn và đường lối độc lập tự chủ, một mặt, chúng ta vẫn tranh thủ viện trợ kinh tế và quân sự của các nước XHCN anh em, mặt khác, chúng ta lại đánh theo đường lối và cách đánh Việt Nam, phù hợp với chiến trường Việt Nam, vì vậy ta đã giành được thắng lợi vẻ vang: giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, đưa cả nước đi lên CHXH.

Khi miền Bắc từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, tiền tư bản bước vào thời kỳ quá độ lên CHXH, Hồ Chí Minh đặt vấn đề: “Chúng ta phải đùng những phương pháp gì, hình thức gì, đi theo tốc độ nào để tiến lên CHXH” và Người nhắc nhở: “Tuy chúng ta đã có những kinh nghiệm dồi đào của các nước anh em, nhưng chúng ta cũng không thể áp dụng những kinh nghiệm ấy một cách máy móc, bởi vì nước ta có những đặc điểm riêng của ta”.

Đó là biện chứng Hồ Chí Minh trong xử lý mối quan hệ giữa thực tiễn và lý luận, giữa cái riêng và cái chung.

Biện chứng trong xử lý mối quan hệ giữa mâu thuẫn và thống nhất của các mặt đối lập.

Theo quan điểm Mácxít, quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập là quy luật cơ bản nhất của phép biện chứng duy vật, bởi mâu thuẫn là hiện tượng phổ biến của mọi sự vật, hiện tượng và đấu tranh để đi tới chuyển hoá giữa các mặt đối lập của mâu thuẫn là nguồn gốc của vận động và phát triển.

Hồ Chí Minh cũng thừa nhận tính phổ biến của mâu thuẫn. Người viết: “Cái gì cũng có mâu thuẫn, vì cái gì cũng có biến âm, dương, có sinh có tử, có quá khứ, có tương lai, có cũ, có mới. Đó là những mâu thuẫn sẵn có trong mọi sự vật”.

Mâu thuẫn có nhiều loại với bản chất khác nhau: có mâu thuẫn bên trong và bên ngoài, cơ bản và không cơ bản, chủ yếu và thứ yếu, đối kháng và không đối kháng. Vì vậy, phân tích mâu thuẫn là điều kiện để nhận thức đúng sự vật. Hồ Chí Minh chính là một bậc thầy trong nhận thức, phát hiện và xử lý mâu thuẫn.

Trong đấu tranh dân tộc và đấu tranh giai cấp có nhận thức, phát hiện đúng mâu thuẫn mới xác định rõ kẻ thù và bạn đồng minh, mới đề ra được chiến lược, sách lược, bước đi đúng đắn cho mỗi giai đoạn của cách mạng.

Vận dụng phép biện chứng duy vật vào phân tích xã hội thuộc địa, nửa phong kiến Việt Nam đầu thế kỷ XX, Hồ Chí Minh đã phát hiện ra hai mâu thuẫn cơ bản: một là, mâu thuẫn vốn có của xã hội phong kiến là mâu thuẫn giữa nông dân và địa chủ phong kiến và hai là, mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với bọn thực dân xâm lược Pháp, từ đó Hồ Chí Minh xác định nhân dân Việt Nam có hai kẻ thù chính là đế quốc và phong kiên tay sai, cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở Việt Nam có hai nhiệm vụ cơ bản là chống đế quốc giành lại độc lập cho dân tộc và chống phong kiên đem lại ruộng đất cho dân cày.

Tuy xác định xã hội thực dân nửa phong kiến Việt Nam có hai mâu thuẫn cơ bản, nhưng trong việc xử lý mâu thuẫn, Hồ Chí Minh không coi hai mâu thuẫn đó ngang nhau, phải tiến hành song song, đồng thời. Theo Hồ Chí Minh, trong xã hội thuộc địa nửa phong kiến, mâu thuẫn nổi lên gay gắt nhất, trở thành mâu thuẫn chủ yếu là mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với đế quốc và bọn tay sai, có giải quyết được vấn đề dân tộc mới giải quyết được vấn đề dân chủ. Vì vậy, ngay trong Chính cương vắn tắt (1930), Hồ Chí Minh cũng chỉ nêu chủ trương “thâu hết ruộng đất của đế quốc chủ nghĩa làm của công, chia cho dân cày nghèo” mà chưa nêu khẩu hiệu “người cày có ruộng”. Hội nghị Trung ương 8 (tháng 5/1941) dưới sự chủ trì của Hồ Chí Minh, cũng chủ trương tạm gác khẩu hiệu ruộng đất, chỉ tịch thu ruộng đất của đế quốc, Việt gian, đề thêm khẩu hiệu “giảm tô, giảm tức”, chia lại ruộng công,…

Làm.như vậy, theo Hội nghị phân tích, nếu không đánh đuổi được Pháp – Nhật, nếu dân tộc còn phải chịu mãi kiếp ngựa trâu thì vấn đề ruộng đất cũng không sao giải quyết được. Cuộc Cách mạng tháng 8/1945 đã lôi cuốn hàng chục triệu nông dân, dù chưa được chia lại ruộng đất của địa chủ vẫn hăng hái tiến bước cùng giai cấp công nhân làm nên cuộc cách mạng long trời lở đất, giành lại nền độc lập cho dân tộc. Thắng lợi đó là sự thể hiện phép biện chứng của Hồ Chí Minh trong xử lý mối quan hệ giữa mâu thuẫn cơ bản và mâu thuẫn chủ yếu trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở Việt Nam.

Hồ Chí Minh cũng là bậc thầy về xử lý mâu thuẫn địch – ta, nêu tấm gương về nghệ thuật vận dụng mâu thuẫn, khai thác mâu thuẫn trong hàng ngũ kẻ thù. Theo quyết định của Đồng minh tại Hội nghị Pốtxđam (tháng 7/1945), gần 20 vạn quân Tưởng đổ vào Bắc Đông Dương (từ vĩ tuyến 16 trở ra) và hàng vạn quân Anh – Ấn Độ đổ vào Nam Đông Dương với danh nghĩa giải giáp quân đội Nhật. Núp dưới bóng quân đội Anh, thực dân Pháp cũng đem quân trở lại nước ta. Nếu kể cả quân đội Nhật tuy đã đầu hàng nhưng chưa bị tước vũ khí, thì vào lúc đó, có gần nửa triệu quân nước ngoài đóng trên đất nước ta. Cùng một lúc phải đối phó với nhiều kẻ thù, tình thế cách mạng Việt Nam như đang “nghìn cân treo sợi tóc”. Để bảo vệ thành quả cách mạng, Hồ Chí Minh chủ trương phải phân hoá kẻ thù, bằng cách khai thác mâu thuẫn trong hàng ngũ của chúng.

Quân đội Tưởng vào miền Bắc có ba thế lực: cánh Lư Hán thuộc Đệ nhất chiến khu Vân Nam, cánh Tiêu Văn thuộc Đệ tứ chiến khu Quảng Tây, cánh Chu Phúc Thành thuộc quân khu Trung ương Trùng Khánh. Chúng giống nhau về mục tiêu “diệt cộng, cầm Hồ” để dựng lên chính phủ tay sai, phục vụ cho mưu đồ lâu dài của chúng, nhưng mâu thuẫn với nhau về lợi ích cá nhân. Biết Lư Hán vốn có tư thù sâu sắc với Tưởng Giới Thạch và cả với Pháp (vì đã bị Pháp tịch thu mấy chuyến hàng lớn trên tuyến đường sắt Hải Phòng Côn Minh), Hồ Chí Minh đã chủ động tới thăm chúng nhằm tranh thủ Lư Hán, đồng thời, nhượng bộ cho vợ chồng Tiêu Văn một số đặc quyền kinh tế để cô lập cánh Chu Phúc Thành… Nhờ đó, chúng ta buộc họ phải thay đổi thái độ đối với Chính phủ Hồ Chí Minh, đã sử dụng được lực lượng quân đội Tưởng làm bình phong, ngăn chặn quân đội Pháp đang lăm le ra miền Bắc.

Trong hàng ngũ tướng lĩnh quân đội Pháp cũng chia thành hai phe: cánh diều hâu chủ chiến, đứng đầu là Cao ủy Đông Dương Đácgiăngliơ (Dargenlieu), cánh tương đối hiểu biết, muốn hoà hoãn, tiêu biểu là đại tướng Lơcléc (Leclerc), tổng chỉ huy quân đội viễn chinh. Hồ Chí Minh đã viết thư gửi Lơcléc: “Ngài là một đại quân nhân và là một nhà ái quốc. Ngài đã chiến thắng và chiến thắng anh dũng kẻ xâm lăng nước ngài… Lừng danh với những chiến công, ngài lại đi đánh một dân tộc chỉ muốn độc lập, thống nhất quốc gia và một nước chỉ muốn hợp tác như anh em với nước ngài sao?”.

Lòng tụ trọng bị tổn thương, ít lâu sau Lơcléc từ chức Tổng chỉ huy, xin chuyển về Pháp, mở đầu cho sự liên tục thay đổi Tổng chỉ huy quân đội Pháp ở Đông Dương.

Đánh giá sách lược của Hồ Chí Minh

Trong giai đoạn này, đồng chí Lê Duẩn đã viết: “Những biện pháp cực kỳ sáng suốt đã ghi vào lịch sử cách mạng nước ta như một mẫu mực tuyệt vời của sách lược Lêninnít về lợi dụng mâu thuẫn trong hàng ngũ kẻ địch và về sự nhân nhượng có nguyên tắc”.

Nhắc lại những năm tháng đó, đồng chí Phạm Văn Đồng cũng viết: “Nếu bấy giờ không có Hồ Chí Minh thì khó lường hết cái gì có thể xảy ra”.

Đối với mâu thuẫn địch – ta, chỉ có một cách xử lý duy nhất là “Hễ còn một tên xâm lược trên đất nước ta, thì ta phải kiên quyết đánh đuổi nó đi”. Còn với mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân, xuất phát từ quan điểm “Hễ là người Việt Nam thì ai cũng có lòng yêu nước, ghét giặc”, Hồ Chí Minh chủ trương đoàn kết mọi lực lượng “miễn là không phản lại quyền lợi dân chúng, không là Việt gian, thân Pháp, thân Nhật, có lòng trung thành với Tổ quốc”, “Không được phép bỏ một lực lượng nào sẵn sàng phục vụ quốc gia”.

Phương pháp đại đoàn kết Hồ Chí Minh là lấy cái chung, cái tương đồng để khắc phục cái riêng, cái dị biệt, lấy nhân ái, khoan đung để cảm hoá, lấy nhân nhượng, thoả hiệp lẫn nhau để giải quyết bất đồng, “biến đại sự thành tiểu sự, biến tiểu sự thành vô sự”. Người phê phán một số cán bộ chỉ biết “chia rẽ, bênh vực lớp này chống lại lớp khác, không biết làm cho các tầng lớp nhân nhượng lẫn nhau, hoà thuận với nhau… quên rằng lúc này ta phải toàn dân đoàn kết, không chia già trẻ, giàu nghèo để giữ nền độc lập, chống kẻ thù chung”.

Như vậy, trong mâu thuẫn nội bộ nhân dân (mâu thuẫn không đối kháng), có mặt thuận và mặt nghịch, bên cạnh mặt mâu thuẫn còn có mặt thông nhất, để tồn tại trong sự thống nhất, phải biết lấy thuận chế nghịch, lấy cái chung, cái đồng thuận để khắc phục cái riêng, cái dị biệt. Đó là biện chứng trong cách xử lý của Hồ Chí Minh về mối quan hệ giũa mâu thuẫn và thống nhất các mặt đôi lập.

Biện chứng giữa cái “bất biến” và cái “vạn biến”.

Đây là một tư tưởng biện chứng hết sức sâu sắc của triết học phương Đông, xuất phát từ quan niệm vạn vật sinh hoá đều do điều lý (quy luật) chi phối, nếu nắm được điều lý của vũ trụ thì có thể điều khiển được mọi biến hoá của trời đất (hiện tượng), nghĩa là có thể lấy cái bất biến chế ngự được cái vạn biến, lấy tĩnh chế động, lấy nhu thắng cương…

Phép biện chứng duy vật Mácxít cũng đã đề cập đến các cặp mâu thuẫn và thống nhất, vận động và đứng im, nhưng mối quan hệ giữa bất biên và vạn biên trong phép biện chứng của Hồ Chí Minh có nguồn gốc chủ yếu từ trong triết học phương Đông và Việt Nam. Xưa Lý Thánh Tông, khi đi lo việc biên cương ở phương Nam, có dặn lại nhiếp chính Ỷ Lan một câu: “Vạn biến như lôi, nhất tâm thiền định”, ý nói cứ lấy nhất tâm bất biến (là một lòng lo giữ việc nước) thì có thể đối phó với vạn biên (dù có dữ dội như sấm sét).

Vậy ta hiểu “dĩ bất biến ứng vạn biến” mà Hồ Chí Minh nói đến là gì? Theo cách nói của triết học, có thể hiểu “bất biên” là quy luật, vì chỉ có quy luật (tự nhiên, xã hội, tư duy) là tồn tại lâu đài, là hầu như bất biến, còn “vạn biến” là hiện tượng, là sự biểu hiện đa dạng của quy luật, cho nên có thể đưa vào quy luật mà lý giải hiện tượng hay ngược lại, từ phân tích vô vàn hiện tượng có thể tìm ra quy luật tương ứng.

Phép biện chứng duy vật thường chú trọng nhiều hơn về trình bày sự phát triển biện chứng của sự vật, coi mâu thuẫn, vận động là tuyệt đối, thông nhất, đứng im là tương đối. Trong thực tế vận dụng, đôi khi chúng ta lại có phần coi nhẹ, thậm chí bỏ qua cái “bất biến” (tức là cái thống nhất, đứng im vốn là điều kiện tồn tại của sự vật).

Trong vũ trụ và trong cuộc sống xã hội vốn tồn tại phạm trù “bất biến”. Hoá học được xây đựng trên cơ sở định luật bảo toàn trọng lượng. Công thức có thể biến hoá, nhưng trị số thì không đổi. Năng lượng học dựa trên định luật bảo toàn năng lượng. Toán học có những hằng số, hằng đẳng thức không đổi. Về mặt xã hội, các chế độ xã hội đều có nhiều thay đổi, nhưng trong xã hội nào người ta cũng vẫn cần đến ăn, mặc, ở… tức là vẫn phải có sản xuất và phân phối, nghĩa là sự khác nhau, như C.Mác nói, chỉ là về cách thức sản xuất và cách thức phân phối, còn bản thân sản xuất và phân phối thì xã hội nào cũng vẫn phải có. Cũng có thể gọi đó là các hằng số xã hội. Hồ Chí Minh tiếp thu phép biện chứng Mácxít, đồng thời cũng chịu ảnh hưởng của tư duy biện chứng phương Đông. Người thường bắt đầu từ cái bất biến để đi tới cái khả biến của xã hội và con người. Thí dụ, Người nói: “Tuy phong tục mỗi dân mỗi khác, nhưng có một điều thì dân nào cũng giống nhau ấy là dân nào cũng ưa sự lành, ghét sự dữ”. Khi nghe một vị ủy viên Ban vận động đời sống mới nói cần định ra một cái hướng mới cho cuộc vận động, vì khẩu hiệu “cần, kiệm, liêm, chính” xem ra vừa không đủ, vừa cổ… thì Hồ Chí Minh ngắt lời: “Cổ, lạ quá, thế cơm các cụ ăn ngày xưa, bây giờ mình ăn cũng cổ à?”. Theo Người, ăn cơm, uống nước, hít thở khí trời… không bao giờ cũ, xưa nay và sau này đều phải làm. Cần, kiệm, liêm, chính cũng vậy.

Trước khi sang Pháp đàm phán, Người chỉ dặn lại cụ Huỳnh có một câu: “Mong cụ ở nhà: dĩ bất biến, ứng vạn biến”. Ta hiểu đó là Người nói đến mối quan hệ giữa mục tiêu và phương pháp, nguyên tắc và sách lược. Mục tiêu của chúng ta là độc lập, thống nhất của Tổ quốc, tự do hạnh phúc của nhân dân, đó là điều bất biến còn phương pháp – sách lược có thể tuỳ tình hình mà biến hoá đa dạng, thay đổi linh hoạt, nhưng không được xa rời cái bất biến. Người nói: “Mục đích bất di bất dịch của ta vẫn là hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ. Nguyên tắc của ta thì phải vững chắc, nhưng sách lược của ta thì linh hoạt”.

Hồ Chí Minh đã vận dụng phương pháp biện chứng này một cách rất hiệu quả trong chỉ đạo cách mạng, đưa tới những thắng lợi to lớn chưa từng có trong lịch sử dân tộc. Đúng như một nhà báo Pháp đã nhận xét: “Chính sự kết hợp mà không ai bắt chước nổi giữa tính mềm dẻo với tính cương nghị, giữa tính linh hoạt về chính trị với tính cứng rắn về nguyên tắc, giữa việc vận dụng truyền thông yêu nước với sự phân tích Mácxít đã tạo nên tính chất độc đáo của ông Hồ Chí Minh”.

Cũng xuất phát từ phép biện chứng Đông – Tây kết hợp này, chúng ta thấy Hồ Chí Minh đã giải quyết rất thành công, vừa khoa học, vừa nhuần nhị các mối quan hệ biện chứng giữa truyền thông và hiện đại, kế thừa và đổi mới, dân tộc và giai cấp, nội lực và ngoại lực, lực – thế, thời… mà do phạm vi của bài viết, chúng tôi không có điều kiện bàn hết ở đây.

Tóm lại, tư tưởng triết học Hồ Chí Minh được thể hiện một phần quan trọng trong phương pháp biện chứng Hồ Chí Minh. Về bản chất, đó là phương pháp biện chứng duy vật Mácxít được vận dụng vào hoàn cảnh Việt Nam, có sự kết hợp với tư duy biện chứng phương Đông, in đậm dấu ấn phương Đông và Việt Nam, nổi bật lên trong đó là sự kết hợp tính cương nghị về nguyên tắc với tính mềm dẻo, linh hoạt về sách lược, lấy cái đại đồng để khắc phục cái tiểu dị, đi từ dân tộc đến giai cấp, nhằm mục tiêu đại đoàn kết dân tộc, phân hoá và cô lập kẻ thù chính, giành thắng lợi cho độc lập dân tộc để từng bước đi lên CHXH. Phương pháp biện chứng Hồ Chí Minh cũng do đó mà có vai trò rất to lớn đối với công cuộc đổi mới của chúng ta, đặc biệt trong bối cảnh quốc tế đang chuyển biến nhanh chóng và phức tạp hiện nay.

Tư tưởng về con người, bộ phận cơ bản của tư tưởng triết học Hồ Chí Minh

Thấm nhuần quan điểm cải tạo thế giới của triết học Mác, vấn đề được Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm là vấn đề con người và sự nghiệp giải phóng con người. Con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh không phải là con người chung chung, trừu tượng, phi lịch sử, mà là con người hiện thực, cụ thể, sinh động, trước hết là nhân dân lao động và quần chúng bị áp bức ở khắp mọi nơi, không phân biệt dân tộc và màu da.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người có thể tóm tắt lại trong ba nội dung cơ bản:

Con người là vôn quý nhất, là nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng

Theo Hồ Chí Minh, lịch sử là do quần chúng nhân dân sáng tạo ra, chứ không phải do vài ba cá nhân anh hùng nào, vì vậy chúng ta phải yêu dân, quý dân, trọng dân, vì “có dân là có tất cả”. Người nói: “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới, không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”. Do đó, “trong xã hội không có gì tất đẹp, vẻ vang bằng phục vụ cho lợi ích của nhân dân”.

Từ đó, ta thấy nổi lên ở Hồ Chí Minh một tấm lòng yêu thương vô hạn đối với con người, một niềm tin mãnh liệt vào sức mạnh và phẩm giá con người, một ý chí kiên quyết đấu tranh để giải phóng con người khỏi áp bức, bất công, đói nghèo, lạc hậu. Cũng có thể coi đó là những nội dung cơ bản của chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh.

Con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của cách mạng

Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người hoàn toàn xa lạ với các quan điểm xem con người như là công cụ, như là phương tiện. Mọi chính sách tăng trưởng kinh tế, phát triển văn hoá của Hồ Chí Minh đều hướng tới con người. Người nói: “Phải đem hết sức dân, tài dân, của dân để làm lợi cho dân”, “dựa vào lực lượng của dân, tinh thần của dân để gây hạnh phúc cho dân”, “chủ nghĩa xã hội là nhằm nâng cao đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân và do nhân dân tự xây đựng lấy”.

Qua đó, có thể thấy, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, con người – mục tiêu và con người – động lực là thống nhất, vì dân và do dân là thống nhất.

Để phát huy vai trò động lực của con người, Hồ Chí Minh đã đề cập đến một hệ thống nội dung và biện pháp (vật chất và tinh thần) nhằm tác động vào cái động cơ thúc đẩy tính tích cực hoạt động của con người đồng thời, cũng chỉ ra những nội dung và biện pháp làm triệt tiêu các trở lực nhằm thúc đẩy sự phát triển theo hướng tiến bộ.

Trong hệ thống các động lực chính trị – tinh thần, Hồ Chí Minh chú trọng trước hết đến giáo dục chủ nghĩa yêu nước, lý tưởng xã hội chủ nghĩa, đạo đức cách mạng… đồng thời không coi nhẹ vai trò tác động của các nhân tố tinh thần khác, như văn hoá, khoa học, pháp luật… đặc biệt, Người chú trọng phát huy quyền làm chủ của nhân dân, coi “thực hành dân chủ là cái chìa khoá vạn năng có thể giải quyết mọi khó khăn”.

Là nhà duy vật Mácxít, Hồ Chí Minh hiểu hành động của con người luôn gắn liền với nhu cầu và lợi ích của họ, vì vậy, đi đôi với các biện pháp chính trị – tinh thần, Hồ Chí Minh không coi nhẹ hay bỏ qua các động lực vật chất, khéo léo kết hợp các loại động lực với nhau, tạo sức mạnh tổng hợp, thúc đẩy tính năng động cách mạng của con người. Người tôn trọng và khuyến khích lợi ích cá nhân chính đáng của người lao động, chủ trương kết hợp hài hoà ba lợi ích, sao cho “Nhà nước, hợp tác xã và xã viên cùng có lợi”.

Nhưng muốn khai thông động lực thì phải khắc phục trở lực kìm hãm sự phát triển của con người, trong đó “căn bệnh mẹ” cực kỳ nguy hiểm là chủ nghĩa cá nhân phải được phê phán mạnh mẽ, kiên quyết tẩy trừ

Tư tưởng về chiến lược “trăm năm trồng người”

Từ quan điểm về con người đến quan điểm về chiến lược “trồng người” là một bước phát triển hợp logic của tư tưởng triết học Rồ Chí Minh. Để thực hiện chiến lược kinh tế – xã hội thì chiến lược con người phải đi trước một bước. Từ rất sớm, Người đã nêu ra một luận điểm nổi tiếng: “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội thì trước hết cần có những con người XHCN”. Do đó, “vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”. “Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết” (Di chúc).

Quan điểm “trồng người” của Hồ Chí Minh rất toàn diện và phong phú, ở mỗi thời kỳ cách mạng, Người nêu ra những yêu cầu khác nhau. Bước vào thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội, Người nhấn mạnh đến các yêu cầu sau đây:

Có đạo đức cách mạng cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, không tham ô, lãng phí, quan liêu, có ý thức làm chủ và tinh thần tập thể.

Có ý chí học hỏi, không ngừng vươn lên làm chủ những thành tựu văn hoá, khoa học – kỹ thuật, những hiểu biết mới của thời đại.

Có tinh thần tìm tòi, nghiên cứu, sáng tạo, nhạy bén với cái mới, biết vận dụng nó vào thực tế công tác để nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người và chiến lược trồng người là một hệ thống chặt chẽ, phong phú, vừa khoa học, vừa cách mạng, là một bộ phận hợp thành của tư tưởng triết học Hồ Chí Minh, một đóng góp quan trọng vào việc làm phong phú triết học về con người của chủ nghĩa Mác – Lênin.

Từ thực tiễn đấu tranh cách mạng cứu dân, cứu nước, tìm một con đường phát triển mới để canh tân đất nước, Hồ Chí Minh đã tìm đến nhiều học thuyết Đông – Tây, trên hết là chủ nghĩa Mác – Lênin, đã học hỏi, tiếp thu, dung hợp, tích hợp, hình thành cho mình một thế giới quan duy vật và phương pháp biện chứng Mácxít, tạo nền tảng triết học để xây đựng lý luận, đường lối và phương pháp cho cách mạng Việt Nam.

Triết học Hồ Chí Minh là triết học thực tiễn, biện chứng Hồ Chí Minh là biện chứng thực hành, nó được thể hiện và xuyên thấm trong toàn bộ cuộc đời, sự nghiệp và trước tác của Hồ Chí Minh. Từ những hoạt động thực tiễn phong phú ấy của Người, phân tích, hệ thống hoá, có thể rút ra tư tưởng và phương pháp triết học của Hồ Chí Minh. Đó là một việc làm công phu và lâu dài. Mấy nội dung cơ bản trong tư tưởng triết học Hồ Chí Minh được trình bày trên đây mới chỉ là những khái quát bước đầu, chắc chắn cần được bổ sung và hoàn chỉnh cùng với những thành tựu mới trên con đường lâu dài nghiên cứu tư tưởng triết học Hồ Chí Minh./.

Nguồn: Tạp chí Triết học
Thu Hiền (st)

bqllang.gov.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh về thống nhất giữa lý luận và thực tiễn nhằm khắc phục bệnh kinh nghiệm và bệnh giáo điều

Một trong những di sản lý luận mà Hồ Chí Minh để lại cho chúng ta là tư tưởng về sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn như một biện pháp cơ bản nhằm ngăn ngừa, khắc phục bệnh kinh nghiệm và bệnh giáo điều.

Hồ Chí Minh dùng nhiều cách diễn đạt khác nhau: “Lý luận đi đôi với thực tiễn”, “Lý luận kết hợp với thực hành”, “Lý luận và thực hành phải luôn luôn đi đôi với nhau”, “Lý luận phải liên hệ với thực tế” (Hồ Chí Minh, 1995, tập 9, tr. 292). Dù nói “đi đôi”, “gắn liền”, “kết hợp” nhưng điều cốt lõi nhất mà Người muốn nhấn mạnh là: “Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một nguyên tắc căn bản của chủ nghĩa Mác – Lênin. Thực tiễn không có lý luận hướng dẫn thì thành thực tiễn mù quáng. Lý luận mà không có liên hệ với thực tiễn là lý luận suông” (Hồ Chí Minh, 1995, tập 8, tr. 496). Như vậy, thống nhất giữa lý luận và thực tiễn được Hồ Chí Minh hiểu trên tinh thần biện chứng: Thực tiễn cần tới lý luận soi đường, dẫn dắt, chỉ đạo, hướng dẫn, định hướng để không mắc phải bệnh kinh nghiệm, còn lý luận phải dựa trên cơ sở thực tiễn, phản ánh thực tiễn và phải luôn liên hệ với thực tiễn, nếu không sẽ mắc phải bệnh giáo điều. Nghĩa là thực tiễn, lý luận cần đến nhau, nương tựa vào nhau, hậu thuẫn, bổ sung cho nhau.

Hồ Chí Minh cho rằng, để quán triệt tốt nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn nhằm khắc phục bệnh kinh nghiệm thì trước hết cần khắc phục bệnh kém lý luận, bệnh khinh lý luận. Bởi lẽ, kém lý luận, khinh lý luận nhất định sẽ dẫn tới bệnh kinh nghiệm. Hơn nữa, không có lý luận thì trong hoạt động thực tiễn người ta dễ chỉ dựa vào kinh nghiệm, dễ dẫn tới tuyệt đối hóa kinh nghiệm, cho kinh nghiệm là yếu tố quyết định thành công trong hoạt động thực tiễn. Nếu không có lý luận hay trình độ lý luận thấp sẽ làm cho bệnh kinh nghiệm thêm trầm trọng, thêm kéo dài. Thực tế cho thấy, ở nước ta có không ít cán bộ, đảng viên “chỉ bo bo giữ lấy kinh nghiệm lẻ tẻ. Họ không hiểu rằng lý luận rất quan trọng cho sự thực hành cách mạng. Vì vậy, họ cứ cắm đầu nhắm mắt mà làm, không hiểu rõ toàn cuộc của cách mạng” (Hồ Chí Minh, 1995, tập 6, tr. 247). Những cán bộ ấy quên rằng, “kinh nghiệm của họ tuy tốt, nhưng cũng chẳng qua là từng bộ phận mà thôi, chỉ thiên về một mặt mà thôi. Có kinh nghiệm mà không có lý luận cũng như một mắt sáng một mắt mờ” (Hồ Chí Minh, 1995, tập 5, tr. 234). Thực chất là họ không hiểu vai trò của lý luận đối với thực tiễn. Theo Hồ Chí Minh, lý luận có vai trò hết sức to lớn đối với thực tiễn, lý luận “như cái kim chỉ nam, nó chỉ phương hướng cho chúng ta trong công việc thực tế. Không có lý luận thì lúng túng như nhắm mắt mà đi” (Hồ Chí Minh, 1995, tập 5, tr. 234 – 235). “Làm mà không có lý luận thì không khác gì đi mò trong đêm tối vừa chậm chạp vừa hay vấp váp” (Hồ Chí Minh, 1995, tập 6, tr. 47). Làm mò mẫm chính là biểu hiện của bệnh kinh nghiệm. Kém lý luận, khinh lý luận không chỉ dẫn tới bệnh kinh nghiệm mà còn dẫn tới bệnh giáo điều. Bởi lẽ, do kém lý luận, khinh lý luận nên không hiểu thực chất lý luận, chỉ thuộc câu chữ lý luận và do đó cũng không thể hiểu được bản chất những vấn đề thực tiễn mới nảy sinh. Do đó, không vận dụng được lý luận vào giải quyết những vấn đề thực tiễn mới nảy sinh. Nếu có vận dụng thì cũng không sát thực tế không phù hợp với thực tiễn.

Tuy nhiên, Hồ Chí Minh cũng luôn nhắc nhở rằng, có lý luận rồi thì phải kết hợp chặt chẽ với kinh nghiệm thực tế, liên hệ với thực tiễn nếu không lại mắc phải bệnh lý luận suông, tức bệnh giáo điều. Người khẳng định, “Lý luận cũng như cái tên (hoặc viên đạn). Thực hành cũng như cái đích để hắn. Có tên mà không bắn, hoặc bắn lung tung, cũng như không có tên” (Hồ Chí Minh, 1995, tập 5, tr. 235). Như vậy cũng có nghĩa là lý luận suông, lý luận sách vở thuần túy. “Lý luận cốt để áp dụng vào công việc thực tế. Lý luận mà không áp dụng vào công việc thực tế là lý luận suông. Dù xem được hàng ngàn, hàng vạn quyển lý luận, nếu không biết đem ra thực hành, thì khác nào một cái hòm đựng sách” (Hồ Chí Minh, 1995, tập 5 tr. 234). Do đó, khi vận dụng lý luận vào thực tiễn phải xuất phát từ thực tiễn, nếu không cũng mắc phải bệnh giáo điều. Như vậy, lý luận chỉ có ý nghĩa đính thực khi được vận dụng vào thực tiễn phục vụ thực tiễn, đóng vai trò soi đường, dẫn đắt, chỉ đạo thực tiễn. Đồng thời, khi vận dụng lý luận vào thực tiễn thì phải phù hợp điều kiện thực tiễn. Rõ ràng, thống nhất giữa lý luận và thực tiễn ở Hồ Chí Minh phải được hiểu là, thực tiễn – lý luận, lý luận – thực tiễn luôn hòa quyện, thống nhất với nhau, đòi hỏi nhau, cần đến nhau, tạo tiền đề cho nhau phát triển.

Hồ Chí Minh không để lại những tác phẩm chuyên khảo về sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, nhưng ở nhiều bài viết, bài nói Người luôn luôn đề cập tới nguyên tắc cơ bản này bằng nhiều cách nói, cách viết, cách diễn đạt khác nhau nhằm giúp cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân dễ nhớ, dễ hiểu, dễ vận dụng. Cả cuộc đời của Người là tấm gương sáng về việc quán triệt nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn. Một trong những biểu hiện sinh động ấy là, trong hoạt động cách mạng Người luôn luôn sâu sát thực tế, gắn bó với cơ sở, gần gũi với nhân dân. Trong khoảng 10 năm từ 1955 – 1965, Hồ Chí Minh đã thực hiện trên 700 lượt đi thăm, tiếp xúc với cán bộ, bộ đội, công nhân, giáo viên, bác sĩ, nông dân, các cụ phụ lão, các cháu thanh, thiếu niên nhi đồng, các đơn vị bộ đội, thanh niên xung phong, các hợp tác xã, bệnh viện, trường học… Như vậy, mỗi năm có tới hơn 70 lần xuống cơ sở, gặp gỡ tiếp xúc với quần chúng nhân dân. Điều này đủ thấy Hồ Chí Minh gắn bó với quần chúng, sâu sát với cơ sở, thực tế như thế nào.

Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở cán bộ, đảng viên rằng, quán triệt tốt nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là góp phần trực tiếp ngăn ngừa, khắc phục bệnh kinh nghiệm và bệnh giáo điều. Để làm tốt điều này thì một mặt, phải ra sức học tập, nâng cao trình độ lý luận cũng như chuyên môn nghiệp vụ. Mặt khác, phải có phương pháp học tập đúng đắn, học phải đi đôi với hành, lý luận phải liên hệ với thực tế. Nếu không, chưa khắc phục được bệnh kinh nghiệm thì đã mắc phải bệnh giáo điều, bệnh sách vở. Người chỉ rõ, “lý luận rất cần thiết, nhưng nếu cách học tập không đúng thì sẽ không có kết quả. Do đó, trong lúc học tập lý luận, chúng ta cần nhấn mạnh: Lý luận phải liên hệ với thực tế (Hồ Chí Minh, 1995, tập 8, tr. 496). Điều quan trọng nữa theo Người là phải chống giáo điều ngay trong học tập chủ nghĩa Lê-nin. Khi còn sống Người luôn phê phán kiểu học học thuộc lòng chủ nghĩa Mác- Lênin, “học sách vở Mác – Lênin nhưng không học tinh thần Mác – Lênin” (Hồ Chí Minh, 1995, tập 9 tr. 292). Đó là học theo kiểu “mượn những lời của Mác, Lênin dễ làm cho người ta lầm lẫn” (Hồ Chí Minh, 1995, tập 6, tr. 247). Theo Hồ Chí Minh, học tập chủ nghĩa Mác – Lênin là “phải học tinh thần của chủ nghĩa Mác – Lênin, học tập lập trường, quan điểm và phương pháp của chủ nghĩa Mác – Lênin để áp dụng lập trường, quan điểm và phương pháp ấy mà giải quyết cho tốt những vấn đề thực tế trong công tác cách mạng của chúng ta” (Hồ Chí Minh, 1995, tập 8, tr. 497). “Học tập chủ nghĩa Mác – Lênin là học tập cái tinh thần xử trí mọi việc, đối với mọi người và đối với bản thân mình, là học tập những chân lý phổ biến của chủ nghĩa Mác – Lênin để áp dụng một cách sáng tạo vào hoàn cảnh thực tế của nước ta. Học để mà làm” (Hồ Chí Minh, 1995, tập 9, tr. 292). Hồ Chí Minh cũng căn dặn cán bộ, đảng viên “học tập lý luận thì nhằm mục đích để vận dụng chứ không phải học lý luận vì lý luận, hoặc để tạo cho mình một cái vốn lý luận để sau này đưa ra mặc cả với Đảng” (Hồ Chí Minh, 1995, tập 8, tr. 498). Như vậy, học tập chủ nghĩa Mác – Lênin không phải vì chủ nghĩa Mác – Lênin, cũng không phải vì học tập thuần túy, càng không phải học tập vì mục đích cá nhân nhằm có cái để mặc cả với tổ chức. Học tập trước hết là để làm người, rồi mới làm cán bộ và phụng sự Tổ quốc, nhân dân, giai cấp. Cho nên người cán bộ, đảng viên phải có thái độ học tập đúng đắn mới có thể khắc phục được bệnh giáo điều trong nghiên cứu, học tập chủ nghĩa Mác – Lênin. Tư tưởng này của Hồ Chí Minh cho tới nay vẫn giữ nguyên ý nghĩa lý luận và thực tiễn đối với chúng ta. Người cũng lưu ý rằng, không nên coi chủ nghĩa Mác – Lênin là kinh thánh, là những công thức có sẵn, cứng nhắc (Hồ Chí Minh, 1995, tập 6, tr. 247). Có như vậy thì việc nghiên cứu, học tập vận dụng chủ nghĩa Mác – Lênin mới có hiệu quả. Cùng với việc chống giáo điều trong học tập chủ nghĩa Mác – Lênin thì còn phải chống giáo điều trong vận dụng lý luận cũng như kinh nghiệm của nước khác, ngành khác. Người căn dặn cán bộ, đảng viên: “Không chú trọng đến đặc điểm của dân tộc mình trong khi học tập kinh nghiệm của các nước anh em, là sai lầm nghiêm trọng, là phạm chủ nghĩa giáo điều” (Hồ Chí Minh, 1995, tập 8, tr. 449). Để chống cả hai loại giáo điều này, theo Hồ Chí Minh thì biện pháp cơ bản là phải gắn lý luận với thực tiễn cách mạng nước nhà. Học phải đi đôi với hành, lý luận phải liên hệ với thực tiễn cách mạng, khi vận dụng kinh nghiệm và lý luận phải xuất phát từ thực tiễn nước nhà. Người cũng nhấn mạnh rằng, cùng với việc chống bệnh giáo điều thì phải đề phòng, ngăn ngừa chủ nghĩa xét lại. Bởi lẽ, nếu không có quan điểm đúng đắn trong việc quán triệt nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn thì người ta dễ nhấn mạnh thái quá những đặc điểm dân tộc để phủ nhận những giá trị phổ biến của chủ nghĩa Mác – Lênin. “Nhưng nếu quá nhấn mạnh đặc điểm dân tộc để phủ nhận giá trị phổ biến của những kinh nghiệm lớn, cơ bản của các nước anh em, thì sẽ mắc sai lầm nghiêm trọng của chủ nghĩa xét lại” (Hồ Chí Minh, 1995, tập 8, tr. 449). Đồng thời, Người còn nhắc nhở cán bộ, đảng viên phải biết dùng lý luận đã học được để tổng kết kinh nghiệm thực tiễn nhằm nâng cao hiệu quả công tác. “… công việc gì bất kỳ thành công hoặc thất bại, chúng ta cần nghiên cứu cội rễ, phân tách thật rõ ràng rồi kết luận. Kết luận đó sẽ là cái chìa khóa phát triển công việc và để giúp cho cán bộ tiến tới” (Hồ Chí Minh, 1995, tập 5, tr. 243). Người còn nhấn mạnh “ …cần phải nghiên cứu kinh nghiệm cũ để giúp cho thực hành mới, lại đem thực hành mới để phát triển kinh nghiệm cũ, làm cho nó đầy đủ dồi dào thêm” (Hồ Chí Minh, 1995, tập 5, tr. 417). Đó chính là quá trình tổng kết kinh nghiệm thực tiễn, đúc rút kinh nghiệm để bổ sung, hoàn thiện, phát triển lý luận. Làm được như vậy cũng có nghĩa là làm cho lý luận cần được “bổ sung bằng những kết luận mới rút ra từ trong thực tiễn sinh động” (Hồ Chí Minh, 1995, tập 8, tr. 496). Đồng thời, thực tiễn mới sẽ được chỉ đạo, soi đường, dẫn dắt bởi lý luận mới. Cứ như vậy, lý luận luôn được bổ sung, hoàn thiện, phát triển bởi những kết luận mới được rút ra từ tổng kết thực tiễn. Còn thực tiễn luôn được chỉ đạo, soi đường dẫn dắt bởi lý luận đã được bổ sung bằng những kinh nghiệm thực tiễn mới. Đây là biểu hiện sinh động của việc quán triệt nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn ở Hồ Chí Minh. “Làm như thế theo Người là tổng kết để làm cho nhận thức của chúng ta đối với các vấn đề đó được nâng cao hơn và công tác có kết quả hơn” (Hồ Chí Minh, 1995, tập 8, tr. 498).

Qua những nhận định ở trên, chúng ta thấy rằng, để quán triệt tốt nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn nhằm ngăn ngừa, khắc phục bệnh kinh nghiệm và bệnh giáo điều có hiệu quả thì phải không ngừng học tập lý luận, nâng cao trình độ lý luận. Khi có lý luận thì phải vận dụng vào thực tiễn, phải biết tổng kết thực tiễn để làm giàu lý luận bằng những kinh nghiệm thực tiễn mới. Chỉ thông qua quy trình như vậy thì lý luận mới gắn với thực tiễn, mới không trở thành giáo điều. Đồng thời thực tiễn mới sẽ được chỉ đạo bồi lý luận sẽ không bị mò mẫm, vấp váp, hay chệch hướng. Như vậy thì bệnh kinh nghiệm và bệnh giáo điều cũng không còn chỗ đúng.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về thống nhất giữa lý luận và thực tiễn như một biện pháp cơ bản để ngăn ngừa, khắc phục bệnh kinh nghiệm và bệnh giáo điều có ý nghĩa hết sức to lớn hiện nay, khi mà chúng ta đang tìm lời giải đáp cho nhiều vấn đề thực tiễn đổi mới đặt ra. Bởi lẽ, để tìm lời giải cho những vấn đề đó chúng ta phải tìm ở cả trong chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cũng như ở chính thực tiễn đổi mới hiện nay ở nước ta. Nghĩa là phải bằng phương pháp, quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh tổng kết những vấn đề thực tiễn hôm nay một cách có lý luận.

Nguồn: Tạp chí Khoa học xã hội
Thu Hiền (st)

bqllang.gov.vn

Cán bộ phải chăm lo chu đáo cho mọi người

Vào những năm chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, Bác Hồ đặc biệt quan tâm đến lực lượng mở đường, giữ vững mạch máu giao thông thông suốt. Năm 1965, để phục vụ tốt cho chiến trường phía Nam, đường Trường Sơn được mở rộng và khai thông nhiều tuyến, nhiều nhánh mới cho xe chạy cả đêm, cả ngày.

Theo đề nghị của Bộ Quốc phòng, hơn 2.000 thợ cầu đường có trình độ chuyên môn cao và 5.000 nam nữ thanh niên được Bộ Giao thông tăng cường cho Binh đoàn Trường Sơn (tức Đoàn 559).

Trước ngày đoàn lên đường vào Trường Sơn, Bác gặp một số lãnh đạo Bộ Giao thông. Ai nấy vui mừng vì được gặp Bác, nhưng không ai đoán được Bác sẽ căn dặn điều gì. Bác đã không nói gì thừa, càng không nói những lời to tát, như tầm chiến lược của cung đường Trường Sơn hay vai trò của tuyến đường huyết mạch này với cuộc kháng chiến đang rất cam go, mà Bác đi thẳng vào những vấn đề cụ thể, nhắc nhở mọi người đã là cán bộ thì phải có trách nhiệm chăm lo chu đáo cho mọi người xung quanh.

Sau này, các thế hệ cán bộ của Bộ Giao thông vận tải còn nhắc lại kỷ niệm về lần gặp Bác hồi đó. Trông Bác nghiêm trang và hơi buồn hơn những lần khác mà mọi người được gặp. Bác hỏi Bộ trưởng Phan Trọng Tuệ, trong số 5000 thanh niên xung phong có bao nhiêu cháu gái, cháu tuổi nhỏ nhất và tuổi cao nhất. Rồi Bác nói với mọi người, phải đưa các cháu gái vào nơi gian khổ, bom đạn là việc Bác không muốn, nhưng con trai ra trận hết, không có cách nào khác. Các cháu thanh niên xung phong ở gia đình có bố mẹ, anh chị em là nơi nương tựa, chăm sóc, nên cán bộ phải thay cha mẹ chăm sóc, yêu thương các cháu, hạn chế đến cùng mọi khó khăn, gian khổ do chiến tranh gây ra, nhất là với các cháu gái.

Trước lúc mọi người về, Bác còn dặn thêm, phải mua sách báo, nhạc cụ cho các cháu trai và phải lo đủ kim chỉ cho các cháu gái may vá, lo đủ bồ kết cho các cháu gái gội đầu…

Lê Minh

bqllang.gov.vn

Một lần nhớ mãi

Đầu năm 1967 Bác về Thái Bình. Ô tô đưa Bác đến bến Triều Dương thì phải sang phà. Mấy đồng chí ở Tỉnh uỷ đến đón, một cán bộ định giới thiệu với Bác. Bác nói:

– Thôi, thôi đi về cho sớm.

Ca-nô mắc cạn loay hoay mãi vẫn chưa cập được bến.

Trời chiều, không thể để Bác chờ lâu nên đành phải đưa thuyền nan ra đón Bác vào bờ. Bác trèo lên đê, hỏi cô Định thường vụ tỉnh uỷ:

– Có còn lối nào đi lý thú hơn nữa không?

Cô Định thành thật thưa:

– Bác phải đi xe, chứ về chúng cháu còn xa lắm.

Anh cán bộ đi theo Bác cười:

– Bác phê bình khéo đấy! Rồi nói khẽ “tưởng bở”.

… Về xã Tân Hoà, cán bộ địa phương mời Bác ngồi ghế giữa ưu tiên. Bàn kê thì chật, Bác lựa mãi mới đứng lên được. Bác mở đầu như một vế đối:

– Ghế ưu tiên nên người không nhúc nhích…

Anh chị em chỉ biết cười trừ.

… Đến bữa cơm, Bác giở cơm nắm ra ăn. Cô Định cứ năn nỉ mãi, mời Bác dùng cơm nóng, Bác bảo:

– Bác dùng cơm này đã quen rồi…

Trong bữa cơm có bát dưa. Cô Định cứ gắp mãi dưa, Bác hỏi:

– Dưa có ngon không?

Cô Định nói một mạch:

– Ngon lắm ạ. Tỉnh chúng cháu năm nay trồng dưa thừa ăn còn đem bán cho các tỉnh bạn.

Bác tủm tỉm cười:

– Dưa này không phải dưa Thái Bình đâu. Dưa Bác đem từ Hà Nội về đấy…

Sau này, cô Định nói: Chỉ một lần ấy mà tôi nhớ đời. Học được bao nhiêu điều.

Theo Lê Văn

bqllang.gov.vn

“Vừa đẹp vừa đỡ chói mắt đồng bào…”

Năm 1956, Bác Hồ đón một vị Tổng thống tại khu vườn Phủ Chủ tịch. Một số công nhân Nhà máy đèn Hà Nội được Bác “mời vào mắc đèn điện trên các cành cây giúp Bác”.

Anh em làm việc suốt ngày, ròng dây dẫn điện lắp đèn nhiều loại màu sắc trên ngọn, trên cành trong các lùm cây. Khoảng 19 giờ 30 cùng ngày, Bác ra vườn thăm anh em. Bác nói:

– Các chú bật đèn lên cho Bác xem đi.

Sau khi đóng cầu dao, những bóng đèn điện bỗng vụt hiện lên, lung linh như trong một hội hoa đăng. Đồng chí tổ trưởng công nhân điện mời Bác đi xem và kiểm tra.

Bác chú ý từng ngọn đèn, từng đoạn dây dẫn đã an toàn chưa, gật đầu tỏ ý hài lòng. Đến một đèn pha chiếu sáng đặt dưới một gốc cây, Bác dừng lại nói:

– Ngọn đèn này phải để khuất trong lùm cây, vừa đẹp vừa đỡ chói mắt đồng bào đi qua đường.

Bác nhanh nhẹn bước tới ngọn đèn. Đồng chí tổ trưởng Dương Văn Hậu lo Bác vấp ngã vì đôi guốc mộc dưới chân Bác đi trên đường dải sỏi, chạy vội đến:

– Bác để chúng cháu làm.

Nhưng Bác đã cúi xuống, rất “nghề nghiệp”, hai bàn tay bưng lấy thân ngọn đèn pha dấu vào một lùm cây đinh hương. Ngọn đèn pha mới được đặt, đẹp hẳn lên, người ngoài nhìn vào không bị chói mắt, mà chỉ thấy những tia sáng chiếu qua các kẽ lá hắt lên một màu xanh dịu.

Lần sau, anh em nhà máy điện Hà Nội lại được đến Phủ Chủ tịch mắc đèn dây để Bác tiếp khách.
Rút kinh nghiệm lần trước, lần này anh em làm khác hẳn lối treo đèn cũ, như để thưa với Bác “phải luôn luôn đổi mới, không ngừng phát huy sáng kiến”- như lời Bác dạy.

Anh em đặt một dây đèn màu từ dưới gốc cây dừa nước lên ngọn rồi toả ra các cành, mỗi cành một đèn màu khác nhau. Ở các thân cây có quả đèn màu trắng, cành cây đèn màu xanh, gần quả, một chùm đèn nhỏ màu đỏ. Chếch hai bên đặt hai đèn pha dấu trong lùm cây hắt nghiêng lên.

Như lần trước, vừa chập tối, Bác đã đến trước khách, thăm anh em công nhân điện và kiểm tra. Bác khen:

– Lần này các chú mắc đẹp đấy. Chắc khách quý của chúng ta cũng sẽ khen…
Bác lấy thuốc lá chia cho anh em công nhân điện mỗi người một điếu (sau này được biết là thuốc lá thơm Cu-ba do Thủ tướng Phi Đen Cát-xtrô tặng Bác. Bác chia gần hết hộp thuốc. Một công nhân trẻ, thấy Bác vui, hộp thuốc đã cạn, muốn có một kỷ niệm về Bác, mạnh dạn thưa với Bác xin cái hộp. Bác cười và nói:

– Các chú đã có phần rồi. Cái hộp này Bác để dành cho các cô để các cô đựng kim chỉ chứ!

Minh Anh
(viết theo lời kể của Dương Văn Hậu)

bqllang.gov.vn

“Làm tốt thì Bác muôn năm…”

Cũng như mọi người dân Thủ đô, thanh niên, thiếu niên Hà Nội luôn nhận được sự quan tâm, chăm sóc của Bác Hồ kính yêu. Còn nhớ năm 1958, khi hàng trăm trẻ em Thủ đô đang chuẩn bị đón Tết Trung thu tại Câu lạc bộ thiếu nhi thì được tin Bác Hồ đến thăm.

Tất cả mọi người đều dồn về phía lễ đài để mong được gần Bác hơn. Trong đó, có một bà mẹ người nước ngoài cũng đang cố gắng đưa con mình đến gần lễ đài. Giơ tay thay một động tác chào về phía hai mẹ con người nước ngoài, miệng cười rất tươi, Bác vui vẻ căn dặn tất cả thiếu nhi phải chăm học, chăm làm để trở thành con ngoan, trò giỏi. Cũng năm 1958, Bác tới thăm Đại hội Thanh niên Thủ đô. Khi Bác đến, mọi người cùng đứng dậy hô to: “Làm tốt thì Bác muôn năm, làm không tốt thì Bác muốn nằm”. Mọi người đều cười vui vẻ và cảm thấy Bác Hồ gần gũi, thân thương như người ông, người cha ở nhà.

Rất nhiều cuộc tiếp thân mật các nguyên thủ quốc gia, Bác đều cho thiếu nhi Hà Nội tham dự. Tháng 6-1959, tại Công viên Bách Thảo, thiếu nhi cắm trại và liên hoan văn nghệ, Bác đã tiếp và đưa Tổng thống Xu-các-nô đến Công viên cùng dự và tham gia các hoạt động của thiếu nhi hơn một giờ đồng hồ. Gần Tết Nguyên đán năm 1960, Bác cho gọi các cháu thiếu nhi vào Phủ Chủ tịch để cùng đón gia đình ông luật sư người Anh Loseby. Bác đã tặng quà từng người và còn dặn nhớ dành quà tết của Bác cho người thân ở nhà. Năm 1961, Bác quyết định để thiếu nhi Hà Nội tổ chức triển lãm tại Phủ Chủ tịch trong suốt 10 ngày. Dù rất bận, nhưng ngày nào Bác cũng cố gắng dành thời gian để xem các cháu biểu diễn văn nghệ.

Năm 1965, trong buổi biểu diễn văn nghệ chào mừng Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô, một cháu gái 8 tuổi đọc bài thơ “Cháu nhớ Bác Hồ” của nhà thơ Thanh Hải. Bài thơ nói về tình cảm của thiếu nhi miền Nam đối với Bác Hồ, Bác chăm chú lắng nghe. Đến câu “Bác ơi nhớ mấy cho cùng/ Ngoài xa Bác có thấu lòng cháu không?”, thì Bác lấy khăn lau nước mắt và gật đầu nói: “Có nhớ… có nhớ…”.

Nguyễn Lê

bqllang.gov.vn

Muốn tiết kiệm, phải khéo tổ chức

Trong một lần nói chuyện với các giám đốc, Bác Hồ căn dặn: “Phải biết tiết kiệm những đồng tiền kiếm được, cũng như các vật liệu và đồ dùng trong các cơ quan. Rút bớt hết những việc gì không cần thiết, chớ hao phí giấy má, tiền bạc và các thứ của công. Hao phí những thứ đó tức là hao phí mồ hôi, nước mắt của dân nghèo. Chớ tưởng tiết kiệm những thứ cỏn con như mẩu giấy, ngòi bút là không có ảnh hưởng. Một người tiết kiệm như thế, trăm người như thế, vạn người như thế, công quỹ bớt được một số tiền đáng kể…”.

Thấm nhuần lời dạy của Bác Hồ, cán bộ, công nhân viên Công ty Cao su Phú Riềng thuộc Tập đoàn Công nghiệp cao su Việt Nam đã thực hành tiết kiệm trong chi tiêu nội bộ, tiết kiệm trong sản xuất kinh doanh… xây dựng phong trào thi đua mang lại lợi ích thiết thực. Ông Nguyễn Hồng Phú, Giám đốc công ty cho biết: “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, công ty đã thành lập ban chỉ đạo phòng, chống tham nhũng và thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Công ty đã xây dựng định mức tiết kiệm cụ thể cho từng đơn vị, đề ra chỉ tiêu tiết kiệm trong sản xuất và tiêu dùng, phổ biến đến toàn thể cán bộ, công nhân viên. Các đơn vị trong công ty căn cứ vào định mức kinh tế kỹ thuật, xây dựng chỉ tiêu tiết kiệm cho từng nội dung, từ việc sử dụng điện, nước, điện thoại, văn phòng phẩm, xăng xe, tiếp khách, tham quan du lịch, cho đến việc tiết kiệm vật tư, nguyên liệu trong sản xuất kinh doanh, trong đầu tư xây dựng cơ bản…”. Năm 2007, công ty đã tiết kiệm được 19 tỷ 192 triệu đồng. Thống kê các khoản tiết kiệm được, gồm: Tiết kiệm điện, nước, điện thoại, xăng xe, văn phòng phẩm khối văn phòng công ty và các nông trường: 529 triệu đồng. Tiết kiệm trong đầu tư xây dựng cơ bản do tổ chức đấu thầu các công trình xây dựng và giao thông, giảm chi so với gói thầu 6 tỷ 634 triệu đồng. Tiết kiệm trong sản xuất kinh doanh trên cơ sở sắp xếp ca sản xuất hợp lý, bảo dưỡng máy móc thiết bị, tăng cường thâm canh vườn cây, tiết kiệm vật tư, nhiên liệu 5 tỷ 90 triệu đồng. Tiết kiệm trong việc tận thu các loại mủ như mủ tráng thùng, mủ đất, mủ serum được 3 tỷ 638 triệu đồng. Tiết kiệm trong thanh lý vườn cây cao su nhờ tổ chức đấu thầu rộng rãi, tăng thu được 1 tỷ 242 triệu đồng. Tiết kiệm trong tham quan du lịch nhờ tổ chức đấu thầu chào giá cạnh tranh cho cán bộ, công nhân viên có thành tích trong sản xuất, kinh doanh, giảm chi được 2 tỷ 56 triệu đồng so với năm 2006…

Bên cạnh việc thực hành tiết kiệm, công ty còn thực hiện tốt việc thâm canh, chăm sóc vườn cây, tận thu mủ, bảo đảm khai thác đúng quy trình kỹ thuật, nâng năng suất vườn cây đạt 2.068kg/ha. Năm 2007, công ty cao su Phú Riềng khai thác được gần 30.000 tấn mủ cao su quy khô, vượt kế hoạch 4.500 tấn, đạt doanh thu hơn 1.000 tỷ đồng; nộp ngân sách hơn 200 tỷ đồng; lợi nhuận đạt hơn 400 tỷ đồng, thu nhập bình quân đạt 5 triệu đồng/người /tháng.

Bác Hồ từng nói: “Muốn tiết kiệm có kết quả tốt thì phải khéo tổ chức… Không biết tổ chức là không biết tiết kiệm”. Nhờ biết tổ chức và đề ra các biện pháp thực hiện tiết kiệm cụ thể, những kết quả trong công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí ở Công ty Cao su Phú Riềng đã mang lại hiệu quả thiết thực. Phát huy truyền thống “Phú Riềng đỏ” của các bậc cha anh đi trước, ngày nay cán bộ, công nhân viên công ty cao su Phú Riềng đã và đang tích cực thi đua lao động sản xuất, thực hành tiết kiệm, vì mục tiêu “Công nhân giàu, công ty mạnh”.

Phạm Văn Mấy

bqllang.gov.vn

Cán bộ cần thường xuyên đi cơ sở

Sinh thời, mỗi lần đi thăm địa phương, đơn vị nào đó, Bác Hồ có phong cách thật giản dị và cách làm việc với cơ sở của Bác đạt hiệu quả rất lớn, ý nghĩa sâu sắc. Bác thường dành những lời khuyên, những chỉ đạo sát thực đối với địa phương, đơn vị. Đến với nông dân, Bác về tận ruộng để hỏi han, động viên. Đến các đơn vị quân đội, Bác thăm tận nơi ăn chốn ở của bộ đội, trận địa… Cũng nhờ luôn nắm rõ, hiểu thực tế, Bác Hồ luôn đưa ra những chỉ đạo sát với yêu cầu của thời cuộc, lãnh đạo dân tộc ta giành được nhiều thành công, thắng lợi.

Hiện nay, trước thực tế phát triển mạnh mẽ của đất nước trong thời kỳ đổi mới và hội nhập, việc cán bộ đi cơ sở, tìm hiểu, đánh giá tình hình để thực hiện tốt chỉ đạo lại cần thiết hơn bao giờ hết, và được coi là không thể thiếu. Lâu nay có tình trạng, không ít cán bộ lãnh đạo địa phương, đơn vị lấy lý do bận họp hành quá nhiều, nên sao nhãng việc đi kiểm tra, tìm hiểu ở cơ sở; hoặc có đi thì chỉ là chiếu lệ, qua loa, thậm chí còn gây phiền hà, lãng phí thời gian, công sức của cơ sở. Chính vì lãnh đạo không nắm sát tình hình cơ sở nên ngại có ý kiến đóng góp hay chỉ đạo, hoặc có ý kiến thì cũng không sát thực. Vì vậy, mới xảy ra những chỉ đạo quan liêu, dẫn đến những ảnh hưởng tiêu cực, lệch hướng.

Trong những chuyến công tác gần đây, tôi đã được chứng kiến một số điển hình về việc đi cơ sở. Bộ CHQS tỉnh Hậu Giang, sau khi mới thành lập, còn bộn bề khó khăn, tuy nhiên luôn đề cao việc các cán bộ phải thường xuyên đi cơ sở, kiểm tra, chỉ đạo sát sao trong thực hiện nhiệm vụ. Đại tá Lữ Văn Hùng, Chỉ huy trưởng Bộ CHQS tỉnh Hậu Giang cho biết: “Trong lãnh đạo, chỉ huy, chúng tôi luôn nhắc nhở cán bộ các cấp cần thường xuyên đi cơ sở, vì có như thế mới hiểu rõ thực tế, gần gũi với cấp dưới, với nhân dân, kiểm tra, đốc thúc thực hiện tốt nhiệm vụ. Kiến thức ở cơ sở rất cần thiết và quan trọng, từ đó có thể rút kinh nghiệm, bài học quí; nắm rõ những khó khăn, bức xúc để đề ra biện pháp hay hoặc đề nghị cấp trên hỗ trợ, giúp đỡ kịp thời”. Ngay cả đối với các đồng chí trong Bộ Chỉ huy, việc đi cơ sở được thực hiện thường xuyên. Mỗi năm, Bộ Chỉ huy thường phân công đi thực tế, kiểm tra ở hầu hết các xã trong tỉnh. Nhờ đó, công tác quân sự, quốc phòng của Hậu Giang thời gian qua đã đạt được nhiều thành tích.

Một ví dụ khác, ở huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng – nơi có hệ thống kênh rạch chằng chịt, nhiều địa bàn thuộc vùng sâu, vùng xa, đi lại rất khó khăn. Chúng tôi được nghe kể nhiều về đồng chí Huỳnh Văn Sum, Bí thư Huyện ủy huyện Kế Sách. Đồng chí Sum được nhiều người dân biết đến vì thường xuyên “vi hành” xuống cơ sở. Khi thì đồng chí Sum tự đi bằng ghe xuồng, khi thì đi bằng xe gắn máy, khi thì đi cùng các đoàn kiểm tra của huyện. Đồng chí Sum tâm sự: “Cán bộ lãnh đạo rất cần phải thường xuyên đi cơ sở. Điều đó sẽ giúp nắm rõ những bức xúc khó khăn, tâm tư nguyện vọng của nhân dân. Hơn nữa, trong các cuộc họp, khi chỉ đạo các cấp, các ngành trong huyện, tôi thường dẫn chứng những ý kiến, những trường hợp khó khăn bức xúc cụ thể từ cơ sở. Nhờ đó, chỉ đạo của mình mới thiết thực, hiệu quả cao”.

Thiết nghĩ, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, cán bộ lãnh đạo các cấp, các ngành, các địa phương cần thường xuyên đi cơ sở và đồng thời tránh làm phiền hà, nhũng nhiễu cơ sở. Thực hiện tốt điều này, thì việc khó đến mấy, cán bộ cũng sẽ có những chỉ đạo sát thực tế, đúng hướng, hiệu quả cao.

Trung Kiên

bqllang.gov.vn

“Nghĩ về Bác, lòng ta trong sáng hơn!”

Cuộc thi “Tìm hiểu tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” do báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam phối hợp với Đài Truyền hình Việt Nam, báo Quân đội Nhân dân, báo Tuổi trẻ, báo Thanh niên, báo Tiền phong và Tổng Công ty Viễn thông quân đội Viettel tổ chức đã trải qua 29 tuần thi trắc nghiệm và 6 tháng thi viết với hơn 50 vạn người tham dự, bao gồm: 400.000 nghìn người tham gia thi trắc nghiệm hàng tuần, hơn 100.000 người dự thi viết hàng tháng…

Hội trường Nhà văn hóa Thanh niên Thành phố Hồ Chí Minh, một trung tâm sinh hoạt văn hoá sôi nổi của tuổi trẻ thành phố Hồ Chí Minh tối 19 – 1 các chỗ ngồi đều chật kín. Phần đông đại biểu đến dự đều là các bạn trẻ. Đây cũng là lần đầu tiên, Lễ trao giải thưởng Cuộc thi “Tìm hiểu tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” được tổ chức tại thành phố mang tên Bác.

Theo báo cáo của Ban tổ chức, cuộc thi “Tìm hiểu tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” do báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam phối hợp với Đài Truyền hình Việt Nam, báo Quân đội Nhân dân, báo Tuổi trẻ, báo Thanh niên, báo Tiền phong và Tổng Công ty Viễn thông quân đội Viettel tổ chức đã trải qua 29 tuần thi trắc nghiệm và 6 tháng thi viết đã có hơn 50 vạn người tham dự. Số lượng người dự thi tăng dần theo từng tuần, từng tháng, chất lượng các bài viết cũng ngày một nâng cao. Cuộc thi đã thật sự có sức lan tỏa và tạo hiệu ứng mạnh mẽ trong xã hội, tác động sâu sắc đến nhận thức và hành động của cán bộ, đảng viên và nhân dân, trong đó đáng mừng là thế hệ trẻ đã tích cực hưởng ứng “Cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”.

Phát biểu tại Lễ trao giải, đồng chí Đào Duy Quát, Tổng biên tập báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, Trưởng Ban chỉ đạo cuộc thi nhấn mạnh: “Cuộc thi này cổ vũ động viên nhân dân cả nước có ý thức tự giác tìm hiểu tư tưởng và tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Mỗi người đều suy ngẫm về ý nghĩa và tầm quan trọng của đạo đức đối với sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới, đối với cuộc đời và hạnh phúc của mỗi con người. Ở tất cả các xã phường, trường học, lực lượng vũ trang, cơ quan, đơn vị đều dấy lên những hình thức tổ chức học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh sinh động, trở thành một hoạt động công tác tư tưởng hiệu quả, quần chúng giáo dục quần chúng và biến quá trình giáo dục đạo đức rất quan trọng này thành quá trình tự giáo dục của từng người”.

Sau 6 tháng tổ chức cuộc thi, Ban tổ chức đã 3 lần trao giải thưởng cho các tập thể, cá nhân đoạt giải ở nhiều địa điểm khác nhau. Nhưng đây là lần đầu tiên, lễ trao giải được tổ chức ở thành phố Hồ Chí Minh, thành phố mang tên Bác. Những người đoạt giải đều đến từ các tỉnh thành khu vực phía Nam. Khán giả có mặt tại Nhà văn hoá thanh niên thành phố Hồ Chí Minh đã lặng đi vì xúc động khi nghe tâm sự của cụ Trình Thị Tán, 71 tuổi, đến từ tổ 14, Khóm Châu Long, phường Châu Phú B, Thị xã Châu Đốc, tỉnh An Giang: “Tôi là giáo viên trong chế độ cũ 13 năm ròng, hằng ngày từng âm thầm nén nỗi đau khi phải chào lá cờ và lãnh tụ của chế độ cũ. Ngày đất nước giải phóng, tôi đã sung sướng biết bao nhiêu khi được tự tay gỡ lá cờ, bức tượng ấy xuống, treo lá cờ đỏ sao vàng và tượng Bác Hồ lên bàn thờ Tổ quốc. Giây phút ấy, tôi tự nói với lòng mình: “Bác Hồ, người Việt Nam đẹp nhất mới xứng đáng ở vị trí này. Về sau, trở thành giáo viên của chế độ mới, tôi luôn dạy học trò của mình, trước hết phải làm theo 5 điều Bác Hồ dạy. Cuộc vận động, cuộc thi với tôi thật ý nghĩa, tôi đã tham gia cuộc thi bằng tình cảm và những trải nghiệm của chính cuộc đời mình”. Cụ Trình Thị Tán cũng là một nhân vật khá đặc biệt của cuộc thi. Cụ đã 6 lần tham gia thi viết và có tới 4 lần đoạt giải.

Khác với lần trao giải ở các địa phương khác, cuộc trao giải tại thành phố Hồ Chí Minh để lại một dấu ấn đặc biệt, đó là sự tham gia đông đảo của các bạn trẻ. Ban tổ chức vui mừng cho biết, so với các địa phương khác trong cả nước, khu vực phía Nam là khu vực có số lượng người tham gia thi trắc nghiệm qua mạng Internet cao nhất. Điều đó chứng tỏ giới trẻ ngày nay rất nhạy bén với công nghệ thông tin nhưng không thờ ơ với các vấn đề chính trị – xã hội như nhiều người thường ngộ nhận. Em Phan Thanh Tú, học sinh lớp 11 cho biết: “Chúng em tham gia thi trắc nghiệm về tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh không phải chỉ là một cuộc chơi “cho vui” mà qua cuộc thi để học tập, nâng tầm nhận thức và hành động của bản thân mình”.

Anh Lê Hoàng Việt Lâm, thiếu uý, giảng viên Khoa Mác – Lênin, Trường Đại học An ninh nhân dân (TP Hồ Chí Minh) là người đã tham gia và giành tới hơn 40 giải thưởng tại các cuộc thi được tổ chức ở Trung ương cho rằng, cuộc thi này là cuộc thi để lại ấn tượng mạnh mẽ nhất trong anh. Bởi lẽ: “Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” mà Đảng ta đang phát động có ý nghĩa quan trọng, với sức lan toả rộng lớn đã chứng tỏ tình cảm và trách nhiệm của tất cả mọi người dân Việt Nam đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh và vận mệnh dân tộc. Tuy nhiên, giáo dục, học tập về đạo đức cách mạng theo tư tưởng Hồ Chí Minh phải đi đến thức tỉnh được lương tâm của mỗi con người, làm cho mỗi người tự mình hình thành được một “toà án lương tâm” đủ sức phán xét thật nghiêm khắc bản thân mỗi người. Làm sao để mỗi người “nghĩ về Bác lòng ta trong sáng hơn” thì cuộc vận động mới có thể đạt được hiệu quả thiết thực”.

Tại buổi lễ, Ban Tổ chức cuộc thi đã trao giải thưởng của các cuộc thi tháng, thi tuần cho 31 bài viết đoạt giải ở khu vực phía Nam. Có 6 giải nhất, 4 giải nhì, 3 giải ba (cuộc thi tuần) và 01 giải nhất, 6 giải ba, 11 giải khuyến khích (cuộc thi tháng). Đặc biệt, có những người đã tham dự rất nhiều lần và đạt nhiều giải thưởng như: trung uý Nguyễn Đình Sơn, giảng viên Khoa lý luận Mác – Lê nin Trường sĩ quan Lục quân 2; bác Trình Thị Tán (71 tuổi), Tổ 14 Khóm Châu Long, phường Châu Phú B, Thị xã Châu Đốc, tỉnh An Giang…

Hà Nguyên Minh

bqllang.gov.vn

Bác Hồ với Tết tiết kiệm

Sinh thời Bác Hồ viết tác phẩm “Mừng Tết Nguyên đán như thế nào?”. Người căn dặn: “Suốt năm chúng ta thi đua lao động sản xuất, những ngày Nguyên đán, chúng ta vui chơi một ngày để chào Xuân. Việc đó cũng đúng thôi. Nên chúng ta mừng xuân một cách vui vẻ lành mạnh. Nếu có bao nhiêu tiền bỏ ra mua sắm hết để đánh chén lu bù, thế là mừng xuân một cách lạc hậu, thế là lãng phí, thế là không xuân”.

Với lòng nhân ái, vào những dịp Tết, Bác thường đi chúc Tết không những ở cơ quan xí nghiệp mà còn đến thăm các gia đình lao động. Chúng ta còn nhớ, Bác đến thăm một gia đình mà trong nhà ngày Tết chẳng có gì, đêm giao thừa còn phải đi gánh nước thuê kiếm tiền. Bác đã nói trong xúc động: “Bác không đến thăm cô chú thì thăm ai?”.

Ngày mồng Một Tết năm 1965, sau khi thăm các cơ quan, đoàn thể ở Hà Nội, Bác đến thăm công trường Việt Trì và phát biểu trước cán bộ, công nhân, chuyên gia các nước bạn đang giúp ta với những lời đầy tình cảm: “Cán bộ phải chú ý chăm lo sinh hoạt của anh em trong ngày Tết. Đối với các đồng chí công nhân, cán bộ, bạn bè giúp ta mà phải xây nhà trong dịp Tết Nguyên đán này, ta càng chú ý săn sóc. Các anh em người Âu, Phi lâu này đã quen với phong vị Tết Việt Nam nên làm sao cái Tết của xây dựng phải vui vẻ hơn Tết kháng chiến, song phải tránh những lãng phí không cần thiết”.

Chúng ta không khỏi xúc động về những tình cảm mà Người không chỉ dành riêng cho nhân dân mà còn cho bạn bè năm châu. Đâu chỉ dừng ở đó, Người còn lo xa, căn dặn chúng ta phải tiết kiệm, chống lãng phí. Việc cần kiệm để xây dựng nước nhà là nhiệm vụ không ai được phép quên lãng. Cũng trong tác phẩm “Mừng Tết Nguyên đán như thế nào?”, Bác còn viết: “Vừa rồi vì được mùa to, hai mươi xã Yên Thành (Nghệ An) đã liên hoan hết 123 con lợn, 8 con bò, 3 con bê, đó là chưa kể số tiền chi tiêu vào muối, gạo, rượu, chè, cũng chưa kể những ngày lao động của bà con đã mất toi. Lãng phí tiền của công sức như vậy lỗi tại ai? Lỗi tại cán bộ huyện, cán bộ xã, lỗi tại đảng viên, chi bộ”.

Từ câu chuyện trên liên hệ với cuộc sống hôm nay, chúng ta thấy hiện tượng lãng phí vẫn còn xảy ra phổ biến. Qua các phương tiện thông tin đại chúng được biết, cứ mỗi lần Tết đến, vẫn có cơ quan, đơn vị với mọi hình thức tổ chức liên hoan, quà biếu, phong bì, nhiều nơi khi quyết toán lên đến hàng chục, hàng trăm triệu đồng, trong lúc người lao động ở đó còn bao vất vả lo toan. Có gia đình còn khoe khoang, sắm sửa, trang hoàng nhà, phòng ốc toàn những thứ đắt tiền, có loại cây cảnh lên đến hàng chục triệu đồng. Trong khi nhà công nhân bên cạnh chưa có gì gọi là Tết, cuộc sống còn rất tạm bợ, lo từng bữa ăn…

Đành rằng nền kinh tế nước ta phát triển, đời sống cộng đồng được nâng lên một bước, nhưng không vì thế mà chúng ta xa hoa, lãng phí. Với việc mừng Tết Nguyên đán, đã có lần Bác Hồ căn dặn:

Mừng Xuân mừng cả thế gian
Phải đâu lãng phí cỗ bàn mới xuân

Xuân về, Tết đến chúng ta lại nhớ đến Bác Hồ với những lời căn dặn chí tình của Người. Chúng ta nguyện quyết tâm thực hiện nghiêm Luật phòng, chống tham nhũng và Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, để Tết đến với mọi nhà, mọi người với không khí vui tươi, phấn khởi, an toàn, lành mạnh và tiết kiệm.

Thanh Hoàng

bqllang.gov.vn