Tag Archive | Chính trị – Xã hội

Ngày 13 tháng 1 – Thủ đô phải là thành phố gương mẫu

Thứ ba, 13/01/2009, 03:23 (GMT+7)

Việt Nam - Hồ Chí MinhHồ sơ mật thám của Pháp cho biết, ngày 13-1 cách đây 86 năm (1923) Nguyễn Ái Quốc nhận được tập “Kỷ yếu nhân quyền” và tham dự một buổi họp của chi bộ cộng sản vùng Seine tại trụ sở số 100 đường Cardinet (Paris).

Cũng bản báo cáo này cho biết trong thời gian này, Nguyễn Ái Quốc thường xuyên đến nhà của luật sư Phan Văn Trường. Hôm ấy, Bác dùng cơm trưa với Nguyễn Thế Truyền và Phạm Cao Lục. Nguyễn Thế Truyền vào thời điểm này đang cộng tác với Bác để làm tờ “Việt Nam Hồn”. Cũng trong ngày 13-1, Bác còn tham gia sinh hoạt của “Hội của những người An Nam làm nghề nấu bếp và giúp việc nhà”.

Thời gian này Nguyễn Ái Quốc càng quan tâm đến vấn đề nông dân nên ngày này 83 năm trước (13-1-1926), Nguyễn Ái Quốc viết thư tới Đoàn Chủ tịch Quốc tế Nông dân tha thiết đề nghị cung cấp tài liệu về nông dân để “có thể dịch ra tiếng Trung Quốc dùng cho việc tuyên truyền…”.

Năm 1947, chiến tranh đã lan rộng trên cả nước, bên cạnh việc chỉ đạo cuộc kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn nỗ lực thúc đẩy các hoạt động ngoại giao nhằm tranh thủ hòa bình, đặc biệt là hướng về các nước láng giềng châu Á.

Ngày 13-1-1947, Chủ tịch nước Việt Nam viết “Thư gửi lãnh tụ và nhân dân các nước”, trong đó nêu rõ: “Việt Nam chỉ muốn hòa bình và độc lập để cộng tác thân thiện với các dân tộc trên thế giới, trước là với dân tộc anh em Á Đông và dân tộc Pháp… Vì Tổ quốc, vì tự do, nhân dân Việt Nam kiên quyết kháng chiến đến cùng. Vì nhân đạo, vì chính nghĩa, vì hòa bình chung và lợi ích chung, nhân dân Việt Nam mong các vị giúp đỡ mọi phương diện”.

Ngày 13-1-1960, tức cách đây 49 năm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh ban bố Luật Hôn nhân gia đình. Trong bài nói tại Đại hội đại biểu nhân dân Hà Nội diễn ra vào buổi tối cùng ngày ký sắc lệnh, Bác Hồ nêu rõ ý nghĩa lịch sử của bộ luật này:“Có quan hệ mật thiết đến mọi người dân trong nước, đến cả nòi giống Việt Nam ta. Đạo luật ấy làm cho gái trai thật sự bình quyền, gia đình thật sự hạnh phúc. Toàn thể đồng bào ta đều nhiệt liệt hoan nghênh đạo luật chí tình chí lý ấy”.

Cũng trong bài phát biểu này, người đứng đầu Nhà nước chỉ thị: “Đồng bào thủ đô phải thật gương mẫu trong mọi công tác. Thủ đô phải là một thành phố gương mẫu cho cả nước”.

Hai năm sau, trong phát biểu tại cuộc họp của Bộ Chính trị (ngày 13-1-1962) khi bàn về ngân sách nhà nước, Bác nhấn mạnh đến nguyên tắc: ““Khai nguyên tiết lưu” có nghĩa là cái gì cần tập trung thì tập trung, cái gì giảm được thì kiên quyết giảm sao cho dưới thông, dân thông… Chống lãng phí tham ô cần có biện pháp…”.

Cùng ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh tặng danh hiệu “Anh hùng lao động” cho Thiếu tá Iuri Gagarin, phi công vũ trụ Liên Xô, người đầu tiên được lên vũ trụ trên con tàu “Phương Đông I” ngày 24-1-1961.

D.T.Q. và nhóm cộng sự.
sggp.org.vn

Ngày 12 tháng 1 – Thiện chí có nguyên tắc

Thứ hai, 12/01/2009, 01:24 (GMT+7)

Việt Nam - Hồ Chí MinhNgày này 76 năm trước (12-1-1933), sau khi Tòa án Anh ở Hồng Kông ra lệnh thả, Nguyễn Ái Quốc quyết định đi Anh, nhưng tàu vừa cập cảng Singapore thì chính quyền sở tại theo yêu cầu của nhà cầm quyền ở Hồng Kông ra lệnh cho nhà cách mạng Việt Nam phải quay lại nơi xuất phát. Cách đó mới hơn một năm (tháng 6-1931), Bộ thuộc địa Pháp đã cảnh báo “Việc trả tự do cho Nguyễn Ái Quốc chỉ có thể làm trầm trọng thêm những hoạt động có hại của phong trào Đông Dương mà các Sở an ninh Đông Dương đều biết là ông ta đã tập trung tất cả trí thông minh, quyền lực và sự nổi tiếng của mình”.

14 năm sau, ngày 12-1-1947, lần đầu tiên kể từ khi chiến tranh lan rộng, Chủ tịch Hồ Chí Minh trả lời một nhà báo Mỹ trong đó một lần nữa bày tỏ “Nhân dân Việt Nam hy vọng Mỹ sẽ giúp các dân tộc nhỏ giành được độc lập như Tổng thống Rudơven thường nói” đồng thời sẵn sàng tiếp đón những phóng viên Mỹ muốn đến tìm hiểu tình hình Việt Nam.

Vậy mà 20 năm sau đó (1967), Mỹ chẳng những không ủng hộ nền độc lập của Việt Nam mà còn trở thành kẻ trực tiếp tiến hành cuộc chiến tranh khốc liệt trên cả hai miền Nam, Bắc nước ta. Đó cũng là lúc phong trào chống chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam đang dâng cao trên khắp thế giới.

Với một tầm nhìn xa, một mặt Bác cổ vũ mạnh mẽ tinh thần chiến đấu của quân dân trên các chiến trường, mặt khác lại rất quan tâm chỉ đạo việc mở ra mặt trận ngoại giao nhân dân. Ngày 12-1 năm đó, Bác tiếp đoàn Tòa án Quốc tế sang Việt Nam điều tra tội ác chiến tranh của đế quốc Mỹ và cùng ngày đã tiếp Giáo sư H.S. Atxmôrơ, chủ bút tờ “Nhật báo Acansat” cùng hai nhân vật nữa là những người đã nhận sứ mạng của Bộ Ngoại giao Mỹ thăm dò khả năng chấm dứt chiến tranh.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tâm sự một cách chân tình và thẳng thắn: “Tôi chưa có thời gian nào để lấy vợ và lập gia đình. Tôi nói với thanh niên Việt Nam rằng họ là con cháu tôi, vì vậy tôi sống rất bình yên và giản dị. Tôi ngủ ngon ngay cả khi có việc ném bom của các ông”.

“Chúng tôi không đánh nước Mỹ. Chúng tôi không phạm một hành động đối địch nào vào lãnh thổ các ông… Trong khi những hành động chiến tranh còn tiếp diễn thì các ông đừng mong chúng tôi đến bàn thương lượng. Làm như vậy không phải là thương lượng mà đó là đi xin hòa bình, là đầu hàng… Khi nào chấm dứt bom thì cuộc đối thoại sẽ bắt đầu”; “Nhân dân chúng tôi là người có lý trí, biết suy nghĩ, yêu hòa bình. Chúng tôi muốn kết thúc cuộc chiến tranh này. Nhưng nền độc lập, tự do của Việt Nam không bao giờ lại bị đưa ra thương lượng”.

Cuộc tiếp xúc này là tín hiệu để phía Mỹ nhận thức được thiện chí có nguyên tắc của phía Việt Nam nhằm đi đến bàn hội nghị đã diễn ra ngay sau cuộc Tổng tiến công và nổi dậy vào mùa xuân năm Mậu Thân (1968) tại Paris (Pháp).

D.T.Q. và nhóm cộng sự
sggp.org.vn

Ngày 11 tháng 1 – Hồ Chí Minh giống một vị thánh

Chủ nhật, 11/01/2009, 03:50 (GMT+7)

Việt Nam - Hồ Chí MinhNgày 11-1 cách đây 76 năm, dưới cái tên Tống Văn Sơ, Nguyễn Ái Quốc đang chuẩn bị cho chuyến trở về nước Nga xô viết. Bị bắt từ 6-6-1931 khi đang hoạt động ở Hồng Công, qua 9 phiên xét xử, được sự giúp đỡ của một số luật sư tiến bộ người Anh trong đó có ông Loseby, ngày 28-12-1932, Nguyễn Ái Quốc được thả tự do.

Lập luận của các luật sư là bộ máy cảnh sát và tư pháp của Hồng Công đã vi phạm bộ “Luật bảo thân” (Habeas Corpus). Từ thời điểm đó đến ngày 11-1-1933, được sự giúp đỡ của những luật sư Anh và một số cơ sở cách mạng của người Việt Nam, Trung Quốc, Nguyễn Ái Quốc tìm cách rời Hồng Công tiếp tục hoạt động trong chuyến tàu khởi hành vào ngày hôm sau trên hành trình đến nước Nga, nhưng ghé qua cảng Singapore.

Ngày 11-1-1946 từ Thái Bình, Bác đi thăm tỉnh Nam Định. 7 giờ sáng, đông đảo nhân dân đã tề tựu trước Ủy ban Hành chính thành phố nghe vị Chủ tịch nước nói chuyện với đồng bào về những nhiệm vụ kháng chiến, cứu đói. Sau đó Bác đến thăm và chia quà cho trẻ em ở trại mồ côi Nam Định.

Tại đây, Bác cảm động nói với bà phước: “Tôi ghé qua đây thăm bà và các cháu. Tôi thay mặt các cháu không cha, không mẹ đó cảm ơn bà đã trông nom chúng như một người mẹ. Chúng tội tình gì mà tội nghiệp quá”. Rời Nam Định, Bác đi thăm Phủ Lý và nói chuyện với dân chúng đến chào đón vị Chủ tịch nước.

Theo hồi ký của một sĩ quan Mỹ trong đơn vị Tình báo chiến lược của Mỹ (OSS) mang bí danh “Con Bò” là Georges Wickes đang đóng tại Sài Gòn được lệnh ra Hà Nội vào đầu năm 1946 để thực hiện cuộc phỏng vấn người đứng đầu nhà nước Việt Nam. Sau đó, Wickes đã viết một bức thư gửi cho mẹ nói về cảm nhận của mình đối với nhân vật lần đầu được tiếp xúc (bức thư về sau được công bố khi tác giả đã trở thành một giáo sư đại học). Thư viết:

“Ông Hồ mặc quân phục, nhưng một cách giản dị không có bất kỳ phù hiệu nào. Khi hỏi rằng ông có phải là người cộng sản không? Ông Hồ không hề giấu giếm sự thật. Nhưng khi hỏi rằng phải chăng điều đó có nghĩa là Việt Nam sẽ trở thành đất nước cộng sản, ông nói rằng ông không phải là người xác định điều này, bản sắc chính trị của đất nước phải được quyết định bởi nhân dân… Hồ Chí Minh hoàn toàn giống vị thánh tử vì đạo và trong thực tế ông đã cống hiến hầu như toàn bộ 60 năm kỳ diệu của đời mình cho sự nghiệp của dân tộc…

Và khi được hỏi rằng Hồ Chí Minh là một người như thế nào? Con sẽ mô tả ông như sự kết hợp giữa Thánh Francis xứ Assisi và Abraham Lincoln” (Thánh Francis là vị thánh biểu trưng cho tình nhân ái, chống bạo lực và thân thiện với thiên nhiên; còn A.Lincoln là vị tổng thống đoàn kết toàn dân xây dựng thể chế dân chủ của Hoa Kỳ).

D.T.Q và nhóm cộng sự
sggp.org.vn

Ngày 10 tháng 1 – Giá trị của tự do là cơm no, áo ấm

Thứ bảy, 10/01/2009, 02:10 (GMT+7)

Việt Nam - Hồ Chí MinhNgày 10-1-1923 (cách đây 86 năm), từ Quảng Châu (Trung Quốc), Nguyễn Ái Quốc viết thư gửi Quốc tế Cộng sản thúc hỏi về việc có thể nhận bao nhiêu sinh viên Việt Nam vào học Trường Đại học Cộng sản Mátxcơva.

23 năm sau, ngày 10-1-1946, tại Hà Nội, trong cương vị là người đứng đầu Nhà nước Việt Nam độc lập, Hồ Chí Minh đã tham dự phiên họp đầu tiên của Ủy ban Nghiên cứu Kế hoạch Kiến quốc, một tổ chức tập hợp đông đảo các nhà chuyên môn, các nhân sĩ để tư vấn kế hoạch xây dựng đất nước.

Tại cuộc họp này, Bác Hồ chỉ rõ: “Chúng ta tranh được tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét thì tự do, độc lập cũng không làm gì. Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ”. Có thể nói đây là quan điểm nhất quán đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh phát biểu ngay tại phiên họp đầu tiên của Chính phủ Lâm thời được triệu tập chỉ một ngày sau Lễ Độc lập (3-9-1945).

Sau đó, Bác lên đường thăm tỉnh Hưng Yên mà không báo trước. Tiếp các vị thân hào tới chào mừng, Bác nói rằng: “…Bây giờ ta được độc lập, công việc đắp đê không phải là việc riêng của Chính phủ mà là của tất cả mọi quốc dân”. Bác động viên các thân hào có của, người lao động có công cùng nhau tham gia củng cố đê điều: “Nước sông cao bao nhiêu đi nữa mà lòng nhiệt tâm của các bạn cao hơn thì không bao giờ có lụt nữa”.

Bác đi thăm quãng đê vỡ ở Hưng Nhân cách thị xã 6km, tự thân lội nước thăm hỏi những người đang tham gia hàn đê rồi lên đường đi Thái Bình, tiếp đó là Nam Định, nhằm vận động các nguồn lực để củng cố đê điều cho tới khuya mới về đến nhà.

Một năm sau, khi chiến tranh đã lan rộng cả nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn kiên trì đấu tranh ngoại giao, tranh thủ mọi cơ hội để đàm phán mong lập lại hòa bình. Nhưng người đứng đầu cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam cũng cảnh cáo giới thực dân hiếu chiến trong lá thư đề ngày 10-1-1947 rằng: “Nếu không, chúng tôi bắt buộc phải chiến đấu đến cùng để giải phóng hoàn toàn đất nước.

Nước Việt Nam có thể bị tàn phá, nhưng nước Việt Nam sẽ lại hùng mạnh hơn sau cuộc tàn phá đó. Còn nước Pháp chắc chắn sẽ mất hết và sẽ biến hẳn khỏi cõi Á châu”. Lời tiên đoán ấy về sau đã thành sự thật.

Ngày 10-1-1960, vị nguyên thủ quốc gia xuống bến Sáu Kho (Hải Phòng) để đón chuyến tàu biển đầu tiên đưa bà con Việt kiều từ Thái Lan trở về nước. Trước đó một ngày, với bí danh V.K, Bác đã viết bài “Kiều bào ta ở Thái Lan luôn luôn hướng về Tổ quốc”, đề cập tới lịch sử di dân, biểu dương truyền thống đoàn kết ủng hộ sự nghiệp cách mạng ở trong nước và khích lệ bằng mấy vần thơ: “Mình tuy nương náu đất người / Nhưng lòng yêu nước không nguôi bao giờ”/ “Bấy lâu xa cách nước nhà / Nay về quê cũ thế là vẻ vang”.

D.T.Q và nhóm cộng sự
sggp.org.vn

Ngày 9 tháng 1 – Một dân tộc như vậy, chắc chắn thắng lợi

Thứ sáu, 09/01/2009, 01:27 (GMT+7)

Việt Nam - Hồ Chí MinhNgày 9-1-1921 (cách đây 88 năm), Nguyễn Ái Quốc lúc này đã tham gia sáng lập và trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Pháp nhưng vẫn đi cùng Phan Châu Trinh đến dự một cuộc họp do Chi bộ của Đảng Xã hội lúc này đã tham gia phân bộ Xã hội Cách mạng của Quốc tế III. Điều đó cho thấy sự phân hóa của tổ chức mà trước đó Nguyễn Ái Quốc đã từng tham gia là Đảng Xã hội cũng như mối quan hệ của Nguyễn Ái Quốc với những xu hướng tích cực của tổ chức này vẫn được duy trì.

Ngày 9-1-1923, báo “L’Humanité” (Nhân đạo) của Đảng Cộng sản Pháp đăng bài “Vực thẳm thuộc địa” của Nguyễn Ái Quốc. Bài báo tố cáo giới thực dân một mặt khai thác thuộc địa và bóc lột dân bản xứ thậm tệ để làm giàu không chỉ cho nước Pháp mà cho chính bọn chúng, mặt khác lại yêu cầu chính quốc phải đầu tư nhiều tỷ đồng cho các thuộc địa.

Như vậy, thực chất là chúng bòn rút chính nhân dân Pháp để phục vụ những việc làm lãng phí, xa xỉ, nuôi bộ máy quan liêu và ăn bám. Tác giả bài báo đưa ra nhiều dẫn chứng với những con số thuyết phục, trong đó có cuộc Triển lãm Thuộc địa vô cùng tốn kém đang diễn ra ở nước Pháp. Đây là thời điểm Nguyễn Ái Quốc có rất nhiều bài viết đăng trên nhiều tờ báo tố cáo chế độ thực dân mà sau này là chất liệu, để hình thành nên tác phẩm “Bản án chế độ thực dân” (Le Procès de la Colonisation) nổi tiếng.

Ba ngày sau cuộc Tổng tuyển cử, ngày 9-1-1946, Chủ tịch Chính phủ lâm thời Hồ Chí Minh ký sắc lệnh số 3 về việc triệu tập Quốc hội vào ngày chủ nhật 3-3-1946. Để chuẩn bị cho sự kiện quan trọng này, một ủy ban trù bị gồm các nhà trí thức có danh tiếng đương thời như Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Tường Long, Vũ Đình Hòe, Cù Huy Cận, Dương Đức Hiền được thành lập.

Hồ sơ trong các cơ quan lưu trữ còn bảo tồn được bức thư Bác viết ngày 9-1-1947 gửi người đồng chí gần gũi trong văn phòng của mình là Hoàng Hữu Nam, tức Phan Bôi, trong đó nhắc Bộ Nội vụ cho đăng báo bài “Lời kêu gọi những người có văn hóa đăng ký phục vụ Tổ quốc”. Rất tiếc văn kiện này đến nay vẫn chưa sưu tầm được, nhưng chủ đề của lời kêu gọi cho thấy quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về việc đoàn kết và phát huy đóng góp của tầng lớp trí thức, “người có văn hóa” cho sự nghiệp kháng chiến kiến quốc, điều mà người đứng đầu Nhà nước đã nhiều lần đề cập tới.

Ngày 9-1-1952, trên báo Cứu Quốc, trong bài viết “Thanh niên oanh liệt” ký bút danh “Đ.X”, Bác bày tỏ cảm xúc và ca ngợi tinh thần một học sinh tên là Nguyễn Quốc Ân đã chấp nhận bị tra tấn và hy sinh khi bị buộc phải viết bài văn “So sánh Hồ Chí Minh với Quốc trưởng Bảo Đại” tại một trường ở vùng bị tạm chiếm thuộc tỉnh Hưng Yên, trong đó không chịu bôi nhọ lãnh tụ. Kết luận bài báo, tác giả viết: “Một dân tộc có con cháu như vậy là một dân tộc chắc chắn thắng lợi”.

D.T.Q và nhóm cộng sự
sggp.org.vn

Ngày 8 tháng 1 – Phải tôn trọng sự thật

Thứ năm, 08/01/2009, 04:03 (GMT+7)

Việt Nam - Hồ Chí MinhNgày 8-1-1920 (ngày này 89 năm trước), Nguyễn Ái Quốc cùng một số trí thức Việt Nam đang ở Paris tham dự một cuộc thảo luận tại Hội Địa dư Pháp về quyền tự quyết của người Triều Tiên cũng để tranh thủ nêu vấn đề về quyền tự quyết của người Đông Dương.

26 năm sau, ngày 8-1-1946, chỉ 2 ngày sau cuộc Tổng tuyển cử, Chủ tịch Chính phủ Lâm thời Hồ Chí Minh đi thăm Trại giam Hỏa Lò ở Hà Nội. Báo chí mô tả người đứng đầu nhà nước đã thăm khu nhà giam, nhà tắm, lớp học, buồng làm việc, trạm xá, nhà bếp và lắng nghe các phạm nhân phân trần, rồi Người khuyên họ“gắng sửa tội lỗi để xứng đáng là công dân một nước độc lập”. Chủ tịch nhắc Giám đốc trại giam xem xét lại các án tù và xin cơ quan thẩm quyền tha bớt những người nhẹ tội.

Sau đó Chủ tịch thăm Sở Cảnh sát Trung ương đóng ở phố Hàng Trống và căn dặn: Ngoài việc giữ trật tự còn phải tuyên truyền, phải đoàn kết và hợp tác với tự vệ và nhân dân thành phố. Đến Bộ Tuyên truyền, Chủ tịch nhắc nhở phải giữ thái độ khoan dung với kiều dân Pháp và “trong việc tuyên truyền phải tôn trọng sự thật, có vậy mới có nhiều người nghe”.

Cũng trong ngày hôm đó, đáp lại việc Nữ sĩ Hằng Phương gửi tặng cam Chủ tịch nước, trên tờ “Tiếng gọi Phụ nữ” (số 11), Bác đăng bài thơ “Cảm ơn người tặng cam” bằng những câu thơ ý nhị và sâu sắc:

Cảm ơn bà biếu gói cam/ Nhận thì không đúng, từ làm sao đây!/ Ăn quả nhớ kẻ trồng cây / Phải chăng khổ tận đến ngày cam lai!”

Một năm sau, ngày 8-1-1947, Bác lại đăng một bài thơ gửi tặng báo Độc Lập, cơ quan ngôn luận của giới trí thức và doanh nghiệp, mang tinh thần cổ vũ một năm mới đầu tiên cả nước bước vào cuộc kháng chiến gian khổ:

“Năm mới thế cho năm đã cũ / Báo Độc Lập của Đảng Dân chủ / Kêu gọi toàn thể nhân dân Việt Nam / Đoàn kết và thắt chặt hàng ngũ / Kiên quyết kháng chiến đến kỳ cùng / Để giữ chủ quyền và lãnh thổ / Chờ ngày độc lập đã thành công / Tết ấy tha hồ bàn với cỗ.”

Cũng nhân dịp chuẩn bị đón Tết Nguyên đán, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết lời kêu gọi đồng bào phải hết sức tiết kiệm, để dành tiền bạc, cơm gạo cho cuộc kháng chiến lâu dài…, ra sức thi đua tăng gia sản xuất và quan tâm đến các chiến sĩ ngoài chiến trường.

Cùng ngày, Bác Hồ còn viết thư khen ngợi các chiến sĩ bị thương “xứng đáng với Tổ quốc và Tổ quốc sẽ không bao giờ quên những người con yêu quý như thế”,đồng thời khích lệ các thầy thuốc và khán hộ đã hết lòng chăm sóc thương binh:“Thế là các bạn cũng trực tiếp tham gia kháng chiến cứu quốc”.

Ngày này cách đây 50 năm, ngày 8-1-1959, Xưởng may 10 của Tổng cục Hậu cần có vinh dự được Bác Hồ đến thăm. Nửa thế kỷ qua, nhà máy này không ngừng trưởng thành và đến nay đã trở thành một thương hiệu nổi tiếng trong ngành may mặc nước ta.

D.T.Q và nhóm cộng sự
sggp.org.vn

Ngày 7 tháng 1 – Nhịp cầu vàng

Việt Nam - Hồ Chí MinhNgày này 63 năm trước, ngày 7-1-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì cuộc họp Chính phủ để nghe báo cáo của Bộ trưởng Bộ Nội vụ và Bộ Canh nông sau chuyến kinh lý tại Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An và bàn việc động viên nhân dân cả nước hướng về và chi viện cho Nam bộ. Tại cuộc họp này, người đứng đầu nhà nước đã vạch ra một nhiệm vụ cấp bách là “Cần phải thống nhất quân đội ngay để có thể tiếp viện cho Nam bộ”.

Cùng ngày hôm đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến dự lễ khai giảng Trường Cán bộ Tự vệ Hồ Chí Minh. Trước 75 học viên của khóa cán bộ đầu tiên được tổ chức tại thủ đô Hà Nội, Bác căn dặn: “Nói miệng ai nói cũng được. Ta cần phải thực hành.

Kháng chiến, kiến quốc, ta phải cần kiệm. Nhưng tự mình phải cần và kiệm trước đã. Trước hết mình phải làm gương, gắng làm gương trong anh em và khi đi công tác gắng làm gương cho dân”. Phân tích yếu tố tinh thần, Bác Hồ đưa ra một nguyên lý sáng suốt: “Muốn làm được ta phải: quyết tâm, tín tâm và đồng tâm”.

Nhưng thiện chí của chúng ta không ngăn được chiến tranh đã lan rộng cả nước. Ngày 7-1-1947, cách đây 62 năm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết “Thư gửi Chính phủ, Quốc hội và nhân dân Pháp” nêu rõ lập trường rất mềm mỏng: “Chính phủ và nhân dân Pháp chỉ cần có một cử chỉ công nhận độc lập và thống nhất của nước Việt Nam là chấm dứt được tai biến này, hòa bình và trật tự sẽ trở lại ngay tức khắc. Dân tộc Việt Nam đang chờ đợi cử chỉ đó”.

12 năm sau sự kiện trên (ngày này cách đây đúng nửa thế kỷ), mục tiêu thống nhất vẫn chưa hoàn thành, ngày 7-1-1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục chủ trì cuộc họp của Bộ Chính trị để bàn về “Đường lối Cách mạng miền Nam” và đưa ra ý kiến chỉ đạo: “Phải lấy chính trị, lực lượng quần chúng là chính. Phải đoàn kết toàn dân, trừ bọn phản dân. Đề án viết phải có lý có tình. Cũng có thể nói: Giải phóng miền Nam là nhiệm vụ thần thánh của nhân dân ta”.

Nửa thập kỷ sau đó đã diễn ra một cao trào, từ phong trào Đồng khởi đến cuộc đương đầu chống Chiến tranh Đặc biệt của Hoa Kỳ mà đỉnh cao là hai chiến thắng vang dội từ Ấp Bắc (năm 1963) đến Bình Giã (cuối năm 1964).

Với bút danh “Chiến Sĩ”, Bác viết bài đăng báo Quân đội Nhân dân ngày 7-1-1965 với đầu đề “Điện Biên Phủ nhỏ và Nhịp cầu vàng”. Bài báo một mặt vinh danh hai trận thắng trên là “Điện Biên Phủ nhỏ” nhưng để đi đến thắng lợi hoàn toàn còn cần bắc một “Nhịp cầu vàng” để nước Mỹ rút lui khỏi cuộc chiến tranh mà không bị mất mặt.

Thực tiễn cho thấy, sau cuộc Tổng tiến công Mậu Thân (năm 1968), Mỹ đã phải bước vào bàn đàm phán tại Paris và 5 năm sau đó, “Nhịp cầu vàng” đã tạo cơ hội cho Mỹ “rút lui mà không bị mất mặt”… Để rồi không đầy 2 năm sau, miền Nam hoàn toàn được giải phóng…

D.T.Q và nhóm cộng sự
sggp.org.vn

Ngày 6 tháng 1 – Ngày khẳng định quyền làm chủ

Việt Nam - Hồ Chí MinhMột sự kiện quan trọng chỉ sau lễ Tuyên ngôn Độc lập ngày 2-9-1945 hơn 4 tháng là cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội diễn ra trên cả nước vào ngày 6-1-1946. Như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phân tích: Đây là lần đầu tiên người dân Việt Nam được thể hiện quyền làm chủ của mình trong một quốc gia theo chính thể Cộng hòa – Dân chủ.

Theo những số liệu được công bố ngày hôm đó, một cuộc phổ thông đầu phiếu diễn ra trên cả nước đã bầu chọn 333 đại biểu Quốc hội, đại diện cho nhiều địa phương, đảng phái chính trị, tầng lớp xã hội. Ngày hôm đó, hòa theo dòng người dân tham gia bầu cử, ứng cử viên Hồ Chí Minh đến phòng bỏ phiếu đặt tại nhà số 10 phố Hàng Vôi, Hà Nội để thực hiện nghĩa vụ công dân của mình. Sau đó vị Chủ tịch Chính phủ Lâm thời đã thăm các địa điểm bỏ phiếu tại các phố Hàng Bạc, Hàng Gai, Hàng Trống, Thụy Khuê, làng Hồ Khẩu và Ô Đống Mác.

Bác cũng không quên đến thăm và động viên các cháu thiếu nhi đang đi cổ động cho bầu cử tại khu vực Lò Đúc, và viết thư gửi Ban Âm nhạc Vệ Quốc quân cảm ơn và khen ngợi “anh em đã náo nức đi cổ động khắp thủ đô từ sáng đến chiều làm cho ngày Tổng tuyển cử được tưng bừng vui vẻ và kết quả”.

Trong ngày bận rộn này, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng trả lời phóng viên tờ báo cánh tả “Kháng chiến” (La Resistance) của Pháp để một lần nữa khẳng định rằng nước Việt Nam độc lập không đi ngược với lợi ích và mong muốn hợp tác với nước Pháp một cách trung thực và “cùng nhau dàn xếp”.

Trước đó chỉ 5 năm, ngày 6-1-1941, với bí danh Đồng chí Vương, Nguyễn Ái Quốc đã cùng các đồng chí hoạt động ở trong nước như Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Phùng Chí Kiên và Đặng Văn Cáp do Hoàng Sâm dẫn đường, đã đến một ngôi làng bên kia biên giới Việt – Trung để chuẩn bị cho chuyến trở về nước của nhà lãnh đạo cách mạng Việt Nam.

Sau cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên (6-1-1946) đúng 14 năm, cuộc bầu cử Quốc hội khóa 2 diễn ra ngày 6-1-1960. Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm một địa điểm niêm yết danh sách cử tri và tham gia bỏ phiếu tại đơn vị bầu cử đặt tại đình Ngõ Phất Lộc, Hà Nội. Buổi tối, Bác thăm các đại biểu phụ nữ theo đạo Thiên Chúa toàn miền Bắc đang họp tại Hà Nội. Cũng trong ngày hôm đó báo chí đăng “Lời kêu gọi toàn dân hưởng ứng một tháng trồng cây” lập thành tích chào mừng 30 năm ngày thành lập Đảng Lao động Việt Nam.

Ngày 6-1-1966, Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm và nói chuyện với Hội nghị trí thức Việt Nam chống Mỹ cứu nước do Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam triệu tập tại Hội trường Ba Đình, Hà Nội. Ngày này 3 năm sau đó (1969), Chủ tịch nước dự phiên họp đầu năm của Hội đồng Chính phủ và đây cũng là lần cuối cùng Bác có cơ hội chúc tết những người đồng chí thân thiết của mình trong Chính phủ.

D.T.Q và nhóm cộng sự
sggp.org.vn

Ba mũi giáp công phá sập” ấp chiến lược”

QĐND – Bến Tượng (Bến Cát – Bình Dương) là ấp chiến lược “kiểu mẫu” trong quốc sách ấp chiến lược của Mỹ – Diệm có chu vi 8km, hệ thống hàng rào kẽm gai dày đặc. Địch quyết tâm xây dựng nơi đây thành nơi thí điểm kiểu mẫu cho cả miền Đông Nam Bộ nhằm kìm kẹp, kiểm soát chặt chẽ nhân dân, thực hiện “tát nước bắt cá”. Bảo vệ ấp là một trung đoàn chủ lực ngụy và 6 đại đội bảo an, dân vệ, công dân vụ và 70 liên gia trưởng. Tính trung bình một người dân thì có một tên địch kìm kẹp ngày, đêm, với cách đó chúng hy vọng tách dân ra khỏi cách mạng…

Phá ấp chiến lược ở Mỹ Xuyên (Sóc Trăng). Ảnh tư liệu.

Thực hiện nghị quyết của Khu ủy về việc phá ấp chiến lược Bến Tượng, Huyện ủy Bến Cát kiên quyết chỉ đạo thực hiện ba mũi giáp công, cán bộ cơ sở tích cực nắm dân, đẩy mạnh vận động quần chúng, nội công ngoại kích, sử dụng vợ con tề đánh tề, sử dụng gia đình binh sĩ vận động ra đào ngũ, đánh vào tâm lý, tình cảm binh lính địch ở cơ sở. Bộ đội, du kích đánh tiêu hao, kìm giữ quân chủ lực ngụy, trừng trị bọn ác ôn, đầu sỏ… Trong trận đánh phá đầu tiên ngày 9-8-1964, hơn 1000 người dân trong ấp đồng loạt biểu tình chống dồn dân lập ấp, đốt phá, đòi về quê cũ làm ăn… Giữa tháng 9-1964, ta tiếp tục đánh phá đợt 2, quần chúng sôi sục đấu tranh, đốt phá cả ấp cháy rừng rực… Sau 92 ngày đêm kiên cường đấu tranh với kẻ thù, 3000 dân được giải phóng.

Thắng lợi này đã khẳng định đường lối lãnh đạo sáng tạo, đúng đắn của Huyện ủy Bến Cát, phát huy sức mạnh tổng hợp của thế trận chiến tranh nhân dân, nhất tề nổi dậy phá sập âm mưu thâm độc của địch, mở màn cho sự phá sản kế hoạch “ấp chiến lược” của Mỹ-Diệm.

TRẦN VĂN TOẢN
qdnd.vn

Mở đường vào Tây Bắc (Tiếp theo và hết)

Kỷ niệm 60 năm trận Mộc Châu (11-1952 / 11-2012)

Kỳ 2: Công đồn Mộc Châu

QĐND – Sau khi diệt xong các đồn Ca Vịnh, Ba Khe, Thượng Bằng La, Trung đoàn 174 hành quân ròng 3 ngày đêm tiếp cận Mộc Châu với nhiệm vụ công đồn trọng điểm mở đường vào Tây Bắc. Núi rừng cao nguyên những ngày cuối năm 1952, sương mù, gió bấc, rét cắt da thịt nhưng không hề làm giảm đi chút nào khí thế tiến công của những người lính Cụ Hồ. Giữa rừng già hoang sơ, hùng vĩ, Trung đoàn trưởng Đặng Văn Việt lại tập hợp các chỉ huy đơn vị nòng cốt để bàn kế hoạch tác chiến…

Đòn tấn công lúc nửa đêm

Người lính già nhớ lại, phía Việt Minh lúc đó lực lượng gồm Trung đoàn 174 (Sư đoàn 316) được phối thuộc thêm Tiểu đoàn 215, 439 của Trung đoàn 98 và Tiểu đoàn 888 của Trung đoàn 176. Ngoài ra có thêm một đại đội pháo 75mm, một đại đội cối 120mm… Tất cả nằm dưới sự chỉ huy của Trung đoàn trưởng Đặng Văn Việt. Quyết tâm đặt ra là phải nhổ kỳ được đồn Mộc Châu. Trong cuộc họp bàn giữa rừng ấy, người thì nêu ý kiến đánh 2 mũi, người đề xuất đánh 3 mũi… Sau khi để cán bộ phát biểu hết ý kiến, ông Việt mới đưa ra quyết định: “Chúng ta đã đi vòng quanh 4 phía của đồn Mộc Châu và thấy rằng khó đánh hơn cả Đông Khê. Với địa hình thành vại, nhiều hỏa điểm xung quanh, nếu đánh theo cách thông thường thì trung đoàn sẽ nướng hết quân. Nhưng đồn Mộc Châu có hình thù như một cây quần vợt, ta phải lợi dụng cái cán vợt mới xoay chuyển được tình thế. Tôi quyết định chỉ đánh một mũi, tất cả tập trung đánh từ cán quần vợt chọc thẳng lên đỉnh núi, chiếm trung tâm hỏa lực, thông tin, chỉ huy. Ta dùng chiến thuật từ nóc đánh xuống, gõ lên đầu các lô cốt gọi hàng, nếu địch không hàng thì dùng lựu đạn tiêu diệt. Các hướng đông, tây, nam ta chỉ dùng hỏa lực kiềm chế, nghi binh, không dùng bộ binh đột phá, xung phong. Nếu đồng chí nào không đồng ý, tôi cho bảo lưu ý kiến sau trận đánh sẽ phân giải”. Ngay sau đó, các đơn vị được phân công vào vị trí, Tiểu đoàn 249 đột phá ở hướng chính tiến lên chiếm lĩnh đỉnh đồi. Tiểu đoàn 255 và 251 ở hướng phụ, phòng bị và Tiểu đoàn 215, 439 tổng dự bị. Tiểu đoàn 888 chặn viện binh, chống nhảy dù.

Trung đoàn trưởng Đặng Văn Việt và Chính ủy Chu Huy Mân. Ảnh tư liệu.

23 giờ ngày 19-11-1952, từ trung tâm chỉ huy, Trung đoàn trưởng Việt hạ lệnh nổ súng bắt đầu trận đánh. Một đại đội của Tiểu đoàn 215 nhận nhiệm vụ sơ tán bà con dân bản ở khu tập trung ra xa đồn để tránh tên bay, đạn lạc và đề phòng địch sử dụng máy bay oanh tạc sau đó… Tất cả hỏa lực của trung đoàn dồn dập bắn theo hướng chính lên đỉnh đồi, hàng rào dây thép gai và mìn nổ tung trời… Các bộc phá viên tranh thủ thời cơ xông lên mở đường cho bộ binh xung phong. Ngay từ những phút đầu Tiểu đoàn 215 đã tiêu diệt được 2 trạm Pom Lót và Pom Thơm, lợi dụng vị trí cao, bố trí hỏa lực bắn vào đồn lớn. Ngay sau đó, Đại đội 1, Tiểu đoàn 249 xông thẳng lên chiếm đỉnh núi, đại đội trưởng cầm đèn pin quay mấy vòng báo hiệu cho sở chỉ huy. Trung đoàn trưởng Việt ra lệnh cho Đại đội 2, 3 xung phong lên thẳng vị trí đồn, bao vây trọng điểm này. Quan ba đồn trưởng Vincent bị bắt sống, nhưng địch vẫn chống cự quyết liệt. Từ các hỏa điểm đạn bắn ra như mưa, con nhím Mộc Châu đang xù lông tua tủa với hàng trăm ngàn mũi gai nhọn… Vào thời điểm này, Tiểu đoàn 249 đã cưỡi lên lưng cọp, không thể nào xuống nên lần theo các khe núi, tuột xuống từng lô cốt gọi hàng… Một số tên địch hoảng sợ, định vượt rào thoát ra khỏi đồn thì dính vào chính bẫy mìn của chúng, nhiều tên phơi xác trên hàng rào thép gai. Về phía ta cũng có một số đồng chí hy sinh, trong đó có Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 249 Khái Tâm. Anh đang nấp dưới bờ ruộng, vừa nhô đầu lên quan sát thì đã hứng trọn một băng liên thanh của địch…

Đến khoảng 2 giờ 30 phút sáng 20-11-1952, trận đánh kết thúc, quân ta đã toàn thắng, 450 tên địch của đồn Mộc Châu bị tiêu diệt và bắt sống không sót một tên. Ta thu toàn bộ trang bị, vũ khí của địch. 6 giờ sáng, Trung đoàn trưởng Đặng Văn Việt lên đồn trực tiếp nghiên cứu cách bố phòng của địch, giữa làn sương mù ban mai Tây Bắc, quang cảnh núi rừng hiện ra hoang sơ, hùng vĩ.

Đúng như dự đoán của ta, 9 giờ sáng, 3 chiếc máy bay B26 của địch đã bay đến giội bom rải thảm làm kho thóc và nhà cửa trong đồn cháy ngùn ngụt. Do đã lường trước tình huống, nên bộ đội ta đã cơ động khỏi trận địa, đến nơi trú ẩn an toàn. Trận đánh đồn Mộc Châu phía ta thương vong 53 cán bộ, chiến sĩ. Cũng vào buổi sáng ấy, trong khi đang quan sát trận địa, Trung đoàn trưởng Việt bỗng nghe mấy tiếng mìn nổ dữ dội, nhìn về phía sau đã thấy mấy tên địch tìm cách chạy trốn bị vướng mìn chết ngay tại chỗ…

Đối thoại với Vincent

Trung đoàn trưởng Đặng Văn Việt xuất thân từ một gia đình có truyền thống hiếu học, lại được đào tạo tại Đại học Y Hà Nội (thuộc Đại học Đông Dương) nên ông có thể sử dụng thông thạo tiếng Anh và tiếng Pháp. Ngay từ ngày chỉ huy các trận đánh trên đường số 4, mỗi khi bắt được tù binh địch, ông đều trực tiếp thẩm vấn bằng tiếng Pháp. Sau trận Mộc Châu, ông đưa đơn vị về nơi trú quân và gọi quan ba Vincent (chỉ huy đồn Mộc Châu) đến để hỏi chuyện…

Mở cửa sổ căn phòng tập thể trên tầng 4, châm một điếu thuốc hút, người lính già nheo mắt nhớ lại buổi đối thoại cách đây 60 năm cũng bắt đầu như thế… “Tôi hỏi tỉ mỉ về quân số, vũ khí, cách bố phòng của đồn Mộc Châu. Vincent trả lời rất đầy đủ và lễ phép, có lẽ hắn cũng biết người đang ngồi trước mặt là ai. Tôi hỏi, ông có biết vì sao với cách bố phòng chắc chắn, với 2 vạn quả mìn, 2000 tấn dây thép gai, lại thêm một đại đội biệt kích, đồng thời biết trước Việt Minh sẽ tấn công mà các ông vẫn mất đồn? Vincent cúi gầm mặt một lúc rồi mới ngẩng lên nói: “Thưa ông, thám báo và biệt kích của tôi từ trên núi đã đếm được từng người của các ông. Tôi biết trước 100% Mộc Châu sẽ bị tấn công, chúng tôi đã bố trí phòng ngự chu đáo nên tin tưởng tuyệt đối là các ông không thể nào chiếm nổi Mộc Châu. Tôi hơn các ông về vũ khí trang bị, lợi thế, nhưng tôi thua các ông về chiến thuật và cách đánh. Ngay từ những phút đầu giao chiến, đỉnh núi đã bị chiếm, pháo đài tê liệt, tôi bị bắt sống thì làm sao chống cự nổi. Binh lính mất tinh thần hết cả rồi. Quá bất ngờ, quá bất ngờ”. Vincent ôm lấy đầu rồi gục xuống bàn như muốn khóc…

Đại tướng Võ Nguyên Giáp gặp gỡ cựu chiến binh Trung đoàn 174. Ảnh tư liệu.

Trung đoàn trưởng tiếp tục hỏi: “Anh có luôn giữ liên lạc với Hà Nội không? Bộ Tổng hành dinh đã có lệnh gì khi các anh bị tấn công?”. Vincent: “Tất nhiên là tôi phải giữ liên lạc thường xuyên với Hà Nội, ngay từ chiều hôm kia tôi đã nhận được điện báo rằng, Việt Minh chuẩn bị tấn công Mộc Châu. Bằng mọi giá phải giữ được đồn qua đêm, nếu qua một đêm Việt Minh không chiếm được Mộc Châu thì sẽ không thể nào chiếm được. Bộ Tổng hành dinh sẽ cho máy bay B26 ném bom oanh tạc, đẩy Việt Minh lui về sông Thao… Tôi đã không giữ được Mộc Châu, thật đáng buồn”. Sau cuộc gặp gỡ tôi cho Vincent một bao thuốc lá rồi bảo: “Bây giờ anh là tù binh chiến tranh, chúng tôi sẽ thi hành luật tù binh quốc tế. Anh phải chấp hành mọi luật lệ của trại. Không được trốn, Anh có nhiệm vụ vẽ lại sơ đồ trận địa mìn và giúp công binh Việt Nam tháo gỡ”. Vincent gật gật cái đầu rồi trả lời một cách ngổ ngáo: “Thưa ông, việc giữ tù binh là của các ông, còn việc tìm cách trốn là của chúng tôi”. Tuy nhiên hắn đã không kịp thực hiện lời nói đó, mấy hôm sau tôi được tin Vincent đã chết vì giẫm phải mìn trong khi đang đi hướng dẫn bộ đội ta dò gỡ mìn do chính hắn chỉ huy đặt…

Ngay sau trận đánh, hàng trăm xe vận tải chở đầy ắp gạo từ rừng Hòa Bình đã ngược lên Tây Bắc, tiếp tế kịp thời cho hàng vạn dân công và bộ đội đang áp sát đường số 6. Mộc Châu, một vị trí kiên cố vùng Tây Bắc thất thủ, các đồn bốt khác nghe tin hốt hoảng bỏ chạy như Yên Châu, Hát Lót, Cò Nòi… Lợi dụng tình thế, các đơn vị chủ lực của ta thừa thắng xông lên giải phóng Sơn La, Thuận Châu, Chiềng Đông… và sau này là Điện Biên Phủ. 60 năm đã trôi qua, bằng thời gian cả một đời người. Trung đoàn trưởng 174 năm ấy 32 tuổi nay đã sắp bước sang tuổi 93 những ông vẫn nhớ lắm. Ông nhớ trận đánh hào hùng, nhớ trung đoàn của mình, nhớ những đồng đội đã hy sinh, và cả những người đồng đội nay còn hay mất…

———-

Kỳ 1: Trọng điểm trên cao nguyên

Ghi chép của Hoàng Trường Giang
qdnd.vn

Hà Nội không khuất phục

QĐND – Để thoát khỏi tình thế bất lợi, cuối năm 1972, đế quốc Mỹ huy động đến mức cao nhất máy bay chiến lược B-52 đánh phá Hà Nội. Âm mưu của chúng là dùng sức mạnh B-52 đánh phá, hủy diệt để “răn đe”, gây sự khủng khiếp trong nhân dân, làm cho Hà Nội choáng váng, phải chịu khuất phục và nhượng bộ Mỹ trong thương lượng.

Để thực hiện mưu đồ đó, đế quốc Mỹ sử dụng đồng thời lực lượng lớn không quân chiến lược và toàn bộ lực lượng không quân chiến thuật, không quân hải quân triển khai ở khu vực Đông Nam châu Á. Trong 12 ngày đêm, từ ngày 18 đến 30 tháng 12 năm 1972, 663 lần/chiếc B-52 và 3.920 lần/chiếc máy bay chiến thuật của Mỹ đánh phá thủ đô Hà Nội – trung tâm lãnh đạo và trái tim của cả nước, không phân biệt mục tiêu quân sự hay dân sự, đánh phá bừa bãi vào vùng đông dân cư.

Xác máy bay B52 tại Bảo tàng Chiến thắng B52 (Hà Nội ). Ảnh: Internet

Theo số liệu thống kê, mỗi ki-lô-mét vuông ở Hà Nội đã có 68,5 tấn bom Mỹ đánh vào 830 điểm, hơn 1000 lần đánh vào các điểm dân cư, kinh tế, văn hóa, giáo dục, xã hội ở khắp 4 khu phố và 4 huyện, trong đó có 39 khối phố nội thành, 3 thị trấn và 78 trong số 102 xã ngoại thành. Nhiều nơi trên địa bàn Thủ đô bị địch đánh đi đánh lại nhiều lần đến mức san phẳng. Nhiều cơ sở kinh tế, công trình lợi ích công cộng bị đánh phá nặng nề. Trên địa bàn thành phố có 7 trong số 9 ga xe lửa bị phá hỏng, 4 trong 5 chiếc cầu và 4 trong 5 bến phà bị phá sập và hỏng nặng. Cảng sông Hồng, cảng duy nhất của Hà Nội không còn hoạt động được. Một phần ba trong số gần 200 nhà máy, xí nghiệp bị đánh, sản xuất ngừng trệ; 5 bệnh viện, 45 trường học từ mẫu giáo đến đại học, Đài phát thanh Tiếng nói Việt Nam cùng nhiều cơ sở văn hóa, khoa học kỹ thuật bị phá hủy. Toàn thành phố có hơn 13.000 ngôi nhà, gần 50 đình chùa, nhà thờ cùng nhiều di tích lịch sử bị địch đánh phá. Có gần 15.000ha đồng ruộng bị bom cày xới. Mỹ hy vọng chiến dịch này sẽ “làm tê liệt đời sống hàng ngày của Hà Nội”.

Trong 12 ngày đêm ấy, sự tàn bạo hiểm độc gia tăng. Hàng đêm, hàng trăm máy bay B-52 và máy bay ném bom chiến đấu đã giội bom xuống những thôn xóm, chi chít như mắt lưới tại các vùng của thủ đô Hà Nội. Người ta khó có thể hình dung được hết tất cả những nỗi khủng khiếp, những cảnh tàn sát mù quáng nhưng cố ý, những cảnh làm con người bị tàn phế, đau đớn về thể xác và tinh thần mà những hành động này gây nên.

Tại khu vực Gia Lâm, trong 12 ngày bị đánh phá hủy diệt, 2.610 ngôi nhà bị phá hủy, hàng trăm người chết và bị thương, hơn 500ha ruộng bị cày xới do bom đạn, hàng chục ki-lô-mét đê, mương, máng bị bom Mỹ phá hủy… nhưng người Gia Lâm vẫn kiên cường bất khuất. Lực lượng cứu sập, cứu hỏa lao động quên mình dưới làn bom đạn địch. Cán bộ, công nhân viên các ngành thương nghiệp, ăn uống, giao thông vận tải… không quản ngày đêm phục vụ bộ đội, dân quân tự vệ và bà con khắc phục hậu quả.

Khu tập thể An Dương, nơi cư trú của những người lao động cũng bị máy bay Mỹ tấn công. Vệt bom B-52 kéo dài gần hai ki-lô-mét, rộng hàng trăm mét làm cho 47 dãy nhà ở cùng với hệ thống trường mẫu giáo mầm non, trường cấp 1, cấp 2, trạm y tế bị đổ sập. Bom Mỹ cướp đi sinh mạng của 174 người, trong đó có 5 phụ nữ mang thai, 5 gia đình bị chết cả nhà, 154 người bị thương.

Khu vực Yên Viên cũng bị đánh phá nặng nề, gần 5.500 quả bom các loại đánh thẳng vào 73 điểm dân cư, kinh tế, ga, cầu, đê điều… phá hủy 886 ngôi nhà, làm chết và bị thương 56 người. Ga Yên Viên và thôn Yên Viên bị phá hủy hoàn toàn. Tại xã Uy Nỗ, B-52 đã ném bom từ trận đầu tiên đến trận cuối cùng. Đây là một trong những nơi bị đánh phá nặng nề nhất, làm gần 1000 ngôi nhà bị bom phá hủy. Chỉ tính riêng thôn Cường Nỗ, kẻ thù tàn bạo đã trút xuống 2000 quả bom lớn. Trong 12 ngày đêm, chúng đã cho 22 đợt B-52 đánh 11 trận vào thôn, xóm, đồng ruộng, 80% số nhà cửa bị phá, phần lớn diện tích canh tác bị cày xới.

Ngay sau khi máy bay địch ngừng đánh phá, các lực lượng tại chỗ của quận cùng với các lực lượng của thành phố, của Bộ tư lệnh Thủ đô đã mang hết khả năng của mình tham gia cứu sập, cứu thương, đem lại cuộc sống cho rất nhiều người dân Khâm Thiên.

Theo các nhà sử học quân sự Mỹ, trong 12 ngày đêm đánh phá Hà Nội, Mỹ đã tiến hành một cuộc ném bom rải thảm mà sự tàn phá lớn hơn sự tàn phá của các cuộc ném bom trong suốt cả cuộc chiến tranh từ trước cho đến lúc bấy giờ; khối lượng bom đạn ném xuống trong cuộc tập kích này tương đương với 5 quả bom nguyên tử Mỹ đã ném xuống Nhật Bản năm 1945. Ních – xơn và các nhà chiến lược quân sự Mỹ tin chắc rằng, với sức mạnh tàn phá ấy, Hà Nội nhất định phải khuất phục.

Nhưng ngược lại, Hà Nội vẫn hiên ngang và bình tĩnh đánh trả từng đợt bom B-52 của kẻ thù. Bên cạnh đó, đế quốc Mỹ bị phản đối trong nước, bị cô lập trên trường quốc tế, gặp phải sự chống trả hiệu quả gây thiệt hại lớn cho lực lượng không quân chiến lược mà không thể buộc đối phương thay đổi lập trường. Vào ngày 30 tháng 12 năm 1972, Tổng thống Ních-xơn đã phải ra lệnh chấm dứt chiến dịch, đề nghị nối lại đàm phán tại Paris và cuối cùng nhanh chóng ký kết Hiệp định Paris trên cơ sở dự thảo mà phía Mỹ trước đó đã từ chối ký kết.

Bốn mươi năm đã trôi qua nhưng người dân sống ở Khâm Thiên, Bệnh viện Bạch Mai, ở Gia Lâm, Yên Viên hay Đông Anh… không quên những hình ảnh tang thương mà bom đạn của kẻ thù đã trút xuống. Bom B-52 rải thảm Hà Nội, máu rơi, nhà đổ, phố phường tan hoang… nhưng ở đó luôn hằn lên ý chí của người dân Thủ đô “Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”./.

Tiến sĩ TRƯƠNG MAI HƯƠNG
qdnd.vn

Bài học về giữ vững độc lập, tự chủ ở Hội nghị Pa-ri

Nguyên Phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình

Bà Nguyễn Thị Bình, nguyên Phó Chủ tịch nước, nguyên Bộ trưởng Ngoại giao, nguyên Trưởng đoàn đàm phán của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam
(Nguồn: TTXVN)

QĐND – Hiệp định Pa-ri về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết đầu năm 1973 là thắng lợi có ý nghĩa chiến lược dẫn đến đại thắng mùa xuân năm 1975, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Nhân kỷ niệm 40 năm ngày ký kết Hiệp định Pa-ri (27-1-1973/27-1-2013), bà Nguyễn Thị Bình, nguyên Phó chủ tịch nước, nguyên Bộ trưởng Ngoại giao, Trưởng đoàn đàm phán của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã trả lời phỏng vấn về ý nghĩa của sự kiện này.

– Là nữ Bộ trưởng Ngoại giao duy nhất tại Hội nghị Pa-ri, xin bà cho biết cảm xúc của mình khi nhận nhiệm vụ thiêng liêng nhưng cũng đầy khó khăn này?

– Khi được giao nhiệm vụ đi Pa-ri, tôi rất lo vì biết đây là nhiệm vụ quan trọng và khó khăn, hơn nữa, bản thân tôi không học qua trường ngoại giao nào. Tham gia một cuộc đàm phán tức là tham gia một cuộc đấu tranh chính trị không đơn giản. Nhưng lúc bấy giờ, tôi nghĩ các đồng chí lãnh đạo đã cân nhắc khi cử tôi đi làm nhiệm vụ này, chắc chắn các đồng chí đã tin tưởng và đánh giá tôi có đủ điều kiện cũng như khả năng hoàn thành nhiệm vụ. Điều này đã khiến tôi tự tin lao vào công việc với rất nhiều cố gắng.

– Trước khi Hiệp định Pa-ri được ký kết năm 1973, giai đoạn đàm phán quyết định nhất là thời gian nào, thưa bà?

– Cuộc đàm phán 4 bên ở Pa-ri nhằm mục đích tìm giải pháp chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam. Hội nghị đã diễn ra trong hơn 4 năm 8 tháng, nhiều lúc rất khó khăn. Theo tôi, đợt đàm phán có ý nghĩa quyết định nhất diễn ra vào tháng 10-1972. Khi đó phía Mỹ, chính quyền Ních-xơn nghĩ không thể đánh bại chúng ta bằng quân sự. Vì vậy, họ chấp nhận Dự thảo “Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam” và Dự thảo “Thỏa thuận về quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam” do Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đưa ra, trong đó chấp nhận rút quân hoàn toàn khỏi Việt Nam và để vấn đề chính trị của miền Nam Việt Nam cho các bên của Việt Nam tự giải quyết. Tuy nhiên, sau đó, chính quyền Ních-xơn đã lật lọng, ngừng đàm phán và tìm mọi cách để không chấp nhận những yêu cầu của Việt Nam, đồng thời gây sức ép để phía ta sửa đổi một số điều trong dự thảo không có lợi cho Mỹ. Mỹ muốn thực hiện các ý đồ bằng chiến dịch “Việt Nam hóa chiến tranh”, dùng vũ khí Mỹ nhưng dùng quân đội miền Nam Việt Nam thay thế quân đội Mỹ để thực hiện thôn tính Việt Nam.

Đỉnh điểm của sự gây sức ép là cuộc không kích bằng B-52, tàn phá Hà Nội, Hải Phòng và các tỉnh miền Bắc suốt 12 ngày đêm. Nhưng, cuộc không kích của Mỹ đã thất bại nặng nề không những về mặt quân sự mà còn về chính trị, buộc Mỹ phải chấp nhận trở lại đàm phán đi đến ký Hiệp định Pa-ri về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam.

– Xin bà cho biết, đâu là nhân tố quyết định thành công của Hiệp định Pa-ri?

– Có thể nói, Hiệp định Pa-ri là kết quả của cả một cuộc chiến đấu trường kỳ suốt 20 năm của quân và dân ta. Từ sau Chiến dịch Điện Biên Phủ, năm 1955 ta đã bắt đầu đấu tranh, đến năm 1959, chúng ta vừa đấu tranh vũ trang đồng thời kết hợp đấu tranh chính trị. Thắng lợi đây là thắng lợi quân sự, nhưng cũng là thắng lợi về chính trị đồng thời là thắng lợi về ngoại giao. Nói đến nhân tố quyết định thì phải nói về cả một cuộc đấu tranh lâu dài và thắng lợi trên các mặt trận để đi đến thúc ép Mỹ ký Hiệp định Pa-ri.

– Theo bà, từ Hiệp định Pa-ri có thể rút ra những bài học quý báu nào cho công tác ngoại giao sau này?

– Bài học trước hết là phải giữ vững nguyên tắc về độc lập tự chủ, phải xuất phát từ lợi ích quốc gia, phải biết rõ lực lượng mình như thế nào, đối phương ra sao để quyết định từng bước đi và luôn luôn có sự kết hợp giữa chiến trường và trên mặt trận ngoại giao – đó là bài học về độc lập tự chủ.

Bài học thứ hai là chúng ta phải hết sức kiên định với lập trường nguyên tắc và mục tiêu chiến lược của mình, nhưng trong sách lược phải biết mềm dẻo. Ví dụ, lúc đầu chúng ta đặt ra mục tiêu trong cuộc đàm phán gồm hai yêu cầu: Yêu cầu quân sự là Mỹ phải rút quân hoàn toàn ra khỏi miền Nam Việt Nam. Yêu cầu thứ hai là ở miền Nam Việt Nam phải bỏ chính quyền tay sai của Mỹ để nhân dân tự lựa chọn chính quyền của mình. Nhưng dựa trên tình hình thực tế, chúng ta đã tập trung vào một mục tiêu là Mỹ phải rút hoàn toàn khỏi miền Nam Việt Nam. Chúng ta biết nếu Mỹ rút và chấm dứt sự can thiệp vào miền Nam Việt Nam thì vấn đề miền Nam Việt Nam ta hoàn toàn có thể giải quyết được.

Bài học lớn nữa là chúng ta biết kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại. Trong một cuộc đấu tranh hết sức quyết liệt với đối phương mạnh hơn nhiều lần, chúng ta đã biết tranh thủ sức mạnh đoàn kết quốc tế. Có thể nói, phong trào đoàn kết quốc tế ủng hộ cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của ta là phong trào đoàn kết quốc tế rộng lớn chưa từng có trong lịch sử. Đó chính là sức mạnh to lớn đã góp phần vào thắng lợi trong cuộc đấu tranh của dân tộc ta.

Theo TTXVN
qdnd.vn