Tag Archive | Chính trị – Xã hội

Ngày 12 tháng 3: “Chính nghĩa bao giờ cũng thắng”

Thứ năm, 12/03/2009, 03:54 (GMT+7)

Việt Nam - Hồ Chí Minh

Cách đây 62 năm, ngày 12-3-1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh đổi tên Bộ Tổng chỉ huy Quân đội Quốc gia và Dân quân thành Bộ Tổng tư lệnh Quân đội Quốc gia và Dân quân Việt Nam. Mặc dầu cả nước có chiến tranh nhưng Chủ tịch nước Việt Nam kháng chiến vẫn chuẩn bị cho tương lai khi ra sắc lệnh số 29 với 10 chương và 187 điều quy định mối quan hệ giữa chủ người Việt hay nước ngoài với công dân Việt Nam làm việc tại các nhà máy, hầm mỏ, thương điếm và cả các nghề tự do.

Ngày 12-3-1951, trên đường từ Trung Quốc về nước, qua tỉnh Hồ Bắc của bạn, Bác làm bài thơ chữ Hán “Quá Hồ Bắc”: “Ngã khứ điền gian đô bạch tuyết/Ngã lai điền mạch dĩ thanh thanh/Minh thiên cơ giới thế mộc giới/Ức triệu nông gia lạc thái bình” (Bản dịch của Phan Văn Các: Đồng ruộng khi đi đầy tuyết trắng/Nay về lúa mạch đã xanh xanh/Ngày mai cày máy thay cày gỗ/Ức triệu nhà nông hưởng thái bình).

Ngày 12-3-1965, tại cuộc họp của Bộ Chính trị bàn về âm mưu của Mỹ và đối sách của ta, Bác đã phát biểu nhiều ý kiến quan trọng (được ghi trong biên bản): Mỹ đã nói đến việc mở rộng chiến tranh từ tháng 2-1964 mà chúng ta nghiên cứu còn yếu. Phải có quyết tâm từ Bắc chí Nam, phải coi là trận sống còn (một là chết hai là thắng lợi). Phải tính đến hoàn cảnh thật gay gắt, địch sẽ dùng cả không quân và hải quân nên phải đề phòng sự dao động nghiêng ngả. Phải tăng cường tổ chức và tiềm lực.

Về ngoại giao: Cần nghĩ trước việc vận động mở lại Hội nghị Giơnevơ để tranh thủ dư luận, đồng thời nên tổ chức tuyên truyền chống chiến tranh ở nhiều nước, tổ chức quốc tế. Trong chiến tranh chống Mỹ, phải vừa kiên quyết vừa khéo léo. Lúc nào Mỹ muốn đi thì tạo điều kiện cho Mỹ rút.

Chỉ 1 năm sau, Mỹ đã mở rộng chiến tranh bằng không quân và hải quân ra miền Bắc, trực tiếp đưa bộ binh vào tác chiến ở miền Nam, ngày 12-3-1966, Bác họp Hội nghị Bộ Chính trị nghe báo cáo tình hình chiến sự, đồng ý kế hoạch tuyển quân và đề nghị không tuyển người đứng tuổi, con em những gia đình đã có nhiều con vào bộ đội, những người có trình độ cao còn cần cho các ngành kinh tế.

Trước đó vào tháng 3-1948, trả lời nhà báo nước ngoài, Bác bày tỏ quan điểm về chiến tranh: “Dù phải hy sinh cực khổ mấy. Chính phủ và Nhân dân Việt Nam cũng quyết kháng chiến đến cùng để đấu tranh kỳ được thống nhất và độc lập thực sự… Nhân dân Việt Nam đã nếm đủ sỉ nhục và đau khổ. Nhân dân Việt Nam quyết không chịu làm nô lệ lần nữa… Nếu thực dân Pháp vẫn khư khư giữ chặt tham vọng cũ thì chúng sẽ thất bại. Chính nghĩa bao giờ cũng thắng!”. Có thể thấy, trong cả hai cuộc kháng chiến, quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhất quán!

D.T.Q. và nhóm cộng sự
sggp.org.vn

Ngày 11 tháng 3: “Thầy thuốc đồng thời phải là mẹ hiền”

Thứ tư, 11/03/2009, 01:58 (GMT+7)

Việt Nam - Hồ Chí MinhCách đây 63 năm, ngày 11-3-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh họp Hội đồng Chính phủ bàn về công tác ngoại giao để công bố với thế giới nội dung bản Hiệp định sơ bộ. Tại đây, Bác quyết định sẽ cử một phái đoàn qua Trung Hoa để tỏ rõ thiện chí và tranh thủ sự ủng hộ quốc tế. Cùng ngày, Bác ra “Lời kêu gọi sau khi ký Hiệp định sơ bộ”, mở đầu bằng câu: “Đồng bào Việt Nam nghe tôi, tin tôi, vì suốt đời tôi đã tranh đấu chống chế độ thực dân, tranh quyền độc lập cho nước nhà… Đồng bào đã tin tôi và Chính phủ mà tạm hoãn cuộc đấu tranh giành hoàn toàn độc lập, mà nhận chế độ tự chủ, mà bình tĩnh chờ đợi kết quả cuộc đàm phán chính thức ở Ba Lê (Paris). Nay vì sự dùng dằng bên phía Pháp mà đồng bào phẫn uất, tôi kêu gọi đồng bào hãy bình tĩnh, sẵn sàng chờ lệnh của Chính phủ”.

Ngày 11-3-1950, rời Bắc Kinh lên đường trở về Chiến khu Việt Bắc, kết thúc chuyến thăm Liên Xô và Trung Quốc tạo nguồn lực cho cuộc kháng chiến, Bác làm bài thơ chữ Hán “Ly Bắc Kinh”: “Ký Bắc thiên tâm huyền hạo nguyệt/Tâm tùy hạo nguyệt cộng du du/Hạo nguyệt thùy phân vi lưỡng bán?/Bán tùy cựu hữu, bán chinh phu”(bản dịch thơ của Phan Văn Các: Rời Bắc Kinh/Trời Ký Bắc treo vầng trăng rọi/Lòng theo trăng vời vợi sáng ngời/Vầng trăng ai sẻ làm đôi?/Nửa theo bạn cũ, nửa soi lữ hành).

Cách đây 61 năm, vào đầu tháng 3-1948 (không xác định được ngày), Bác gửi điện cho Trung tướng Nguyễn Bình chuyển lời khen ngợi bộ đội tham gia một số trận đánh thắng trên mặt trận Sài Gòn – Đà Lạt, Sa Đéc và dặn dò phải “giữ đúng nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách là nguyên tắc tối cao của chính quyền dân chủ ta: mọi việc đều đặt lợi quyền của Tổ quốc lên trên để thực hiện đại đoàn kết giữa quân và dân cũng như trong quân đội”.

Cũng khoảng thời gian này, Bác gửi thư cho Trung đội du kích Kim Thành cảm ơn đã tặng cho Bác một chiếc áo mưa chiến lợi phẩm, khích lệ tinh thần lấy vũ khí của giặc để đánh giặc và nhắc nhở “Du kích là như cá, nhân dân là như nước. Muốn giết địch, thắng trận, thì phải có đồng bào giúp đỡ mọi mặt. Muốn được đồng bào vui lòng giúp thì ta phải giúp đỡ đồng bào, kính trọng đồng bào. Đó là con đường thắng lợi”.

Cũng tháng 3-1948, trong thư tới Hội nghị quân y, lần đầu tiên Bác nhắc đến thành ngữ mà về sau trở thành quan điểm về phẩm chất của người cán bộ ngành y: khi gặp những khó khăn trong quá trình tiếp xúc với bệnh nhân, Bác viết: “Gặp những ca như vậy, chúng ta nên lấy lòng nhân loại và tình thân ái mà cảm động cảm hóa họ. Người ta có câu “lương y kiêm từ mẫu”, nghĩa là thầy thuốc đồng thời phải là một người mẹ hiền”.

D.T.Q. và nhóm cộng sự
sggp.org.vn

Ngày 10 tháng 3 – “Cần phải giữ gìn từng giọt máu của đồng bào”

Thứ ba, 10/03/2009, 02:09 (GMT+7)

Việt Nam - Hồ Chí Minh

Cách đây 63 năm, ngày 10-3-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết thư gửi đồng bào Nam bộ, các chiến sĩ ở tiền tuyến và Ủy ban Hành chính Nam bộ để thông báo về việc chính phủ đã ký Hiệp định sơ bộ 6-3 và khẳng định: “Đối với nước Việt Nam ta, sự ký kết đó có một kết quả hay là nước Pháp thừa nhận nước Việt Nam là một nước tự chủ… Trong giờ phút này, tôi xin kính cẩn cúi chào vong linh các anh chị em đã bỏ thân vì nước và các đồng bào đã hy sinh trong cuộc tranh đấu cho nước nhà. Sự hy sinh đó không phải là uổng… Chúng ta cần phải giữ gìn từng giọt máu của đồng bào để xây đắp tương lai cho Tổ quốc.”

Ngày 10-3-1958, đến thăm Sư đoàn 316 chuẩn bị lên Tây Bắc thực hiện chủ trương tham gia xây dựng kinh tế, Bác căn dặn: “Đánh đế quốc thì có một thứ giặc trước mắt, nhưng trong nông nghiệp thì có nhiều kẻ thù: nào trời không mưa thuận gió hòa, nào sâu bọ phá hoại. Đánh giặc trong nông nghiệp phức tạp hơn đánh thực dân…”.

Trước khi chia tay, Bác ứng khẩu tặng bài thơ: “Đá rắn, quyết tâm ta rắn hơn đá/Núi cao, chí khí ta còn cao hơn/Khó khăn ta quyết vượt cho kỳ được/Gian khổ không làm lòng ta sờn/Đảng phái ta lên mặt trận sản xuất/Nhiệm vụ ấy ta quyết làm cho tròn/Đội ơn đào tạo người, quân đội/Quyết chí đền bù, nghĩa nước non”.

Ngày 10-3-1963, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra sân bay Gia Lâm đón Vua Lào Xrivang Vathana, Thủ tướng Hoàng thân Xuvana Phuma sang thăm hữu nghị Việt Nam.

Phát biểu tại các sự kiện đón tiếp phái đoàn, Bác dành những lời tốt đẹp nhất: “Tình nghĩa láng giềng anh em Việt – Lào thật là thắm thiết không bao giờ phai nhạt”,”Nhân dân và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chân thành ủng hộ chính sách hòa bình, trung lập của Nhà vua và Hoàng thân Thủ tướng nhằm xây dựng một nước Lào giàu mạnh” và đánh giá ý nghĩa của chuyến thăm bằng câu thơ: “Bấy lâu cách trở quan hà/Từ nay Lào – Việt rất là gần nhau”.

Ngày 10-3-1966, Bác Hồ gửi thư khen ngợi quân dân Nghệ An: “Ngày 7-3 vừa qua, tỉnh ta đã bắn rơi chiếc máy bay thứ 900 của giặc Mỹ trên miền Bắc. Thế là tính đến nay, Nghệ An đã bắn rơi 150 máy bay Mỹ… Nhân dịp này Bác nhắc đồng bào và cán bộ chớ vì thắng lợi mà chủ quan”.

Ngày 10-3-1968, Bác viết thư gửi Bí thư thứ nhất Lê Duẩn: “Nhớ lại Noel năm ngoái, chú có khuyên B.(Bác) đi thăm miền Nam sau ngày ta thắng lợi hoàn toàn. Bác rất tán thành. Nhưng nay chỉ đổi chữ “sau” thành chữ “trước” ngày thắng lợi hoàn toàn… Đi thăm đúng lúc, đó mới có tác dụng khuyến khích thêm anh em… Có lẽ chú và các đồng chí khác e rằng sức khỏe của Bác không cho phép Bác đi chơi xa. Nhưng thay đổi không khí, hô hấp gió biển và sinh hoạt với quần chúng trong hoàn cảnh chiến đấu, sẽ giúp sức khỏe tiến bộ mau hơn”.

Rất tiếc, đúng vì lý do sức khỏe mà nguyện vọng đó chưa kịp thực hiện…

D.T.Q. và nhóm cộng sự
sggp.org.vn

Ngày 9 tháng 3: “Non nước này vẫn là non nước Việt Nam”

Thứ hai, 09/03/2009, 04:16 (GMT+7)

Việt Nam - Hồ Chí MinhCách đây 86 năm, ngày 9-3-1923, Nguyễn Ái Quốc dự cuộc họp của Ủy ban Hành động chống chiến tranh và chủ nghĩa đế quốc của Quận 14 thành phố Paris tổ chức tại Nhà Công đoàn.

Ngày 9-3-1946, Báo Cứu Quốc đăng “Tuyên cáo dân chúng Pháp và Việt Nam” của Chủ tịch Hồ Chí Minh và tướng Leclerc đồng ký tên nêu rõ chủ trương quân Pháp sẽ trở lại khu vực phía Bắc vĩ tuyến 16 và kêu gọi “người Pháp và người Việt Nam hãy tuân lệnh những người lãnh đạo của 2 nước, thi hành các mệnh lệnh một cách triệt để để cùng nhau xây dựng kinh tế và kiến thiết”.

Cũng trong ngày 9-3-1946, tiếp và trả lời phỏng vấn của báo chí, Chủ tịch Hồ Chí Minh phê phán chính giới Pháp chưa thực sự tôn trọng nền thống nhất của Việt Nam và khẳng định: “Nếu chiến tranh kéo dài thì khối Liên hiệp Pháp cũng hỏng, lợi quyền Pháp ở Á Đông cũng mất, nước ta sẽ bị tàn phá tiêu điều. Nhưng dù tiêu điều đến đâu, non nước này vẫn là non nước Việt Nam. Trên đống xương máu, trên đống tro tàn, thanh niên ta, con cháu ta, sẽ xây dựng một nước Việt Nam hoàn toàn độc lập”.

Ngày 9-3-1953, Bác viết bài “Giai cấp nông dân” đăng trên Báo Cứu Quốc, nêu rõ:“Giai cấp nông dân là quân chủ lực của cách mạng”, đóng góp cũng như hy sinh nhiều nhất cho cách mạng. Tuy nhiên giai cấp này “vì hoàn cảnh kinh tế lạc hậu mà nông dân thường có tính thủ cựu, rời rạc, tư hữu”. Do vậy, “giai cấp công nhân phải đoàn kết họ, giúp đỡ họ, và lãnh đạo họ vì họ là lực lượng rất to lớn vững chắc. Thế là công nông liên minh”.

Cách đây nửa thế kỷ, ngày 9-3-1959, Bác Hồ kết thúc chuyến thăm hữu nghị Indonesia, trên đường về nước quá cảnh tại Rangoon, thủ đô Miến Điện và hạ cánh xuống sân bay Côn Minh trước khi về nước.

Ngày 9-3-1960, Báo Nhân Dân đăng bài “Tốt” trong loạt bài bình luận về “Nhanh, nhiều, tốt, rẻ”. Phân tích yếu tố “Tốt”, Bác nhấn mạnh đến chất lượng sản phẩm và kết thúc bằng mấy câu văn vần dễ nhớ: “Làm nhanh mà không tốt/Có gì là vẻ vang/Đã là người làm chủ/Tính toán phải đàng hoàng/Nhiều, nhanh, tốt, rẻ rõ ràng/Lợi dân, lợi nước đôi đàng vẹn đôi”.

Ngày 9-3-1961, Bác đến dự Đại hội Phụ nữ toàn quốc lần thứ 3 và căn dặn: “Phải xóa bỏ cái tâm lý tự ti và ỷ lại; phải có cái chí tự cường, tự lập, phải nâng cao lên mãi mãi trình độ chính trị, văn hóa, kỹ thuật… Chị em phụ nữ ta phải nhận rõ địa vị người làm chủ và nhiệm vụ làm chủ nước nhà, phải có quyết tâm mới, đạo đức mới, tác phong mới để làm tròn nghĩa vụ mới…”.

Ngày 9-3-1967, Bác viết bài “Đáng khen và đáng chê” đăng trên Báo Nhân Dân. Đưa ra tấm gương một chủ tịch ủy ban xã vừa công tác tốt vừa nuôi lợn giỏi và tình trạng “mổ lợn bữa bãi” của một cửa hàng thực phẩm cùng trong tỉnh Thái Bình, dưới bút danh “Chiến Sĩ”, Bác yêu cầu những cơ quan có trách nhiệm kịp thời khen và chê để làm gương cho mọi người.

D.T.Q. và nhóm cộng sự
sggp.org.vn

Ngày 8 tháng 3: “Phụ nữ VN xứng đáng là con cháu Hai Bà”

Chủ nhật, 08/03/2009, 01:52 (GMT+7)

Việt Nam - Hồ Chí Minh

Cách đây 83 năm, ngày 8-3-1926, từ Quảng Châu, với bí danh “Nilovski”, Nguyễn Ái Quốc gửi thư cho Đoàn Chủ tịch Quốc tế Cộng sản đặt vấn đề muốn biết vì sao không nhận được những tài liệu tuyên truyền mà mình đã gửi thư yêu cầu, báo cáo những việc đã hoàn thành và tiếp tục chuyển cho Quốc tế Cộng sản những tài liệu liên quan đến phong trào nông dân ở Trung Quốc.

Ngày 8-3-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh họp Chính phủ thông báo tình hình xung đột Pháp – Hoa tại Hải Phòng và một số việc cần triển khai chuẩn bị cho khả năng đàm phán tại Paris. Buổi chiều, Bác triệu tập 50 cán bộ chỉ huy tự vệ thành Hà Nội, nhắc nhở nhiệm vụ tuyên truyền cho dân chúng và cảnh giác với những âm mưu của quân Pháp, phải nhã nhặn nhưng không nhu nhược, phải chuẩn bị chủ động và liên tục…

Trong ngày, Bác ký nhiều văn bản, gửi công hàm cho nhà cầm quyền Pháp ở Nam bộ, gửi thư cho Đô đốc D’Argenlieu về việc cử phái đoàn vào Nam giám sát và bày tỏ hy vọng bản hiệp định sẽ được các bên thực hiện nghiêm chỉnh. Cũng ngày hôm đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra “Nghiêm lệnh” với nội dung “Chính phủ hạ lệnh cho toàn thể nhân dân và bộ đội phải giúp đỡ cho quân đội Trung Hoa, trong lúc quân đội Trung Hoa thoái triệt…”.

Ngày 8-3-1952, lần đầu tiên kỷ niệm Ngày Phụ nữ Quốc tế, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết “Thư gửi phụ nữ nhân dịp kỷ niệm Hai Bà Trưng và Ngày Phụ nữ Quốc tế”. Thư viết: “Hai Bà Trưng để lại cho phụ nữ Việt Nam một truyền thống vẻ vang, là dũng cảm kháng chiến… Phụ nữ Việt Nam đã xứng đáng là con cháu Hai Bà và là lực lượng trong Quốc tế phụ nữ. Nhân dịp 8-3, tôi kính cẩn nghiêng mình trước linh hồn các nữ liệt sĩ đã hy sinh cho Tổ quốc… Tôi kính chào các bà mẹ có con trong bộ đội và các bà mẹ cùng vợ con các liệt sĩ… Non sông gấm vóc Việt Nam do phụ nữ ta, trẻ cũng như già, ra sức thêu dệt mà thêm tốt đẹp, rực rỡ”.

Cùng ngày, bác viết bài “Nam nữ bình quyền” với những lập luận sâu sắc: “Nhiều người lầm tưởng đó là một việc dễ, chỉ: hôm nay anh nấu cơm, rửa bát, quét nhà, hôm sau em quét nhà, nấu cơm, rửa bát thế là bình đẳng bình quyền. Lầm to! Đó là một cuộc cách mạng khá to và khó. Vì trọng nam khinh nữ là một thói quen mấy nghìn năm để lại. Vì nó ăn sâu trong đầu óc của mọi người, mọi gia đình, mọi tầng lớp xã hội… Vì thế mà không thể dùng vũ lực mà tranh đấu… Vũ lực của cuộc cách mạng này là sự tiến bộ về chính trị, kinh tế, văn hóa, pháp luật. Phải cách mạng từng người, từng gia đình đến toàn dân. Dù to và khó nhưng nhất định thành công”.

Ngày 8-3-1965, Bác Hồ đến thăm Nhà máy Dệt 8-3 vào thời điểm chuẩn bị làm lễ khánh thành. Đây là công trình xây dựng từ nguồn vốn có phần đóng góp của phụ nữ cả nước với quy mô và trang bị hiện đại nhất miền Bắc lúc đó. Cùng ngày, trong bài viết “Sách trắng của Mỹ” của Bác đăng trên báo Nhân Dân, tác giả vạch rõ bản chất xâm lược của Mỹ và kết cục tất yếu của cuộc chiến tranh Việt Nam: “Đế quốc Mỹ chỉ có thể chọn một trong hai con đường: hoặc là chuẩn bị tinh thần chờ đón một trận Điện Biên Phủ, hoặc là thi hành đúng Hiệp định Giơnevơ năm 1954, tức là chấm dứt ngay cuộc chiến tranh xâm lược… Nếu đế quốc Mỹ khôn hồn theo con đường thứ hai, nhân dân Việt Nam sẽ sẵn sàng hoan tống họ một cách lịch sự”.

D.T.Q và nhóm cộng sự
sggp.org.vn

Ngày 7 tháng 3: Dù gay go mấy, chúng ta cũng không hoang mang

Thứ bảy, 07/03/2009, 02:47 (GMT+7)

Việt Nam - Hồ Chí MinhCách đây 63 năm, ngày 7-3-1946, tại Bắc Bộ phủ, Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp đại diện của Pháp để bàn việc triển khai bản Hiệp định sơ bộ vừa ký ngày hôm trước, đặt vấn đề cuộc hội đàm chính thức nên được tổ chức tại Paris.

Đến đầu giờ chiều cùng ngày, Hồ Chủ tịch đã đạt được thỏa thuận với J.Sainteny là cùng ký dưới một thông báo chung để bố cáo rộng rãi nội dung bản hiệp định và nêu rõ: “Việc đầu tiên thực hiện Hiệp định sơ bộ là chấm dứt mọi cuộc xung đột trên lãnh thổ Đông Dương, 24 giờ sau khi bản thông báo này được phát đi trên các làn sóng đài phát thanh Hà Nội và đài phát thanh Sài Gòn”.

16 giờ cùng ngày hôm đó, Bác dự cuộc mít tinh lớn của đông đảo nhân dân Hà Nội để giải thích về bản hiệp định vừa ký kết. Sau phát biểu của đồng chí Võ Nguyên Giáp, khẳng định “Tư tưởng chỉ đạo, mục đích của Chính phủ là hòa bình vì tiến bộ”, Vũ Hồng Khanh, người tham gia ký kết, cũng xác nhận: “Mục đích đó, chúng ta không chỉ một bước mà đạt được”.

Tiếp đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh lên tiếng: “Nước ta độc lập thực sự từ tháng 8-1945. Nhưng tới nay chưa một cường quốc nào công nhận nền độc lập của ta. Cuộc điều đình với nước Pháp sẽ mở ra con đường làm cho quốc tế thừa nhận ta. Nó dẫn ta đến vị trí ngày càng chắc chắn trên trường quốc tế. Đó là một thắng lợi về mặt chính trị… Đồng bào nên bình tĩnh, đoàn kết, trọng kỷ luật”. Cuối cùng, vị Chủ tịch của nước Việt Nam mới tuyên bố: “Tôi, Chủ tịch Hồ Chí Minh, suốt đời đã cùng đồng bào chiến đấu cho độc lập của Tổ quốc. Tôi thà chết chứ không bán nước!”. Cùng ngày, Bác ký giấy ủy nhiệm cho các phái viên đặc biệt của Chính phủ vào Nam bộ để giải thích và thi hành Hiệp định Sơ bộ 6-3.

Ngày 7-3-1947, trong thư gửi lãnh đạo “Phòng Nam bộ”, cơ quan trực thuộc Chính phủ, Bác viết: “Dù gay go mấy, chúng ta cũng không sợ, không hoang mang, vì chúng ta biết trước những sự gay go đó. Vì chúng ta tự tin đủ sức khắc phục nó. Và vì chúng ta chắc thắng lợi cuối cùng sẽ về tay ta”.

Ngày 7-3-1951, tại phiên bế mạc Đại hội thống nhất Việt Minh và Liên Việt, Bác được bầu làm Chủ tịch danh dự Mặt trận Liên hiệp Quốc dân Việt Nam.

Ngày 7-3-1958, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi điện tới Tổng thống Cộng hòa Pháp yêu cầu hủy bản án tử hình đối với nữ thanh niên yêu nước Angiêri – Giamila Buhiret. Điện viết: “Thay mặt nhân dân Việt Nam, tôi đề nghị Ngài có biện pháp phù hợp với truyền thống yêu chuộng công lý và nhân đạo của nhân dân Pháp để cứu sống chị Giamila…”.

Cách đây nửa thế kỷ, ngày 7-3-1959, tại thủ đô Jakarta, Bác đón nhận từ Tổng thống Indonesia tấm “Huân chương Du kích” với lời đáp từ: “Hai dân tộc chúng ta đã làm cho thế giới thấy rằng, với lực lượng đoàn kết của toàn dân thì dù với vũ khí thô sơ, chúng ta cũng đánh thắng thực dân đế quốc”.

D.T.Q và nhóm cộng sự
sggp.org.vn

Ngày 6 tháng 3: “Tự hào vì miền Nam Thành đồng Tổ quốc”

Thứ sáu, 06/03/2009, 03:53 (GMT+7)

Việt Nam - Hồ Chí Minh

Cách đây 63 năm, ngày 6-3-1946 là một thời điểm nghiêm trọng. Buổi sáng, đụng độ đã nổ ra giữa quân Pháp và quân Tưởng Giới Thạch tại cảng biển Hải Phòng. Ngoại giao con thoi giữa tất cả các bên đều diễn ra khẩn trương để tháo ngòi nổ.Tại Bộ Nội vụ, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì Hội đồng Chính phủ họp để hoàn chỉnh dự thảo một văn bản để ký kết với Pháp. Toàn thể hội đồng đã nhất trí và ký vào biên bản tán thành.

Vào 16 giờ 30 ngày 6-3-1946, Hiệp định Sơ bộ đã được ký kết tại số nhà 38 Lý Thái Tổ, Hà Nội, với những điều khoản khẳng định nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một quốc gia tự do, có Chính phủ, Quốc hội, quân đội và tài chính của mình; việc hợp nhất 3 kỳ do nhân dân Việt Nam tự giải quyết và Việt Nam nằm trong Liên bang Đông Dương cũng như trong Khối Liên hiệp Pháp. Phát biểu sau lễ ký kết, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Chúng tôi không thỏa mãn vì chưa giành được hoàn toàn độc lập, nhưng chúng tôi sẽ giành được độc lập hoàn toàn”.

Một năm sau, ngày 6-3-1947, khi cuộc kháng chiến toàn quốc đã bước qua tháng thứ 3, gặp gỡ những người làm việc gần mình, Bác giải thích: “Sức ta bây giờ như chàng trai mười sáu mà sức giặc bây giờ như một lão già quỷ quyệt, độc ác. Nếu ta cậy sức đánh bừa thì sao chắc thắng được. Phải vừa đánh vừa nuôi sức mình cho khỏe lên… Khi sức ta đã khỏe, giặc suy yếu dần, ta mới lừa thế quật ngã nó, như vậy mới chắc thắng. Cho nên kháng chiến trường kỳ mới nhất định thắng lợi”. Và những người giúp việc gần Bác nhất từ đó mang các tên: Kháng, Chiến, Trường, Kỳ, Nhất, Định, Thắng, Lợi.

Ngày 6-3-1948, Bác gửi thư tới Hội nghị Chính trị viên toàn quốc lần thứ 2, nêu tầm quan trọng của công tác chính trị và phẩm chất của chính trị viên: “Đối với bộ đội, chính trị viên phải thân thiết như một người chị, công bình như một người anh, hiểu biết như một người bạn… Chính trị viên phải làm người kiểu mẫu trong mọi việc”.

Cũng trong tháng 3-1948, Bác viết thư (không đề ngày) gửi Giám đốc Sở Công an khu 12 và ngày nay nội dung lá thư đã trở thành “6 điều Bác Hồ dạy” Lực lượng Công an Nhân dân Việt Nam: “Tư cách người công an cách mệnh là: Đối với tự mình phải cần, kiệm, liêm, chính; Đối với đồng sự phải thân ái, giúp đỡ; Đối với Chính phủ, phải tuyệt đối trung thành; Đối với nhân dân, phải kính trọng, lễ phép; Đối với công việc, phải tận tụy; Đối với địch, phải cương quyết, khôn khéo”.

Cách đây nửa thế kỷ, ngày 6-3-1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Tổng thống Indonesia Sukarno đến thăm làng Ubut, một căn cứ kháng chiến chống Nhật của Indonesia và thăm thủ phủ Bali.

Ngày 6-3-1967, Bác Hồ gửi thư khen quân dân Thanh Hóa bắn rơi chiếc máy bay thứ 1.700 và 1.701 của Hoa Kỳ. Cùng ngày, Bác viết thư gửi Chủ tịch Nguyễn Hữu Thọ hoan nghênh Cương lĩnh của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam và nhấn mạnh: “Tổ quốc và nhân dân Việt Nam rất tự hào vì miền Nam Thành đồng Tổ quốc”.

D.T.Q và nhóm cộng sự
sggp.org.vn

Từ những “ao cá Bác Hồ” năm xưa…

Người là niềm tin tất thắng(ĐCSVN) – Ngót nghét gần 30 năm trôi qua kể từ khi cả nước thực hiện phát động của Ban Bí thư xây dựng phong trào “ao cá Bác Hồ”. Giờ đây, nhìn lại phong trào ấy, mới thấy, chính từ sự quan tâm của Bác đến người nông dân, nông nghiệp – nông thôn, nghề nuôi cá nước ngọt đã phát triển mạnh như ngày nay. Không dừng lại ở đó, ao cá Bác Hồ còn là một không gian văn hoá, một nơi hội tụ những tình cảm cộng đồng, không chỉ của hôm qua mà cả hôm nay…

Ao cá Bác Hồ khơi dậy nghề cá

Chúng tôi về Quỳnh Phụ, một huyện chiêm trũng thuộc diện “chiêm khê mùa thối” của Thái Bình năm xưa, nay đã thành vùng có năng suất thâm canh lúa cao nhất tỉnh, có nghề nuôi cá rất phát triển vì nơi đây cũng là nơi có nhiều ao hồ nhất tỉnh. Có một điều khiến chúng tôi chú ý là ven nhiều ao hồ lớn, vẫn còn nguyên tấm biển “ao cá Bác Hồ”. Ông Phạm Văn Tổng, chủ tịch xã An Ấp, xã “rốn trũng” nhất huyện, gần như 100% hộ gia đình có ao cá xúc động hồi tưởng lại: Mô hình VAC và “cánh đồng 50 triệu/ha” đang giúp xã ngày càng giàu mạnh có một cái “nền” gốc từ nghề nuôi cá, từ những “ao cá Bác Hồ”. Những năm 80, gần như 100% các hợp tác xã ở Thái Bình đều có ao cá Bác Hồ. Ở An Ấp, ao cá Bác Hồ của toàn xã là một hồ rộng tới hơn 2 ha. Ao là nơi ươm cá giống, cung cấp cho ao của các hộ gia đình…

Nói về sự ra đời của những ao cá Bác Hồ, ông Nguyễn Văn Công, cán bộ Khu di tích Phủ Chủ tịch cho biết: Sinh thời, Bác Hồ rất quan tâm đến nghề nuôi cá, Người từng căn dặn: “Dân ta có nghề nuôi cá cổ truyền, điều quan trọng là phải có quyết tâm, có kế hoạch tốt thì sẽ có cá ăn, nuôi cá sẽ có kết quả. Chính Người đã giành thời gian, công sức phát triển hồ nước trong Phủ Chủ tịch thành ao cá lớn. Trước tháng 10 – 1954, trong vườn sau Phủ toàn quyền Đông Dương (sau là Phủ Chủ tịch) có một hồ nước chứa cho hươu nai xuống uống. Khi về tiếp quản, Bác Hồ đã chỉ đạo cho anh em bảo vệ sửa lại ao, vớt bùn để nuôi cá. Hàng ngày sau giờ làm việc, Người vẫn giành thời gian cho cá ăn. Nhờ sự chăm sóc chu đáo của Bác, cá lớn rất nhanh, có con lên tới 24kg. Theo số liệu của Ban Quản lý khu di tích Phủ Chủ tịch, ao cá Bác Hồ có diện tích hơn 3.000 m2 có tới 5 tấn cá các loại, thuộc 14 loài. Nhiều loài cá được Bác trực tiếp nuôi dưỡng vẫn còn phát triển đến ngày nay. Năm 1959, hợp tác xã Tiền Phong (Yên Sở – Thanh Trì – Hà Nội) là đơn vị đầu tiên được Bác gửi tặng cá rô phi giống và họ đã nhân rộng hàng trăm ao cá Bác Hồ kiểu mẫu. Năm 1979, nhân kỷ niệm 10 năm thực hiện Di chúc của Người, theo sáng kiến của Bộ Thuỷ sản, Ban Bí thư TƯ Đảng nhất trí phát động phong trào “Ao cá Bác Hồ” trong cả nước. Các làng, xã, cơ quan, xí nghiệp, đơn vị bộ đội…đều có ao cá Bác Hồ. Nghề nuôi cá nước ngọt phát triển mạnh cho đến ngày nay nhờ đó.

Không gian văn hoá

Không chỉ là những cái ao nuôi cá, ao cá Bác Hồ còn là “không gian văn hoá” của nhiều sinh hoạt cộng đồng. Vui nhất là vào các dịp lễ Quốc khánh 2/9, rằm trung thu…Đoàn thanh niên tổ chức cắm trại, thi văn nghệ ven ao cá Bác Hồ, có nhiều trò chơi như: thi bơi lội, đi cầu Kiều, lặn bắt vịt…-ông Phạm Văn Tổng kể tiếp về ao cá Bác Hồ ở quê mình. Còn ông Nguyễn Xuân Văn, cũng ở xã An Ấp, nguyên bộ đội đoàn B20 thì ví ao cá Bác Hồ trong các đơn vị quân đội ngày ấy cũng có ý nghĩa thiêng liêng, sâu sắc như những phòng Hồ Chí Minh bây giờ…

Riêng ao cá Bác Hồ ở Phủ Chủ tịch hiện nay vẫn là một trong những nơi hấp dẫn nhiều du khách đến tham quan, tìm hiểu. Các bạn trẻ đến đây không chỉ được ngắm nghía, vui đùa cùng đàn cá mà còn được nghe những câu chuyện sâu sắc về Bác ven ao cá này.

Ao cá Bác Hồ đã giúp nhân rộng và phát triển nghề nuôi cá nước ngọt. Nhưng sự chuyển đổi mô hình khoán nông nghiệp đã thu hẹp dần các ao tập thể, phát triển kinh tế hộ gia đình gắn với mô hình VAC. Nhiều nơi đã cho tư nhân đấu thầu, thuê ao cá Bác Hồ để nuôi cá. Có nơi các ao cá Bác Hồ cũ bị thu hép để lấy đất phục vụ nhu cầu đô thị hoá. Tuy nhiên, khi đời sống vật chất ngày càng nâng cao thì ngay cả ở những làng quê, một môi trường sống trong lành, có những ao hồ rộng phục vụ sinh hoạt, điều tiết môi trường ngày càng trở thành nhu cầu không thể thiếu. Dấu ấn đẹp về các ao cá Bác Hồ vẫn không hề nhạt phai trong nhiều thế hệ. Nhiều người dân vẫn mong muốn, các làng xã, các đơn vị quân đội khôi phục lại việc xây dựng ao cá Bác Hồ sao cho phù hợp với điều kiện mới…

Nguyễn Văn Minh
dangcongsan.vn

Học tập và làm theo tác phong của Bác Hồ

Tư tưởng Hồ Chí Minh đi tới mùa XuânTư tưởng, đạo đức, tác phong của Bác Hồ mãi là di sản vô giá đối với toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Bác Hồ luôn thực hiện phương châm “Nói phải đi đôi với làm”. Người đã làm nhiều hơn những điều đã nói và viết. Niềm tin tuyệt đối, sự kính trọng đến mức thiêng liêng của mọi người đối với Bác Hồ cũng bắt nguồn từ đó.

Điểm nổi bật nhất trong tác phong của Bác Hồ là tính quần chúng sâu sắc, sự tin yêu là tôn trọng quần chúng, học hỏi quần chúng, luôn luôn quan tâm đến đời sống quần chúng. Bác Hồ thường dạy cán bộ, đảng viên phải “Từ nơi quần chúng ra, trở lại nơi quần chúng”. Bác Hồ đã nhiều lần phê phán tệ xa rời quần chúng, lên mặt “quan cách mạng”, “quan nhân dân” không chú ý lắng nghe ý kiến phê bình, những kiến nghị của quần chúng và nhắc nhở “Chúng ta phải yêu dân, kính dân thì dân mới yêu ta, kính ta”. Thực tế, quần chúng chỉ tin yêu, kính phục cán bộ, đảng viên có tấm lòng trọn vẹn với dân, với nước. Tấm lòng của Bác đối với nước, với dân mênh mông như biển cả, khi đã trở thành Chủ tịch nước, dù bận trăm công nghìn việc, nhưng đã hàng trăm lần Bác đi thăm các đơn vị, địa phương. Đối với mọi người Bác Hồ đều ân cần, trân trọng. Ngay đối với các cháu thiếu niên, nhi đồng, Bác Hồ đã từng nói với các đồng chí phục vụ “ở nhà cháu là con là cháu của các chú, nhưng vào đây các cháu là khách của Bác”. Nhận được hàng nghìn lá thư của nhiều người khác nhau Bác Hồ đều đọc và trả lời một cách chu đáo, luôn có ý kiến cụ thể để các cơ quan có trách nhiệm giải quyết.

Bác Hồ luôn luôn có tác phong tập thể dân chủ. Bác thường xuyên yêu cầu cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo phải xây dựng một tác phong tập thể dân chủ trong công tác, trong lãnh đạo. Phải gắn bó với tập thể, tôn trọng tập thể, phát huy sức mạnh của tập thể, sẽ tránh được nhiều khuyết điểm, sai lầm. Bác Hồ thường nói: Không có một người nào có thể hiểu biết được tất cả mọi thứ, làm nổi được tất cả mọi việc. Ngay đến anh hùng, lãnh tụ cũng vậy “Đem so với công việc của loài người trong thế giới, thì những người đại anh hùng xưa nay cũng chẳng qua làm tròn một bổn phận mà thôi”. Cái thông minh của người phụ trách, người lãnh đạo không chỉ là những điều tự mình nghĩ ra mà quan trọng hơn chính là ở chỗ biết phát huy và tổng hợp được những cái thông minh của nhiều người khác, của tập thể. Tác phong tập thể dân chủ đòi hỏi phải mở rộng dân chủ nội bộ, mở rộng dân chủ với quần chúng, phát huy tinh thần làm chủ, sáng tạo của mọi người. Đối với người phụ trách, người lãnh đạo, tác phong tập thể dân chủ đòi hỏi phải hết sức lắng nghe cấp dưới, hơn thế nữa còn biết khơi gợi cho cấp dưới nói lên ý kiến của mình. Bác Hồ đã có tác phong tập thể dân chủ rất cao. Dù ở cương vị đứng đầu Đảng hay Nhà nước Bác Hồ vẫn giữ lối làm việc tập thể dân chủ.

Trong công tác lãnh đạo, Bác Hồ yêu cầu cán bộ, đảng viên phải xây dựng tác phong khoa học, cách làm việc có khoa học. Tác phong khoa học đòi hỏi trong khi làm việc, trong khi lãnh đạo. Theo Bác Hồ là phải có kế hoạch rõ ràng, từ kế hoạch lớn đến kế hoạch nhỏ, từ kế hoạch dài đến kế hoạch ngắn, làm việc có chương trình, giờ nào việc ấy, làm việc có điều tra nghiên cứu, nắm chắc tình hình, nắm chắc vấn đề mới đi đến quyết định. Đối với người phụ trách, người lãnh đạo, phải có cách sử dụng bộ máy, sử dụng những cộng sự để họ giúp mình nắm được những thông tin cần thiết và chính xác, đặc biệt là sàng lọc những thông tin sai lệch, những báo cáo sai sự thật.

Tác phong khoa học đòi hỏi chúng ta làm việc phải cụ thể, chính xác, thiết thực, có hiệu quả, đã làm thì phải làm một cách quyết liệt, khẩn trương, làm đến nơi đến chốn, không bày biện ra nhiều thứ, làm ít nhưng làm hẳn hoi. Bác Hồ phê phán cái bệnh “hữu danh vô thực”, “Làm việc không thiết thực, không từ cái gốc, chỗ chính, không từ dưới làm lên, làm cho có chuyện, làm lấy rồi. Làm được ít suýt ra nhiều, để làm một báo cáo cho oai nhưng xét lại thì rỗng tuếch… Thế là dối trá với Đảng, có tội với Đảng. Làm việc không tiết kiệm, báo cáo không thật thà, cũng là một bệnh rất nguy hiểm”. Bác Hồ thường căn dặn cán bộ phải chân đi, mắt thấy, tai nghe, miệng nói, tay làm, óc nghĩ, không được lãnh đạo chung chung.

Sự sâu sát sẽ giúp cho người phụ trách, người lãnh đạo nhìn thấy đúng tình hình để đi đến những quyết định chính xác.

Bác Hồ luôn yêu cầu mọi cán bộ, đảng viên phải thường xuyên rèn luyện để có được một tác phong giản dị, lành mạnh, trong sạch. Bác Hồ dạy cán bộ, đảng viên phải hướng những ham muốn vào việc phấn đấu thực hiện những mục tiêu, lý tưởng của người cách mạng, của người cộng sản, như Bác Hồ đã từng nói về mình “Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta hoàn toàn độc lập, dân ta hoàn toàn được tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”. Những ham muốn của con người nếu chỉ hướng vào những cái tầm thường và coi đây là trên hết, trước hết, thì như vậy là biến phương tiện thành mục đích thấp hèn. Theo Bác, mỗi người phải biết kiềm chế, không để cho những ham muốn thấp hèn trở thành thói quen trong cuộc sống, trong sinh hoạt hàng ngày. Khi đã thành thói quen rồi thì rất khó sửa, có khi nó còn làm cho con người đi tới thoái hóa, biến chất hư hỏng. Sự kiềm chế ấy trước hết thể hiện ở chỗ “Không ham địa vị, không ham người tâng bốc mình. Vì vậy là quang minh chính đại, không bao giờ hư hóa”.

Tác phong của Bác Hồ là tác phong quần chúng; tác phong tập thể dân chủ; tác phong khoa học; tác phong sinh hoạt giản dị, lành mạnh trong sạch. Đó là tác phong mang tính triệt để và khoa học sâu sắc. Tác phong ấy đã chắt lọc và chứa đựng tất cả những gì tốt đẹp nhất của truyền thống Việt Nam, của con người và dân tộc Việt Nam. Tác phong ấy lại rất hiện đại, luôn hướng con người về tương lai và là một bộ phận không thể thiếu của nhân cách những con người mới trong xã hội XHCN.

Nếu chúng ta xây dựng được một tác phong theo gương Bác Hồ trong đông đảo cán bộ, đảng viên, thì chắc chắn sẽ góp phần làm chuyển biến mạnh mẽ tình hình mọi lĩnh vực của đất nước, của quê hương, thiết thực thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội lần thứ X của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng các cấp.

Theo Đức Tâm
Báo Bắc Ninh (11/9/2006)

Vkyno (st)

Ký ức về Bác Hồ trỗi dậy trong tôi

Lời của Bác - Lời của non sông(ĐCSVN) – Cựu Trung tá Lương Văn Tùng (80 tuổi), nguyên Chính ủy Trung đoàn 320, Sư đoàn 8 (Quân khu 9, Bộ Quốc phòng) nay đã nghỉ hưu, hiện là Cựu Chiến binh của xã Trung An, TP. Mỹ Tho (Tiền Giang). Khi hỏi chuyện về những lần ông được vinh dự gặp Bác Hồ, tuy đã cao tuổi, nhưng ông bỗng sôi nổi hẳn lên khi ký ức về Bác trỗi dậy.

Ông Tùng sinh ra ở xã Phú Mỹ, huyện Tân Phước (Tiền Giang), khi 22 tuổi (năm 1950) tham gia bộ đội địa phương ở huyện Châu Thành, sau đó tập kết ra miền Bắc (năm 1954), đóng quân ở thị xã Sầm Sơn (Thanh Hóa) và ông vinh dự được cùng đồng dội đón Bác Hồ đến thăm đơn vị. Bác hỏi thăm đồng bào miền Nam và căn dặn: “Các cháu phải đoàn kết, yêu thương và giúp đỡ lẫn nhau. Đảng và Chính phủ sẽ ưu tiên, tạo mọi điều kiện cho các cháu tập tốt”. Ông Tùng lặng yên nghe như nuốt từng lời. Sau những tiếng reo mừng, giờ đây ông bỗng thấy không khí trở nên trang nghiêm lạ thường. Lần gặp Bác đã để lại trong ông rất nhiều ấn tượng khó phai. Trong thời gian ở trên đất Bắc, ông còn được gặp Bác nhiều lần nữa và lần gặp nào cũng để lại trong ông nhiều ấn tượng sâu đậm về Bác Hồ kính yêu.

Ông nhớ, có lần Bác cải trang bí mật đến kiểm tra đơn vị của ông. Lúc đó, ông Tùng là học viên của Trường Sĩ quan Lục quân đóng ở Bạch Mai. Buổi trưa hè nóng bức, nhà ăn ngột ngạt và chật kín người, bỗng thấy một lương y mặc áo màu trắng và bịt khẩu trang bước vào nhà bếp rồi lên nhà ăn. Ông cứ ngỡ quân y tới kiểm tra vệ sinh ăn uống nên không ai để ý. Đến khi vị “lương y” ấy bước ra, một học viên nhìn theo rồi bất chợt hét lên: “Bác Hồ! Bác Hồ!”. Ông nhìn theo tay anh chỉ, thấy vị “lương y” đang vẫy tay chào. Đúng là Bác Hồ, cả nhóm học viên tiếc ngẩn ngơ và giận mình sao không nhận ra Bác sớm hơn. Ông Tùng kể tiếp: Một lần khác, khi anh em ra thao trường, ông trực nhật nên phải ở doanh trại. Đang lúc quét dọn, bỗng thấy một người giống bác sĩ trong bệnh viện bước vào. Ông nhác thấy đôi dép cao su của Bác, đúng là Bác Hồ rồi. Ông reo lên: “Bác Hồ!”. Bác ra hiệu cho ông im lặng, rồi khoát tay chào. Bác Hồ tiếp tục đi thăm các tiểu đoàn khác. Sau đó, ông còn được gặp Bác Hồ tới 3 lần nữa. Lần sau cùng thật ấn tượng, vì ông được ngồi cạnh Bác Hồ, nhìn Bác thỏa thích, không bị chen lấn. Đó là năm 1961, khi ông ra trường, về nhận công tác ở Sư đoàn 316.

Ông Tùng còn nhớ như in trong đầu, khi đó, ông được thông báo đến nhà khách Bộ Quốc phòng để nghe lãnh đạo nói chuyện. Trước khi đi, các anh trong Ban chỉ huy Sư đoàn dặn “khi vào phòng, nhớ đừng ngồi sát nhau; phải bỏ ghế trống để các vị lãnh đạo ngồi chung với anh em”. Ban Tổ chức buổi lễ thông báo Bác Hồ và Bác Tôn đến thăm anh em. Tin ấy làm xôn xao cả phòng, khiến ông đứng ngồi không yên. Mọi ánh mắt đều đổ dồn về phía cửa. Đúng như kế hoạch, Bác Hồ và Bác Tôn dẫn đầu đoàn cán bộ cấp cao của Đảng và Nhà nước lên cầu thang. Tất cả vỗ tay reo mừng: “Bác Hồ! Bác Hồ muôn năm !”. Bác khoát tay ra hiệu cho chúng tôi ngồi xuống. Bác Hồ và Bác Tôn cùng các vị ở Bộ Chính trị và Bộ Quốc phòng cùng bước vào, ngồi xen kẽ với tất cả anh em chúng tôi. May mắn thay, Bác Hồ đã ngồi cạnh cái ghế trống sát bên cạnh ông. Vừa yên vị, Bác nói, đại ý: “Các chú học chính trị, đường lối và chủ trương đã vững rồi. Bác không nói nữa. Những nhiệm vụ cụ thể thì Bộ Quốc phòng sẽ giao. Bác chỉ dặn các chú mấy điều, trước hết phải đảm bảo sức khỏe. Chặng đường sắp đến sẽ rất nhiều gian khổ. Không có sức khỏe tốt thì không vượt qua được. Khi về đến miền Nam phải đoàn kết với cán bộ địa phương, cán bộ phong trào để xây dựng lực lượng, tạo thời cơ giành chiến thắng. Các chú cố gắng đi thật nhanh để nhanh chóng giải phóng miền Nam, để Bác Hồ có điều kiện vào thăm đồng bào mình trong ấy”. Bác dừng lại để nén xúc động, rồi Người trầm giọng nói: “Các chú cho Bác gửi lời thăm hỏi các cụ phụ lão, các cháu thiếu nhi và tất cả đồng bào miền Nam”. Bác nhìn chúng tôi với ánh mắt tràn ngập yêu thương. Chúng tôi nhìn Bác với tất cả sự ngưỡng mộ, lòng yêu thương và tôn kính.
Những kỷ niệm về Bác được ông Tùng gìn giữ, đã tiếp sức cho ông trong những ngày vượt Trường Sơn đầy gian lao, thử thách khắc nghiệt, thậm chí, phải trải qua những trận đánh ác liệt, nhưng ông Tùng vẫn không bao giờ chùn bước. Trong hành trang của ông có cả ước mơ của Bác Hồ. Ông không ngờ đó là lần cuối cùng được gặp Bác.

Đến nay, mỗi khi nhớ lại những lần được vinh dự gặp Bác, lòng ông vẫn bồi hồi. Trong tâm hồn ông còn đọng mãi hình ảnh Bác giản dị trong đôi dép cao su huyền thoại và thân thương, bình dị với bộ kaki bạc màu…./.

Nguồn: TTXVN
Vkyno (st)

Bác Hồ như một người cha

Bác Hồ

Chân dung Hồ Chủ tịch

Lần đầu tiên cũng là duy nhất ông Tạ Hùng Uy, một cựu chiến binh Trung Quốc được gặp Bác Hồ đã diễn ra cách đây hơn 40 năm. Song đến nay ông vẫn không quên từng lời nói, cử chỉ ân cần và đặc biệt là những lời căn dặn của Người. Ông đã không kìm được những giọt nước mắt xúc động khi kể lại với phóng viên báo chí về câu chuyện gặp Bác Hồ lần ấy.

Là một cựu chiến binh của Quân giải phóng nhân dân Trung Hoa, tháng 5-1965 ông Tạ Hùng Uy được cử tham gia đơn vị bộ đội công trình, sát cánh cùng quân dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Ông nhớ mãi thời khắc được gặp Bác Hồ vào ngày 9-2-1967 khi đại đội của ông đang đóng tại Tiên Sơn (Bắc Ninh).

“Lúc 10 giờ 45 phút, Bác Hồ với mái tóc bạc phơ, dáng người dong dỏng mỉm cười tiến lại dang tay chúc mừng chúng tôi nhân dịp Xuân mới. Chúng tôi xếp thành hàng, đứng nghiêm rồi hô lớn: “Bác Hồ muôn năm! Chúc Bác Hồ mạnh khỏe!”. Bác Hồ cũng hô to: “Mao Chủ tịch muôn năm! Chúc Mao Chủ tịch mạnh khỏe!” – ông Uy xúc động kể lại.

Ông cho biết, mặc dù không có phiên dịch đi theo, nhưng Bác Hồ vẫn trò chuyện với đại đội của ông bằng tiếng Trung Quốc rất lưu loát. Người hỏi Chính ủy Quách Đình Linh: “Đồng chí đến Việt Nam được bao lâu rồi?”. Chính ủy Quách thưa: “Một năm bảy tháng ạ!”. Bác lại hỏi: “Đồng chí nói được ít tiếng Việt chứ?”. Chính ủy Quách lúng túng thưa: “Xin Chủ tịch thứ lỗi, tôi vẫn chưa nói được tiếng Việt ạ!”. Nghe vậy Bác Hồ thân mật nói: “Vậy thì tôi phải phê bình đồng chí đấy! Tôi ở Trung Quốc chỉ ba tháng mà đã có thể nói được ít nhiều tiếng Trung Quốc, đồng chí có cả một năm bảy tháng cơ mà!”. Chính ủy Quách vội vàng thưa: “Lần sau nếu được gặp Chủ tịch, tôi nhất định sẽ nói được tiếng Việt”. Bác Hồ cười: “Vậy thì tốt!”.

Ông Uy cho biết: “Sau khi thăm nơi trực chỉ huy và chỗ nghỉ, Bác Hồ hỏi thăm tình hình mọi mặt của chúng tôi. Nhìn thấy tấm nệm trên giường của chúng tôi có vẻ hơi mỏng, Bác Hồ nói với đồng chí Tố Hữu, Bí thư BCH TƯ Đảng Cộng sản Việt Nam khi đó, và đồng chí Bí thư Tỉnh ủy Hà Bắc đi cùng là cần cung cấp thêm cho mỗi cán bộ, chiến sĩ một tấm nệm cỏ. Chỉ năm ngày sau chúng tôi đã nhận được quà tặng của Bác Hồ, nằm trên tấm nệm mới mà cảm thấy thật ấm áp, hạnh phúc”.

Sau đó Bác Hồ xuống nhà ăn, nhìn thấy xung quanh vệ sinh sạch sẽ, trên mâm đang bày nhiều thức ăn ngon ngày Tết, Người hỏi: “Cơm nước tự các đồng chí lo à?”. Chính trị viên Đại đội 5 thưa với Người: “Cơm nước đều do anh nuôi đơn vị nấu ạ”. Bác lại hóm hỉnh hỏi: “Mọi ngày doanh trại của các đồng chí vẫn sạch đẹp như vậy chứ?”. Chúng tôi đáp: “Đúng vậy ạ!”. Bác cười: Như vậy rất tốt. Nhân đó, thủ trưởng đơn vị liền mời Bác Hồ dự bữa cơm Tết với anh em bộ đội, Bác bảo: “Cám ơn các đồng chí, tôi ăn cơm rồi”. Sau đó người bảo vệ của Chủ tịch cho chúng tôi hay là 11 giờ 30 phút Người còn đến thăm một đơn vị quân đội nhân dân Việt Nam ở phía sau núi.

Cuộc gặp với Bác Hồ diễn ra thật nhanh. Trước lúc lên đường, Bác Hồ đứng lên một mô đất cao nói với hàng trăm bà con Việt Nam nghe tin Người đến thăm địa phương đã đến chào mừng: “Các đồng chí Trung Quốc đã rời xa gia đình, quê hương, Tổ quốc đến đây sát cánh cùng chúng ta đánh giặc Mỹ xâm lược, đồng bào cần quan tâm, giúp đỡ các đồng chí…”. Bác Hồ thật ân cần, chu đáo như người cha thương yêu chúng tôi – ông Uy nhấn mạnh.

Sau khi hoàn thành nhiệm vụ trở về Trung Quốc, đến tháng 8-2004 ông Uy cùng các cựu chiến binh Trung Quốc mới có dịp trở lại Việt Nam. Từ đó đến nay, mỗi lần sang thăm Việt Nam, ông không quên vào Lăng viếng Bác. Ông tâm sự: “Mỗi lần vào Lăng viếng Người, tôi lại không cầm nổi nước mắt và nhớ lại lần duy nhất được gặp Bác Hồ”. Để tỏ lòng kính yêu Người, ông đã dày công sưu tập các bức ảnh trong những lần Bác Hồ gặp bộ đội quân tình nguyện Trung Quốc cũng như nhiều bức ảnh khác về Bác Hồ. Mỗi lần sang thăm Việt Nam, ông Uy đều mang theo quyển album ảnh này giới thiệu với các bạn Việt Nam như để tưởng nhớ đến Bác Hồ kính yêu.

(Theo HNM)
Vkyno (st)

Tâm huyết tuyên truyền về cuộc đời, sự nghiệp và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh

Lời của Bác - Lời của non sông(ĐCSVN) – Bác Nguyễn Ngọc Truyện năm nay 83 tuổi, đã có 60 năm tuổi Đảng, ngụ khóm Đông An I, phường Mỹ Xuyên, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang tâm huyết trong công tác sưu tầm tư liệu, hình ảnh, biên soạn thành sách để tuyên truyền phổ biến có hiệu quả lớn về cuộc đời, sự nghiệp và tấm gương đạo đức Bác Hồ. 

Bác Truyện, nguyên là sinh viên trường Mỹ thuật Gia Đinh, khi ra trường bác tạm xếp bút nghiên theo tiếng gọi non sông hoạt động trong tổ chức thanh niên Cứu quốc từ năm 1947, rồi gia nhập bộ đội chính quy. Những tháng năm làm việc ở Thủ đô Hà Nội, nhiều lần bác Truyện được gặp Bác Hồ. Tài năng và đức độ Bác Hồ đã thôi thúc khát vọng mãnh liệt cho bác Truyện phải viết về Bác Hồ. Năm 1982, bác Truyện nghỉ hưu, sau khi nghỉ hưu, bác Truyện tham gia công tác địa phương, phụ trách công tác tuyên giáo tại phường Mỹ Xuyên. Từ đó, bác Truyện thực hiện sưu tầm tư liệu, hình ảnh Bác Hồ để viết thành sách xoay quanh cuộc đời và đạo đức cao cả của vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc, để cho thế hệ trẻ hiểu hơn về cuộc đời, sự nghiệp của Bác Hồ.

Từ cuối những năm 1990, bác Truyện bắt tay vào việc sưu tầm và biên soạn lại cho súc tích và logic những mẩu chuyện về Bác Hồ để sinh hoạt trong các cuộc họp và in trên tờ tin hàng tháng của phường. Trong sưu tầm tư liệu và hình ảnh về Bác Hồ, bác Truyện rất chịu khó, dày công chắt lọc rồi sắp xếp thể hiện lại sinh động về Bác Hồ trong từng trang giấy, không bỏ sót thông tin tư liệu nào về Bác Hồ mà bác có được. Bác Truyện tiêu dùng thật tiết kiệm dành một khoản lương hưu ít ỏi đặt mua bảy đầu báo và tạp chí để có thêm tư liệu và hình ảnh Bác Hồ. Khi có được tư liệu, bác Truyện dành nhiều thời gian nghiên cứu biên soạn lại cho súc tích để tuyên truyền cho người nghe dễ hiểu, cảm động và nhớ lâu, và để sau này in thành sách. Suốt 30 năm dày công sưu tầm tư liệu, rồi viết lại thành những mẩu chuyện về Bác Hồ bằng vốn hiểu biết và trí sáng tạo của mình. Đến nay, bác Truyện đã thực hiện trên 5.000 bài viết, mẩu chuyện, hình ảnh về cuộc đời, sự nghiệp cách mạng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Từ kho tàng này, bác chọn 100 mẩu chuyện và hình ảnh khái quát về Chủ tịch Hồ Chí Minh từ khi chào đời đến lúc đi xa. Những bài học quí giá về đường lối cách mạng, quan điểm, đạo đức, tác phong của Bác Hồ được bác Truyện trình bày thành một cuốn sách có logic theo thứ tự thời gian, trang trí hình thức phù hợp với tựa đề “Ra đi Bác dặn còn non nước”. Bác Truyện gửi nhà xuất bản Thanh Niên và được in ấn, phát hành rộng khắp vào dịp kỷ niệm 115 sinh nhật Bác Hồ (năm 2000), cuốn sách này đã phục vụ rất thiết thực cho Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” phát động vào đầu năm 2007.

Sau khi cuốn sách thứ nhất được xuất bản và phát hành, bác Truyện tiếp tục nỗ lực sưu tầm, biên soạn chuẩn bị cho cuốn sách thứ hai về Bác Hồ và đã được nhà xuất bản Thanh Niên phát hành nhân kỷ niệm 118 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (năm 2008), với tựa đề “Hồ Chí Minh-cứu tinh dân tộc Việt”. Cuốn sách này hoành tráng hơn cuốn thứ nhất cả về nội dung và hình thức. Cuốn sách dày gần 600 trang đánh vi tính giấy khổ A4 với 240 mẩu chuyện về Bác Hồ. Mỗi bài viết đều có hình ảnh minh họa kèm theo và gồm 5 phần: Từ làng Sen ra đi tìm đường cứu nước, lãnh đạo Cách mạng thắng lợi, ra đi Bác dặn còn non nước và phần cuối là tiểu sử gia đình Bác Hồ. Cuốn sách này được đưa vào tủ sách danh nhân Hồ Chí Minh ( có logo tủ sách danh nhân Hồ Chí Minh).

Ngoài hai cuốn sách trên, bác Truyện đã sưu tầm và biên soạn, trình bày thêm hai cuốn sách về Bác Hồ với tầm cao hơn, sâu sắc hơn: Cánh sen vàng với 120 mẩu chuyện và Sức mạnh từ tấm lòng kính yêu Bác với 79 mẩu chuyện nói về lòng dân đối với Bác Hồ, với mong muốn hai tác phẩm này được xuất bản để thế hệ trẻ hiểu thêm về Chủ tịch Hồ Chí Minh và không quên cội nguồn dân tộc.

Bộ sách về Bác của tác giả Nguyễn Ngọc Truyện là công trình có giá trị cả về học thuật lẫn sáng tạo, mà ở đó, khi đọc xong nhà thơ, nhà văn, nhạc sĩ, họa sĩ đều có thể tìm thấy chất liệu cho sáng tác của mình, bởi ở đó, chất liệu tinh lọc, dòng chảy thời gian và giá trị tư tưởng… đã hòa quyện trong lớp vỏ phương ngôn Nam Bộ mà ông đã cố ý se duyên”./.

Theo TTXVN
Vkyno (st)